Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 22 tháng 11, 2015

‘Lời nguyền địa lý’ – sức nặng đè lên số phận dân tộc Việt Nam

Một số nhà nghiên cứu ví von Trung Quốc như một con gà trống, với bán đảo Triều Tiên là chiếc mỏ và Việt Nam là chân của con gà.
Hình ảnh so sánh này một mặt cho thấy tầm quan trọng chiến lược của Việt Nam đối với Trung Quốc, đặc biệt là về an ninh, một mặt ám chỉ tới một thực tế rằng Việt Nam từ hàng ngàn năm qua đã gánh trên vai mình, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, sức nặng của Trung Quốc. Vấn đề là Việt Nam nếu muốn cũng không thể làm được gì để thay đổi thực tế này.
Vì vậy, cũng giống như Cuba đối với Mỹ hay Grudia đối với Nga, Việt Nam, như cách nói của giáo sư Carl Thayer, đã bị chi phối bởi một “lời nguyền địa lý” (tạm dịch từ “tyranny of geography”). Theo đó Việt Nam không có sự lựa chọn nào khác ngoài học cách chia sẻ số phận của mình với người láng giềng Trung Quốc trong suốt từng bước đi lịch sử của mình.
Trong thực tế, một nước Trung Quốc mạnh hơn từ lâu đã là mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với an ninh của Việt Nam. Việt Nam đã nằm dưới ách thống trị của các triều đại Trung Quốc suốt gần một ngàn năm cho đến năm 938 sau Công nguyên. Từ thời điểm đó cho tới khi Việt Nam bị Pháp biến thành thuộc địa vào nửa sau thế kỷ 19, Trung Quốc đã xâm lược và chiếm đóng Việt Nam một vài lần. Bằng chứng gần đây nhất cho thấy Trung Quốc là một nguồn đe dọa đối với Việt Nam chính là cuộc chiến tranh ngắn ngày nhưng đẫm máu mà Trung Quốc tiến hành dọc theo biên giới phía Bắc của Việt Nam vào năm 1979, và cuộc đụng độ hải quân do Trung Quốc châm ngòi ở Biển Đông tháng 3 năm 1988.
Các mối đe dọa của Trung Quốc đối với Việt Nam không chỉ xuất phát từ sự gần gũi về mặt địa lý mà còn từ sự bất đối xứng về sức mạnh giữa hai nước. Ví dụ như Trung Quốc rộng gấp 29 lần so với Việt Nam, và dân số của Việt Nam, mặc dù đông thứ 14 thế giới, cũng chỉ tương đương với số dân một tỉnh tầm trung của Trung Quốc mà thôi.
Thành tích kinh tế ấn tượng của Việt Nam từ cuối những năm 1980 cũng không cho phép Việt Nam thu hẹp khoảng cách quyền lực với Trung Quốc. Ngược lại, cùng với quá trình hiện đại hóa của Trung Quốc trong ba thập kỷ qua, khoảng cách quyền lực giữa hai nước càng được nới rộng. Ví dụ, theo dữ liệu Ngân hàng Thế giới, GDP của Trung Quốc tính theo đô la Mỹ hiện hành đã tăng hơn 16 lần trong khoảng thời gian từ 1985 đến 2009, từ 307 tỷ USD lên 4.985 tỷ USD. Tuy nhiên, trong cùng thời gian trên, GDP của Việt Nam chỉ tăng 7 lần, từ 16 tỷ USD vào năm 1985 lên 97 tỷ USD trong năm 2009.
Nhờ kinh tế phát triển, sức mạnh quân sự của Trung Quốc cũng được gia tăng mạnh mẽ, đặt ra một mối đe dọa lớn hơn đối với an ninh Việt Nam. Trong năm 2011, theo tuyên bố chính thức của Trung Quốc, ngân sách quân sự của nước này là 91,5 tỷ USD, trong khi Việt Nam được cho là chỉ chi 2,6 tỷ USD cho quốc phòng (khoảng 2,5% GDP). Điều đặc biệt đáng lo ngại đối với Việt Nam là chi phí quân sự gia tăng của Trung Quốc được tập trung dành cho lực lượng không quân và hải quân, giúp nước này tăng cường khả năng triển khai sức mạnh quân sự ở khu vực Biển Đông, nơi Trung Quốc và Việt Nam đang có tranh chấp chủ quyền.
Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi của Việt Nam sang một nền kinh tế thị trường mở lại bổ sung thêm một khía cạnh khác cho “lời nguyền địa lý” mà Việt Nam phải gánh chịu, đó chính là khả năng bị tổn thương về kinh tế ngày càng gia tăng.
Kể từ khi Việt Nam nối lại quan hệ thương mại với Trung Quốc vào cuối những năm 1980, sản xuất trong nước của Việt Nam đã từ lâu bị đe dọa bởi hàng hóa Trung Quốc, tràn vào Việt Nam thông qua đường thương mại chính thức lẫn buôn lậu. Ví dụ như vào đầu những năm 1990, hàng tiêu dùng Trung Quốc nhập lậu vào Việt Nam quá nhiều và gây bất lợi cho sản xuất trong nước đến mức chính phủ Việt Nam đã phải áp đặt một lệnh cấm trên 17 chủng loại hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốc. Trong những năm gần đây, bất chấp khả năng cạnh tranh ngày càng cao của sản phẩm Việt Nam và ấn tượng về tình trạng kém chất lượng của hàng hóa Trung Quốc, buôn lậu từ Trung Quốc vẫn còn phổ biến. Điều này không chỉ tạo nên tác động tiêu cực đối với sản xuất trong nước mà còn đe dọa người tiêu dùng Việt Nam, đặc biệt là khi nhiều mặt hàng nhập lậu từ Trung Quốc có chất độc hại, ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của người dùng.
Một điểm dễ bị tổn thương khác chính là tình trạng thâm hụt thương mại kinh niên của Việt Nam với Trung Quốc, lên tới 5,4 tỷ USD trong tổng thâm hụt thương mại 7,5 tỷ USD của Việt Nam trong nửa đầu năm 2011. Hơn nữa, Trung Quốc đã nổi lên như là nguồn nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm gần một phần tư kim ngạch nhập khẩu trong năm 2010. Việt Nam phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc đối với các nguyên liệu đầu vào cho một số ngành xuất khẩu chủ yếu của mình, chẳng hạn như giày dép, dệt may, hay đồ nội thất. Trong khi đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Trung Quốc. Vì vậy, nếu Trung Quốc quyết định ngưng trao đổi thương mại với Việt Nam vì lý do nào đó, thiệt hại cho nền kinh tế của Việt Nam sẽ là rất lớn.
Một mối quan ngại được nêu lên ở Việt Nam gần đây chính là việc các công ty Trung Quốc đã giành được đến 90% các hợp đồng EPC (Thiết kế/Mua sắm/Xây lắp) cho các dự án công nghiệp lớn của Việt Nam, đặc biệt là các nhà máy điện đốt than. Nhà thầu Trung Quốc được ưa chuộng vì họ cung cấp công nghệ giá rẻ và hứa sẽ giúp đỡ bố trí vốn cho chủ đầu tư từ các ngân hàng Trung Quốc. Dù có vẻ là rẻ nhưng trong thực tế Việt Nam đang phải trả giá đắt cho các hợp đồng này.
Thứ nhất, công nghệ rẻ gây nên ô nhiễm. Các báo cáo cho thấy một số công nghệ được cung cấp bởi các công ty Trung Quốc đã bị nước này đào thải hoặc cấm sử dụng từ năm 2005. Thứ hai, năng lực nhà thầu Trung Quốc hạn chế làm cho nhiều dự án bị chậm tiến độ, ngay cả khi dự án hoàn thành đúng thời hạn thì họ cũng để lại cho các chủ dự án những hóa đơn bảo dưỡng tốn kém. Thứ ba, do nhà thầu Trung Quốc từ chối sử dụng các sản phẩm sẵn có ở địa phương và thay vào đó nhập khẩu mọi thứ từ Trung Quốc, kể cả những chi tiết cơ bản như bù-loong, nên góp phần làm cho thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc tăng cao. Nhà thầu Trung Quốc thậm chí không sử dụng lao động địa phương mà còn đưa lao động Trung Quốc vào làm việc bất hợp pháp, gây nên sự phản đối trong công luận Việt Nam.
Một điểm dễ bị tổn thương về kinh tế của Việt Nam xuất phát từ Trung Quốc được thể hiện trong thời gian gần đây liên quan đến việc các thương lái Trung Quốc mua ào ạt số lượng lớn nông sản Việt Nam, từ vải thiều, sắn đến hải sản hay thịt lợn. Điều này đã góp phần khiến giá thực phẩm tại Việt Nam tăng mạnh, khiến cho tới tháng Sáu lạm phát đã tăng 20,8% so với cùng kỳ năm ngoái bất chấp những nỗ lực kiềm chế lạm phát của chính phủ.
Những điểm dễ tổn thương về kinh tế hiện nay mang lại cho Việt Nam một mối đe dọa khác bên cạnh những mối đe dọa quân sự vốn rõ ràng hơn. Nếu Trung Quốc quyết định phát động một cuộc “chiến tranh kinh tế”, Việt Nam sẽ gánh chịu hậu quả nặng nề.
Tuy nhiên, Việt Nam dường như có ít lựa chọn để xử lý tình trạng dễ bị tổn thương của mình trong quan hệ kinh tế với Trung Quốc. Một mặt, các phản ứng nếu có sẽ bị hạn chế bởi thực tế rằng Việt Nam hiện phải tuân thủ các luật lệ thương mại và đầu tư quốc tế, như các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới mà Việt Nam đã là thành viên từ đầu năm 2007. Mặt khác Việt Nam cũng phải cảnh giác về khả năng trả đũa quy mô lớn nếu có động thái tiêu cực đối với Trung Quốc.
Tất nhiên, ở đây cũng không thể không kể tới các điểm tích cực. Việt Nam hy vọng rằng sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng tăng, cho dù không đối xứng, cũng sẽ giúp làm giảm khả năng Trung Quốc tấn công quân sự Việt Nam, đặc biệt là trên Biển Đông. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp Việt Nam cũng nhận thấy hợp tác với các doanh nghiệp Trung Quốc vẫn ít tốn kém và thuận tiện hơn so với hợp tác với doanh nghiệp các nước khác.
Chính vì vậy, Việt Nam vẫn muốn kiên trì hợp tác kinh tế với Trung Quốc, tiếp tục cố gắng gặt hái càng nhiều lợi ích càng tốt từ nền kinh tế đang bùng nổ của người hàng xóm phương Bắc. Nhưng tục ngữ Việt Nam vẫn có câu “mật ngọt chết ruồi”. Việt Nam vì vậy cần phải luôn nhận thức đầy đủ về các mối đe dọa và tìm ra các chiến lược phù hợp để ít nhất có thể hóa giải được khía cạnh kinh tế mới nổi của “lời nguyền địa lý” mà Việt Nam đang phải gánh chịu.
Trí Lê (Theo LÊ HỒNG HIỆP – TUẦN VIỆT NAM)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc tuyên bố ‘không ngưng xây dựng’ ở biển Đông

Reuters – Trung Quốc tuyên bố sẽ tiếp tục xây dựng cơ sở quân sự và dân sự tại các hòn đạo nhân tạo trong vùng biển tranh chấp trên biển Đông, một ngày sau khi Tổng thống Obama kêu gọi ngưng quân sự hóa trên vùng biển tranh chấp. Trước đó Hoa Kỳ đã cử tàu chiến Lassen tuần tra áp sát đảo nhân tạo Xubi hành động này Bắc Kinh cho rằng Washington đang “khiêu khích chính trị”.
“Xây dựng và duy trì các cơ sở quân sự cần thiết, đây là điều cần thiết đối với quốc phòng của Trung Quốc và để bảo vệ các hòn đảo cũng như bãi đá ngầm”, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân phát biểu như vậy trong một cuộc họp báo ở Kuala Lumpur hôm nay.
Ông Lưu Chấn Dân nói thêm Trung Quốc có kế hoạch “mở rộng và nâng cấp” các cơ sở dân sự trên các hòn đảo “nhằm phục vụ tốt hơn cho các tàu thương mại, ngư dân, cũng như giúp đỡ các tàu gặp nạn và cung cấp thêm các dịch vụ công ích nhiều hơn”. Ông cũng bác bỏ ý kiến cho rằng Trung Quốc đang quân sự hóa biển Đông và Bắc Kinh chủ yếu xây dựng các cơ sở dân sự.
Phát biểu của nhà Ngoại giao Trung Quốc tại hội nghị thượng đỉnh thường niên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á tổ chức tại Kuala Lumpur là một trong những tuyên bố mạnh mẽ nhất về quan điểm của Trung Quốc liên quan tới biển Đông.
Ông Lưu cũng nói rằng Washington đang thử thách Bắc Kinh khi nhất mực tiến hành các cuộc tuần tra để bảo đảm “tự do hàng hải” ở tuyến đường biển chiến lược. Hồi đầu tháng này máy bay ném bom chiến lược B-52 của Hoa Kỳ đã bay trên một số đảo nhân tạo do Trung Quốc xây dựng, đây là tín hiệu thể hiện sự quyết tâm của Washington để thách thức tuyên bố của Bắc Kinh.
Ông Lưu Chấn Dân cho rằng các hoạt động này của Mỹ “đã vượt ra ngoài khuôn khổ của tự do hàng hải”.
“Hành động lần này khi Mỹ cử tàu quân sự vào sâu trong vòng 12 hải lý của các đảo và bãi đá ngầm của Trung Quốc đã vượt ra ngoài phạm vi của tự do hàng hải. Đó là một sự khiêu khích chính trị và mục đích là để kiểm tra phản ứng của Trung Quốc.”
Hôm qua Tổng thống Obama đã kêu gọi các nước ngừng chấm dứt  xây dựng các hòn đảo nhân tạo và quân sự hóa các tuyên bố chủ quyền cùng khẳng định quyền tự do hàng hải trên vùng biển tranh chấp.
Cũng trong ngày hôm nay Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon đã thúc giục các bên kiềm chế sau khi Trung Quốc tuyên bố sẽ tiếp tục xây dựng các cơ sở quân sự cũng như dân sự trên biển Đông.
“Về các tuyên bố chủ quyền trái ngược nhau trên biển Đông, tôi đã nhất quán nói rằng tất cả các bên cần phải kiềm chế, xử lý tranh chấp một cách hòa bình thông qua đối thoại và theo luật quốc tế”, người đứng đầu cơ quan lớn nhất thế giới nói trong cuộc họp với lãnh đạo các quốc gia Đông Nam Á  tại Malaysia.
Các nước Việt Nam, Philippines, Malaysia, Đài Loan và Brunei đều tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông.
Đức Dũng

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trong khi nhiều nơi đề nghị xây tượng đài thì:

Ninh Bình: Tượng đài tiền tỷ bị lãng quên giữa muôn trùng cây cỏ
Dân trí - Đứng giữa cơ ngơi "bạc tỷ" này, phóng viên không khỏi xót xa trước những dấu hiệu rệu ra, xuống cấp đến ghê người. Ai “đạp phanh” cho những cỗ xe tiêu pha kiểu xây tượng đài, trụ sở? Tượng đài Vua Đinh Tiên Hoàng được quy hoạch nằm trong Quảng trường Đinh Tiên Hoàng Đế, do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình làm chủ đầu tư với tổng số tiền trên 1.500 tỉ đồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước. 

Tượng đài Vua Đinh Tiên Hoàng có trọng lượng 100 tấn, cao 9,9m. Thời điểm hiện tại khu vực tượng đài đang có dấu hiệu hư hỏng. Xem video trong trang gốc.
 
Ninh Bình: Tượng đài Vua Đinh Tiên Hoàng bị lãng quên...
Công trình tượng đài Vua Đinh Tiên Hoàng tọa lạc ngay tại phường Ninh Khánh, TP Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Công trình được hoàn thành và đưa vào sử sụng vào năm 2010, nhân dịp đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Tượng đài do một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình quyên tiền xây tặng.
Công trình trên được quy hoạch nằm trong Quảng trường Đinh Tiên Hoàng Đế, do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình làm chủ đầu tư với tổng số tiền trên 1.500 tỉ đồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước.
Đứng giữa cơ ngơi "bạc tỷ" này, chúng tôi không khỏi xót xa trước những dấu hiệu rệu ra, xuống cấp đến ghê người. Kim tiêm vứt chỏng chơ ngay bậc thềm dẫn lên khu tượng đài. Xung quanh đó là những rác bẩn, cỏ dại mọc um tùm.
dinh-tien-hoang1-1447868934076









Xung quanh tượng đài kim tiêm, xi lanh vứt ngổn ngang.






Nhiều hạng mục nằm trong quần thể khu vực tượng đài bị cỏ dại bao phủ gần như kín.


Trọng Trinh
http://dantri.com.vn/xa-hoi/ninh-binh-tuong-dai-tien-ty-bi-lang-quen-giua-muon-trung-cay-co-20151122153925941.htm

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2015

Thòng lọng siết chặt đường lưỡi bò và ảo tưởng Việt Nam không dám kiện

Về khả năng Việt Nam kiện Trung Quốc ra tòa, Nguyễn Thứ Sơn cho rằng: "Trên thực tế Việt Nam thừa hiểu chuyện này, họ chỉ dám khua chiêng gõ trống...

Tập Cận Bình điều chỉnh chiến lược sau thất bại của chuyến thăm Hoa KỳMỹ điều B-52 áp sát đảo nhân tạo Trung Quốc bồi lấp bất hợp pháp ở Trường SaThủ tướng Shinzo Abe sẽ cân nhắc các phương án đưa quân đội Nhật đến Biển Đông


Chiếc thòng lọng pháp lý cuối cùng cũng đã xuất hiện đế siết tham vọng của Trung Quốc bành trướng lãnh thổ, hàng hải trên Biển Đông lại, ít nhất nó đã siết được một chút khi Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) ở The Hague, Hà Lan ra phán quyết hôm 8/10.

PCA tuyên bố có đủ thẩm quyền xét xử vụ Philippines kiện Trung Quốc áp dụng, giải thích sai Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) ở Biển Đông. Động thái này của PCA đang mang lại những hiệu ứng tích cực khi Indonesia tuyên bố sẽ xem xét khả năng kiện đường lưỡi bò Trung Quốc ra tòa.

Nguyễn Thứ Sơn, chuyên gia bình luận thời sự đài Phượng Hoàng, Hồng Kông, Trung Quốc cho rằng Việt Nam không dám khởi kiện?! Ảnh: Time Weekly.


Ngoại trưởng Indonesia hôm Thứ Năm cho biết, Jakarta đã yêu cầu Trung Quốc làm rõ yêu sách đường lưỡi bò của họ ở Biển Đông, nhưng Indonesia đã không nhận được câu trả lời đúng trọng tâm câu hỏi.

Theo tường thuật của đài Phượng Hoàng, Hồng Kông ngày 13/11, trong cuộc họp báo ngày hôm qua 12/11, Hồng Lỗi, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói: Indonesia không có yêu sách chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Trường Sa. Chủ quyền quần đảo Natuna thuộc về Indonesia và Trung Quốc không có ý kiến gì về điều này?!

"Xung quanh tranh chấp lãnh thổ, hàng hải ở Biển Đông, Trung Quốc chủ trương nhất quán giải quyết thông qua đàm phán trực tiếp với nước liên quan một cách hòa bình trên cơ sở "tôn trọng sự thật lịch sử", căn cứ vào luật pháp quốc tế.

Điều này phù hợp với luật pháp quốc tế cũng như thực tiễn quốc tế, đồng thời cũng là cam kết giữa Trung Quốc với ASEAN trong Tuyên bố chung về ứng xử của các bên trên Biển Đông DOC.

Hiện nay quan hệ hợp tác đối tác chiến lược toàn diện Trung Quốc - Indonesia đang phát triển ổn định lành mạnh, chúng tôi hy vọng cùng với phía Indonesia nỗ lực thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển lên tầm cao mới", ông Lỗi nói.

Cứ theo những gì truyền thông Indonesia và Trung Quốc tường thuật thì Jakarta hỏi một đằng, Bắc Kinh lại trả lời một nẻo. Indonesia không hỏi Trung Quốc về chủ quyền quần đảo Natuna - vấn đề đương nhiên, mà yêu cầu Trung Quốc làm rõ yêu sách đường lưỡi bò bành trướng vô lý, phi pháp hòng chiếm 90% diện tích Biển Đông, trong đó "gặm" cả một phần vùng đặc quyền kinh tế Indonesia xung quanh quần đảo Natuna.

Hồng Lỗi cũng như các nhà lãnh đạo Trung Quốc thừa biết điều này, nhưng lảng tránh. Tảng lờ, lập lờ đánh lận con đen không chỉ còn là thủ đoạn ngoại giao, mà đã trở thành chiến lược của ngoại giao Trung Quốc. Nói theo dân gian là Trung Quốc đang cố tình giả điếc trong vấn đề Biển Đông, đường lưỡi bò.

4 chiến lược ngoại giao tiếp tục giả điếc

Giả điếc trước dư luận không phải ai đó gán ghép cho Trung Quốc mà là một trong 4 thủ đoạn được Hiệp Khách Đảo, một tài khoản mạng xã hội weibo công khai của Nhân Dân nhật báo - cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc ngày 13/11 đưa lên mạng internet.

Đây được cho là thủ đoạn hiệu quả mà Nhân Dân nhật báo nêu ra, công khai đối phó với áp lực dư luận quốc tế và Hoa Kỳ trước các hành động leo thang của Trung Quốc ở Biển Đông. Thời báo Hoàn Cầu cũng đưa lại bài bình luận này của Hiệp Khách Đảo, trong đó nhấn mạnh 4 thủ đoạn Bắc Kinh cần áp dụng triệt để để thực hiện cho được đường lưỡi bò bành trướng.

Thứ nhất, Trung Quốc chủ trương tiếp tục gây áp lực về mặt ngoại giao với Hoa Kỳ, tích cực tuyên truyền việc Mỹ tuần tra tự do hàng không hàng hải, bảo vệ luật pháp quốc tế ở Biển Đông là "hành vi phá hoại hòa bình, ổn định trong khu vực"?! Thứ hai, Bắc Kinh vẫn phải bảo đảm giữ liên lạc thông suốt với Washington đề phòng các sự cố chạm trán, đối đầu trên Biển Đông.

Đường lưỡi bò bành trướng vô lý của Trung Quốc tự vẽ ra ở Biển Đông sẽ tiếp tục mơ hồ bất chấp công luận.


Thủ đoạn thứ 3 được Nhân Dân nhật báo cho là phải áp dụng triệt để: Tiếp tục duy trì lập trường mơ hồ trong các phát biểu của Bộ Ngoại giao cũng như Bộ Quốc phòng Trung Quốc. Phải tuyệt đối tránh việc tranh luận vấn đề hiệu lực pháp lý của đảo và các thực thể không phải đảo ở Trường Sa (Khánh Hòa, Việt Nam) với Hoa Kỳ và các bên liên quan.

Nhân Dân nhật báo "dạy khôn" Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Trung Quốc rằng, chỉ được nói vấn đề Biển Đông chung chung. Với phạm vi 12 hải lý quanh các đảo nhân tạo Trung Quốc bồi lấp (bất hợp pháp) ở Trường Sa, hai cơ quan này chỉ được gọi là vùng biển phụ cận, không được gọi là "lãnh hải".

Tuy nhiên Nhân Dân nhật báo cho rằng, "một bộ phận học giả, truyền thông Trung Quốc đã mắc bẫy Hoa Kỳ khi công khai thảo luận thực thể nào ở Trường Sa có lãnh hải 12 hải lý, thực thể nào không có theo UNCLOS". Tờ báo này viết:

"Lần này Mỹ đến là muốn ép Trung Quốc làm rõ các chủ trương liên quan đến Biển Đông. Vấn đề đã nói rồi, hiện tại điều kiện trong nước (Trung Quốc) và quốc tế đều chưa chín muồi, thế nhưng anh (một số học giả, báo chí Trung Quốc) lại cứ làm rõ cái đó là mắc bẫy Hoa Kỳ".

Nhân Dân nhật báo cho rằng, tốt nhất là Trung Quốc cứ tiếp tục mơ hồ, nói cách khác là "giả điếc" trong vấn đề pháp lý ở Biển Đông.

Thủ đoạn thứ 4 được tờ báo này cổ súy, là hãy tăng cường đẩy mạnh tuyên truyền (xuyên tạc) rằng Mỹ theo đuổi chủ nghĩa bá quyền, lừa gạt?! Hành động của Mỹ ở Biển Đông theo Nhân Dân nhật báo phải được tuyên truyền là "chính trị hóa vấn đề" chứ không phải pháp lý.

Nhưng dư luận thế giới văn minh ngày nay đâu có dễ lừa như tờ báo này nghĩ. Cổ nhân thường nói, giấy không gói được lửa, đường lưỡi bò tham lam, vô lý cực kỳ của Trung Quốc có ngụy biện kiểu gì cũng không thể che dấu được thiên hạ vì "mùi bành trướng" của nó quá rõ.

Tạp chí Forbes ngày 12/11 nhắc lại, tháng Tư năm 2012 trang WikiLeaks đã tiết lộ thông điệp Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Bắc Kinh báo cáo về nước ngày 8/9/2008, trong đó cho biết các quan chức ngoại giao chính thức của Trung Quốc cũng như những học giả nước này không thể xác định được hồ sơ, bằng chứng "lịch sử" cụ thể để biện minh cho yêu sách đường lưỡi bò, cũng như chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (của Việt Nam).

3 thủ đoạn phóng lao theo lao của Bắc Kinh và ảo tưởng Việt Nam không dám kiện

Nhân Dân nhật báo gợi ý, muốn đạt được mục đích khống chế mâu thuẫn thâm căn cố đế giữa Trung Quốc với hoa Kỳ ở Biển Đông, Bắc Kinh nên thực hiện 3 thủ đoạn: Thứ nhất, với các hoạt động tuần tra tự do hàng hải của Mỹ ở Trường Sa, Trung Quốc nên quan tâm đúng mức và điều chỉnh ứng xử phù hợp trước thái độ và mức độ quan tâm của dư luận, miễn là giữ được mục đích cuối cùng.

Không phải đợi Nhân Dân nhật báo "dạy khôn", ông Lục Khảng, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã sớm đổi khái niệm "lãnh hải" mà cơ quan này vẫn gọi vùng biển 12 hải lý xung quanh các đảo nhân tạo trước đó thành "vùng biển phụ cận" khi tàu USS Lassen Hoa Kỳ tuần tra quanh đá Xu Bi tháng trước. Ảnh: Đa Chiều.


Thứ hai, dần dần minh bạch hóa chiến lược và chính sách của mình ở Biển Đông. "Văn hóa Trung Hoa khá "hàm xúc", nên có một số thứ không thể nói thật với nước khác, Trung Quốc lớn như thế, nếu một lực lượng quân sự nhỏ ở Trường Sa cũng không có thì có nghe được không? Việt Nam nhỏ thế mà có cả ngàn người ở đảo Nam Yết, một hòn đảo nhỏ như bộ đồ chơi", Nhân Dân nhật báo tuyên truyền xuyên tạc.

Thứ ba, Nhân Dân nhật báo cho rằng Trung Quốc cũng nên "chiếu cố" lợi ích của Hoa Kỳ ở Biển Đông, ví dụ như tự do hàng không hàng hải. Hiện dư luận Mỹ cũng có nhiều luồng quan điểm, ý kiến khác nhau về hoạt động bảo vệ tự do hàng không hàng hải ở Biển Đông, nên đừng để người Mỹ cảm thấy Trung Quốc không muốn đối thoại .Miễn là không liên quan đến chủ quyền, những cái khác có thể thương lượng với Hoa Kỳ.

Nguyễn Thứ Sơn, một nhà bình luận thời sự Trung Quốc thường được biết đến với tên gọi Anthony Yuen ngày 13/11 nói trên đài Phượng Hoàng, việc Tòa Trọng tài Thường trực ngày 8/10 ra phán quyết tòa này có thẩm quyền xét xử vụ kiện đường lưỡi bò khiến ông Sơn lo ngại nhiều nước khác trong khu vực sẽ học theo Philippines, khởi kiện Trung Quốc. Ngay cả Indonesia, một bên không có yêu sách ở Trường Sa cũng đã úp mở khả năng này.

Tuy nhiên về khả năng Việt Nam kiện Trung Quốc ra tòa, Nguyễn Thế Sơn cho rằng: "Trên thực tế Việt Nam thừa hiểu chuyện này, họ chỉ dám khua chiêng gõ trống chứ không dám gia nhập lực lượng khởi kiện Trung Quốc ra tòa"?!

Có thể ông Sơn quá tự tin dẫn đến tự mãn rằng Trung Quốc nước lớn muốn làm gì thì làm, gây sức ép với Việt Nam không được kiện Trung Quốc. Nhưng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã từng khẳng định rất rõ về giải pháp này.

Theo website Chính phủ (chinhphu.vn), ngày 21/5 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trả lời phỏng vấn hãng thông tấn AP, Reuters khi đang ở thăm Philippines về khả năng kiện Trung Quốc. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định:

"Việt Nam đã chịu quá nhiều đau thương mất mát từ các cuộc chiến tranh xâm lược. Vì thế, chúng tôi luôn tha thiết và làm hết sức mình để có hòa bình, hữu nghị để xây dựng và phát triển đất nước.

Chúng tôi không bao giờ đơn phương sử dụng biện pháp quân sự, không bao giờ khơi mào một cuộc đối đầu quân sự, trừ khi chúng tôi bị bắt buộc phải tự vệ.

Việt Nam luôn nhất quán sử dụng các biện pháp hòa bình và tận dụng mọi cơ hội, mọi kênh đối thoại để giải quyết tình hình hiện nay một cách hòa bình. Chúng tôi đã hết sức chân thành, thực tâm, thiện chí và kiềm chế, nhưng câu trả lời hiện nay là Trung Quốc ngày càng gia tăng sức mạnh, các hành động uy hiếp và xâm phạm, rồi liên tục vu khống và đổ lỗi cho Việt Nam.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ảnh: VGP/Nhật Bắc.


Những gì mà Trung Quốc đang làm khác rất xa những gì mà Trung Quốc nói. Những hành động xâm phạm, sai trái của Trung Quốc trên vùng biển Việt Nam trong nhiều ngày qua là cực kỳ nguy hiểm, đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hợp tác và phát triển ở khu vực và thế giới.

Tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa rằng, Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia và lợi ích chính đáng của mình, bởi vì chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo là thiêng liêng.

Việt Nam đã chịu quá nhiều đau thương mất mát từ các cuộc chiến tranh xâm lược. Chúng tôi luôn mong muốn và làm hết sức mình để có hòa bình, hữu nghị để xây dựng, phát triển đất nước và chăm lo cải thiện đời sống của người dân, nhưng hòa bình, hữu nghị phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó.

Có lẽ cũng như tất cả các nước, Việt Nam chúng tôi đã chuẩn bị và đang cân nhắc các phương án để bảo vệ chủ quyền của mình, kể cả phương án đấu tranh pháp lý, theo luật pháp quốc tế."

Thiết nghĩ phát biểu của Thủ tướng là câu trả lời đầy đủ cho những ai quan tâm đến việc Việt Nam sẽ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, quyền và lợi ích hợp pháp của mình ở Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông như thế nào. Cái gọi là "không dám kiện" chỉ là những ảo tưởng hão huyền của một số học giả nhà nước Trung Quốc như ông Nguyễn Thế Sơn mà thôi.

Để bảo vệ Biển Đông thực sự hòa bình ổn định, giải quyết bất đồng bằng pháp lý đảm bảo công bằng, văn minh và khả thi hơn cả

Tình hình Biển Đông ngày càng nóng lên bởi các phát ngôn và hành động leo thang từ phía Trung Quốc, đặc biệt là việc nước này cố sống chết hiện thực hóa đường lưỡi bò mà chính họ cũng thấy nó vô căn cứ. Để Biển Đông thực sự được hòa bình, ổn định trong tình hình hiện nay, thiết nghĩ có mấy khả năng.

Thứ nhất, Trung Quốc hiểu ra vấn đề, làm rõ yêu sách đường lưỡi bò, thiện chí hiệp thương đàm phán với tất cả các bên trên tinh thần cầu thị, khách quan, chỉ dựa theo luật pháp quốc tế, thậm chí đàm phán không giải quyết được thì cùng nhau ra cơ quan tài phán quốc tế thích hợp để phân xử. Tuy nhiên khả năng này khó có thể xảy ra, ít nhất là trong bối cảnh hiện nay.

Bởi lẽ gần nhất vào ngày 7/11 ông Tập Cận Bình vẫn nhắc lại lập trường của Trung Quốc rằng các đảo ở Biển Đông thuộc "chủ quyền" của họ từ thời cổ đại. Máy bay, tàu chiến Trung Quốc vẫn hoạt động tấp nập ở Biển Đông, việc bồi lấp xây dựng và quân sự hóa đảo nhân tạo vẫn tiếp tục.

Ngay khi rời khỏi Việt Nam, ông Tập Cận Bình đã nhắc lại tuyên bố vô lý "các đảo ở Biển Đông thuộc chủ quyền Trung Quốc từ thời cổ đại" khi sang thăm Singapore, ảnh: Japan Times/AP.


Khả năng thứ hai để Biển Đông yên bình dưới quyền bá chủ của Trung Quốc theo kiểu "trời không chịu đất, đất phải chịu trời". Các bên liên quan bao gồm cả Hoa Kỳ đành chấp nhận cho Bắc Kinh xưng hùng xưng bá, làm đại ca khu vực, ngăn sông cấm chợ thu tô ở Biển Đông thì Biển Đông sẽ hòa bình! Đặt vấn đề này ra cho hết nhẽ, chứ thực tế điều này chắc chắn không bao giờ xảy ra.

Khả năng thứ ba mà không người dân nước nào mong muốn, đó là Trung Quốc ngày càng leo thang quân sự hóa bất hợp pháp ở Trường Sa, đe dọa an ninh quốc gia, không gian sinh tồn của các dân tộc khác trong khu vực buộc các nước liên quan phải liên kết tự vệ.

Phản ứng như vậy có thể lôi khu vực vào vòng xoáy chiến tranh không lối thoát. Điều này cũng ít khả năng xảy ra, bởi ngay bản thân Trung Quốc cũng thừa biết hậu quả, hệ lụy với mình lớn thế nào, không chỉ về kinh tế thương mại mà còn nguy cơ bạo loạn, bất ổn từ trong nước, đe dọa sự tồn vong của đảng Cộng sản Trung Quốc. Tuy nhiên khi các nước bị đẩy vào chỗ buộc phải tự vệ thì họ phải đứng lên tự vệ.

Thứ tư, các bên liên quan buộc Trung Quốc hoặc ngồi vào bàn đàm phán một cách thiện chí, giải quyết vấn đề theo luật pháp quốc tế, hoặc đồng loạt khởi kiện các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế của Trung Quốc ở Biển Đông ra tòa. Chưa luận kết quả ra sao, nhưng nếu làm được điều này có lẽ Bắc Kinh không thể không nhìn lại hành vi, cách ứng xử của mình để điều chỉnh.

Với phán quyết ban đầu của PCA trong vụ kiện của Philippines, các bên liên quan có đủ tự tin và căn cứ để nói chuyện phải quấy với Trung Quốc tại cơ quan tài phán quốc tế.

Trong một thế giới phẳng, các quốc gia, các nền kinh tế liên hệ, tác động tương hỗ với nhau ngày càng mật thiết, Trung Quốc không dễ, nếu không muốn nói là không thể một mình một chiếu, muốn làm gì thì làm nếu như khu vực, đặc biệt là các bên liên quan đoàn kết lại nói chuyện phải trái đúng sai với Bắc Kinh trên cơ sở công pháp quốc tế.

Điều này hoàn toàn nằm trong khả năng của các bên liên quan ở Biển Đông, mặc dù Trung Quốc sẽ ra sức phản đối và tìm mọi cách cản trở, chia rẽ, gây sức ép ngăn chặn. Tuy nhiên khi bước chân leo thang bành trướng của Trung Quốc vẫn không dừng lại trên Biển Đông, việc tính đến giải pháp pháp lý và khởi động tiến trình tố tụng thiết nghĩ là việc nên làm.

Chí ít trong bối cảnh hiện nay khi Hoa Kỳ, Nhật Bản lên tiếng mạnh mẽ bảo vệ tự do, an toàn hàng hải hàng không cũng như trật tự và luật pháp quốc tế ở Biển Đông, có lẽ các bên liên quan cần lên tiếng mạnh mẽ ủng hộ lập trường này của hai nước trong tất cả các diễn đàn khu vực và quốc tế, đặc biệt là trong các hội nghị của ASEAN cũng như hội nghị thượng đỉnh APEC sắp tới.





Hồng Thủy

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Số phận thăng trầm của nước Việt xưa!




Tác giả: Eric Henry

Người dịch: Hà Hữu Nga

Độc đáo Việt

Nhà nước 越 Việt vụt hiện thành một quầng sáng trong huyền sử Trung Hoa vào cuối thời Xuân Thu – Chiến Quốc dưới triều đại của vị chủ tể truyền thuyết 勾踐 Câu Tiễn, mà cuộc vật lộn của ông với nhà 吳 Ngô thù địch đã trở thành biểu tượng cho đức kiên ngoan và lòng quả cảm vô bờ bến, khiến cho một con người có thể lẫy lừng trở lại vũ đài sau khi đã hoàn toàn bị quật ngã. Vị 越王 Việt vương này, như trẻ em Trung Quốc vẫn miên man khắc ghi vào tâm trí, chính là người đã “臥薪嘗膽 ngọa tân thường đảm – nếm mật nằm gai” để nuốt trọn mối nhục hận của một đấng quân vương bị bắt làm tôi tớ cho nhà 吳 Ngô, chờ cơ hội phục thù. Tạm gác lại cái đại tự sự đầy sôi động và nuôi dưỡng không ít mối hoài nghi về tính xác thực của sự kiện này – lịch sử của 越 nước Việt vẫn còn tản mát và đắm chìm ở đâu đó đang chờ được khai quật và chắp nối lại. Những huyền danh của nửa tá Việt vương còn được truyền lại đến ngày nay trong nhiều danh mục vua chúa Trung Hoa, nhưng ở chừng mực huyền sử quan tâm thì chỉ có một vị Việt vương duy nhất: một kẻ phục thù kiên cuồng, đắng ngắt, mang tên 勾踐 Câu Tiễn. Các quốc chủ của 吳nước Ngô láng giềng cùng chung bối cảnh ngôn ngữ, văn hóa với 越 nước Việt đã may mắn hơn với hậu thế; chỉ có một vài người trong số đó còn được tôn vinh vì công nghiệp, cá tính, hoặc các thành tựu của họ. [1]

Ngoại trừ một số ít chuyên gia, còn lại hầu hết thường dân Trung Quốc xưa cũng như nay đều coi câu truyện 吳 Ngô – 越 Việt hệt như các tích truyện kể về công nghiệp của 齊桓公 Tề Hoàn Công hoặc các cuộc lang thang lưu lạc của công tử 重耳 Trùng Nhĩ nước Tấn. Không chỉ là một truyền thuyết Trung Hoa, mà nội công xảo nghệ của nó – vô số các đối cảnh, phép tu từ của các tính cách, hấp lực cốt tử của motif báo thù – đều làm cho nó trở thành tiêu biểu của bảng phong thần huyền sử Trung Hoa. Thực ra thì các tính cách chủ yếu đều hành động theo đúng cá tính của họ, từ một Hán quan cực trị và dị kỳ, vẫn vậy, dù ở một mức độ nhỏ hơn, đều làm cho các tính cách Trung Hoa giai đoạn sớm hiển hiện rõ ràng hơn các huyền thoại phương bắc và phương tây; và hơn nữa, không phải là các 吳王 Ngô vương là con cháu của 周 nhà Chu, trong khi các 越王 Việt vương lại là dòng dõi 夏 nhà Hạ?

Nhưng ngay cả việc liếc nhìn vào tư liệu huyền thoại, thì một cái liếc mắt không đủ để diễn giải tính độc đáo đã được chứng thực về phương diện khảo cổ học của các văn hóa vật chất 吳 Ngô và 越 Việt, khi có được bằng chứng về thực chất phi Hán của các cộng đồng dân cư thuộc hai nhà nước này. Các vua吳 Ngô và 越 Việt không có các 廟號 miếu hiệu dành cho họ sau khi chết. Liệu có bất cứ nhà nước Hán nào trong các thời đại tiên Tần có tình trạng đó hay không? Câu trả lời, ngoại trừ trường hợp tôi lầm lẫn lớn, thì tuyệt đối là “không”. Những cái tên dùng cho các vua 吳 Ngô và 越Việt sau khi chết đều không hề khác với tất cả những cái tên sử dụng lúc sinh thời. Hơn nữa những cái tên ấy lại không có nghĩa trong chữ Hán, và vì vậy mà hình như đó chỉ là phiên âm các từ trong tiếng 越 Việt cổ. Chắc chắn các âm tiết như gou, wu,fu,zhu, yu, và các âm tiết khác nữa rất thường gặp trong những cái tên này, là phản ánh truyền thống đặt tên bản địa mà giờ đây chúng ta chỉ có thể phỏng đoán. Hơn nữa cũng không hề có dấu hiệu rõ ràng nào trong các tư liệu còn lại về sự tồn tại của bất cứ việc đặt họ cùng tên gọi trong văn hóa Việt. Không có tên thị tộc và cũng không có tên theo hệ thừa kế. Điều này chắc không làm chúng ta ngạc nhiên; hàng thiên niên kỷ, thậm chí đối với những vùng lớn như Nhật Bản, Triều Tiên, và Việt Nam phải mất cả thiên niên kỷ để có thói quen sử dụng tên họ. Mãi cho đến cuối thế kỷ XIX, đa số những người dân thường ở Nhật Bản và Triều Tiên vẫn không có tên họ. Khó mà xác định khi nào tên họ bắt đầu được sử dụng phổ thông ở Việt Nam, nhưng tính chất phi bản địa của thực tiễn sử dụng tên họ có thể thấy rõ trong thực tế, ngoại trừ một số tên họ có nguồn gốc từ các tên thị tộc Chăm, còn tất cả tên các họ người Việt Nam đều là tên các họ có ở Trung Quốc; điều đó cho thấy họ bắt đầu cuộc sống của mình ở Việt Nam với tư cách là các một loại hàng nhập khẩu.

Địa danh và tên người đều không gọi theo tên Hán; cả Ngô và Việt về nguyên gốc đều là tên có hai âm tiết; Ngô là 鉤吳 Câu Ngô, còn Việt là 於越 Ư Việt. Các tên gọi này đều không phải là tên địa danh; chúng có một nghĩa nào đó trong tiếng Việt, như có thể thấy rõ trong một số đoạn nào đó (sẽ thảo luận ở phần dưới) trong 越絕書 Việt Tuyệt thư và 吳越春秋 Ngô Việt Xuân Thu, cả hai đều được biên soạn cùng thời, vào thế kỷ I SCN, khi ngôn ngữ Việt vẫn đang thông dụng tại vùng núi 會稽 Cối Kê [2]. Các nhà biên niên sử Trung Quốc đã nhanh chóng bỏ đi âm tiết đầu trong hai cái tên đó, vì các từ ấy không có nghĩa đối với họ, và vì thói quen của người Trung Quốc là sử dụng các từ đơn tiết để gọi các nước [3]. Tên gọi các vua Ngô và vua Việt trong thời gian đó là một nguyên nhân gây ra tình trạng lẫn lộn đối với người Trung Quốc, và điều đó có thể thấy trong nhiều bất nhất của các văn bản. Vì vậy bộ biên niên sử 春秋 Xuân Thu của呂氏春秋 Lã Thị Xuân Thu [壽木 Thọ Mộc, dòng dõi vua Ngô Thọ Mộng] đã có một ghi chú về cái chết của Ngô vương 壽夢 Thọ Mộng vào năm 561 TCN, nhưng lại viết tên ông là 乘 Thặng [cỗ xe] chứ không phải là 壽夢 Shòu Mèng -Thọ Mộng [4]. Điều đó có vẻ như là một dấu hiệu cho thấy 乘 Thặng là cái tên được sử dụng để tăng thêm sự thuận tiện cho quan hệ của nhà Ngô với các nhà nước ở trung tâm. Có thể đó là một cách dịch nghĩa tiếng Việt của các âm tiết “Shòu Mèng” [壽夢]. Cũng có thể đó là một dạng rút gọn của 壽夢 “Shou Mèng.” Trong bản của họ Lã thế kỷ VI thì hai âm tiết “Shòu Mèng” đọc lướt có thể tương tự với âm tiết “Shèng” cũng của chính phiên bản Lã thị đó. Trong ghi chú của ông về danh mục các vua Việt thì dường như trong 史記 Sử ký, 卷 quyển 41, bình luận gia 索隱 Tác Ẩn đã đề cập đến một số ví dụ các tên gọi chữ Hán sử dụng cho các vua Việt theo cách dịch nghĩa tên gốc tiếng Việt; trường hợp 勾踐 Câu Tiễn chẳng hạn, lại có thể quy về chữ Hán là 菼執 “Tǎn Zhí” – người cầm bông lau**.

Vậy thì người Việt và người Hán sớm khác nhau như thế nào? Tổng hợp những gì được viết trong các văn bản thời Chiến quốc và thời Hán, kết hợp với các dữ liệu khảo cổ học, chúng ta có thể thấy rằng người Việt khác với các láng giếng Hán tộc của họ về ngôn ngữ, âm nhạc, văn học dân gian, tôn giáo, đồ ăn, việc bố trí làng xóm, việc đóng thuyền, khác về vũ khí, các sở thích về địa hình (các ngọn núi), kiến trúc nhà ở (nhà sàn), kiểu tóc (ngắn), trang sức thân thể (săm mình), táng thức (đưa tiễn người chết lâu hơn, và đi trong đám tang không nói về các ngôi mộ trông lạ kỳ), mặc (chân đất, ống tay áo ngắn, ống quần ngắn), chữ viết (chữ cái ngoằn ngoèo hình rắn bò) thực tiễn quân sự (trống trận bằng đồng âm vang, đột kích bằng đường sông, chiến thuật đáng du kích), và tính khí (nóng nảy, táo tợn, liều lĩnh) [5]. Ngôn ngữ của họ khác với các tộc người xung quanh đến mức người 楚 Sở không thể hiểu nổi.

Tình huống ngôn ngữ tác động như thế nào đến các mối quan hệ giữa 越王 Việt vương, 吳王 Ngô vương và những người 楚 Sở tỵ nạn được coi là các chiến lược gia? Liệu 夫差 Phù Sai có bị kích động về việc 伍子胥 Ngũ Tử Tư đã vụng về tự thể hiện mình ở nước Việt? Liệu ông hoặc bất cứ một vị Ngô vương hoặc Việt vương nào khác thông thạo ngôn ngữ Sở? Hoặc có phải các vị vua này và các gián quan của họ đã sử dụng một dạng tiếng Hán nào đó như là một ngôn ngữ chung? Câu Tiễn có biết một loại ngôn ngữ Hán nào đủ giống với loại ngôn ngữ Hán mà 範黎 Phạm Lãi (một nguồn sử liệu nói ông vốn cũng là người Sở bình dân) cũng biết để có thể sử dụng trong mọi trường hợp? Loại tình huống ngôn ngữ bất kỳ là rất thịnh hành trong các triều đình Ngô và Việt, nó chẳng có vẻ gì là đã thoát khỏi được mọi trở ngại khi người ta có thể đọc những câu truyện về các nước này trong 左傳 Tả truyện. Trên hết, nhiệm vụ cơ bản của Tả truyện là kể lại các câu truyện.



Di tích Vật chất

Về phương diện khảo cổ học thì nước Việt nằm ở trung tâm của nền văn hóa gò mộ với rất nhiều di tích ở đông nam Trung Quốc. Các gò mộ này được tạo ra trong cả một giai đoạn từ 2000 năm đến 300 năm TCN. Vì vậy chúng ta có thể thấy rằng nền văn hóa này bắt đầu hàng thiên niên kỷ trước khi xảy ra cuộc chiến giữa hai nước Ngô và Việt. Hơn nữa các gò mộ này trải khắp cả khu vực còn rộng hơn khu vực cư trú của người dân hai nước đó. Trước hết các gò mộ này xuất hiện xung quanh vùng天台山 Thiên Thai Sơn tại tỉnh Chiết Giang, sau đó lan dần về phía bắc. Hơn 20.000 gò mộ như vậy đã được xác định tại vùng đông nam Trung Quốc, và hơn 1000 gò mộ đã được khai quật tính đến bây giờ [6].

Dưới đáy mỗi gò mộ thường là một hầm mộ xây bằng đá, mà mỗi phòng thường được bảo vệ bằng một hàng rào gỗ có đỉnh nhọn, được rào nghiêng ra. Hầu hết các hàng rào gỗ này đều đã mục nát, nhưng các hố cọc rào thì vẫn còn thấy rõ. Các hàng rào gỗ này được làm bằng các cột gỗ chôn nghiêng là đặc thù của các di chỉ mộ táng mang phong cách Việt; loại di chỉ này không thấy ở Trung nguyên hoặc bất cứ nơi nào khác tại Trung Quốc. Các phòng hầm mộ bằng đá gồm có ba loại: loại có hình chữ nhật hoàn hảo, loại hình chữ nhật có lối vào hẹp ở một đầu, và loại “hình con dao”; tức là hình chữ nhật có lối vào hẹp, lệch tâm, một bức tường liền, chứ không phải bị khía hình răng cưa.

Nhiều gò mộ chỉ có mộ đơn, nhưng nhiều gò mộ lại có cả một phức hợp mộ, đôi khi có đến 40 mộ hoặc hơn một chút. Tất cả các di chỉ mộ táng đều có các đồ minh khí, gồm có đồ gốm, đồ bán sứ, thường trang trí hoa văn hình học; nhưng chỉ có ít mộ có đồ đồng. Các di chỉ có đồ minh khí bằng đồng thường được cho là của giới tinh hoa: các vị vua chúa, giới quan chức cao cấp và các thành viên trong gia đình họ. Các gò mộ có nhiều mộ táng thì tất cả đều có một mộ chính đặt ở trung tâm; các di chỉ mộ táng khác tất cả đều hướng về trung tâm ấy. Đất màu nâu đỏ để đào huyệt mộ thì có acid và ăm mòn các bộ xương, vì vậy không thể tìm được các bộ xương trong huyệt mộ; thỉnh thoảng chỉ còn lại vài chiếc răng mà thôi.

Một vài công nghệ và motif thiết kế là đặc hữu của vùng đông nam; chẳng hạn một di chỉ có một cây quyền trượng bằng ngọc của một vị vua; dưới đáy mộ có chạm hình người đang quỳ gối đỡ lấy mọi vật được chạm khắc ở bên trên. Thân thể hình người quỳ hoàn toàn được phủ đầy hình săm.

Một vài gò mộ ấn tượng nhất phủ lên các hầm mộ được đục chạm vào đỉnh núi đá. Một gò mộ như vậy mới được phát hiện tại đỉnh núi Châu Sơn ở vùng 太湖 Thái Hồ. Đó là một gò mộ cao 8.3m kể từ đỉnh xuống đến đáy, có chiều dài 20m, rộng 8m. Gò mộ này đã bị đào trộm vào khoảng thế kỷ V SCN. Bảo tàng 蘇州 Tô Châu khẳng định rằng một vị 吳王 Ngô vương đã được chôn ở đó, nhưng một số nhà khảo cổ học lại tin rằng kích thước của nó không đủ lớn để có thể được xác định là gò mộ của một vị vua.

Gò mộ Việt ấn tượng nhất đã được phát hiện được tạc vào núi đá ở đỉnh 隱山 Ẩn Sơn, phía đông nam 紹興 Thiệu Hưng, và hướng chính đông của núi 會稽 Cối Kê. Di chỉ này được khai quật từ năm 1996 đến1998. Khu di chỉ được bao quanh bởi một hào đất hình chữ L rộng hơn 20m, sâu 3m. Một nông hộ đã sử dụng đoạn hào này làm ao thả cá. Gò mộ rộng khoảng 1000 m2; nó trải dài 350 theo hướng đông-tây và 350 theo hướng bắc – nam, cao 28m. Huyệt mộ được đặt ở trung tâm, được tạc vào núi đá, có hình lồi, dài 54m, rộng 14m.

Các phương pháp khử trùng khác thường đã được sử dụng để bảo vệ thi hài khỏi bị phân hủy; hầm mộ được bọc bằng một lớp sét trắng dày, một lớp than củi dày 1m, và một lớp vỏ cây. Giống như các hầm mộ khác, ở đây cũng có hàng rào cọc gỗ nghiêng ra ngoài được đặt trong với chiều cao 5m và cọc đều có đầu nhọn dài. Có điều lạ là hầu hết các cọc này vẫn còn đến bây giờ; loại cấu trúc này về cơ bản vẫn còn nguyên vẹn. Không gian bên trong được chia thành ba vòng với một chiếc quan tài được đặt ở một đầu phòng giữa. Tổng thể trông có vẻ lạ kỳ, giống như một di chỉ mộ táng có trần gỗ bên trên, thuộc thời đại đá mới đôi khi vẫn được phát hiện ở Siberia vậy.

Quan tài được phủ bằng sơn mài màu đen. Mặc dù di chỉ đã bị đào bới trộm vào cuối thời Chiến quốc, nhưng trong mộ vẫn tìm được hơn 40 hiện vật, gồm có chày gỗ, chuông đồng, một đầu mũi tên ngọc, một đầu rồng ngọc, và nhiều công cụ mà bọn đào trộm mộ đã sử dụng thời Chiến quốc. Ngoại trừ một gò mộ gần 寶雞市 Bảo Kê thị, thuộc tỉnh Thiểm Tây được xác định là 晉襄公墓 mộ Tấn Tương Công thuộc thời Xuân Thu, ngoài ra không còn một gò mộ tiên Tần nào thích hợp với kích cỡ của loại hình này.

Dựa vào một số đoạn trong 越絕書 Việt Tuyệt thư, các nhà khảo cổ học có khuynh hướng tin rằng di chỉ này là mộ của 允常 Doãn Thường, cha đẻ 勾踐 Câu Tiễn. Sự trị vì của Doãn Thường có lẽ kết thúc vào năm 497, và cũng chính năm đó 勾踐 Câu Tiễn lên ngôi. Một đoạn trong 吳越春秋 Ngô Việt Xuân Thu nói rằng triều đại của Doãn Thường tồn tại cùng thời với triều đại của 壽夢 Thọ Mộng, 諸樊 Chư Phàn, 闔廬 Hạp Lư ở nước Ngô. Năm chết của Thọ Mộng, ông vua đầu tiên trong số các vua Ngô, như đã lưu ý ở trên, là năm 561 TCN; vì vậy việc đọc theo nghĩa đen về ghi chú này sẽ cho biết Doãn Thường ở ngôi tối thiểu là 64 năm, thì không chắc; đồng thời cũng không có lý do gì để cắt bỏ khả năng là ông đã trị vì nước Việt trong một thời gian dài đến bất thường, có lẽ đến vài thập kỷ; nếu như vậy, có lẽ ông đã có cơ hội lớn để xây một gò mộ khổng lồ.

Có một giai thoại trong 吳越春秋 Ngô Việt Xuân Thu, 卷 quyển 10 có lẽ là một phản ánh hoang đường về mức độ hùng vĩ của gò mộ và sức mạnh bí ẩn tồn tại cùng với nó. Sau khi phá hủy nhà Ngô và có được thêm các chiến thắng với phương bắc, Câu Tiễn đã chuyển kinh đô Việt về 琅玡 Lang Nha, gần biên giới 齊 Tề – 魯 Lỗ.

Việt vương sai người đến Mộc Khách Sơn để chuyển mộ Doãn Thường. Khi đào ba lỗ xuống mộ, từ trong mộ đột nhiên nổi gió, cuốn đá cát ném vào bọn đào mộ, khiến cho không ai có thể vào được. Câu Tiễn nói: “Tiên quân ta có lẽ không muốn dời đi?” Rồi thuận lòng ra về. [7]***

Niên đại, danh sách các vua và những gì còn lại

Quan điểm cho rằng những người trị vì nước Việt là hậu duệ của một người con trai của Hoàng đến nhà Hạ là 少康 Thiếu Khang xuất hiện sớm từ sách 左傳 Tả Truyện, trong đó chúng ta thấy伍子胥 Ngũ Tử Tư cảnh báo 吳夫差 Ngô Phù Sai rằng đối thủ句踐 Câu Tiễn của ông được làm nên từ loại chất liệu cứng rắn giống hệt như tổ tiên xa xôi, là người đã phục hưng triều đại của mình từ bên bờ vực tuyệt chủng. (8)

Phiên bản sớm, chi tiết nhất của huyền thoại về cội nguồn này xuất hiện trong một正意 chính ý – một quan niệm chính thức – ở một đoạn trong Sử kí 41. Trích dẫn từmột văn bản đã mất có tên là 會稽記 Cối Kê kí nói rằng 少康 Thiếu Khang đưamột người con trai của mình đến khu vực 會稽山 Cối Kê Sơn để trông giữ ngôi mộcủa người sáng lập nhà 夏 Hạ là vua Đại Vũ 禹. Người con trai này được cho là 無餘Vô Dư, tổ sáng lập nên nhà nước 於越 Ư Việt.[吳越春秋 6: 禹以下六世而得帝少康。少康恐禹祭之絕祀,乃封其庶子於越,號曰無餘。餘始受封,人民山居,雖有鳥田之利,租貢才給宗廟祭祀之費。乃復隨陵陸而耕種,或逐禽鹿而給食。無餘質樸,不設宮室之飾,從民所居。春秋祠禹墓於會稽。Ngô Việt Xuân Thu: Vũ dĩ hạ lục thế nhi đắc đế Thiếu Khang. Thiếu Khang khủng Vũ tế chi tuyệt tự, nãi phong kì thứ tử ư Việt, hào viết Vô Dư. Dư thủy thụ phong, nhân dân sơn cư, tuy hữu điểu điền chi lợi, tô cống tài cấp tông miếu tế tự chi phí. Nãi phục tùy lăng lục nhi canh chủng, hoặc trục cầm lộc nhi cấp thực. Vô Dư chất phác, bất thiết cung thất chi sức, tòng dân sở cư. Xuân thu từ Vũ mộ vu Cối Kê – Sách Ngô Việt Xuân Thu viết: “Từ Vũ truyền đến đế Thiếu Khang là sáu đời. Thiếu Khang lo sợ việc cúng tế đế Vũ tuyệt tự, bèn phong đất cho người con thứ ở Việt, tên là Vô Dư. Dư bắt đầu nhận đất phong, người dân ở núi, cho dù phải lấy việc canh tác trên ruộng cỏ làm lợi, thu tô và tài vật làm chi phí tế tự tông miếu. Rồi lại tùy vào lăng mộ mà cho gieo trồng hoặc đuổi cầm thú mà cấp lương ăn. Vô Dư tính tình chất phác, không bày đặt trang hoàng cung thất, thuận theo dân sở cư. Xuân thu cúng tế mộ Đại Vũ tại Cối Kê.” HHN chú].

Một đoạn khác trong 吳越春秋 Ngô Việt Xuân Thu 6 đã cho thấy sự tiếp nối của truyền thuyết này, nói rằng con cháu của 無餘 Vô Dư cai trị hơn mười thế hệ cho đếnlúc một người kế thừa quá yếu, không còn khả năng duy trì được địa vị trong khu vực và trở thành một người bình thường, và mộ của Đại Vũ bị bỏ không được trông nomtrong hơn mười năm.

Sau đó xuất hiện một dị nhân có pháp thuật gọi được quỷ thần trợ giúp, tuyên bố rằng ông là hậu duệ của 無餘 Vô Dư và sẽ mang lại phúc lành cho những người dânbằng việc tiếp tục chăm sóc mộ Đại Vũ. Ông được người dân theo về rất đông, vàcuối cùng thì nước Việt bắt đầu trở thành “một nhà nước có vua quan”. Tên của nhân vật này là 無壬 Vô Nhậm. Người con trai kế nhiệm ông là 無囗 Vô Vi (tự vị gốc 109có ngữ âm 瞫 Thẩm), là người cai trị siêng năng. Tuy nhiên tác giả của đoạn văn này,không thể kể tên bất kỳ người kế nhiệm nào của Vô Vi, vì vậy mà đây cũng chính là nơi huyền thoại truyền thuyết nguồn gốc Việt đi đến một kết cục. (9)

Trong khi các di tích khảo cổ học cho thấy rõ ràng rằng nền văn hóa Việt mang mộtđặc trưng đã thành của cảnh quan nhân văn đông nam Trung Quốc vào thiên niên kỷ thứ hai TCN, nhưng lại vẫn không thể nói được bất cứ điều gì rõ ràng về sự tồn tại của một nhà nước Việt trong thời này. Một số giáp cốt văn thời Thương có đề cập đến Việt, chẳng hạn như “Việt không đến?” “Phải làm cho Việt đến chứ?” “Sẽ thu đượcViệt chứ?”, cho thấy sự lo lắng về lòng trung thành của nhóm bộ tộc hoặc vương quốc được định danh bằng từ này. Ký tự có lẽ thể hiện từ Việt được khắc không có tự vị gốc 走 “tẩu” như thấy trong từ Việt hiện đại. Tự vị này dường như là một đồ hìnhcủa một chiếc qua có móc, hay một chiếc rìu. (10)


Một số tài liệu tham khảo trong sách 國語 Quốc Ngữ và các tài liệu khác nữa cho thấy một nhánh mơ hồ của dòng dõi 楚 Sở tiếp quản vùng đất Việt (phía bắc Chiết Giang) vào khoảng hai thế kỷ sau khi thành lập nhà Chu (11); do đó các nhân vật cai trị Việt xuất hiện vào cuối thời Xuân thu có thể có một mối quan hệ tổ tiên với người楚 Sở, một khả năng hài hòa với sự hợp tác quân sự thường xuyên của Việt với Sởtrong thời gian đó. Huyền thoại về dòng dõi từ 少康 Thiếu Khang của 無餘 Vô Dư,rất có thể là một sáng tác về sau nhằm làm cho các mối quan hệ của Việt với các nước láng giềng đã Hán hóa của nó trở nên êm thấm. Điều đó có thể cũng đã đóngmột vai trò to lớn trong niềm tin của người dân thường Việt. Một số tên tuổi củanhững nhân vật cai trị Việt vào giữa thời Chiến Quốc (Vô Dư, Vô Chuyên, Vô Cương)có vẻ đã được mô phỏng theo cái tên Vô Dư, cho thấy có lẽ huyền thoại trong giai đoạn muộn có thể đã tác động mạnh hơn so với thời gian trước đó. (12) Trong thực tế, có lẽ không quá sai khi cho rằng sự sáng tạo ra 無餘 Vô Dư, con trai của Thiếu Khang, là thuộc vào giữa thời Chiến quốc, một giai đoạn giàu sáng tạo khi người ta bắt đầu tạo dựng các huyền thoại cội nguồn quốc gia .

Cái tên Việt được đề cập đến ở sách 左傳 Tả Truyện có niên đại 601 (宣公 TuyênCông 8) – 544 (襄公 Tương Công 29), 538 (昭公 Chiêu Công 4), 537 (昭公 Chiêu Công 5), 518 (昭公 Chiêu Công 24), và 506 (定公 Định Công 4). Sách 吳越春秋Ngô Việt Xuân Thu cũng đề cập đến một cuộc tấn công bất ngờ của người Ngô sang đất Việt vào năm 510. (13) Các mục trong sách Tả Truyện đề cập đến một số quan lại Việt theo tên. Người ta có thể thấy các đoạn văn ngắn nói rằng, từ giữa đến cuối thế kỷ thứ 6 TCN, Việt đã phải chịu rất nhiều sự thống trị của Sở, và thường bị buộc phảicung đốn cho các chiến dịch của Sở chống lại Ngô.

Thời đại của những vị vua Việt có tên gọi, được bắt đầu vào cuối giai đoạn Xuân Thuvà kéo dài đến thời giữa và cuối Chiến Quốc. Tri thức Trung Quốc về niên đại thực tếliên tục của các vị vua, dường như đã bị cực kỳ lẫn lộn. Rất có thể là, trong số các yếu tố góp phần vào sự nhầm lẫn này còn có cả khác biệt về ngôn ngữ Việt – Trung Quốc, dẫn đến gia tăng sự khác biệt trong cách xác định của Trung Quốc và Việt đối vớicùng một nhân vật, một sự thờ ơ về độ chính xác về phía những người cung cấpthông tin Việt, mà kẻ hỏi là người Trung Quốc, và việc tổ chức tương đối hỗn loạn,cũng như nhiều khi có vô số quốc gia hoặc các thực thể khác được gọi là “Việt”.Những gì chúng ta có ngày hôm nay là ba danh sách vua Việt phần lớn không thống nhất, một là danh sách trong 史記 Sử kí 41, một danh sách trong 越絕書 Việt Tuyệt thư 10, và một danh sách nữa dựa trên một văn bản mà tính xác thực của nó đã trở thành một chủ đề tranh luận đáng kể: 竹書紀年 – Trúc thư kỷ niên – Biên niên sử Thẻ tre không được tái phục hồi. Trong ba nguồn, chỉ có nguồn Trúc thư cung cấp nhiều thông tin rời rạc liên quan đến các niên đại. Các danh sách của 史記 Sử kí và越絕書 Việt Tuyệt Thư rất đơn giản, gọn gàng, và cung cấp một ít thông tin chi tiết.Danh sách của Trúc thư lộn xộn, phức tạp, và cung cấp một ít thông tin gián tiếp. Tác giả của bình luận 史記 Sử kí 41, 索隐 Tác Ẩn cho biết chi tiết hơn về quá trình nỗ lực để điều chỉnh cho khớp danh sách của Trúc thư với danh sách của Sử kí.

Vị vua Việt sớm nhất được đề cập trong Sử kí 41 là 允常 Doãn Thường, người xuất hiện ở gần phần đầu của chương với tư cách là người tiền nhiệm của Câu Tiễn. Mặc dù Sử kí 41 không đề cập đến sự kiện đó, nhưng nó phải thuộc thời trị vì của Doãn Thường khi, vào năm 506, Việt đã tấn công Ngô, bằng cách lợi dụng tình thế 1) sự vắng mặt của quân đội nhà Ngô, vì họ đang bận tập trung vào vùng kinh đô Sở; và 2)sự phân chia bè phái trong triều đình nhà Ngô. Vị vua này được coi là vị vua Việt đầu tiên nhận tước “Vương”. (14)

Hầu hết những gì có trong Sử kí 41 đều liên quan đến các truyền thuyết nổi tiếng gắn liền với sự trị vì của Câu Tiễn. Sau đó, ở phần gần cuối chương này, chúng ta được biết:
“Khi 勾踐 Câu Tiễn chết, con trai ông 於賜 Ư Tứ hay còn gọi là 與夷 Dữ Di hoặc 越王鹿郢 Việt vương Lộc Dĩnh lên ngôi. Khi Dữ Di chết, con trai ông 越王不壽 Việt vương Bất Thọ lên ngôi. Khi Việt vương Bất Thọ chết, con trai ông 越王朱勾 Việt vương Chu Câu hoặc 王翁 Vương Ông lên ngôi. Khi Vương Ông chết, con trai ông 越王翳 Việt vương Ế lên ngôi. Khi Vương Ế chết, con trai ông 越王 錯 枝 Việt vương Thác Chi, còn gọi là 搜 Sưu – lên ngôi. Khi Việt vương Thác Chi chết, con trai ông 越王無余 Việt vương Vô Dư, còn gọi 莽安 Mãng An, 之侯 Chí Hầu Vương Vô Cương lên ngôi “. (15)

Sau đó chúng ta được biết rằng 越王無余 Việt vương Vô Dư tấn công 齊 Tề (339-329), nhưng ngay sau khi được một thuyết khách giỏi giang người Tề thuyết phục thay vì tấn công 楚 Sở, Sở Uy vương (r. 339 – 329) đã huy động một đội quân lớnđánh bại Việt, giết Việt vương Vô Cương, và sát nhập tất cả lãnh thổ trước đó thuộcđất Ngô, tất cả vùng đất đến sông Chiết (Chiết Giang). Sau sự kiện này, câu chuyệntiếp tục, Việt tan rã thành các nhóm khác nhau do các vị vua và các lãnh chúa dẫn dắt, tất cả đều thề trung thành với Sở. Ở một mức độ nhất định trường hợp này sẽđược thảo luận chi tiết dưới đây.

Danh sách của Việt Tuyệt thư 越絕書 bắt đầu, không có Doãn Thường, nhưng người tiền nhiệm trực tiếp của ông lại được xác định là 夫譚 Phú Đàm:
“Có một khoảng cách thời gian rất lớn từ Việt vương 夫譚 Phú Đàm đến người sáng lập 無余 Vô Dư; các thế hệ giữa họ không thể được xác định. Con trai Phú Đàm là 允常 Doãn Thường và con trai Doãn Thường là Câu Tiễn, một vị đại bá, tự xưng vươngvà dời đô tới 琅琊 Lang Da. Con trai Câu Tiễn là 與夷 Dữ Di; trong thời mình, ôngcũng là một bá chủ. Con trai 與夷 Dữ Di là 子翁 Tử Ông cũng là một bá chủ. Con trai子翁 Tử Ông là 不揚 Bất Dương cũng trở thành bá chủ. Con trai của 不揚 Bất Dương là 無疆 Vô Cương cũng là một bá chủ trong thời mình. Ông tấn công Sở. SởUy vương 楚 威王 (Tên thật là 熊商 Hùng Thương) đã tiêu diệt Vô Cương. Con traiVô Cương là Chi Hầu; ông lén lút tôn mình thành quân trưởng. Con trai Chi Hầu làTôn cũng tự xưng quân trưởng. Con trai Tôn là Thân, đã mất sự ủng hộ của thần dân.Sở tấn công ông, và ông phải chạy đến vùng Nam Sơn. Các hậu duệ Việt vương kể từThân ngược lên đến Câu Tiễn, tất cả được tám đời, định đô ở 琅琊 Lang Da được 224năm. Những người từ Vô Cương ngược trở về trước đều là các vị bá chủ và tự gọi mình là vương. Những người từ Chi Hầu về sau đã suy yếu và tự gọi mình là 君長quân trưởng. (16)

[越絕書‧外傳‧記地傳: 越王夫鐔以上至無餘,久遠,世不可紀也。夫鐔子允常。允常子句踐,大霸稱王,徙瑯琊,都也。句踐子與夷,時霸。與夷子子翁,時霸。子翁子不揚,時霸。不揚 子無疆,時霸,伐楚,威王滅無疆。無疆子之侯,竊自立為君長。之侯子尊,時君長。尊子親,失眾,楚伐之,走南山。親以上至句踐,凡八君,都瑯琊二百二十四 歲。無疆以上,霸,稱王。之侯以下微弱,稱君長。“Việt tuyệt thư Ngoại truyện: Kí địa truyện”: Việt vương Phu Đàm dĩ thượng chí Vô Dư, cửu viễn, thế bất khả kỉ dã. Phu Đàm tử Doãn Thường. Doãn Thường tử Câu Tiễn, đại bá xưng vương, tỉ Lang Da, đô dã. Câu Tiễn tử Dữ Di, thì bá. Dữ Di tử Tử Ông, thì bá. Tử Ông tử Bất Dương, thì bá. Bất Dương tử Vô Cương, thì bá, phạt Sở, Uy vương diệt Vô Cương. Vô Cương tử Chi Hầu, thiết tự lập vi quân trưởng. Chi Hầu tử Tôn, thì quân trưởng. Tôn tử Thân, thất chúng, Sở phạt chi, tẩu Nam Sơn. Thân dĩ thượng chí Câu Tiễn, phàm bát quân, đô Lang Da nhị bách nhị thập tứ tuế. Vô Cương dĩ thượng, bá, xưng vương. Chi Hầu dĩ hạ vi nhược, xưng quân trưởng. “Việt tuyệt thư Ngoại truyện: Kí địa truyện” viết: “Một khoảng thời gian dài bị đứt quãng giữa Việt vương Phu Đàm và Việt vương Vô Dư; thế thứ không thể ghi chép được. Con của Phu Đàm là Doãn Thường. Con của Doãn Thường là Câu Tiễn, trở thành đại bá, xưng vương, rồi rời đô về Lang Da. Con của Câu Tiễn là Dữ Di là bá chủ. Con của Dữ Di, Tử Ông cũng là bá chủ. Con của Tử Ông, Bất Dương vẫn bá chủ. Con của Bất Dương là Vô Cương kế tục ngôi bá chủ, đem quân chinh phạt nước Sở, bị Sở Uy vương tiêu diệt. Con của Vô Cương, Chi Hầu tự lập thành quân trưởng. Con Chi Hầu, tên Tôn, vẫn ngôi quân trưởng. Con của Tôn là Thân, không được lòng người, bị Sở đem quân chinh phạt, bèn chạy về vùng Nam Sơn. Kể từ Thân ngược lên đến Câu Tiễn có tất cả tám đời vua, đóng đô ở Lang Da 224 năm. Từ Vô Cương ngược lên thảy đều làm bá và tự xưng vương. Từ Chi Hầu trở đi suy yếu nên xưng quân trưởng [HHN chú].

Hai cách giải thích cùng xuất hiện để mô tả một khoảng thời gian kéo dài đến khi Sở diệt Vô Cương, mở ra một thời kỳ tan rã và suy yếu của Việt. Tuy nhiên nhiều chi tiếtkhác lại không thể ăn khớp với nhau. Một bất thường đặc biệt nổi bật ở trên là sự xuất hiện của cái tên 之侯 Chi Hầu trước Vô Cương trong danh sách của Sử kí, nhưng lại sau Vô Cương trong danh sách của Việt Tuyệt Thư. Điều này cho thấy khả năng tồn tại đồng thời của nhiều hơn một chính thể Việt cả trước khi có sự tan rã của Việt được đề cập trong Sử kí, cùng với khuynh hướng về phần chính thể Việt của Sử kí đãgây nhầm lẫn hoặc gộp các chính thể ấy làm một. Khẳng định của Việt Tuyệt Thư cho rằng tất cả những người cai trị từ Câu Tiễn đến Thân đều định đô ở xa về phía bắc tại琅琊 Lang Da cũng là điều đáng kinh ngạc, vì có vẻ rõ ràng là Sở đã chiếm tất cảnhững gì đã từng là nước Ngô sau khi tiêu diệt Vô Cương. Nếu điều đó là đúng, thìchúng ta phải tưởng tượng một nước Việt nhỏ bé cùng tồn tại vào cuối thời kỳ Chiến Quốc với nhiều thực thể “Việt” nhỏ bé khác kéo dài từ Chiết Giang về phương nam.

Các tài liệu tham khảo về Việt trong Trúc thư bắt đầu với năm 472, khi Câu Tiễn chinh phục và tiêu diệt Ngô. (17) Từ đó trở đi, các mục liên quan đến Việt, luôn luôn thuộc về dạng có hai âm tiết như Ư Việt, là rất nhiều và tương đối nhiều thông tin, nhưng các chi tiết được cung cấp dường như đôi khi chỉ mong manh liên quan với những gì được ghi trong Sử kí và Việt Tuyệt Thư. Những gì tiếp theo là lịch sử Việt thuộc cácthế kỷ thứ 5 và thứ 4 theo nguồn này, cùng với ý kiến của tôi để lấp chỗ trống:

Vào năm 468, thủ đô của Ư Việt đã được chuyển đến 琅琊 Lang Da. (Vị trí này ngày nay nằm ở phía tây tỉnh Sơn Đông, gần các nước Lỗ và Tề. Động thái dời đô này cho thấy rằng Câu Tiễn đã thừa hưởng tham vọng của 吳夫差 Ngô Phù Sai để được công nhận là bá chủ các quốc gia phương bắc. Việt Tuyệt Thư 10 có kể câu chuyện về mộtchuyến thăm của 魯哀公 Lỗ Ai Công đến Lang Da sau khi trở thành kinh đô của nước Việt.

Năm 465 Việt hầu Câu Tiễn của Ư Việt, được biết đến là 菼執 – Thảm Chấp, người cầm bông lau – đã qua đời, và con trai ông là Lộc Dĩnh thừa kế ngôi vị. (Người ta cho rằng 菼執 Thảm Chấp là phiên bản tiếng Việt của cái tên Câu Tiễn. Tôi nghĩ ngược lạimới thích hợp, vì âm tiết “câu” xuất hiện trong những cái tên khác của các nhà cai trị Việt. “Gou Jian” – Câu Tiễn không có nghĩa trong tiếng Trung Quốc. “Thảm Chấp” có nghĩa là “người cầm bông lau”. Điều này sẽ được thảo luận chi tiết hơn trong phần tiếp theo. Vì đối với 越王鹿郢 Việt vương Lộc Dĩnh, mà tác giả của các lời bình “Tác Ẩn” có trích dẫn một bậc phu tử Việt là 樂子 Nhạc Tử nói rằng 鼫與 Thạch Dữ, cái tên được đặt cho người kế nhiệm Câu Tiễn trong Sử kí, chính là tên Việt của鹿郢Lộc Dĩnh, nhưng có vẻ như không có lý do gì mà điều ngược lại không thể xảy ra. Việt Tuyệt Thư sử dụng cái tên 與夷 Dữ Di cho vị này.)

[勾踐卒,【索隱】紀年云:「晉出公 十年十一月,於粵子勾踐卒,是為菼執。」子王鼫與立 。【索隱】鼫音石。與音餘。按:紀 年云「於粵子勾踐卒,是菼執。次鹿郢立,六年卒」。樂資云「越語謂鹿郢為鼫與也」。王 鼫與卒,子王不壽 立。王不壽卒,【索隱】紀年云:「不壽立十年見殺,是為盲姑。Câu Tiễn tốt, [Tác Ẩn] kỉ niên vân: Tấn xuất công thập niên thập nhất nguyệt, Ư Việt tử Câu Tiễn tốt, thị vi Thảm Chấp. Tử vương Thạch Dữ lập. [Tác Ẩn] thạch âm thạch. Dữ âm dư. Án: kỉ niên vân Ư Việt tử Câu Tiễn tốt, thị Thảm Chấp. Thứ Lộc Dĩnh lập, lục niên tốt. Nhạc Tư vân Việt ngữ vị Lộc Dĩnh vi Thạch Dữ dã. Vương Thạch Dữ tốt, tử Vương Bất Thọ lập. Vương Bất Thọ tốt, [Tác Ẩn] kỉ niên vân: Bất Thọ lập thập niên kiến sát, thị vi Manh Cô – Câu Tiễn chết [Tác Ẩn] kỉ niên (ghi chép chuyện trong năm) viết: Tấn đánh mười năm mười một tháng, người Ư Việt là Câu Tiễn chết, Đó chính là Thảm Chấp [nghĩa đen: người cầm cây/bông lau sậy] vậy. Con là Vương Thạch Dĩnh kế vị. [Tác Ẩn] Thạch (鼫) âm là thạch (石). Dữ (與) âm là dư (餘). Lời bàn: kỷ niên viết: Câu Tiễn người Ư Việt chết, là Thảm Chấp. Con thứ Lộc Dĩnh kế vị, được sáu năm thì mất. Nhạc Tư nói: “Đối với Việt ngữ thì Lộc Dĩnh chính là Thạch Dữ vậy”. Việt vương Thạch Dữ chết, con là Bất Thọ kế vị. Việt vương Bất Thọ chết, [Tác Ẩn] kỉ niên viết: Bất Thọ ở ngôi mười năm thì bị giết, đó là Manh Cô vậy].

Năm 459, 鹿郢 Lộc Dĩnh chết và người kế nhiệm là 不壽 Bất Thọ.

Năm 449, 於越侯 Ư Việt hầu 不壽 Bất Thọ bị giết; ông là nhân vật được gọi là 盲姑Manh Cô. Người kế vị ông là 諸勾 Chư Câu. (Ở đây, rõ ràng là cái tên này không có nghĩa trong tiếng Trung Quốc, còn 盲姑 Manh Cô chính là tên gọi Việt của 不壽 Bất Thọ. Mặt khác, Bất Thọ, “không thọ”, thì lại hoàn toàn là cái tên có nghĩa trong tiếngTrung Quốc đối với một người cai trị bị ám sát vào năm thứ 10 trị vì của ông. 諸勾Chư Câu rõ ràng là vị vua được gọi là 王翁Vương Ông trong danh sách Sử kí. 諸勾Chư Câu có vẻ là tên Việt, vì 1) nó không có nghĩa trong tiếng Trung Quốc, và 2) cả hai âm tiết trong cái tên của vị vua Việt đều không có nghĩa trong tiếng Trung Quốc.)

Năm 416, Ư Việt tiêu diệt nước 滕 Đằng.

Năm 415, 於越侯 Ư Việt Hầu 諸勾 Chư Câu, tấn công nước 郯 Đàm và bắt sống Đàm hầu tên là鴣 Cô. (Cả hai quốc gia này đều gần Lang Da. Theo một đoạn trong 墨子Mặc Tử, thì Việt cùng với Tề tham gia vào việc chia cắt lân bang nhỏ bé là nước 筥 Cửcùng khoảng thời gian này. Một đoạn trong Chiến quốc sách cho thấy nước 繒 Tăngkề bên cũng bị Việt chinh phục. 墨子 Mặc Tử nói rằng Việt cùng với Tề, Tấn, và Sở là bốn quốc gia hiếu chiến nhất thời đó. Mặc tử còn nói rằng Việt thường chiếm ưu thếtrong các cuộc đụng độ với Sở, vì các sông ở phương nam đều chảy về phía đông làmcho Sở khó xoay trở, nhưng lại dễ dàng cho Việt.) (18) [《墨子•非攻中》:“東方有莒之國者,其為國甚小,間於大國之間,不敬事於大,大國亦弗之從而愛利。是以東者越人來削其壤地。西者齊人兼而有之。計莒之所以亡於齊越之間者,以是攻戰也。”“Mặc tử – Phi công trung”: “Đông phương hữu Cử chi quốc giả, kì vi quốc thậm tiểu, gian ư đại quốc chi gian, bất kính sự ư đại, đại quốc diệc phật chi tòng nhi ái lợi. Thị dĩ đông giả Việt nhân lai tước kì nhượng địa. Tây giả Tề nhân kiêm nhi hữu chi. Kế Cử chi sở dĩ vong ư Tề Việt chi giả gian, dĩ thị công dã chiến.” – Phương đông có nước Cử, nước đó quá nhỏ, nằm giữa các nước lớn, nhưng bất kính với cái lớn của họ, đại quốc chẳng qua cũng chỉ là hám lợi. Vậy là ở phía đông, người Việt liền đến đoạt lấy vùng đất màu mỡ ấy. Phía tây người Tề cũng chiếm lấy những gì chiếm được. Kể ra thì nước Cử mất vào tay Tề Việt cũng là do đánh lấy vậy]

Năm 413, Ư Việt hầu 諸勾 Chư Câu chết và con trai ông là Ế kế vị (Đây chính là 越王翳 Việt vương Ế trong danh sách Sử kí.)

Năm 379, 於越 Ư Việt chuyển đô về đất Ngô.

Năm 376, tháng bảy, 诸咎, Chư Cữu thái tử của 於越 Ư Việt, giết chết 越王翳 Việt vương Ế. Tháng mười, người Việt nổi lên giết 诸咎 Chư Cửu, còn được gọi là 越滑Việt Cốt. Sau đó người Ngô [nghĩa là những người Việt ở kinh đô hiện thời của Việtmà trước đây là kinh đô của nước Ngô] đưa 孚錯枝 Phú Thác Chi lên ngôi.

Năm 375, 寺區, Tự Âu một đại quan của Ư Việt, đã giúp dẹp nội loạn và đưa 初無余Sơ Vô Dư lên ngôi; đó chính là 莽安 Mãng An. (Vị Việt vương này có lẽ cũng chính là王之侯 Vương Chi Hầu trong danh sách của Sử kí.)

Năm 365, 思 Tư là em trai của 寺區 Tự Âu, giết Việt vương Mãng An. Người kế vị ông là 無顓 Vô Chuyên. (Danh sách trong Sử kí dường như đã gộp 無顓 Vô Chuyên vớingười kế vị ông là 無彊 Vô Cương làm một có lẽ do sự tương đồng về tên của họ. Nhà chú giải “Tác Ẩn”, lại một lần nữa dẫn “Việt Phu tử” Nhạc Tử cho thấy rằng 無顓 VôChuyên cũng chính là nhân vật tên là 子搜 Tử Sưu được nói đến trong Nhượng vương thiên của 莊子 Trang Tử: 《莊子讓王篇》,曰:“越人三弒其君,子搜患之,逃乎丹穴不肯出,越人薰之以艾,乘以王輿”。Trang tử, Nhượng vương thiên”, viết: “Việt nhân tam thí kì quân, Tử Sưu hoạn chi, đào hồ đan huyệt bất khẳng xuất, Việt nhân huân chi dĩ ngải, thừa dĩ vương dư”. Người Việt ba lần giết vua. Vì thế子搜 Tử Sưu lo sợ chạy trốn vào động 丹穴 Đan Huyệt, quyết không ra. Người Việt lấy lá ngải đốt khói hun ông rồi đưa lên kiệu vua khiêng về.]

Nguồn: Eric Henry 2007. The Submerged History of Yuè, Victor H. Mair, Editor Sino-Platonic Papers, Department of East Asian Languages and Civilizations, University of Pennsylvania, Philadelphia, PA 19104-6305 USA, Number 176 May, 2007.

Tác giả: Giáo sư Đại học North Carolina, Tiến sỹ năm 1979 về Văn học Trung Quốc, Khoa Ngôn ngữ Đông Á, Đại học Yale., Đề tài “Hý kịch Trung Quốc, Giới thiệu các vở kịch của Lý Ngư – Chinese Amusement: An Introduction to the Plays of Li Yü”; Nghiên cứu tiếng Hán tại International University Program for Chinese Language Studies at the Stanford Center in Taipei; Nghiên cứu tiếng Việt tại Defense Language Institute Support Command. Biết tiếng Trung Quốc, Pháp, Ý, Việt.

Chú thích

This article had its inception as a presentation at the meeting of Warring States Project in conjunction with the Association for Asian Studies (AAS) in Boston on March 24, 2007. I am grateful to Dr. Bruce Brooks, the director of WSP, for providing both the venue for this presentation and the initial stimulus for engaging in this research.
There is, for example, the tale of the grand tour of the courts of the northern and central states made in 544 BCE by Prince Jìzhá 季札 (the youngest son of King Shòu Mèng of Wú) in which he shows a grasp of music and ritual greatly surpassing that of his civilized hosts; see Zuŏzhuàn, Xiāng-gōng 29, Item 13. This appears to be one of the earlier examples of the topos of wisdom appearing in unlikely places.
This placename is often pronounced “Kuàijī”; dictionaries, however, appear to prefer “Guìjī.”
There are curious anomalies in the way Yuè is referred to in early texts. TheBamboo Annals uses the two-syllable form in almost every instance. The “Suǒyǐn” commentator in Shǐjì 41 uses the single-syllable form, but represents the word, not with the usual yuè越, but with the yuè 粵 now generally associated with the culture and language of Guǎngzhōu.
Chūnqiū, Xiāng-gōng 12, Entry 4.
With regard to issues concerning the distinctive script of ancient Yuè, see Michele Thompson, “Scripts, Signs, and Swords: The Việt Peoples and the Origins of Nôm,”Sino-Platonic Papers, 101 (March, 2000).
For all details in this paragraph and the ones that follow concerning China’s southeastern burialmound culture, I am indebted to a presentation on the subject given at the University of North Carolina on March 2, 2007 by professor Yáng Nán of the history department of the Central University for Nationalities in Beijing.
Zhào Yè, Wú Yuè Chūnqiū, with translation and annotation by Zhāng Jué (Taibei: Táiwān Gǔjí Chūbăn shè, 1996), juàn 10 (“Gōu Jiàn Fā Wú Wàizhuàn”), p.486-87.

The Shàokāng restoration story, with some variation in detail, actually occurs twice in Zuŏ-zhuàn, first in an admonition allegedy directed by Wèi Jiàng to Jìn Dào-gōng in 569 (Xiàng-gōng 4, second-to-last item) and then in an admonition allegedly delivered by Wǔ Zǐ Xū to Fūchāi in 494 (Ai-gōng 1, second item).
Zhào Yè, Wú Yuè Chūnqiū, with translation and annotation by Zhāng Jué (Taibei: Táiwān Gǔjī Chūbǎn shè, 1996), juàn 6 (“Yuèwáng Wú Wàizhuàn”), pp. 283-85.
Yáng Shànqún, Gōu Jiàn, Taipei: Zhīshūfáng Chūbănshè, 1993, pp. 3-4.
Guóyǔ 16 (“Zhèng yǔ”) refers to Yuè and to another state (Kuǐ), as belonging to the surname (Mí ٪) of the rulers of Chǔ. In his notes to Guóyǔ 19 (“Wúyǔ) the Three Kingdoms commentator Wèi Zhāo says that Gōu Jiàn was “of the progeny ofZhūróng,” the fire god said to have been the ultimate ancestor of the kings of Chǔ. Mòzǐ, “Fēi Gōng Xià” says that the king of the state of Yuè (there characterized as one of the “four great powers of the era,” along with Qí, Jìn, and Chǔ) “sprang from Yǒu Jù” Sūn Yíràng has suggested, in his Mòzǐ Xiángū, that this is probably a reference to the Chǔ ruler Xióng Qú (c. 887 BCE). Shǐjì 40 (“Chǔ Shìjiā,” p.1692) says that Xióng Qú established his youngest son Zhí Cī as “Yuè Zhāng Wángˮ”. It is possible that this refers to the original enfieffment that lay behind the emergence of Yuè in later times. Shì Ben, a late Warring States text, also affirms the rulers of Yuè belonged to the Chǔ lineage. See Yáng Shànqún, Gōu Jiàn, Taipei: Zhīshūfáng Chūbănshè, 1993, pp. 5-6.
The author of the “Suǒyǐn” notes appended to Shǐjì 41 at one point suggests that the triple recurrence in mid Warring States times of these initial “Wú”s may mean that it was a surname. This reflects a sinocentric misunderstanding of Yuè naming practices. A likelier possibility is that this wú meant “ruler” in Yuè, being cognate, perhaps, with “vua” in Mường and Vietnamese. Its placement at the beginning of each designation in which it occurs is quite in accord with Austroasiatic syntax.
Zhào Yè, Wú Yuè Chūnqiū, with translation and annotation by Zhāng Jué (Taibei: Táiwān Gǔjí Chūbăn shè, 1996), juàn 4 (“Hélǘ Nèizhuàn”), p.135.
The author of the “Zhèng Yì” commentary to Shǐjì 41, says that this ruler “expanded his territory, made his state great, and proclaimed himself wáng.”
Shǐjì, (Beijing, Zhōnghuá Shūjú, 1959), juàn 41, “Yuèwáng Gōu Jiàn Shì Jiā,” p. 1751.
Liú Jiànguó (editor and translator), Xīn Yì Yuèjuéshū (Taibei: Sānmín Shūjú, 1997), juàn 8 (Chapter 10), pp. 69-70. Scattered references to other Yuè rulers occur in Chapter 3 of this work in connection with various sites in the old capital area of Wú. These figures, however, are neither located in time nor arranged in chronological series, so it is not clear whether they were rulers of the principal Yuè state or of smaller Yuè groups. One such figure is “Yúfù Jūn”, said to have ruled a place called Fùchéng ; another is “Yuè Gān-wáng”ˮ who ruled Gānchéng, and another is “Wáng Shǐ” ˮ̦, associated with a large grave on Mount Yuān, and yet another is Yuè Jīng-wáng ˮ. Another site is said to be the grave of a Yuè king whose name was unknown to the 1st century CE writer. See Ibid, juàn 2, Chapter 4, pp. 42-66.
This and all subsequent references to the Bamboo Annals are based on the text and translation contained in: James Legge, The Chinese Classics, Volume III: The Shoo King or The Book of Historical Documents (Hong Kong University Press Reprint Edition, 1960), Prolegomena, Chapter IV, pp.105 – 183. Due to a problem in Legge’s date conversion system, a one year error occurs in each dated entry; e.g. 471 BCE instead of 472; this problem has been corrected here.
Yáng Shànqún, Gōu Jiàn, Taipei: Zhīshūfáng Chūbănshè, 1993, pp. 171-72.

Nguồn bài đăng: Tiếng vọng KATTIGAR

Phần nhận xét hiển thị trên trang