Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 16 tháng 11, 2015

Nếu có lương tri, còn ý thức đừng "đùa" dại!

Người Việt tạo ra các trang FB giả thành viên IS đang gây phẫn nộ
Ngày hôm nay, mọi người xôn xao chia sẻ về những bình luận của cư dân mạng Việt trong một trang Facebook mang tên Timur Zhunusov, người được cho là một thành viên của IS. Trong đó có rất nhiều comment mang tính gây hấn, thách thức IS tấn công Việt Nam. Tuy nhiên, sự thật là các tài khoản này đều do chính người Việt lập với mục đích đùa cho vui.
Hàng loạt trang Facebook mang tên Timur Zhunusov 
được lập chỉ trong một thời gian ngắn.
Ngày hôm nay, cư dân mạng Việt Nam đang lan truyền chóng mặt những bức ảnh chụp màn hình các dòng bình luận của nhiều bạn trẻ Việt Nam trên một trang Facebook mang tên Timur Zhunuso - được cho là một thành viên của tổ chức khủng bố khét tiếng tàn bạo IS. Bên cạnh nhiều lời chửi bới rất vô văn hoá, một số người còn để lại cả những dòng bình luận mang tính thách thức IS tấn công khủng bố vào Việt Nam. 

Rất nhiều bạn trẻ truy cập và bình luận, chửi bới 
trên "các" trang Facebook Timur Zhunusov.

Thậm chí, một số bạn còn đăng tải ảnh khiêu dâm, ảnh mô phỏng những vụ hành quyết của IS. Chính điều này đang khiến dân mạng sôi sục phẫn nộ. Tất cả đồng loạt thể hiện thái độ tiêu cực với hành động hết sức phản cảm trên của các bạn trẻ.

Tuy nhiên, theo như xác minh của chúng tôi thì những tài khoản của thành viên được cho là thành viên IS đều là giả.

Đầu tiên, nhiều độc giả nhanh chóng nhận ra avatar và cover của tài khoản Timur Zhunusov là ảnh của đao phủ khét tiếng Mohammed Emwazi với biệt danh John Thánh chiến. Tài khoản giả mạo đầu tiên mang tên Timur Zhunusov có đến hơn 7000 lượt follow, đa số đều là người dùng Việt, theo xác minh thì tài khoản này là của một thanh niên Nga, đã ngừng sử dụng từ rất lâu và mới đây được thay avatar bằng ảnh của John thánh chiến, "mời gọi" hàng loạt các bạn trẻ Việt Nam vào chửi bới.


Trang Facebook cá nhân đầu tiên mang tên " Timur Zhunusov" đã bị khóa là của một thanh niên... Nga.

Hiện tại, trang cá nhân Timur này đã bị Facebook khóa nhưng vẫn còn khá nhiều tài khoản khác đang tiếp tục hoạt động và được lập mới liên tục. Không có gì đáng ngạc nhiên khi toàn bộ số lượng người follow đều là các bạn trẻ Việt Nam, bởi vì người lập ra trang Facebook giả này cũng là người... Việt.

Không lâu sau đó, một anh... Timur thậm chí đã viết cả status bằng tiếng Việt, thừa nhận mình là giả mạo, lập ra để "giỡn vui" và sau khi gặp rắc rối với cơ quan chức năng thì đã quyết định xóa trang.

Một anh... Timur thừa nhận mình là giả mạo, lập ra để "giỡn vui" và sau khi gặp rắc rối với cơ quan chức năng thì đã quyết định xóa trang.

Không chỉ lập ra cho vui, những thanh niên đứng sau trò đùa này còn sử dụng Google Translates để comment đáp trả bằng tiếng... Ả rập. Điều này đã gây hoang mang rất lớn cho cộng đồng, nhất là sau khi thông tin các băng phiến quân Malaysia chuẩn bị thành lập "chi nhánh" IS tại vùng Đông Nam Á được các tờ báo uy tín đưa tin.

Đây là một trò đùa rất phản cảm, và tàn nhẫn trong thời điểm này.

Trong khi cả thế giới đang hướng tới, cầu nguyện cho các nạn nhân vụ khủng bố tại Paris đêm 13/11 thì các bạn trẻ này lại coi thảm họa khủng bố như một trò đùa và giả mạo tài khoản IS trên Facebook chỉ để câu like, thu hút sự chú ý. Không những thế, trò đùa này còn kéo theo rất nhiều những kẻ thiếu suy nghĩ khác vào đây và "auto" chửi bới, mạt sát, bất chấp việc đó là một hành vi cực kì xấu xí và vô duyên vào thời điểm này, khi mà nước Pháp vẫn đang gồng mình khắc phục hậu quả của cuộc khủng bố.

Chưa kể, nếu thực sự đã có các cơ quan quản lý vào cuộc xác minh và ngăn chặn sự tồn tại của những địa chỉ Facebook giả IS này, thì đây hoàn toàn có thể trở thành một vụ việc nghiêm trọng, khiến người tạo ra nó phải đối mặt với pháp luật.

Theo Neo - Tiểu Tam / Trí Thức Trẻ

http://kenh14.vn/xa-hoi/chinh-la-nguoi-viet-da-tao-ra-cac-trang-facebook-gia-thanh-vien-is-dang-gay-phan-no-20151116035554526.chn

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tập vừa đi khỏi đã xảy ra chuyện rùi!

Hàng trăm tàu cá Trung Quốc bu vào phá lưới ngư dân Việt

Nam Cường
Tiền Phong
15:43 ngày 16 tháng 11 năm 2015

TPO - Hàng trăm tàu Trung Quốc ngang nhiên uy hiếp, phá nát hơn 40 tấm lưới của tàu cá ĐNa 90370 của ngư dân Đà Nẵng trên vùng biển vịnh Bắc Bộ, gần đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị). Thuyền trưởng và các ngư dân trên con tàu này vừa trở về và trình bày sự việc với cơ quan chức năng…

 
Anh Đào Ngọc Đức chỉ những tấm lưới bị phá nát. Ảnh. Nam Cường.

Trưa nay (16/11), thuyền trưởng tàu ĐNa 90370 Đào Ngọc Đức (Thanh Khê Đông – Thanh Khê. Đà Nẵng) đã cập tàu vào vịnh Mân Quang và vào trình báo sự việc tàu anh bị uy hiếp, phá lưới với Trạm kiểm soát Biên phòng Mân Quang (Thọ Quang – Sơn Trà). 


Theo lời kể của anh Đào Ngọc Đức, anh cùng 6 thuyền viên trên tàu ĐNa 90370 (làm nghề lưới xù) ra khơi vào ngày 8/11, thả lưới đánh bắt ở vùng biển xung quanh khu vực có tọa độ 17038/ vĩ Bắc – 107056/ kinh Đông (thuộc vùng biển vịnh Bắc Bộ, cách đảo Cồn Cỏ khoảng 30 hải lý về phía Tây Nam). 

 
Những thuyền viên vá lưới còn sót lại. Ảnh. Nam Cường.Đến khoảng 2h rạng sáng ngày 14/11, bất ngờ xuất hiện vô số tàu cá Trung Quốc loại lớn ồ ạt kéo tới neo đậu, tràn sang đội hình tàu cá Việt đang thả lưới. Hậu quả là trong phạm vi đánh bắt của đội tàu 5 chiếc của Đà Nẵng bị quần nát. 40 tấm lưới đang được thả của tàu anh Đức bị khoảng 30 tàu cá Trung Quốc kéo qua, xé nát tơi tả.

“Anh em kinh hoàng bật cả dậy, ra sức kéo những tấm lưới còn lại lên tàu. Sự việc kéo dài từ 2h rạng sáng ngày 14/11 đến tận hơn 9h sáng cùng ngày. Cuối cùng, 40 tấm lưới chìm hẳn, chỉ còn khoảng 10 tấm rách nát được anh em cứu”.

Theo anh Đức, vì sự việc đến tận 9h sáng nên anh cùng nhiều người đếm được trên vùng biển hẹp nhưng có tới hàng trăm tàu cá Trung Quốc cỡ lớn, kẹp hàng đôi đi với nhau, cùng săn tìm những tàu cá của ngư dân Việt Nam đang đánh bắt để chạy tới lui với mục đích phá lưới. 

 
Anh Đức vào khai báo với Trạm kiểm soát Biên phòng Mân Quang. Ảnh. Nam Cường.

Anh Đào Ngọc Bé, chủ tàu (anh trai thuyền trưởng Đức) kể, cuối năm 2014 tàu anh cũng bị một vụ tương tự ở vùng biển Hoàng Sa, khi đó thậm chí còn thê thảm hơn với 120 tấm lưới bị xé nát, phải sắm lại hết hơn 800 triệu đồng.

“Giờ thì mới sắm được lưới, nó lại phá nát, tổn hại hơn 300 triệu, tiền thì đang vay ngân hàng. Lấy đâu mà trả nợ”. Anh Đức cho hay, chuyến biển này, tàu anh cùng 4 tàu trong tổ đội trắng tay trở về vì gặp phải đội tàu cá Trung Quốc hùng hậu tới quấy phá.

“30 năm trên biển, gặp nhiều tàu cá Trung Quốc nhưng chưa bao giờ tôi thấy loại tàu nào lớn và hung hãn như thế” – anh Đức nói.

 
Theo Thiếu tá Phạm Văn Tuấn – Trạm trưởng trạm kiểm soát BP Mân Quang, 
rất có thể sự việc xảy ra trong vùng đánh bắt chung. Ảnh. Nam Cường.

Lực lượng Biên phòng tại trạm BP Mân Quang sau khi ghi lại sự việc và trình bày của anh Đức, cho rằng với tọa độ như thế rất có thể sự việc xảy ra trong vùng đánh cá chung. Vì thế chưa thể khẳng định tàu cá Trung Quốc có xâm phạm chủ quyền biển đảo hay không mà phải kiểm tra kỹ lưỡng.

Trạm Biên phòng cũng lấy lời khai rất kỹ và cho rằng, chưa thể khẳng định tàu cá phá nát lưới tàu ĐNa 90370 là tàu Trung Quốc hay không mà với những dấu hiệu như thế, chỉ ghi rằng đó là tàu đánh cá nghi là tàu Trung Quốc. Tuy nhiên, thuyền trưởng Đào Ngọc Đức khẳng định: “Tôi khẳng định đó là tàu cá Trung Quốc với chữ, cờ Trung Quốc treo trên tàu, người nói tiếng Trung Quốc…”. 

 
Tàu ĐNa 90370 trở về tại vịnh Mân Quang. Ảnh. Nam Cường.

Anh Đức cũng khai với lực lượng Biên phòng, khi xảy ra sự việc, ngoài đội tàu 5 chiếc của Đà Nẵng còn có mấy chiếc tàu của Kiểm ngư Việt Nam làm nhiệm vụ bảo vệ ngư dân Việt, trong đó có tàu với số hiệu KN 762.

Tuy nhiên, với lực lượng mỏng, tàu nhỏ nên các tàu cá Trung Quốc ngang nhiên quấy phá, khi bỏ đi cũng chạy từ từ. “Tàu cá họ to lắm, bằng sắt và gấp đôi tàu kiểm ngư mình mà. Làm chi được” – anh Đức cho biết.

Anh Nguyễn Ngọc Bé cho hay, sau khi khai ở Biên phòng, anh sẽ làm đơn kêu cứu tới Hội nghề cá Đà Nẵng, Chi đội Kiểm ngư 3, UBND thành phố và đặc biệt sẽ gửi đơn kêu cứu tới Bí thư Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện Chó - Truyện Ngắn Hay | Trò Chuyện Đêm Khuya

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2015

MẠT LỘ

BÙI CHÍ VINH

Không còn chút hy vọng
Trong sự trở lại bờ
Những chiếc phao tưởng tượng
Hành tội người nằm mơ
Bao nhiêu đợt sóng xô
Nhấn ta chìm dưới đáy
Ta chẳng hề mơ hồ
Trước cánh buồm đã gẫy
Thơ ta là hoa trái
Không kiếm được mảnh vườn
Tranh ta là máu chảy
Dính trên đầu mũi gươm
Đừng vì nỗi héo hon
Mà đầu hàng số phận
Ta thiết gì mồi ngon
Chiếc cầu câu danh vọng
Trước mặt là khoảng trống
Sau lưng là vũng lầy
Ta như là trái đất
Quay, một mình tự quay...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2015

Thoát bẫy ý thức hệ

Tiếp tục cuộc trò chuyện với Tuần Việt Nam, ông Nguyễn Cảnh Bình cho rằng các nhà kiến thiết quốc gia như Lý Quang Diệu, Atartuk, Đặng Tiểu Bình, Park Chung Hee đều không bị ý thức hệ chi phối mà chỉ quan tâm tới hiệu quả. Vai trò của một lý thuyết, ý thức hệ hay tư tưởng chủ đạo đóng vai trò như thế nào trong kiến thiết quốc gia? Kỳ 1: Lãnh đạo yếu khó cải tổ

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Nguồn ảnh: topasiatours.com 
Các nhà kiến thiết quốc gia như Lý Quang Diệu, Atartuk, Đặng Tiểu Bình, Park Chung Hee đều không cứng nhắc theo ý thức hệ mà họ đủ thực dụng và thông minh để luôn học hỏi cố gắng đạt được kết quả. Điểm chung của họ là bất kỳ điều gì tốt cho đất nước họ đều sẵn sàng làm thay vì bị quy ước bởi một hệ tư tưởng nhất định. Bản chất trong chế độ cai trị của họ có sự tiến hóa.

Ví dụ, Lý Quang Diệu trọng thực dụng, không câu nệ vấn đề ý thức hệ, chỉ quan tâm hành động, hiệu quả, ít bàn lý luận. Đặng Tiểu Bình cũng đề ra thuyết “Mèo trắng mèo đen” dẫn dắt thành công sự nghiệp cải cách mở cửa ở Trung Quốc.

Tuy nhiên đến khi Ataturk, Lý, Đặng, và Park đã lần lượt nắm quyền 19, 31, 14 và 18 năm, một cách tiếp cận chế độ cai trị mới đã hình thành và phát triển làm nền móng cho các chính phủ sau đó.

Vấn đề hội nhập đóng vai trò quan trọng thế nào trong kiến tạo quốc gia, thưa ông?

Cả bốn vị lãnh đạo đều kết nối đất nước của họ với thị trường quốc tế. Sự ổn định và mở cửa mà cả bốn người đạt được cho phép họ, với những khuyến khích phù hợp, thu hút đầu tư nước ngoài. Tất cả họ đều tận dụng được những lợi thế tương đối, chi phí lao động thấp, đều sản xuất hàng hóa xuất khẩu nhằm kiếm ngoại hối để mua công nghệ từ nước ngoài và làm giàu cho người dân. Chỉ có Đặng thừa kế một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa và, như những người khác, ông này nhanh chóng chấp nhận kinh tế thị trường.

Đặc biệt, để hội nhập cần ngôn ngữ nên cả bốn đất nước đều khuyến khích sinh viên của họ học ngoại ngữ. Singapore tiến xa đến mức biến tiếng Anh thành ngôn ngữ chuẩn ở trường công. Điều này giúp người Singapore dễ dàng hưởng lợi hơn từ các thể chế giáo dục quốc tế và tham gia vào các thảo luận thương mại, chính trị quốc tế.

Như vậy một nhà kiến thiết quốc gia đóng vai trò như một “người hùng” tạo ra toàn bộ sự hình thành và phát triển của quốc gia phải không?

Không hẳn như vậy, trong cả bốn trường hợp, người lãnh đạo vững mạnh cần phải có một nhóm nhỏ những lãnh đạo cùng chí hướng, có tinh thần cống hiến, hoàn toàn quyết tâm với các mục tiêu và có thể trông đợi sẽ cố gắng hết sức để vượt qua khó khăn họ phải đối diện khi kiến thiết những thay đổi căn bản trong xã hội. Mặc dù một số người trong nhóm thân cận có tách ra ở một số trường hợp, phần cốt lõi của các đồng minh tin cậy vẫn ở lại.

Trước khi lên nắm quyền, mỗi lãnh đạo trong bốn người này đều có một nhóm thân hữu gắn bó sâu sắc, họ đã gắn kết và phát triển các mục tiêu chung từ đó họ có thể tiến lên nhanh chóng và vững vàng khi phải đối mặt với vô vàn vấn đề sau khi nắm quyền. Họ cũng cần phải gắn kết với một nhóm rộng hơn những chuyên gia uyên bác để giải quyết các vấn đề phức tạp liên quan đến kinh tế, khoa học công nghệ, và quan hệ đối ngoại.

Ví dụ, Lý Quang Diệu, thông qua Viện Raffle và và Cao đẳng Raffle, thông qua các cuộc họp với những người Singapore học ở Anh và thông qua công việc luật sư bảo vệ các lãnh đạo công đoàn và những người cánh tả khác, biết được nhiều người tài giỏi vào thời ông ở Singapore có tầm nhìn giống ông. Lý đánh giá cao thành tựu xuất sắc trong học thuật. Singapore đạt được như ngày nay không thể nhờ một mình Lý Quang Diệu mà là thành quả một tập hợp lãnh đạo rất tinh hoa.

Theo ông, đặc điểm chung nhất giữa các nhà kiến thiết quốc gia này là gì?

Tôi muốn nhắc lại quan điểm rằng họ đều rất thực dụng và không câu nệ lý luận xa rời thực tế.

Cả bốn lãnh đạo đều cảm nhận được sự cấp thiết phải định hình lại đất nước của họ và ít quan tâm hoặc kiên nhẫn vào những cuộc thảo luận học thuật không liên quan trực tiếp đến các vấn đề thực tế họ đang phải đối mặt.

Tất cả đều nhận ra rằng họ cần những quan chức tài năng và cần hỗ trợ những trường, trường đại học, và viện nghiên cứu chất lượng cao, tuy nhiên họ quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề liên quan đến công nghệ, kinh tế, và quản lý hơn là triết học, tôn giáo và văn học, cũng như các lĩnh vực khác trong các ngành khoa học xã hội nhân văn.

Họ đều vô thần và tin vào khoa học và Phong trào Khai sáng. Ataturk đặc biệt chỉ trích các hoạt động tôn giáo truyền thống đã ngăn cản các nỗ lực hiện đại hóa tư tưởng của ông. Mặc dù những người khác ít công khai chỉ trí tôn giáo hơn, họ thường có cùng quan điểm về vấn đề này.

Xin cảm ơn ông.
Minh Tiến thực hiện
http://m.vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/272798/thoat-bay-y-thuc-he.html


Mustafa Kemal Atatürk (phát âm tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: [musˈtafa ceˈmal ataˈtyɾk]; (1881 – 10 tháng 11 năm 1938) là một sĩ quan quân đội, nhà cách mạng, và là quốc phụ cũng như vị Tổng thống đầu tiên của Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ.
Atatürk được biết đến với tài nghệ thống soái siêu việt trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất[1]. Sau khi Đế quốc Ottoman thất bại trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, ông đã lãnh đạo Phong trào Dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ đấu tranh giành lại độc lập cho đất nước. Sau khi thành lập chính phủ lâm thời tại Ankara, ông đã đánh bại lực lượng Đồng Minh. Cuộc kháng chiến này đã thành công và dẫn đến kết quả là nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ ra đời. Sau chiến tranh Atatürk đã tiến hành một công cuộc cải cách chính trị, kinh tế và văn hóa nhằm biến cựu Đế quốc Ottoman thành một nhà nước hiện đại và thế tục. Những nguyên tắc của cuộc Cải cách Atatürk, mà từ đó đất nước Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại ra đời, được biết đến với cái tên Chủ nghĩa Kemal.
Tên khai sinh của ông là Mustafa (có nghĩa là "người được lựa chọn"), sau đó mang thêm tên thứ hai Kemal ("hoàn hảo"). Cho tới khi từ chức dưới thời Đế chế Ottoman, ông được biết đến dưới tên gọi Kemal Pasha (một chức vụ cao cấp trong hệ thống chính trị, thường được trao cho Tướng quân và quan Tổng đốc, tương được với danh hiệu Lord của người Anh). Trong cuộc Chiến tranh giành độc lập Thổ Nhĩ Kỳ, ông mang thêm danh hiệu Gazi. Cho tới ngày 24 tháng 11 năm 1934Hội đồng Quốc gia Thỗ Nhĩ Kỳ quyết định trao tặng tên Atatürk có nghĩa là "Cha già dân tộc Thổ", vì những cống hiến lớn lao vì tổ quốc và nhân dân của ông.
Ngày 29 tháng 10 năm 1923, Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ được thành lập. Mustafa Kemal đưa Fevzi ÇakmakKazım Özalp và İsmet İnönü vào những vị trí quan trọng trong nội các mới. Họ sẽ giúp ông thực hiện các cuộc cải cách mà gần như bất khả thi trong những năm trước 1923.
Trong những năm đầu của nước cộng hòa này, họ phải đối đầu với thù trong giặc ngoài: chế độ cũ muốn trở lại. Mustafa Kemal nhìn ra hậu quả của chủ nghĩa phát xít nên loại bỏ. Ông cố sức ngăn cản sự truyền bá của chế độ chuyên chế như các nước đế quốc ÝĐức.
Cuộc cải cách Atatürk bị đánh giá là quá gấp rút: Những phong tục tập quán có hàng ngàn năm lịch sử gần như thay đổi hoàn toàn. Đặc biệt là những cải cách tôn giáo của ông gặp nhiều phản đối, và tạo nên một mối bất đồng đáng kể giữa xã hội vàchính trị tồn tại cho đến ngày nay.
Giữa năm 1937, sức khỏe của Ataturk suy giảm, và có dấu hiệu của bệnh xơ gan. Trong bản di chúc viết ngày 5 tháng 9 năm1938, ông hiến toàn bộ tài sản của mình cho Đảng Nhân dân Cộng hòa.

Tang lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Mustafa Kemal Ataturk qua đời tại Istanbul vào lúc 09:05 tối ngày 10 tháng 11 năm 1938, hưởng thọ 57. Hơn 17 quốc gia viếng tang bằng người đại diện và đội nghi lễ. Hài cốt ông được đưa vào Bảo tàng Dân tộc học ở Ankara vào tháng 11 năm 1953, đám diễu hành gồm toàn bộ các thành viên nội các kéo dài hơn 2 dặm, cùng hơn 21 triệu dân khắp cả nước.
Khẩu hiệu nổi tiếng nhất của Atatürk là "hòa bình tại gia, hòa bình trên toàn thế giới", thể hiện cho tư tưởng và quan điểm của ông về tính nhất quán giữa chính sách đối nội và đối ngoại. Đây không chỉ là quyết định ngẫu nhiên, nó xuất phát từ nhu cầu cấp bách của một nhà nước non trẻ mà tính ổn định lâu dài của nó phụ thuộc nhiều vào quan hệ quốc tế.[3]
Ông thiết lập mối quan hệ gần gũi hơn với kẻ thù cũ Hy Lạp bằng việc mời thủ tướng Hy Lạp là Eleftherios Venizelos đến thăm thủ đô Ankara năm 1923, và Venizelos thậm chí còn đề cử Ataturk cho giải Nobel Hòa bình năm 1934. Tướng Douglas McArthur của Mỹ nhiều lần bày tỏ lòng ngưỡng mộ và "vinh dự là một người bạn trung thành của Ataturk".
Tên tuổi và chân dung của Ataturk có thể nghe và thấy khắp Thổ Nhĩ Kỳ: ở công trình công cộng, trường học, sách giáo khoa và tiền tệ. Hàng năm, vào chính xác thời điểm ông qua đời ngày 10 tháng 11 gần như tất cả mọi người Thổ sẽ dừng lại dành một phút tưởng niệm cho Ataturk. Tượng tưởng niệm ông được xây dựng khắp hầu hết các thành phố lớn của Thổ Nhĩ Kỳ và trên thế giới: đài kỷ niệm Ataturk ở New Zealand và Úc, quảng trường Ataturk ở Roma v.v.
Năm 1981UNESCO công bố năm Ataturk, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhật của ông.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nga thừa nhận Stalin ra lệnh thảm sát Katyn



TT - Quốc hội Liên bang Nga ngày 25-11 đã bỏ phiếu thông qua nghị quyết thừa nhận vụ cảnh sát Nga sát hại 22.000 sĩ quan và công dân Ba Lan ở rừng Katyn, phía tây nước Nga, năm 1940 do nhà lãnh đạo Josef Stalin ra lệnh.
Báo The Moscow News dẫn nguồn từ trang web duma.gov.ru cho biết với tỉ lệ ủng hộ 342/450, Hạ viện Nga đã thông qua nghị quyết dựa trên tài liệu mật thu được từ đầu thập niên 1990.
“Tội ác Katyn đã được thực hiện theo lệnh trực tiếp của Stalin và các lãnh đạo Liên Xô khác” - tuyên bố của Quốc hội Nga cho biết.
Itar-Tass dẫn lời Chủ tịch Duma Nga Konstantin Kosachev khẳng định nghị quyết "lịch sử" này không chỉ quan trọng đối với quan hệ Nga - Ba Lan mà còn với chính người Nga.
Theo Reuters, phía Ba Lan đánh giá rất cao quyết định khó khăn của Quốc hội Nga.
Báo chí Nga và Ba Lan cho rằng nghị quyết trên được đưa ra như một thiện chí của Nga trước cuộc viếng thăm của Tổng thống Nga Dmitry Medvedev đến Ba Lan vào ngày 6-12.
Tuy nhiên, chính quyền Ba Lan khẳng định muốn Nga phải có trách nhiệm hơn nữa về vụ việc trên và tuyên bố đó là tội diệt chủng.
Phe đối lập ở Ba Lan yêu cầu Nga chính thức xin lỗi và bồi thường cho gia đình các nạn nhân.
Trước đây, Nga đổ cho phát xít Đức thực hiện vụ thảm sát.
MỸ LOAN
http://tuoitre.vn/tin/the-gioi/20101128/nga-thua-nhan-stalin-ra-lenh-tham-sat-katyn/413231.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Xin trích đăng những dòng tự thuật của chính nhà thơ Hữu Loan:


"Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. 
Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh Văn Xuấn, Đỗ Thiện và…tôi – Nguyễn Hữu Loan.
Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái Thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. 
Ở Thanh Hóa, bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới. Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.
Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi - mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. 
Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. 
Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..
Có lần tôi kể chuyện ”bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ…
Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..
Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. 
Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:
- Thầy có thích ăn sim không ?
Tôi nhìn xuống sườn đồi tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ…
Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.
- Thầy ăn đi.
Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:
- Ngọt quá!
Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! 
Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì… tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo! 
Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. 
Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó… Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …
Chín năm sau, tôi trở lại nhà… Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. 
Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp… Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ”soạn kịch bản”. 
Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: "yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. 
Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. 
Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. 
Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..
Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! 
Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn…
Dường như càng kìm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. 
Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…
Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. 
Đó là bài thơ Màu tím hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.
Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim… 
Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời... từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều... Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá!
Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng…
Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông… 
Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý...
Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. 
Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản...
Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học, lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. 
Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. 
Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông . 
Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. 
... Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc....
Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. 
Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó, bữa đói bữa no… Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa! 
Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ...
Năm 1988, tôi "tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức.
Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu tím hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. 
Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán".
Nhà thơ Hữu Loan

Phần nhận xét hiển thị trên trang