Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2015

Thì vừa nhắm vừa mở vại!


'Nhắm mắt lại cũng chẳng thay đổi được gì. Chẳng có gì biến đi chỉ vì anh không nhìn thấy những gì đang diễn ra. Trên thực tế, tình hình thậm chí sẽ còn xấu đi khi anh mở mắt trở lại. Chúng ta đang sống trong một thế giới như thế đó. 
Hãy mở to mắt ra. Chỉ có kẻ hèn nhát mới nhắm mắt lại. Nhắm mắt, bịt tai đâu có làm cho thời gian ngừng lại được.'
– Murakami Haruki | Kafka on the Shore

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NÓI VỚI MÌNH


Nguyễn Duy Xuân


Luật sư chạy xe “tung bụi”
Côn đồ nổi máu cuồng ngông
Đấm cho luật sư vêu mũi
“Có đất nào như đất ấy không?”(*)
.
Người nghệ sĩ già đường phố
Chơi đàn phục vụ nhân dân
Lưu manh nổi điên đập nát
Ngón tay và cả cây đàn

.
Dân luận bàn trên “phây búc”
Mặt quan kênh kiệu khó coi
Lập tức ra tay trừng phạt
Khiến dân kinh ngạc kêu trời!

.
Sử dạy cho ta truyền thống
Vẻ vang con Lạc cháu Hồng
Bỗng dưng “tích hợp, lồng ghép”(**)
Sử không còn sử, buồn hung!

.
Xe công ngốn tiền tỉ tỉ
Thứ trưởng sẽ đi xe ôm
Quan chức đăng đàn thủ thỉ:
Còn chi đẹp đẽ, oai phong (!)

.
Quảng trường, tượng đài ngàn tỉ
Nước nghèo vẫn quyết dựng xây
Phải chăng vì khoản phết phẩy
Càng to dự án - càng dày?

.
Công sở nguy nga tráng lệ
Vẫn đua hành chính trung tâm
Nợ công tăng cao, mặc kệ
Nhiệm kì sắp hết – quyết mần!

.
Con lãnh đạo làm lãnh đạo
Hồng phúc cho đất nước này
Nhân tài ơi, chào mi nhé
Đừng mơ cơ hội đổi thay?

.
Quốc hội họp bàn ngân sách
Cứ năm vị vắng một người
Nhìn vào hội trường trống hoác
Cử tri chỉ biết thở dài…

.
Đất nước vươn mình đi tới
Cuốn theo bao sự bi hài
Những kẻ ăn gian làm dối
Kéo lùi đất nước, mình ơi!
15-11-2015

--------
(*) Trần Tế Xương, Đất Vị Hoàng
(**)Dự thảo Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể do Bộ GD-ĐT công bố: Lịch sử không còn là môn học độc lập nữa mà sẽ tích hợp, lồng ghép vào các môn học khác như Giáo dục công dân, Giáo dục quốc phòng…
Nguyễn Duy Xuân
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Không lắm nhời nữa!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

ít báo lưu ý tới điều này:

Hầu hết các báo chiều nay đều đưa tin người bị tù oan 17 năm Huỳnh Văn Nén ở Bình Thuận được trả tự do, bởi ông ấy không phạm tội. Chuyện oan sai còn dài, nhưng ít báo lưu ý tới điều này: có công lớn trong việc đấu tranh cho tự do của ông Huỳnh Văn Nén chính là luật sư Trần Vũ Hải và các cộng sự Phạm Hồng Hải, Bùi Đức Trường. Xin chúc mừng các luật sư. 
Nhưng ai sẽ là người bảo vệ cho LS Trần Vũ Hải khi chính anh ấy là nạn nhân?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chặn đứng bữa tiệc quy tụ hơn 500 giang hồ cả nước

- “Số vụ giết người giảm, nhưng tính chất gây án manh động, tàn bạo, liều lĩnh...lại gia tăng” - thiếu tướng Hồ Sĩ Tiến, Cục trưởng cục Cảnh sát hình sự nhận định. 

Gia tăng tội phạm giết người tàn bạo 
Sáng 27/11, tại TPHCM diễn ra Hội nghị giao ban cảnh sát hình sự cả nước năm 2015. Thiếu tướng Hồ Sĩ Tiến – Cục trưởng cục Cảnh sát hình sự (Bộ Công an) thông tin, năm nay cả nước xảy ra 970 vụ giết người. Thống kê này cho thấy giảm 191 vụ, tương tương 16,5% so với năm liền kề.
tội phạm, hình sự, thảm án, bình phước, giang hồ, hải phòng
 Thiếu tướng Hồ Sĩ Tiến – người đứng đầu lực lượng cảnh sát hình sự cả nước, từng chỉ huy khám phá những vụ án, chuyên án lớn
“Số vụ giết người giảm, nhưng tính chất gây án manh động, tàn bạo, liều lĩnh...lại gia tăng” -người đứng đầu lực lượng cảnh sát hình sự khẳng định. Điển hình, trong năm qua có nhiều vụ trọng án gây chấn động: vụ 2 thanh niên sát hại 6 người tại huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước; vụ giết 4 người trong một gia đình ở huyện Tương Dương, Nghệ An hay vụ giết 4 người huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái...đều gây phẫn nộ dư luận.
Đại tá Lê Ngọc Phương, trưởng phòng Cảnh sát hình sự, công an TP.HCM đưa ra con số: năm qua TPHCM xảy ra 6.000 vụ trộm nhưng tỷ lệ phá án thấp. Đại tá Phương cho hay, mới đây công an TP.HCM khám phá 2 chuyên án về 2 băng nhóm trộm ở trung tâm TP.HCM, bắt 21 đối tượng, gây án liên tỉnh; chúng khai đã thực hiện hơn 500 vụ.
“Có băng nhóm sử dụng tay trong là bảo vệ dân phố chỉ điểm, gây khó khăn cho quá trình đấu tranh, phá án. Hay như có nhiều vụ trộm két sắt, chúng tôi thu được dấu vết vân tay của kẻ tình nghi tại hiện trường nhưng hồ sơ tố tụng Viện KSND không phê chuẩn, yêu cầu phải có lời khai thừa nhận của nghi can”, đại tá Phương nêu thực tế.
Đại diện công an tỉnh Đắc Lắc, đại tá Nguyễn Văn Bôn, trưởng phòng cảnh sát hình sự thông tin: 6 tháng qua, địa bàn này có 21 vụ trộm két sắt. Chuyên án T615 gần đây đã bắt giữ 3 nhóm với 21 đối tượng, làm rõ về 16 vụ trộm két sắt và 100 vụ trộm đột nhập. Theo ông Bôn, các đối tượng quen biết trong quá trình cùng thụ án tù, liên kết địa bàn, chỉ điểm cho dân ngoại tỉnh đến gây án, sau đó tạm chia tay rồi thời gian ngắn sau quy tụ lại, tiếp tục “ăn hàng”.
Ngăn chặn bữa tiệc "giang hồ hội tụ"
Địa phương “nổi tiếng” về các băng nhóm anh, chị từ trước đến nay là Hải Phòng. Đại tá Lê Hồng Thắng, trưởng phòng cảnh sát hình sự TP này hé lộ, vừa “chặn đứng” một buổi tiệc quy tụ hơn 500 giang hồ trong cả nước.
tội phạm, hình sự, thảm án, bình phước, giang hồ, hải phòng
Vụ sát hại 6 người trong một gia đình ở Bình Phước cho thấy mức độ gây án manh động, liều lĩnh của tội phạm.   
Ông Thắng cho biết, đây là buổi tiệc mà một tay anh chị ở Hải Phòng dự kiến tổ chức ở Đồ Sơn, có hơn 500 khách mời là dân anh chị ở nhiều tỉnh thành. Chúng đã đặt hơn 300 suất ăn...Tuy nhiên qua các biện pháp nghiệp vụ, cảnh sát hình sự Hải Phòng nắm bắt được thông tin, làm việc với những người tổ chức buổi tiệc nên cuối cùng kế hoạch tổ chức không thành.
Được biết, hiện phòng cảnh sát hình sự do đại tá Thắng quản lý hơn 300 đối tượng nghi vấn hoạt động băng nhóm trên địa bàn. Ngoài ra, phòng này cũng có cán bộ đặc trách quản lý hồ sơ quản lý hơn 100 đối tượng khác là dân anh, chị Hải Phòng hoạt động ở nước ngoài và các tỉnh thành khác, chủ yếu là miền Nam. Nắm rõ các đối tượng đó hiện cư ngụ ở đâu? làm gì? mua nhà ở đâu? và hễ về Hải Phòng sẽ tìm hiểu ngay tức khắc là về với mục đích gì?
Theo thống kê của Cục cảnh sát hình sự, Bộ công an. Từ đầu năm đến nay, cả nước xảy ra gần 52.000 vụ phạm pháp hình sự, giảm 2.580 vụ (4,73%) so với năm 2014. Trong đó khám phá gần 40.000 vụ, xử lý hơn 76.000 đối tượng, đạt tỷ lệ phá án gần 77%.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NỖI VUI, BUỒN CỦA NGƯỜI CHÉP SỬ


(Tạp bút)
Đời một người làm công việc chép sử, cũng như cả thiên hạ chứng nhân, có lúc thú, lúc đau. Thú có khi đến tột cùng, đau có khi phải lặng ngắt. Xin được kể ra đây mấy việc:
Sách Đại Việt Sử kí Toàn thư có một đoạn rất ngắn, mà người chép sử chép đến đó phải gai bút rợn người, đến nỗi ngay lập tức phải xếp bút nghiên lại, đợi mấy ngày cho hồn vía thoát ra khỏi cái dư vị thần thánh của mấy câu đó, rồi mới chép tiếp được. Đoạn sử ấy vỏn vẹn như sau:
Hỏi: “Thế giặc năm nay thế nào?” Trả lời: “Năm nay đánh giặc nhàn”.
Người hỏi là đương kim Hoàng thượng Trần Nhân Tông, người trả lời là Đức Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.
Đó là thời điểm bắt đầu vào lần thứ ba, quân Nguyên sang xâm lược nước ta, mùa đông năm Đinh Hợi (1287).
Mặc dù Đức Hưng Đạo Đại Vương đã để lại cho hậu thế nhiều trước tác kiệt xuất như “Hịch Tướng Sĩ”, “Vạn Kiếp tông Bí truyền thư”, lại có những câu nói quật cường, khí phách như: “Bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã...” Nhưng cái câu trả lời tưởng như không còn gì đơn giản hơn ấy mới thật kinh hồn. Ngài nói thế, tức là đã coi cái việc đánh giặc, mà là giặc lớn, giặc mạnh, nó đơn giản, bình thường như một thứ công việc đồng áng, mùa vụ. Hệt như hai bác nông dân hỏi thăm nhau: “Cấy hái năm nay thế nào?” - “Năm nay làm ruộng nhàn”.
Đời một người làm công việc chép sử, chỉ mong có được một câu như thế để mà chép, thế cũng đủ mãn nguyện, cũng hả bút lắm rồi.
Chắc rất hiếm quốc gia nào trên thế giới lại có lịch sử đánh giặc như cơm bữa, như mùa vụ, như... “đến hẹn lại lên”... như ở Việt Nam.
Và chắc cũng không có danh tướng cổ kim Đông Tây nào lại (tỉnh bơ) coi cái công việc đánh giặc nó đơn giản, bình thường như vậy. Tướng như thế, làm gì quân chẳng vững lòng. Quân đã vững lòng, làm gì giặc chẳng thua.
Chẳng thế mà cả cõi phương Bắc rộng lớn, vốn tự coi mình là trung tâm của thế giới, bấy giờ không ai dám gọi đến tên thật, phải gọi một cách tôn kính theo tước của Ngài là An Nam Hưng Đạo Vương.
Quân dân nhà Trần ba lần đại thắng Nguyên - Mông, đế quốc hùng mạnh vào bậc nhất thế giới thời bấy giờ. Nhưng trong suốt hơn một trăm năm tồn tại sau đó, năm lẻ cũng như năm chẵn, triều đình ấy không hề một lần kỉ niệm những võ công oanh liệt của mình. Thêm một lần chứng tỏ coi cái việc đánh giặc như là chuyện mùa vụ bình thường, là trách nhiệm (đương nhiên) của kẻ làm vua, làm tướng, là chuyện... chẳng có gì phải làm ầm ĩ...
Không chỉ riêng nhà Trần, cả nhà Tiền Lê, nhà Lý trước đó, nhà Hậu Lê sau này... đều có không ít những võ công tương tự. Song cũng tuyệt không một lần nhắc lại...
Đó phải chăng là cái “đạo” xử thế của bậc quân tử ngày xưa?
Không phải chỉ là quân tử, mà còn là thánh nhân. Chỉ có thánh nhân mới có đủ đạo đức và “can đảm” để xử thế như vậy. Sách “Đạo đức kinh” của Lão Tử có câu: “Bậc thánh nhân: Làm mà không cậy công; Thành công mà không ở lại; Vì bởi không ở lại, nên không bị bỏ đi...”. “Làm mà không cậy công” thì ông cha ta vốn có truyền thống như thế. Còn “thành công mà không ở lại...” thì xưa nay chỉ có mỗi Đức Thánh Gióng là được như vậy. Rất tiếc Thánh Gióng chỉ là truyền thuyết...
Mùa thu năm Canh Tý, tháng tám, ngày hai mươi, cách đây đúng bẩy trăm linh năm năm (1300) Đức Hưng Đạo Đại Vương từ trần. Ngài dặn con cháu hoả táng, lấy vật tròn đựng tro xương, bí mật chôn trong vườn, trồng cây lại như cũ để người đời không biết chỗ nào. Cẩn thận, chu đáo và cảnh giác đến thế là cùng...
Bậc Thánh nhân đã ra đi.
Nhưng thời cuộc nhiễu nhương, nhân thế tầm thường... thì vẫn còn ở lại, ở lại đến muôn đời.
Trần Khánh Dư xuất thân làm nghề bán than, có tài làm tướng, đánh giặc khi thua khi thắng, nhưng cũng lập được công lao, thân được phong đến tước Vương. Đáng lẽ làm người tử tế để lưu danh sử sách, thì lại cậy có công mà thả sức hoành hành, cư xử hệt những hàng con buôn mạt hạng, vừa đểu giả, vừa tham lam, thô bỉ đến gà chó phải kinh. Từng thông dâm với cả công chúa Thiên Thụy - con dâu của chính Đức Hưng Đạo Đại Vương. Lại dùng quyền vua ban, tự đặt ra luật lệ, cốt ăn cướp tiền dân cho thật nhiều. Chẳng hạn ngầm sai người nhà mua tích trữ một loại nón gọi là nón Ma lôi, sau đó ra lệnh cho quân, dân trong vùng ai cũng phải đội nón ấy rồi tung ra bán đắt gấp ba bốn lần, thu lợi hàng ngàn tấm vải...
Theo vua đi đánh Chiêm Thành. Chúa Chiêm Thành đã đồng ý ra hàng rồi mà còn bất chấp cả lệnh vua, cố tình đuổi theo cốt để cướp của cải rồi giết người diệt khẩu, lại biện luận đó là công lao... Mạng sống của nhân quần đối với ngài té ra chẳng khác gì cỏ rác?
Vị Trần tướng quân ấy còn một câu nói vừa “bất hủ”, vừa “kinh điển”, đúng đến muôn đời đối với gan ruột của những loài cầm thú trong thiên hạ: “Tướng là chim ưng, dân với lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ?”
Thấy kinh chưa? Thì ra từ xưa đã có những hạng quan tướng biết coi dân với lính như vịt, có nhai tươi nuốt sống cũng được nữa, huống hồ là đè đầu cưỡi cổ, nhũng nhiễu bóp nặn nọ kia...
Lũ lang sói những đời sau quả nhiên đã tìm thấy ông tổ của mình.
Người chép sử chép xong câu nói ấy thì ghê tởm đến nỗi lặng người, phải rửa đi rửa lại bút mấy lần mà vẫn chưa sạch mùi ô uế. Trang sử ứa máu tươi như bị một nhát dao sắc cứa vào...
Con người có lòng dạ đê tiện, tàn nhẫn và rắn rết như thế, không hiểu sao đến tận bây giờ, ở chỗ này chỗ nọ trong những thành phố lớn, vẫn thấy ngự trên những bảng tên đường?
Trần Khắc Chung vốn họ Đỗ. Vì chút công lao duy nhất là đi sứ sang doanh trại quân Nguyên, không chịu hạ mình khuất phục mà được ban họ vua, lại thăng quan tiến chức như diều. Nhưng bản chất đểu cáng lưu manh, xu thời giả tạo... thì cũng không ít lần làm ghê bút người chép sử.
Nhận lệnh vua đi lừa cướp công chúa Huyền Trân từ Chiêm Thành về, cố tình loanh quanh dài ngày trên biển, cốt sao tư thông bậy bạ được với công chúa, làm ô danh cả triều đình. Đến nỗi Hưng Nhượng Đại Vương (con trai Hưng Đạo Đại Vương) phải trỏ mặt mà mắng: “thằng này là cái điềm chẳng lành của Nhà nước...”
Bản thân (Đỗ) nhờ luồn lọt, cơ hội, cố làm ra vẻ khác người mà leo đến chức tể tướng. Đáng lẽ phải lo cho dân yên nghiệp làm ăn, tránh được thiên tai, mùa màng thuận lợi... Thế mà khi bị hạn hán, mất mùa thì lại bảo việc ấy đi mà hỏi... Long Vương. Thật khôi hài cho một kẻ ngồi chốn ngôi cao chót vót.
Nhưng tội nặng nhất của cái lão họ Đỗ này là vào hùa với những kẻ quyền quý, kết giao với gian tà để hãm hại người vô tội, đẩy bậc trung thần tới cái chết thảm thương. Vụ án giết Quốc phụ thượng tể Trần Quốc Chẩn mà Trần Khắc Chung là một trong những kẻ âm mưu, là một vết nhơ trong cái triều đình đã bắt đầu đến hồi lục đục, đang biến thành một đàn sói tranh mồi của vua Trần Minh Tông.
Thế mà lão vẫn được yên ổn hưởng thọ cho đến hết lộc Trời. Chỉ mãi sau khi chết, mới bị con cháu Quốc Chẩn quật mả, băm vụn xác ra.
Đã là bậc Thánh nhân rồi, mà lúc chết vẫn còn phải cảnh giác với người đời...
Hèn gì lịch sử cứ luôn phải chứng kiến những kẻ tiểu nhân càn rỡ?
Đời một người làm công việc chép sử, chỉ canh cánh lo đến lượt mình phải chép về những việc bỉ ổi như thế, những con người tiểu nhân như thế... mà thôi.
2005
Phần nhận xét hiển thị trên trang

So sánh hai dòng tư tưởng phương Tây phương và phương Đông


Hiện trong thế giới có hai thứ văn minh, là văn minh Tây phương và văn minh Đông phương. Hai cái văn minh ấy khác nhau là do tại hai đàng tư tưởng khác nhau.
emwlandscapelogo
Phan Khôi. C.D. Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s.774 (27/9/1928); s.776 (2/10/1928)
Tây phương gồm cả các nước châu Âu châu Mỹ mà nước Pháp là một; Đông phương gồm cả các nước châu Á, mà nước ta là một. Tư tưởng của Tây phương phát nguyên từ Hy Lạp, La Mã, Hê-bơ-rơ, song bây giờ đã hỗn thành ra một nền tư tưởng Tây phương, nên ở đây gọi chung là tư tưởng Tây phương. Tư tưởng Đông phương có hai tua lớn, một là Ấn Độ, một là Tàu, mà ta thuộc về tua Tàu, nên ở đây chỉ lấy Tàu làm trọng.
Người ta thấy bên Tây về đường vật chất phát đạt tinh xảo hơn bên Đông, rồi cho rằng văn minh Tây phương là vật chất văn minh, còn văn minh Đông phương là tinh thần văn minh. Nói như vậy là lầm. Những cái thuyết tự do bình đẳng, là phần hệ trọng nhứt trong văn minh Tây phương, chẳng phải tinh thần là gì? Bên nào cũng có tinh thần vật chất cả, chẳng qua vật chất tùy theo tinh thần của mỗi bên mà hiện ra hai vẻ khác nhau. Cái tinh thần ấy tức ở đây tôi gọi là tư tưởng.
Ba điều tôi sắp giải ra dưới nầy chỉ là từ trong hai cái văn minh ấy mà rút ra mỗi bên ba cái yếu điểm; ngoài ra, mỗi cái văn minh hoặc giả đều có chỗ hay chỗ dở thì tôi không kể đến. Tôi cũng không có ý so sánh bên nào hơn, bên nào kém; cốt muốn tỏ ra cho biết hai bên trái ngược nhau, không thể dung nhau mà thôi.
1. - Tây phương chuộng khoa học, Đông phương chuộng huyền học. -
Theo ý người phương Tây, mọi sự vật trong thế gian bất kỳ lớn hay nhỏ, thấy được hay không thấy được, hễ mình muốn biết thì phải biết cho đến nơi, cho đâu ra đó, chớ không được mập mờ, không được lộn xộn. Bởi vậy họ phải làm ra cái cách để mà biết. Đối với một sự vật gì, họ cứ nhặt lấy những cái kinh nghiệm mỗi khi một ít, những cái tri thức mỗi nơi một chút, rồi quán thông lại, lập ra những cái nguyên tắc, công lệ, và những cái thuyết có thống hệ, mà ai cũng không cãi được nữa, thì bấy giờ sự biết mới đích xác và sự học về sự vật ấy mới thành. ấy gọi là khoa học.
Ở phương Tây bây giờ hầu như mỗi một sự vật gì là có một khoa học. Không những thiên văn, địa văn, quang, điện, chánh trị, pháp luật có khoa học mà thôi; cho đến nuôi gà, trồng rau cũng có khoa học nữa. Triết học ngày xưa đứng ngoài khoa học, mà bây giờ người ta cũng dùng phương pháp khoa học để nghiên cứu triết học. Họ chia khoa học ra làm ba loại: là Tự nhiên khoa học, Xã hội khoa học và Tinh thần khoa học. Những tên riêng từng khoa thì nhiều lắm, không hơi sức đâu mà kể.
Đây cử ra một khoa y học để cho biết cái vẻ khoa học của họ là thế nào. Y học lại gồm có nhiều khoa học khác nữa, nào là: Sanh lý học[1] dạy về sự kết cấu và tác dụng của các cơ thể[2] trong mình người ta; Giải phẫu học[3] dạy về từng cái xương từng mạch máu trong mình người ta; Bịnh lý học[4] dạy về các chứng bịnh; Dược vật học dạy về các vị thuốc; tất phải biết ngần ấy khoa học mà thiệt hành ra được đã rồi mới làm nên thầy thuốc. Đến khi chữa bịnh, thầy thuốc nói bịnh tại tim, ấy là trái tim thiệt bị đau; nói bịnh tại phế, ấy là phổi thiệt bị đau. Đau tim đau phổi cách làm sao thì uống thuốc gì, đều có phương nhứt định cả, phải theo khoa học chớ không được theo ý riêng của thầy thuốc.
Tóm lại, người phương Tây biết được sự vật gì đều là do khoa học cả. Khoa học đã thành ra như cái tánh riêng của họ.
Sự học phương Đông thì thật là mênh mông và mầu nhiệm. Kẻ học cứ sách mà đọc tràn đi rồi hiểu được chừng nào thì hiểu. Những sự vật mà ta muốn biết, tán mạn ra trong sách mỗi nơi một ít, không có xâu suốt lại thành từng món một, và cũng không có đặt ra phương pháp gì để noi đó mà tìm tòi. Sách thì dạy trước bác mà sau ước. Kinh Thơ nói vô số là chuyện, rồi ước lại một chữ Trung, Kinh Lễ nói vô số là chuyện rồi ước lại một chữ Kính; bác thì cực kỳ là bác, mà ước thì cực kỳ là ước[5]. Đến Kinh Dịch mới là ảo diệu vô cùng: quẻ Kiền có nói đến "rồng bay" (long phi), mà kỳ thiệt không phải là rồng bay; quẻ Khôn có nói đến "ngựa cái" (tẩn mã), mà kỳ thiệt không phải là ngựa cái; chẳng qua nói bóng vậy thôi, không khác nào "con rồng có bảy đầu mười sừng" và "con thú ở dưới đất lên" đã nói trong sách Khải huyền của kinh Tân ước. Sách Xuân thu cũng vậy, nói "Doãn thị chết" song không trọng tại Doãn thị chết mà trọng tại cái ý chê thế khanh; nói "thiên vương đi săn", song không phải đi săn mà là bị chư hầu bắt hiếp. Càng những chỗ sâu hiểm éo le như vậy, thì lại càng tôn cho là vi ngôn đại nghĩa. Cứ theo sách thì những âm dương, ngũ hành, cũng đều là những cái giả tượng mà thôi, chớ không phải chỉ ngay về hiện trạng và thiệt tế mà ta ngó thấy đâu. Vì vậy cho nên gọi là huyền học.
Người nào đã chịu phép "báp tem" của huyền học rồi thì ra làm việc gì cũng đều được cả, bất cứ việc gì, vì "vận dụng do ư nhứt tâm". Một ông quan có thể coi việc bộ Hộ rồi coi việc bộ Hình, luôn cả sáu bộ cũng được, và có khi ra làm tướng đánh giặc cũng xong. Còn các nghề thợ thì nhứt thiết không có học gì cả, hễ tập quen thì làm được, ăn thua nhau là tại cái sáng dạ.
Nói đến nghề làm thuốc của ta mới càng tỏ ra cái vẻ huyền học, và để cho nó phản chiếu lại nghề làm thuốc của Tây vừa nói trên kia. Bắt đầu dạy về ngũ tạng: tâm, can, tì, phế, thận, thì dạy rằng nó hiệp với ngũ hành, phối với ngũ vị, ứng với ngũ phương và tứ thời. Dạy về dược tánh thì: một vị bạch truật mà chủ cả công cả bổ, đã kiện tì cường vị, lại trị thấp, bĩ, hư đàm; càn cương sao hắc thì nhập thận; hỏi tại làm sao thì bảo rằng vì "thận thuộc thủy, kỳ sắc hắc". Những điều ấy nếu bắt cứ theo phương pháp khoa học mà giải nghĩa thì không tài nào giải ra được. Đến lúc trị bịnh, thầy thuốc nói là bịnh phong, nhưng phong đó không phải là gió; nói là bịnh thấp, nhưng thấp đó không phải là ẩm ướt; thậm chí nói bịnh tại phế, tại can, nhưng thiệt không phải là đau phổi hay đau gan. Những chữ phong, thấp, phế, can đó chẳng qua là một thứ chữ trừu tượng[6] chớ không phải cụ thể [7]. Còn đến cho thuốc thì cùng một bịnh mà mỗi thầy đi một mặt: thầy thì hàn, thầy thì nhiệt, thầy thì bổ hỏa, thầy thì lợi thủy, thầy thì ít vị, thầy thì nhiều vị, mỗi thầy đều kê phương dụng dược theo ý mình. Ôi! huyền diệu là dường nào!
Đại ý huyền học không lấy khách quan mà xem xét mọi sự vật, chỉ lấy chủ quan mà ứng tiếp nó. Kẻ học, sau khi đã học nhiều rồi, đã hội được vạn lý vào nhứt tâm rồi, thì có thể đem cái tâm ấy ra mà đối phó với mọi sự vật chớ không theo y như sự mình đã học; như vậy sách Nho gọi là "thần nhi minh chi". ấy huyền học tương phản với khoa học là tại đó.
2. -Tây phương trọng tự chủ, Đông phương trọng thống thuộc. -
Chữ tự chủ ở đây nghĩa là mỗi người làm chủ lấy mình, cũng tức là cá nhân chủ nghĩa. ở phương Tây, nói rằng "một người", nghĩa là đối với thế giới, đối với quốc gia mà nói, chớ không phải phiếm nhiên. Đã gọi là người, thì người nào cũng vậy, ai ai cũng có cái địa vị cái tư cách đối với thế giới đối với quốc gia, thật như ta thường nói "đội trời đạp đất ở đời". Như vậy, người nào tự chủ lấy người ấy, không ai thuộc về ai cả.
Bởi đó mới có sự tự do. Một người đã tới tuổi thành nhân rồi thì không còn ở dưới quyền cha mẹ nữa. Mà cũng không ở dưới quyền chánh phủ hay là dưới quyền ông nguyên thủ, song chỉ ở dưới quyền pháp luật. Một người được y theo trong vòng pháp luật mà tự do. Pháp luật cho mọi người được tư tưởng tự do, ngôn luận tự do, cư trú tự do,... những quyền tự do ấy, người khác - dầu là cha mẹ nữa - không được can thiệp đến. Pháp luật đặt ra cốt là hạn chế sự tự do của từng người để binh vực sự tự do cho từng người.
Lại bởi đó mới có sự bình đẳng. Mọi người đối với quốc gia xã hội đều có nghĩa vụ và quyền lợi bằng nhau. Ai nấy đều phải nộp thuế, đều phải đi lính, thì ai nấy đều được hưởng quyền tự do của pháp luật. Trước mặt pháp luật, ai cũng như nấy, hễ có tội thì bị phạt, không cứ ông nguyên thủ hay là người bình dân. Pháp luật đặt ra cũng cốt để duy trì sự bình đẳng giữa từng người.
Bởi mỗi người đều có địa vị tư cách vững vàng, tự chủ lấy mà không xâm phạm đến ai như vậy, cho nên khi hiệp với nhau thành đoàn thể thì chỉnh tề và ổn kiện lắm. Quốc gia, tức là của chung của quốc dân; hội xã tức là của chung của hội viên; đối với quốc gia xã hội ai có bổn phận gì thì làm hết bổn phận ấy, có lợi ích thì mọi người cùng hưởng. Mới nghe họ nói những là "quốc gia lợi ích, xã hội lợi ích" thì tưởng là xung đột với chủ nghĩa cá nhân, mà xét kỹ ra thì những cái lợi ích ấy cũng chỉ là lợi ích cho từng người vậy.
Các nước bên Tây đều dùng cái chánh thể lập hiến, cộng hòa được, là nhờ họ sẵn có cái tư tưởng như đã nói trên đó. Cái tư tưởng ấy tức là cái tinh thần dân chủ.
Nói đến Đông phương. Theo cái ý nghĩa chữ "một người" ở phương Tây, thì ở phương Đông, trừ ông vua ra, hầu như không có "người" nào hết. Bởi vì "xuất thổ chi tân, mạc phi vương thần", ai cũng là thần thiếp của vua, ai cũng là dân của vua. Cứ như sách dạy, nhân thần không được tư giao với ngoại quốc, ấy là không có tư cách đối với thế giới; thứ nhân không được nghị luận việc chánh, ấy là không có tư cách đối với quốc gia. Bởi vậy ai nấy phải nộp của cải cho vua, nộp cả đến thân mình nữa; vua thương thì nhờ, bằng vua không thương mà giết đi cũng phải chịu. Như vậy gọi là trọn cái bổn phận thờ bề trên; như vậy gọi là thiên kinh địa nghĩa.
Không những thuộc về vua mà thôi, ai còn có cha mẹ đến chừng nào thì phải kể cái thân mình là của cha mẹ đến chừng nấy. Lại không những cái thân mà thôi, mình dầu có của cải, có vợ con, cũng phải kể là của cha mẹ. Theo kinh Lễ dạy: Con yêu vợ mà cha mẹ ghét, thì con phải để vợ[8] đi; con ghét vợ mà cha mẹ yêu, thì con phải hòa thuận với vợ. Lại dạy: có dư của thì nộp cho tông, thiếu thì lấy của tông. Tông là người tông chủ trong gia đình, tức là cha mẹ. Còn chưa kể đến những lời tục thường nói "Cha mẹ đặt đâu ngồi đó, bảo chết hay chết, bảo sống hay sống" thì lại còn nghiêm khắc quá nữa.
Trọng nhứt là vua và cha mẹ, rồi thứ đến quan, làng, họ, cũng đều có quyền trên một người. Quan, nào có phải một ông, có đến năm bảy lớp, cứ dùi đánh đục, đục đánh săng, rút lại trăm sự chi cũng đổ trên đầu người dân cả. Người trong làng thì kể như con của làng, cho nên nói rằng "con làng nhờ làng". Người trong họ đối với họ cũng vậy.
Ấy vậy, lấy ra một người ròng rặt Đông phương mà nói, thì người ấy không tự mình làm chủ lấy mình được; song là thuộc về vua, về cha mẹ, về quan, về làng, về họ, nếu là đàn bà thì còn thuộc về chồng nữa.
Bởi cớ ấy, trong xã hội ta như một cái thang có nhiều nấc. Nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người không đồng nhau: người trên đối với người dưới không có nghĩa vụ; còn ai có nhiều quyền hơn thì được hưởng nhiều lợi hơn. Pháp luật đối với mọi người thì tùy từng bậc mà khác: cùng phạm một tội mà dân bị phạt trọng, quan được phạt khinh; cùng phạm một tội mà kẻ thứ ấu bị phạt trọng, kẻ tôn trưởng được phạt khinh[9]. Theo Tây phương, như thế là bất bình đẳng; song theo Đông phương thì như thế là có trật tự.
Một đằng thì trọng tự chủ, một đằng thì trọng thống thuộc, hai đằng tư tưởng khác nhau, cho nên trình bày ra hai cái xã hội khác nhau. Xã hội Tây phương thì như bầy chim sẻ, con nào cũng một lứa như con nào, và con nào cũng tự kiếm ăn cho con nấy, song cũng hiệp nhau thành bầy. Xã hội Đông phương thì như bầy kiến, có con lớn con nhỏ, con lớn giữ phần cai quản, con nhỏ lo việc đi kiếm ăn, song cũng hiệp nhau thành bầy.
3. - Tây phương quý tấn thủ, Đông phương quý an phận -
Bên phương Tây hay có những người đi bộ quanh trái đất một vòng, đi tìm đất mới, đi thám hiểm đến Nam cực, Bắc cực, là vì họ có cái tư tưởng trọng sự tấn thủ. Họ không chịu đầu hàng cảnh ngộ và sức tự nhiên, mà lại cố chiến thắng cảnh ngộ và sức tự nhiên. Họ không tin có số mạng; dầu biết có số mạng chăng nữa, họ cũng lo làm cho hết sức mình.
Vì có cái tinh thần tấn thủ, muốn chiến thắng sức tự nhiên mà lợi dụng nó, nên mới sanh ra các thứ khoa học và làm được những công trình to tát, như là dùng điện khí, hơi nước, bắc cầu trên sông lớn và đặt đường hỏa xa xuyên qua núi, v.v.
Người Đông phương chỉ muốn sống cách làm sao cho êm đềm lặng lẽ. Trời bắt thế nào thì hay thế: "Bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao". Sách Nho dạy phải "lạc thiên an mạng", sách Lão dạy phải "tri chỉ tri túc" đều là ý ấy. Trải các đời, những ông vua nào hay đi chinh phục các nước xa, thì bị chê là cùng binh độc võ; những người nào có chí lớn cử đồ việc lớn, thì người ta cho là không biết an thường thủ phận. Ai nấy đều lấy sự ở nhà làm sướng, đi ra làm khổ; đến ông Lão Tử thì lại còn muốn ai ở đâu ở đó, đến già đến chết không qua lại nhau (lão tử bất tương vãng lai) nữa kia!
Đối với sức tự nhiên, người phương Đông không dùng chước chiến mà dùng chước hòa; cũng lợi dụng nó mà lợi dụng một cách khác. Một hòn núi to và cao, người Tây có thể vỡ thành đường quanh theo chơn nó mà đi, người Đông thì cứ để vậy mà trèo ngang qua; một cái thác, người Tây có thể dùng sức chảy của nó dựng nên bộ máy mạnh mấy ngàn ngựa, người Đông thì không, chỉ dùng làm chỗ ngắm cảnh và ngâm thơ. Cho nên phương Đông khó lòng mà nảy ra khoa học được; mà như vậy thì cũng không cần dùng khoa học làm gì nữa.
Xem ba điều trên đây thì thấy ra hai cái tư tưởng Đông và Tây nó phản đối nhau như phương nam với phương bắc, như mặt trăng với mặt trời. Nay ta nếu muốn theo cách sanh hoạt mới của Tây phương, mà ta lại còn giữ cả tư tưởng cũ của Đông phương thì quyết không có thể được. âu là phải dứt bỏ tư tưởng cũ của ta mà theo tư tưởng của Tây phương, thì mới hiệp với cách sanh hoạt mới của ta.
S.T
Phần nhận xét hiển thị trên trang