Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2015

TỰ DƯNG LẠI NHỚ HC?

Thi sĩ Hoàng Cầm - Nghĩ lúc nằm im

Hoàng Cầm là một trong những thi sĩ tôi thích. Nói tôi là "fan" của ông ấy cũng hoàn toàn đúng. Thời sinh tiền, Ba tôi thường nói rằng trong kháng chiến, thơ của Hoàng Cầm (như bài Đêm liên hoan) đã là động cơ tinh thần cho biết bao thanh niên vào trận và có khi hi sinh một cách hào hùng. Sau này tôi mê nhất là bài Nếu anh còn trẻ mà Phạm Duy phổ thành ca khúc Tình cầm hay tuyệt:

Nếu anh còn trẻ như năm ấy,
Quyết đón em về sống với anh.
Những khoảng chiều buồn phơ phất lại,
Anh đàn em hát níu xuân xanh.

Nhưng thuyền em buộc sai duyên phận.
Anh lụy đời quyên bến khói sương.
Năm tháng ... năm cung mờ cách biệt,
Bao giờ em hết nợ Tầm dương?

Nếu có ngày mai anh trở gót ,
Quay về lãng đãng bến sông xa.
Thì em còn đấy hay đâu mất ?
Cuối xóm buồn teo một tiếng gà ...
Ui chao, lời thơ mà đọc lên nghe cứ như là nhạc! Đến tay Phạm Duy thì ông hóa bài thơ có nhạc điệu hơn:

Nếu anh còn trẻ như năm cũ
Quyết đón em về sống với anh.
Những chiều vàng phơ phất đến,
Anh đàn em hát níu xuân xanh.

Có mây bàng bạc gây thương nhớ
Có ánh trăng vàng soi giấc mơ
Có anh ngồi lại so phím cũ
Mong chờ em hát khúc xuân xưa

Nhưng thuyền em buộc trên sông Hận
Anh chẳng quay về với trức tơ!
Ngày tháng tỳ bà vương ánh nguyệt
Mộng héo bên sông vẫn đợi chờ

Nếu có ngày nào em quay gót
Lui về thăm lại bến thu xa ...
Thì đôi mái tóc không còn xanh nữa
Mây bạc trăng vàng vẫn thướt tha.

Tôi mê bài này. Nghe hoài không chán, nhất là với tiếng hát của Lệ Thu hay Thái Thanh.

Mấy năm gần đây ông bị gãy xương (nhìn thấy dáng tôi chắc là ông bị loãng xương, có ai cho ổng Fosamax chưa?) nên phải nằm một chỗ. Tội nghiệp thi sĩ quá! Bài phỏng vấn sau đây của Nguyễn Thị Ngọc Hải đã đăng trên Người đô thị nhưng chưa đủ, bản này mới là bản đủ. Chú ý đoạn cuối:
"Đọc báo. Xem TV cả ngày phát chán. Giá lên. Có cảm giác nhân loại này TV Việt Nam nói nhiều nhất thế giới. Thấy nói thừa nhiều quá. Mà các ông đi thăm chỗ này chỗ kia, chả thấy nói ông ấy làm gì, bàn gì không biết."

Thôi tôi phải để cho các bạn đọc bài phỏng vấn.

NVT

===
Thi sĩ Hoàng Cầm - Nghĩ lúc nằm im
trò chuyện với
Nguyễn Thị Ngọc Hải
Hoàng Cầm (ảnh của Nguyễn Đình Toán), không rõ năm nhưng chắc là 2007.
Hoàng Cầm – người thơ mang vị thuốc đắng ấy bây giờ lúc ngồi lúc nằm. Nếu không, phải chống tay thế này. Ngã gãy mất xương đùi trái. Đã 86 tuổi, bây giờ chàng thi sĩ đa tình và tài hoa xứ Kinh Bắc nằm yên một chỗ. Nhưng hễ có bạn bè lên thì vẫn nụ cười “ như mùa thu toả nắng”.
Bây giờ chắc ông khó mà đưa em nào buồn về bên kia sông Đuống như ngày xưa nữa rồi?
(Cười) Gãy chân đã 5 năm. Bác sĩ bảo mổ. Không. Thôi, què thế cũng được rồi. 24/24 giờ xoay xỏa mãi một kiểu nằm ở cái giường. Đám Thuỵ Kha, Trọng Tạo bảo thơ nó vận vào đó. Suốt đời “nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ” như sông Đuống. Vậy mà tôi vừa về quê năm ngoái đấy.
Đi đứng thế nào ạ?
Ngồi xe lăn. Ô tô thuê. Về làng Lạc Thổ - Đông Hồ, còn một ông anh con bác ruột. Vài người bạn cũng thành cụ cả rồi. Yếu. Gặp nhau mừng lắm. Tôi về cùng các con dự giỗ tổ họ Bùi.
Bên kia sông Đuống vẫn xanh bãi mía bờ dâu, những cô hàng xén, những nàng dệt sợi đi bán lụa màu, những em sột soạt quần nâu.. giờ thay đổi nhiều lắm phải không ạ? Có còn “dấu vết” gì không?
Làng ấy nửa buôn bán nửa nông nghiệp, xưa nay vẫn thế. Đi chợ này chợ khác, không hẳn thuần tuý là cái làng Việt Nam. Tranh Đông Hồ thì xóm bên cạnh Tết vẫn làm. Vẫn con lợn con gà, đám cưới chuột.
Vậy làng còn đẹp như trong thơ không?
Nó đẹp hay không tự mình. Lúc nào tôi cũng thấy nó đẹp. Nhưng bến đò không còn cảm giác quê hương. Hai bên bờ đã khác. Văn minh hơn. Bến đò nay xây cầu sắt hẳn hoi, tiện cho dân. Mất thơ mộng, chả có cảm xúc gì. Chỉ thấy văn minh.
Thưa, thấy văn minh là cảm xúc…
Trước bến đò không nhà tầng bên sông, chỉ đi bộ xuống. Bây giờ thông thống cả. Mất đi không khí quê cũ. Chỉ cần một ngôi nhà ngói chen vào là hỏng rồi. Mất cái gì không biết, chỉ thấy mất. Đã gọi là bến mà, phải chờ phải đậu. Xưa có quán tạm để người chờ vào đó uống nước. Bây giờ có cầu, tất nhiên bến đò mất đi không phải chờ, vào đó uống nước làm quái gì. Văn minh phá không khí. Trẻ không có kỷ niệm. Càng già kỷ niệm càng gay gắt.
Trẻ lại có kỷ niệm khác chứ thưa ông. Nói họ không có kỷ niệm e là họ không đồng ý?
Kỷ niệm là cái đã qua, bao giờ cũng trôi về thuở ấu thơ ấy chứ. Bọn trẻ có kỷ niệm giống nhau hết cả. Thí dụ một anh 20 thì kỷ niệm của anh ta hồi 7-8 tuổi làm gì có nữa. Lúc đó bắt đầu đổi mới rồi. Không có thời gian, lấy đâu ra kỷ niệm. Mà họ giống nhau: Cùng được bố mẹ nuôi, sống ở thành phố, đi học…
Nhưng bây giờ tâm tưởng họ khác, phong phú nhiều bề, bận rộn, căng thẳng lắm chứ đâu có thong dong suy ngẫm kỷ niệm?
Cứ lấy thí dụ con cái thân thiết của gia đình mỗi nhà mà xem. Tâm tưởng thì chúng nó nghèo lắm đấy. Con tôi chẳng hạn, ngoan giỏi, yêu kính bố. Nhưng tập thơ tôi in ra. Sáng dậy nó còn ngủ. Tôi để cuốn thơ đầu giường, ngay mang tai nó, dậy nhất định thấy liền. Nó: Ờ, hay quá. Bố mới xuất bản ạ. Rồi giở lướt ra: In đẹp đấy nhỉ. Rồi để lại chỗ cũ, không cầm đi theo. Không có gì nó quý.
Vậy nó “quý” gì?
Bố có khách, nó quý người khách lắm. Họ nói chuyện thơ là nó thích, dù nó bận không nghe. Nó quý bạn thơ của bố mà chưa biết quý thơ. Đứa nào cũng phải tính làm ăn. Có tiền nuôi vợ con khá lên. Thời đại nó thế mất rồi. Giỗ vợ tôi mà đông khách khứa, bạn bè thăm bố, nó phấn khởi. Nhưng nghĩ ít. Hay là nó nghĩ gì không biết.
Con cháu có thuộc thơ ông không – cả nước phải học, vừa rồi cũng lại “Bên kia sông Đuống” là đề thi Văn mà?
Con cháu tôi đều đức độ, không phải loại vô học nhưng nó không quan tâm lắm dù cũng đã học qua rồi, bài của bố nó là tác giả. Nhưng đứa cháu lại thuộc, con chị học bên Hà Lan thì sưu tầm cẩn thận lắm.
Bài “Bên kia sông Đuống” dài lắm, đọc lên khi nào cũng nao lòng. Ông còn thuộc khômg?
Đây này, tôi sẽ đọc …(Ông đọc liền tới hơn 100 câu thì ngừng), như thế là mệt rồi. Giọng bây giờ nó cũng hỏng rồi. Hay gì. Trước sang sảng, nay có lúc khản hẳn.
Mặc dù có nhiều tác phẩm, ông có thể kể lại những cảm xúc nao lòng em oi buồn làm chi, anh đưa em về sông Đuống… làm rung động nhiều thế hệ?
Chuyện này nghiên cứu văn học có phân tích nhiều nhưng tôi vẫn sẽ nói thêm cái cảm giác của một đêm khuya năm 1948 ở khu 12 Phú Bình Thái Nguyên. Mấy anh cán bộ Nam sông Đuống lên báo cáo tình hình Pháp chiến. Tư lệnh Lê Quảng Ba mời tôi sang nghe.
Lúc đó tôi thành lập một đội văn công nhỏ. Tôi nghe họ báo cáo ở Thuận Thành, Lang Tài, La Lương, nó bắt bao người, bắt bao nhà. Đêm về nghe rõ ràng giọng chính mình vang lên mấy câu đầu “Em ơi buồn làm chi…” nó trào ra rất nhanh. Không phải nghĩ nữa. Âm điệu chữ nghĩa cứ tuôn ra. Thương quê mình quá.
Nghe nói hồi đó ông cứ phải ngồi đọc cho các cán bộ ở Côn Đảo, Phú Quốc, Campuchia về hội nghị ở Việt Bắc chép bài thơ đó. Sau nó được in ở báo Cứu Quốc. Ông còn giữ tờ báo đó không?
Chiến tranh loạn lạc, làm gì còn.
Theo ông, cái gì làm cho khung cảnh một làng quê ông sống mãi trong mọi tâm hồn?
Gắn lòng với dân tộc, thương quê. Cái gì nói lên được quê hương và những người quê hương sẽ trường tồn. Đó là một quy luật.
Nhưng có thời hình như nó bị cấm?
Lúc đó tôi nghĩ: cứ cấm đi, chỉ 10 năm nó sẽ sống lại… Ai không gì dìm cho nó “chết” được.
Ông sống rất lâu ở Hà Nội, nhưng lại không làm thơ về Hà Nội?
Tôi ở từ năm 1941-1942 khi diễn vở “Kiều Loan”. Lúc đó mới biết Hà Nội nó ở chỗ nào. Không biết thích gì ở Hà Nội. Vì nó ít kỷ niệm, hoặc kỷ niệm không đáng nhớ lắm. Cũng đi học, đi thi…
Bây giờ những tứ thơ còn đến với thi sĩ nữa không?
Thơ đầy bụng nhưng không viết được. Chỉ 3 phút là tư tưởng loãng, rối dần. Biết thôi hết rồi.
Thì ghi âm, hoặc gọi con cháu ghi giùm, không thì phí quá.
Phải nhớ, là rắc rối rồi.
Vậy phải nằm suốt ngày, nhà thơ nghĩ gì?
Không có một việc gì để làm cả. Nghĩ về dĩ vãng, công việc, vợ con, bạn bè. Chỉ thoáng thôi. Nhớ giờ không sâu nữa.
Kể cả nhiều mối tình đã từng say đắm, thi sĩ đa tình cũng quên hết sao?
13 người gia nhân – kể những người có “thành tích” tên tuổi. Linh tinh không dễ. Hầu như họ ở Sài Gòn hoặc tản mạn đi đâu hết.
Ông nằm trên tầng lầu cao nhất của ngôi nhà gần sát nhà thờ lớn. Hàng ngày nghe tiếng chuông có gợi nhiều buồn vui, dĩ vãng?
Chuông nhà thờ ở thàmh phố không thể nào sánh với chuông chùa vùng quê. Xâm xẩm chiều buông, tiếng chuông chùa quê Việt Nam nó ghê lắm. Từng tiếng một, tắt hẳn dư âm mới tiếp tiếng khác, chìm dần, đưa vào cõi không. Vời vợi rồi chìm hết. Nghe tiếng chuông chùa ở nhà quê mới hay. Chùa Quán Sứ cũng có, nhưng nó ở thành phố, không thực không khí Việt Nam. Muốn hưởng cái hay phải ở nhà quê yên tĩnh. Mà phải nghèo.
Sao vậy ạ?
Nghèo – cảm thấy hư vô không còn gì cả. Tiếng chuông chùa lên là thôi, tan dần, mới thật là Phật. Chuông nhà thờ buồn chiều một tí, nhưng chuông chùa ở nhà quê đưa người ta hiểu đúng thế nào là hư vô.
Nằm “trên trời” thế này ông có theo thời sự không ạ?
Đọc báo. Xem TV cả ngày phát chán. Giá lên. Có cảm giác nhân loại này TV Việt Nam nói nhiều nhất thế giới. Thấy nói thừa nhiều quá. Mà các ông đi thăm chỗ này chỗ kia, chả thấy nói ông ấy làm gì, bàn gì không biết.
Cuộc sống sinh hoạt hiện nay của ông thế nào ạ?
Ăn cháo với thịt băm. Củ cải dầm ăn được. Còn thuốc lào thì không kể được. Anh Nguyễn Đình Toán còn nhớ đấy. Năm 1993 vào Huế, ông Hải Bằng về nhà chặt tre làm điếu đem đến không kịp. Chúng tôi ra đến Quảng Trị nhờ trẻ con đi mua điếu không có. Một lần ra sân bay, Toán uống bia xong đục cái vỏ lon bia làm điếu.
Hút vậy hại sức khoẻ lắm.
Câu ấy ai cũng nói. Nhưng nó theo cả đời rồi. Mình phải cầm đóm lấy mới ngon, Để người châm hộ không ngon.
Thật ra sống đủ rồi, không muốn sống đau ốm, thế nên cho trách giời một tí.
Nguyễn Thị Ngọc Hải
Bản gốc bài đã đăng trên báo Người Đô Thị


Phần nhận xét hiển thị trên trang

NGHĨ KHÁC..

Một góc nhìn của cá nhân tôi về tự kỷ

Tôi từng đọc bài viết trên THDP về tự kỷ, tôi sẽ không gọi đó là bệnh, vì tự kỷ không phải là bệnh.
Vì một lý do gì đó, những đứa trẻ tự kỷ không thể bám lấy được một thực tại, trong trường hợp này, thật không may cho chúng, lại là thực tại của chúng ta. Và đây là nơi tất cả rắc rối bắt đầu.

Để dễ tưởng tượng, tôi cho phép các bạn được giữ lại cái tôi, cái bản ngã, vì nếu tôi bắt các bạn từ bỏ luôn hẳn cái tôi thì khó hình dung cho các bạn quá. Nhưng hãy nhớ những đứa trẻ tự kỷ hoàn toàn không tồn tại cái tôi, cái ngã.
Bạn ở đó, giữa vũ trụ lơ lửng, nhưng đừng hình dung có những vì sao hay mặt trời, vì những thứ đó cũng thuộc về thực tại vật chất của bạn hiện tại, cái vũ trụ sơ khai không có gì cả.
Rồi để dễ hình dung, tôi cho bạn đeo một cái kính VR, kính thực tại ảo, đây là loại kính trùm vào mắt, khi nó chiếu ra cảnh gì, thì cảnh đó là thật đối với bạn. Nên nhớ, nó rất thật, thật đến độ bạn có thể chạm vào, ngắt một bông lúa và ăn được nếu tôi chiếu cho bạn cánh đồng lúa.
Bây giờ bạn tưởng tượng cái kính đó không chiếu liên tục một cảnh, mà bị hư. Nó trống rỗng và đen thui. Người ta bật cho bạn một thực tại, bạn trải nghiệm nó được 1 giây rồi nó bị vỡ ra, trở về lại trống rỗng. Bạn gãi lưng, cảm giác ở da đưa bạn đến một thực tại khác, nhưng cũng tương tự, nó chỉ tồn tại được 1 giây rồi lại bị băm ra.
Tương tự như thế với thính giác, vị giác, thị giác, khứu giác, xúc giác, và cả ý thức. Ý thức vẫn có thể kéo ta về thực tại, nhưng nó cũng chả đủ mạnh như 5 giác quan kia. Bạn sẽ thấy tất cả chỉ là những điều kiện để đưa bạn tiếp xúc một thực tại, mà thực tại này hoàn toàn do bạn tạo ra. Đây là điểm kinh khủng của nó.
Vì bạn tạo ra được, cho nên mỗi khi bạn bị băm nát thực tại, bạn cố gắng tạo ra cái khác để duy trì vào nó. Giả sử như bạn hoàn toàn không có kiến thức, không có ý niệm gì về một thực tại nào đó, thì có thể sẽ khác, nhưng rồi bạn vẫn sẽ học được gì đó từ 1 giây ngắn ngủi, bạn sẽ tiếp tục cố gắng tạo ra thực tại kế tiếp dựa trên nhận thức và kinh nghiệm của thực tại vừa bị vỡ, để tạo tiếp thực tại kế tiếp và cứ thế tiếp diễn. Điều này giải thích vì sao trẻ tự kỷ thường có những hành động lặp đi lặp lại, CHÚNG CỐ GẮNG TẠO RA VÀ BẤU VÍU VÀO MỘT THỰC TẠI MÀ CHÚNG QUEN THUỘC.
Hãy tưởng tượng việc tạo dựng thực tại và việc bị băm nát nó diễn ra vô cùng tận. Không có điểm dừng, không có điểm đầu, không có điểm cuối. Thời gian, lúc này không tồn tại. Nó chỉ tồn tại khi một thực tại được dựng lên, nhưng vì thực tại đó cũng bị băm nát, nên thời gian cũng bị băm nát theo. Thời gian là cách mà thực tại được định hình lại một cách trơn tru.
Theo ý kiến cá nhân tôi, đây là cách mà luân hồi hoạt động, và vì một lý do gì đó, mà chúng không chấm dứt nơi những đứa trẻ. Chúng mang cái nhận thức mới mẻ này vào một thực tại mà chúng được sinh ra. Đây là sự nguyền rủa? Một món quà? Một lỗi hay bug gì đó trong chương trình vũ trụ? Tôi không biết. Tôi chỉ biết trong cái lặng thinh đó, tình yêu là thứ duy nhất tồn tại được. Chúa cũng vỡ nát, Phật cũng vỡ nát. Thầy Nhất Hạnh cũng chả là cái đinh gì và tất cả mọi thứ đều dễ dàng vỡ vụn.
Cho nên, nếu bây giờ tôi gặp một đứa trẻ tự kỷ, tôi sẽ trân trọng mọi cảm giác, cảm xúc, vì mỗi cái chạm tay, mỗi cái nhìn, mỗi hơi thở, mỗi âm thanh mà tôi tiếp xúc với em, chắc chắn sẽ là đầu tiên và duy nhất, vì nó sẽ bị vỡ, và em sẽ phải làm lại từ đầu để tìm lại nó.
Về phần bạn, bạn hãy tiếp tục tưởng tượng, sẽ ra sao nếu một lúc nào đó, chiếc kính VR dần dần không ngắt kết nối, mà cho bạn xem một thực tại kéo dài hơn 1 giây, đến 2 giây, rồi 3 giây, rồi n giây… Bạn sẽ biết rằng, rồi cái thực tại này cũng sẽ vỡ vụn ở giây thứ n+1 nào đó, và bạn, chỉ duy nhất bạn ở đó, với cái tôi trống rỗng, tạo dựng lại một thực tại trong muôn vàn thực tại, cố gắng bám vào một cái để có cảm giác mình là thực.
Bởi vì chả có cái thực tại nào là thực cả.


Tác giả: Sang Dth

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thơ trường phái dễ bị "Lỗ mũi ăn trầu"! Bùn thật đấy nha!

 TỔ QUỐC GỌI TÊN MÀY


09-10-2015
Đêm qua Tổ quốc gọi tên mày
là Thằng Hèn!
bằng tiếng sóng Trường Sa, Hoàng Sa dội vào ghềnh đá.
Tổ quốc nói mày suốt đời ăn cá,
mà để biển cả như đất hoang,
cho thằng giặc Tàu nó tràn sang!
Tàu nó dập dồn, chăng lưới, bủa vây, phun mắm ruốc,
còn mày thì trốn vào buồng làm thơ yêu nước!
Đánh giặc mồm thì ngang bằng đánh tổ tôm!
Tổ quốc của mày đây, Tổ quốc của mày đây!
Bốn nghìn năm chưa bao giờ ngơi nghỉ,
nuôi mày bắt đầu từ con khỉ,
cho mày ngọn lửa để thành người.
Bao nhiêu lớp người đã đổ máu tươi
giữ từng tấc đất nuôi sống cả họ nhà mày
Máu thì tanh
làm gì có vị mặn?
Chỉ có giống nhà thơ là mày cả đời ăn cơm thừa cá cặn
mới rặn ra thứ gọi là thơ
gọi tên kẻ cướp Tổ quốc mày bằng những chữ mù mờ!
“Kẻ lạ mặt” nào?
khi một đứa trẻ câu cá bên bờ ao,
còn thấy bóng thằng giặc Tàu mấy nghìn năm nhẵn mặt!
Thà gọi là thằng bạn vàng nó rình rập, đúng ra là ngang nhiên chia cắt mày và Tổ quốc
rồi biết ơn nó có hơn không?
Vì dáng hình đất nước có cong cong
nhưng không đến nỗi khom cái lưng hèn như mày,
suốt ngày lấy tiền dân uống rượu
rồi say
và hót vài câu để tỏ lòng yêu Tổ quốc!
Mày làm gì có tim mà bảo đau từng tấc đất,
khi cái lưỡi bò nó liếm gần hết Biển Đông?
Sóng làm gì có chuyện bình yên dẫn lối những con tàu
Sóng quặn đỏ máu những người đã mất thì có.
Nhưng sóng cuồn cuộn từ Nam chí Bắc,
chín mươi triệu môi người thao thức tiếng “Việt Nam” là nói điêu,
bởi vì trong chín mươi triệu ấy có hơn vài triệu thằng leo lẻo nói tiếng Tàu.
Và chỉ có mấy ngàn lính đội sóng đội gió cho “Tổ quốc linh thiêng”
để giấc ngủ trẻ thơ bình yên.
Còn trong bão tố thì bố người lớn cũng không ngủ được!
Tổ quốc khao khát Hòa bình là có thật
nhưng trên tay “rực lửa” của mày
dễ cháy thành Chiến tranh
khi Thần Người đều giận!
Hãy lắng nghe
Tổ quốc
gọi tên mày…
Ngày 9 tháng 10 năm 2015
Chu Mộng Long
______
TỔ QUỐC GỌI TÊN MÌNH đang tranh chấp tác quyền
Đêm qua tôi nghe Tổ quốc gọi tên mình
Bằng tiếng sóng Trường Sa, Hoàng Sa dội vào ghềnh đá
Tiếng Tổ quốc vọng về từ biển cả
Nơi bão tố dập dồn, chăng lưới, bủa vây
Tổ quốc của tôi, Tổ quốc của tôi
Bốn nghìn năm chưa bao giờ ngơi nghỉ
Thắp lên ngọn đuốc Hòa bình, bao người đã ngã
Máu của người nhuộm mặn sóng biển Đông
Ngày hôm nay kẻ lạ mặt rập rình
Chúng ngang nhiên chia cắt tôi và Tổ quốc
Chúng dẫm đạp lên dáng hình đất nước
Một tấc biển cắt rời, vạn tấc đất đớn đau
Sóng chẳng còn bình yên dẫn lối những con tàu
Sóng quặn đỏ máu những người đã mất
Sóng cuồn cuộn từ Nam chí Bắc
Chín mươi triệu môi người thao thức tiếng “Việt Nam”
Chín mươi triệu người lấy thân mình chở che Tổ quốc linh thiêng
Để giấc ngủ trẻ thơ bình yên trong bão tố
Ngọn đuốc Hòa bình trên tay rực lửa
Tôi lắng nghe
Tổ quốc
gọi tên mình
Nguyễn Phan Quế Mai hay Ngô Xuân Phúc?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NHẬT TUẤN suốt đời bận rộn văn chương


Nhật Tuấn nhận ra rằng truyện ngắn khó chuyển tải hết sự bồn bề của xã hội, và ông chuyên tâm viết tiểu thuyết. Thời đổi mới, Nhật Tuấn tung ra một loạt tiểu thuyết như “Bận rộn”, “Mô hình và thực thể”, “Niềm vui trần thế”, “Lửa lạnh”, “Biển bờ”, “Tín hiệu một con người”, “Những mảnh tình đã vỡ”… và nổi bật nhất là “Đi về nơi hoang dã”. Nhà văn Nhật Tuấn tâm niệm: “Văn chương với tôi là cách vượt thoát duy nhất khỏi những cảnh ngộ “chân tường” mà tôi thường bị dồn tới. Tôi phải cảm ơn số phận đã luôn trợn mắt lên với tôi. Nhờ những quả đắng mà nó thường mang tới, tôi luôn bám chặt lấy nghiệp chữ nghĩa. Bởi lẽ, nếu không còn văn chương nữa, thì tôi biết trò chuyện với ai?”. Tác phẩm của Nhật Tuấn ngổn ngang dằn vặt và suy tư. Thế nhưng, cuộc sống của ông lại rất phóng khoáng. Nhật Tuấn đã ba lần kết hôn, rồi vẫn lủi thủi một mình. 


NHẬT TUẤN SUỐT ĐỜI BẬN RỘN CHỮ NGHĨA

LÊ THIẾU NHƠN

Nhà văn Nhật Tuấn vừa qua đời lúc 6 giờ chiều ngày 6-10-2015 tại Bệnh viện Thống Nhất – TPHCM, hưởng thọ 74 tuổi. Tin buồn này khiến giới cầm bút sửng sờ, vì nhà văn Nhật Tuấn vốn rất khỏe mạnh và rất sôi nổi. Thế nhưng, đã là số mệnh, thì khó cưỡng lại…

Hơn 10 năm nay, nhà văn Nhật Tuấn rời khỏi căn nhà ở Gò Vấp – TPHCM để chuyển về cư ngụ ở xã Tân Thành, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Người thân của Nhật Tuấn phần lớn đều lập nghiệp ở nước ngoài, bản thân ông cũng chán ngán sự ồn ào đô thị nên chọn một mảnh đất hẻo lánh để yên tĩnh đọc sách và viết lách. Cách đây 8 năm, nhà văn Nhật Tuấn từng đột quỵ do nhồi máu cơ tim khi đang tỉa cây trong vườn, cũng may hàng xóm phát hiện kịp thời nên đưa đi cấp cứu. Sau một ca phẫu thuật và một đợt điều trị dài ngày, ông đi Mỹ chơi rồi quay lại lối sống hào hứng như xưa. Lần này ông trở bệnh trong âm thầm và ra đi như tên một cuốn sách của ông: “Một cái chết thong thả”! Dù trong máy tính của ông vẫn còn nhiều bản thảo dang dở!

Nhà văn Nhật Tuấn sinh ra trong một gia đình tư sản Hà Nội. Giai đoạn đất nước chiến tranh cam go, Nhật Tuấn làm công nhân đào đường rồi vào bộ đội làm trinh sát công binh. Từ năm 1973, trong khói lửa, những tờ giấy mặt trước ghi số liệu khảo sát và đo đạc giao thông, thì mặt sau được ông tận dụng để viết văn.

Non sông liền một dải, Nhật Tuấn giải ngũ và đi theo con đường cầm bút chuyên nghiệp. Khởi đầu bằng truyện ngắn, Nhật Tuấn gây ấn tượng mạnh mẽ trên văn đàn với “Trang 17” và “Con chim biết chọn hạt”. Thành công ấy không chỉ giúp Nhật Tuấn trở thành cán bộ biên tập NXB Văn Học mà còn được tín nhiệm cho tham gia vào Hội đồng biên soạn công trình quốc gia “Tổng tập văn học Việt Nam” đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất, và được làm việc chung với các nhân vật tầm cỡ như Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Tế Hanh… Trong vai trò ấy, Nhật Tuấn được cấp một cái thẻ đặc cách để đọc tất cả các tài liệu sách báo của hệ thống thư viện toàn quốc. Nhờ vậy, Nhật Tuấn có được một trữ lượng kiến thức văn học mà các đồng nghiệp phải kính nể. Thậm chí, Nhật Tuấn biết cả những tác phẩm mà chính tác giả đã bị thất lạc hoặc lãng quên.

Có lẽ cũng nhờ giai đoạn tham gia hội đồng biên soạn “Tổng tập văn học Việt Nam”, Nhật Tuấn nhận ra rằng truyện ngắn khó chuyển tải hết sự bồn bề của xã hội, và ông chuyên tâm viết tiểu thuyết. Thời đổi mới, Nhật Tuấn tung ra một loạt tiểu thuyết như “Bận rộn”, “Mô hình và thực thể”, “Niềm vui trần thế”, “Lửa lạnh”, “Biển bờ”, “Tín hiệu một con người”, “Những mảnh tình đã vỡ”… và nổi bật nhất là “Đi về nơi hoang dã”. Nhà văn Nhật Tuấn tâm niệm: “Văn chương với tôi là cách vượt thoát duy nhất khỏi những cảnh ngộ “chân tường” mà tôi thường bị dồn tới. Tôi phải cảm ơn số phận đã luôn trợn mắt lên với tôi. Nhờ những quả đắng mà nó thường mang tới, tôi luôn bám chặt lấy nghiệp chữ nghĩa. Bởi lẽ, nếu không còn văn chương nữa, thì tôi biết trò chuyện với ai?”.

    Tác phẩm của Nhật Tuấn ngổn ngang dằn vặt và suy tư. Thế nhưng, cuộc sống của ông lại rất phóng khoáng. Nhật Tuấn đã ba lần kết hôn, rồi vẫn lủi thủi một mình. Ngoài những day dứt với phái đẹp, Nhật Tuấn đam mê hai thứ: công nghệ và bạn bè!

    Nhật Tuấn rất thông minh và rất thích khám phá các loại máy móc tân tiến. Căn nhà nhỏ của Nhật Tuấn ở Gò Vấp, hay căn nhà vườn ở Bình Dương lúc nào cũng ngổn ngang các loại đồ chơi công nghệ. Những người thợ điện tử đừng hòng ăn được đồng nào của Nhật Tuấn, ti vi hư hay đầu đĩa hỏng thì Nhật Tuấn đều biết cách sửa chữa ngon lành. Đặc biệt, phải nhắc đến Nhật Tuấn là nhà văn đầu tiên của nước ta viết trên máy vi tính. Khi Việt Nam vừa có internet thì Nhật Tuấn đã sử dụng email và đi đâu cũng tuyên truyền về tiện ích vô tận của thông tin kết nối toàn cầu. Gặp đồng nghiệp ú ớ, Nhật Tuấn sẵn sàng chỉ dẫn cặn kẽ trang web nào bổ ích và làm sao vượt tường lửa hiệu quả!

Đối với bạn bè, Nhật Tuấn hào sảng và rộng rãi. Dù Nhật Tuấn quen biết nhiều đại gia, được mách kế buôn đất hay buôn xe, nhưng ông từ chối hết, chỉ sống bằng ngòi bút. Và Nhật Tuấn sẵn sàng chia sẻ cách kiếm tiền cho người khác. Bất cứ lứa tuổi nào, Nhật Tuấn đều trân trọng và suồng sã xưng “tao” gọi “mày”. Xin được kể câu chuyện nhỏ của người viết bài này.

     Năm 1996, khi tôi chập chững vào Sài Gòn làm sinh viên khoa báo chí, Nhật Tuấn hẹn tôi đến chi nhánh NXB Văn Học – nơi ông đang làm giám đốc, để “tao bày cho mày viết ra tiền, đỡ nhọc nhằn bố mẹ ở quê”. Tôi có mặt lúc hơn 8 giờ, nhân viên bảo sếp Nhật Tuấn mới phóng xe đi đâu đấy. Tôi đợi một lát, thấy Nhật Tuấn mồ hôi nhễ nhại chạy xe về. Nhật Tuấn cười khì khì: “Xin lỗi mày. Mới sáng sớm thằng bạn tao kêu qua nhà sửa dùm cái máy lạnh. Cái thằng ấy suốt ngày làm thơ mà lú lẫn, cái dàn lạnh bị đóng tuyết cũng không biết. Tao xử lý vèo phát, xong ngay!”.

    Nói rồi, Nhật Tuấn kéo tôi vào phòng riêng của ông. Nhật Tuấn hỏi: “Mày ăn sáng chưa?”. Tôi trả lời, rồi. Nhật Tuấn bảo: “Để tao ăn sáng đã!”. Nhật Tuấn lật lung đống sách báo vứt bừa bãi dưới đất, như tìm báu vật gì đó, hồi lâu vớ được một gói mì và reo lên: “Đây, tao nhớ là còn lương thực mà!”. Nhật Tuấn không cần chế nước sôi, cứ bẻ từng miếng mì cho vào miệng rồi uống nước trà.

     Ấm bụng, Nhật Tuấn thuyết trình: “Muốn viết văn chương đỉnh cao thế nào, cũng phải mưu sinh cái đã. Đừng để khổ lụy đói rách và cũng không xin xỏ người khác. Đây là cuốn tao mới viết!”. Nhật Tuấn đẩy về phía tôi một cuốn truyện vụ án có tên gọi “Oan án lúc hừng đông”, ký bút danh “Hạnh Hoa”.
    Tôi tò mò: “Anh đang mê cô nào tên Hạnh Hoa à?”. Nhật Tuấn xua tay: “Không, rượu Hạnh Hoa! Hạnh Hoa trong câu thơ của Đỗ Mục: “Mục đồng trỏ lối Hạnh Hoa thôn”. Tao viết thêm để kiếm rượu uống mà! Còn mày bây giờ phải viết để kiếm cơm ăn. Mày về viết chuyện tình lăng nhăng gì đó cũng được, ký tên Kiều Diễm hay Thị Mơ hoặc Thị Mộng gì cũng được. Đem lên đây, tao kêu đầu nậu in cho. Mỗi cuốn trả một chỉ vàng!”.

     Nhật Tuấn mất rồi, nhớ lại ân tình 20 năm trước mà rưng rưng xúc động!

                                                      Sài Gòn, 7-10-2015
      

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đi Về Nơi Hoang Dã có giá trị gì ?


Nhận định của nhà văn Trần Đức Tiến: “Văn xuôi Nhật Tuấn là thứ văn xuôi đậm chất "đàn ông", mạnh mẽ, trần trụi và tốc độ. Từ đầu tới cuối cuốn sách “Đi về nơi hoang dã” ngót ba trăm trang, luôn giữ vững một nhịp điệu gấp gáp, lôi cuốn. Phong phú chi tiết gây ấn tượng mà không cường điệu. Ngôn ngữ, hành động thô thiển, tục tĩu của các nhân vật hoà hợp thật tự nhiên với bối cảnh khắc nghiệt của câu chuyện. Hiếm hoi mới bắt gặp một trang sách mềm mại (về tình yêu, kỷ niệm...), nhưng những chỗ tác giả chủ động "giảm ga" ấy chỉ chứng tỏ sự vững vàng trong cách viết của mình. Theo tôi, đây là một thành công, một đóng góp rất đáng kể của Nhật Tuấn. Một “điểm son” không có nhiều trong văn học của chúng ta lâu nay”.


               

CÓ ĐÍCH KHÔNG?

( Đọc “Đi về nơi hoang dã” của Nhật Tuấn)

         TRẦN ĐỨC TIẾN

Nhân vật: ông toán trưởng, thằng hộ pháp, thằng học giả, thằng cấp dưỡng và tôi. Câu chuyện: khảo sát, mở tuyến giao thông giữa vùng núi cao rừng rậm. Cả 5 tên đàn ông hùng hục phát cây, dọn đá tiến về phía trước, theo sự chỉ đường dẫn lối qua máy vô tuyến điện của một cấp trên nào đó không bao giờ thấy mặt ngồi tít dưới đồng bằng. Đói khát luôn hành hạ - đói ăn, đói tình. Công việc cực nhọc, nguy hiểm. Đã thế còn hoang mang mất phương hướng. Những cơn mơ vật vã trộn lẫn với thực tại toát mồ hôi: mơ được ăn no, được làm tình, mơ có túi tiền đầy, mơ tình yêu trong sáng thánh thiện, và tất nhiên cơn mơ nặng nề dai dẳng nhất là mơ đến đích. Ở đây là cái đích chung của cả bọn - đỉnh Hua Ca xa lắc chìm khuất trong mây. Không đến được cái đích ấy thì đừng nói gì đến chuyện những cơn mơ kia hoá thành hiện thực.Và bên cạnh cái đích chung ấy là đích riêng của từng người - thành tích dâng lên cấp trên của ông toán trưởng; trèo lên đầu đồng đội bằng mọi giá để xây dựng "sự nghiệp hiển hách" của thằng học giả; cuộc chung sống hạnh phúc với ả đàn bà ngoại tình của thằng hộ pháp; căn nhà xây cho mẹ của thằng cấp dưỡng; và mối tình đẹp với nàng Sao của thằng “tôi”. Tất cả nối nhau diễn ra theo từng ngày, theo từng mét chiều dài của tuyến đường. Chen vào đó là những sự cố nho nhỏ: hết gạo, lạc rừng, bệnh tật, rắn độc cắn, chửi bới ẩu đả lẫn nhau... Thỉnh thoảng sống lại đôi ba mẩu hồi ức như những chớp sáng soi rõ hơn những khoảnh khắc thực tại. Sự ngây thơ ngu dại của thằng học giả đẩy bố đẻ đến chỗ chết. Cuộc tình vụng trộm ngậm ngùi đau xót của ông toán trưởng. Những cơn yêu đương cuồng nhiệt của thằng hộ pháp với cô vợ ông xã đội...

Nói tóm lại, tiểu thuyết "Đi về nơi hoang dã" của Nhật Tuấn là câu chuyện khó có thể kể lại một cách mạch lạc. Những tình tiết đan cài rậm rạp, ngổn ngang, đầy vẻ hoang dã như cánh rừng có 5 tên đàn ông kia đang tìm cách xuyên qua. Chỉ có cách duy nhất là bước theo chân họ qua từng dòng chữ.       
    
Lại nói về những cái đích. Trước hết là đích riêng của từng nhân vật. Kết quả: ông toán trưởng nằm lại dọc đường và chết thê thảm. Thằng hộ pháp vỡ mộng vì người tình không thể bỏ nhà trốn theo hắn. Thằng cấp dưỡng hoá rồ vì mất gói tiền. Thằng “tôi” ngơ ngác trước dòng nước đục ngầu bẩn thỉu trên đỉnh Hua Ca, trong lúc thằng học giả cố tự dối mình, vui niềm vui đến đích một cách gượng gạo...     
          
Họ đã lầm đường lạc lối chăng? Không ít người đọc cho rằng họ đã chọn sai đường. Muốn đến được đỉnh Hua Ca có dòng suối thần, lẽ ra họ phải đi theo con đường khác… Ôi thôi! Hiểu như thế là tầm thường hóa cuốn tiểu thuyết, tầm thường hóa Nhật Tuấn. Thực ra thì cuộc đời chả có cái đích quái nào cả! Đỉnh Hua Ca cũng như những cái đích khác chỉ có ở trong đầu những kẻ… thích đến đích, nhiều khi là cố sống cố chết nhoài đến bằng mọi giá. Đến đích rồi lại thấy đích vô nghĩa. Bấy giờ mới bừng tỉnh: hạnh phúc chính là lúc ta đang đi trên đường. Không biết tận hưởng thứ hạnh phúc đó thì phí hoài biết bao nhiêu! Và giống như trong một trận bóng đá, bỏ qua nhiều cơ hội làm bàn, tất sẽ đến lúc bị thủng lưới!

  Văn xuôi Nhật Tuấn là thứ văn xuôi đậm chất "đàn ông", mạnh mẽ, trần trụi và tốc độ. Từ đầu tới cuối cuốn sách ngót ba trăm trang, luôn giữ vững một nhịp điệu gấp gáp, lôi cuốn. Phong phú chi tiết gây ấn tượng mà không cường điệu. Ngôn ngữ, hành động thô thiển, tục tĩu của các nhân vật hoà hợp thật tự nhiên với bối cảnh khắc nghiệt của câu chuyện. Hiếm hoi mới bắt gặp một trang sách mềm mại (về tình yêu, kỷ niệm...), nhưng những chỗ tác giả chủ động "giảm ga" ấy chỉ chứng tỏ sự vững vàng trong cách viết của mình. Theo tôi, đây là một thành công, một đóng góp rất đáng kể của Nhật Tuấn. Một “điểm son” không có nhiều trong văn học của chúng ta lâu nay.     
          
Tác phẩm hay giống như một sinh thể, một con cá còn tươi nguẩy mà nhà văn thả xuống hồ. Mỗi người nhận ra ở con cá ấy một vẻ đẹp khác nhau. Tôi là người ưa sự thật thà, giản dị. Tôi không suy diễn nhiều lắm về ý nghĩa của cuốn sách. Con cá là con cá. Tôi không hoa mắt nhìn cá hóa rồng. Đọc “Đi về nơi hoang dã” của Nhật Tuấn mà rùng mình ớn lạnh nghĩ sang chuyện chính trị chính em, hay kinh dịch kinh diếc… thì tôi chịu. Kính các bác!


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Dễ hiểu láo lắm!

ĐMHCM là gì ?


*ĐMHCM là gì ?* *Ôi viết tắt, không làm sao có thể hiểu được !!!* Nguyen Quoc Hwng Minh Chechen

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Độc nhất vô nhị trên thế giới



BÁ TÂN
      Hà Nội đang rầm rộ kỷ niệm lần thứ 61 ngày giải phóng thủ đô.
      Băng rôn tràn ngập. Nhà nào cũng  treo cờ, việc này tự nguyện theo kiểu phụ huynh nạp nhiều khoản tiền ngoài quy định đầu năm học.
      Một bộ phận không nhỏ trong giới trẻ thủ đô không mấy quan tâm ngày 10 tháng 10. Ngày thủ đô giải phóng, cách đây 61 năm, nóng hổi sao bằng hiện thời Hà Nội còn nhiều việc cần được giải phóng.
      Hà Nội là thủ đô để lại những kỳ tích hiếm có trên thế giới. Đường uống nước sạch phục vụ dân thủ đô vỡ đi vỡ lại hàng chục lần, tháng trước vỡ tháng sau lại vỡ tiếp.
      Cây xanh đang tươi tốt, trở thành cổ thụ gắn liền đời sống người dân, tự dưng vô cớ đốn chặt hàng loạt.
      Đề xuất bắn pháo hoa để giúp dân quên nghèo, quên khổ. Đúng là văn hóa Tràng An có khác.
      Kể sao hết các kỳ tích để lại tai tiếng không thể xóa nhòa.
      Đặc biệt nhất, cái đem lại cho Hà Nội đoạt giải độc nhất vô nhị trong các thủ đô trên thế giới, đó là cái đài phường.

      Đường đường là một thủ đô, dư thừa các phương tiện thông tin nhưng đài phường ở Hà Nội không những tồn tại mà còn phát triển mạnh.
      Đài phường len lỏi vào tận các ngõ, các ngách. Sáng và chiều phát thanh ra rả.
      Người dân thủ đô bội thực thông tin. Mặc kệ dân. Đã thừa lại cho thừa thêm. Không muốn nghe cũng bắt nghe. Nhồi nhét triền miên thế nào chả có tác dụng.
      Thế giới hiện thời là thế giới phẳng về mặt thông tin, ngoại trừ Hà Nội, đố tìm ra thủ đô thứ 2 trên địa cầu này sử dụng đài phường. Hà Nội là độc nhất.
      Liên hiệp quốc hoặc tổ chức văn hóa của thế giới nên dành cho Hà Nội một cái gì đó tương xứng với cái độc nhất đến nay còn sót lại ở thủ đô của Việt Nam.
      Bộ thông tin truyền thông vừa thông qua đề án quy hoạch báo chí. Một số tờ báo trở thành thương hiệu lớn, thu hút đông đảo bạn đọc, sẽ bị xóa sổ nếu cái quy hoạch ấy được thực hiện. Xóa sổ những tờ báo như thế khác nào Hà Nội đốn chặt những cây xanh vạm vỡ đầy sức sống.
      Đài phường không phải cơ quan báo chí. Tuy nhiên vì cái đài phường mà báo chí bị bôi nhọ.
      Mở mắt ra là thấy. Đừng bịt tai sẽ nghe. Thế mà bộ thông tin truyền thông không một lời nói đến cái nạn đài phường, là thứ phế liệu nhưng Hà Nội vẫn xếp nó vào phương tiện thông tin.
      Hà Nội nên tăng số lượng đài phường xung quanh các cơ quan bộ thông tin truyền thông. Hà Nội nên ưu tiên đặt đài phường sát những căn hộ quan chức bộ thông tin truyền thông cư trú.
      Để họ biết thế nào là nạn đài phường.
Bá Tân

Phần nhận xét hiển thị trên trang