Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 9 tháng 11, 2015

Ông Chu Hảo to gan!

Chu Hảo: CHẤT VẤN ĐBQH VỀ VIỆC ĐỂ TẬP CẬN BÌNH ĐĂNG ĐÀN



Thư ngỏ

Kính gửi các ĐBQH: Trương Trọng Nghĩa, Lê Như Tiến, Dương Trung Quốc, Trần Du Lịch, Lê Nam … 

Và các vị khác được các tầng lớp xã hôi dân sự và doanh nhân tín nhiệm. 

Thưa quý vị, 

Là một cử tri luôn quan tâm đến các hoạt động của Quốc hội, tôi xin chất vấn quý vị những điều sau đây, và mong được hồi âm trên công luận.

1. Vì sao quý vị không có bất kỳ hành động công khai nào phản đối, ngăn chặn Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đăng đàn phát biểu tại Quốc hội nước ta, thực chất là với tư cách kẻ xâm lược, đại diện cho bè lũ bá quyền Đại Hán chưa khi nào rời bỏ âm mưu thôn tính Đất nước ta và nô dịch Dân tộc ta? 

2. Nếu không ngăn chăn được như đã thấy thì vì sao quý vị không thể bày tỏ thái độ cần có của một ĐBQH của nhân dân, tối thiểu bằng cách bỏ ra ngoài không tham dự, hoặc tham dự và chất vấn trực tiếp dù Chủ tịch đoàn phiên họp cho phép hay không?

3. Quý vị có thấy hổ thẹn với tiền nhân khi cam chịu tham gia đón tiếp long trọng đại diện cho bè lũ xâm lược tại Phòng họp mang tên Diên Hồng- biểu tượng thiêng liêng cho tinh thần toàn dân đoàn kết chống ngoại xâm?

4. Sau hết, các vị có thể công khai bày tỏ thái độ của mình đối với bài phát biểu lươn lẹo , thâm độc và ngang ngược của Tập Cận Bình tại phòng Diên Hồng, và sau đó một ngày tại Singapore, để chúng tôi được hy vọng tiếp tục đặt niềm tin vào quý vị, những đại biểu hiếm hoi đã từng dám tự do biểu đạt chính kiến của mình trong một Quốc Hôi thiếu dân chủ, không thật sự do nhân dân tự nguyện bầu ra này.

Xin quý vị hãy lên tiếng! Trân trọng cám ơn! 
Chu Hảo
Hà Nội

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tờ báo xăng dầu bình luận : Mặt nạ của ông Tập đã rơi !

Giao blg.

Bài vừa xuất hiện trên tờ Năng lượng mới.

---
08:52 | 09/11/2015

Mặt nạ của ông Tập Cận Bình đã rơi!


(PetroTimes) - Tờ The Strait Times dẫn phát biểu tại Đại học Quốc gia Singapore sáng 7/11 của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc và tuyên bố của ông Tập Cận Bình "các đảo ở Biển Đông là lãnh thổ Trung Quốc từ thời cổ đại và Bắc Kinh sẽ phải bảo vệ cái gọi là chủ quyền và lợi ích hàng hải của mình”. 


Điều này đã tự chứng minh với dư luận trong khu vực và thế giới rằng, những tuyên bố thiện chí tại Hà Nội hôm 5 và 6/11 của người đứng đầu quốc gia đông dân nhất thế giới chỉ là chót lưỡi đầu môi, không thực lòng và không đáng tin.
Đồng thời chứng tỏ, Trung Quốc chỉ muốn các nước hữu quan hành xử theo “luật chơi của Bắc Kinh”. Và điều này chỉ khiến tình hình tại Biển Đông thêm căng thẳng.
Trong thời gian ở Hà Nội, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đã có các cuộc hội đàm với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, hội kiến với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.
Và ông Tập Cận Bình đã chân thành cảm ơn sự đón tiếp trọng thị, thân tình và hữu nghị của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Đảng Cộng sản, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.
Việc ra được tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc (dài hơn 3.000 chữ), nhân chuyến thăm của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình được coi là thành công của 2 nước.
mat na cua ong tap can binh da roi
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình
Trong tuyên bố chung có đề cập tới việc thực hiện tốt phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.
Và 2 bên đã trao đổi chân thành, thẳng thắn về vấn đề trên biển, nghiêm túc thực hiện “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc”; đồng thời nhất trí cùng nhau kiểm soát tốt bất đồng trên biển, thực hiện đầy đủ và có hiệu quả “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), thúc đẩy sớm đạt được “Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông” (COC) trên cơ sở hiệp thương thống nhất, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp; xử lý kịp thời, thỏa đáng vấn đề nảy sinh, duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông và quan hệ Việt - Trung...
Còn trong bài "Tay trong tay mở ra tương lai tươi đẹp cho quan hệ Trung - Việt" đăng trên tờ Nhân dân hôm 5/11, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình cho rằng, Trung - Việt đã giải quyết vấn đề hoạch định đường biên giới trên đất liền và vịnh Bắc Bộ thông qua hiệp thương hữu nghị, đặt cơ sở vững chắc cho ổn định, an ninh và phát triển chung ở vùng biên giới hai nước.
Đồng thời tin tưởng, miễn là Trung - Việt tay trong tay cùng tiến lên, tăng cường hợp tác, tất sẽ mở ra tương lai tươi đẹp, thực hiện sự phát triển và phồn thịnh chung của 2 nước. Và khi hội đàm với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, ông Tập Cận Bình còn nhấn mạnh, Trung - Việt núi sông liền một dải, như môi với răng, Trung - Việt là cộng đồng vận mệnh mang ý nghĩa chiến lược, và đã đề xuất 7 kiến nghị nhằm phát triển quan hệ song phương.
Và khi có bài phát biểu dài hơn 20 phút tại Quốc hội Việt Nam, ông Tập Cận Bình còn nói, phải lấy chữ tín để làm bạn… Nhưng khi tới Singapore, ông Tập Cận Bình đã đưa ra những tuyên bố khiến dư luận vô cùng bất bình.
Ngày 7/11, Asia One dẫn lời Thủ tướng Lý Hiển Long cho biết, Singapore đang nỗ lực thúc đẩy ASEAN và Trung Quốc ký COC càng sớm càng tốt. Đồng thời nhấn mạnh, quốc đảo này cũng như ASEAN không thể "nhắm mắt làm ngơ" trước tình trạng tranh chấp lãnh thổ, hàng hải tại Biển Đông hiện nay.
Và khi hội đàm với Tổng thống Singapore Tony Tan Keng Yam và Thủ tướng Lý Hiển Long, ông Tập Cận Bình đã đề xuất 4 điểm nhằm tăng cường hợp tác giữa Trung Quốc với các nước láng giềng châu Á.
Đồng thời nhấn mạnh, Trung Quốc ủng hộ sự phát triển của ASEAN, nhưng dư luận hoài nghi về những tuyên bố này.
Ngày 7/11, lãnh đạo đảng Dân Tiến đối lập ở Đài Loan, bà Thái Anh Văn đã bày tỏ thất vọng về cuộc gặp lịch sử giữa ông Mã Anh Cửu và ông Tập Cận Bình, đồng thời cam kết sẽ bù đắp “tổn thất” này thông qua các biện pháp dân chủ. 
"Tôi tin rằng hầu hết người Đài Loan đều thất vọng như tôi bởi chúng ta đã hy vọng ông Mã Anh Cửu sẽ làm 3 điều cho nhân dân Đài Loan, là đảm bảo quyền lựa chọn của 23 triệu người Đài Loan; không đặt ra các điều kiện tiên quyết về chính trị trong mối quan hệ 2 bờ eo biển; giành được sự tôn trọng như nhau. Nhưng không có điều nào được thực hiện", bà Thái Anh Văn tuyên bố như vậy sau khi theo dõi cuộc gặp tại Singapore giữa ông Mã Anh Cửu và ông Tập Cận Bình qua truyền hình.
mat na cua ong tap can binh da roi
Ngoại trưởng Mỹ John Kerry và Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị.
Ông Tập Cận Bình và ông Mã Anh Cửu đã gặp nhau chiều 7/11 tại khách sạn Shangri-La, Singapore. Đây là cuộc gặp đầu tiên giữa các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Đài Loan trong 66 năm qua, kể từ khi hòn đảo này tách khỏi Đại lục năm 1949.
Khi được hỏi về việc liệu hai bên có đề cập đến việc di dời các tên lửa của Trung Quốc nhắm vào Đài Loan hay không, ông Mã Anh Cửu cho biết, ông Tập Cận Bình khẳng định dàn tên lửa được triển khai không nhắm vào Đài Loan.
Ông Mã Anh Cửu và ông Tập Cận Bình đã nhất trí duy trì "nguyên tắc một nước Trung Quốc", thừa nhận 2 bờ eo biển Đài Loan đều là bộ phận của Trung Quốc, bất chấp mỗi bên đều tuyên bố là chính quyền hợp pháp.
Đồng thời ủng hộ "nhận thức chung 1992" giữa Quốc dân đảng và đảng Cộng sản Trung Quốc - chỉ có một nước Trung Quốc và mỗi bên có thể diễn giải điều này theo cách riêng. Khi nói với ông Mã Anh Cửu, ông Tập Cận Bình cho rằng, không thế lực nào có thể chia tách 2 bờ eo biển Đài Loan vì “chúng ta là một gia đình”.
Ngày 6/11, khi điện đàm với Ngoại trưởng Mỹ John Kerry, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị có trao đổi về vấn đề Biển Đông, đồng thời coi hành động của tàu chiến Mỹ ở Biển Đông đã gây tổn hại tới lòng tin lẫn nhau, kích động căng thẳng khu vực, Bắc Kinh quan ngại đối với vấn đề này.
Đồng thời yêu cầu Mỹ cần nhanh chóng trở lại con đường đúng đắn thông qua đối thoại, hiệp thương để quản lý, kiểm soát ổn thỏa bất đồng.



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tại sao Liên Xô tan rã?


Thứ năm, 07/11/2013 - 18:42
Sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX là một sự kiện đặc biệt quan trọng của thế giới, là một tổn thất hết sức to lớn của những người cộng sản trong quá trình hiện thực hóa học thuyết Mác - Lênin. Sự tan rã của Liên bang Xô viết vào cuối 1991 đã làm thay đổi căn bản cục diện chính trị thế giới.
 Trong giai đoạn 1918 - 1920, nước Nga Xô viết nằm trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc và bị bọn Bạch vệ (được sự hậu thuẫn của nước ngoài) tấn công từ bốn phía. Trong giai đoạn đặc biệt khó khăn này, nước Nga Xô viết non trẻ lâm vào thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Dưới sự lãnh đạo của Lênin và Đảng Bonsevich, nước Nga Xô viết đã vượt qua thách thức hiểm nghèo để tiếp tục phát triển. 
Cuộc duyệt binh của các chiến sĩ Hồng quân Liên Xô ở Quảng trường Đỏ.
Cuộc duyệt binh của các chiến sĩ Hồng quân Liên Xô ở Quảng trường Đỏ.
Sau hơn bảy chục năm tồn tại, phát triển không ngừng, vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước, Liên Xô đã trở thành một cường quốc hàng đầu thế giới. Với sức mạnh to lớn về quân sự, khoa học công nghệ và kinh tế, Liên xô đủ sức đương đầu với hệ thống tư bản thế giới và có khả năng ngăn chặn mọi âm mưu, hoạt động hiếu chiến của chủ nghĩa đế quốc để bảo vệ hòa bình thế giới. 
 
Liên Xô tan rã khi đã đạt đến đỉnh cao. 
 
Tại sao? 
 
Đã có hàng trăm, thậm chí hàng nghìn bài viết, công trình chuyên khảo và sách lý giải vấn đề này, trong đó các cuốn sách của những người trong cuộc đưa ra lời giải có sức thuyết phục nhất. Nhân kỷ niệm 96 năm Cách mạng tháng Mười Nga (7/11/1917 - 7/11/2013), bài viết này nhằm cung cấp một cái nhìn cận cảnh về sự tan rã của Liên Xô.
 
1. Hệ thống XHCN hiện thực với Liên Xô làm trụ cột đã có đóng góp hết sức to lớn vào sự phát triển của thế giới.
 
Trong nửa sau của thế kỷ XX, trên thế giới có hơn một chục Đảng Cộng sản cầm quyền, hình thành một hệ thống XHCN hùng mạnh đủ sức kiềm chế mọi hành động đơn phương, hiếu chiến chống phá cách mạng của chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là Mỹ.
 
Chính nhờ sự tồn tại của hệ thống XHCN hùng mạnh, hàng trăm dân tộc bị nô dịch, áp bức đã vùng lên làm cách mạng giải phóng dân tộc, làm suy sụp chủ nghĩa thực dân cũ, làm thất bại chủ nghĩa thực dân mới. Xét đến cùng, sự hình thành và phát triển của phong trào không liên kết là thành quả của cuộc đấu tranh vô sản - tư sản trên phạm vi toàn cầu, là thành tựu to lớn của các Đảng Cộng sản cầm quyền trong thế kỷ XX. Nói cách khác, chính những người cộng sản, trước hết là các Đảng Cộng sản cầm quyền ở các nước thuộc hệ thống XHCN, đã ghi tạc một mốc son chói lọi vào tiến trình phát triển văn minh nhân loại. 
 
Các Đảng Cộng sản cầm quyền đã xây dựng được một hệ thống xã hội hùng mạnh (hệ thống XHCN), trên nhiều lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội tốt đẹp hơn, ưu việt hơn chủ nghĩa tư bản (CNTB). Cho đến nay, sau 22 năm Liên Xô tan rã, vẫn có 59% người Nga được hỏi ý kiến cho rằng ở chủ nghĩa xã hội nhiều điều tích cực hơn là tiêu cực, và đa số người Nga vẫn nuối tiếc thời Xô viết vàng son. 
 
Thật trớ trêu, chính các Đảng Cộng sản cầm quyền, trước hết và chủ yếu là Đảng Cộng sản Liên Xô, lại để mất quyền lãnh đạo, làm cho hệ thống XHCN hùng mạnh được họ dẫn dắt hàng trăm triệu người xây dựng nên sụp đổ, tan rã. Cần lưu ý rằng Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, Liên Xô tan rã mà không thông qua một cuộc chiến tranh với chủ nghĩa đế quốc. 
 
Thực chất, Đảng Cộng sản Liên Xô, trực tiếp và chủ yếu là Bộ Chính trị, BCHTƯ đã tha hóa, đã tự đánh mất mình và làm cho Liên Xô tan rã. Chính những người lãnh đạo cao nhất, các ủy viên Bộ Chính trị Đảng CSLX đã thừa nhận điều đó. Tất nhiên, hoạt động chống phá của các thế lực chống cộng quốc tế thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình” cũng là một nguyên nhân làm cho Liên Xô tan rã, nhưng chắc chắn không phải là nguyên nhân chính, không phải là nguyên nhân chủ yếu. 
 
2. Đảng Cộng sản Liên Xô đã tha hóa, biến chất như thế nào? 
 
Sơ bộ có thể nêu ra một số biểu hiện lớn sau đây:
 
- Một là, Đảng Cộng sản Liên Xô đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng. Đi liền với nó là các bệnh tật: độc đoán, chuyên quyền, không chấp nhận những ý kiến khác với mình; coi thường tập thể, coi thường cấp dưới, tự cho mọi ý kiến của mình là chân lý buộc mọi người phải tuân theo, coi những ai có ý kiến ngược lại là chống đối, thậm chí là thù địch, khi cần thiết bảo vệ “cái uy” của mình, họ sẵn sàng đối xử với đồng chí, đồng đội như đối với kẻ thù. Kết quả là trong sinh hoạt, đảng mất hết sinh khí, mất hết tính chiến đấu. Sinh hoạt đảng trở nên tẻ nhạt, khô cứng, độc thoại một chiều. Trong điều kiện đó nhiều đảng viên trung kiên, trong sáng không được trọng dụng, cố nín nhịn để tồn tại, những kẻ cơ hội, nịnh bợ có điều kiện được thăng tiến.
 
- Hai là, Bộ Chính trị, BCHTƯ Đảng Cộng sản Liên Xô đã quan liêu xa rời thực tiễn, để mất quan hệ máu thịt giữa Đảng CSLX với nhân dân Liên Xô. Tệ quan liêu làm cho những người lãnh đạo các cấp của Đảng CSLX xa rời thực tế, không có hiểu biết đúng đắn hiện trạng xã hội mà mình đang lãnh đạo, quản lý. Họ thờ ơ trước những nguyện vọng chính đáng của quần chúng, thậm chí không có rung động, phản ứng trước những nỗi thống khổ, oan ức của một bộ phận quần chúng nhân dân, trong đó có cả một bộ phận đảng viên, cán bộ cấp dưới.
 
- Ba là, những suy thoái về đạo đức, lối sống của một số lãnh đạo cấp cao giữ vai trò chủ chốt với những biểu hiện nổi bật: Sống ích kỷ, đặt lợi ích của bản thân, gia đình và người thân lên trên lợi ích của Đảng, của nhân dân; cục bộ địa phương, kéo bè kéo cánh đưa những người thân tín với mình, kể cả những người yếu về năng lực, kém về đạo đức, lối sống vào những vị trí lãnh đạo để làm vây cánh, che chắn bảo vệ mình; tham ô, sống xa hoa, nói một đằng làm một nẻo, cá biệt còn tha hoá, suy đồi về đạo đức, lối sống.
 
Trên đây là những biểu hiện nổi bật chủ yếu sự thoái hoá của một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Liên Xô, nhất là các cán bộ chủ chốt ở cấp cao. 
 
Chỉ khi nào sự thoái hóa, biến chất diễn ra tại trung tâm quyền lực (chóp bu) của Đảng thì mới trở thành nguy cơ đối với Đảng, đó là đêm trước của sự tan rã, sụp đổ. Đảng Cộng sản Liên Xô và các “phiên bản” Đông Âu của nó thuộc trường hợp này. 
 
Thông thường các biểu hiện trên không tồn tại biệt lập, mà luôn song hành, có quan hệ với nhau, tác động với nhau, có lúc cái này làm tiền đề, điều kiện cho cái kia tồn tại và phát triển. Những biểu hiện thoái hoá nói trên, không bỗng nhiên xuất hiện, mà có một quá trình từ chớm nở như một ung nhọt nhỏ rồi phát triển qua nhiều giai đoạn. Những bệnh tật này lặng lẽ tích dồn liên tục trong nhiều tháng, nhiều năm làm Đảng mất sức chiến đấu, thiếu nhạy bén, không đưa ra được đường lối, quyết sách đúng đắn, khả thi. Trong Đảng CSLX đã thực sự có phân hoá: Một bộ phận cán bộ, đảng viên giàu lên nhanh chóng do đặc quyền, đặc lợi, đại bộ phận sống khó khăn; nhiều đảng viên nói một đằng làm một nẻo, trong cuộc họp nói khác ngoài cuộc họp, suy nghĩ một đằng phát biểu một nẻo. Tính chiến đấu trong sinh hoạt đảng dần dần nguội lạnh, nhiều đảng viên trở nên thờ ơ trước những vấn đề chính trị có quan hệ đến vận mệnh của Đảng CSLX.
 
Theo Ph. M. Rudinxki, có thể chia 20 triệu đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô làm 4 loại: 1, Những đảng viên chân chính thường chiếm tỷ lệ nhỏ, 2. Những người thực hiện, chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng như cái máy (chiếm khoảng hơn 96 %); 3. Những kẻ cơ hội , xu thời, nịnh bợ (phần lớn trong bộ máy công quyền) ; 4. Những người im lặng (phần lớn họ là những người có hiểu biết nhưng sợ bị trù dập nên họ giữ im lặng, không dám phát biểu). 
 
N. I. Rưscôp, nguyên ủy  viên Bộ Chính trị ĐCS Liên Xô, Thủ tướng Liên Xô (1985 - 1990) cho rằng: Tồn tại hai Đảng trong Đảng Cộng sản Liên Xô: Một đảng của hàng chục triệu đảng viên bình thường và một đảng của những quan chức chóp bu trong hệ thống đảng, nhà nước Liên Xô . Những đảng viên nắm quyền lực ở cấp cao ngày càng xa rời, cách biệt với hàng chục triệu đảng viên bình thường. Số đảng viên này, về thực chất, không đại diện và bảo vệ lợi ích của giai cấp, của dân tộc, mà chỉ tìm mọi cách bám giữ quyền lực vì lợi ích cá nhân của họ. 
 
Do những bệnh tật kể trên, đại bộ phận quần chúng nhân dân giảm lòng tin đối với sự lãnh đạo của Đảng CSLX, thờ ơ đối với những vấn đề chính trị trọng đại của đất nước, thậm chí có một số trông chờ, mong muốn có sự thay đổi. Chính đó là trạng thái trong Đảng Cộng sản Liên Xô và trong xã hội Liên Xô vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, đêm trước của sự sụp đổ, tan rã (1989 - 1991).
 
3. Thử bàn về các nguyên nhân.  
 
Về hoạt động chống phá của Mỹ và các thế lực chống cộng quốc tế thì rõ ràng, có đầy đủ thông tin, tư liệu để khẳng định. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác.
 
Mặt trái của cơ chế thị trường cũng là một nguyên nhân. Nhưng nếu quá nhấn mạnh, cường điệu mặt trái của cơ chế thị trường thì khó lòng giải thích được những thoái hoá của Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc trong thời kỳ Mao Trạch Đông, Xtalin và Prêz nép lãnh đạo, vì thời Mao, thời Xtalin, thời Prêz nép chưa có kinh tế thị trường.
 
Nghiên cứu kỹ quá trình thoái hoá của Đảng Cộng sản Liên Xô, kể cả những đảng cầm quyền rồi mất quyền và những đảng hiện nay còn cầm quyền, chúng tôi xin nêu ra hai vấn đề để trao đổi, thảo luận.
 
- Một là, về mặt tổ chức, trong suốt quá trình tồn tại, phát triển của mình, Đảng Cộng sản Liên Xô chưa xây dựng được cơ chế hữu hiệu để đảm bảo dân chủ thực sự trong sinh hoạt Đảng. Đảng CSLX đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong suốt quá trình hoạt động. Theo chúng tôi, đây là điểm khởi thuỷ, nguồn gốc của mọi biểu hiện khác về sự thoái hoá của Đảng CSLX (quan liêu, tha hoá về tư tưởng chính trị, thoái hoá về đạo đức, lối sống, chia rẽ mất đoàn kết…). Ở đâu và khi nào trong sinh hoạt đảng thể hiện sục sôi dân chủ, thì đảng có sức sống mãnh liệt. Đảng Cộng sản Bôn - sê - vích Nga dưới thời lãnh đạo của Lênin là một ví dụ điển hình.
 
Xét đến cùng, do thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng nên cơ quan lãnh đạo của Đảng CSLX thiếu thông tin nhiều mặt về một vấn đề, đặc biệt là những vấn đề hệ trọng quan hệ đến sinh tồn của Đảng. Thiếu dân chủ cho nên trong sinh hoạt đảng thường là độc thoại một chiều từ những người lãnh đạo cao nhất, thiếu hẳn thông tin phản hồi từ dưới lên. Thiếu dân chủ, nên những đảng viên ưu tú, nhạy bén, sắc sảo, thông minh không có chỗ để thể hiện ý tưởng của mình. Trong một tổ chức như vậy, bộ tham mưu cao nhất không có đủ thông tin nhiều chiều, toàn diện, do đó những quyết định về đường lối, sách lược thường không phù hợp với thực tiễn, thậm chí trái ngược với quy luật, ngược với hiện thực khách quan. Phải chăng, đó là một trong những nguyên nhân căn bản dẫn đến tình trạng nghị quyết, chỉ thị rất nhiều nhưng việc đưa vào cuộc sống không được bao nhiêu. Theo ngôn ngữ y học, thuốc rất nhiều nhưng không có loại đặc trị, nên bệnh tình sẽ ngày càng trầm trọng.
 
Dưới góc độ lý thuyết hệ thống, có thể xem một tổ chức đảng như một hệ thống. Để đảm bảo cho hệ thống đó tồn tại bền vững, nhất thiết phải có trao đổi thông tin. Nếu thiếu trao đổi thông tin (theo 2 chiều thuận - nghịch, từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong) thì sớm muộn hệ thống đó sẽ bị đổ vỡ để chuyển sang một trạng thái khác. Thiếu dân chủ trong sinh hoạt đảng, tức là thiếu trao đổi thông tin (trên xuống, dưới lên, trong đảng ra ngoài xã hội và ngược lại). Nếu trạng thái này kéo dài thì sẽ sinh ra thoái hóa của hệ thống đảng dưới nhiều biểu hiện như đã trình bày ở trên. Nếu không khắc phục được, để kéo dài, thì sớm muộn sự thoái hóa của một số đảng viên ở vị trí chủ chốt sẽ dẫn đến sự thoái hóa của đảng cầm quyền.
 
Hãy trở lại với Đảng Cộng sản Liên Xô để chúng ta hiểu rõ vấn đề dân chủ trong đảng. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng được ghi rõ trong Điều lệ, Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Bôn - sê - vích Nga từ năm 1903. Điều lệ Đảng Cộng sản Liên Xô, qua nhiều lần thay đổi, vẫn là một văn bản quy định rất chặt chẽ, rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của đảng viên. Tại sao không ngăn chặn được những biến thái lệch lạc của Xta - lin, Prêz-nhép, không ngăn chặn được hành vi lạm quyền, lộng quyền và phản bội của Góoc - ba - chốp? Cớ sao hàng chục triệu đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô không có phản ứng gì khi Góoc - ba - chốp tuyên bố giải tán Đảng? Không thể nói cách khác, thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng và không có cơ chế giám sát quyền lực hữu hiệu, đặc biệt là thiếu hẳn cơ chế giám sát hoạt động của Tổng bí thư, của Bộ Chính trị là nguồn gốc sinh ra tệ lạm quyền, lộng quyền của những người lãnh đạo Đảng CSLX, làm cho đảng có một xác thịt to lớn (hàng chục triệu đảng viên), nhưng không có hồn, không có sức sống.
 
Thực tế xác nhận: Đảng CSLX trước đây không có lực lượng nào và không có cơ chế nào thực hiện giám sát và phản biện hoạt động của Tổng Bí thư, của Bộ Chính trị. Một nhóm nhỏ này, có khi chỉ dăm ba người nắm quyền lực tối cao, tự tung tự tác, ai có ý kiến khác sẽ bị họ chụp cho cái mũ là “chống đối”, “là phản động”, “là chống Đảng”, thậm chí là “phản bội Tổ quốc”…
 
Cũng do thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng mà các thành viên trong tổ chức có quan hệ với nhau rất lỏng lẻo, đảng mất hết sức sống, tính chiến đấu chỉ còn lại trong nghị quyết. 
 
Do thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng, mà một thời gian dài trước khi sụp đổ, tan rã, trong Đảng Cộng sản Liên Xô cũng như trong các Đảng Cộng sản ở các nước XHCN ở Đông Âu đã lặng lẽ diễn ra một quá trình phân hóa trong đảng, cả trong sinh hoạt Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị. Các đảng viên nghĩ một đằng phát biểu một đằng, không dám thể hiện chính kiến của mình ngay cả đối với vấn đề quan hệ đến sinh tồn của Đảng. Trong cuộc họp người ta nói một đằng, mà phần lớn không thật lòng, ngoài cuộc họp người ta nói riêng với nhau lại khác, cấp trên áp đặt, cấp dưới điều chỉnh hành  vi cho phù hợp với cấp trên, mọi thông tin chính thức từ trên xuống và đặc biệt là từ dưới lên đều thiếu chân thật. Chưa đến một tháng trước khi tan rã, mất quyền lãnh đạo, những người lãnh đạo của một Đảng Cộng sản cầm quyền vẫn khẳng định sức chiến đấu của đảng mình, vẫn tuyên bố tuyệt đại bộ phận nhân dân còn ơn đảng, theo đảng, tin đảng và tuyệt đại đa số đảng viên là tin cậy, trung thành...!
 
Cũng do thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng mà Đảng CSLX đã mắc sai lầm trong việc đánh giá cán bộ, đào tạo cán bộ, tuyển chọn và bố trí, sử dụng cán bộ vào vị trí chủ chốt trong Đảng, trong Nhà nước. Thiếu dân chủ là bà đỡ của thói nịnh bợ, luồn lọt, là điều kiện tốt cho chủ nghĩa thực dụng, cơ hội vị kỷ phát sinh tồn tại trong đảng, nhất là ở các cơ quan lãnh đạo cấp cao. Ai cũng biết cán bộ quyết định tất cả, và thực tiễn cũng xác nhận điều đó. Nhưng Đảng CSLX phạm sai lầm trong công tác sử dụng, bố trí cán bộ. 
 
- Hai là, sự thoái hóa của Đảng CSLX là do các đảng viên, trước hết và chủ yếu là các đảng viên trước hết giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt ở cấp cao, chưa đủ độ chín muồi về mặt chính trị, chưa thực sự giác ngộ về giai cấp, về lý tưởng cộng sản. Khi kết nạp mọi đảng viên đều tuyên thệ về sự giác ngộ lý tưởng cộng sản của mình, hứa hẹn một lòng một dạ phấn đấu vì  lợi ích  của giai cấp, của những người lao động, nguyện trung thành với lý tưởng cộng sản... Nhưng khi đã vào đảng rồi thì họ thiếu rèn luyện và trong hoạt động thực tiễn, họ dần dần xa rời những lời tuyên thệ, hứa hẹn của mình. Đó là quá trình tha hóa của đảng viên, và kéo theo sự tha hóa của đảng. Tất nhiên, không phải mọi đảng viên đều diễn ra quá trình tha hóa đó. 
 
Tất nhiên, còn nhiều vấn đề thuộc về nguyên nhân và điều kiện làm cho Đảng CSLX thoái hóa, Liên Xô tan rã. Ở đây chúng tôi không có điều kiện để trình bày tất cả, chỉ nêu ra những nhân tố quan trọng nhất, cơ bản nhất. Có thể xem nó là nguồn gốc của mọi thoái hóa của Đảng cầm quyền nói chung, của Đảng CSLX nói riêng.
 
*
*          *
 
Năm 2013, nhân dân Nga nói riêng, nhân dân 15 nước Cộng hòa thuộc Liên Xô (cũ) cũng như nhân dân Việt Nam và nhân loại tiến bộ nói chung, kỷ niệm 96 năm Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại (7/11/1917 - 7/11/2013). Chủ nghĩa xã hội đã tồn tại 74 năm tại nước Nga (1917 - 1991) và Liên Xô tan rã đã 22 năm (1991 - 2013). Người Nga nói riêng, nhân loại tiến bộ nói chung, còn phải tiếp tục nghiên cứu lý giải một cách cặn kẽ và có sức thuyết phục về những vấn đề liên quan đến sự tan rã của Liên Xô. 
 
Sau chừng ấy thời gian, cho phép chúng ta khái quát ba vấn đề lớn sau: 
 
- Một là, từ Cách mạng tháng Mười Nga đến khi Liên Xô tan rã (1917 - 1991) có thể phân kỳ như sau: 1. Thế hệ cách mạng đầu tiên do Lênin lãnh đạo đã đưa nước Nga Xô viết non trẻ vượt qua thử thách “ngàn cân treo sợi tóc” 1917 - 1920 để tồn tại và phát triển; 2. Thế hệ lãnh đạo thứ hai do Stalin lãnh đạo đã tiêu diệt Chủ nghĩa phát xít Đức - Nhật - Ý và đưa Liên Xô trở thành cường quốc thế giới; 3; Thế hệ lãnh đạo thứ ba ở Liên Xô từ Khơrusốp đến Bregiơnép là những người đã tham gia Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941 - 1945) và họ đã đưa Liên Xô trở thành cường quốc hàng đầu thế giới; 4. Thế hệ lãnh đạo thứ tư với hạt nhân là Góocbachop, là những người sinh ra trong thời kỳ chiến tranh vệ quốc vĩ đại và chưa nếm trải thử thách của chiến tranh. 
 
Chính thế hệ lãnh đạo thứ tư đã làm cho Đảng CSLX mất quyền lãnh đạo, làm cho Liên Xô tan rã. 
 
- Hai là, thế hệ lãnh đạo thứ tư ở Liên Xô với Góocbachop là hạt nhân đã nắm trong tay mọi quyền lực và mọi nguồn lực của đất nước, nhưng họ không thuận theo lòng dân, không được dân ủng hộ nên đánh mất toàn bộ cơ đồ sự nghiệp và bị lịch sử vứt vào sọt rác. 
 
Hóa ra, việc thâu tóm được mọi quyền lực và mọi nguồn lực quốc gia không khó bằng nắm được lòng dân. Những ai không nắm được lòng dân thì họ đã thất bại ngay khi đang nắm quyền lực. 
 
- Ba là, các đảng cộng sản đang cầm quyền và chưa cầm quyền cần rút ra bài học từ thất bại của Đảng CSLX, từ sự tan rã của Liên Xô để vượt qua chính mình vì hạnh phúc của nhân dân và sự hưng thịnh của đất nước. 
 
Sai lầm và khuyết điểm rất khó tránh, nhưng không thực sự nguy hiểm. Điều nguy hiểm nhất là không dám thừa nhận sai lầm, khuyết điểm, đặc biệt là không có quyết tâm chính trị để tránh sai lầm, khắc phục khuyết điểm.
 
Theo Lê Văn Cương (Nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược Bộ Công an)
Nguồn: Dantri/ Theo Báo Nghệ An

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sự thật vừa đáng sợ vừa đáng ghét!

Giải huyền thoại thành Cổ Loa


mychau
Phút cuối của một vương triều










Chu Mộng Long – Bài viết là kết quả của một sự trải nghiệm – trải nghiệm lịch sử theo tinh thần giải huyền và lí thuyết diễn ngôn.
Huyền thoại cũng như mọi diễn ngôn bao giờ cũng tồn tại 2 mặt: nổi và chìm, phần bề mặt hình thức và chiều sâu bản chất của nó. Những đầu óc mộng mơ thường tin huyền thoại ở tính hợp lí của hình thức mà quên bản chất của nó là những mảnh ghép của sự thực. Chẳng hạn, người ta ghép nhà Ân ở xa lơ xa lắc bên kia sông Hoàng Hà trong quan hệ với Hùng Vương ở tận nước Nam để dựng lên chuyện Thánh Gióng; Trọng Thủy, người nước Tần, không dưng biến thành con trai của Triệu Đà trong thời “hòa tập Bách Việt” để sản sinh ra chuyện đánh cắp nỏ thần…. Kết quả là sự thực bị che lấp bởi tưởng tượng mông lung từ một hình thức huyền hồ, méo mó và xuyên tạc.
Có một nghịch lí là, đến khi các huyền thoại bị giải huyền để phơi trần sự thực, dễ bị quy chụp ngược là… làm méo mó, xuyên tạc sự thực.
Với câu chuyện thành Cổ Loa, tôi không tin có nhân vật Mỵ Châu nào trong sự thực. Mỵ Châu chỉ là một hư cấu trong chiến lược diễn ngôn để biện minh cho sự sụp đổ và mất nước của triều đại An Dương Vương.
Theo tôi, huyền thoại không hẳn sinh ra từ dân gian, đặc biệt là những huyền thoại có liên quan đến ngợi ca những nhân vật anh hùng. Vì sao phụ nữ và những người thấp bé không có vị thế nào trong anh hùng ca, theo chất vấn của F. Engels? [1]. Là bởi vì, anh hùng ca ra đời với mục đích ngợi ca kẻ mạnh, kẻ chiến thắng, bắt đầu từ thời đại phụ quyền. Ngay cả khi thất bại để trở thành bi kịch, người anh hùng vẫn thống trị trong các vở bi kịch với vẻ đẹp phi thường.

Rõ ràng huyền thoại ra đời từ miệng kẻ thống trị, một thứ diễn ngôn được hợp thức hóa bởi quyền lực. Kẻ nắm quyền lực đã bịa ra hàng loạt những huyền thoại nhằm tự ngợi ca sự thắng lợi lẫn thất bại của mình, chuyển cái hữu hạn nhất thời thành vạn tuế. Dân gian chỉ là công cụ cho sự lưu giữ và truyền bá tư tưởng của hệ tư tưởng thống trị.
Quay lại huyền thoại về thành Cổ Loa, tin chắc là đặc sản của xứ Giao Chỉ cổ xưa, đã được xào nấu bởi tinh thần tự tôn của thế hệ thống trị sau thời Bắc thuộc lần thứ nhất. Trong khi giương cao ngọn cờ độc lập, một điều dân gian dễ chấp nhận để lưu truyền, huyền thoại này đã hư cấu nên nhân vật Mỵ Châu để che lấp một sự thực bất lợi cho giới cầm quyền: sự mắc lừa ngu xuẩn bởi một âm mưu hơn là câu chuyện hòa hiếu thông qua một cuộc hôn nhân. Đó là, trong quan hệ giữa Bắc triều và Nam triều có cái gì na ná như các hiệp định kí kết trao đổi, mua bán mà bao bọc bên ngoài là sự hòa hiếu đầu môi chót lưỡi, thậm chí lấy cái “gen hòa hiếu” ra thề trước thần linh!
Oan hồn Mỵ Châu hay oan hồn dân đen?
Oan hồn Mỵ Châu hay oan hồn dân đen?
Huyền thoại thành Cổ Loa là bài học về sự cảnh giác. Nhưng tại sao lại phải cảnh giác với phụ nữ, trong khi phụ nữ thường chỉ là công cụ hiến tặng trong các cuộc chơi chính trị, mà vị thế của họ không khác dân đen, dù là con vua? Mấu chốt đáng nghi vấn nhất nằm ở đây.
Không phải ngẫu nhiên mà cả trăm huyền thoại như một, từ thần thoại Hy Lạp đến Kinh Cựu Ước, đều quy hết mọi tội lỗi cho đàn bà, rằng họ là nguyên nhân của chiến tranh và sự tàn phá. Không thể có cách giải thích nào khác hơn là chính nhân tố này mới có thể ngụy trang được tội lỗi của giới cầm quyền với bản chất muôn đời của nó là tranh chấp, cướp đoạt, chia chác quyền lợi, kể cả cướp đoạt phụ nữ như là cướp đoạt tài sản vật chất.
Huyền thoại mất cắp nỏ thần bề ngoài là sự vô ý của Mỵ Châu, nhưng bên trong là sự cố ý của kẻ cầm quyền. Dù bị cắt bỏ ra khỏi bề mặt ngôn từ của diễn ngôn để đánh tráo sang sự cả tin của Mỵ Châu trong ứng xử với chồng, nhưng dấu tích của sự cố ý vẫn còn nguyên: hai bên vương triều đã kết tình môi răng sau khi đã trải qua những cuộc tranh chấp đẫm máu. Và để có được cái tình môi răng ấy, cái gì được mang ra thế chấp bị giấu kín bên trong cuộc hôn nhân vờ vịt dễ dãi kia?
Không thể là cái gì khác, chiếc nỏ thần, cái được mang ra trao đổi trong cuộc chơi hòa hiếu ấy thành biểu trưng cho toàn bộ gia sản của dân tộc, ngang hàng với lãnh thổ. Bởi lẽ, nó là cái đã biểu đạt rõ nhất trong cuộc xung đột, tranh chấp máu xương giữa Nam – Bắc triều. Mỵ Châu thành con bài tẩy được bịa/ lật ra để bào chữa, che đậy, đúng hơn là tạo cớ đổ thừa cho người khác.
Nước mất nhà tan, cơ đồ rơi vào tay giặc, nhưng tội nhân lịch sử lại là người phụ nữ hay đám dân thấp cổ bé họng. Trong khi kẻ cầm quyền lại mang báu vật lâu nay vơ vét được từ xương máu của dân lên đường tẩu thoát.
Mỵ Châu là một hình tượng dân oan sau ngàn năm vẫn chưa rửa sạch. Chính Tố Hữu viết: Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu/ Trái tim lầm chỗ để trên đầu/ Nỏ thần vô ý trao tay giặc/ Nên nỗi cơ đồ đắm bể sâu. Trong khi An Dương Vương với bộ ngọc sừng tê trên tay, báu vật của quốc gia, trốn chạy ra biển để tiếp tục cuộc sống vương giả? Bộ ngọc sừng tê ấy chính là phần chìm ẩn sau chiếc nỏ thần, đích thị là chiếc ghế vương quyền được mang ra thế chấp lãnh thổ, bị lộ diện ở cuối diễn ngôn khi nó được mang ra làm biểu tượng bất tử, sáng chói cho kẻ cầm quyền!
Huyền thoại thành cú lừa xuyên thế kỉ. Giới quyền lực tham lam lừa nhau và dùng huyền thoại để lừa dân. Chính mặc cảm bị trị đã biến thành mặc cảm tội lỗi trong lòng dân và từ đó, một cách vô thức, một tập thể rộng lớn trong dân gian đã chấp nhận huyền thoại như là sản phẩm của mình để tự răn dạy mình. Thế giới mộng mơ trong huyền thoại tồn tại như một ác mộng.
Thế mới biết dân gian muôn đời vẫn bị mắc lừa khi tiếp tay lưu truyền cái câu chuyện tình lãng mạn của đôi trai gái kia làm nhòe mờ đi những sự thật ẩn giấu bên trong quan hệ giữa hai kẻ cầm đầu.
Tất nhiên, khi tạo tác ra huyền thoại về bài học cảnh giác, có một bài học vĩ đại hay cái giá phải trả rất đắt đằng sau câu chuyện mà kẻ thống trị không bao giờ dám chạm đến: mất cả giang sơn thì vương quyền cũng mất theo chứ không phải ngược lại. Bộ ngọc sừng tê kia dù là ngọc thật cũng chỉ còn là đồ rởm khi nó hết chức năng lịch sử!
Huyền thoại thành Cổ Loa là màn chót lấp lửng của vở bi kịch đầy sắc màu lừa dối, phía sau sự ru ngủ cho một thất bại nhục nhã là một màn kịch khác rất hài hước bắt đầu lộ diện, màn hài kịch cười ra nước mắt. Vì sao? Vì quyền lực cố tình kéo dài lê thê bằng cách đánh bóng thứ đã mục rữa thảm hại thành ngọc! (K. Marx) [2].
Phần nổi và phần chìm của diễn ngôn thành Cổ Loa
Phần nổi và phần chìm của diễn ngôn thành Cổ Loa
—————-

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mời đọc và cùng si ngẫm!

Toàn văn Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc

Tuổi Trẻ/Quỳnh Trung
Tổng Bí thư Đảng, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (trái) và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu trước thanh niên hai nước Việt - Trung sáng 6-11 - Ảnh: Việt Dũng
TTO – Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công bố toàn văn Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc nhân chuyến thăm cấp nhà nước đến Việt Nam của Tổng Bí thư Đảng, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.
Tuổi Trẻ xin giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung này:
1. Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trương Tấn Sang, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình tiến hành chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 5 đến ngày 6-11-2015.
Trong thời gian chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đã có các cuộc hội đàm với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, hội kiến với Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.
Trong không khí hữu nghị, chân thành, thẳng thắn, lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước đã đi sâu trao đổi ý kiến và đạt được nhận thức chung quan trọng về việc làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hợp tác giữa hai Đảng, hai nước, về các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm.
Hai bên nhất trí cho rằng chuyến thăm đã thành công tốt đẹp, góp phần quan trọng vào việc củng cố tình hữu nghị truyền thống, làm sâu sắc quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung, thúc đẩy hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới.
2. Hai bên vui mừng trước những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của mỗi nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với tình hình mỗi nước; nhất trí tăng cường giao lưu và tham khảo kinh nghiệm của nhau, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới của Việt Nam và sự nghiệp cải cách, mở cửa của Trung Quốc không ngừng phát triển, tạo sức sống mới cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của mỗi nước.
Phía Việt Nam chân thành chúc và tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhân dân Trung Quốc nhất định sẽ thúc đẩy hài hòa xây dựng toàn diện xã hội khá giả, đi sâu cải cách toàn diện, quản lý đất nước theo pháp luật toàn diện, quản lý đảng nghiêm minh toàn diện, thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng thành công nhà nước hiện đại xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, dân chủ, văn minh, hài hòa.
Phía Trung Quốc chân thành chúc Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII vào đầu năm 2016; tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam sẽ thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra, xây dựng Việt Nam trở thành nước xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
3. Hai bên nhìn lại chặng đường phát triển quan hệ hai Đảng, hai nước trong 65 năm qua kể từ khi Việt Nam – Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao, nhất trí cho rằng tình hữu nghị Việt – Trung do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Mao Trạch Đông cùng các nhà lãnh đạo tiền bối đích thân xây dựng và dày công vun đắp là tài sản chung quý báu của nhân dân hai nước cần được gìn giữ, kế thừa và phát huy;
Thực hiện tốt phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”;
Nắm vững phương hướng đúng đắn của tình hữu nghị Việt – Trung, tăng cường trao đổi chiến lược, củng cố tin cậy chính trị, thúc đẩy hợp tác các lĩnh vực trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, cùng có lợi, kiểm soát tốt và giải quyết thỏa đáng bất đồng, thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung phát triển lành mạnh, ổn định.
4. Hai bên cho rằng, việc duy trì tiếp xúc cấp cao thường xuyên giữa hai Đảng, hai nước có vai trò quan trọng trong việc tăng cường tin cậy chính trị, thúc đẩy phát triển quan hệ song phương; nhất trí duy trì trao đổi cấp cao thông qua các hình thức linh hoạt, đa dạng như thăm lẫn nhau, cử Đặc phái viên, điện thoại qua đường dây nóng, gặp gỡ thường niên và gặp gỡ bên lề các diễn đàn đa phương để kịp thời trao đổi ý kiến về các vấn đề quan trọng trong quan hệ hai Đảng, hai nước.
5. Hai bên cho rằng, Việt Nam và Trung Quốc đều đang trong thời kỳ phát triển kinh tế – xã hội quan trọng, hai bên coi sự phát triển của nước này là cơ hội phát triển cho nước kia, nhất trí phát huy tốt vai trò điều phối tổng thể của Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt – Trung, tập trung thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực dưới đây:
(i) Thực hiện tốt Kế hoạch hợp tác giữa hai Đảng và làm sâu sắc các hoạt động giao lưu hợp tác giữa các tổ chức Đảng ở Trung ương và địa phương, nhất là các địa phương có chung đường biên giới; tiếp tục tổ chức tốt Hội thảo lý luận, thực hiện tốt Kế hoạch hợp tác đào tạo cán bộ hai Đảng giai đoạn 2016 – 2020 được ký trong chuyến thăm này.
Tích cực thúc đẩy giao lưu hợp tác hữu nghị giữa Quốc hội Việt Nam với Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc Trung Quốc, giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân toàn quốc Trung Quốc; thúc đẩy giao lưu hữu nghị giữa nhân dân hai nước.
(ii) Thực hiện tốt Nghị định thư hợp tác giữa Bộ Ngoại giao hai nước, duy trì trao đổi thường xuyên giữa lãnh đạo hai Bộ, tiếp tục tổ chức Tham vấn Ngoại giao thường niên, tăng cường giao lưu giữa các Vụ/Cục tương ứng, thực hiện tốt công tác bồi dưỡng cán bộ giữa hai Bộ.
Phía Việt Nam sẵn sàng tạo thuận lợi để Trung Quốc thành lập Tổng Lãnh sự quán tại Đà Nẵng, Việt Nam.
(iii) Duy trì trao đổi cấp cao giữa hai quân đội, sử dụng tốt cơ chế Đối thoại chiến lược Quốc phòng, Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt – Trung và đường dây thông tin điện thoại trực tiếp giữa hai Bộ Quốc phòng; tăng cường giao lưu hợp tác giữa quân đội hai nước trên các lĩnh vực như giao lưu hữu nghị biên phòng, đào tạo cán bộ, nghiên cứu học thuật quân sự, tuần tra chung trên Vịnh Bắc Bộ và tàu hải quân thăm lẫn nhau; đi sâu trao đổi kinh nghiệm về hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc và công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội; tăng cường hợp tác thực thi pháp luật trên biển giữa Cảnh sát biển hai nước, cùng nhau duy trì hòa bình, ổn định trong vùng biển Vịnh Bắc Bộ, thúc đẩy ký kết Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam với Cục Cảnh sát biển Trunng Quốc.
Đi sâu hợp tác trong lĩnh vực an ninh và thực thi pháp luật, tiếp tục tổ chức tốt Hội nghị hợp tác phòng, chống tội phạm giữa hai Bộ Công an và Đối thoại an ninh chiến lược cấp Thứ trưởng giữa Bộ Công an Việt Nam và Bộ An ninh Quốc gia Trung Quốc; tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực như chống khủng bố, chống tội phạm ma túy, tội phạm lừa đảo qua mạng viễn thông, quản lý xuất nhập cảnh, quản lý biên giới, an ninh mạng, trao đổi kinh nghiệm về bảo đảm an ninh tại mỗi nước, phối hợp điều tra và truy bắt tội phạm bỏ trốn, ngăn chặn lao động bất hợp pháp…
(iv) Tăng cường kết nối chiến lược phát triển giữa hai nước; thúc đẩy kết nối giữa khuôn khổ “hai hành lang, một vành đai” với sáng kiến “một vành đai, một con đường”; tăng cường hợp tác về năng lực sản xuất trên các lĩnh vực như vật liệu xây dựng, công nghiệp phụ trợ, máy móc thiết bị, điện lực, năng lượng tái tạo…
Khẩn trương thành lập Nhóm công tác, tích cực bàn bạc, ký kết Phương án tổng thể chung xây dựng Khu hợp tác kinh tế qua biên giới, thúc đẩy việc xây dựng và tích cực thu hút đầu tư đối với hai Khu Công nghiệp Long Giang (Tiền Giang) và An Dương (Hải Phòng) ở Việt Nam, đôn đốc và chỉ đạo doanh nghiệp hai nước thực hiện tốt các dự án hợp tác như gang thép và phân đạm do doanh nghiệp Trung Quốc nhận thầu xây dựng tại Việt Nam.
Sử dụng hiệu quả cơ chế Ủy ban hợp tác kinh tế – thương mại Việt – Trung, tích cực nghiên cứu ký tiếp “Quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế – thương mại Việt – Trung”, khẩn trương sửa đổi “Hiệp định thương mại biên giới Việt – Trung”, thực hiện thương mại song phương phát triển cân bằng, vững chắc và bền vững, phấn đấu thực hiện mục tiêu kim ngạch thương mại song phương đạt 100 tỷ USD vào năm 2017.
Tăng cường hợp tác trong khuôn khổ “Bản ghi nhớ hợp tác trong lĩnh vực thương mại hàng nông sản”; khuyến khích các doanh nghiệp hai bên mở rộng hợp tác thương mại đối với các mặt hàng nông sản, hoan nghênh các cơ quan chức năng và địa phương liên quan của hai nước trao đổi thành lập Cơ quan xúc tiến thương mại.
Tăng cường vai trò Nhóm công tác hợp tác về cơ sở hạ tầng và Nhóm công tác về hợp tác tiền tệ, thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực liên quan không ngừng có tiến triển tích cực.
Thực hiện tốt dự án Đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông; khẩn trương lập quy hoạch tuyến đường sắt tốc độ cao Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, thúc đẩy hợp tác kết nối cơ sở hạ tầng như tuyến đường bộ cao tốc Móng Cái – Vân Đồn.
Đi sâu hợp tác hải quan, cùng chống các hành vi buôn lậu qua biên giới, tiếp tục tìm kiếm các biện pháp hợp tác thúc đẩy tiện lợi hóa thông quan, tăng cường xây dựng và quản lý cơ sở hạ tầng, nâng cao mức độ hợp tác mở cửa khu vực cửa khẩu biên giới giữa hai nước.
(v) Mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khoa học công nghệ, giáo dục, văn hóa, du lịch và báo chí… Sử dụng tốt cơ chế Ủy ban liên hợp về hợp tác khoa học công nghệ giữa hai nước, tích cực thúc đẩy hợp tác về chuyển giao công nghệ, giao lưu giữa các nhà khoa học, trao đổi về việc xây dựng Phòng thí nghiệm chung.
Phấn đấu hoàn thành việc xây dựng và đưa vào sử dụng Cung Hữu nghị Việt – Trung vào năm 2017, sớm thành lập Trung tâm Văn hóa nước này tại nước kia, vận hành có hiệu quả Học viện Khổng Tử tại Đại học Hà Nội.
Tăng cường giao lưu báo chí hai nước, gia tăng mức độ tuyên truyền về tình hữu nghị Việt – Trung. Tiếp tục tổ chức tốt các hoạt động như Gặp gỡ hữu nghị thanh niên Việt – Trung, Diễn đàn Nhân dân, tổ chức Liên hoan thanh niên Việt – Trung lần thứ 3 tại Việt Nam vào năm 2016.
6. Tiếp tục phát huy tốt vai trò của Ủy ban liên hợp về biên giới trên đất liền Việt – Trung, thực hiện tốt “Hiệp định về tàu thuyền đi lại tại khu vực tàu thuyền đi lại tự do ở cửa sông Bắc Luân” và “Hiệp định hợp tác bảo vệ và khai thác tài nguyên du lịch thác Bản Giốc” được ký kết trong chuyến thăm này; tiến hành tổng kết tình hình 05 năm thực hiện 03 văn kiện về quản lý biên giới trên đất liền giữa hai nước.
Tăng cường hợp tác giữa các tỉnh/khu biên giới, thúc đẩy sự phát triển của khu vực biên giới hai nước.
7. Hai bên đã trao đổi chân thành, thẳng thắn về vấn đề trên biển, nhấn mạnh nghiêm túc tuân thủ những nhận thức chung quan trọng đạt được giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước; nghiêm túc thực hiện “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc”, sử dụng tốt cơ chế đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt – Trung, kiên trì thông qua hiệp thương và đàm phán hữu nghị, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được, tích cực bàn bạc các giải pháp mang tính quá độ không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của mỗi bên, bao gồm tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển.
Hai bên tuyên bố khởi động hoạt động khảo sát chung trên thực địa tại khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ vào trung tuần tháng 12 năm 2015, cho rằng đây là bước khởi đầu quan trọng cho việc hai bên triển khai hợp tác trên biển; thúc đẩy vững chắc đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này;
Nhất trí gia tăng cường độ đàm phán Nhóm công tác cấp chuyên viên về vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, tiếp tục thúc đẩy công việc của Nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm, tuyên bố khởi động dự án hợp tác nghiên cứu so sánh trầm tích thời kỳ Holocenne khu vực châu thổ sông Hồng và châu thổ sông Trường Giang.
Hai bên nhất trí cùng nhau kiểm soát tốt bất đồng trên biển, thực hiện đầy đủ và có hiệu quả “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), thúc đẩy sớm đạt được “Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông” (COC) trên cơ sở hiệp thương thống nhất, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp; xử lý kịp thời, thỏa đáng vấn đề nảy sinh, duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông và quan hệ Việt – Trung.
8. Phía Việt Nam khẳng định kiên trì chính sách một Trung Quốc, ủng hộ quan hệ hai bờ phát triển hòa bình và sự nghiệp lớn thống nhất Trung Quốc, kiên quyết phản đối hoạt động chia rẽ “Đài Loan độc lập” dưới mọi hình thức.
Việt Nam không phát triển bất cứ quan hệ chính thức nào với Đài Loan. Phía Trung Quốc bày tỏ hoan nghênh lập trường trên của Việt Nam.
9. Hai bên nhất trí tiếp tục tăng cường phối hợp trong khuôn khổ đa phương như Liên hợp quốc, Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) – Trung Quốc; cùng duy trì, bảo vệ và thúc đẩy hòa bình, phồn vinh và phát triển của thế giới. Phía Trung Quốc ủng hộ Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị Cấp cao APEC 2017.
10. Trong thời gian chuyến thăm, hai bên đã ký các văn kiện hợp tác: “Kế hoạch hợp tác đào tạo cán bộ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 2016-2020”, “Hiệp định về tàu thuyền đi lại tại khu vực tàu thuyền đi lại tự do ở cửa sông Bắc Luân giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”, “Hiệp định hợp tác bảo vệ và khai thác tài nguyên du lịch thác Bản Giốc giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”, “Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về việc thành lập Trung tâm Văn hóa nước này tại nước kia”, “Công hàm trao đổi giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về việc khả thi tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng”, “Bản ghi nhớ về việc thúc đẩy hợp tác năng lực sản xuất giữa Bộ Công Thương nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”, “Bản ghi nhớ về việc ưu hóa thiết kế dự án Cung Hữu nghị Việt – Trung giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Thương mại nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”, “Bản thỏa thuận giữa Tỉnh ủy Quảng Ninh, Đảng Cộng sản Việt Nam với Khu ủy Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Đảng Cộng sản Trung Quốc về thiết lập giao lưu hữu nghị giữa các tổ chức cơ sở Đảng địa phương”, “Thỏa thuận triển khai giao lưu hữu nghị Đảng bộ địa phương giữa Tỉnh ủy Lào Cai, Đảng Cộng sản Việt Nam và Tỉnh ủy Vân Nam, Đảng Cộng sản Trung Quốc”…
11. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình chân thành cảm ơn sự đón tiếp trọng thị, thân tình và hữu nghị của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Đảng Cộng sản, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nếu biết họ dối trá mà vẫn tin họ thì lỗi là của chúng ta chứ không phải của họ Tập.


Bau X Trinh

Định không nói thêm về vụ họ Tập sang thăm xứ An-nam, dưng thấy cần-lao mạng vẫn ồn ào nên tôi lại bi-bô thêm vài lời nữa. Thấy mọi người chửi rủa họ Tập là lá mặt lá trái, là dối trá,... khi vừa nói rất ngọt, rất "thắm tình hữu nghị" ở xứ ta, thế mà chỉ hơn ngày sau ở xứ Sing lại quay ngoắt 180 độ khẳng định: "Các đảo ở Biển Đông là của Trung Quốc từ thời cổ đại". Tôi cho rằng, những người chửi rủa họ Tập rất cảm tính và thiếu am hiểu về giới cầm quyền Trung hoa (kể từ cổ đại).
Tại sao tôi lại nhận định như thế? Bất cứ một ai đã từng đọc sử Tàu, truyện Tàu, xem phim Tàu thì đều biết rằng dối trá, lừa lọc, gian xảo, độc ác,... là đặc tính của chính trị xứ Tàu. Chắc phần lớn cần-lao xứ An-nam không lạ gì với những câu chuyện của xứ Tàu, từ Tam Hoàng Ngũ Đế đến nhà Thanh, ví dụ như các truyện: Đông Chu liệt quốc, Tam quốc diễn nghĩa, Hán Sở tranh hùng,...
Những kẻ cầm quyền mà sử sách ghi lại, hầu hết là gian hùng. Có gian hùng mới cầm được quyền. Để đạt mục đích giữ vững quyền lực và mở rộng lãnh thổ, họ sẽ sử dụng tất cả các thủ đoạn, mưu kế để triệt hạ đối thủ trong nước và quốc gia láng giềng (thậm chí cả bố con, anh em ruột). Những câu cổ ngữ đã được lưu truyền từ rất lâu là "Bất độc bất anh hùng" đã quá quen thuộc với hậu thế và là kim chỉ nam cho những kẻ tham gia vào trò chơi quyền lực.
Trong sử Tàu, việc dối trá, lừa lọc,... là điều hiển nhiên và những kẻ cầm quyền phải chấp nhận. Giỏi hơn người thì lừa được người, kém hơn người thì bị người lừa lại, được làm vua thua làm giặc,... Những lý tưởng tốt đẹp chỉ là sự nhồi nhét những giáo thuyết mỹ miều vào đầu óc non nớt của cần lao thông qua đám Nho giáo giỏi ngụy biện để cai trị họ mà thôi.

Việc họ Tập hôm nay (ở đây) thì nói thế này, còn ngày mai (ở kia) lại nói thế khác là chuyện rất bình thường. Kêu gọi và mong chờ sự thẳng thắn, trung thực của họ Tập là điều viễn vông. Họ Tập phục vụ cho chính thể ông ấy, cho dân tộc ông ấy chứ không có nghĩa vụ, có ham muốn trở thành người tốt, người giữ chữ tín đối với quốc gia khác.
Thế nên đừng chửi họ Tập, mà hãy xem lại bản thân chúng ta. Nếu biết họ dối trá mà vẫn tin họ thì lỗi là của chúng ta chứ không phải của họ Tập. Nếu bị lừa thì chỉ tự trách rằng, chúng ta quá kém, quá khờ dại mà thôi.
Nói như kiểu tỉa tót của tiền nhân mà rằng: "Nghe lời họ Tập thì bán thóc giống đi mà ăn". Đơn giản là thế!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bài học của cuộc vặn mình sinh nở của Miến Điện hôm nay



"The only real prison is fear, and the only real freedom is freedom from fear.
Chỉ có sự sợ hãi mới là nhà tù thực sự, và chỉ có tự do thực sự khi giải thoát được nỗi lo sợ"
Aung San Suu Kyi
Hôm nay, cả nước Miến Điện đi bầu cử tự do trong một cuộc bầu cử mà có tới 90 đảng phái tham gia tranh cử. Nhưng 2 đảng lớn ở Miến Điện sẽ tranh nhau trong cuộc bầu cử này là đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ - NLDP: National League for Democracy Party - của bà Aung San Sun Kyi, và đảng Liên minh Đoàn kết và Phát triển - Union Solidarity and Development Party - của nhóm quân đội cầm quyền do tổng thống đương nhiệm Thein Sein lập ra.
Gọi là tự do bầu cử vì, 25 năm trước -1990 - cũng một cuộc bầu cử đa đảng như hôm nay, có quan sát viên quốc tế và các nhà báo, kết quả bà Aung San Suu Kyi đã chiến thắng, nhưng các tướng lĩnh đã thay đổi kết quả, và sau đó là suốt 20 năm bà bị quản thúc quản chế tại nhà, ngay cả chồng bà qua đời tại Luân Đôn trong một bệnh ung thư, bà cũng không dám đi lo tang cho chồng, vì sợ chính phủ độc tài Than Shwa không cho phép bà quay lại Miến Điện! Năm 2010, cuộc bầu cử cũng đã một lần nữa mà đảng của ông Thein Sein đã bị cáo buộc gian lận.
Cuộc bầu cứ hôm nay, có đến hơn 10 ngàn quan sát viên quốc tế tham gia kiểm phiếu. Với 40 ngàn cảnh sát tham gia gìn giữ trật tự cho cuộc bỏ phiếu. 
Dù tổng thống Thein Sein tuyên bố rằng, kết quả cuộc bầu cử sẽ được công bố công khai minh bạch, không có tình trạng gian lận như năm 1990 lập lại, nhưng những người lớn tuổi đã trả qua 50 năm độc tài ở Miến Điện vẫn lo ngại rằng: "Tôi không chắc rằng, liệu họ có chấp nhận kết quả bầu cử hay không?" - theo ông Khin May Oo, 73 tuổi bỏ phiếu cho đảng của bà Aung San Suu Kyi, nói với phóng viên Reuter.
Mặc dù thế, vẫn có người hy vọng rằng, thế giới bây giờ không thể gian lận được. Nhưng dù sao đi nữa, thì ở Miến Điện hôm nay đã có ít nhất 2/3 tự do đầu phiếu. Và các tướng lĩnh của chính quyền Miến Điện muốn trao quyền điều hành dân sự cho đảng thắng cử, vẫn giữ lại quyền lực quân đội để bảo vệ biên cương, và cảnh sát để giữ nội an.

Nhưng hiến pháp Miến Điện không cho phép bà Aung San Suu Kyi làm tổng thống. Nhưng nếu, đảng của bà muốn thắng trong cuộc tranh cử này thì đảng của bà có thể cử người đứng ra nhận chức tổng thống. Bà đã phát biểu trước tranh cử rằng, "Tôi sẽ là sức mạnh đằng sau tổng thống mới của đảng NLDP bất kể hiến pháp rất ngớ ngẩn do các nhà độc tài soạn ra".
Để có ngày bầu cử tự do hôm nay, Miến Điện đã được cải tổ từ năm 1990 sau thất bại của các tướng lĩnh độc tài. Họ tiếp tục đàn áp phong trào biểu tình, giam cầm và thủ tiêu những nhà tranh đấu, kể cả những nhà sư xuống đường. Và họ đã âm thầm thay đổi thể chế chính trị. Bắt đầu là xây dựng và dời đô từ Yangoon đến Nay Pyi Daw năm 2006, Tiếp đến là thả bà Aung San Suu Kyi tự do hoạt động chính trị vào ngày 13/11/2010. Sau đó một năm, ông Thein Sein tiếp tục cho tự do báo chí. Năm qua, ông thả toàn bộ tù nhân chính trị. Bây giờ là tự do bầu cử. Họ đã làm kinh ngạc cả thế giới, đến ông tổng thống Hoa Kỳ Obama cũng phải đến thăm 2 lần, và xóa cấm vận cho Miến Điện, trong khi đó, năm 2009, Miến Điện được xem là quốc gia độc tài thứ 2 toàn cầu và có nguy cơ sụp đổ chính trị cũng hàng thứ hai thế giới chỉ sau Lybia.

Cuộc oằn mình mang nặng đẻ đau nào cũng phải trả giá, nhưng cuộc cách mạng Áo Vàng của Miến Điện hoàn toàn không có sự trả giá nào. Một bài học dành cho bất kỳ quốc gia độc tài nào muốn chuyển đổi cần nghiên cứu.

Nhưng công lao lớn cho cuộc chuyển đổi không đổ máu ở Miến Điện trong 5 năm qua phải kể đến những trí thức Miến Điện trong nước kết hợp với trí thức tha hương tỵ nạn. Họ đã tạo ra một cầu nối trung gian làm việc hòa hợp, hòa giải dân tộc giữa chính quyền độc tài quân sự và các đảng phái đối lập vì tự do dân chủ. Hội ngị Diên Hồng của Miến Điện năm 2008 đã tạo một bước ngoặt lớn chuyển đổi chính trị hôm nay.

Sự góp ý và đóng góp của trí thức lưu vong và trong nước đã giúp nhà cầm quyền quân đội ở Miến Điện đã thay đổi hiến pháp vào ngày 10/5/2008 với 3 mục tiêu sáng tạo: "dân chủ, kỷ luật và hưng thịnh" - "discipline - flourishing - democracy". Hiến pháp 2008 đã là tiền đề để họ đổi tên nước thành Cộng hòa Liên bang Miến Điện, sau đó là hàng loạt cải cách chính trị đến không ngờ.

Bài học trung gian hòa giả của trí thức Miến Điện sẽ là bài mho5c trung gian hòa giải cho tình hình người Việt bị phân hóa thù hằn sau biến cố 30/4/1975, tại sao không?

Asia Clinic, 18h11' Chúa nhựt, 08/11/2015
Nguồn: Bshohai

Phần nhận xét hiển thị trên trang