Phùng Hoài Ngọc
Ngày 3/7/2015 hơn một triệu thí sinh lớp 12 đi dự cuộc thi quan trọng đầu tiên của cuộc đời, cuộc thi “hai trong một” (thi tú tài và thi tuyển vào đại học) . Đề thi Văn này sẽ để lại dấu ấn sâu đậm trong cả cuộc đời thí sinh. Rất tiếc câu 2 trích từ một tác phẩm văn học chất lượng kém. Đành rằng nền văn học nào cũng có tác phẩm hay và dở, hay thì đọc, dở thì bỏ qua, hay khen, hèn chê. Đó là tính dân chủ của văn học. Nhưng một tác phẩm được chọn vào sách giáo khoa cho học sinh nhất định phải là tác phẩm hay, cổ nhân gọi là sách kinh điển.
Trong bài báo trước, chúng tôi đã phân tích câu 2 của đề thi Văn (chiếm tới 4 điểm) được trích từ truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu
Chúng tôi xin trình bày đánh giá toàn bộ truyện ngắn đó, kính nhờ VNTB chuyển tới bạn đọc.
Sơ lược truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”
Phóng viên Phùng từ Hà Nội đi vào vùng duyên hải miền Trung, chụp ảnh làm lịch Tết, nhân gặp lại bạn đồng đội cũ tên Đẩu làm chánh án huyện. Anh chụp được bức ảnh “Chiếc thuyền ngoài xa” rất đắc ý, cảm hứng ngây ngất trước “một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”, “trái tim như có cái gì bóp thắt”, “khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Sau đó, anh chứng kiến cảnh “chiếc thuyền vào bờ” và người chồng ngư dân đánh đập vợ dã man. Lần thứ hai anh lại phải chứng kiến cảnh đó và dũng cảm ra tay can thiệp. Anh được bạn chánh án kể chuyện gia đình thuyền chài khổ cực như thế nào và lắng nghe tâm sự của nữ nạn nhân. Anh và bạn bó tay trước hoàn cảnh nan giải của vợ chồng hàng chài…Mặc dù thất vọng về bức ảnh của mình, anh vẫn phải về nộp ảnh cho cơ quan và bộ lịch treo Tết vẫn hoàn thành.
Nội dung truyện có thể chia làm hai phần.
Nội dung 1. Cảnh khổ cực của gia đình thuyền chài và nạn bạo hành.
Nội dung 2: Tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn.
Hai nội dung đó đan kết vào nhau tạo ra tác phẩm.
Truyện ngắn mang rõ tính chất “tuyên ngôn nghệ thuật”, cũng gọi là tiểu thuyết “luận đề”.
Đó là tuyên ngôn: nghệ thuật cần phải miêu tả hiện thực nghiêm nhặt, phải miêu tả được bi kịch của người dân lao động hơn là miêu tả cái bề ngoài lãng mạn, đẹp mắt. Tuyên ngôn thật giản dị và đúng đắn.
Nhưng tuyên ngôn này rất cũ, bởi nhà văn Nam Cao đã hoàn thành từ trước đó hơn nửa thế kỷ với hai thiên truyện nổi tiếng “Trăng sáng” và “Đời thừa”. Nghệ thuật của một dân tộc như một dòng chảy bất tận không lặp lại. Nếu viết về một chủ đề cũ thì nhà văn đi sau phải khác biệt hoặc cao hơn, sâu sắc hơn. Xem ra, tác phẩm tuyên ngôn của Nguyễn Minh Châu chưa thể sánh bằng Nam Cao về mặt nghệ thuật. Cơ bản vì Nguyễn Minh Châu đã mắc thiếu sót lớn về mỹ học khi ông phủ định nghệ thuật nhiếp ảnh và lúng túng, thiếu nhất quán, tự mâu thuẫn trong nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn. Mặt khác truyện ngắn chứng tỏ nhà văn thiếu vốn sống về đối tượng miêu tả.
Sai lầm nghệ thuật học, nhà văn đã so sánh khiên cưỡng nghệ thuật nhiếp ảnh với nghệ
thuật văn chương.
Bức ảnh “Chiếc thuyền ngoài xa” của phóng viên Phùng có giá trị riêng, trọn vẹn của thể loại nhiếp ảnh. Phong cảnh sương sớm và chiếc thuyền đang vào bờ “trước mắt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ…, một vẻ đẹp thực đơn giản dị và toàn bích…, cái chân lý của sự toàn thiện…cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Đủ cho một bức ảnh phong cảnh mang tên đại loại như “Thuyền về trong sương sớm”, hay là “Biển sớm” (giả dụ phóng viên Phùng đặt tên cho bức ảnh như thế) và sẽ in vào tấm lịch tháng treo ngày Tết.
Phong cảnh có nghĩa là “cảnh đẹp”. Lịch tháng treo tường mỗi tháng chọn một phong cảnh, nếu tương đồng với mùa vụ khí hậu càng hay. Phong cảnh cần đem lại cảm xúc tươi đẹp, dễ chiụ cho con người. Lẽ nào một bức ảnh lịch treo tường Tết lại tả cảnh anh chồng ngư dân đánh đập vợ trên bãi biển (?!)
Nghệ thuật nhiếp ảnh là nghệ thuật chộp được cái khoảnh khắc ưng ý nhất, may mắn thì bắt gặp, nếu không thì nghệ sĩ phải công phu dàn dựng. Nhà báo Phùng chụp được bức ảnh ưng ý, phù hợp ý tưởng nghệ thuật của đề tài. Đó là khoảnh khắc có ý nghiã của cuộc sống, dù chỉ là một lát cắt ngang. Vẫn biết đó cũng là sự hạn chế của nhiếp ảnh do nó không thể hiện được sự vận động của đời sống theo thời gian. Chỉ có văn chương mới có khả năng to lớn ấy.
Nhà báo ảnh chụp được bức ảnh “Chiếc thuyền vào bờ trong sương sớm” khi cảm xúc thực sự trào dâng, anh đã “bấm hết nửa cuốn phim” chỉ để chọn một bức.
Đoạn kết truyện cho biết: tập ảnh vẫn được duyệt và in thành lịch treo. Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đã phát hiện những vẻ đẹp lao động của ngư dân lồng trong phong cảnh biển khơi nên thơ trong sương sớm. Anh đã hoàn thành nhiệm vụ. Thể tài ảnh lịch miêu tả như thế là đúng đắn. Thực khiên cưỡng khi nhà văn ngầm đòi hỏi chụp ảnh lịch phải đưa cảnh “chồng bạo hành vợ” vô đây (!). Ngày xưa nhà văn Nam Cao so sánh dòng văn học hiện thực với dòng văn học lãng mạn giai đoạn 1930-1945, dựa trên cùng nguyên lý văn học, nhuần nhuyễn hợp lý hơn nhiều.
Nhà văn Nguyễn Minh Châu đòi ống kính nhiếp ảnh phải miêu tả cả “chiếc thuyền ở gần” với cảnh chồng bạo hành vợ. Tuy nhiên, cảnh “ở gần”, tức là cuộc sống hiện thực của nhân vật ngư dân, chỉ có thể do văn chương đảm trách với khả năng miêu tả rộng rãi đầy đủ của nó, không bị thời gian và không gian cản trở.
Nhìn khái quát, ta thấy nhà văn xây dựng hai cảnh tương phản: bức ảnh “Chiếc thuyền ngoài xa” và truyện ngắn “Chiếc thuyền vào bờ”. Sự tương phản nêu ra một so sánh ngầm kín đáo: khẳng định nghệ thuật tiểu thuyết hiện thực và phủ định nghệ thuật nhiếp ảnh.
Cảnh gia đình ngư dân khốn khổ và nghệ thuật xây dựng nhân vật non yếu
Nhà văn miêu tả người đàn bà thay đổi thái độ: từ sợ sệt khúm núm đến đến điệu bộ ung dung, ngôn ngữ sắc sảo khi gặp Đẩu và Phùng. Nhà văn không lý giải được điều đó. Nghệ thuật xây dựng nhân vật như thế còn non yếu.
Đây là đoạn văn trình bày cái khổ cực của người đàn bà. Đoạn văn này giữ vai trò quan trọng giúp cho phóng viên Phùng và Đẩu chánh án hiểu số phận gia đình hàng chài.:
“Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được chiếc thuyền rộng hơn, từ ngày cách mạng về đã đỡ khổ chứ trước kia vào các vụ bắc, ông trời làm động biển suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối”.
Câu nói lộn xộn, lủng củng, mâu thuẫn trên là của nhà văn chứ không phải của người đàn bà. Bởi vì nhà văn tả rằng chị ta nói rất tỉnh táo: “người đàn bà bỗng chép miệng, con mắt như đang nhìn suốt cả đời mình”.
Câu văn quá dài nêu ra ba nguyên nhân nỗi khổ: đẻ nhiều, chiếc thuyền hẹp, ông trời làm động biển, và một cái sướng: “từ ngày cách mạng về đã đỡ khổ”.
Đoạn văn luộm thuộm kỳ lạ “…từ ngày cách mạng về đã đỡ khổ chứ trước kia vào các vụ bắc, ông trời làm động biển suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối…”.
Theo logic câu, “Cách mạng về” làm thay đổi, khiến “ông trời” không dám “động biển” nữa ? Nhà văn cố ý ca ngợi “cách mạng” để giữ lập trường nhưng viết chưa trọn câu, lúng túng quá, nói cho qua chuyện thì thôi. Suốt câu chuyện bạn đọc không thấy cách mạng giúp gì cho vợ chồng thuyền chài này. Ấy là chưa nói, ông chánh án huyện còn làm phiền hà gia đình này nữa.
Người đàn bà suy ngẫm rồi kết luận: “Nhưng cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật”.
Người đàn bà đánh cá mang ơn nặng nghĩa dày của anh hàng chài nghèo chiụ cưới người con gái xấu (còn trong truyện ngắn “Đời thừa”: nhân vật chị Từ cũng dược văn sĩ Hộ cứu vớt cuộc đời lỡ dở nên chị hàm ơn Hộ suốt đời). Chị vợ đánh cá cũng khen chồng vốn là một “anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập tôi”…(nhân vật văn sĩ Hộ cũng hiền lành vậy, chỉ khi viết văn bế tắc, uống rượu say mới chửi vợ)… Ngay cả tình tiết này Nguyễn Minh Châu cũng chịu ảnh hưởng Nam Cao nhưng lại chưa nhuần nhuyễn bằng Nam Cao. Nhân vật Từ nhẫn nhịn chịu đựng những con say của văn sĩ Hộ vì tình nghĩa. Chị vợ hàng chài nhịn nhục vì cuộc sống thuyền chài cần người đàn ông, nghĩa là chị này tính toán thực dụng hơn, không vì ân nghĩa như nhân vật Từ. Nguyễn Minh Châu thua xa Nam Cao trong việc xây dựng nhân vật phụ nữ khổ đau nhưng có phẩm chất tốt đẹp !
Hóa ra, toàn bộ cái khổ chủ yếu do hai vợ chồng hàng chài không chịu “kế hoạch hóa gia đình”, tức là do dân trí thấp, hoặc là do nhà nước chưa biết quản lý dân số bằng “kế hoạch hóa”. Chủ đề tư tưởng của truyện ngắn hóa ra nhẹ hều, xem như một tác phẩm cổ võ cho chính sách “kế hoạch hóa gia đình”, vậy thôi.
Chưa hết, nhà văn tả cảnh chẳng phải vô tình tới bốn lần nhắc đến cái “xe tăng hỏng bánh xích” và “xe rà mìn của công binh Mỹ” nằm trên bãi biển, những dấu hiệu chỉ ra rằng đây là vùng đất miền Nam dưới chế độ Mỹ ngụy. Lại thêm anh hàng chài “túng quẫn đi vì trốn lính”, “anh ta rút chiếc thắt lưng lính nguỵ”, anh ta cũng được đồng nhất như một loại “xe hỏng”, “người hỏng” nữa. Tóm lại, theo truyện ngắn, rõ ràng câu chuyện gia đình bi đát ấy là hậu quả ở miền Nam sau chiến tranh (!) Miêu tả hiện thực như vậy là mang sẵn định kiến, thành kiến, chưa phải là cây bút hiện thực khách quan và sâu sắc.
Văn học hiện thực có bổn phận miêu tả và lý giải được hiện thực. Nhà văn đã tự mâu thuẫn, lúng túng với thể loại truyện ngắn vốn có khả năng miêu tả và lý giải ưu thế hơn mọi loại hình nghệ thuật khác. Huống chi, chưa nói nhiếp ảnh lại bị nhà văn khinh rẻ oan khuất.
Tiếc thay, nhà văn qua đời năm 1989, nếu ông còn sống đến nay (đầu thế kỷ 21) ắt sẽ được biết nhiều cảnh bạo hành gia đình rải rác khắp cả nước, báo chí đăng tải hà rầm, chắc ông sẽ viết truyện ngắn khác. Và tiếc thay đến năm 2007, Bộ giáo dục lại chọn “Chiếc thuyền ngoài xa” vào sách Văn 12- một cuốn sách kinh điển cho thế hệ trẻ.
Đến nay nhìn lại, những tác phẩm Nguyễn Minh Châu viết về chiến tranh trước năm 1975 chẳng còn giá trị được bao nhiêu, may chăng vớt vát còn truyện ngắn“Mảnh trăng cuối rừng” viết khéo tay, thực ra là một bài thơ văn xuôi hơn là một truyện ngắn (trong tập truyện Những vùng trời khác nhau, 1970). Thực chất ông bắt đầu nổi tiếng là từ truyện ngắn “Bức tranh” (1982) và “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” mở đầu cuộc Đổi Mới ngoạn mục của văn học đương đại, với tập truyện “Bến quê”, “Khách ở quê ra”, “Cỏ lau” và đặc biệt bài tùy bút “Hãy nói lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”. Nghĩa là, đến giai đoạn hậu chiến ông mới đem lại cho văn chương những tác phẩm gía trị. Nhà soạn sách giáo khoa chưa dám mạnh dạn ghi nhận như vậy mà vẫn lan man kể lể các tác phẩm yếu kém trong chiến tranh trong sách giáo khoa.
Tôi dự đoán, các bạn đồng nghiệp dạy Văn trung học phổ thông khó tránh khỏi lúng túng khi hướng dẫn HS chiếm lĩnh tác phẩm phức tạp và đầy mâu thuẫn này.
Trên đây chỉ là vài ý kiến phác thảo, mong bạn đọc cùng góp bàn cho rõ vấn đề hơn.
PHN
Chú thích: Chúng tôi căn cứ trên Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập Hai, sách nâng cao, Nhà xuất bản GD, năm 2008, trang 89.
PHỤ LỤC:
HÃY ĐỌC LỜI AI ĐIẾU CHO MỘT GIAI ĐOẠN VĂN NGHỆ MINH HỌA
“… khi anh viết bài Ai điếu, đọc sướng rêm, gặp anh mình ôm chầm lấy liền, nói trời ơi không ngờ Nguyễn Minh Châu nói năng dũng mãnh thế này. Anh mặt mày nghiêm trọng, kéo mình vào một góc, nói trong kia có ai nói gì mình không. Mình nói không ai làm gì anh đâu, thời buổi đổi mới rồi anh ơi.
Anh cười, thở hắt ra, nói không viết thì không nhịn được, mà viết rồi lại cảm thấy mình có lỗi, dù sao mình ăn nằm với người ta quá nửa đời. Hiếm nhà văn nào đựơc như anh, phẩm tiết trước sau như một nhưng cái lòng thương người, thương chế độ thật mênh mông”. (theo FB Bọ Lập hồi ức 3/7/2015)
HÃY ĐỌC LỜI AI ĐIẾU CHO MỘT GIAI ĐOẠN VĂN NGHỆ MINH HỌA
NGUYỄN MINH CHÂU
Văn nghệ, Hà Nội, số 49 & 50 (5-12-1987)
Là một người sáng tác, chắc tôi cũng giống như nhiều anh em sáng tác khác, có thói quen vừa viết vừa tự quan sát, nhìn theo cái ngòi bút của mình có lúc đầy hào sảng có lúc lại đầy đắn đo hồi hộp lẫn e ngại chạy trên mặt tờ giấy định mệnh.
Chao ôi, để bụng không nói ra thì thôi chứ nói ra cái chuyện này nó vui lắm, mà nó cũng buồn lắm, có đôi khi buồn đến thối ruột! Thú thật chừng ba bốn năm trở lại đây tôi cứ nổi lên nhũng cơn ngán giấy bút, hay so sánh mình với những anh em bạn bè cầm bút một cách suôn sẻ bình thản, được trời đất ban cho một cái tạng nhà văn luôn luôn sẵn sàng thích nghi với mọi thứ lý luận và luật lệ văn học, họ thật sướng, viết ra trang giấy mà trong bụng chẳng bao giờ có điều gì phải sợ sệt, lo lắng, như một người bao giờ cũng sống đĩnh đạc, cứ thẳng đường chính rộng lớn mà đi; còn mình thì y như một kẻ gian phi lúc nào cũng như đang lén lút thu giấu cái gì quốc cấm trong cạp quần hay dưới áo. Nghĩ mà buồn quá, nghề giấy bút nó chẳng nuôi gì được mình mà chỉ thấy nó hành mình.
Có lúc – nói ra thật lẩm cẩm – tôi lại hay đem so sánh mình với các nhà văn của những đất nước hàng trăm năm bình ổn, các nhân vật của họ phải chịu đựng nỗi đau khổ dằn vặt thật là sang trọng, chứ đâu như cái đám nhân vật của mình, không những cái đau khổ, hoạn nạn mà cả cái vui, cái hạnh phúc của họ nó cũng nhem nhuốc, nhớn nhác, tội nghiệp quá! Hỡi ôi, bao giờ nhân vật của mình mới được sang trọng, để cho mình cũng sang trọng lây!
Có lúc tôi lại đem công việc của chúng ta so sánh với công việc của các nhà tiền chiến cầm bút trước cách mạng, gọi là các nhà văn hiện thực phê phán. Ví dụ như ông Nam Cao chẳng hạn. Có lần ông ấy la lối, hô hoán ầm lên rằng thiên hạ bít hết lối của ngòi bút ông ấy. Viết cây chuối hay con chó hoặc kẻ say rượu đều phạm húy, đều có người đe đánh, đe đốt nhà. Bị o ép đến vậy tưởng không viết được gì, thế mà cuối cùng, cả một đời cầm bút của Nam Cao trước cách mạng số năm có là bao nhiêu đâu, vậy mà đủ để lại khá nhiều, nhất là có thể có cái quyền viết rất thực, bao nhiêu lẽ đời, sự đời, bao nhiêu khuôn mặt người đời thực đến thế. Chí Phèo thực đến thế. Thật là vừa được viết vừa được nói. Chứ như đám chúng tôi, từ nhà văn trẻ đến lớp nhà văn già được chăm sóc chăn dắt kỹ lưỡng quá đi mất. Sao lại như vậy nhỉ, sau bốn chục năm nhìn trở lại những nhà văn tiêu biểu của nền văn học phần đông nếu không phải là tất cả, đều có tì vết trong lịch sử đời cầm bút? Rồi thì từ đấy bắt buộc sinh ra một cái thói quen không biết bắt đầu từ lúc nào mà tôi nghĩ nó rất thảm đối với tư cách của một người nghệ sĩ, hễ cầm bút là phải nghĩ đến né tránh, che chắn, rào đón, đối phó. Có vẻ tuồng như mỗi nhà văn mỗi khi ngồi trước trang giấy là cùng một lúc phải cầm hai cây bút: một cây bút để viết cho người đọc bình thường, cho đời, một cây bút khác viết cho đạo, lo việc che chắn, viết cho lãnh đạo văn nghệ đọc. Mà cái ngòi bút thứ hai này – buồn thay – các nhà văn cầm lâu ngày để tự bảo vệ mình cho nên cũng lắm kinh nghiệm, mà cũng tài hoa lắm!
Quả thật tôi không có tài rào đón, che chắn nhưng cầm bút viết văn đến một lúc ngồi nghĩ lại cũng tự nhiên sinh ra giận mình đến phát chán mình, chán cả cho đồng nghiệp, bè bạn. Điều đáng buồn nhất là những người phải xoay trở, vặn vẹo cây bút, phải làm động tác giả nhiều nhất là những nhà văn có tâm huyết, có tài, muốn văn học phải có cái gì của văn học, chứ không muốn văn học chỉ là một sự minh họa. Trong khi đó những cây bút minh họa, những tác phẩm minh họa hoặc ca ngợi một chiều thì lại thoải mái, người viết cầm bút thoải mái mà chẳng có gì phải luồn lách, phải đắp đậy, rào đón, chỉ phải cái nó công thức và sơ lược, nó nhạt, và càng ngày người đọc càng thấy nó giả, mỗi ngày người đọc càng thấy rõ ở những tác phẩm minh họa và ca ngợi một chiều một sự giả dối không thể nào bào chữa nổi, đắp đậy nổi, so với cuộc đời thực bên ngoài.
Tôi không hề nghĩ rằng mấy chục năm qua nền văn học cách mạng – nền văn học ngày nay có được là nhờ bao nhiêu trí tuệ, mồ hôi và cả máu của bao nhiêu nhà văn – không có những cái hay, không để lại được những tác phẩm chân thực. Nhưng về một phía khác, cũng phải nói thật với nhau rằng: mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viết minh họa, văn học minh họa, với những cây bút chỉ quen với công việc cài hoa, kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã có sẵn mà chúng ta quy cho đấy đã là tất cả hiện thực đời sống đa dạng và rộng lớn. Nhà văn chỉ được giao phó công việc như một cán bộ truyền đạt đường lối chính sách bằng hình tượng văn học sinh động, và do nhiều lý do từ những ngày đầu cách mạng, các nhà văn cũng tự nguyện tự giác thấy nên và cần làm như thế (thậm chí có phần nào các nhà văn mới đi theo cách mạng và kháng chiến còn coi đó là cái mới, là hoàn cảnh “lột xác”). Từ đấy rồi trở thành thói quen. Thói quen của một người vốn quen đi trong một hành lang hẹp, vừa hẹp vừa thấp. Lần lượt bắt đầu là các nhà văn tiền chiến rồi hết lớp người cầm bút này đến lớp người cầm bút khác, với một khả năng thích nghi hết sức ghê gớm, các nhà văn đã thích nghi với văn học minh họa như thích nghi với cách sống gian khổ, thiếu thốn trong chiến tranh. Những nhà văn tuy đều cảm thấy thiếu thốn và bức bối nhưng lại tự dụ dỗ mình và khuyên nhủ lẫn nhau tự bạt chiều cao cho thấp đi khỏi chạm trần, tự ép khuôn khổ chiều ngang lại để khỏi kềnh càng, để đi lại được thoải mái trong cái hành lang kia.
Tuy vậy, cứ mỗi lần hết chiến tranh chuyển sang hòa bình hoặc cứ lâu lâu sau một số năm, đường hướng minh họa và tình hình mất dân chủ trong văn nghệ lại làm dấy lên những vụ này vụ khác. Những người “lính gác” lại có dịp “khép lại” và không rời mắt khỏi từng người, đặc biệt là những người có tài hay có tật và không ngừng thuyết phục với tất cả cũng như với từng người rằng cái hành lang kia là tất cả thế giới của văn nghệ cách mạng. Không khí để thở, bầu trời để ngắm, đất dưới chân để đi lại chỉ có thế và đấy là tất cả thế giới minh họa, ở trong đó nhà văn tha hồ vùng vẫy, sáng tạo và phát huy tài năng. Trong nghệ thuật hội họa châu Âu chẳng đã từng để lại những tác phẩm danh họa về lịch sử tôn giáo và đời các thánh, thực sự những tác phẩm hội họa cổ điển sẽ sống đời đời ấy là những tác phẩm minh họa. Tôi nghĩ rằng đường lối chính sách của Đảng, kể cả những cái sáng suốt đúng đắn cũng như cái sai lầm đang được điều chỉnh trong từng thời kỳ bao giờ cũng có thể soi rọi, giúp nhà văn nhìn thấy những vấn đề thực tế rất sâu xa của đất nước, gợi ý cho nhà văn những suy nghĩ, chiêm nghiệm quý báu. Nhà văn như một người trinh sát cuộc đời, vậy thì việc tìm hiểu sự hình thành những đường lối chính sách chính là sự tìm hiểu việc đời từ trong quá trình.
Ý nghĩa tác dụng của đường lối, chính sách đối với văn nghệ là như vậy. Tôi nghĩ rằng khi nhà nghệ sĩ đứng trước một sự vật, nảy ra ý tưởng minh họa khi tìm thấy ở nó tràn ngập cảm xúc về cái chân lý và cái đẹp.
Thất thiệt to lớn nhất của văn nghệ minh họa của ta là từ đấy những nhà văn đánh mất cái đầu và những tác phẩm văn học đánh mất tính tư tưởng, – nghĩa là những tư tưởng mới và độc đáo mang tính khái quát cuộc đời của riêng từng nhà văn. Như một người đánh mất phần hồn chỉ còn phần xác, hoặc chỉ còn cái phần hồn do nhà nước bao cấp. Chúng ta không thiếu những nhà văn có lòng và có thực tài nhưng cũng không vì thế hàng chục năm qua có khi họ phải ôm hai thứ đó trong người như hai thứ tội nợ, vì thế mà đâm ra sợ chính mình. Sau một vài lần viết ra bị vấp váp, bị thổi còi, bị phê phán trên báo, được tập thể góp ý xây dựng, nhà văn ngồi một mình giữa vắng vẻ ngâm nga: “Chút lòng trinh bạch từ nay xin chừa“, nhưng làm sao mà chừa được. Con người nghệ sĩ là thế đấy, dù cho rằng anh ta hèn đớn vẫn không chừa được thói quen khao khát sáng tạo, lời nói thật và chút lòng với đời. Nó như một thứ bản chất thiên phú, hay một thứ bản chất giời đày?
Rồi vẫn được viết, vẫn cầm bút, vừa muốn phô diễn tư tưởng, chõ miệng ra giữa hai hàng chữ để cảnh tỉnh với đời một cái điều gì đó tiên cảm thấy trong đời sống nhưng lại muốn giấu đi, gói nó trong bao lần lá, rào nó sau bao tầng chữ. Văn chương gì mà muốn viết một câu trung thì phải viết một câu nịnh? Hèn, hèn chứ? Nhà văn nước mình tận trong tâm can ai mà chẳng thấy mình hèn? Cái sợ nó làm mình hèn. Vì thế mà từ xưa tới nay có bao nhiêu nhà văn nhà thơ đã đi ở ẩn ngay trong tác phẩm? Chúng ta vắng thiếu những cây thông đứng sừng sững. Có một nhà văn đàn anh nâng chén rượu lên giữa đám đàn em: “Tao còn sống, còn cầm bút được đến bây giờ là nhờ biết sợ!”, nói rồi ngửa mặt lên trời cười rung giường, nước mắt tuôn lã chã, giọt đổ xuống đất, giọt đổ vào lòng. Có người cầm bút đến lúc sắp bước sang thế giới bên kia vẫn chưa dám thốt lên một lời nói thật tự đáy lòng, không dám viết hồi ký thực, vì sợ để liên lụy đến đời con cái. Có người lại biến cái sợ cái hèn thành một thứ vật trang sức và thách thức, vật biểu hiện của sức sống dai dẳng. Giữa chồng sách trước mặt tôi lúc này là hai tập Các nhà thơ cổ điển Việt Nam của nhà thơ Xuân Diệu. Một nhà thơ lớn như Xuân Diệu làm một công việc rất công phu là bình giá và giải thích những giá trị văn học cổ điển của nước nhà, mà sao Xuân Diệu phải rào đón, dựng lên bao nhiêu là lớp phên giậu để tự che chắn? Sao mà khổ vậy? Rồi thì dù không muốn tôi cũng phải nói rằng sự độc đoán và chế áp của lãnh đạo văn nghệ trong nhiều năm qua đã khiến cho những nghệ sĩ chân chính luôn luôn gắn bó với cách mạng, với Đảng, suốt đời cảm thấy phạm tội.
Cũng trong một con người cầm bút, có khi cái phần bất tài nhảy lên bục tao đàn để múa may, còn cái phần tài năng thì trùm chăn nằm chờ ngày xuống mồ!
Con đường của một cây bút trẻ hăm hở phấn đấu hết mình để trở thành nhà văn cũng là con đường phải giết đi cái phần nhà văn trong con người mình, con đường tự mài mòn đi mọi cá tính và tính trung thực trong ngòi bút!
Chúng ta phải nhìn lại kỹ càng cái hành trình văn học đã đi qua bằng con mắt thông minh, không phiến diện và thực sự cầu thị, để một mặt không phủ định tất cả, một mặt khác, với một tinh thần tự phê phán thấy cho được rằng: có thể đôi khi với động cơ tốt chúng ta đã trói buộc lẫn nhau trong một thời gian hơi quá dài của mấy lớp người cầm bút, trong khi lại đòi hỏi phải có những tác phẩm lớn. Thật là mâu thuẫn. Chả khác nào trói lại rồi bảo đố mày bay lên!
Muốn có tác phẩm lớn, nhưng liệu chúng ta có chấp nhận nổi những tính cách ngòi bút của một nghệ sĩ với tầm tư tưởng lớn mà tôi nghĩ bao giờ nó cũng quá chói sáng, với những điều nói thật không phải bao giờ cũng dễ nghe, thậm chí có thể làm đảo lộn mọi quan niệm với những nỗi dằn vặt, băn khoăn lớn chung quanh cái bề mặt nhãn tiền và tận chín tầng đất sâu của cuộc sống con người trên dải đất này.
Và tác phẩm lớn là gì?
40 triệu dân của đất nước Tây Ban Nha được nhân loại biết đến và kính trọng bằng một lão gàn vĩ đại vì mang trên mình tất cả tính ảo tưởng muôn đời của toàn thể nhân loại.
Và gần một tỷ người của đất nước Trung Hoa được nhân loại thấu hiểu sâu sắc bằng một anh chàng nông dân A.Q.
Cả Don Quichotte lẫn A.Q chẳng hề làm xấu Tây Ban Nha lẫn Trung Quốc, mà làm đẹp cho cả hai đất nước này.
Tài năng, nhất là những thiên tài bao giờ cũng như là của bắt được, của trời cho, ai mà biết được bao giờ thì họ đến, nhưng cũng như một Nguyễn Du, họ đến cũng trong khắc khoải nhân sinh, chỉ có điều đau đớn hơn mọi chúng ta, và cũng trong lầm lũi cát bụi cuộc đời thường. Nhiệm vụ của chúng ta là chuẩn bị bầu không khí cho họ thở, cho họ sống, đừng giết chết họ, đừng ghen tỵ với họ, đừng làm họ sống dở chết dở mà vẫn phải nở nụ cười, đừng làm cho họ thui chột trí tuệ lẫn tình cảm, đừng khiến họ cuối cùng trở thành chúng ta.
Công việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ của Hội Nhà văn hôm nay không phải là chuẩn bị cái lò ấp hàng trăm hàng ngàn quả trứng gà trứng vịt, mà là chuẩn bị cho những tư cách nghệ sĩ và tài năng lớn ra đời.
Nói thế có bốc đồng chăng, cao vọng quá chăng? Nhưng chúng ta phải đốt lên ngọn lửa cao vọng! Chẳng lẽ mãi mãi thế hệ nhà văn Việt Nam chúng ta vẫn cứ yên tâm sản xuất ra toàn những sản vật không bao giờ được ngó đến trong nền văn học thế giới. Chẳng lẽ Việt Nam ngày nay chỉ hưởng của thiên hạ mà không làm ra được cái gì góp vào của chung của thiên hạ? Chẳng lẽ các nhà văn Việt Nam đi ra ngoài mãi mãi chỉ có chung một cái tên riêng là nhà văn Việt Nam? Để rồi quay trở về, con hát mẹ khen hay? Và đàn con cứ mãi mãi suốt đời tự hào được người mẹ ở trong nhà khen ngợi!?
Tôi nghĩ rằng trước hay sau, ai cũng trở thành bảo thủ, lạc hậu, cũ kỹ cả. Bảo thủ về già là một quy luật. Trong khoa học, đến một bộ óc mới mẻ như Einstein về già còn bảo thủ cơ mà! Cái mới nào mà chả cũ đi, – trên dòng thác biến đổi qua thời gian? Cái chính là chúng ta biết cười xòa chợt nhận ra mình đã sai lầm, đã bảo thủ. Chúng ta sẽ trở nên sáng suốt hơn sau cái tiếng cười ấy. Bởi vì sau đó chắc chắn chúng ta sẽ không bao giờ giơ tay ngăn cản cái mới, cái tiến bộ, mà sẽ xuất hiện một quyết tâm làm mới lại mình với thái độ chân thành, xởi lởi, cởi mở, để cùng nhau xây dựng một giai đoạn văn học và văn nghệ mới.
Vừa qua chúng ta có in lại tuyển tập của các nhà văn đàn anh. Giở những bản tổng kết những đời văn như còn đẫm mồ hôi ấy, điều khôn ngoan cuối cùng rút ra là không chừa một ai, tất cả chúng ta phải biết lễ phép trước quy luật đào thải. Những cái gì đích thực văn chương thì nó còn, không tái bản, không tuyển tập, báo chí không đề cao lên nó cũng còn. Nó còn như đất cát, cây cỏ, như ca dao, tục ngữ, như cuộc sống bình dị và bền vững luôn luôn còn đó. Còn những gì phe phẩy, ưỡn ẹo hoặc cứ nhảy cẫng lên thì ngược lại, nó mất, cát sỏi lại trở về cát sỏi. Tôi đọc những tuyển tập thấy rất tiếc cho những tài năng. Giá mấy chục năm qua văn nghệ không chủ yếu lấy minh họa làm đường hướng, đừng có cái hành lang hẹp và thấp ấy, cả cái bầu không khí nghi ngờ lơ lửng trên đầu các văn nghệ sĩ, mà chủ trương khuyến khích cá tính, khuyến khích sáng tạo và chấp nhận đa dạng, chấp nhận sáng tối, hoàn toàn đặt lòng tin vào lương tri của các nhà văn, không nửa tin nửa nghi ngờ và đề phòng, để cho văn nghệ một khoảng đất rộng rãi hơn nữa thì các nhà văn và những nghệ sĩ sáng tạo đến nay đã đầu bạc phơ, kẻ còn người mất, họ còn để lại cho chúng ta nhiều hơn thế này. Và không khéo những cái gì và những người mà lâu nay chúng ta kêu ca, lên án hoặc cố tình quên đi lại là những cái, những người còn lại, còn để lại.
Sự còn lại mất đi của số phận những tác phẩm văn học cũng như những đời văn trong độ lùi thời gian bao giờ cũng ngầm chứa đựng một sự lựa chọn đầy huyền diệu và công bằng.
Hình như nhân dân, cái nhân dân Việt Nam đầy trầm tĩnh và kỳ tài mà hình ảnh đã được nghệ thuật điêu khắc từ hàng trăm năm nay chạm khắc lên khối gỗ thành bức tượng ngàn mắt ngàn tay, đến hôm nay vẫn không ngừng sáng suốt lựa chọn giúp cho chúng ta những cái gì đích thực của nghệ thuật, giữa những đồ giả, để bỏ vào cái gia tài văn hóa của đất nước để lại từ Đinh, Lê, Lý, Trần. Và cũng nhân dân, cái nhân dân Việt Nam dũng cảm sau mỗi lần đánh giặc xong lại lặng lẽ và lầm lụi làm ăn đang giơ bàn tay chai sạn vẫy chúng ta lại, kể cho chúng ta nghe về cái nhất thời ở trong cái muôn đời, cái độc ác nằm giữa cái nhân hậu, cái cực đoan nằm giữa tinh thần xởi lởi, cởi mở, cái nhẩy cẫng lên lấc láo giữa cái dung dị, thái độ bình thản chịu đựng và tinh thần trách nhiệm đầy suy nghĩ.
Nguồn: Văn nghệ, Hà Nội, số 49 & 50 (5-12-1987)
TB: Lãng tử hồi ức:
Năm 1987, tờ báo Văn nghệ của TBT Nguyên Ngọc hiếm như vàng. Sáng ra chậm chân tới quầy sách thì chỉ còn nước phải mua tờ báo photo. Thư viện Đại học SP Hà Nội chỉ có 1 tờ Văn nghệ, mới gần trưa đã nát nhàu dưới bàn tay sinh viên hăng hái giành nhau đọc… Báo Nhân Dân, Quân Đội, Hà Nội mới ế nhệ, bạn đọc từ anh xích lô, chị tiểu thương đến công chức, trí thức săn tìm, truyền tay báo Văn nghệ hàng ngày…Tờ báo Văn nghệ đăng bài của nhà văn Nguyễn Minh Châu trên đây, kéo ra hai số.
GN
Phần nhận xét hiển thị trên trang