Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2015

Toàn cảnh ngày giải phóng Thủ đô 10/10/1954 qua 50 bức ảnh của tạp chí Life by anle20

Phần nhận xét hiển thị trên trang
Bầu không khí  Hà Nội khi Việt Minh tiếp quản ngày 10/10/1954 đã được phóng viên ảnh của tạp chí Life ghi lại đầy chân thực.
Toàn cảnh khu vực diễn ra lễ hạ cờ của quân Pháp ở thành Hà Nội trước khi lực lượng Việt Minh tiếp quản Thủ đô, tháng 10/1954. Góc bên phải bức ảnh là cột cờ Hà Nội.
Nghi lễ này là một biểu tượng đánh dấu sự chấm hết cho ách thống trị của thực dân Pháp ở Hà Nội.
Các binh sĩ giơ tay chào khi lá cờ của Pháp được hạ xuống.
Lá cờ bắt đầu được gỡ...
...Và cuốn lại trong sự câm lặng của những người lính Pháp đang có mặt tại nơi đây.
Lính Pháp chuẩn bị rút khỏi Hà Nội trước khi quân đội Việt Minh tiến vào.
Lính Pháp rút khói Hà Nội qua đường cầu Long Biên.
Một nhóm lính di chuyển trên cầu Long Biên.
Phụ nữ Hà Nội cầm cờ đỏ sao vàng đứng trên đường tàu điện Ngã Tư Sở chào đón bộ đội Việt Minh về tiếp quản Thủ đô.
Dân chúng tụ họp bên bờ hồ Gươm chờ đợi đoàn quân tiếp quản Thủ đô.
Các chiến sĩ Việt Minh tiến vào thành phố dưới cơn mưa mùa thu lất phất.
Đoàn quân chiến thắng đi qua rạp Đại Nam ở phố Huế .
Khuôn mặt mỗi người đều toát lên vẻ phấn chấn.
Sự hào hứng của trẻ em Hà Nội trong ngày Thủ đô được giải phóng.
Trẻ em trên phố Hàng Bạc cầm cờ vẫy chào bộ đội Việt Minh.
Trẻ em ở Ngã Tư Sở.
Cở đỏ sao vàng được cắm trên Phủ Thống sứ Bắc Kỳ ở Hà Nội - cơ quan đầu não của thực dân Pháp trên toàn miền Bắc.
Các chiến sĩ Việt Minh biểu lộ niềm vui sau khi tiếp quản Phủ Thống sứ.
Đội quân tiếp quản Thủ đô tập trung tại khu vực bờ hồ Hoàn Kiếm.
Chiếc xe của báo Dân Mới, cơ quan tuyên truyền của Mặt trận Việt Minh liên tỉnh Thanh - Nghệ Tĩnh tham gia vào ngày vui ở Hà Nội.
Vẻ hân hoan của người dân Hà Nội vào ngày được giải phóng khỏi ách thực dân Pháp.
Một hiệu may ở Hà Nội khẩn trương may những lá cờ đỏ sao vàng để chào đón chính quyền mới.
Đoàn quân Giải phóng bước qua bờ hồ Hoàn Kiếm trước sự chứng kiến của hàng nghìn người dân.
Trút gánh nặng trên vai sau một cuộc hành quân dài, các chiến sĩ thể hiện niềm vui chiến thắng.
Hàng trăm người tập trung ở Ngã Tư Sở để hát vang những khúc ca yêu nước.
Trẻ em cũng rất hào hứng ca hát.
Người dân đứng bên đường nhìn quân Pháp rút khỏi Hà Nội.
Một đoàn xe đi qua dãy phố chật kín người.
Trẻ em trên phố Huế tò mò ngắm nhìn các chú bộ đội.
Người dân tụ họp bên một ngôi nhà treo biểu ngữ "Hòa bình vạn tuế".
Lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện ở mọi nơi.
Một xe tải chợ bộ đội Việt Minh tiến vào Hà Nội.
Lính Pháp trên một xe quân sự quay đầu lại nhìn đoàn quân Việt Minh đang tiến vào thành phố.
Trái với khung cảnh náo nhiệt nơi Việt Minh tiến vào, người Pháp rời khỏi Hà Nội trong yên lặng.
Tốp lính Pháp di chuyển qua một góc phố tuyệt đẹp của Hà Nội.
Quân Pháp ở Gia Lâm.
*     *
*
Ngày 10/10/1954, bên cạnh hình ảnh hùng tráng của những đoàn quân giải phóng Thủ đô, phóng viên Life đã ghi lại nhiều khoảnh khắc bình dị của Hà Nội.
Khung cảnh vắng lặng của phố Cầu Gỗ sáng sớm ngày 10/10/1954.
Khung cảnh bên bờ hồ Trúc Bạch.
Người Hà Nội ngồi uống nước bên hồ Trúc Bạch.
Những người Pháp ngồi uống cà phê trên tầng 2 của một hiệu vải ở phố Hàng Đào, Hà Nội ngày 10/10/1954.
Quầy giải khát trên đường Cổ Ngư (nay là đường Thanh Niên) với hồ Trúc Bạch và tháp chuông nhà thờ Cửa Bắc ở hậu cảnh.
Một bà sơ người Pháp chơi đùa với trẻ em tại nhà thờ Lớn Hà Nội.
Một phụ nữ Pháp di dạo bên bờ hồ Hoàn Kiếm, người hầu nữ Việt Nam dắt chó đi theo.
Bà đầm người Pháp chụp hình kỷ niệm ở phố Tràng Tiền trước khi phải rời khỏi Hà Nội.
Nhà thờ Lớn Hà Nội sáng 10/10/1954 vẫn diễn ra thánh lễ.
Những người đạp xích lô chờ khách bước ra từ nhà thờ.
Khoảng sân trước nhà thờ lớn nhìn tầng gác của một tháp chuông.
Một cậu bé Hà Nội câu cá ở giếng Thiên Quang trong khu du tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
Khuê Văn Các trong Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
Trẻ em học vẽ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
Theo KIẾN THỨC

Hàng Việt Nam - Chế tạo tại nước ngoài


Việt Nam mới ở vào trình độ góp phần ráp chế hay chế tạo thôi. Với viễn ảnh gia nhập Hiệp ước Xuyên Thái Bình Dương TPP trong vài năm tới, Việt Nam hy vọng buôn bán tự do với một khu vực rộng lớn của 12 quốc gia có sản lượng bằng 40% của toàn cầu. Khi ấy, quy chế về thương hiệu được đặt ra. Đó là điều kiện ưu đãi chỉ áp dụng cho các hàng hóa hay dịch vụ chế tạo tại một quốc gia thành viên của khu vực TPP. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về vấn đề xuất xứ chế tạo qua cuộc trao đổi với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Xin quý thính giả theo dõi cách Nguyên Lam nêu vấn đề.
Kết quả hình ảnh cho Hiệp ước Xuyên Thái Bình Dương TPP
Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, kinh tế Việt Nam có cơ hội phát triển mới, xuất phát từ hai chuyển động quốc tế. Một là Trung Quốc ở vào giai đoạn chuyển hướng với đà tăng trưởng thấp hơn và hết chiếm lĩnh ưu thế chế biến hàng tiêu dùng nhờ nhân công rẻ. Hai là Việt Nam sẽ cùng 11 nước khác gia nhập khu vực tự do thương mại Xuyên Thái Bình Dương, gọi tắt là TPP. Trước viễn ảnh đó, Việt Nam hy vọng thu hút đầu tư của nước ngoài để thành một công xưởng ráp chế hàng hóa phần nào thay thế thị trường Trung Quốc và bán cho các nước trong khối TPP dưới nhãn hiệu là “Hàng Việt Nam”. Nhưng mà nhìn từ giác độ của các thành viên TPP thì thế nào là “Hàng Việt Nam”? Vì câu hỏi này đang gây tranh luận ở trong nước, xin hỏi là ông người ta nên nghĩ sao về một giải đáp thỏa đáng?


Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi trộm nghĩ rằng người ta sở dĩ tranh luận chỉ vì lầm lẫn về ngôn từ. Tôi xin được đi ngược lên khái niệm sản xuất để chúng ta cùng hiểu ra điều ấy.

- Khi thấy thị trường có một nhu cầu chưa được thỏa mãn mà mình muốn đáp ứng để kiếm lời thì trước hết phải có sáng kiến sản xuất ra loại hàng hóa giải quyết nhu cầu đó của thị trường. Yếu tố then chốt ở đây là “sáng kiến”, kế tiếp mới là bố trí sản xuất để từ đó có một sản phẩm hoàn tất. Việt Nam mà có sáng kiến và khả năng tổ chức để sản xuất thì sẽ có “Sản phẩm của Việt Nam” hoặc nói theo Anh ngữ là “Product of Vietnam”. Chỉ trong trường hợp đó ta mới gọi “Sản phẩm của Việt Nam” hay “Hàng Việt Nam”.

- Yếu tố quyết định là sáng kiến và khả năng tổ chức để tìm ra kỹ thuật, thiết bị và nguyên vật liệu hầu sản xuất ra một mặt hàng trước đấy chưa có. Việt Nam chưa đi tới trình độ ấy, về cả sáng kiến lẫn tổ chức sản xuất, nên chưa thể có “Sản phẩm của Việt Nam” hay “Hàng Việt Nam”. Đấy là chuyện có thể hiểu được, nhưng bị lãng quên vì cái bệnh tự ru ngủ và hài lòng với sự tầm thường.

- Vì chưa có khả năng, Việt Nam phải ăn theo thị trường. Hình thái nhỏ là khi thấy thiết bị di động của nước ngoài ăn khách thì ta sản xuất các nhóm phụ kiện, như cho smart phone hay tablet của Mỹ và Đại Hàn, với giá rẻ mà phẩm chất và độ bền thì còn thua hàng phụ kiện của hãng chính hay của Trung Quốc. Khi mới bước vào loại hàng có kỹ thuật cao thì chỉ làm được như vậy mà thôi.

- Lên một trình độ khác thì xem xứ khác đang kiếm tiền bằng cách nào ta cố bắt chước, là khai thác sáng kiến của người khác để tham gia vào tiến trình sản xuất. Đa số các quốc gia đang phát triển đều ở vào trường hợp đó là khai thác sáng kiến của các nước tiên tiến để góp phần thỏa mãn một nhu cầu của thị trường. Yếu tố then chốt ở đây là “góp phần”.

Nguyên Lam: Khi ông nói “góp phần” thì người ta phải tìm hiểu xem là đóng góp chừng nào và cái phần nào trong sản phẩm là của mình và phần nào là của người khác, của nước khác. Thưa ông có phải là như vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng đúng như vậy và khi ấy ta cần nhìn qua lĩnh vực kế toán.

- Về mặt thương mại, ta biết giới tiêu thụ thường ưa mặt hàng xuất phát từ các quốc gia nổi tiếng. Thí dụ như trang phục xa xỉ đắt tiền mà có nhãn hiệu là “Hàng Pháp” hay “Sản phẩm của Pháp” hoặc “Chế tạo tại Pháp” thì được chiếu cố hơn hàng của Thái Lan chẳng hạn, nên có thể bán cao giá hơn. Thí dụ kia là hàng công nghệ cao của Mỹ, Nhật, Hàn. Khi ấy, vấn đề của quốc gia xuất xứ được đặt ra. Đó là quy chế về “quan thuế” mà Việt Nam cứ gọi sai là “hải quan” vì nhiều cửa quan như phi cảng Tân Sơn Nhất hay Nội Bài chẳng là hải cảng. Theo quy chế này, chỉ được phép gọi là Hàng của Pháp, của Mỹ hay của Nhật Bản, Đại Hàn nếu các nước đó góp phần sản xuất tới hơn 50% của giá thành khi xuất xưởng. “Giá xuất xưởng” là một khái niệm kế toán được các nước cùng chấp nhận và tín nhiệm dù đây đó tại Việt Nam thì vẫn có gian lận.

Nguyên Lam: Nguyên Lam bắt đầu hiểu diễn tiến suy luận của ông. Giả dụ như hãng Samsung của Đại Hàn có sáng kiến về loại điện thoại cao cấp và tổ chức việc sản xuất sao cho có lợi nhất, với giá rẻ mà phẩm chất cao, thì họ có thể thiết lập cơ xưởng ráp chế tại Việt Nam hay Malaysia. Với công nghệ và thiết bị Hàn quốc, phụ tùng hay phụ kiện của Nhật Bản dưới sự quản lý của kỹ sư Đại Hàn để điều khiển nhân công Việt Nam hoặc Mã Lai sản xuất ra điện thoại có nhãn hiệu là “Sản phẩm Đại Hàn”. Trong suốt tiến trình này, từ nguyên vật liệu lên hàng bán chế phẩm rồi sản phẩm hoàn tất được đóng hộp để bán ra ngoài thì nhiều quốc gia có thể tuần tự góp phần, nhưng phần chính, hơn phân nửa của giá xuất xưởng, là của Hàn quốc. Thưa ông, có phải là phương pháp kế toán mới lần lượt bút ghi tiến trình tích lũy giá trị của sản phẩm hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa vâng và khi ấy, khái niệm “góp phần” hay “trị giá gia tăng” mới được đặt ra. Trong thế giới gọi là “toàn cầu hóa” ngày nay, còn rất ít sản phẩm là do một xứ sản xuất nguyên vẹn 100% mà thường là kết quả của nhiều nước cùng tham gia. Vấn đề chính là nước nào quyết định, căn cứ trên cái gì? Nếu năng suất hoặc tay nghề của nhân công Việt Nam mà kém nhân công Mã Lai chẳng hạn thì Samsung có thể dời hãng xưởng mà vẫn có “Sản phẩm Đại Hàn” nhưng ráp chế tại Mã Lai thay vì ráp chế tại Việt Nam. Khi ấy ta mới cần phân biệt các mặt hàng gọi là “Product of Vietnam”, với “Made in Vietnam” hay “Manufactured in Vietnam”, tức là “Sản phẩm của Việt Nam” khác với “Chế tạo hay Ráp chế hoặc Chế biến tại Việt Nam”.

- Việt Nam mới ở vào trình độ góp phần ráp chế hay chế tạo thôi. Khi Bộ Công Thương của Hà Nội hãnh diện về Sản phẩm của Samsung dán nhãn “Hàng Việt Nam” thì họ bị hoang tưởng hoặc nhập nhằng về quy chế thương hiệu. Đấy chỉ là “Sản phẩm Đại Hàn” với phần đóng góp của Việt Nam chưa tới 50%. Trường hợp tương tự chính là áo quần giày dép của Việt Nam với phần đóng góp chủ yếu là của Trung Quốc. Loại sản phẩm đó không thể nào lọt qua ải TPP dù có dán nhãn là “Hàng Việt Nam” vì các thành viên đều truy lên quốc gia xuất xứ không phải là Việt Nam.

Nguyên Lam: Nói về viễn ảnh gia nhập khu vực Xuyên Thái Bình Dương TPP, giới đầu tư quốc tế đã nhìn vào thị trường Việt Nam như một cơ hội mới, thí dụ trong các ngành may mặc áo quần, để “Hàng Việt Nam” được ưu đãi về quan thuế khi bán cho 11 nước kia. Nhưng khốn nỗi trong cấu trúc Hàng Việt Nam ấy thì phần đóng góp của Trung Quốc lại chiếm đa số vì Việt Nam chưa có nguyên nhiên vật liệu và nhiều phụ tùng lắt nhắt, từ cái khóa trên áo hay sợi dây của đôi giày, nên cứ phải nhập từ Trung Quốc. Thưa ông, làm sao mình có thể giải quyết vấn đề ấy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin đi từ chuyện xa đến chuyện gần thì dễ thấy toàn cảnh.

- Năm 1980 Bộ Công Thương Quốc Tế MITI của Nhật, nay là Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp METI, lập ra Viện Khoa học Công nghiệp và Thuật lý (Agency of Industrial Science and Technology) AIST có nhiệm vụ phối hợp hoạt động của 16 trung tâm nghiên cứu trên toàn quốc với ngân sách rất cao để nghiên cứu và thực hiện 25 dự án ưu tiên nhằm giải quyết vấn đề tài nguyên và sản xuất và giữ vị trí khoa học tiên tiến cho Nhật. Cho đến nay, dù có sản lượng kinh tế đứng hạng ba thế giới, Nhật vẫn có ngân sách nghiên cứu và phát triển hạng nhất cho nên tiếp tục có những sáng kiến tiên tiến.

- Gần với chúng ta hơn thì năm 1966, khi kinh tế Nam Hàn còn thua kinh tế miền Nam Việt Nam, thì Hội đồng Kế hoạch Nam Hàn đã đề ra hướng phát triển công nghiệp cho 20 năm sau của ba lớp kỹ nghệ. Ba lớp đó là 1/ các ngành phôi thai non yếu như thép, đóng tầu, phân bón và ráp chế điện tử, 2/ các ngành có khả năng cạnh tranh là dệt sợi, áo quần hay giày dép – như Việt Nam ngày nay - và lớp 3/ là các ngành có thể tự túc. Cứ mỗi năm năm thì sự yểm trợ của nhà nước và các tập đoàn sản xuất của tư nhân phải nâng ngành ở lớp dưới lên lớp trên. Tiêu chí của họ là phải bắt kịp và vượt Nhật trên thị trường xuất khẩu. Kết quả là nửa thế kỷ sau, là ngày nay, sản phẩm Đại Hàn như xe hơi hay điện thoại đang chiếm thị phần rất cao trên trường quốc tế của Mỹ, Nhật, Âu.

- Trong suốt tiến trình đó, hai nước đang dẫn đầu Đông Á vốn có ít tài nguyên và nhân lực nội địa là Nhật Bản và Đại Hàn đã phát huy sáng kiến và tổ chức để tìm nguồn cung cấp nguyên vật liệu và lao động. Họ lập ra chu trình cung cấp và điều hướng việc đầu tư ra ngoài để dùng bắp thịt và vật liệu của xứ khác. Nếu nhớ lại thì ta tự hỏi rằng trong những năm đó, Việt Nam làm gì và nghĩ gì để ngày nay đi mua vật liệu của Trung Quốc và bán bắp thịt của mình nhờ lương rẻ hầu có phần đóng góp rất nhỏ?

Nguyên Lâm: Như ông vừa trình bày kinh nghiệm của các nước đi trước thì việc có được “Sản phẩm Việt Nam” thay vì chỉ có “Sản phẩm Ráp chế tại Việt Nam”, người ta cần khởi sự từ cái đầu, từ khả năng phát huy sáng kiến và tổ chức. Mà có phải là khả năng đó đòi hỏi tầm nhìn dài hạn của giới lãnh đạo kinh tế và doanh nghiệp hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đúng như vậy và tôi nhắc đến kỹ nghệ đóng tầu của Đại Hàn, 20 năm trước còn là phôi thai mà sau đó đã vượt Nhật Bản, còn Việt Nam thì 10 năm trước mới sinh ra hiện tượng Vinashin với kết quả tồi tệ ra sao thì ta đã rõ. Một tập đoàn kinh tế nhà nước có sự yểm trợ mọi mặt của nhà nước mà còn vậy thì làm sao tư doanh Việt Nam có thể cạnh tranh với nhà nước và với quốc tế sau này? Nếu ta có thấy “Hàng Việt Nam” trong loại phụ kiện cho Samsung hay Apple mà chỉ có ưu thế rẻ tiền mà chóng hư thì mình hiểu ra nguyên do sâu xa của vấn đề.

- Sau cùng, ta chẳng nên quên rằng trong hai chục năm qua, công nghệ của thế giới cũng thay đổi nên phí tổn sản xuất của nguyên vật liệu như tơ sợi hay hàng dệt giảm mạnh, với phần đóng góp ít hơn của nhân công và nhiều hơn của thiết bị máy móc. Vì vậy, Việt Nam nên nhìn xa vào đó để tìm nguồn sản xuất và cung cấp khác ngoài Trung Quốc hầu khai thác được lợi thế về thuế khóa của hệ thống TPP. Chỉ với tinh thần đó thì mình mới có “Hàng Việt Nam” đích thực. Yếu tố then chốt ở đây là tinh thần, là tầm nhìn. Chưa khắc phục được bài toán ấy thì mình chỉ đi làm hàng nhái, hàng giả và “Made in Vietnam” vẫn đồng nghĩa với hàng rẻ mà chẳng bền!

Nguyên Lam: Xin cảm tạ ông Nghĩa về bài học thấm thía này.

Nguyên Lam
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nghi khac:

Sự thật Triều Tiên: Không xấu như tuyên truyền

Bao giờ người Việt mới được như người Triều Tiên ? Người Việt vài chục năm nay sống nhờ bán tài nguyên, tiền kiều hối, vay nợ và huy động vốn nước ngoài, bóc lột lẫn nhau... chứ có làm được cái gì ra hồn đâu ? Nếu lại bị Trung Quốc và phương Tây cấm vận như Triều Tiên thì vô số người dân Việt sẽ chết đói, sẽ lại bỏ quê hương vượt biên... Nhưng dân Việt chém gió rất tài, không chỉ đám lãnh đạo cao cấp chém để lừa dân mà bản thân người dân cũng rất mê chém gió, không thèm học, không thèm đọc cũng không thèm nghĩ, lúc nào cũng tưởng mình vô địch thế giới. Nói đến Triều Tiên, có lẽ 80% người dân Việt tự hào nước mình hạnh phúc nhất thế giới (nhiều cuộc điều tra cho thấy điều này), còn Triều Tiên là đáy của thế giới, là nơi dân đang hàng ngày hàng giờ chờ chết đói... Nhưng sự thật đâu phải thế.
SỰ THẬT TRIỀU TIÊN
Tại Hàn Quốc, luật an ninh chống Triều Tiên quy định: những ai tỏ thái độ ủng hộ hoặc ca ngợi Triều Tiên có thể bị phạt tới 7 năm tù giam, đo đó bất cứ thông tin nào về thành tựu hoặc mặt tốt của Triều Tiên đều không được biết tới ở đây. Do tính chất khép kín của mình, cuộc sống tại Triều Tiên là bí ẩn với đa số người nước ngoài. Đời sống tại đây là chủ đề của nhiều tin đồn được lan truyền trên báo chí phương Tây.

Video tua nhanh về sự hiện đại của thủ đô Bình Nhưỡng của tạp chí Time do nhà sản xuất video JT Singh và Rob Whitworth cung cấp. Khác xa với sự đồn đoán của báo chí. *Tên video gốc: Enter Pyongyang
Vì mục đích tuyên truyền hoặc câu khách, dường như báo chí nước ngoài đã quên mất những chuẩn mực tối thiểu của nghề làm báo khi đưa tin về Triều Tiên, tất cả chỉ biết vẽ ra những ấn tượng u ám cho người đọc về đất nước Triều Tiên. Video clip này là một góc nhìn khác về đất nước Triều Tiên.


Điều kiện thiên nhiên ở Triều Tiên, cả Bắc và Nam đều không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Do vậy, cả Nam và Bắc Triều đều không thể tự làm ra sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là lương thực đáp ứng đủ cho nhu cầu trong nước. Họ (cả Nam và Bắc) đều phải nhập khẩu lương thực.

Vấn đề nhập khẩu lương thực diễn ra ở cả 2 miền Nam Bắc nhưng cách thức lại khác nhau.

+ Nếu như ở Nam thì họ tự do buôn bán với các nước ngoài, họ bán các tứ họ có, lấy đô la để mua lương thực.

+ Trong khi đó thì ở Bắc Triều không thể tự do buôn bán như vậy vì chính sách cấm vận bẩn thỉu của Mỹ suốt hơn nửa thế kỷ qua. Các nước muốn mua sản phẩm công nghệ cao của Triều Tiên, kể cả vũ khí hiện đại của họ đều phải dòm ngó anh Barack Obama.

Thực tế cho thấy, các nước, kể cả Việt Nam ta vẫn làm ăn buôn bán với Triều Tiên, nhưng phải kín đáo, tế nhị vì không muốn mất lòng tên đầu gấu là Mỹ. Do vậy, việc VN ta phải chuyển gạo sang TT với danh nghĩa viện trợ nhân đạo. Tàu VN chở gạo sang rồi âm thầm chở hàng công nghệ cao về. Đó là thỏa thuận song phương, hàng đổi hàng.

Trong bối cảnh như vậy mà Triều Tiên vẫn đảm bảo cho dân đủ lương thực, xây dựng cơ sở vật chất hiện đại, đảm bảo các nhu cầu về y tế, học tập, vui chơi giải trí cao cho nhân dân và đặc biệt là TT vẫn đủ tiềm lực tự sản xuất vũ khí hiện đại, đủ để bảo vệ đất nước.

Đó chính là điều kỳ diệu ở Triều Tiên mà tôi thấy không nước nào sánh kịp.


Mời xem thêm Chùm hình ảnh Nữ Cảnh sát Giao thông Triều Tiên xinh đẹp












Ngọc Anh
http://googletienlang2014.blogspot.com/2015/10/su-that-trieu-tien.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Giới nhà giàu đang tháo chạy khỏi Trung Quốc như thế nào?


Làn sóng di dân này cũng giống như lời tuyên bố của người Trung Quốc: “Chúng tôi muốn tất cả các bạn biết rằng chúng tôi đã đánh dấu tên mình cho hầu như mọi thứ trên thế giới”. Trong năm qua, thống kê cho thấy số triệu phú Trung Quốc đã đạt mức tối đa trong tổng Visa loại EB-5 được cấp theo diện Chương trình Đầu tư Nhập Cảnh của Hoa Kỳ.

Và theo những thống kê gần đây cho thấy 90% visa tạm trú của Úc được cấp cho công dân Trung Quốc. (Significant Investor: Visa tạm trú 4 năm cho những người sẵn sàng đầu tư 5 triệu AUD vào Úc). Trên toàn thế giới, chương trình nhập cảnh đầu tư của các quốc gia phương Tây đang bị quá tải do lượng người Trung Quốc mong muốn nhập cư quá đông.

Từ năm 1990, Trung Quốc đã từ nước có số dân xuất cảnh nhiều thứ 7 trên thế giới trở thành nước nhiều thứ 4, với số dân xuất cảnh tăng hơn 125%. Rất đông người Trung Quốc đang xuất cảnh sang các nước khác, đặc biệt là người giàu.

Ngày càng nhiều đại gia Trung Quốc muốn di dân

Phần trăm người giàu đã xuất cảnh

Số người siêu giàu Trung Quốc (trung bình tài sản 16 triệu USD) nhập cảnh vào Mỹ chiếm 33% tổng số người siêu giàu ở Trung Quốc. Số triệu phú muốn di dân hoặc đang lên kế hoạch di dân trong vòng 5 năm tới chiếm 64%.

Một khảo sát gần đây từ Barclays cho thấy có hơn 47% đại gia Trung Quốc muốn di dân. Trong khi tỷ lệ bình quân theo khảo sát chiếm 29% trên toàn thế giới.

Cùng với việc càng nhiều công dân Trung Quốc trở nên giàu có, số lượng người muốn xuất cảnh cũng gia tăng. Vậy những quốc gia nào mà đại gia Trung Quốc muốn đến?

Bắc Mỹ, nơi giới thượng lưu Trung Quốc hướng đến

Theo báo cáo của Hurun – Sách trắng Về Đầu Tư Nhập Cảnh 2014 (2014 Immigrant Investor White Paper), Hoa Kỳ và Canada là những lựa chọn đầu tiên của những giới thượng lưu Trung Quốc đang lên kế hoạch xuất cảnh.


Thống kê những quốc gia hàng đầu mà người giàu Trung Quốc chọn khi di dân.

Bởi vì phần đông đại gia Trung Quốc tích lũy của cải tại chính quốc gia của mình, cho nên, từ quan điểm của một doanh nhân, sẽ tiện hơn cho họ khi sống gần Trung Quốc. Vậy để nhận được visa nhập cảnh từ một quốc gia khác thì phải đáp ứng những yêu cầu gì?

Những yêu cầu cần thiết để nhận Visa di dân theo hình thức Nhà đầu tư

Những loại di dân bao gồm nhập cảnh theo diện đầu tư, diện tay nghề, diện du học, và diện nhập cảnh phi pháp (không giấy tờ). Đa phần người Trung Quốc giàu có đều nhập cảnh thông qua việc đầu tư.

Yêu cầu Đầu tư là điều kiện tối thiểu để di dân.

Yêu cầu cấp quốc tịch cho nhà đầu tư của một số quốc gia
Hoa Kỳ: Visa Đầu tư nhập cảnh EB-5




Vốn đầu tư tối thiểu 500.000 USD vào các doanh nghiệp Hoa Kỳ. Trực tiếp hoặc gián tiếp tạo việc làm cho 10 người và thời gian đầu tư ít nhất 5 năm. Sau khi nhận quyền cư trú hợp pháp, phải tiếp tục định cư tại Hoa Kỳ trong 5 năm.

Canada: Chương trình Nhập cư dành cho Nhà đầu tư – IIP (hủy bỏ năm 2014)



Sở hữu tài sản cá nhân tối thiểu 1,6 triệu CAD và đang là nhân viên quản lý cấp cao hoặc chủ doanh nghiệp trong ít nhất 2 năm, tính trong mốc thời gian 5 năm gần đây. Hoặc phải đầu tư 800.000 CAD vào một ngân hàng theo chỉ thị của Chính phủ Canada và sẽ được hoàn trả đầy đủ sau 5 năm, không lãi suất.

Australia: Visa đầu tư và Đổi mới kinh doanh (tạm thời)


Phải đầu tư 5 triệu AUD vào trái phiếu chính phủ hoặc trái phiếu liên bang; đầu tư vào các Quỹ đầu tư được Ban Kiểm soát đầu tư nước ngoài của Úc quản lý, bao gồm đầu tư vào cơ sở hạ tầng cơ bản, bất động sản… Dân nhập cảnh bằng Visa tạm trú có thể nộp đơn xin làm công dân chính thức sau khi sinh sống tại Úc được 2 năm trong vòng 5 năm gần nhất.

Vương Quốc Anh: Visa bậc 1 (Nhà đầu tư)


Đầu tư 2 triệu bảng Anh vào trái phiếu Kho bạc theo chỉ định và được hoàn trả 100 bảng Anh lãi suất sau 5 năm. Có thể trở thành dân tạm trú sau 5 năm và nộp đơn xin làm công dân chính thức sau 6 năm. Người nộp đơn phải sinh sống tại Anh 9 tháng trong thời gian 1 năm gần nhất trước khi được xét cấp quyền công dân.

New Zealand: Visa doanh nhân


Phải đầu tư 1,5 tỷ NZD vào những quỹ được chỉ định trong khoảng thời gian 4 năm. Phải sinh sống tại New Zealand 4 năm trong 5 năm gần nhất và phải vượt qua bài kiểm tra quyền công dân.

Singapore: Chương trình Nhà đầu tư toàn cầu - GIP


Đầu tư tối thiểu 2,5 triệu SGD vào một chủ thể kinh doanh mới hoặc mở rộng chiến dịch kinh doanh đã có sẵn hoặc đầu tư vào một quỹ GIP thuộc Nhà nước Singapore dùng để đầu tư vào những công ty ở Singapore. Công dân tạm trú trên 21 tuổi đã sống ít nhất 2 năm trong 6 năm gần nhất tại Singapore có thể nộp đơn cấp quyền công dân chính thức của Singapore.

Hàn Quốc: Visa đầu tư Công ty (D-8)

Đầu tư hơn 500 triệu won vào bất động sản. Sau 5 năm, nếu những người này không bị loại hồ sơ xét duyệt nhập cảnh vì nhiều lý do khác nhau, họ và vợ/ chồng cùng con cái sẽ được cấp quyền công dân tạm thời.

Đối với những đại gia Trung Quốc, những người có thể dễ dàng thu được hàng chục triệu USD, thì ngưỡng đầu tư được nhập cảnh không hề cao. Và đó là chưa kể ngưỡng đầu vào của nhiều quốc gia, bao gồm cả Hoa Kỳ, đã giảm một cách đáng kể.

Trước tình cảnh vươn lên của giới thượng lưu Trung Quốc, những chương trình đầu tư nhập cảnh thuộc nhiều quốc gia có ngưỡng thấp đang thu hút ngày càng nhiều đại gia Trung Quốc tham gia vào cơn sốt nhập cư này. Theo số liệu thống kê của chính phủ được CNN biên soạn:


Tổng số dân Trung Quốc được nhận Visa đầu tư nhập cảnh của Mỹ từ năm 2004 đến năm 2014 (Mỹ chỉ cấp 10.000 visa mỗi năm cho diện di dân đầu tư cấp theo diện EB-5)

Trong năm 2014 số lượng đơn xin nhập cảnh cho các chương trình đầu tư nhập cảnh Hoa Kỳ đạt mức cao nhất mọi thời đại, với 85% số người nộp đơn là công dân Trung Quốc. Đây là lần đầu tiên các hạn ngạch hàng năm đạt mức tối đa, do đó chính phủ Mỹ tạm ngừng xem xét những hồ sơ nhập cảnh.

Một trường hợp tương tự đã phát sinh tại Canada. Trong vòng vài năm qua, số lượng người Trung Quốc xin nhập cảnh đã bùng bổ, vào tháng Hai năm 2014, chính phủ Canada đã tuyên bố tạm dừng Chương trình Đầu tư Nhập Cảnh (IIP) này kể từ năm 1986, thời điểm chương trình được triển khai.


Trước khi loại bỏ Chương trình IIP, Canada công cố đang có 65.000 hồ sơ đợi duyệt, trong đó có 70% là hồ sơ của người Trung Quốc.

Di dân bằng việc đầu tư đang làm cạn kiệt của cải Trung Quốc


Tài sản thu về: Tính tới năm 2012, công dân đã di dân gửi về Trung Quốc 66 tỷ USD, tương đương 4.000 tỷ Nhân dân tệ (RMB). Tài sản thất thoát: Năm 2011, những người Trung Quốc có tài sản có thể đầu tư hơn 6 triệu RMB lên đến 33.000 tỷ RMB, trong đó 2.800 tỷ RMB đã chuyển ra nước ngoài.

Số tiền mà người giàu đầu tư ra hải ngoại vượt xa số của cải họ mang về cho Trung Quốc. Vậy chính xác họ đang đầu tư vào điều gì?

Những nhà đầu tư Trung Quốc đang điên đảo vì bất động sản nước ngoài.
Bên cạnh việc được cấp Visa thông qua hình thức mua trái phiếu, nhiều người giới thượng lưu Trung Quốc đang đặc biệt “say mê” đầu tư vào bất động sản, và đang điên cuồng mua đất ở nước ngoài. Dân Trung Quốc trở thành người mua chính trong lĩnh vực bất động sản nước ngoài .

Khoảng giữa tháng Tư năm 2013 và tháng Ba năm 2014, người Trung Quốc đã chi hơn 221 tỷ USD cho bất động sản Hoa Kỳ, chiếm 24% tổng số giao dịch bất động sản nhà đất của quốc gia này.

Theo “Báo cáo thường niên 2014 về tình trạng Di cư Quốc tế của Trung Quốc”, công dân nước này là những nhà đầu tư nước ngoài đổ vốn lớn vào bất động sản của thành phố Vancouver, Brisbane, và London.
Việc mua nhà đất được người Trung Quốc thực hiện lên đến 20-40% trong tổng số giá trị giao dịch của bất động sản địa phương. Nhưng giao dịch này như lời tuyên bố: “Chúng tôi muốn tất cả các bạn biết rằng chúng tôi đã đánh dấu tên mình cho hầu như mọi thứ trên thế giới”.

20 bức ảnh cho thấy Trung Quốc đông dân tới mức nào

Mai Trâm
(Trí Thức Trẻ)



Phần nhận xét hiển thị trên trang