Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 14 tháng 10, 2015

Dân Việt Nam phải biết nhiều hơn về những ngả đường mới cho sự thịnh vượng của mình


 
Ảnh minh họa Hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ thao diễn trên biển Thái Bình dương
* Ảnh minh họa Hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ thao diễn trên biển Thái Bình dươngCourtesy fsxcarrierops * 
 
 Sau khi Hiệp ước TPP vượt qua được một bước then chốt vào mùng năm vừa qua, tình hình kinh tế của các nước Đông Á sẽ biến chuyển ra sao? Câu hỏi đó dẫn chúng ta về hai đầu máy kinh tế trong vùng là Trung Quốc và Nhật Bản và về những bài toán an ninh đang đặt ra trong khu vực Đông Nam Á. Nguyên Lam yêu cầu chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa phân tích bối cảnh đó trong chương trình Diễn đàn Kinh tế tuần này.

Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, chúng ta còn non ba tháng nữa là sẽ hết năm 2015 đầy biến động kinh tế tài chính lẫn an ninh trên toàn cầu. Nếu việc Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái bình dương gọi tắt là TPP đã tiến được một bước then chốt sau năm năm đàm phán giữa 12 quốc gia trên vành cung Thái bình dương, người ta chưa thấy ngay kết quả vì từng nước còn phải vượt qua tiến trình phê chuẩn và tổ chức để áp dụng. Trong khi ấy, kinh tế Trung Quốc ngày càng có dấu hiệu trì trệ đáng ngại cho các nước khác trong khu vực. Vì vậy, kỳ này chúng tôi xin đề nghị ông trình bày cho bức tranh toàn cảnh của khu vực Đông Á trong những tháng cuối năm.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khi theo dõi tình hình và nhất là trước sự quan tâm của thính giả, tôi xin đi vào vấn đề an ninh trước khi phân tích tình hình kinh tế.

- Trước hết, khi thăm viếng Hoa Kỳ tháng trước, Chủ tịch Tập Cận Bình tuyên bố bên Tổng thống Barack Obama rằng Trung Quốc không muốn quân sự hóa biển Đông Nam Á. Sự thật không hẳn như vậy vì Bắc Kinh tiếp tục củng cố hệ thống quân sự trên các đảo nhân tạo họ xây dựng tại vùng quần đảo Trường Sa đang có tranh chấp với các nước. Cũng vì vậy mà Hoa Kỳ bắn tiếng là sẽ điều động chiến hạm vào phạm vi 12 hải lý của các đảo nhân tạo này để khẳng định việc bảo vệ quyền tự do hàng hải của các nước. Thật ra chiến dịch mệnh danh “tự do hàng hải”, gọi tắt là “Fonop” mới chỉ được các giới chức Mỹ loan báo chứ chưa có cơ sở hay thời điểm rõ rệt bằng cuộc thao dượt hải quân mệnh danh là “Malabar” giữa Hoa Kỳ và Ấn Độ trong khu vực Ấn Độ dương. Năm nay lại có thêm Nhật Bản với sự tham gia của hàng không mẫu hạn Theodore Roosevelt cùng một tiềm thủy đĩnh nguyên tử. Tôi thiển nghĩ rằng đấy là chỉ các tín hiệu thăm dò vì cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc và Nhật Bản đều đang có ưu tiên khác.

Nguyên Lam: Như vậy, ông cho là việc chiến hạm Hoa Kỳ xuất hiện tại vùng biển Đông Nam Á trong vài ngày hay vài tuần nữa như các giới chức quân sự Mỹ đã bắn tiếng chỉ là tín hiệu trắc nghiệm phản ứng mà thôi? Thế thì ưu tiên của Trung Quốc trong thời gian tới là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Hôm Thứ Ba 13 vừa qua, chúng ta có thêm chỉ dấu từ Trung Quốc về nạn kinh tế sa sút qua thống kê suy sụp về xuất nhập khẩu trong Tháng Chín khiến các thị trường tài chính thế giới đều sụt giá. Như vậy, xu hướng đình đọng kinh tế của Trung Quốc ngày càng rõ hơn và dù Bắc Kinh có can thiệp vào các thị trường cổ phiếu hay ngoại hối thì cũng chỉ để hãm đà suy giảm chứ không thể đảo ngược nổi trào lưu này.

- Nói về ưu tiên thì trong Tháng 10 này lãnh đạo Bắc Kinh phải tổ chức Hội nghị Ban chấp hành Trung ương kỳ 5 của Khóa 18 để 205 Ủy viên Trung ương đảng hoàn tất văn kiện chỉ đạo cho Kế hoạch năm năm, từ 2016 đến 2020. Sau kỳ họp đó, ta sẽ thấy Bắc Kinh xác định thực tế suy trầm và đề ra nhiệm vụ phương hướng cải cách và quản lý kinh tế cho năm tới. Các nước nên theo dõi việc thảo luận, tranh luận hay chỉ tiêu tăng trưởng năm tới để thẩm định khả năng quản lý kinh tế của Bắc Kinh.

- Ngoài ra, cũng thuộc bối cảnh cần chú ý, lãnh đạo Trung Quốc còn phải tiến hành đợt kiểm tra thứ ba và sau cùng của chiến dịch diệt trừ tham nhũng và truy cứ trách nhiệm đảng viên cán bộ trong vụ sụt giá cổ phiếu lẫn các tai họa dồn dập tại Thiên Tân trong Tháng Tám vừa rồi. Cũng trong chiều hướng ấy, ta còn phải xét tới số phận của 26 doanh nhiệp nhà nước đã bị điều tra về tham nhũng để thẩm xét ý chí cải cách cơ chế và chuyển hướng kinh tế của lãnh đạo Trung Quốc.

Nguyên Lam: Như ông vừa trình bày thì từ nay đến cuối năm, ưu tiên của Bắc Kinh là giải quyết các bài toán kinh tế và chính trị nội bộ nên những biểu dương về sức mạnh quân sự họ trình bày trong Tháng Chín có khi chỉ là mặt nổi bên ngoài đế trấn an ở bên trong, có phải vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ thế và không mấy lạc quan về khả năng ứng  phó của họ mà chờ đợi hàng loạt tin tức về thanh lọc hàng ngũ hoặc truy lùng các ngân hàng chui đã dính dấp vào việc tẩu tán tài sản ra ngoài. Ngoài một núi nợ xấu thì giải quyết các bài toán kinh tế tài chính ấy là công việc gần như toàn thời của các cơ quan hữu trách trong bộ máy đảng và nhà nước. Tôi e rằng Chủ tịch Tập Cận Bình đang gặp nhiều khó khăn hơn là bên ngoài có thể nghĩ.


Đại diện 12 nước tham gia đàm phán TPP tại Atlanta, Mỹ ngày 5/10/2015. AFP
Đại diện 12 nước tham gia đàm phán TPP tại Atlanta, Mỹ ngày 5/10/2015. AFP


Nguyên Lam: Bước qua nền kinh tế đứng hàng thứ ba của địa cầu là Nhật Bản thì ông thấy tình hình ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chính quyền của Thủ tướng Shinzo Abe đã lấy rủi ro lớn khi tiến hành việc bình thường hóa vai trò quân sự của Nhật qua một khóa họp kéo dài của Hạ viện và tung ra một kế hoạch cải cách mới. Uy tín của Chính quyền có sa sút nên ông Abe vừa phải cải tổ Nội các và trong mấy tháng tới sẽ ra sức kích thích kinh tế. Với lạm phát không tăng, xuất khẩu sút giảm trong tình trạng trì trệ chung của khu vực Đông Á, kể cả Trung Quốc, Nhật Bản sẽ còn bơm tiền và có khi chấp nhận tình trạng ngược ngạo là tài trợ với lãi suất âm. Có thể là vào một kỳ sau chúng ta sẽ tìm hiểu sâu xa hơn về kinh tế Nhật Bản trong bối cảnh của việc áp dụng Hiệp ước TPP.

Nguyên Lam: Thưa ông, giữa hai cường quốc kinh tế đều có vấn đề nan giải trong nội bộ thì các quốc gia Đông Nam Á sẽ xoay trở thế nào?
 
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là chúng ta cần chú ý đến ba chuyện trước mắt. Thứ nhất là tình trạng sa sút kinh tế của Trung Quốc sẽ còn gây nhiều biến động cho các nước lân bang, nhất là khiến hối suất hay tỷ giá đồng bạc càng giảm so với đồng Mỹ kim. Thứ hai, nạn sụt giá nguyên nhiên vật liệu, kể cả xăng dầu, tiếp tục gây khó khăn cho các nước xuất khẩu thương phẩm. Thứ ba là Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ sẽ phải nâng lãi suất, dù rất nhẹ và nhiều phần là vào tháng cuối năm khiến các nước Đông Nam Á càng thêm kẹt vì khung cảnh quốc tế.

- Trong ngắn hạn thì như vậy, nếu nhìn ra một viễn ảnh xa hơn thì ta không quên là từ năm 1997 rồi từ Thượng đỉnh tại Bali của Indonesia vào năm 2003, Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á gọi tắt là ASEAN đã đề xuất sáng kiến hội nhập kinh tế vào một khối thống nhất. Đó là Cộng đồng Kinh tế ASEAN, viết tắt là AEC. Tiêu chí của kế hoạch lớn lao này là thành lập một thị trường chung cho toàn khối vào năm 2020. Nhưng đến Thượng đỉnh của khối ASEAN vào cuối năm 2007, các nước quyết định hoàn thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN sớm hơn hạn định, không phải là năm 2020 mà vào cuối năm 2015, ngày 31 Tháng 12 tới đây. Ngay trước mắt thì kỳ hạn ấy là một dịp cho các nước kịp thời thực thi việc hội nhập về cả kinh tế lẫn xây dựng hạ tầng cơ sở với nhau hầu tránh được những hiệu ứng bất lợi đến từ Trung Quốc hay Nhật Bản.

Nguyên Lam: Tức là trong khi dư luận quốc tế xôn xao và chú ý đến Hiệp ước Xuyên Thái bình dương TPP thì 10 nước của Hiệp hội ASEAN đã có một kế hoạch hội nhập từ trước rồi và đến cuối năm nay thì coi như phải hoàn tất. Thưa ông, đặc tính của việc hội nhập ấy là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Từ 12 năm trước, Hiệp hội ASEAN muốn lập ra một thị trường chung cho toàn khối, từ sản xuất đến buôn bán với nhau, trong mục tiêu nâng cao sức cạnh tranh và phát triển công bằng của cả khu vực và hội nhập khu vực này vào nền kinh tế toàn cầu. Muốn tiến tới một thị trường có bốn đặc tính ấy, các nước đã vạch ra lộ trình hợp tác như phát triển nhân dụng, tiêu chuẩn hóa khả năng chuyên môn của nguồn nhân lực và thường xuyên tham khảo ý kiến chung về chính sách kinh tế, tài chính và về các biện pháp tài trợ xuất nhập khẩu, v.v…

- Ngoài ra, trước khi Bắc Kinh quảng cáo cho “Con Đường Tơ Lụa” hay tung sáng kiến và bạc tiền về “Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Cơ sở Á châu”, gọi tắt là AIIB, thì thật ra Hiệp hội ASEAN đã đề xướng việc nối kết mạng lưới hạ tầng cơ sở vật chất lẫn điện tử giữa các nước, tạo nền móng cho việc giao dịch và lập ra chuỗi cung ứng trên không gian mạng, kêu gọi sự tham gia của tư doanh, v.v….

- Người ta quá chú ý đến ảnh hưởng của Trung Quốc mà quên rằng các nước ASEAN đã tiến hành những việc cụ thể ấy trong thực tế với nhịp độ khá nhanh. Vì vậy mà họ mới đặt kỳ hạn hoàn thành sớm hơn. Tôi nghĩ rằng trong khi chuẩn bị điều kiện hội nhập vào khu vực TPP sẽ chỉ có trong thực tế của vài năm tới, Việt Nam nên cho quốc dân và doanh nghiệp biết rõ hơn về sự xuất hiện của Cộng đồng Kinh tế ASEAN trong vài tháng tới, trước khi ASEAN chính thức công bố vào ngày 31 Tháng 12 này. Đấy cũng là một bước không nhỏ cho nỗ lực “Thoát Tầu” và khai thác cơ hội mới của một kỷ nguyên mà kinh tế Trung Quốc hết còn là hãng xưởng toàn cầu như trong mấy chục năm qua. Việc hội nhập kinh tế ASEAN còn là mối lợi an ninh chiến lược khi Bắc Kinh đang uy hiếp nhiều nước trong khu vực.

Nguyên Lam: Khi chúng ta tạm tổng kết về tình hình kinh tế trong mấy tháng cuối năm thì Nguyên Lam thấy viễn ảnh ngắn hạn có thể là sự sa sút hay suy trầm xuất phát từ Trung Quốc. Nhưng nếu nhìn xa hơn chân trời ngắn hạn của một năm thì các nước Đông Nam Á và riêng Việt Nam cũng có nhiều triển vọng khả quan và rộng lớn hơn cho lâu dài. Thưa ông có phải vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ như vậy và cho là Việt Nam đang có một bước hội nhập chặt chẽ hơn vào Cộng đồng Kinh tế ASEAN dù sao cũng đã quen thuộc và gắn bó. Từ bước hội nhập đó như một cuộc thao dượt, Việt Nam có thể mở ra một khung cảnh hợp tác rộng lớn và đa diện hơn, đó là Khu vực TPP. Muốn như vậy thì nên rà soát lại xem các xứ khác chuẩn bị và tổ chức ra sao để gia tăng khả năng cạnh tranh bằng năng suất cao chứ không bằng lương thấp.

- Khi hội nhập vào kinh tế ASEAN rồi cả khối TPP có 800 triệu dân, Việt Nam có thể trui rèn khả năng cạnh tranh và còn tìm ra nhiều nguồn cung ứng khác về đầu tư, kỹ thuật và nguyên vật liệu để khỏi lệ thuộc vào kinh tế Trung Quốc rồi bị Bắc Kinh uy hiếp về an ninh. Người dân Việt Nam phải được biết rõ hơn về những ngả đường mới và sẽ tự chuẩn bị cho mình cơ hội tranh thủ những mục tiêu cao xa hơn. Hãy nhớ đến kinh nghiệm của Hàn Quốc và Đài Loan tại Đông Bắc Á để khỏi làm một nước chậm tiến trong khối ASEAN hay là một quận huyện vệ tinh của Bắc Kinh.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Lính tráng (1)


Ngôn ngữ Sài Gòn trước 1975 mang đậm chất “lính”. Cũng là điều dễ hiểu vì miền Nam khi đó đang trong thời kỳ “leo thang chiến tranh” với lệnh “tổng động viên” trên toàn lãnh thổ. Thanh niên đến tuổi 18 đều bị “động viên” vào quân ngũ, chỉ trừ một số trường hợp được “hoãn dịch” vì lý do sức khỏe, gia cảnh hoặc học vấn.


Đi lính” là một thuật ngữ xuất hiện thường xuyên trên đầu môi cũng như trong tâm thức của mọi người. Bậc cha mẹ lo lắng khi con cái đến tuổi “quân dịch” còn thanh niên thì đứng trước một ngã rẽ quan trọng của cuộc đời: “xếp bút nghiên theo việc đao cung”. Mối lo của họ được thể hiện qua ám ảnh “Thi rớt tú tài…” và còn bi đát hơn với hai câu thơ:
Rớt tú tài anh đi trung sĩ,
Em ở nhà lấy Mỹ cho xong…
Nhạc phẩm Thà như giọt mưa (http://my.opera.com/diemxuacafe/blog/show.dml/2536756) với tiếng hát Ngọc Lan cũng nói về chuyện “thi hỏng tú tài” và kết quả là phải “đợi ngày đi lính”. Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên viết bài thơ này cho một người con gái tên Duyên, sinh viên trường Luật, và người yêu… “lạc đệ tú tài”. Nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ nhạc để biến thành một bản nhạc buồn man mác: 
Người từ trăm năm về qua trường Luật
người từ trăm năm về qua trường Luật
ta hỏng Tú Tài ta hụt tình yêu
thi hỏng mất rồi ta đợi ngày đi
đau lòng ta muốn khóc
đau lòng ta muốn khóc
Thời nào cũng vậy, những thành phần COCC (chữ tắt của cụm từ Con Ông Cháu Cha), bao giờ cũng có cách luồn lách để khỏi đi lính. Người Sài Gòn thường dùng chữ “trốn lính” hay “trốn quân dịch”. Một trong những cách “trốn lính” là tìm đường cho các “quý tử” đi du học, hay cùng lắm, khi bị “bắt lính” các bậc cha mẹ lo “chạy” để con được phục vụ trong các đơn vị không tác chiến, làm “lính văn phòng” hay còn một thuật ngữ rất phổ biến là “lính kiểng”. Người ta thường chưng hoa kiểng, cây kiểng để làm đẹp căn nhà nhưng “lính kiểng” lại chính là một hình thức “tự làm đẹp đời mình” trước những viễn cảnh u ám của chiến tranh, bom đạn, chết chóc vẫn xảy ra hàng ngày.
Đôi khi loại “lính kiểng” còn được gọi qua cái tên nghe khá ngộ nghĩnh nhưng cũng rất thâm thúy: “lính cậu”. Chả là thứ lính này xuất thân từ những “cậu ấm” trong các gia đình quyền thế hoặc giàu có. Đây là loại lính nhưng không phải là lính” nếu đem so sánh với những chiến binh ngày đêm phải đương đầu với súng đạn tại những tiền đồn heo hút hay rừng sâu núi thẳm, cách biệt hẳn với chốn phồn hoa đô hội. Xem ra câu “huynh đệ chi binh” không phải lúc nào cũng đúng như ý nghĩa vốn có của nó. 
Hầu như cả thế hệ thanh niên miền Nam, kẻ trước người sau, đều lần lượt rời ghế học trò để khoác trên mình bộ quần áo lính. Đó có thể là sắc áo “rằn ri” của các binh chủng dữ dằn nhưNhảy dù (được thần tượng hóa” thành “thiên thần mũ đỏ”). Lực lượng đặc biệtBiệt cách dù(Airborne Ranger, Liên đoàn 81 Biệt cách dù trong trận chiến An Lộc đã nổi tiếng với 2 câu thơ:"An Lộc địa, sử ghi chiến tích / Biệt Cách Dù vị quốc vong thân) hay Thủy quân lục chiến đội trên đầu chiếc mũ “mũ be-rê xanh” còn Biệt động quân thì lại chọn màu mũ nâu.
Tuy nhiên, mũ be-rê chỉ dùng khi về phép và các dịp đặc biệt, khi ra trận mọi quân binh chủng đều đội chiếc “mũ sắt” phía bên trong có lót lớp “nũ nhựa” để bảo vệ phần đầu. Trên nguyên tắc là vậy chứ nhiều khi đạn có thể xuyên thủng “mũ sắt” nếu bắn từ khoảng cách gần.
Khẩu súng, chiếc nón sắt và đôi giày trận
Lính bộ binh thì “hiền” hơn với bộ kaki, sau này được thay thế bằng bộ quân phục “bốn túi”, áo bỏ ngoài quần, giống như lính Mỹ. Đặc điểm của bộ binh là phải “gom ống quần” trong khi Không quân và Hải quân được thả ống quần, “lè phè”, thoải mái. Cũng vì thế lính không quân và hải quân sợ nhất là bị “gom ống quần lội bộ”, thuật ngữ ám chỉ bị thuyên chuyển sang bộ binh để đi tác chiến.
Giày trận” được gọi là “bốt đờ sô” (botte de saut), có loại hoàn toàn bằng da nhưng sau này có loại giày kết hợp giữa da và vải, rất nhẹ trong những chuyến lội rừng, băng suối. Lính “địa phương quân” hay “nghĩa quân” thì hẩm hiu hơn với những đôi giày bằng vải bố, được gọi tắt là “giày bố”, kiểu như giày “ba-ta” nhưng cổ cao hơn giày thường.
Ngay khi bắt đầu trình diện tại các Trung tâm Tuyển mộ Nhập ngũ, thanh niên dù “đăng lính” hay bị “bắt lính” cũng đều phải qua một trong những thủ tục là làm “thẻ bài”. Tấm “thẻ bài” là vật bất ly thân, được đeo trên cổ trong suốt thời gian tại ngũ của quân nhân. “Thẻ bài” tựa như tấm lắc đeo ở cổ con chó nên người Mỹ gọi nó bằng cái tên… “dog tag”!
Mỗi quân nhân bắt buộc có 2 tấm “thẻ bài” bằng kim loại không rỉ, được đeo bằng sợi dây cũng bằng kim loại. Trên mỗi tấm có ghi họ tên, “số quân” và loại máu để khi bị thương, cần tiếp máu, quân y biết ngay loại máu gì. Khi người chiến sĩ tử trận, một tấm thẻ bài được bỏ trong miệng tử sĩ và tấm kia đơn vị sẽ giữ lại để làm tài liệu báo cáo. 
Tấm thẻ bài
Hình trên là tấm thẻ bài của tướng Nguyễn Văn Điềm, “số quân” 50/200.102, ông thuộc loại máu A. (Người anh em ở bên kia chiến tuyến dùng từ “số lính” thay cho “số quân”). Hai số đầu của “số quân” là năm sinh sau khi trừ 20. Như vậy, tướng Điềm sinh năm 1930 (50 – 20 = 30). Tôi sinh năm 1946 nên có hai số đầu là 66: 66/168.566.  “Số quân” của người lính tựa như “số an sinh xã hội” (social security number của Mỹ gồm 9 số), số “căn cước” (thời VNCH) hay chứng minh nhân dân (thời CHXHCNVN).
Thẻ Căn Cước thời VNCH (mặt trước)
Thẻ Căn Cước thời VNCH (mặt sau)
Bài hát “Tấm Thẻ Bài” (http://www.youtube.com/watch?v=UDuscC0xDec)  qua tiếng hát “liêu trai” của Thanh Thúy đã gây nhiều xúc động trong lòng người nghe và mãi đến bây giờ, mỗi lần được nghe lại bài hát nầy hoặc là nhìn thấy lại hình tấm thẻ bài chúng ta càng thấy ngậm ngùi và thương tiếc những chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến vừa qua. Nhạc sĩ Huyền Anh đã viết những câu thật xúc động:
Sau cuộc chiến này còn chi không anh?
Còn chi không anh?
Hay chỉ còn lại tấm thẻ bài
Đã mờ mờ mang tên anh.
….
Anh đã đi, đã đi vào vùng biển đời người
Anh ngủ yên, ngủ yên như cỏ úa
Anh ơi sau cuộc chiến này
Có còn chi để lại
Hay chỉ còn tấm thẻ bài mang tên anh

Trong số các món quân trang, quân dụng được cấp phát, ngoài chiếc balô người lính còn cóponcho là một tấm vải mưa trùm đầu theo kiểu vải khoác của người Nam Mỹ. Poncho lại còn có một công dụng mà bất cứ người lính nào cũng chẳng muốn sử dụng: poncho sẽ được dùng để khâm liệm xác của tử sĩ bỏ mình trên chiến trường.   
Bài hát Kỷ vật cho em (http://www.youtube.com/watch?v=yL65W5oupwA) với giọng ca Elvis Phương có một đoạn rất bi thương:
Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về.
Anh trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho buồn liệm kín hồn anh
Anh trở về bờ tóc em xanh
Chít khăn sô lên đầu vội vã.. Em ơi!
Bài hát này do nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc từ bài thơ Để trả lời một câu hỏi của Linh Phương. Ca khúc ra đời vào năm 1970, trong thời kỳ cuộc chiến tranh Việt Nam đang leo thang và trở thành một trong những bài hát nổi tiếng nhất tại miền Nam. Đã có một thời, bản nhạc bị chính quyền cấm đoán vì làm “nản lòng chiến sĩ” đồng thời “băng hoại hàng ngũ quân đội” dù Phạm Duy đã cố gắng sửa câu “Không về bằng chiến thắng Pleime” của Linh Phương thành “Có thể bằng chiến thắng Pleime”.
Lời bài hát rất thật nhưng cũng không kém phần bi lụy với những ngôn từ như “anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa, anh trở về bằng chiếc băng ca, trên trực thăng sơn màu tang trắng”… “anh trở về trên đôi nạng gỗ, anh trở về, anh trở về bại tướng cụt chân. Em ngại ngùng dạo phố mùa xuân bên người yêu tật nguyền chai đá” và… “anh trở về nhìn nhau xa lạ, anh trở về dang dở đời em, ta nhìn nhau ánh mắt chưa quen, cố quên đi một lần trăn trối”. 
Thi thể những tử sĩ được chùm poncho
chờ trực thăng đưa về hậu cứ
Không phải bài hát nào về lính cũng nhuộm màu bi quan như Kỷ vật cho em. Chúng ta còn vô số bài với nhịp điệu vui tươi và ngôn từ nhí nhảnh như bài Tình thư của lính do Trần Thiện Thanh sáng tác.
Thư của lính không xanh màu trời như mơ ước đâu em.
Thư của lính không thơm nồng hương, không nét hoa đa tình.
Thư của lính ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay.
Nhưng thư của lính ghi giữa rừng cây khi nhớ em thật đầy.
Và kết thúc lá thư với một câu thật dễ thương:
Thư của lính, thư không được dài như mong ước đâu em.
Thư của lính chấm dứt ở đây, sau khi đề thêm hai chữ "Hôn em..."
(Xem video này được các diễn viên trẻ trình diễn trên sân khấu hải ngoại http://www.youtube.com/watch?v=b1kHk7ZW5VM ).
Sau năm 1975, Thư của lính vẫn còn xuất hiện. Lang thang trên mạng tôi bắt gặp bài hát được hòa âm và làm clip với lời dẫn: "Tặng các chiến sĩ quân đội Việt Nam" (ý muốn nói Quân đội Nhân dân Việt Nam). Bản nhạc của Trần Thiện Thanh đã được sửa ngay từ  câu đầu "Từ khi anh thôi học và từ khi anh khoác áo treilli" thành "Từ khi anh thôi học và từ khi anh khoác áo lính ra đi" và cứ như thế, lời và âm điệu của bài hát được “biên tập” theo dạng karaoke… Xin mời vào xem tại:
Sau khi so sánh hình ảnh thể hiện trong 2 clip mang cùng tên Tình thư của lính, người ta nhận thấy ngay chân dung của hai người lính và ngộ ra một điều thật đơn giản: trong đánh nhau không phải cứ to xác là thắng theo kiểu “mạnh được yếu thua”, trái lại việc thắng-bại còn được quyết định qua nhiều yếu tố khác nữa. Truyện David & Goliath là một thí dụ điển hình.
Thủy quân lục chiến tái chiếm Huế sau Tết Mậu Thân 1968
Tổng Thống Mỹ, John F. Kennedy, trong diễn văn nhậm chức năm 1961 đã từng tuyên bố: "Đừng hỏi tổ quốc có thể làm gì cho bạn, hãy hỏi bạn có thể làm gì cho tổ quốc" (Ask not what your country can do for you — ask what you can do for your country). Đối với người lính bình thường, họ không bao giờ có những ý nghĩ cao xa, lý tưởng như ông Kennedy mà chỉ đơn thuần làm theo những yêu cầu của tình hình chính trị tại miền Nam khi đó.
"Trốn lính" là chấp nhận sống bên lề xã hội, "trốn chui trốn nhủi" khi thấy bóng dáng cảnh sát, quân cảnh. Cuộc sống của người trốn quân dịch là những chuỗi ngày bấp bênh, không tương lai ngay giữa Sài Gòn đô hội. Cũng vì thế, có người tự chặt "ngón tay bóp cò" (ngón trỏ) để khỏi đi lính, có người "tự hành xác""ốm tong ốm teo" để được các trung tâm nhập ngũ trả về vì "không đủ sức khỏe".
Cảnh bắt thanh niên trốn quân dịch tại Sài Gòn
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã một thời "trốn lính" để không một ngày nào phải khoác áo treilli. Với thân hình khẳng khiu, ốm yếu, anh đã ung dung ngồi tại nhà để viết nhạc, trong đó có cả những bài "phản chiến". Có người bảo TCS đã “đâm sau lưng chiến sĩ”. Người ta đồn TCS còn nhận được sự che chở của Chuẩn tướng Lưu Kim Cương, Tư lệnh Sư đoàn 5 Không quân (Lưu Kim Cương đã tử trận vì trúng đạn B-40 của VC, trong khi đang đi trên xe Jeep điều quân giải vây vành đai phi trường Tân Sơn Nhất ngay sau Tết Mậu Thân 1968). Cái chết của Lưu Kim Cương là nguồn cảm hứng cho nhạc sĩ TCS sáng tác nhạc phẩm Cho một người nằm xuống:
Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây
Đã vui chơi trong cuộc đời nầy
Đã bay cao trong vòm trời đầy
Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai
Không có ai từng ngày
Không có ai đời đời
Ru anh ngủ vùi mùa mưa tới
Trong nghĩa trang này có loài chim thôi.
Nhà văn Thế Phong trong Hồi ký ngoài văn chương phát hành tại Westmington ghi lại chuyện giữa TCS và Lưu Kim Cương: 

"Buổi đưa tiễn [Lưu Kim Cương] đến nơi an nghỉ cuối cùng có rất đông nghệ sĩ từng giao du yêu mến chàng. Bài nhạc 'Anh nằm xuống" [bài hát chính thức có tựa đề "Cho một người nằm xuống" chứ không phải là “Anh nằm xuống” -  chú thích của NNC] của Trịnh Công Sơn là một ví dụ. Nhưng bữa nay không thấy mặt Sơn, buổi sinh thời Sơn giao du với Cương, được Cương yêu mến, nên Cương đề nghị với Tướng Tư Lệnh đưa Sơn vào lính không quân để cho qua cơn binh đao nội chiến. Tư lệnh trả lời Cương, hình như điệu nhạc phản chiến của Sơn không hợp với binh chủng này, nếu nhận làm nhạc công như nhiều nhạc sĩ khác như Duy Quang, Nguyễn Trung Cang, Trí khùng... chưa chắc Sơn đã làm công việc này hoàn hảo, nên tướng chối từ".
Đã có rất nhiều văn nghệ sĩ khoác áo kaki. Làng tân nhạc ngày xưa có 4 nam ca sĩ hàng đầu mà người ta thường gọi là “tứ trụ”: Duy Khánh (1938-2003), Hùng Cường (1935-1998), Nhật Trường (1942-2005) và Chế Linh. Duy Khánh thường hát với Thanh Thúy, Chế Linh đi đôi với Thanh Tuyền, Nhật Trường rất ăn ý với Thanh Lan và Hùng Cường hát chung với Mai Lệ Huyền. Họ thường lên sân khấu với bộ đồ treilli để hát những ca khúc về lính trong khi các nữ ca sĩ đóng vai… “em gái hậu phương”. Tùy theo định kiến của người xem nên có nhiều người “thương” nhưng cũng không ít kẻ “ghét” những hoạt cảnh về lính trên sân khấu.
Ca sĩ Nhật Trường, chính là nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, tốt nghiệp trường Hạ sĩ quan năm 1965, phục vụ tại Cục tâm lý chiến thuộc Bộ tổng tham mưu từ năm 1965 cho đến ngày Sài Gòn đổi chủ. Nhật Trường đã từng làm việc tại Ðài phát thanh Sài Gòn và sau đó là Truyền hình Quân Ðội, từng là Trưởng ban văn nghệ của Đài và đến năm 1968 anh còn phụ trách thêm chương trình phóng sự chiến trường. Năm 1993, Nhật Trường sang Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ gia đình (ODP) và qua đời vào ngày 13/5/2005 tại thành phố Westminster, Quận Cam, do bệnh ung thư phổi.
Trong số khoảng 200 bài hát Nhật Trường Trần Thiện Thanh sáng tác thì có đến hơn nửa về lính. Điển hình là: Anh không chết đâu anh (vinh danh Đại úy “Mũ đỏ” Nguyễn Văn Đương), Người ở lại Charlie (vinh danh Đại tá Nguyễn Ðình Bảo), Rừng lá thấp (viết tặng Đại Úy Vũ Mạnh Hùng, tử trận trên cầu Thị Nghè), Tuyết trắng (viết về Không quân), Hoa biển (viết về Hải quân), Biển mặn(kể lại cuộc đời quân ngũ của chính tác giả), Người yêu của línhMàu mũ anh, màu áo em…  
Nhật Trường - Trần Thiện Thanh
Hùng Cường (1935-1998) là một ca sĩ, nghệ sĩ cải lương, diễn viên điện ảnh và diễn viên kịch nổi tiếng từ thập niên 1950 tại Sài Gòn. Thập niên 1960, Hùng Cường cùng Mai Lệ Huyền chuyển sang thể loại “nhạc kích động” theo các điệu nhanh như Twist, Bebop… gây nên một không khí mới mẻ trong nền âm nhạc thời đó. Hùng Cường tình nguyện vào binh chủng Biệt động quân với cấp bậc Hạ sĩ đóng tại trại Đào Bá Phước. Chàng ca sĩ thuộc loại "lính văn phòng" đóng tại Sài Gòn để còn thì giờ đi hát tại các vũ trường, đại nhạc hội và đóng phim.
Hùng Cường sở hữu giọng hát “ténor” và thành công với các bản nhạc như Dù Hoa Lạc Lối,Đám Cưới Nhà BinhMột Trăm Phần TrămLính mà emLàm quen với lính… Từ những khán giả hâm mộ giọng ca Hùng Cường những phim anh đóng cũng được người xem chú ý như:Chân Trời TímMãnh Lực Đồng TiềnCòn Gì Cho Nhau… Trong lãnh vực cải lương, Hùng Cường hát chung với Bạch Tuyết tạo thành một “cặp bài trùng” trên sân khấu với các vở tuồng nổi tiếng một thời như Má hồng phận bạcTình chú Thoòng…
Như đã nói, một nghệ sĩ được gọi là thành công khi có người hâm mộ nhưng cũng không thể nào tránh khỏi sự "dị ứng" của những người thuộc nhóm… “không ưa”, trong đó có cả những người lính.
Hùng Cường & Mai Lệ Huyền: “Lính Mà Em”
Ca sĩ Duy Khánh (1936-2003), người gốc Quảng Trị, nổi danh từ thập niên 1960 với dòng nhạc dân ca, nhạc quê hương và nhạc lính. Ông còn được biết đến như một nhạc sĩ tài năng với hơn 30 ca khúc, nổi tiếng phải kể đến Thương về miền Trung, Lối về đất mẹ, Ai ra xứ HuếXin anh giữ trọn tình quê...
Duy Khánh là một người lính ngành Chiến tranh Chính trị nhưng đồng thời cũng là một ca sĩ "đào hoa", ăn mặc rất đúng mốt và lịch lãm. Nhờ thân hình cao lớn và cân đối, nên thứ gì khoác vào người (nhất là những bộ đồ lính) giúp chàng ca sĩ “hớp hồn” các fan hâm mộ, nhất là phái yếu. Áo may ở La Ligne, quần ở Văn Quân, giày đóng ở Trinh đó là những địa chỉ “thời thượng” ở Sài Gòn ngày xưa. 
Sau 1975, Duy Khánh ở lại Sài Gòn và đến năm 1988 được bảo lãnh sang Hoa Kỳ, tại đây ông tiếp tục ca hát và sáng tác. Duy Khánh mất vào ngày 12/2/2003 tại bệnh viện Fountain Valley, California, thọ 68 tuổi. Giọng hát Duy Khánh có người rất thích nhưng cũng có người lại chê là “nhạc sến”. Tại Hoa Kỳ, "giọng ca một thời" Duy Khánh hát Người lính già xa quê hương của Nhật Ngân. Như đã nói, "hay" hay "dở" còn tùy người nghe, xin mời vào Youtube để thưởng thức:http://www.youtube.com/watch?v=l5N89SbsAf4
Duy Khánh
Tứ trụ” của sân khấu ca nhạc Sài Gòn ngày xưa hiện nay chỉ còn lại Chế Linh. Anh cũng là ca sĩ gây nhiều tranh cãi nhất trong vấn đề “yêu” hay “ghét”, “sến” hay “sang”. Chế Linh là người gốc Chàm ở Phan Rang, tương tự như trường hợp của nhạc sĩ Từ Công Phụng. Có thể nói, hai văn nghệ sĩ này tượng trưng cho hai “trường phái”, hai “thái cực”: “hâm mộ” người này thì sẽ “dị ứng” với người kia.
Chế Linh có thiên hướng hát về nhạc chiến tranh ca tụng người lính VNCH dù anh không phải nhập ngũ vì thuộc thành phần "dân tộc thiểu số". Những bài hát nổi tiếng nhất phải kể đến: Đêm nguyện cầuThành phố buồnThói đờiThương hậnTrong tầm mắt đờiĐêm buồn tỉnh lẻÁo em chưa mặc một lần...
Chế Linh ở lại Sài Gòn sau năm 1975. Năm 1976-1978, anh bị bắt vì “vượt biên trái phép” và tội “phản động”, biệt giam 28 tháng. Năm 1980, anh vượt biên thành công sang Mã Lai, sau đó định cư tại Toronto, Canada. Ngoài việc là một trong những giọng ca nam hát “nhạc vàng” được yêu thích nhất, Chế Linh còn nổi tiếng là người có nhiều vợ con, tính cho đến tháng 1/2007, anh đã có 4 vợ và 14 đứa con!
Có một thời, ở Sài Gòn, người ta bàn tán cái tên Chế Linh theo kiểu "nói lái" sẽ trở thành…"Lính chê"! Theo lời giải thích của Chế Linh, đó cũng là điều dễ hiểu vì anh được “miễn dịch” với lý do “dân tộc thiểu số” nên quân đội “chê”. Một số người lại hiểu theo nghĩa khác, họ nói những bài hát về lính của anh lại bị… “lính chê”. Rõ ràng đây là quan điểm của những người lính không thích những bài anh hát về họ.
Một lần nữa, vấn đề “nhạc sến” lại được đặt ra. Chủ đề “sến” sẽ được bàn đến ở một entry khác trong loạt bài Ngôn ngữ Sài Gòn xưa
Chế Linh và nhạc sĩ Châu Kỳ tại Sài Gòn
*** 
(Trích Hồi Ức Một Đời Người, Chương 4 – Thời quân ngũ)
 
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lãng lanhtu là anh nào mà phán gớm chết nhẩy:

Lỗi hệ thống và sự lạm dụng quyền lực.

Câu chuyện về cái chết của em Đỗ Đăng Dư và lá đơn của một số luật sư yêu cầu điều tra sự việc gây xôn xao. Một cậu bé vị thành niên, ăn trộm số tiền hiện chưa rõ là 1,5 tr đồng hay 2 tr đồng, bị tạm giam hai tháng và gia đình chỉ còn nhìn thấy con mình khi đã hôn mê sâu. Sau vài ngày, cậu chết mà không kịp nói lời trăng trối. Sự việc gây xôn xao khi các chuyên gia pháp lý phát hiện thấy nhiều lỗi nghiêm trọng của lực lượng hành pháp. Nhìn vấn đề này dưới góc nhìn toàn cục sẽ thấy một bức tranh khác thay vì chỉ là một bất cập xã hội vốn ngày càng phổ biến. 
Khai phóng xã hội không phải là một kết cục mà là một tiến trình. Lá đơn này của các luật sư chưa có tiền lệ và thể hiện sự thức tỉnh xã hội đối với những bất cập từ quyền lực không được kiểm soát.
Bất kể câu chuyện này có kết cục ra sao, thì đây cũng là những viên đá đặt nền móng cho xã hội dân sự và sự giám sát quyền lực. Những người ký tên trong lá đơn này đáng được coi trọng. Họ đã vận dụng tốt quyền hiến định của người dân trong khuôn khổ pháp lý và hòa bình. Đây là cách đấu tranh thay đổi xã hội phù hợp với quy luật của thời đại.
Câu chuyện này cần được ủng hộ rộng khắp. Đừng nghĩ rằng đây chỉ là bi kịch của một cậu bé 17 tuổi xa lạ có lý lịch xấu. Cái chết bi thảm tương tự có thể đến với bất cứ ai, rất có thể là một người thân của bạn hoặc thậm chí chính bản thân bạn nếu quyền lực độc tài không được kiểm soát. Hôm nay công an tìm đến Đỗ Đăng Dư, xã hội có một nạn nhân của nạn lạm quyền. Ngày mai, rất có thể họ tìm đến chính bạn vì một lý do trời ơi nào đó. Quyền lực độc tài và các hệ lụy đặt mọi cá nhân trước rủi ro tiềm tàng khi bất cứ ai cũng có thể trở thành nạn nhân.
Nếu cha mẹ cậu bé này biết ngay từ đầu việc bắt con em họ vi phạm luật pháp thì cập bé này đã không bị đánh chết. Và cả một hệ thống từ công an đến viện kiểm sát của một địa phương, những người thực thi luật pháp, liệu không có ai có đủ kiến thức tối thiểu để hiểu rằng hành vi bắt giam tủy tiện của họ có dấu hiệu vi phạm luật pháp. Bạn tin nổi không? Ở đây là quyền lực độc tài không được kiểm soát và xã hội không có những tổ chức dân sự đủ mạnh để giám sát và can thiệp ngay khi có vấn đề. Khai phóng do đó cần cho mọi đối tượng. Với người dân, họ cần ý thức được việc cần lên tiếng/tìm kiếm sự hỗ trợ từ cộng đồng khi đối mặt với những vấn đề họ thiếu hiểu biết. Với xã hội, cần sự chia sẻ quan tâm với các vấn đề chung (dù không liên quan trực tiếp đến mình) và sự hình thành những nhóm, hội độc lập hỗ trợ cộng đồng. Với những người thực thi pháp luật, họ cần được khai phóng rằng hành vi của họ đang bị giám sát và không thể áp dụng quyền lực bừa bãi mà không trả giá. Tất cả những thứ này, đều cần đến sự khai phóng. Đây cũng là lý do anh nói đến việc tìm hiểu và phổ cập các quyền hiến định về quyền con người trong hiến pháp hiện hành như một trong những giải pháp giúp khai phóng xã hội.
Câu chuyện gần như giống hệt nhau trong mọi xã hội độc tài. Quãng năm 2010, một chuyên gia công nghệ thông tin người Trung Quốc, có bằng Thạc sỹ, đang làm cho một công ty lớn với mức lương trên 3000 usd. Anh ta để tóc dài và đi chơi khuya. Không may, anh ta gặp cảnh sát và bị tóm vào đồn vì một lý do gì đó không ai biết. Hai ngày sau, người thân nhận được tin đến nhận xác người nhà. Vụ việc khiến toàn Trung Quốc bàng hoàng vì nhận ra bất cứ ai trong xã hội cũng có thể trở thành nạn nhân trong một xã hội mà quyền lực được lạm dụng vô tội vạ do thể chế độc tài và thiếu vắng các cơ chế giám sát xã hội. Ở Việt Nam hiện nay thì lực lượng hành pháp nhiều lúc cư xử không khác bọn lưu manh. Nguyên nhân vì sao? Là vì xã hội thiếu vắng hoàn toàn các cơ chế của một xã hội dân sự. Tất cả những điều này sẽ được khắc phục từ từ khi dân trí được khai phóng và dân khí được chấn hưng.
Điểm mấu chốt ở đây là quyền lực độc tài của nhà nước khiến xã hội sinh ra những vấn nạn ngày một bức bối. Tham nhũng, bất công, lạm dụng quyền lực và tha hoá xã hội chỉ là những hệ quả của độc tài quyền lực (không độc tài cũng có những vấn nạn này, nhưng mức độ nhỏ hơn rất nhiều tại các xã hội văn minh và ngày một bị kiểm soát). Người dân thường tại Mỹ, Anh, Pháp cũng chẳng mấy ai có đủ hiểu biết về luật pháp. Nhưng họ ý thức sâu sắc về quyền con người và có xã hội dân sự đủ mạnh để bảo vệ họ khi có dấu hiệu bị lạm dụng quyền lực. Do đó, chính cơ chế gây ra bất công chứ không phải hiện tượng xã hội tự nhiên sinh ra. Cách đây 15 năm, anh nói chuyện với một vụ trưởng có tài và cấp tiến của Bộ KHĐT, nguyên văn ông này nói đến giờ anh vẫn nhớ như in: "Anh không muốn nhận phong bì của các đơn vị, vì làm xấu mặt Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài, nhưng cái thể chế này không cho phép anh sống bằng lương và thu nhập hợp pháp như các đất nước khác". Đó là một người hiếm hoi có tâm trong bộ máy chính quyền nhưng vẫn buộc phải làm sai. Còn vô số những thành phần khác thì hoan hỷ tận dụng thể chế để làm giàu và lạm dụng quyền lực. Cũng chỉ có ở Việt Nam mới có việc coi chuyện thi vào ngành công an là một cơ hội để đổi đời. Nói chung, vấn đề của Việt Nam thuộc về system eror, lỗi hệ thống, giàn khắp từ nhiều vấn đề mà cốt lõi nằm ở quyền lực độc tài của Đảng cộng sản và nhà nước mà nó dựng lên.
Thật ra có nhiều vấn đề đằng sau câu chuyện lá đơn và anh không loại trừ có những người tham gia để mua danh và vì động cơ vụ lợi. Nhưng bất kể đằng sau đó là gì, thì đây cũng là một sự kiện thể hiện xã hội dân sự đang hình hành bất chấp bị kìm kẹp đến đâu. Đằng sau câu chuyện đòi công lý trong một xã hội bất công nhan nhản như ở Việt Nam, khi chính ông chủ tịch nước phải phát ngôn "có cả bầy sâu đang làm rầu nồi canh" (chứ không còn là một con sâu riêng lẻ). Vấn đề chính mà các ông này né tránh là tại sao và vì cái gì sâu ngày một nhiều? Có thiếu điều luật chống tham nhũng chăng? Không. Có thiếu điều luật chống lạm quyền, nhục hình chăng? Cũng không. Nhưng vấn đề lõi là thiếu cơ chế để thực thi những thứ ấy một cách hiệu quả. Như anh đã nói ở trên, thuộc về lỗi hệ thống. Dân trí và xã hội dân sự là những biện pháp căn bản nhất để khắc phục system eror, bước tiếp sau đó là xây dựng một system mới đủ văn minh. Và chẳng cần nhìn đâu xa mà chỉ cần phóng mắt nhìn ra thế giới.
Đây cũng chính là lý do mà việc chống tham nhũng hay chống lạm dụng quyền lực trong các xã hội độc tài hầu như không đạt hiệu quả. Khi nhìn chiến dịch đại truy quét của Tập Cận Bình, dù Tập có bỏ tù nhiều quan chức nữa, truy tố nhiều ủy viên bộ chính trị nữa thì cũng chỉ là trò thanh trừng quyền lực. Vì Tập hoàn toàn né cái lõi của vấn đề là hệ thống lỗi: quyền lực độc tài không được kiểm soát và cũng không thể kiểm soát, vì chịu giám sát và được kiểm soát thì đã không còn là độc tài. Trước sau gì phe cánh Tập đưa lên rồi cũng lại sa vào con đường tha hoá và lạm dụng quyền lực. Đây là kết cục chung của mọi hệ thống độc tài. Câu chuyện cũng giống hệt thế trong lòng Việt Nam. 
Khắc phục lỗi hệ thống là giải pháp toàn diện duy nhất. Người ta có thể trông đợi vào cải cách từ trên xuống, nhưng ở Việt Nam, anh Lãng chỉ trông chờ vào sự thức tỉnh xã hội từ dưới lên. Đặt cược vào lương tâm của một lũ bất lương, tự thân nó đã là trò khôi hài đau đớn.
 
Nguồn: Langlanhtu
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2015

Giải mã thứ bậc thầy Hai, con Tám... của Sài Gòn xưa

TTO - Công chức, người có học là thầy Hai, người Hoa buôn bán là chú Ba, đại ca giang hồ là anh Tư, lưu manh là anh Năm... người lao động nghèo xếp thứ Tám, chị em ta buôn bán "vốn tự có"  thứ Chín... 

Quán cà phê, nơi người Sài Gòn xả stres và "tám" đủ chuyện trên đời với kiểu ngồi rất Nam bộ, Sài Gòn sông nước: co chân lên ghế - Ảnh: M.C.
Quán cà phê, nơi người Sài Gòn xả stres và "tám" đủ chuyện trên đời với kiểu ngồi rất Nam bộ, Sài Gòn sông nước: co chân lên ghế - Ảnh: M.C.
​Chiều muộn hôm qua có cậu bạn đi công việc ghé ngang nhà rủ làm ly cà phê tán dóc. Nói chuyện lan man một hồi, tự nhiên anh chàng kể công ty em có ông già gác cửa rất hay nói câu "bỏ qua đi Tám"...
"Em chả hiểu, có lần hỏi thì ổng nói đại khái là dùng khi can ngăn ai bỏ qua chuyện gì đó, nhưng sao không phải là Sáu hay Chín mà lại là Tám thì ổng cũng không biết", cậu bạn thắc mắc.
Dựa vào những câu chuyện xưa cũ, những giai thoại, nên kể ra đây chút nguyên cớ của câu thành ngữ có lẽ sắp "thất truyền" này,  biết đâu có dịp nào đó anh em có thể dùng để "buôn dưa lê" lúc "trà dư tửu hậu".
Trước hết, phải biết là câu này phát sinh ở khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn từ thời Pháp thuộc, khoảng đầu thế kỷ 20. Thời đó, cách xưng hô thứ bậc trong xã hội rất phổ biến và phần nào phản ánh vị trí xã hội, giai cấp... một cách khá suồng sã và dễ chấp nhận.
Đứng trên hết là các "quan lớn" người Pháp hoặc các quan triều nhà Nguyễn, thành phần này thì không "được" xếp thứ bậc vì giới bình dân hầu như không có cơ hội tiếp xúc đặng xưng hô hay bàn luận thường xuyên.
Kế đến là các công chức làm việc cho chính quyền, họ ít nhiều là dân có học và dân thường hay có dịp tiếp xúc ngoài đời, là cầu nối giữa họ với các thủ tục với chính quyền, hoặc đó là thành phần trí thức, đó là các "thầy Hai thông ngôn", hay "thầy Hai thơ ký"...
Hàng thứ Ba là các thương gia Hoa Kiều, với tiềm lực tài chính hùng hậu và truyền thống "bang hội" tương trợ, liên kết chặt chẽ trong kinh doanh, các "chú Ba Tàu" nghiễm nhiên là 1 thế lực đáng vị nể trong mắt xã hội bình dân Sài Gòn - Chợ Lớn thời đó.
Xếp thứ Tư là các "đại ca" giang hồ, những tay chuyên sống bằng nghề đâm chém và hành xử theo luật riêng, tuy tàn khốc và "vô thiên vô pháp" nhưng khá "tôn ti trật tự (riêng)" và "có đạo nghĩa" chứ không tạp nhạp và thiếu nghĩa khí như các băng nhóm "trẻ trâu" hiện đại. Các "anh Tư dao búa" vừa là hung thần, vừa ít nhiều lấy được sự ngưỡng mộ của giới bình dân (và cũng không ít tiểu thư khuê các) thời đó.
Thứ đến là vị trí của giới lưu manh hạ cấp hơn: các anh Năm đá cá lăn dưa, móc túi giật giỏ, hay làm cò mồi mại dâm...
Bị giới bình dân ghét hơn đám lưu manh côn đồ là các "thầy Sáu phú-lít (police)", "thầy Sáu mã tà", "thầy Sáu lèo". Chức trách là giữ an ninh trật tự, chuyên thổi còi đánh đuổi giới buôn gánh bán bưng bình dân, nhưng các "thầy Sáu" này cũng không từ cơ hội vơ vét ít tiền mọn "hối lộ" của họ để "nhẩm xà" (uống trà).
Và trong giới buôn bán thì không thể thiếu chuyện vay vốn làm ăn, mặc dù Tàu hay Việt cũng đều có tổ chức cho vay. Nhưng phổ biến và "quy củ" nhất ở cấp độ trung - cao khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn thời đó là các "anh Bảy Chà và", các anh này là các nhà tài phiệt người Ấn, vừa giàu vừa ít bị "ghét", vừa ít nhiều có quan hệ qua lại với giới chức người Pháp, lại làm ăn đúng luật lệ, ít thừa cơ bắt chẹt lãi suất nên khá được giới kinh doanh tín nhiệm.
Xếp thứ Tám chính là lực lượng đông đảo nhất xã hội bình dân bấy giờ: họ là giới lao động nghèo chỉ có sức lục làm vốn nuôi miệng, từ bốc vác, gánh nước bồng em, đến "sang" hơn chút xíu là phu xe kéo...
Tuy đông nhưng lại yếu thế nhất vì thất học, không có tiền như thầy Hai, anh Ba, cũng hiền lành chứ không bặm trợn phản kháng bạt mạng như các anh Tư anh Năm nên họ thường xuyên chịu sự áp bức, bắt nạt từ mọi phía. Cách để yên thân khả dĩ nhất với họ là khuyên nhau cắn răng nhẫn nhịn, quên đi để sống: "Bỏ qua đi Tám", bây giờ chắc là đã dễ hiểu rồi.
Không còn liên quan nữa, nhưng nhân tiện sẵn nói luôn về thứ bậc chót cùng trong xã hội thời đó: các cô, các chị Chín xóm Bình Khang chuyên "kinh doanh" bằng "vốn tự có".
Dài dòng tí để trình bày chút kiến giải về một câu thành ngữ đang dần bị quên lãng dùng để bày tỏ thái độ khuyên người hoặc tự an ủi mình hãy đừng để ý những chuyện không vui, hay bị ai đó "chơi không đẹp".
Nếu lỡ đọc thấy không có gì thú vị thì thôi, "bỏ qua đi Tám"!
PHAN QUỐC BẢO

Phần nhận xét hiển thị trên trang

GIẤC MƠ..


TRẦN MẠNH HẢO POST LẠI BÀI THƠ "GIẤC MƠ" viết từ năm 1983 đã từng bị, bị treo bút nhiều năm :
.
Thơ Trần Mạnh Hảo.

- Bố ơi!
Đêm qua con nằm mơ thấy mình được ăn thịt!
- Con ơi!
Bằng tuổi con bố mặc quần thủng đít
Nhiều khi bố mơ thấy mình được ăn một bữa cơm no!
Bốn mươi năm đi qua
Từ giấc mơ đến giấc mơ
Từ miếng cơm đến miếng thịt
Từ cuộc chiến tranh này đến cuộc chiến tranh kia
Vớ vẩn thay bố con ta
Sao toàn mơ những giấc mơ tầm thường tội nghiệp
Ngủ đi sẽ hết đói thôi
Để con mơ những giấc mơ đẹp
Về ngày mai ca hát đại đồng…
Ngủ đi thằng bé còi xương
Văn chương của bố đồng lương của trời
À ơi khát vọng con tôi
Bao nhiêu người
Ngã xuống rồi
Còn mơ?
Sài Gòn năm 1983
T.M.H.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cực lực phản đối, hay lại tuyên bố chủ quyền như bao lần đã qua?

T>Q khánh thành hải đăng ở Trường Sa

Việc khánh thành hải đăng của Trung Cộng cho thấy Bắc Kinh tiếp tục các hành động củng cố chủ quyền ở biển Đông

Chính quyền Bắc Kinh đã đưa vào hoạt động hai ngọn hải đăng trên các bãi đá ở Trường Sa, tiếp tục mạnh mẽ khẳng định chủ quyền ở quần đảo tranh chấp với Việt Nam và các nước.

trung quoc xay xong hai dang trai phep tai bai da chau vien
Bộ Ngoại giao Trung Cộng hôm 10/10 nói rằng hai ngọn hải đăng đó nhằm mục đích giúp các tàu bè qua lại trên biển Đông cũng như cải thiện an toàn hàng hải.

Bộ Giao thông Trung Cộng đã tổ chức lễ khánh thành trên hai bãi đá nằm tại Trường Sa mà Bắc Kinh gọi là Nam Sa.

“Các ngọn hải đăng trên bãi đá Hoa Dương và Xích Qua thuộc quần đảo Nam Sa của Trung Cộng sẽ hỗ trợ hiệu quả tàu bè qua lại cũng như cải thiện đáng kể an toàn hàng hải của tàu bè trên biển Nam Trung Hoa (tức biển Đông)”, phát ngôn viên Hoa Xuân Oánh tuyên bố.

Bà Hoa cũng tuyên bố rằng Bắc Kinh sẽ tiếp tục xây dựng các cơ sở dân sự và công cộng ở biển Đông để hỗ trợ các tàu bè.

Trung Quốc lập trái phép ban vũ trang nhân dân ở Hoàng Sa
Đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép.
Việt Nam chưa có phản ứng trước việc Trung Cộng khánh thành hai ngọn hải đăng, nhưng từng tuyên bố “chủ quyền không thể tranh cãi đối với Trường Sa và Hoàng Sa”.

Khiêu khích

http://baomai.blogspot.com/
Trong một diễn biến khác liên quan tới biển Đông, theo quan chức Mỹ, Hoa Kỳ đang xem xét việc đưa các tàu chiến vào gần khu vực các đảo nhân tạo của Trung Cộng nhằm đưa ra dấu hiệu rằng Washington không công nhận các yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh trong khu vực này.

Một quan chức cấp cao của Hoa Kỳ được trích lời nói rằng, các tàu của Mỹ sẽ di chuyển trong vùng 12 hải lý, nơi Trung Cộng tuyên bố chủ quyền lãnh hải xung quanh các đảo mà Bắc Kinh đã xây dựng ở quần đảo Trường Sa trong vòng hai tuần tới.

Trong khi đó, trang tin Navy Times dẫn lời các quan chức Hoa Kỳ nói rằng hành động này có thể diễn ra “trong vòng vài ngày”, nhưng vẫn đang chờ được chính quyền Obama phê chuẩn.

china animated GIF
Bộ Ngoại giao Trung Cộng sau đó đã kêu gọi Hoa Kỳ chớ nên có thái độ mà Trung Cộng gọi là “khiêu khích” ở biển Đông.
Phần nhận xét hiển thị trên trang