Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2015

Năm nay 2015 không có mùa nước nổi

http://baomai.blogspot.com/


image
Cửu Long giang mở chín lần cửa rộng
Dòng sông dài dữ dội bản trường ca

Nguyên Sa

Mùa nước nổi ĐBSCL

Như nhịp điệu ngàn năm của con sông Mekong, hệ sinh thái vùng châu thổ sông Cửu Long được cân bằng một cách tự nhiên với "mùa nước nổi" và "mùa nước giựt".  Theo anh Dohamide Đỗ Hải Minh, một học giả gốc người Chăm, một cây bút quen thuộc của báo Bách Khoa trước 1975, sinh ra và lớn lên ở miệt Hậu Giang Châu Đốc rất am tường về hệ sinh thái của Đồng Bằng Sông Cửu Long, thì trong bao thập niên qua, người dân Miền Tây đã quen sống với nạn ngập lụt hàng năm, hay còn gọi là mùa nước nổi, như là một hiện tượng thiên nhiên đến đều đặn theo chu kỳ. [2]

Ngày xưa, cũng chỉ cách đây hơn 300 năm thôi, các thế hệ tiền nhân thời kỳ Nam Tiến, khi mới đến khai phá vùng ĐBSCL thường chọn sống lập nghiệp trên các khu đất cao hay còn gọi là “đất giồng” nên đến mùa nước nổi, cho dù những cánh đồng thẳng cánh cò bay biến thành biển nước mênh mông, các khu đất giồng này vẫn là vùng cư trú an toàn cho người dân và cả vô số các loài rắn. Sau này do dân số gia tăng, không còn đủ các khu "đất giồng" nên những di dân mới tới phải chọn định cư ngay trên những vùng đất mà họ có thể canh tác. Và để thích nghi, nhà cửa dọc hai bên sông rạch được cất theo kiểu nhà sàn, với chiều cao của các cây cột sàn được tính toán sao cho đến Mùa Nước Nổi, con nước đổ về không ngập lụt đến sàn nhà.

Mùa Nước Nổi hay còn gọi là Mùa Nước Lên thường rất hiền hoà khác hẳn với các mùa lũ lụt tàn phá dữ dội như ở miền Bắc hoặc miền Trung. Dấu hiệu "mùa nước nổi" tại vùng ĐBSCL chủ yếu là vào khoảng tháng tám Âm lịch [tháng 9 tháng 10 Dương lịch], thường được báo trước bằng những "giề" hay bè lục bình từ các cánh đồng trên đất Campuchia bị nước ngập, cuốn bật rễ nối đuôi nhau trôi theo dòng xuống đến phần đất Nam Việt Nam. [2]

Mực nước hai con sông Tiền sông Hậu trong "mùa nước nổi" có đặc tính dâng cao lên từ từ rồi tràn qua các bờ sông rạch, làm ngập các cánh đồng. Nước lũ có công dụng không chỉ rửa đất rửa phèn mà còn thêm lượng phù sa như một thứ phân bón thiên nhiên "trời cho" khiến đất đai thêm phần màu mỡ, biến ĐBSCL thành vựa lúa của cả nước và Việt Nam đã từng đứng thứ hai trên thế giới về xuất cảng lúa gạo, chỉ đứng sau Thái Lan. Trước đây vùng ĐBSCL còn có một loại lúa thiên nhiên có tên là lúa mù/ lúa sạ hay người Pháp gọi là lúa nổi/ riz flottant, có đặc tính "phóng ống" mọc rất nhanh theo mực nước dâng cao có khi đến 7, 8 mét, và khi đến mùa nước giựt thì thân cây lúa nằm rạp mình trên đất chờ gặt. Từ ngày có giống lúa Thần Nông/ HYV với năng xuất cao, lúa nổi không còn được nông dân quan tâm tới nữa.

Thông thường, đến "mùa nước nổi", người dân Miền Tây vẫn phải canh chừng đo mực nước lên từng giờ để phản ứng kịp thời trong trường hợp con nước vượt cao quá mức bình thường hơn các năm trước. Khi áp lực nước từ thượng nguồn bớt đi, thì mực nước liền đứng lại và rồi hạ xuống rất nhanh và giới bình dân gọi là “nước giựt”. Người ta nói nước giựt, vì mực nước hạ xuống trông thấy rõ từng giờ.

Cũng vẫn theo anh Dohamide thì hiện tượng nước nổi và nước giựt không diễn ra đồng đều cùng một lúc trên toàn vùng sông nước Cửu Long. Trên dòng nước cuồn cuộn chảy ra các cửa biển, hễ ở vùng Tân Châu, Châu Đốc nước giựt xuống thì vùng Cần Thơ, Vĩnh Long ở hạ lưu nước lại bắt đầu dâng lên, ngập tràn bờ, tràn đồng, rồi cũng lại hạ xuống, giống như hiện tượng xảy ra trong bình thông nhau. [2]

Cùng với con nước đỏ ngầu mang đẫm phù sa, là các loại cá lội theo vào ruộng đồng đẻ trứng, cho đến thời kỳ nước giựt thì loại nước cỏ vàng xậm từ trong các đồng ruộng chảy ra, cùng với vô số cá lúc nhúc từng đàn, nhất là loại cá linh, ùa theo nhau tràn vào các kinh rạch để ra sông lớn. Cho nên đến mùa nước giựt, chưa bận mùa cấy trồng, người nông dân đóng đáy bắt cá suốt dọc theo các kinh rạch này, có thời điểm trong mấy thập niên trước đây cá nhiều tới mức lưới không chịu nổi phải giở lên thả cho đi bớt; bằng không thì sẽ bị rách lưới. [Hình I]

Sinh hoạt trong Mùa Nước Nổi 2000. (Photo: Ngô Thế Vinh)
Sinh hoạt trong Mùa Nước Nổi 2000
Nhưng rồi hiện tượng cân bằng sinh thái tự nhiên đó hầu như không còn nữa. Và "mùa nước nổi" nếu chưa hoàn toàn biến mất thì cũng đã giảm rất nhiều cả về tần suất lẫn cường độ. Hiện tượng đó không phải do thiên tai mà là "nhân tai" một thứ thảm hoạ môi sinh/ ecological disaster do chính con người gây ra.

Năm nay không có mùa nước nổi

Mới đây thôi, từ eMail một người bạn gửi cho, khi anh ấy đọc thấy trên facebook của nhà văn Nguyễn Đình Bổn, ghi nhận năm nay không có "mùa nước nổi" khiến những ai từng theo dõi con sông Mekong không thể không quan tâm. Nguyễn Đình Bổn không phải gốc gác dân ĐBSCL mà sinh quán tại Quảng Nam, sau 1975 từ tuổi nhỏ 13 theo gia đình vào sống tại một vùng quê của Miền Tây ngót 20 năm và đã nảy sinh bao nhiêu tình cảm gắn bó với vùng đất mới này. Mới đây trên trang facebook cá nhân anh viết:

"Gần hết tháng 8 âm lịch, cậu em vợ lên chơi, hỏi nước có ngập không, lắc đầu. Vậy là năm nay miền Tây không có mùa nước nổi! Mưa giữa chiều. Nhớ một nơi không phải là quê hương nhưng thương như thương người thân thiết. Nhớ gần 40 năm trước, lần đầu biết mùa nước nổi là gì. Nước phù sa miệt Hậu Giang bỗng trong xanh, dòng chảy trên các kinh lững lờ, không có nước ròng. Và đủ loại cá tràn về, cá linh, cá thiểu, cá vồ... và đặc biệt là cá trê trắng, nấu canh chua bông súng hay bông so đũa ngon lạ lùng...Miền Tây còn đó nhưng môi trường đã quá nhiều thay đổi theo chiều hướng xấu. Hết Tàu đến Thái Lan, Lào, Miên thay nhau xây đập trên dòng Mekong. Và thực tế nghiệt ngã mất mùa nước nổi đã hiện tiền. Không có mùa nước nổi, miền Tây mất phân nửa bản sắc của mình, đáng sợ hơn không có lũ tràn về, ruộng đồng sẽ nhanh chóng bị nước biển xâm nhập, và vựa lúa sẽ còn không? "Hết trích dẫn.

image
Ngày hôm sau, người viết nhận được thêm một eMail của một bạn trẻ từ vùng Thất Sơn Châu Đốc cho biết: "mùa nước năm nay nhỏ đến thất thường", rồi anh ấy tự hỏi: "phải chăng các con đập thượng nguồn sông Mekong đang tích nước?"

Những gốc rễ 'nhân tai'

Cheezburger animated GIF

Từ Nạn Phá Rừng:

Những khu rừng mưa (rainforest) từ xa xưa vẫn mang chức năng điều hợp, giữ lại trong lòng đất một lượng nước mưa quan trọng từ thượng nguồn thì nay không còn nữa, khi cơn mưa đổ xuống thì không những nước mưa xói mòn làm trơ đất và nước mưa thì cứ chảy thẳng ra ngoài dòng sông, tức thời làm tăng khối lượng nước và trong ngắn hạn mực nước sông đột ngột dâng cao khi có mưa nhiều ở thượng nguồn.

Những năm gần đây do ảnh hưởng nạn phá rừng tự sát (suicidal deforestation) của các quốc gia lưu vực sông Mekong: của người Tàu trên Vân Nam, của người Lào người Campuchia ở vùng Hạ lưu Sông Mekong với hai đồng lõa dấu mặt là Thái Lan và Việt Nam, khiến cho người dân Việt nơi ĐBSCL càng thêm khốn khổ: tới mùa mưa lũ đổ về sớm hơn, nhanh hơn lại lớn hơn khiến nhà nông trở tay không kịp gây tổn hại nặng mùa màng và cả về nhân mạng. Và tiếp đến mùa khô do không còn những khu rừng mưa như những tấm bọt biển khổng lồ giữ nước nên hậu quả tất yếu là hạn hán.

image
Tin Reuters gửi đi từ Nam Vang, “Nhóm Môi Sinh Anh Global Witness tố cáo các nhà lãnh đạo quân sự Việt Nam đã dính líu đến vụ đốn rừng lậu đại quy mô, đe dọa hủy hoại các khu rừng cấm của Cam Bốt. Những cây gỗ quý bị đốn bừa bãi ấy được đưa qua ngả Gia Lai, Sông Bé để chuyển xuống cảng Quy Nhơn hay Sài Gòn trước khi xuất cảng.” Bản tin ấy viết tiếp, “Một vụ làm ăn buôn bán lớn lao như thế, bất chấp luật pháp phải là kết quả của sự tham ô và đồng lõa ở cấp chánh quyền cao nhất của hai nước.” Một tình huống tương tự không kém nguy hại cũng đã diễn ra trong các khu rừng mưa trên đất nước Lào. [3]

image
Đồng lõa phá rừng mưa, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã và đang trực tiếp “tự gây ra một thảm họa môi sinh (self-inflicted ecological disaster)” với hậu quả lâu dài không chỉ ở đồng bằng châu thổ mà trên khắp các ngả sông rạch và nguồn nước của cả một quốc gia.

Đến Những Hồ Chứa Đập Thuỷ Điện:

Với những hồ chứa khổng lồ từ chuỗi các con đập bậc thềm Vân Nam (Mekong Cascades) mà Trung Cộng đã và đang xây trên thượng nguồn sông MK, cộng thêm những con đập Lào và Campuchia đang xây thì "mùa nước nổi" ở ĐBSCL có thể rồi ra sẽ hoàn toàn biến mất.

image
Chức năng của những hồ chứa thủy điện khổng lồ, trên lý thuyết, là tích trữ nước trong mùa mưa lũ để sử dụng trong mùa khô.  Nhưng khi các hồ chứa ở thượng lưu tích nước thì lưu lượng lũ đổ về hạ nguồn sẽ ít hơn. Không còn lũ đổ về có nghĩa là không còn "mùa nước nổi". Với hậu quả là Biển Hồ Tonle Sap trên Campuchia sẽ không được làm đầy, và vào mùa khô nước từ Biển Hồ chảy về ĐBSCL ít đi và đồng thời với mực nước biển ngày một dâng cao (Sea Level Rise) thì nạn nhiễm mặn ngày càng gia tăng trầm trọng.

Để tự bào chữa cho các con đập thuỷ điện Vân Nam, các công trình sư thuỷ điện Trung Cộng đã lý luận rằng các hồ chứa đập thuỷ điện ở thượng lưu mang chức năng điều hoà dòng chảy con sông Mekong: giữ nước trong Mùa Lũ làm giảm lũ lụt hạ nguồn và rồi trong mùa khô cũng vẫn những con đập ấy xả nước xuống hạ lưu nhiều hơn lưu lượng tự nhiên do có sẵn lượng nước ở những hồ chứa tích từ mùa lũ năm trước, nhưng hiện thực thì không đơn giản như vậy.

image
Bởi vì chính những con đập thuỷ điện thượng nguồn đã phá huỷ chu kỳ điều hợp thiên nhiên vô cùng kỳ diệu của con sông Mekong. Khi mà các hồ thuỷ điện ngăn chặn nguồn nước lũ trong Mùa Mưa từ thượng nguồn cũng chính là nguyên nhân triệt tiêu "mùa nước nổi" nơi ĐBSCL. Để rồi sang Mùa Khô, nguồn nước ấy lại bị chính Trung Quốc, Thái Lan, Lào và Campuchia cùng chuyển dòng (diversion) lấy nước từ con sông Mekong cho nhu cầu nông nghiệp nên Cửu Long càng thêm cạn dòng. Nhà nông học Võ Tòng Xuân đã từng ghi nhận:

"Chúng tôi đã chứng kiến những cánh đồng lúa lan rộng trong mùa khô trên khắp các vùng Đông Bắc Thái, Nam Lào và Cam Bốt, đã rút đi một lượng nước sông rất đáng kể trong vùng. Nhiều năm qua, nguồn nước cung cấp cho các vụ lúa mùa khô nơi ĐBSCL đã bị sút giảm nghiêm trọng, hậu quả là nạn nhiễm mặn tiến sâu vào đất liền xa tới 80 km và gây tổn hại cho mùa màng.” [26-10-2013]

http://baomai.blogspot.com/
Và như vậy, theo kỹ sư thuỷ học Đỗ Văn Tùng từ Canada thì ĐBSCL đã và đang chịu "tai họa kép" thiếu nước cả trong mùa lũ lẫn mùa khô! Cũng vẫn theo anh, thì bắt đầu từ giữa tháng 8/2015 mực nước ở Biển Hồ trụt khoảng 1.3 mét trong vòng 10 ngày là một điều bất thường. Đối với một Biển Hồ lớn như Tonle Sap thì ngay cả khi không có nước chảy vào hồ thì mực nước hồ cũng thay đổi rất ít vì chỉ bị mất nước do bốc hơi, nên phải kể thêm yếu tố chuyển dòng (diversion) lấy nước ra khỏi hồ tiêu tưới cho những cánh đồng lúa lan rộng trong mùa khô trên Campuchia, như vậy đã rút đi một lượng nước sông rất đáng kể nơi cuối nguồn là ĐBSCL.

Theo KS Phạm Phan Long của Viet Ecology Foundation, tình trạng mực nước Biển Hồ Tonle Sap, theo đồ biểu của Uỷ Hội Sông Mekong / MRC, thì hai tháng nay mực nước xuống thấp dưới cả mức thấp kỷ lục năm hạn hán 1992. Mưa ngày càng ít đi, mà hồ chứa đập thuỷ điện với trữ lượng ngày càng lớn hơn và nhiều thêm, hậu quả là Biển Hồ Tonle Sap tránh sao cho khỏi trơ đáy và ĐBSCL làm sao còn "mùa nước nổi". Tình trạng tai họa kép đã xảy ra vào cả hai Mùa Mưa lẫn Mùa Khô, và còn là "tai họa kép" của nhân tai lẫn thiên tai. [2] 

ĐBSCL và hội chứng luộc ếch

cartoon animated GIF
Trên báo chí truyền thông, người ta hay dùng "giai thoại luộc ếch" như một ẩn dụ (metaphor). Đó là nếu ta bỏ một con ếch vào nồi nước nóng, thì con ếch sẽ có phản ứng và nhẩy ngay ra khỏi nồi nước. Nhưng nếu ta đặt ếch vào một nồi nước lạnh, để ếch ngồi trong đó, rồi từ từ nâng nhiệt độ lên, một cách rất chậm thì con ếch vẫn thoải mái ngồi trong đó và không nhúc nhích, cho đến khi con ếch bị luộc chín từ lúc nào mà chính nó cũng không biết.

Trên thực tế, thì con ếch sẽ nhẩy ra khi nước bắt đầu nóng. Nhưng không sao, "Hội chứng Luộc ếch (Boiling Frog Syndrome)" vẫn có một ý nghĩa ẩn dụ rất hữu ích khi muốn nói tới nói tới tình trạng con người bị "mất khả năng phản ứng" đối với những mối hiểm nguy đến rất từ từ (gradual threats).

Al Gore, nguyên Phó Tổng thống Mỹ, đồng chia giải Nobel Hoà Bình 2007 do nỗ lực phổ biến kiến thức về biến đổi khí hậu do con người gây ra (man-made climate change) và xây dựng nền móng cho những biện pháp chống lại sự biến đổi ấy. Trong cuốn phim An Inconvenient Truth (2006) Al Gore cũng đã dùng ẩn dụ "con ếch luộc" để nói tới sự "vô minh" của con người trước hiện tượng "hâm nóng toàn cầu (global warming)" nhưng trong cuốn phim ấy, con ếch đã được cứu sống. [4]

warming animated GIF
Cũng không phải là quá đáng nếu đem ví Đồng Bằng Sông Cửu Long đang trở thành một "con ếch luộc", đang đi dần vào một "Cái Chết Tiệm Tiến của Thế Kỷ" với hơn 20 triệu cư dân thì vẫn cứ đang sống lặng lẽ trong đó, không có phản ứng gì trước một thảm hoạ đến rất từ từ và không thể thấy ngay một cách "nhãn tiền" cho đến khi tất cả một Vùng Châu Thổ cùng với một Nền Văn Minh Miệt Vườn đã bị chìm sâu trong một biển mặn.



Ngô Thế Vinh
California, Oct 12, 2015


Tham Khảo:
1/ Prek Kdam (Tonle Sap), Water Level. Mekong River Commission
http://ffw.mrcmekong.org/stations/pre.htm
2/ Đọc tác phẩm Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng. Đỗ Hải Minh, Tập san Thế Kỷ 21, Số 139, 11/ 2000.
3/ Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng, Ngô Thế Vinh, Nxb Văn Nghệ 2000.
4/ An Inconvemient Truth: The Crisis of Global Warming. Al Gore. Viking Books, 1st Edition, April 2007.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Yếu tố Trung Quốc trong các cuộc xâm lược Việt Nam của Phương Tây

Hồ sơ - Tư liệu

Đăng ngày Thứ hai, 12 Tháng 10 2015 09:45
Trong các lần xâm lược Việt Nam từ giữa thế kỷ 19 đến thế kỷ 20, các nước phương Tây đều khai thác và sử dụng yếu tố Trung Quốc. Với sự thỏa hiệp giữa các nước phương Tây và Trung Quốc trong các cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, hai phía ít nhiều đều có lợi.
Việt Nam và Trung Quốc như Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi đã chỉ ra: “ Cõi bờ sông núi đã riêng/ Phong tục Bắc Nam cũng khác. Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước/ Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều xưng đế một phương”(1).
Hơn thế nữa, cho đến trước cuộc xâm lăng của thực dân Pháp giữa thế kỷ XIX, hai nước gắn chặt với nhau trên nhiều phương diện từ thiên nhiên “ núi liền núi, sông liền sông”, hành chính qua địa giới các tỉnh giáp nhau ở biên giới, tương đồng về văn hóa và đặc biệt Việt Nam là một nước phiên thuộc, triều cống đối với các vương triều Trung Hoa. Hiểu được điều đó, các nước thực dân, đế quốc phương Tây, từ giữa thế kỷ XIX đến tk XX, khi xâm lược nước ta đều tính đến và sử dụng yếu tố Trung Quốc trong trò chơi chính trị với Việt Nam. Bằng sử liệu thu thập được, bài viết này cố gắng làm rõ việc các nước thực dân phương Tây đã sử dụng yếu tố Trung Quốc như thế nào trong các cuộc xâm lược Việt Nam của họ.
1. Dưới thời nhà Thanh.
Thực dân Pháp, sau khi thiết lập sự chiếm đóng vững chắc trên toàn bộ xứ Nam Kỳ lục tỉnh, năm 1873 đã tiến hành cuộc Viễn Chinh Bắc Kỳ lần thứ nhất với hai mục đích: 1) Buộc triều đình Huế ký một hiệp ước mới công nhận sự thống trị của chúng trên đất Nam Kỳ ( Hiệp ước Nhâm Tuất 1862 mới công nhận sự chiếm đóng của Pháp ở 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ và quần đảo Côn Lôn); 2) Thăm dò sự phản ứng của nhà Thanh, Trung Quốc. Trong một lá thư đề ngày 8-9-1873 gửi từ Hồng Công, Francis Garnier đã cho biết “ người Anh xúi dục Trung Hoa chinh phục xứ Bắc Kỳ…Tôi đã trình bày với Đô đốc (Đuyprê) rằng nếu như chính quyền Annam biến đi trên đất Bắc Kỳ thì đồng thời ảnh hưởng của chúng ta trên vùng đất này cũng sẽ chấm hết; rằng nếu chúng ta làm cho quyền hành của triều đình Huế được tôn trọng thì chúng ta sẽ được đứng trên một địa bàn ngoại giao bất khả xâm phạm; rằng nếu chúng ta tiến hành một cuộc viễn chinh không có lý do gì thì có thể chúng ta sẽ gặp phải cuộc can thiệp bắt ngờ và sẽ vấp phải những khó khăn hết sức nghiêm trọng mà ông không thể lường được vì quân đội Trung Hoa được trang bị những loại súng trường bắn nhanh và súng liên thanh do ông Duypuy bán cho họ…” (2).
Với cuộc Viễn chinh Bắc Kỳ lần thứ nhất, thực dân Pháp đã đạt được cả hai mục đích đó một cách trọn vẹn. Ở đích thứ nhất, thực dân Pháp đã buộc triều đính Huế ký Hiệp ước Giáp Tuất 1874 , theo đó, thực dân Pháp, ngoài việc triều đình Huế công nhận sự thống trị của người Pháp trên toàn bộ vùng Lục tỉnh Nam Kỳ ( Điều 5), còn tại Điều 2 và Điều 3, Pháp đã gạt bỏ sự lệ thuộc của triều đình Huế vào nhà Thanh bằng việc thừa nhận “ chủ quyền của vua Annam và nền độc lập đầy đủ của ông đối với tất cả mọi cường quốc bên ngoài, bất kể là nước nào…và đổi lại nhà vua Annam cam kết thi hành chính sách ngoại giao của mình theo đúng chính sách của nước Pháp và không thay đổi gì trong quan hệ ngoại giao hiện nay của mình ” (3). Tại 3 điều khoản quan trọng đó trong Hiệp ước Giáp Tuất, Pháp đã tách Việt Nam ra khỏi quỹ đạo Trung Hoa. Ở đích thứ hai, thực dân Pháp đã một phần yên lòng và vững tâm hơn bởi sự phản ứng yếu ớt của nhà Thanh trước hành động của họ ở vùng đất phiên thuộc Bắc Kỳ. Người Pháp sợ nhất là nhà Thanh đưa quân vào Bắc Kỳ đánh nhau trực tiếp với họ. Điều đó đã không xảy ra, nếu có chỉ là những đội quân thổ phỉ cờ Vàng, cờ Đen từ bên kia biên giới tràn qua kết hợp với quân đội triều đình đánh Pháp (trường hợp sự liên kết giữa quân triều đình của Hoàng Kế Viêm và quân cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc đã tạo nên chiến thắng Cầu Giấy I).
Và như vậy, qua Hiệp ước Giáp Tuất, lần đầu tiên ta thấy người Pháp đã tính đến yếu tố Trung Hoa trong cuộc xâm lược Việt Nam của họ. Từ đây, yếu tố Trung Quốc luôn hiện hữu trong những bước đi thôn tính nước ta của Pháp. Nói một cách khác, con bài chính trị Việt Nam được đem ra mặc cả, mua bán trong những toan tính lợi ích chính trị, kinh tế của hai bên.
Sau Hiệp ước đó, dù hiểu hay không, vua Tự Đức vẫn tiếp tục ngoại giao truyền thống ( di sản tổ tông) là triều cống nhà Thanh. Đó là năm 1877, sứ bộ lần đó đã yêu cầu và được nhà Thanh chấp nhận gửi một đạo quân sang Bắc Kỳ để dẹp nhóm nổi loạn Lý Dương Tài. Lập tức Bộ trưởng Hải quân Pháp liền ra lệnh cho Thống đốc Sài Gòn phải lưu ý đến triều đình Huế: “ Sự can thiệp của Trung Hoa, mà Huế đã yêu cầu, là một vi phạm nghiêm trọng vào những quyền lợi mà Hiệp định 1874 đã dành cho chúng ta, và làm như thế là họ đã vi phạm cam kết với chúng ta” (4). Tuy nhiên, cả Trung Hoa lẫn Pháp, đang vướng vào những việc lớn hơn, nên chuyện đó cũng qua đi cho đến ngày 10-11-1880, Tăng Kỳ Trạch tái khẳng định với Bộ trưởng Ngoại giao Pháp là Trung Hoa vẫn nắm giữ tôn quyền đối với nước Đại Nam thì cuộc tranh cãi bùng phát, trở nên sôi nổi và cuối cùng là hành động.
Như chúng ta biết, sau khi Lý Dương Tài chết năm 1879, quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc làm chủ miền thượng du Bắc Kỳ và kiểm soát thương mại trên sông Hồng, tuyến thương mại huyết mạch nối Vân Nam với Hồng Công. Tháng 10-1881, hai người Pháp là Courtin và Villeroi bị thương do quân Cờ Đen. Dựa vào Điều 11 trong Hiệp ước 1874, người Pháp đòi triều đình Huế phải dẹp bỏ quân Cờ Đen. Dĩ nhiên triều đình Huế không chấp nhận. Đó là cớ nhỏ. Cớ chính ẩn sau đó là mỏ than Hồng Gai với trữ lượng lớn mà Pháp rất cần, sắp rơi vào tay người Hoa (đứng đằng sau là người Anh). Vì hai lý do đó mà có cuộc viễn chinh Bắc Kỳ năm 1882 do Đại tá hải quân Henri Rivière chỉ huy (5). Sau khi Hà Nội thất thủ năm 1882, triều đình Huế yêu cầu nhà Thanh viện trợ 2 vạn quân sĩ. Thấy rõ âm mưu của Pháp muốn nuốt Bắc Kỳ và như thế sẽ uy hiếp trầm trọng vùng biên giới Nam Trung Hoa nên vua Thanh đã phúc đáp bằng mấy chữ: “ Khả, sĩ bắc phong tái biện”, dịch ra tiếng Việt là: “ Rất tốt! Chúng tôi sẽ thi hành biện pháp ngay khi gió Bắc thổi tới”(6). Từ mùa Thu năm 1882, triều đình nhà Thanh cho quân xâm nhập Bắc Kỳ, đóng rải rác trên một tuyến kéo dài từ Cao Bằng, Lạng Sơn xuống Thái Nguyên, Tuyên Quang. Hưng Hóa đến tận Bắc Ninh. Sự lo sợ nhà Thanh đưa quân vào tham chiến trên đất Bắc Kỳ từ cuộc viễn chinh Bắc Kỳ lần thứ nhất đến đây đã hiện hữu. Vì thế mới có cuộc đàm phán giữa đại diện triều đình nhà Thanh và nước Pháp, lúc ở Pari, khi ở Thiên Tân, và cuối cùng, năm 1885, một Hiệp ước được ký kết giữa đại diện Chính phủ Pháp là Thủ tướng Freycinet và đại diện của Trung Hoa là Tổng lý Nha môn (tương đương Thủ tướng) Lý Hồng Chương tại Thiên Tân, Trung Quốc, mà trong lịch sử gọi là Hiệp ước Thiên Tân năm 1885, kết thúc cuộc tranh giành ảnh hưởng ở Việt Nam của Nhà Thanh và Pháp. Lần đầu tiên Việt Nam như một món hàng được chia chác của cả hai phía ký trong hiệp ước. Trung Quốc cam kết “… giải tán các toán thổ phỉ tìm cách lập lại tổ chức trên lãnh thổ mình để gây rối trong dân chúng đang được nước Pháp bảo hộ và tôn trọng các lời cam kết liên quan đến an ninh biên giới, Trung Quốc cũng không phái quân đội của mình vào lãnh thổ Bắc Kỳ”(Điều khoản 1) và “ Trung Quốc quyết định không làm gì có hại đến công việc bình định của Pháp và cam kết tôn trọng hiện nay và trong tương lai những hiệp ước, hiệp định và thỏa ước đã ký hay sẽ ký trong tương lai giữa Pháp và An Nam” (Điều khoản 2). Đổi lại, Trung Quốc được Pháp cam kết: “ Từ khi hiệp ước này được ký, lực lượng Pháp sẽ rút khỏi Ka Lung (Ka Long, con sông làm ranh giới giữa Móng Cái, Việt Nam và Đông Hưng, Trung Quốc) và chấm dứt đi lại ngoài khơi. Trong thời gian 1 tháng sau khi ký kết hiệp ước này, quân đội Pháp sẽ hoàn toàn rút khỏi đảo Đài Loan và đảo Lôi Châu” ( Điều khoản 9).
Rồi từ đây, thực thi Điều khoản 3 trong Hiệp ước Thiên Tân 1885, hai phía đi đến ký kết Công ước Pháp- Thanh 1887 nhằm phân chia biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc. Theo công ước đó Pháp cắt ¾ đất tổng Tụ Long, thuộc tỉnh Hà Giang, có diện tích 750km2 sáp nhập vào tỉnh Vân Nam, Trung Quốc; cắt 9 xã rưỡi thuộc tổng Kiến Duyên và Bát Tràng thuộc tỉnh Quảng Yên cho tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Vì thế mà trong cuộc trò chuyện với Đô đốc Pháp Rieunier, Lý Hồng Chương đã nói: “ Nước Pháp đã đạt được nhiều quyền lợi khi chiếm được Bắc Kỳ, một nước chư hầu của Trung Hoa 600 năm nay, việc này là nhờ trung gian của tôi. Nó đã gây cho tôi nhiều phiền phức, tôi nghĩ rằng một sự đề bồi dưới dạng nhường vài vùng đất nhỏ trên vùng biên giới là cân thiết”.
Như vây, yếu tố Trung Quốc đã can dự vào cuộc xâm lược Việt Nam cuối thế Kỷ XIX. Đổi lấy quyền Thiên triều đối với nước phiên thuộc Việt Nam, nhà Thanh đã được Pháp rút quân khỏi Ca Long (7) và đảo Đài Loan và bán đảo Lôi Châu và tiếp đó là ¾ tổng Tụ Long và trên 9 xã của tỉnh Quảng Yên.
2. Dưới thời Trung Hoa Dân Quốc.
Sau khi Chiến tranh thế giới II kết thúc, theo thoả ước Postdam, ở Việt Nam từ vĩ tuyến 16 (Đà Nẵng) trở vào, quân Anh và từ vĩ tuyến 16 trở ra, quân đội của Trung Hoa Dân Quốc vào tước khi giới quân Nhật. Núp sau bóng quân Anh và được Hoa Kỳ ngầm ủng hộ, thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Ngày 23-9-1945, chúng gây hấn tại Sài Gòn, tiếp đó toàn Nam Bộ và nống ra Nam Trung Bộ. Sau khi thôn tính một số vùng ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, thực dân Pháp muốn chiếm nốt phần còn lại của nước ta, nhưng phải vượt qua hai lực cản lớn nhất đối với chúng: Chính phủ Hồ Chí Minh được nhân dân cả nước ủng hộ và quân đội của Tưởng Giới Thạch đang làm nhiệm vụ theo phe Đồng Minh phân công. Đương nhiên người Pháp phải tính toán để loại dần hai vật cản mới có thể đưa quân ra Bắc được. Trước hết, Pháp lựa chọn thương lượng thẳng với Trung Hoa Dân Quốc. Và thế là Việt Nam trở thành một món hàng mặc cả giữa chính quyền Pari và chính quyền Trùng Khánh. Sau nhiều lần thương thảo, ngày 28-2-1946, tại Trung Khánh, Ngoại trưởng Trung Hoa là Vương Thế Kiệt và Đại sứ Pháp tại Trung Hoa là Jacques Meyrier ký kết Hiệp ước Pháp-Hoa mà trong lịch sử thường gọi là Hiệp ước Trùng Khánh. Theo hiệp ước đó, Trung Hoa rút quân khỏi Việt Nam từ ngày 1 đến 15 tháng 3 và chấm dứt là ngày 31- 3-1946. Đổi lại, Pháp trả và nhường cho Trung Hoa nhiều quyền lợi kinh tế ở Trung Hoa và ở Việt Nam như trả lại nhượng địa (Quảng Châu Loan) và tô giới (Sa Điện, Quảng Châu) và cho thuê lại đoạn đường sắt Côn Minh (thủ phủ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc ) đến Hồ Kiều, Lào Cai (Việt Nam), nhượng cho Trung Hoa Dân Quốc một đặc khu ở cảng Hải Phòng, hàng hóa của Trung Hoa Dân Quốc vận chuyển quá cảnh qua miền Bắc sẽ được miễn thuế.
Trong những nhượng bộ của Pháp cho chính phủ Trùng Khánh, những nhượng bộ liên quan mật thiết với nước ta là quan trọng nhất. Chúng ta điều biết, sau khi phát xít Nhật nhảy vào Trung Quốc, lần lượt đánh chiến các tỉnh duyên hải Trung Hoa, cắt đứt mọi sự liên hệ với Trùng Khánh, đặc biệt hàng hóa viện trợ quân sự của các nước Đồng Minh, chủ yếu là của Hoa Kỳ, cho Chinh quyền Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh. Từ đó, thông qua cảng Hải Phòng và tuyến đường sắt Việt – Điền là tuyến huyết mạch chu chuyển xăng dầu, xe tăng, đại bác và các trang thiết bị quân sự của các nước Đồng Minh, đặc biệt là Hoa Kỳ, viện trợ cho chính quyền Trùng Khánh.
3. Dưới thời Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Trong cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp. Sau khi đánh đuổi quân đội Tưởng ra khỏi đại lục, 1-10-1949 nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa do Mao Trạch Đông làm chủ tịch được thành lập. Ngày 18-1-1950, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ đây, hai nước Việt Nam, Trung Hoa không chỉ “núi liền núi, sông liền sông”, mà hơn nữa cùng chung một loại hình nhà nước (đất nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo), cùng chung một ý thức hệ (lấy chủ nghĩa Marx – Lenin làm nền tảng tư tưởng), và đặc biệt sự giúp đỡ về người và của cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta bắt đầu từ chiến dịch Biên giới năm 1950. Trên thực tế, sau thắng lợi chiến dịch Biên Giới với đường biên trên 750 km được giải phóng, cuộc phá vây của ta mới toàn thắng. Từ đây, nước ta nối liền với hệ thống xã hội chủ nghia do Liên Xô đứng đầu và nhận được sự giúp đỡ của tất cả các nước trong hệ thống. Do đó, cuộc kháng chiến của nhân dân ta thu được những thắng lợi rực rỡ, dẫn đến chiến cuộc đông xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ. Năm 1953, sau khi Stalin mất, một bầu không khí hòa hoãn với Mỹ đang ngự trị trên chính trường thế giới. Đó cũng là những năm tháng Trung Quốc thể hiện sức mạnh của mình trong cuộc kháng Mỹ viện Triều dẫn tới giải pháp đình chiến trong cuộc chiến tranh Triều Tiên tại Bàn Môn Điếm năm 1953. Trong thời chiến tranh lạnh, hai lò lữa chiến tranh ở châu Á đã được dập tắt một. Ngày 24-8-1953, Chu Ân Lai đã tuyên bố: “ Cuộc đình chiến ở Triều tiên làm mẫu mực cho những cuộc xung đột khác”. Lời tuyên bố của Chu như là sự ám chỉ cho một giải pháp để dập tắt lò lửa chiến tranh thứ hai ở châu Á là cuộc chiến tranh Đông Dương. Hơn ai hết Trung Quốc mong muốn dập tắt các cuộc chiến tranh ngay sát biên giới với mình để tránh những mất mát khi phải tham chiến như ở Triều Tiên, để tập trung sức lực cho kế hoạch 5 năm (1953-1957) và đằng sau đó là để thể hiện vai trò của một thế lực chính trị đang lên ở Châu Á và trên thế giới. Trung Quốc rất muốn giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương theo chiều hướng ngăn không để Hoa Kỳ có cơ hội can thiệp trực tiếp vào Đông Dương như đã từng diễn ra ở Triều Tiên. Đó là mục tiêu hàng đầu của phái đoàn Trung Quốc do Chu Ân Lai dẫn đầu đã mang tới và chi phối toàn bộ hoạt động của họ tại Hội nghị Genève. Chấm dứt chiến tranh bằng giải pháp chia cắt Việt Nam theo đường vĩ tuyến là phương sách phù hợp nhất với hoàn cảnh thực tiễn của Trung Quốc và tình hình thế giới. Chu Ân Lai lần đầu bày tỏ giải pháp này trong cuộc gặp gỡ giữa 3 trưởng phái đoàn Liên Xô (Ngoại trưởng Molotop), Trung Quốc (Chu Ân Lại) và Việt Nam (Phạm Văn Đồng) tai Moskva trước khi tới Geneva và đặc biệt trong các cuộc gặp riêng với các phái đoàn Anh, Pháp vào các ngày16/17-6-1954. Ngày 24-6-1954, tại Washington, diễn ra cuộc gặp gỡ cấp cao bàn về chấm dứt chiến tranh Đông Dương giữa Tổng Thông và Ngoại trưởng hai nước Anh, Mỹ. Tại đây, hai bên đã đưa ra 7 điều kiện về một thỏa thuận đình chiến ở Đông Dương, trong đó nhấn mạnh điều kiện giành cho phương Tây phần lãnh thổ phía nam và một vùng khác lõm sâu ở đồng bằng Bắc Bộ. Như vậy, tất cả các bên đã đồng thuận theo giải pháp chia cắt Việt Nam theo vĩ tuyến. Vấn đề còn lại là lấy vĩ tuyến nào? Có thể nói đây là vấn đề được tranh luận nhiều nhất giữa hai phe. Khi Điện Biên Phủ chưa phân thắng bại thì Trung Quốc lựa chọn vĩ tuyến thứ 16. Ngày 8-5 tin thắng trận Điện Biên của ta đến với Phạm Văn Đồng. Trưởng phái đoàn ta có thái độ cứng rắn hơn và mạnh dạn đưa ra ý tưởng vạch giới tuyến quân sự tại vĩ tuyến 13. Phia Pháp lấy vĩ tuyến 19 (Bắc Đồng Hới). Trước sự cứng rắn của phái đoàn Việt Nam, ngày 24-6 phía Pháp đưa ra đề nghị lấy vĩ tuyến thứ 18 với lý do họ cần thông thương qua Lào ( qua quốc lộ 9). Việt Nam không nhượng bộ. Hội nghị bế tắc, tạm dừng. Vì thế mới có cuộc gặp gỡ tại Oa sinh tơn giữa Anh và Hoa Kỳ ngày 29-6 đã đi tới 7 điểm, trong có lấy vĩ tuyến 17. Và có cuộc gặp gỡ tại Liễu Châu, Trung Quốc giữa Hồ Chí Minh và Chu Ân Lại từ ngày 3 đến 5-7-1954 bàn về những giải pháp kết thúc chiến tranh. Theo Hồ Chí Minh, nếu so sánh lực lượng trên thực tế chiến trường thì Việt Nam không được vĩ tuyến 15 thì chí ít phải giành được vĩ ruyến 16 như trước đây Đồng Minh đã chọn làm ranh giới tạm thời để giải giáp quân đội Nhật ở hai miền Nam-Bắc Đông Dương. Ngay trong ngày kết thúc cuộc gặp gỡ Liễu Châu, Hồ Chí Minh đã gửi điện chỉ thị những vấn đề then chốt cho Phạm Văn Đồng. Sau này trong một lần nói chuyện với cán bộ ngoại giao, Người nhắc lại sự kiện đó: “ Lúc đó, trong nước ta thắng, bên ngoài nước cũng thắng, nó ảnh hưởng lẫn nhau. Nhưng cũng có cái khó là ở chỗ Mỹ muốn nhảy vào thay thế Pháp và không muốn ta nhận vĩ tuyến 17. Tình hình lúc đó chỉ có là hòa hay đánh. Nếu ta không chịu hòa, thì sẽ phải đánh. Ta tranh đấu mãi, từ Vĩ tuyến 15, đến Vĩ tuyến 16, rồi đến Vĩ tuyến 17. Đến đây ta không nhựơng nữa, nó phải chịu” (8).
Hội nghị Genève là cơ hội quan trọng để đưa Trung Quốc thành một thế lực chính trị tại châu Á mà không một nước nào có thể bỏ qua. Theo Francois Joyaux, Trung Quốc không quan tâm đến lợi ích của những người cộng sản và những người theo dân tộc chủ nghĩa tại 3 nước Đông Dương. Trung Quốc thỏa hiệp với các nước phương Tây trong giải pháp phân chia lãnh thổ đối với lực lượng bản xứ chống Pháp tại các nước này (9). Mục tiêu cao nhất của Trung Quốc là mong muốn các bên ký kết một hiệp định về Đông Dương để tránh mọi sự can thiệp của Mỹ, lấy Vĩ tuyến 17 làm ranh giới phân chia Việt Nam ra làm hai: một Bắc Việt Nam giáp với Trung Quốc theo chế độ xã hội chủ nghĩa, như một lá chắn, một Nam Việt Nam thuộc quyền kiểm soát của Pháp ngăn không để Mỹ vào.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thất bại nặng nề trước đòn tiến công và nổi dậy của các lực lượng vũ trang miền Nam Việt Nam trong Tết Mậu Thân, ngày 31-3-1968, Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson đọc diễn văn về việc ném bom hạn chế miền Bắc Việt Nam và đề nghị nói chuyện với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau nhiều cuộc tiếp xúc bí mật của phía Mỹ, Chính phủ ta tuyên bố “sẽ cử đại diện tiếp xúc với đại diện Mỹ”. Hai bên tranh luận kéo dài gần một tháng về địa điểm hòa đàm, cuối cùng thỏa thuận lấy thành phố Paris làm nơi đàm phán.
Ngày 13-5-1968, cuộc đàm phán giữa phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do ông Xuân Thủy dẫn đầu và phái đoàn Hoa Kỳ do Averell Harriman lãnh đạo, chính thức khai mạc tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế Kléber, thành phố Paris. Trong quá trình đàm phán hòa bình Việt Nam – Hoa Kỳ tại Paris, từ tháng 4-1971, bắt đầu xuất hiện yếu tố Trung Quốc bằng sự kiện Thủ tướng Chu Ân Lai chủ động mời Tổng thống Mỹ Richard Nixon sang thăm Bắc Kinh. Chúng ta đã từng biết trước sự kiện này, năm 1965, trước khi đổ quân vào miền Nam và mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, Hoa Kỳ đã tiến hành thăm dò phản ứng của Trung Quốc. Tháng 1-1965, trong cuộc phỏng vấn của nhà báo Mỹ Etga Xnô, Mao Trạch Đông đã không úp mở tuyên bố: “ Quân đội Trung Quốc sẽ không vượt biên giới của mình để đánh nhau. Đó là điều rõ ràng. Chỉ khi nào Mỹ tiến công (vào đất Trung Quốc), người Trung Quốc mới chiến đấu” (10). Điều đó có thể suy ra: Ngươi (Mỹ) không đụng đến ta ( Trung Quốc), thì ta không đụng đến ngươi.
Tuyên bố của Mao làm yên lòng để Mỹ đổ quân vào miền Nam và mở rộng đánh phá miền Bắc. Dẫu vậy, Mỹ không thể ngăn chặn sự tiếp viện người và của cho chiến trường miền Nam và thắng lợi trong hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 và đặc biệt trong Tết Mâu Thân. Cùng với sự thất bại trên chiến trường Việt Nam và phong trào phản chiến ở hậu phương nước Mỹ, Hoa Kỳ nhận thấy không thể thắng ta về quân sự nên đi tìm giải pháp hòa đàm như trên đã nói.
Từ tháng 5-1968 đến tháng 2-1970, hội nghị Paris chỉ là diễn đàn để hai bên lên án lẫn nhau và định hướng dư luận thế giới. Từ ngày 21-2-1970, khi có nhừng cuộc gặp gỡ riêng giữa Lê Đức Thọ và Kissinger, cuộc hòa đàm Paris mới đi vào thực chất. Và cũng bắt đầu từ đây, Hoa Kỳ nghĩ tới việc lợi dụng yếu tố Trung Hoa giúp họ giành thế thượng phong trong cuộc hòa đàm với Việt Nam. Và Trung Quốc cũng đã sớm nhận ra nên cũng đã sử dụng Việt Nam trong sự đổi chác lợi ich của mình với Hoa Kỳ, bất chấp sự tổn thất của “người đồng chí, người anh em” đã từng cùng chung lưng đấu cật thời hàn vi.
Chúng ta đều nhớ, một chương mới trong quan hệ Trung-Mỹ được mở ra bằng việc Trung Quốc công bố trên Đài phát thanh Bắc Kinh ngày 26-11-1968 bản Tuyên bố về mong muốn nối lại cuộc đàm phán với MỸ ở cấp đại sứ ở Vacsava (Ba Lan). Đối với Oashinhtơn, đó là tín hiệu không thể bỏ qua, vì thế lập tức họ tìm mọi cách làm thỏa mãn mong muốn của Bắc Kinh. Người đóng vai trò tích cực đó là Kissinger, cố vấn an ninh của Tổng thống R.Nixon.
Ngày 1-2-1969, Kissinger bước vào Nhà trắng và cùng với Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Richardson nghiên cứu và vạch ra một lộ trình thích hợp để đưa quan hệ Mỹ-Trung đạt được những thỏa thuận có lợi cho cả đôi bên. Đúng 20 ngày sau khi giữ cương vị mới, trong cuộc họp tại Nhà Trắng ngày 21-2-1969, Kissinger đã đưa ra một ý tưởng chủ đạo là “ mọi xem xét tình hình quốc tế phải đánh giá vai trò của một nước có 700 triệu dân…” (11). Tiếp đó, ông vạch kế hoạch cho chuyến thăm Pháp của Tổng thống R. Nixon để từ đây R. Nixon nói với Tổng thống Pháp De Gaulle cũng là thông báo gián tiếp với Bắc Kinh rằng: Bất kể khó khăn như thế nào, Hoa Kỳ cũng quyết tâm mở cuộc đối thọai với Trung Quốc và nếu yêu cầu của Oasinhton được Bắc Kinh chấp nhận thì Hoa Kỳ sẽ ủng hộ Trung Quốc vào Liên Hợp Quốc , bỏ cấm vận kinh tế, rút quân Mỹ ra khỏi Đài Loan…
Do lợi ích quốc gia bức thiết, cuối tháng 12-1969, Đại biện lâm thời Trung Quốc Lei Yang đã chủ động gặp Đại sứ Mỹ Walter J. Stoessel ở Vacsava đề nghị mở lại đàm phán cấp đại sứ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ từ tháng 1-1970. Sau nhiều lần gặp gỡ trực tiếp, trao đổi công hàm, thư từ về các vấn đền liên quan, mùa Xuân 1971, Trung Quốc chính thức đặt vấn đề mời phái viên cấp cao chính quyền Hoa Kỳ sang trực tiếp đàm phán. Và theo đề xuất từ Bắc Kinh, Kissinger đã được Tổng thống Nixon cử sang Bắc Kinh đảm nhiệm trọng trách này. Các vấn đề, đặc biệt cuộc chiến tranh ở Việt Nam, được đặt ra như một điều kiện để đàn phám.
Để đẩy nhanh cuộc đàm phán, nữa cuối năm 1971, Nhà trắng quyết định nới rộng một số quyền lợi trên trường quốc tế cho Trung Quốc như giảm cấm vận và bao vây kinh tế (đã áp dụng từ năm 1950), cấp thị thực nhập cảnh cho công dân Trung Quốc muốn đến Hoa Kỳ tham quan hay làm ăn, cho phép Trung Quốc dùng đôla để nhập hàng hóa…Đổi lại, Trung Quốc chính thức mời Tổng thống Hoa Kỳ R. Nixon sang thăm Bắc Kinh. Trong cuộc làm việc với cố vấn Kissinger nhằm chuẩn bị những nội dung các văn bản đưa ra trong cuộc hội đàm của hai nguyên thủ quốc gia hai nước bao gồm chính sách với Đài Loan, việc đưa Trung Quốc vào Liên Hợp Quốc, việc rút quân Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam, Thủ tướng Chu Ân Lai hé lộ cho Kissinger hiểu về trở ngại lớn nhất trên con đường cải thiện quan hệ Trung-Mỹ là “ Việt Nam chứ không phải là Đài Loan”. Còn Kissinger yêu cầu Trung Quốc bằng cách nào đó không để Hà Nội có khả năng chiếm toàn bộ Nam Việt Nam và bán đảo Đông Dương, tức là phải làm ngưng trệ Việt Nam (12). Vậy là, hai bên đã lật bài ngữa trong trò chơi chính trị Việt Nam.
Nhằm đẩy nhanh tiến trình đàm phán, ngày 2-8-1971, Thứ trưởng ngoại giao Mỹ Roger đã công khai tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ hoàn toàn  ủng hộ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào Liên Hợp Quốc. Trong cuộc bỏ phiếu của Liên Hợp Quốc ngày 25-10-1971 Trung Quốc được chính thức công nhận là thành viên và đồng thời trở thành một trong năm nước là ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an đầy quyền lực của tổ chức quan trọng hàng đầu thế giới này. Chưa đầy một tháng sau, ngày 30-11-1971, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ thông báo trên các phương tiện thông tin về cuộc viếng thăm chính thức nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Tổng thống Hoa Kỳ R. Nixon từ ngày 22 đến 28-2-1972 theo lời mời của Chính phủ Trung Quốc.
Vào thời điểm Tổng thống Hoa Kỳ R. Nixon sang thăm Trung Quốc, quân và dân miền Nam mở cuộc tiến công chiến lược xuân-hè 1972. Mặc dù chịu nhiều áp lực từ bên ngoài, đặc biệt là viện trợ quân sự, quân và dân ta đã giành được những thắng lợi to lớn trên cả hai bình diện quân sự và chính trị, làm áp lực cho cuộc đàm phán giữa ta và Hoa Kỳ ở điểm nút tại Hội nghị Paris.
Trong chuyến thăm Trung Quốc của R. Nixon, sau nhiều cuộc đàm phán, lúc công khai, lúc bí mật, cuối cùng hai bên đã ra Thông cáo chung Thượng Hải. Thông cáo đề cập nhiều vấn đề bận tâm của hai bên, nhưng một vấn đề như là điều kiện đòi hỏi hai bên phải thực hiện ngay là: “Nếu Trung Quốc muốn Hoa Kỳ rút quân khỏi Đài Loan thì Trung Quốc phải ép Hà Nội đi vào một phải pháp thỏa hiệp để tạo điều kiện cho Hoa Kỳ thực hiện việc rút ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam trong danh dự” (13)


Chú thích:

1. Dẫn theo: Phan Huy Lê (Chủ biên). Lịch sử Việt Nam, tập II, Nxb Giáo dục Việt Nam. HN, 2012, tr. 117.
2. Dẫn theo: Đinh Xuân Lâm (chủ biên). Hà Nội trong cuộc vận động giải phóng dân tộc cuối tk XIX đầu tk XX. Nxb Hà Nội, 2010, tr.228.
3. Hà Nội trong cuộc vận động…Sdd, tr. 229.
4. Dẫn theo: Yoshiharu Tsuboi.Nước Đị Nam đối diện với Pháp vàTrung Hoa 1847-1885. Nxb Tri thức, 2011, tr,363.
5. Sau khi chiếm Hà Nội tháng 4-1882, Đại tá Henri Riviere cho quân đánh chiếm Hồng Gai ngày 17-3-1883.
6. Yoshiharu Tsuboi. Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847-1885. Sdd, tr. 369.
7. Ca Long là con sông làm phân giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, một ben là huyện Móng Cái (Việt Nam) và bên kia là huyện Đông Hưng ( Trung Quốc)
8. Bác Hồ nói chuyện với cán bộ ngoại giao tháng Giêng 1964. Trong Bác Hồ và hoạt động ngoại giao. Nxb chính trị quốc gia. HN, 2008. tr.56.
9. Francois Joyaux. Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranhĐông Dương lần thứ nhất. Nxb Thông tin lý luận. Hà Nội, 1981, tr. 299.
10. E. Xnô. Cuộc cách mạng lâu dài. Nxb Hotxingxon, London, 1973, tr. 216.
11. Viện quan hệ quốc tế. Thông tin quan hệ quốc tế, số 6, thasng4/1979, tr. 82.
12. Sự thật về những lần xuất quân của Trung Quốc và quan hệ Việt –Trung. Nxb Đà Nẵng, 1996, tr. 77.
13. Marvin Kalb-Bernard Kalb. Đột phá khẩu Trung Quốc. Hội nghị cấp cao năm 1972. Viện Thông tin, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội, 1978, tr, 69.
14. Marvin Kalb-Bernard Kalb. Sdd, tr, 93.

Trong bữa tiệc chiêu đãi trọng thể tại Đại lễ đường Thiên An Môn, Tổng thống Hoa Kỳ R. Nixon đã đề cập tới ý nghĩa của cuộc viếng thăm Trung Quốc năm 1972: “Đây là một tuần lễ làm thay đổi thế giới… Chúng ta đã tạo dựng một chiếc cầu vượt qua 16 nghìn dặm và 22 năm thù địch, ngăn cách chúng ta trong quá khứ. Đêm nay, hai nước chúng ta đã nắm tương lai của thế giới trong lòng bàn tay” (14). Và trong cuộc họp báo quốc tế về chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng thống Hoa Kỳ, Kissinger đã khẳng định: “ Chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Nixon không những đã mở ra một quá trình lịch sử, mà còn đem lại cho mọi người một sự lựa chọn đối với tương lai”.
Một lần nữa yếu tố Trung Quốc được Hoa Kỳ khai thác triệt để ở điểm nút cuộc hòa đàm Paris. Cả Hoa Kỳ và Trung Quốc đều có những kiểu khác nhau để gây sức ép lên cuộc đàm phán theo kịch bản của họ.Nếu như phía Trung Quốc gây khó dễ cho Việt Nam bằng những thủ tục quá cảnh các thiết bị quân sự của các nước anh em giúp ta, thì phía Hoa Kỳ gây sức ép lên chúng ta bằng một chuỗi các sự kiện, bắt đầu từ tháng 4-1972, quyết định ném bom trở lại và thả thủy lôi phong tỏa các cảng biển, đặc biệt là cảng Hai Phòng, tăng cường lực lượng và phương tiện chiến tranh, liên tiếp mở những cuộc hành quân quy mô lớn trên chiến trường miền Nam, đồng thời tuyên bố hủy bỏ kế hoạch ký tắt Hiệp định Paris dự định vào tháng 10-1972. Phải khẳng định một lần nữa là sự bội ước của Hoa Kỳ chính là họ kỳ vọng vào sức mạnh của siêu pháo đài bay B.52 buộc ta trở lại Hội nghị Paris trên thế thượng phong.
Cuối cùng, những kẻ chơi con bài Việt Nam đều bị thất bại, bởi một lẽ, nước Việt Nam vào thời điểm đó không còn như nước Việt Nam dại khờ trong một thế giới ranh mãnh năm 1954 nữa.
Rốt cuộc lại, trong các lần xâm lược Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến thế Kỷ XX, các nước phương Tây đều khai thác và sử dụng yếu tố Trung Quốc. Với sự thỏa hiệp giữa các nước phương Tây và Trung Quốc trong các cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, hai phía ít nhiều đều có lợi. Chỉ một mình dân tộc Việt Nam chúng ta đã phải trả giá bằng sự mất mát, đau thương. Và giờ đây, trong cuộc khủng hoảng biển Đông, liệu chúng ta có thể thoát khỏi số phận nghiệt ngã của một nước nhỏ trong sự cạnh tranh của các cường quốc? Đến nay, hình như bài toán chưa có lời giải thỏa đáng. Chúng ta cùng nhau suy nghĩ để tìm ra lời giải thỏa đáng nhất của bài toán đố hóc búa này.

PHẠM XANH (TẠP CHÍ VĂN HÓA NGHỆ AN)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển…”.- Có nhẽ tại câu này..muốn chết cho chết luôn, gợi ý ác đây?



Có môt điều chắc chắn, tôi khẳng định luôn: “Tôi chưa hề biết có bài thơ và ca khúc cùng tên của nhạc sĩ Phạm Đình Chương” cho đến đêm Chủ Nhât, 11/10/2015 vừa rồi .( Chỉ đúng một ngày sau khi tôi chính thức nhận giải thưởng HNV Hà nội 10/10/2015). Đêm đó, sau khi nhậu vui cùng anh em văn chương có Nguyễn Việt Chiến, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Ngô Thảo, Phạm Xuân Nguyên và Nguyễn Bìnnh Phương, Nguyễn Thành Phong…(mừng giải thưởng của tôi và anh Phương ) ngồi đọc báo mạng, thấy nhiều tin tức về Hải Đăng Trung Quốc ngang ngược, lại nhớ đến những ngày tháng 10 năm 2008, cách đây đã 6 năm rồi…tôi viết bài thơ “ Có lẽ đã chết vẫn tốt hơn” gửi nhà thơ Nguyễn Việt Chiến nên tôi post lại trên FB.

Hôm sau, chính thức tôi mới biết một sự thật rằng đã từng tồn tại một ca khúc tên là: “Khi tôi chết hãy mang tôi ra biển” của nhạc sĩ Phạm Đình Chương, lời của Du Tử Lê. Thực ra nhà thơ viết lời cho bạn làm nhạc cũng là chuyện thường, tôi cũng vẫn làm vậy với một số nhạc sĩ, nên tôi tìm để nghe. Sau đó, tôi lại biết thêm một thông tin nữa rằng Du Tử Lê có một bài thơ cùng tên sáng tác tháng 12 năm 1977 chứ đó không chỉ là ca từ. Và tôi cũng đã tìm thông tin trên mạng để đọc và tìm hiểu.

Tôi cho rằng đây không phải là ca khúc và tác phẩm thi ca được phổ biến rộng rãi trong đời sống văn học cũng như âm nhạc ở Việt Nam trước những năm 2005 trở về trước, khi ta chưa thực sự cải thiện quan hệ với Mỹ. 

Vì tôi cũng là người rất chịu khó nghe và tìm hiểu âm nhạc, ca khúc do đặc thù công việc của mình. Tôi chưa nghe, chưa đọc bao giờ thì không chắc nhiều người đã thuộc nằm lòng và coi đó là tác phẩm nổi tiếng như báo chí nhận định. Đến lúc này, tôi còn không dám chắc ca khúc này đã được cấp phép của Cục biểu diễn nghệ thuật để phổ biến ở Việt Nam hay chưa.


Vậy quan điểm của tôi là:
Có thể, vào thời điểm Du Tử Lê sáng tác bài này, trong suy nghĩ của ông việc một ngày có thể trở về Việt Nam gần như là tuyệt vọng (Các bạn nên nhớ đó là tháng 12 năm 1977, khi ấy tôi mới 5 tuổi vừa vào lớp vỡ lòng) và tôi hình dung bờ biển mà ông mong muốn được mọi người mang xác mình tới đó, mang linh hồn hay tro cốt mình tới đó là biển Nam California hay còn gọi là bờ Tây của Thái Bình Dương. Đọc toàn bộ bài thơ, tôi thấy nỗi niềm trăng trối của một người con khát khao ngày về, trong tuyệt vọng.: “ Ông lập ý và điệp đi điệp lại một lời khẩn cầu “ Khi tôi chết hãy mang tôi ra biển”…để phát triển các mệnh đề và diễn giải khát vọng trở về bằng sự tuyệt vọng ẩn dụ của mình. Ông còn mong “sẽ được hát Quốc ca (Của chính quyền Miền Nam Việt Nam) “vì đã quá lâu không ai buồn hát nữa….” Vừa mới đây, khi lần đầu tiên đọc nó, tôi đa thấy đó là một bài thơ hay, đau đớn thân phận của người lưu vong và có lẽ vì vậy, nó không được phổ biến ở trong nước rộng rãi như các tác phẩm khác hoặc như ở hải ngoại.

Còn câu thơ của tôi?
“ Nếu tôi chết, hãy đem tôi ra biển.
Vì tôi là hạt muối buồn, kết tử từ cô đơn, tự ăn mòn mình bằng mơ mộng…”
Trước tiên, biển mà tôi muốn được đem linh hồn, thân xác của mình đến chắc chắn là biển Đông. Là bờ Đông của Thái Bình Dương. Để làm gì? Để được giải thoát từ cảnh giới màu xanh, di theo hóa giải của Bạch Y Quán Thế Âm Bồ tát với cành dương liễu trên tay như tôi diễn giải trong bài thơ.
Tại sao lại là biển?

Thời gian đó, tôi khá thất vọng khi nhận được tin kịch bản phim tài liệu “Gạc Ma, vòng tròn bất tử” của mình không được chấp nhận vì “chưa thích hợp đưa vào sản xuất với hoàn cảnh hiện tại” (biển Đông đang có nhiều tranh chấp). Kịch bản đó chủ yếu nhắc đến đời sống thực tế rất khó khăn và nhiều uẩn khúc của những chiến sĩ còn sống sót ở Gac Ma năm 1988 đã từng bị Trung Quốc bắt làm tù binh sau đó được thả về, trở lại cuộc sống lặng lẽ, gần như vô danh sau 30 năm…Họ có tất cả 9 người và 1 người đã mất bị bệnh tật, nghèo khó. Và hầu như trên truyền thông, sách vở người ta biết nhiều đến 64 người đã chết hơn là những người đang thực sự còn sống, trở về.

Nhưng tại sao lại là gửi Nguyễn Việt Chiến?

Ngày hôm đó, tôi nhớ là ngày15/10/2008, được tin anh Nguyễn Việt Chiến chính thức ra hầu toà và nhận án hai năm tù giam…vì một vụ việc liên quan đến nghiệp vụ báo chí…vì thế, bài thơ tôi viết gửi trọn nỗi niềm, sự bất lực của chính mình trong những điều mình muốn thực hiện và nỗi buồn khi nghe tin về anh Chiến. Lúc đó tôi nghĩ, vậy là kết thúc sự nghiệp của một giọng thơ tài hoa, một người anh luôn nhiệt huyết đôn đáo việc viết lách sáng tác của tôi…Vì thế tôi buồn!

Bản thân tôi thấy mình là sự bất lực ghê gớm làm gì cũng chỉ như muối bỏ biển, vô nghĩa, đến cả cái kiếp người này cũng vậy…. vì thế, tôi ví mình như “một hạt muối buồn kết tủa từ cô đơn, tự ăn mòn mình bằng mơ mộng….”

Vậy thì tại sao lại là: “ Có lẽ đã chết vẫn tốt hơn”?

Thời gian đó, năm 2008, tôi vừa phải sống trong một sự phản bội ghê gớm của những người thân thiết. Trải qua một năm khủng khiếp của sự miệt thị, quy chụp tôi đã “đạo văn”, trong khi đó chỉ là việc đi sưu tầm lại các tư liệu và tiểu sử của ba nhà thơ tiền bối để phục vụ cho việc làm một bản poster (tôi nhấn mạnh là một bản poster duy nhất, độc bản) để trưng bày trong ngày thơ Việt Nam, sau 3 tiếng đồng hồ, người ta tháo xuống và cất đi đâu không rõ. Không phải là tác phẩm mang tính chất tác giả, không xuất bản in ấn phát hành hay doanh thu gì ngoài việc tôi vinh danh người khác.

Cho đến tận hôm nay, một số người thích tỏ ra sành sỏi, thạo tin, có chiều sâu vẫn lôi lại sự việc đó như một miếng sắt gỉ làm dao để đay nghiến, đâm chọc tôi trên báo chí (như các bạn đã thấy).

Điều nực cười là nhà văn Đặng Tiến Tien Dang, nhà báo Hoàng Nguyên Vũ, những người bị coi là nạn nhân của việc tôi đạo văn của họ thì lại luôn lên tiếng bảo vệ tôi, họ nói trân trọng tôi, hiểu và luôn nắm tay tôi, bảo tôi đừng chấp, hãy nhìn lên phía trước… nhưng các bạn không hề bị mắt cắp cái gì của mình cả lại cứ gào lên chuyện “ truyền thống cầm nhầm”… Tôi nghĩ mọi chuyện nên có giới hạn nên tôi muốn nói lại một lần rồi thôi. Nếu các bạn chưa hài lòng, tôi sẽ tổ chức họp mặt tất cả những ai bị cho rằng tôi đaoj văn họ và các luật sự về bản quyền cho các nhà báo tác nghiệp đến thật thỏa mãn thì thôi, tôi rất thèm một lần được làm như thế!

Vì vậy, khi tôi thoáng gặp ý thơ của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, bài” Đồng dao cho người lớn” có câu:“ Có người đang sống, mà như qua đời /Có cái chớp mắt đã ngàn năm trôi…” Nếu muốn chỉ ra sự vay mượn của tôi trong bài thơ thì phải là ý thơ này chứ không phải lời trăn trối muốn được về cố hương của Du Tử Lê.

Sự bất lực, sự tồn tại vô nghĩa nếu không được là chính mình đã đẩy tôi đến với tứ thơ ” Có lẽ đã chết vẫn tốt hơn” một cách tự nhiên, tôi không cho rằng câu mờ đầu “Nếu tôi chết, hãy đem tôi ra biển” là quá quan trọng trong tổng thể bài thơ, một ví dụ là tôi có thể đổi câu đó thành, “Nếu tôi chết hãy trả biển cho tôi /vì tôi là hạt muối buồn kết tủa từ cô đơn….” Rồi đi vào bài thơ vẫn giữ nguyên mạch đó nó không hề bị thay đổi hay ảnh hưởng gì… Tôi nói thật, trong đời nếu có lần đọc câu thơ hay nghe bài hát trên của Phạm Đình Chương, Du Tử Lê, tôi sẽ không chọn cách viết câu mở đầu bằng ,mệnh đề mang tính điều kiện đó. Vì tứ thơ của tôi là sự bất lực, sự vô nghĩa của tồn tại nếu không được là chính mình thì chết còn hơn cơ mà??? 

Và tôi gửi thông điệp ấy tới Nguyễn Việt Chiến vì có sự liên tưởng” dở hơi” của tôi giữa hình ảnh cô đơn của anh trong nhà giam và tự sự của những nhân vật trong kịch bản của tôi ở trại giam Trung Quốc….Rồi đến cả sự tồn tại của họ “vô hình đến kỳ lạ” trong thế giới này. Nói thật, chuyện bếp núc đằng sau chẳng bao giờ người đọc đơn thuần hiểu được, ngay cả anh Chiến, đọc bài thơ này anh cũng chẳng biết vì sao tôi lại viết thư cho anh theo cách đó, tôi tin chắc rằng anh Chiến cũng bất ngờ khi tôi kể chuyện này ra, vì tôi chưa bao giờ giải thích với ai một lời về cái tứ thơ đầy ẩn ức “quyên sinh” thế này cả.

Cuối cùng thì cuối năm 2009 anh Chiến được đặc xá, rồi anh lại có “ Tổ Quốc nhìn từ biển” hào sảng. Cuối cùng thì đến lúc giàn khoan HD981 vào lãnh hải của Việt Nam tháng 5 năm 2014, những người lính Gạc Ma “ Có lẽ đã chết vẫn được “công nhận” tốt hơn” kia, đã được công nhận dần dần…trên các phương tiện truyền thông. 

Cuối cùng, thì tôi vẫn đang phải sống với câu hỏi: “ Nhưng vì không chết, tôi sẽ là ai? Là ai nếu đớn hèn, lài ai nếu bon chen, là ai nếu giả dối, là lai nếu vụ lợi….?”

Cuối cùng thì kịch bản phim kia mãi mãi chỉ là một mong muốn, nó vẫn chưa được thực hiện thành phim, nhưng tôi sẽ không bỏ cuộc! 

Cuối cùng, mong muốn của tôi rất đơn giản: Các bạn hãy đặt hai bài thơ cạnh nhau và im lặng đọc trọn vẹn từ đầu tới cuối. Đọc hết rồi, các bạn muốn phán xét thế nào tôi cũng thấy vui vì thơ mình được đến với người đọc. Tôi không có gì phải đôi chối ở đây cả, đến mức đối với tôi “đã chết vẫn tốt hơn” thì tôi cần gì đâu!


https://www.facebook.com/huyenthu.phan/posts/866024936836333



Bổ sung 2 (ngày 12 tháng 10 thì nữ văn sĩ đã viết như sau trên Fb):





Tình cờ, sau khi nhà cháu post bài thơ "Có lẽ đã chết vẫn tốt hơn" ngày hôm qua, hôm nay có một vài đàn anh và bạn bè trên FB đã inbox hoặc cmt về một ca khúc có tên: " Khi tôi chết hãy mang tôi ra biển" của nhạc sĩ Phạm Đình Chương, phổ thơ Du Tử Lê. Thông tin này khiến nhà cháu tò mò quá! Lần mò vào mạng để tìm hiểu. Thì đây, đó là ca khúc cháu vừa tìm được trên mạng, chia sẻ cùng cả nhà ca khúc và lời ca từ này nhé!
Nhân sự vụ này, cháu chính thức có ý kiến: Vì sự tình cờ thú vị này, kể từ nay, cháu sẽ in nghiêng câu thơ: " Nếu tôi chết, hãy đem tôi ra biển" của cháu để tỏ lòng kính trọng tiền bối Du Tử Lê, người đã viết câu thơ tương tự : " Khi tôi chết hãy mang tôi ra biển" vào tháng 12 năm 1977, khi đó cháu mới 5 tuổi... ( mà cháu vừa loay hoay tìm hiểu trên mạng ) và mãi đến bây giờ cháu mới được tao ngộ.
Kể từ nay và mãi về sau, nếu in bài thơ này ở đâu hoặc tái bản tập thơ, cháu sẽ xin phép để in nghiêng như ca từ hoặc chú thích là câu thơ trên mượn ý thơ của tiền bối Du Tử Lê các bác ạ. ( Mặc dù bài thơ này cháu viết ngày 15.10.2008, ngày anh Nguyễn VIệt Chiến ra hầu tòa)

Kính cáo.
https://www.facebook.com/huyenthu.phan/posts/865017816937045?pnref=story




Phan Huyền Thư


Tức! Vì bọn bành trướng bá quyền Trung Quốc vận hành Hải đăng khiêu khích, ngang ngược!
Tức! Vì không viết được điều gì ngay lúc này... nên nhà cháu xin post lại một bài thơ viết gửi cho nhà thơ đàn anh Việt Chiến Nguyễn những năm tháng anh đang ở trong tù, vì anh rất hiểu điều cháu tức ạ!
Tức!! (Đã giảm xuống đỡ tức) Vì bài thơ này đã nằm ngoan trong tập "Sẹo độc lập", được in và được các tiền bối ghi nhận rồi.... nên post lên đây với mục đích " nhắc khéo" về tập thơ được giải. (Nói chung là cũng còn háo danh lắm ạ!)

CÓ LẼ ĐÃ CHẾT VẪN TỐT HƠN
( Thư gửi nhà thơ Nguyễn Việt Chiến)

Nếu tôi chết
hãy đem tôi ra biển
vì tôi là hạt muối buồn
kết tủa từ cô đơn
tự ăn mòn mình bằng mơ mộng

Nếu tôi chết
hãy ném tôi vào sóng
cào đến xước mặt hoàng hôn
nàng tiên cá hát ru con
mê hoặc đêm trăng những chàng thuỷ thủ
trôi theo dòng hải lưu tình sử
giam hồn mình dương liễu Quán Thế Âm

Nếu tôi chết
xin gió hãy hồn nhiên
cuốn tôi về phương trời trống rỗng
một mình tôi sẽ làm cả cơn dông
xoáy vào đại dương nỗi đau bất tận
lặng câm đã muối thành lời

Nhưng vì chưa chết,
tôi sẽ là ai ?

Là ai nếu nhạt nhẽo
Là ai nếu giả tạo
Là ai nếu bon chen
Là ai nếu đớn hèn
Là ai nếu ngu dốt
Là ai nếu dị hợm
Là ai nếu ...

Có lẽ đã chết vẫn tốt hơn?

Giữa biển đời hạn hán tình thương
bạc thếch nỗi niềm
ươn nhờn ngộ nhận
mỏng như vết máu khô loang sa mạc
chờ tín hiệu giải thoát
từ cảnh giới màu xanh

Tình âm u
ảo giác thuỷ triều lờ nhờ
tuôn bầu ngực trăng
căng lỗ thủng
dòng sữa đen đặc quánh
nuôi nấng lỗi lầm

Có lẽ đã chết
vẫn tốt hơn !

Hoang vu mắt
người đàn ông tiền kiếp của tôi
linh hồn ngậm sợi cỏ buồn mằn mặn
hạt muối lưu lạc cánh rừng u uẩn
tiếng vọng tình nghìn năm

Có lẽ
đã chết vẫn tốt hơn!

Tôi đã gói ghém xác thân
niêm phong dấu môi, thuyền giấy ảo vọng
sẵn sàng hải trình yêu bằng hải lưu nước mắt

Triệu triệu
xô dạt
triệu triệu
va đập
triệu triệu dòng
trắng
điên cuồng
sóng
tung toé dấu vết một cuộc đời.

Để viết lên mặt biển
bài thơ một cuộc ...người

Đã chết
có lẽ vẫn tốt hơn...
 https://www.facebook.com/photo.php?fbid=864721346966692&set=a.384350685003763.1073741825.100002865045010&type=3&theater








Bổ sung 1

Thứ năm, 15/10/2015 | 17:32 GMT+7


Phan Huyền Thư vừa đoạt giải đã bị nghi 'đạo thơ'



Bị cho là đạo thơ Dư Tử Lê trong tác phẩm "Có lẽ đã chết vẫn tốt hơn", nữ tác giả không đưa ra lời giải thích nào vì chị cho rằng, người đọc sẽ tự nhận biết được.
Tập thơ Sẹo độc lập của Phan Huyền Thư vừa đoạt giải thưởng hạng mục Thơ của Hội Nhà văn Hà Nội. Không lâu sau đó, Có lẽ đã chết vẫn tốt hơn - một bài trong tuyển tập - bị cho là tác phẩm phái sinh từ ý thơ của Du Tử Lê trong bài Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển. Những ý kiến nghi ngờ dựa trên sự tương đồng giữa ý thơ của hai tác giả.
Phan Huyền Thư viết: "Nếu tôi chết hãy đem tôi ra biển/ vì tôi là hạt muối buồn/ kết tủa từ cô đơn/ tự ăn mòn mình bằng mơ mộng/ Nếu tôi chết hãy ném tôi vào sóng/ cào đến xước mặt hoàng hôn/ nàng tiên cá hát ru con/ mê hoặc đêm trăng những chàng thuỷ thủ… (Có lẽ đã chết vẫn tốt hơn). Còn bài thơ của Du Tử Lê có những câu: "Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển/ đời lưu vong không cả một ngôi mồ/vùi đất lạ thịt xương e khó rã / hồn không đi sao trở lại quê nhà/ Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển/ nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi/ bên kia biển là quê hương tôi đó/ rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì...” (Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển).
Nhà thơ Lê Thiếu Nhơn cho rằng, cả bài thơ của Phan Huyền Thư đều diễn giải một cách bất lực dưới câu: “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển…”. Thậm chí, ngay câu “nếu tôi chết hãy ném tôi vào sóng…” của chị cũng không thoát được ý Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển.
"Ở trường hợp này, nếu độc giả khắt khe thì xem là đạo thơ, còn tôi thì cho rằng sáng tác của Phan Huyền Thư nên được gọi là tác phẩm phái sinh. Phan Huyền Thư đã chịu ảnh hưởng và được khơi cảm hứng từ câu thơ Du Tử Lê, để sáng tạo tác phẩm của mình" - Lê Thiếu Nhơn nói. 
phan-huyen-thu-vua-doat-giai-da-bi-nghi-dao-tho
Phan Huyền Thư và tập thơ "Sẹo độc lập".
Bài thơ Có lẽ đã chết vẫn tốt hơn có lời đề tặng "Thư gửi nhà thơ Nguyễn Việt Chiến". Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến nhận định: "Tôi không nghĩ Phan Huyền Thư đạo thơ. Dù câu thơ gần giống nhau, nhưng nội dung tác phẩm khác nhau, nhịp điệu, thể thơ khác nhau". Theo Nguyễn Việt Chiến, có thể Phan Huyền Thư ám ảnh với câu thơ của Du Tử Lê, từ tiềm thức, có thể dẫn tới việc tác giả sáng tác vô thức. 
Còn nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên lên tiếng: "Không có cơ sở để khẳng định Phan Huyền Thư đạo thơ. Với tư cách Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội - đơn vị vừa trao giải cho tập thơ Sẹo độc lập - tôi và hội đồng xét giải khi đọc bài thơ Có lẽ đã chết vẫn tốt hơn đều không thấy tinh thần của Du Tử Lê trong đó. Chúng tôi khẳng định Sẹo độc lập là một tập thơ giá trị".
Dưới con mắt một nhà phê bình văn học, ông Phạm Xuân Nguyên phân tích trong tập Sẹo độc lập có khá nhiều bài thơ là những trao đổi, đối thoại giữa Phan Huyền Thư với các bạn thơ. Ví dụ chị làm bài Bạch Lộ và ghi là "Độc ẩm với Lã Bất Vi", bài Happy Ending là "thư gửi nhà thơ Thanh Tùng",Câu hờ hững là "trò truyện với Nguyễn Bình Phương"... bài thơ Có lẽ đã chết vẫn tốt hơn là "Thư gửi nhà thơ Nguyễn Việt Chiến". "Như vậy, khi tiếp nhận tác phẩm, ta phải đọc liên văn bản. Bài thơ được đặt trong mạch trò chuyện với bạn thơ của Phan Huyền Thư" - nhà phê bình nói.
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên cũng lý giải thêm, việc một ý thơ nào đó giống nhau là chuyện thường thấy trong văn học nghệ thuật. Ví dụ, Tố Hữu trong bài thơ Nước non ngàn dặm có câu giống hệt câu "Nhớ quê anh lại tìm đường thăm quê" trong Truyện Kiều. Hay Phó Đức Phương cũng có ca khúc trùng tên với một truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp - Chảy đi sông ơi.
Trước những ý kiến về thơ của mình, Phan Huyền Thư tỏ ra bình tĩnh. Chị nói: "Nếu tôi đạo thơ của Du Tử Lê, thì người đầu tiên các bạn nên hỏi là chú ấy, chứ sao lại là tôi". Phan Huyền Thư giải thích, giả sử Du Tử Lê nói rằng "không đồng ý cho Phan Huyền Thư làm thế này thế kia", rằng "Phan Huyền Thư làm thế là cầm nhầm"... thì lúc đó chị mới lên tiếng. "Chỉ một câu nói vu vơ mà bắt tôi điều trần, tôi không muốn làm việc ấy". 
Phan Huyền Thư chia sẻ chị không muốn chuyện bé xé ra to, không muốn mất thời gian. "Tôi không muốn lên tiếng, hãy để cho độc giả đưa ra nhận xét".
Lam Thu - Thoại Hà

http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/phan-huyen-thu-vua-doat-giai-da-bi-nghi-dao-tho-3296394.html


Phần nhận xét hiển thị trên trang