Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2015

Niềm đau của một số người Việt lưu vong thời nhà Minh

ktt_20-5_noidanh5_kienthuc

Tác giả: Hồ Bạch Thảo
1. Trường hợp Hồ Nguyên Trừng
Khó mà tin được rằng Lê Trừng, tức Hồ Nguyên Trừng, người Việt Nam thành công nhất dưới thời nhà Minh, lại phải ôm một niềm đau. Thành công của Hồ Nguyên Trừng lớn đến nỗi đã là mục tiêu ghen tỵ của dân bản xứ. Qua tác phẩm Hoàng triều kỳ sự thuật [Thuật việc lạ thời triều Minh], Vương Thế Trinh, một sử gia nổi tiếng thời Gia Tĩnh chép: “Một người Giao Chỉ, tên Lê Trừng, chưa hề đậu đại khoa [Tiến sĩ], được đặc cách giữ chức Thượng thư bộ Công!”
Sách Vạn Lịch dã hoạch biên ca tụng Lê Trừng là người đầu tiên chế tạo hỏa khí cho Trung Quốc:
“Bản triều [triều Minh] dùng hỏa khí đánh giặc, là chiến cụ công hiệu bậc nhất từ xưa đến nay; nhưng sự tinh diệu của khí giới này, có được từ khi Văn Hoàng đế [Thái Tông] bình Giao Chỉ. Tức dùng ngụy Tướng quốc Ðại vương Lê Trừng nước Việt làm quan bộ Công chuyên việc chế tạo và lưu truyền từ đấy. Nay trong cấm quân có cơ quan gọi là Thần Cơ doanh, binh sĩ doanh này là những người chuyên chế tạo hỏa pháo. Người đương thời cho rằng các kỹ thuật thần kỳ từ xưa đến nay, không thể hơn được.” Sách Minh sử cảo chép trong cung đình tế “Kim Cổ hiệu giác thiết pháo chi thần” tức tế Lê Trừng. Sách Dã kýchép thêm: “Nay phàm tế binh khí đều tế Lê Trừng.”
Bằng cớ nào dám bảo một nhân vật đứng vào hàng số một về nhiều phương diện như được nêu trên, lại mang một niềm đau? Ðể tìm hiểu, chúng ta hãy lược qua thân thế sự nghiệp của con người này: Hồ Nguyên Trừng là con trưởng của Hồ Quí Ly, đáng lý phải được cha giao cho ngôi vua, nhưng vì lý do chính trị khiến người em là Hồ Hán Thương được lên thay thế. Lúc bấy giờ, tuy Hồ Quí Ly đã giành ngôi của nhà Trần, nhưng giấu không báo cho triều đình nhà Minh biết. Nhân Hồ Hán Thương là con của Hồ Quí Ly và Huy Ninh Công chúa [1] ; Quí Ly cố tình hợp pháp hoá việc giành ngôi bằng cách trao quyền cho Hán Thương. Rồi Hán Thương [tên xưng với triều đình nhà Minh là Hồ Ðê] tâu với vua Thái Tông [nhà Minh] rằng con cháu nhà Trần đã chết hết, y là cháu ngoại nhà Trần tạm thời trông coi việc nước, trong khi chờ đợi xin sắc phong.
“Ngày 3 tháng 4 năm Vĩnh Lạc thứ nhất [21/4/1403]
Quyền trông coi việc nước An Nam, Hồ Đê, sai sứ dâng biểu, sản phẩm địa phương mừng lên ngôi; cùng tâu như sau:
‘Trước đây Thiên triều Thái tổ Cao Hoàng đế nhận mệnh trời thống nhất hoàn vũ; vương trước là Trần Nhật Khuê [2] với lòng thành cho người đến triều cống trước các nước Di khác, được đội ơn ban tước cho làm Vương cai quản đất đai. Nhưng chẳng may sau khi Nhật Khuê mất, con cháu và các chi thứ đều bị tuyệt tự, không có người thừa kế. Thần là cháu ngoại nhà Trần, được dân chúng suy tôn quyền coi việc nước, chủ việc cúng tế, đến nay đã 4 năm rồi; nhờ ơn Thánh đức đất nước được bình an. Nhưng danh phận chưa được chính, nên khó lòng đốc suất được kẻ dưới, dâng biểu lên cũng không có danh hiệu để xưng! Cúi mong ơn trời phong tước cho thần để cho nước bị phế được phục hưng, chốn hoang di có sự thống trị; Thần phụng mệnh tiến cống đến chết không hai lòng.’
Việc đưa xuống bộ Lễ bàn luận. Bộ Lễ tâu: ‘Dân Di xa xôi thường cẩu thả khó tin, nên sai sứ sang điều tra.’ Thiên tử chấp thuận.” [3]
Sử nước ta chép việc Hồ Quí Ly muốn biết Hồ Nguyên Trừng có khí tượng làm vua hay không, bèn ra câu đối thử:
Thử nhất quyển kỳ thạch, hữu thì vi vân vi vũ dĩ nhuận sinh dân (Hòn đá lạ bằng nắm tay này, có lúc làm mây làm mưa để nhuần thấm sinh dân)
Trừng đáp lại như sau:
Giá tam thốn tiểu tùng, tha nhật tác đống tác lương dĩ phù xã tắc (Cây thông nhỏ mới ba tấc kia, ngày sau làm rường làm cột để chống nâng xã tắc) [4]
Quí Ly thấy chữ “lương đống” (rường cột) biểu tượng cho chức quan, nên không đưa Trừng lên làm vua. Câu chuyện này chỉ có giá trị như một giai thoại, chứ không phải là một sự kiện lịch sử!
Tuy không được làm vua, nhưng Hồ Nguyên Trừng được ban quyền chỉ huy quân đội, tước Ðại vương. Khi quân Minh sắp sang đánh nước ta, mối lo lớn nhất của Trừng là sợ dân không theo, nên đã từng tâu với Quí Ly như sau: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi.”
Ðiều nhận xét của Hồ Nguyên Trừng, đúng với tình trạng đất nước thời bấy giờ. Hồ Quí Ly cải cách nhanh, muốn làm mạnh đất nước trong một thời gian ngắn, dùng chính sách hà khắc khiến lòng người chán ghét. Sự kiện này cũng được Nguyễn Trãi phản ảnh tương tự qua Bình Ngô đại cáo:
Vì họ Hồ chính sự phiền hà,
Ðể đến nỗi lòng người oán hận.
Một người có tầm nhìn lịch sử sáng suốt như Hồ Nguyên Trừng, ắt phải thấy được dân Việt có truyền thống “Thà làm đầu gà hơn làm đuôi trâu”; truyền thống này còn được Sứ giả Trung Quốc Lý Giác ca tụng khi đến thăm nước ta dưới thời vua Lê Ðại Hành, qua bài thơ Ðường luật có câu:
Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu
(Ngoài bầu trời [Trung Quốc] còn có một bầu trời [Việt Nam] chiếu sáng ở đằng xa)
Nói cách khác, Hồ Nguyên Trừng phải thấy dân tộc ta có truyền thống tự chủ, ắt phải vùng lên giành độc lập trong một ngày không xa; thì việc giúp cho nhà Minh chế súng, quan quân họ sẽ dùng để bắn lại đồng bào mình, quả là một tội lớn đối với đất nước! Nhưng khi bị bắt, phần vì bị ép buộc, phần vì mạng sống bị đe dọa, Hồ Nguyên Trừng đã phạm phải lỗi lầm này.
Niềm đau của Hồ Nguyên Trừng thấy được, bởi trong thời gian dài làm việc đã không nạp đơn để được thăng thưởng. Việc làm này trái với qui định hành chánh thời bấy giờ, ắt phải được bạn đồng liêu, cùng cấp chỉ huy trực tiếp nhắc nhở; nhưng Trừng không thay đổi ý định, để cuối cùng bị bộ Hộ đàn hạch như sau:
“Ngày 17 tháng 3 năm Tuyên Đức thứ nhất [24/4/1426]
Bộ Lại tâu về việc khảo mãn Lê Trừng, Chủ sự ty Doanh Thiện Thanh Lại thuộc bộ Công. Trừng trải qua 9 năm không đến bộ nạp lý lịch; nay trải qua 2 lần khảo xét mới nạp lý lịch, như vậy trái với quy chế. Thiên tử phán: ‘Trừng có tội lớn tại An Nam, Hoàng tổ [vua Thái Tổ] tha và dùng. Nay phạm tội nhỏ, có thể tha được.’” [5]
Hành động chống đối tiêu cực của Hồ Nguyên Trừng, có lẽ ý ngầm muốn nói rằng: “Các ngươi bắt ta làm điều trái với lương tâm; vì mạng sống đe dọa buộc phải làm, nhưng ta không thèm chức tước của các ngươi!” Ðây là tâm sự của kẻ muốn vớt vát tấm lòng trung trinh trong chặng đường cùng, cũng giống như tâm sự nàng Kiều trong Ðoạn trường tân thanh:
Chữ trinh còn một chút này,
Chẳng cầm cho vững lại giày cho tan.
Nhưng Hồ Nguyên Trừng đối diện với những đối thủ không vừa; họ không bắt lỗi, mà lại tiếp tục thăng chức. Thời Tuyên Tông, Trừng được thăng chức Hữu Thị Lang, rồi Lang trung; lương được phát toàn bằng gạo, một đặc ân thời bấy giờ:
“Ngày 3 tháng Giêng năm Tuyên Đức thứ 33 [18/1/1428]
Mệnh Hữu Thị Lang bộ Công Lê Trừng tại nơi hành tại [6] được cấp lương tháng toàn bằng gạo. Trừng là anh của chúa ngụy cũ An Nam, Lê Thương. Trước kia Trừng bị bắt đến kinh đô, Thái Tông Văn Hoàng đế xá tội và dùng; khởi đầu trao chức Chủ sự bộ Công, Thiên tử [Tuyên Tông] tức vị được thăng Lang trung nội thần. Nghe tâu nhà nghèo, bèn thăng chức Thị lang; đến nay lại ra lệnh cấp bổng hàng tháng toàn bằng gạo.”[7]
Thời Minh Anh Tông [1445] Hồ Nguyên Trừng được thăng chức Thượng thư bộ Công, rồi con là Lê Thúc Lâm được kế nghiệp quản đốc quân khí; sau khi Trừng mất, cháu nội Lê Thế Vinh cũng được điều về làm việc tại cơ quan này:
“Ngày Giáp Tý tháng 4 năm Thành Hoá thứ 5 [21/5/1469]
Dùng con của viên Hữu Thị lang bộ Công Lê Thúc Lâm, tên Thế Vinh làm Trung thư Xá nhân. Thúc Lâm gốc người Giao Chỉ; cha là Trừng, con Lê Quí Ly, em [anh mới đúng] Lê Thương, vốn là tù binh bị bắt về. Thái Tông Văn Hoàng đế tha tội cho, ban cho chức quan, chuyên chế tạo súng, đạn, thuốc nổ tại Binh Trượng cục, cuối cùng giữ chức Thượng thư bộ Công. Thúc Lâm kế nghiệp, vẫn tiếp tục chế tạo quân khí. Ðến nay xin cho con là Thế Vinh được làm quan tại kinh đô, để tiện bề phụng dưỡng. Thiên tử nghĩ đền người phương xa, nên chấp thuận.” [8]
Vinh hoa phú quí đến với gia đình Hồ Nguyên Trừng dồn dập, ngay cả con cháu cũng được thăng quan tiến chức; Trừng tự nguyện làm việc cho nhà Minh đến quá tuổi về hưu, trên 70 tuổi.
“Vào năm Chính Thống thứ 8 [1443], Trừng 70 tuổi, theo lệ phải về hưu; bèn dâng sớ xin lưu dụng. Thiên tử thương người Giao Chỉ xa xôi, nên chấp thuận ( Chính Thống bát niên, Trừng niên thất thập lệ ứng trí sĩ, thượng sớ khất lưu dụng. Thượng lân kỳ Giao Chỉ viễn nhân, tòng chi.)”[9]
Tuy sống trong nhung lụa, niềm đau của Hồ Nguyên Trừng vẫn còn, đau bởi không đủ nghị lực để chống lại quyền lợi vật chất cùng danh vị!
2. Trường hợp người Việt theo vua Anh Tông đi đánh Dã Tiên [10] tại miền bắc Trung Quốc
Trong cuộc chiến giữa Trung Quốc và bộ tộc Ngõa Lạt xảy ra vào năm 1449, vua Anh Tông ngự giá thân chinh đi đánh. Chuẩn bị cho chiến dịch này, nhà vua điều động mọi tiềm năng trong nước. Ngay đến Vương Thông; vì thất trận tại nước ta dưới thời vua Tuyên Tông nên bị xử tội chết, rồi được tha làm dân; lúc này cũng được phục chức cho đi trấn thủ một miền:
“Ngày 27 tháng 9 năm Chính Thống thứ 14 [3/10/1449]
Mệnh Vương Thông giữ chức Trung quân Ðô đốc phủ Ðô đốc Thiêm sự, quản đốc việc phòng vệ Cửu Môn. Thông trước kia được ban tước Phong thành hầu, vì để mất Giao Chỉ bị giáng xuống làm dân. Nay được cất nhắc lên dùng.” [11]
Riêng những người Việt lưu vong tại Trung Quốc cũng được chú ý đến. Phần lớn những người này đã từng theo nhà Minh lúc họ cai trị nước ta, rồi tình nguyện sang Trung Quốc khi Vương Thông thua rút quân về nước vào năm 1427. Nếu lúc đó ở vào khoảng ngoài 20 tuổi, thì lúc xảy ra cuộc chiến phương Bắc tuổi họ cũng đã xấp xỉ 50.
Tuy đã luống tuổi, lại không ở trường hợp đánh giặc cho tổ quốc mình, nên trong lòng chắc không ai muốn tham dự cuộc chiến. Nhưng vì thân phận sống nhờ “ăn cơm chúa phải múa tối ngày”, nên đành phải gắng sức tham gia.
Rồi một người tên là Nguyễn Tông Kỳ được nêu lên làm gương, để tập trung một số người Việt vào đoàn quân “chí nguyện” đánh giặc phía bắc Trung Quốc:
“Ngày 1 tháng 9 năm Chính Thống thứ 14 [17/9/1449]
Hồng lô tự Thông sự tự ban Nguyễn Tông Kỳ tâu:
‘Thần gốc người Giao Chỉ. Xin lệnh bộ Binh ra bảng chiêu dụ những người Thổ quan Giao Chỉ qui thuận. Thần sẽ tổ chức thành đội ngũ, thao luyện quân sự, sử dụng lá chắn, súng, cung nỏ giết giặc.’ Thiên tử chấp thuận.”[12]
Lại thêm một người Việt tình nguyện huấn luyện voi, một binh chủng sở trường của người phương nam, để tham gia vào cuộc chiến:
“Ngày 8 tháng 9 năm Chính Thống thứ 14 [24/9/1449]
Thổ quan Giao Chỉ Bách hộ Trần Phục Tông tâu:
‘Nên chọn voi rồi cho diễn tập, chế tạo yên ngựa và áo giáp. Thần nguyện lãnh quân kỵ, voi phá trận.’ Mệnh đưa cho Vũ thanh bá Thạch Hanh thẩm nghiệm.” [13]
Số phận của những người này ra sao, thực không có sử sách nào ghi chép; nhưng để có một chút ý niệm, hãy xem cảnh Sứ giả nhà Minh được gặp vua Anh Tông, trong hoàn cảnh nhà vua bị Dã Tiên bắt làm tù binh:
“Mùa thu tháng bảy, nhà Minh sai Lý Thực làm Chánh sứ đi cùng sứ giả cuả giặc lên phương Bắc. Ngày 15, bọn Thực ra mắt Anh Tông, rỏ nước mắt khóc, làm lễ lạy xong, thấy chỗ của vua Anh Tông lều bằng da, màn bằng vải, trải chiếu xuống đất mà ngủ, bèn tâu rằng:
‘Nay Bệ hạ ăn mặc kham khổ quá!’ …” [14]
Số phận vua Trung Quốc còn như vậy, thì những người Việt tham gia cuộc chiến ắt phải tồi tệ hơn. Nếu sống thì làm tù binh, phải lãnh kiếp du mục nơi sa mạc miền bắc lạnh thấu xương, chăn cừu, chăn dê suốt cả một đời. Nếu chết, thân vùi trong gió cát, bão tuyết:
Chinh phu sĩ tử mấy người,
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn… [15]
3. Trường hợp Ðào Quí Dung
Quí Dung là người theo nhà Minh, chống vua Lê Lợi đến cùng; được vua Tuyên Tông đặc cách thăng chức Tri phủ Tuyên Hoá:
“Ngày 12 tháng 2 năm Tuyên Đức thứ 2 [9/3/1427]
Thăng Đồng tri phủ Tuyên Hóa Giao Chỉ Đào Quí Dung làm Tri phủ phủ này. Sai người mang sắc đến ủy lạo Quí Dung rằng nay phản tặc Lê Lợi cuồng bạo, ngươi thể hiện tận trung, cẩn thận giữ thành bảo vệ nhân dân, thật đáng khen! Đặc cách thăng ngươi làm Tri phủ Tuyên Hóa; hãy gắng sức trung thành để đáp ứng sự ưu đãi của triều đình.” [16]
Khi vua Lê Lợi giành lại nền độc lập, Quí Dung đem cả gia đình chạy sang Trung Quốc và xin sống vĩnh viễn tại tỉnh Vân Nam:
“Ngày 18 tháng 8 năm Tuyên Đức thứ 3 [26/9/1428]
Thổ quan phủ Tuyên Hóa, Giao Chỉ bọn Tri phủ Đào Quí Dung đến triều cống phương vật. Tự trình bày rằng tổ phụ được thế tập làm Thổ quan huyện Thủy Vĩ. Vào năm Vĩnh Lạc thứ 4, nhân Giao Chỉ quy phụ, được giữ chức Tri huyện Thủy Vĩ, vào năm Vĩnh Lạc thứ 5 giết giặc có công, được thăng Tri châu Quy Hóa, năm Vĩnh Lạc 18 thăng Đồng tri phủ Tuyên Hóa; vì không theo phản loạn Lê Lợi nên được thăng Tri phủ phủ Tuyên Hóa. Lê Lợi sai Đầu mục Hoàng Lỗi chiêu dụ, Quí Dung bắt lỗi, mang cả ấn bỏ sang huyện Mông Tự, phủ Lâm An, Vân Nam. Lại đem Lỗi dâng cho quan Tổng binh, được cấp thưởng các vật như yên, ngựa. Rồi điều xuất dân binh, đi tiên phong trước quan quân, đến Thủy Vĩ đánh nhau với bọn tướng giặc là bọn Nguyễn Ngọ, chém được 4 đầu giặc, lại được thưởng.
Nay đất cũ đã bị mất, không có đường về; bèn cùng với Thổ quan Chủ bạ Khổng Văn Tái, Thổ lại Trần Hiếu Trung, Đầu mục Đào Tế đến triều đình. Thiên tử khen, mệnh ban cho các vật như tiền, áo, theo lệ đã ban cho Vũ Hiếu Thiên; lại cho ở kinh đô. Bọn Quí Dung trình bày xin cư trú tại châu Ha Mễ, Vân Nam; được chấp thuận. Lại ra lệnh các quan có trách nhiệm cấp phòng ốc, đất đai, giúp đỡ thêm để không bị thất sở.” [17]
Nhưng rồi Quí Dung vẫn không được sống yên, 6 năm sau đành gạt nước mắt để con là Ðào Lộc tình nguyện trở về Việt Nam [18] . Sự việc xảy ra cũng dễ hiểu thôi: con có quan niệm của con, bố có tư tưởng của bố!
Nguồn: © 2008 talawas
————–
[1]Huy Ninh Công chúa là con gái của vua Trần Minh Tông.
[2]Trần Nhật Khuê tức vua Trần Dụ Tông.
[3]Minh thực lục, q. 9, t. 337; Thái Tông q. 19, t. 1a.
[4]Ðại Việt sử ký toàn thư, NXB Khoa học Xã hội, bản dịch, tập 2, tr. 198.
[5]Minh thực lục v. 16, t. 409; Tuyên Tông v. 16, q.15, t. 13a.
[6]Hành tại: nơi vua tạm dừng.
[7]Minh thực lục q. 35, t. 0875.
[8]Minh thực lục v.42 , t. 1329; Hiến Tông q. 66, t. 4a.
[9]Ðại Việt sử ký toàn thư, tập 2, tr. 317.
[10](Esen Tayisi, ?-1454) thủ lĩnh người Oirats (Ngõa Lạt – một sắc tộc Mông Cổ nay còn khoảng 500.000 người sống ở Mông Cổ, Trung Hoa và Nga).
[11]Minh thực lục v. 30, t. 3595; Anh Tông q. 183, t. 21a.
[12]Minh thực lục v. 30, t. 3538; Anh Tông q. 182, t. 1b.
[13]Minh thực lục v. 30, t. 3573; Anh Tông q. 183, 10a.
[14]Ðại Việt sử ký toàn thư, tập 2, tr. 377.
[15]Chinh Phụ Ngâm.
[16]Minh thực lục v., t. 657, Tuyên Tông q. 25, t. 5b.
[17]Minh thực lục v. 18, t. 1130 1131; Tuyên Tông q.46, t. 9b 9a.
[18]Ðại Việt sử ký toàn thư, tập 2, tr. 317.
- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2015/10/14/niem-dau-cua-mot-so-nguoi-viet-luu-vong-thoi-nha-minh/#sthash.0KngmC7j.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

15/10/1990: Gorbachev được trao giải Nobel Hòa bình

gorbachev

Nguồn: “Mikhail Gorbachev wins Nobel Peace Prize,” History.com (truy cập ngày 14/10/2015).
Biên dịch & Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng
Vào ngày này năm 1990, nhà lãnh đạo Liên Xô Mikhail Gorbachev được trao giải Nobel Hòa bình cho những đóng góp của ông nhằm chấm dứt căng thẳng Chiến tranh Lạnh. Kể từ khi lên nắm quyền năm 1985, Gorbachev đã tập trung nhiều công sức và tiền của cho các kế hoạch cải cách trong nước của ông thông qua các nỗ lực lớn nhằm đạt được sự hiểu biết chung về chính sách đối ngoại với thế giới phi cộng sản.
Một số thành tựu của ông bao gồm bốn cuộc họp thượng đỉnh với Tổng thống Mỹ Ronald Reagan, trong đó có một cuộc họp năm 1987 khi hai bên đạt được một thỏa thuận dỡ bỏ hệ thống tên lửa tầm trung của Hoa Kỳ và Liên Xô ở châu Âu. Ông cũng là người bắt đầu rút quân đội Liên Xô khỏi Afghanistan từ năm 1988 và gây áp lực ngoại giao lên Cuba và Việt Nam để hai nước rút lực lượng của mình khỏi Angola và Campuchia. Trong một cuộc họp năm 1989 với Tổng thống George W. H. Bush, Gorbachev tuyên bố Chiến tranh Lạnh đã chấm dứt.
Gorbachev cũng giành được sự tôn trọng của nhiều người phương Tây qua chính sách không can thiệp vào các biến động chính trị đã làm rung chuyển các quốc gia “vệ tinh” của Liên Xô ở Đông Âu cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990. Khi Tiệp Khắc, Đông Đức, Ba Lan, và các nước khác dọc Bức màn Sắt bắt đầu xoay sang các hệ thống chính trị dân chủ và nền kinh tế thị trường tự do hơn, Gorbachev đã kiềm chế sự can thiệp của Liên Xô. (Chính sách này không được áp dụng cho các nước cộng hòa Xô viết; những nỗ lực tương tự của Litva và các nước cộng hòa khác đã gặp phải những lời cảnh báo nghiêm khắc cũng như việc đe dọa sử dụng vũ lực từ Moskva nhằm giữ cho Liên Xô được thống nhất.)
- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2015/10/15/gorbachev-duoc-trao-giai-nobel-hoa-binh/#sthash.ckMGijQn.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

ĐỐI ĐẦU TẠI TRƯỜNG SA: TRUNG QUỐC XÂY ĐẢO NHÂN TẠO TRÁI LUẬT QUỐC TẾ THÌ MỸ PHẢI CƯƠNG QUYẾT TUẦN TRA SÁT CẠNH ĐỂ BẢO VỆ QUYỀN TỰ DO LƯU THÔNG HÀNG HẢI


                                                                   Tạ Văn Tài  10/2015

1.    TRƯỜNG SA CĂNG THẲNG .
     Biển Đông hay Nam Hải (South China Sea)  là con đường lưu thông hàng hải của một phần rất lớn thương mại quốc tế, giá trị  tới 5 ngàn tỷ Mỹ kim mỗi năm, và là trục lưu thông của các hạm đội hải quân của các cường quốc thế giới và các nước Á châu. Vậy mà Trung quốc, sau khi chiếm Hòang Sa năm 1974, lại  đã lấn chiếm một số đảo và đá ngầm của Phi luật Tân và Việt Nam tại Trường Sa, trong các năm tứ 1988 tới nay,  rồi gần đây tiến hành xây thành đảo nhân tạo 7 khu đá ngầm chiếm của nước khác ớ đó (6 của Phi: Hughes, Mischief, Cuarteron, Fiery Cross, Gaven,Subi, 1 của Việt Nam: Johnson South hay là Gac Ma), chắn ngang đường lưu thông thương mại hàng hải thế giới, và đường di chuyển của hải quân nhiều nước. Mỹ nhắm vào Tàu nhưng nói ngọai giao, yêu cầu tất cả các nước ngưng xây các đá ngầm thành đảo nhân tạo với hậu quả quân sự hóa, gây căng thẳng cho mọi phía; nhưng tuy vào tháng 8,2015, ngọai trưởng Wang Yi của Trung quốc tuyên bố việc đắp đảo đã ngưng, thì không ảnh từ hành tinh cho thấy ngưòi Tàu đã nói dối, vì vẫn tiếp tục đắp đảo và còn xây một phi trường nữa. Rất có thể có lúc Trung quốc sẽ tuyên bồ hải phận và không phận, khu nhận dạng phòng không trong vùng các đá ngầm xây nổi lên mặt nước này, làm ngáng trở quyền tự do lư thông trên đại dương.


 
2.    MỸ BUỘC LÒNG PHẢI ĐỐI ỨNG  MẠNH HƠN TRƯỚC, NHƯNG VẪN THEO ĐÚNG CÔNG PHÁP QUỐC TẾ.
Thực ra thì trước đây, từ 2011, Mỹ đã thi hành 6  cuộc tuần tra tự do lưu thông (freedom of navigation patrol operations FONOPS), trong đó có 3 lần ở Vùng Trường Sa. Nhưng Mỹ chưa có cho tầu đi vào sát gần hơn 12 hải lý các đá mà Trung quốc xây thành đảo nhân tạo. Nay thì các viên chức Mỹ đồng thuận trong việc thấy cần phải đối kháng lại Trung quốc nhận vơ 12 hải lý lãnh hải (territorial waters) cho các đảo nhân tạo, và Hạm Đội 7 đã được lệnh bộ trưỏng quốc phòng Ash Carter thảo sẵn từ đầu năm 2015 các phương án đối đầu. Nhưng chưa có thi hành cuộc tuần tra, vì Mỹ không muốn làm sứt mẻ cuộc họp thượng đỉnh Obama-Tập Cẩn Bình. Nhưng chính Tổng thống Obama đã tuyên bố trong cuộc họp báo chung với ông Tập là Mỹ sẽ cho quân đội lướt sóng bay cao, hay họat dộng tại bất cứ nơi nào luật quốc tế cho phép. Sự thực là Mỹ ở trong thế chẳng đặng đừng, không làm  và không nói thì thuaTuy Mỹ không muốn nói ai có chủ quyền lãnh thổ ở những đảo nổi lớn, vì mỗi quốc gia phải tự chứng minh theo bằng chứng lịch sử, nhưng Mỹbắt buộc, nếu không muốn để mất tự do lưu thông thương mại và quân sự ở Biển Đông, phải nói theo Công Ước Luật Biển UNCLOS là các đá ngầm xây thành đảo nhân tạo không bao giờ là lãnh thổ với lãnh hải/territorial sea , vì chúng thuộc thềm lục địa các nứơc cận duyên, và chỉ có các nuớc cận duyên (Tàu cách xa Trường Sa hơn một ngàn miles, không phải là nước cận duyên) mới có quyền xây đảo nhân tạo, và đảo nhân tạo cũng không tạo ra lãnh hảnh hải/territorial sea.- Điều 60 UNCLOS. Đá ngầm không như là đảo,hay đá, tức là các vùng đất nổi trên mặt nước biển lúc thuỷ triêu lên cao, và chỉ có đảo hay đá nổi mởi có vùng lãnh hải 12 hải lý, hay vùng đặc quyến kinh tế 200 hải lý nữa, nếu là đảo trong trạng thái thiên nhiên (có nước ngọt, có cây và súc vật, tạo nền kinh tế tự túc) Mỹ chỉ phải tôn trọng 12 hải lý lãnh hải chung quanh đá hay đảo nổi (và dù phải tôn trọng lãnh hải, thì cũng có thể đi qua vô hại innocent passage - nghĩa là không dừng lại vô cớ, xả rác, đánh cá...). Còn đối với đá ngầm khi ở trong trạng thái thiên nhiên, mà đã xây cao thành đảo nhân tạo, thì Mỹ củng chỉ cần cho các tàu di cách xa vài trăm thước, một khỏang cách giũ an tòan mà thôi.

3. MỸ. DÙ CÓ LẼ PHẢI ,CŨNG MUỐN CÓ CÁC NƯỚC ĐỒNG MINH HAY THÂN HỮU KHÁC CÙNG ĐỒNG THUẬN TRONG VIỆC THỬ THÁCH TRUNG QUỐC
  
Bộ trưởng quốc phòng Ash Carter, ngọai trưởng John Kerry, tư lênh hạm đội Thái Bình Dương Harry Harris sẽ họp và tham khảo với chính phủ Úc (thủ tưởng Úc cũng đã phản đổi đảo nhân tạo rồi). Mỹ cũng dã tham khảo và được sự ủng hộ của Phi Luật Tân: nghị sĩ Trillanes và ngọai trưởng Rosario của Phi đều tin rằng Mỹ mà cương quyết thì cũng không gây ra đối đầu nguy  hiểm, mà còn làm ổn định tình hình. Ỗng Rosario nói: “Việc không bác bỏ các đòi hỏi chủ quyền giả dối của Trung Quốc sẽ ảnh hưởng đến trật tự khu vực và khiến Trung Quốc nghĩ rằng các đòi hỏi chủ quyền giả dối của họ được chấp nhận như sự đã rồi” .
  Việt Nam, tuy có ít đảo bị Tàu chiếm hơn là số đảo của Phi, nhưng nên lợi dụng huà theo khi các nước khác nêu được trào lưu chống Trung quốc—chứ không nên để lỡ dịp như đả lỡ dịp không cùng Phi kiện Trung quốc khi Phi mời mọc, đúng vào thơi điểm có lý do phản đối xự lấn lướt của Trung quốc, tức là thời điểm đặt giàn khoan HY 981 ngang ngược trong thềm lục địa Việt Nam vào giữa năm 2014. Mà lần này không phải mình Việt Nam đơn phương đồi đầu với Tàu như trong vụ giàn khoan, mà có bao nhiều nước chung sức chống lại Tàu, thì chắc Tàu cũng sẽ không có phản ứng mạnh, như dự liệu sau đây.

4. PHẢN ỨNG CÓ THỂ CÓ CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI VIỆC MỸ TUẦN TRA TRONG VÙNG DƯỚI 12 HẢI LÝ CÁCH CÁC ĐÁ NGẦM.

Vào tháng 5, 2015, Mỹ cho máy bay thám thính đi trên các đá ngầm thì cũng chỉ có lính Tàu nói vọng trong radio lên mày bay là  "đây là khu chủ quyền Trung quốc, yêu cầu lui ra xa”, tức là nói suông. Bây giờ thì phát ngôn nhân ngọai giao Tàu là Hua Chunying cũng chỉ nói là tin báo chí nói Mỹ sẽ tuần tra làm “chúng tôi lo ngại” và tuy Trung quốc tôn trọng tự do lưu thông trên biển, nhung vẫn sẽ phản đối nước khác vi phạm “lãnh hải  và không phận của Trung quốc tại Nansha”. Nhưng theo UNCLOS,  đảo nhân tạo làm gì có lãnh hải đâu? Các viên chức Mỹ nói ông Tập cam kết không quân sự hóa Trường Sa, thì Mỹ sẽ cho tầu đi vào sát các đá ngầm để thử xem có đúng là giữ cam kết đó không. 

   Có chuyên viên cho rằng Trung quốc có thể cho máy bay hoặc tàu cảnh sát biển đeo bám tàu Mỹ và khi các tàu Mỹ đi rồi thì hô lớn lên rằng “đã đuổi được Mỹ ra khỏi Biển Đông”; họăc sẽ dùng trò tung hàng loạt tàu đánh cá cản trở hướng đi của các tàu Mỹ. Nhưng như thế cũng chưa phải là xung đột quân sự.
     Nếu có dùng khí giới thì chắc chỉ đe dọa, như gỉa vờ có tai nạn do mày bay không người lái đi sai đường bay cho nên mới đâm vào tầu Mỹ.
     Đã đền lúc phải thực thi pháp luật quốc tế một cách mạnh mẽ mà không sợ Trung quốc. Nhất là Trung quốc, theo luật quốc tế, đã cưỡng chiếm bằng võ lực các đá tại Trường Sa của Phi, Việt Nam và các nước khác , thì không thể tạo ra chủ quyền, dù đá là đá ngầm hay là đá nhô nổi trên mặt biển. Nghĩa là không bao giờ Trung quốc có lẽ phải ở vùng Trường Sa.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Gặp thời "loạn đến văn chương.."- "Đạo văn, đạo vở" vẫn thường xảy ra - Rỗi hơi cuốc đất chăn gà - Tính liều "đạo" của người ta làm giề?

Phan Huyền Thư lại bị dính nghi án đạo thơ

Hiện chưa rõ nghi án lần này thì như thế nào. 

Nhưng cách đây một số năm, thì nữ văn sĩ này đã thực sự đạo văn một lần. Chuyện cũ ấy khơi mào từ hội thơ xuân, lúc đó là liên quan đến Thanh Tâm Tuyền, và phát hiện ra là Hoàng Ngọc Tuấn củaTiền Vệ.

Nghi án lần này vừa xuất hiện trên Dân trí (xem toàn văn ở dưới).

---


Thứ Năm, 15/10/2015 - 11:38

Phan Huyền Thư dính nghi án “đạo thơ”


Dân trí Làng văn lại xì xào “nghi án” mới, có ý kiến cho rằng Phan Huyền Thư đã “đạo” ngay trong tập thơ vừa đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội, được trao hôm 10/10.


 >> Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội 2015: Nặng ký và khác lạ


Khá nhiều ý kiến bức xúc cho rằng Phan Huyền Thư đã cố tình “cầm nhầm” thơ của Du Tử Lê - một nhà thơ hải ngoại, nổi danh với dòng thơ trữ tình từ trước giải phóng ở Sài Gòn, đã xuất bản tới hơn 30 ấn bản thơ, công bố tác phẩm trên khá nhiều trang mạng trong và ngoài nước.
"Sẹo độc lập" có thực sự độc lập?
Nguyên văn câu thơ mở đầu bài thơ “Có lẽ đã chết vẫn tốt hơn” - một bài trong tập “Sẹo độc lập” như sau: “Nếu tôi chết/hãy đem tôi ra biển/vì tôi là hạt muối buồn/kết tủa từ cô đơn/tự ăn mòn mình bằng mơ mộng/Nếu tôi chết hãy ném tôi vào sóng/cào đến xước mặt hoàng hôn/nàng tiên cá hát ru con/mê hoặc đêm trăng những chàng thuỷ thủ…”
Còn câu thơ của Du Tử Lê trong bài “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”như sau: “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển/đời lưu vong không cả một ngôi mồ/vùi đất lạ thịt xương e khó rã /hồn không đi sao trở lại quê nhà / Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển / nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi / bên kia biển là quê hương tôi đó / rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì ..”
Ý thơ chủ đạo này được nhà thơ Du Tử Lê đặt vào bài thơ tới 6 lần ở mỗi câu đầu của đoạn, và toàn bộ đã thể hiện ngay trong cái tựa. Bài thơ này là một trong số những bài thơ nổi tiếng nhất của Du Tử Lê. Rất nhiều độc giả Việt Nam yêu thơ đã thuộc bài thơ này, không lẽ Phan Huyền Thư “vô tình” cầm nhầm một ý tưởng sáng tạo nổi tiếng của người khác mà không biết?
Bài thơ của nhà thơ Du Tử Lê đã sáng tác từ năm 1977, công bố khá lâu trên nhiều trang mạng văn chương, và được phổ nhạc nên rất phổ biến trong cộng đồng. Còn bài thơ của Phan Huyền Thư, theo chị công bố, thì từ năm 2008. Nhà thơ Lê Thiếu Nhơn nhận định: “Cái này nếu khắt khe cũng gọi là đạo, vì bắt chước cách khởi ý. Khởi ý là một thao tác quan trọng. Nếu người có tự trọng phải ghi rõ thành đề từ. Nói đúng hơn, bài thơ của Phan Huyền Thư phải gọi là tác phẩm phái sinh, lấy cảm hứng từ câu thơ của người khác để triển khai ý niệm của mình. Hơn nữa, cả bài thơ dù dông dài vẫn không thoát khỏi câu thơ bao trùm của Du Tử Lê!”.
“Một nhà thơ phải viết một tác phẩm phái sinh, nghĩa là bản lĩnh sáng tạo đang chênh vênh. Cần phải xem lại chính mình. Tốt nhất nên tạm ngưng viết để tâm tư lắng đọng lại” - Nhà thơ Lê Thiếu Nhơn nói thêm. Là đồng nghiệp, đồng thời là cây bút viết phê bình thơ văn khá nhiều,Lê Thiếu Nhơn có trong tay đầy đủ tất cả các tập thơ đã ấn bản của Phan Huyền Thư. Nói về phong cách văn chương của Phan Huyền Thư, anh nhận định: “Phan Huyền Thư chỉ “diễn” giỏi, còn sáng tác thì bình thường thôi. Hai tập trước của Phan Huyền Thư là “Nằm nghiêng” và “Rỗng ngực” cũng nông. “Sẹo độc lập” có vài bài vượt trội so với chính thơ của Phan Huyền Thư trước đây. Tuy nhiên, thơ Phan Huyền Thư rất ít chất thơ, cô ấy cứ cố tỏ ra khôn ngoan và thích cao giọng lý giải, nhưng lời không chuyển được ý”.
Để trả lời cho câu hỏi “Một người làm thơ có bao giờ cho phép mình “hồn nhiên” mắc một cái lỗi là “rinh” nguyên câu thơ, “thuổng” trọn vẹn ý thơ của người khác về làm chủ đề cho bài thơ của mình?” Lê Thiếu Nhơn khẳng định: “Chả nhà thơ nào lại cho phép mình cầm nhầm thơ của người khác. Đó là đạo đức tối thiểu của người sáng tác. Nếu sau khi công bố, thấy thơ mình vô tình trùng một ý của người khác, thì lập tức bỏ đi, không bao giờ in lại, hay đưa vào sách. Vả lại, trừ giai đoạn mới tập viết, rất dễ bị ảnh hưởng. Còn khi đã chọn lối đi cho mình, thì rất khó xảy ra trường hợp giống ai đó, đặc biệt là chỉ khác nguyên văn chữ “khi” và chữ “nếu”, vì thơ từ tâm tư cá nhân bao giờ cũng riêng biệt”.
Vinh danh và háo danh
Trả lời về câu hỏi liên quan đến sự việc mới phát sinh, Phan Huyền Thư cho rằng bây giờ, khi dư luận ồn ào, chị mới biết về bài thơ này của Du Tử Lê? Thực ra, “nghi án” Phan Huyền Thư “đạo” thơ Du Tử Lê, người trong giới văn chương không chỉ xì xào đã lâu mà còn thẳng thắn bút chiến trên các diễn đàn, mạng xã hội trong vòng vài năm trở lại đây, nhưng nay, bài thơ dính “nghi án” lại được đưa vào một tập thơ đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội, vừa mới trao hôm 10/10. Như Phan Huyền Thư “khoe” công khai trên trang cá nhân của chị thì: “bài thơ này đã nằm ngoan trong tập "Sẹo độc lập", được in và được các tiền bối ghi nhận rồi.... nên post lên đây với mục đích " nhắc khéo" về tập thơ được giải. (Nói chung là cũng còn háo danh lắm ạ!)”
Nhà thơ Lê Thiếu Nhơn thẳng thắn nói: “Văn chương bây giờ cũng có lợi ích nhóm, chỉ khen ngợi và trao giải cho những ai thường thù tạc với mình. Để nói tập thơ này có xứng đáng đoạt giải hay không, phải xem lại hết các tập thơ khác vào chung khảo cùng với “Sẹo độc lập”. Nếu đặt cạnh thơ… hưu trí, thì chắc cũng chấp nhận được kết quả tôn vinh ấy”.
‪Phan Huyền Thư từng bị “dính” tai tiếng vụ án đạo văn trong một lần tham gia Ngày thơ Việt Nam ở Văn Miếu khi chị viết trên poster nhận xét thơ Thanh Tâm Tuyền. ‪Cá nhân chị đã gửi thư xin lỗi tới các nhà văn Đặng Tiến và Bùi Bảo Trúc - những người mà chị đã sử dụng tư liệu viết về Thanh Tâm Tuyền của họ mà không ghi nguồn, nhưng trả lời báo chí, truyền thông, Phan Huyền Thư vẫn cho rằng chị chỉ “quên không ghi rõ” tên các tác giả này. Việc sử dụng ý tưởng sáng tạo của người khác thiên hạ vẫn gọi “cầm nhầm” là đáng xấu hổ, thậm chí người trong giới còn dè bỉu rằng chuyện “đạo” ở ta phổ biến đến nỗi phải trao giải cho những ai “sao chép” đẹp nhất, có “nghệ thuật” nhất?
Minh Quang

http://dantri.com.vn/van-hoa/phan-huyen-thu-dinh-nghi-an-dao-tho-20151015113634862.htm

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bác thông cũng nên THÔNG cảm với ông LHB. Đâu phải ông ấy muốn và được nói sao thì nói. Túm lại là xương cả bác với nhà bác Bkia quá, làm dân nước bé khổ thật đấy!


Ảnh của Tôi

Phản đối phản đối

Trước hết, tôi phản đối sự phản đối của ông Lê Hải Bình, người phát ngôn Bộ Ngoại giao xứ này. Vì sao? Vì:

-Trung Quốc nó xây 2 cái đèn biển (ông Lê Hải Bình gọi là hải đăng, cũng là quá dở) đã bao lâu nay, khánh thành từ hôm 9.10, báo chí quốc tế và trong nước đưa tin rần rần, mà hôm nay 13.10 (sau 5 ngày) ông mới lên tiếng phản đối. Mấy ngày qua ông làm gì, đợi cái gì, hãy trả lời cho dân biết.

-Lần nào đăng đàn, ông cũng chỉ nói được chừng ấy câu, hệt như tua băng, nghe mãi phát chán, ông kém cả con mẹ Tàu Hoa Xuân Oánh. Ông phải bảo với đảng ông là đảng ơi, tôi cứ nói mãi cát xét như thế thì dân nó khinh tôi, đề nghị cho tôi được chửi bọn Tàu cộng một phen cho hả dạ, họ không đồng ý thì ông thôi cho đỡ ngượng, chứ ai lại dở hơi thế bao giờ.

-Tháng sau, lão Tập Cận Bình nó sang theo lời mời của đảng trưởng đang cầm quyền xứ ta, ông ngoại trưởng Phạm Bình Minh cứ đốp vào mặt nó cái vụ đèn biển này xem nó nói thế nào nhá. Còn không cũng về.

-Nói chung là dân đen chúng tôi chán, nhưng chán mà không nói thì bao giờ các ông mới khôn lên được.

Nguyễn Thông

Phần nhận xét hiển thị trên trang