Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2015

Mực Tàu bao giờ cũng đen!

Trong lịch sử, người Pháp đã đánh giá người Trung Hoa như thế nào?

Lời giới thiệuĐây là một tư liệu được trích từ cuốn “Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới”. Quyển 1 tập 1. NXB Đà Nẵng – 2001. Cuốn sách này, như tên gọi của nó mục đích không phải giới thiệu những tư liệu của người Pháp nói về người Trung Hoa, mà nói về cụ Phan Châu Trinh. 

 Tuy nhiên, lí do mà chúng tôi (tức Nông dân ra phố) giới thiệu là trong một tư liệu cụ thể này, đã thể hiện rất rõ cách nhìn nhận và đánh giá của một Viện sĩ người Pháp đối với người Trung Hoa trong mối quan hệ với người An Nam cũng như Đông Dương. Hơn nữa, cũng phần nào hiểu thêm về con người Hoàng Cao Khải trong những nội dung trình bày của nhân vật còn nhiều ý kiến đánh giá này.

Trong tình hình ở Biển Đông, nước Trung Quốc hiện tại đang có những hành động gây hấn, âm mưu xâm lược biển đảo, xâm phạm vùng biển tài nguyên của Việt Nam; ở trong đất liền thì những công dân Trung Quốc liên tiếp có những hoạt động và hành động có tính gian dối, thủ đoạn, lũng đoạn thị trường như buôn bán nông sản với bà con nông dân với các chiêu ghìm giá, đẩy giá rồi chạy làng; rồi tại các phòng khám đa khoa Trung Quốc tại VN cũng có liên tiếp các vụ chết người, bác sĩ người Trung Quốc bỏ chạy,… khiến chúng ta không thể không nghĩ kĩ hơn về người Trung Hoa hiện tại cũng như trong lịch sử trong mối quan hệ với Việt Nam ta. 

Từ thực tế đó, đọc lại những gì mà viện sĩ De Brieux  viết trong cuốn Thăm Ấn Độ và Đông Dương mà chúng  tôi giới thiệu dưới đây thì thấy cái BẢN CHẤT CỐ HỮU của người Trung Quốc từ 1909 đến nay vẫn có những nét không thay đổi. Hành động, động cơ, âm mưu của họ trong một số lĩnh vực dù trong 1909 hay trong 2012 vẫn có nét tương đồng về bản chất, chỉ có khác về hiện tượng. 
Điều đó cho thấy, cảnh giác với người Trung Hoa trong bảo vệ tài nguyên, lãnh thổ,(cả về văn hóa nữa) là không thừa và cần kíp khẩn trương hơn bao giờ hết. 

Tôn trọng các tư liệu lịch sử và không quên những khó khăn của đất nước trong hoàn cảnh hiện tại, chúng tôi xin được trích lại nguyên văn đoạn trích Thăm Ấn Độ và Đông Dương của Viện sĩ De Brieux  in trong cuốn sách trên.

 Nông dân ra phố xin trân trọng giới thiệu: 



Tài liệu 26
Lưu  CAOM –A947

VIỆN SĨ DE BRIEUX VIẾT VỀ CUỘC GẶP HOÀNG CAO KHẢI

(Trích “ Thăm Ấn Độ và Đông Dương”)

…”Ông Jules Roux quan ba bộ binh đã dịch và tôi đã có được một văn kiện của ông phó vương. Ông là thành viên của Hội đồng cao cấp Đông Dương có Huy chương Bắc đẩu Bội tinh.
Ông Phó vương trước tiên đặt nguyên tắc là hiện nay các dân tộc ở vào địa vị thấp kém hơn bắt buộc phải dựa vào những nước thuân lợi hơn. Ví dụ như nước Pháp ngày xưa đã bị La Mã đô hộ 400 năm nhờ đó mà văn minh lên… Và ông nói tiếp:

“Nước chúng tôi có sai lầm là không sớm mở cửa buôn bán với các vị ngay từ thời của Louis XIV có yêu cầu. Và năm 1858 đã chống nhưng không chống nổi để mất Nam Kỳ, năm 1884 đã chống đi đến phải chịu bảo hộ.

Đất nước đã sai lầm để cho cả dân tộc phải gánh chịu. Nhưng Pháp khong đến chiếm thì chắc chắn sẽ có cường quốc khác chiếm thôi”

Sau khi kể qua quá trình thiết lập chế độ cai trị, ông kể qua những ơn nghĩa của nước Pháp:
“Nhìn chung có nhiều việc lớn và có ích: như xây dựng các thành phố Saigon, Tourance, Hải Phòng… ngày xưa chỉ là những vũng lầy và cát trắng, bây giờ thành những thành phố lớn có tàu thuyền các nước đến buôn bán. Đó là những công trình vĩ đại.

Đường sá ngày xưa rất kém, đi chủ yếu là đi bộ và chir có đường quốc lộ. Đường thủy thì trước chỉ có thuyền bè, bây giờ có đủ tàu xuồng máy đi trên sông và biển, cả tàu vượt đại dương. Lại có đường sắt, có tàu điện. Ở trên bộ, dưới nước đều có phương tiện đi lại.

Ngày xưa con cái chúng tôi khi có dịch đậu mùa thì chết hàng loạt, dân ốm đau không có nhà thương chữa trị, bây giờ có chủng đậu thường kỳ. Các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng v.v… đều có nhà thương, người bệnh không có tiền cũng được đến chữa trị không mất tiền.

Chính phủ Bảo hộ đã lập ra một trường Y cho người An nam. Trong tương lai sẽ có nhiều người An nam làm nghề chữa trị cho người An nam, sẽ giảm bớt ốm đau, tăng thêm dân số.

Ngày sưa sản vật làm ra khó tiêu thụ và phải bán rẻ.

Bây giờ đường sá thông thương, có thể bán ra cả nước ngoài như lúa gạo, Nam Kỳ xuất 732.000 tấn/năm; Bắc Kỳ xuất 114.000 tấn/năm. Và còn nhiều nông sản, sản phẩm công nghiệp khác. Ngày càng tăng tiến trong sản xuất và buôn bán.

Không cần nói, ai cũng thấy nhờ Chính phủ Bảo hộ dân được một số lợi ích…”.

“Nhưng tuy vậy, do cách cai trị chưa tốt mà cho đến nay, Chính phủ Bảo hộ không chiếm được trái tim của mọi người.

Chúng tôi thấy có 3 nguyên nhân:
  1. Thuế má quá nặng
  2. Chọn lựa quan lại Nam không đủ tiêu chuẩn bảo đảm, nhiều người không xứng đáng với chức vụ của họ.
  3. Cố gắng của chính phủ trong mở mang trường học cho dân còn kém.

Tôi thấy dân Nam cần nhìn và dựa vào nước Pháp vì: 
Trong 5 năm qua, sau khi thấy Nhật thắng Nga, người ta có tư tưởng một dân tộc nhỏ có thể thắng một cường quốc to. Từ đó mà có những hội, những đảng hoạt động trong nước, đồng thời có những hội, những đảng hoạt động ngoài nước…

Nhưng có thể khẳng định là nếu dùng bạo loạn, nước Pháp sẽ thắng, kết quả sẽ không đến đâu cả.

Vấn đề cuối cùng nóng bỏng nhất là: Chúng tôi tự hỏi, một ngày kia có thể độc lập được không?

Đã có 2 cơ hội mà đã bị bỏ qua đi rồi…

Bây giờ có cơ hội thứ 3 không biết có hi vọng được không? Đó là vấn đề dựa hẳn vào nước Pháp để cải tạo nền giáo dục của mình và tiến bộ lên.

Nếu làm được như vậy, thì nhờ sự tiến bộ của mình, chúng tôi nghĩ là nước Pháp trước tiên sẽ cho chúng tôi quyền tự trị, chỉ giữ lại quyền đại diện chúng tôi ở bên ngoài với các nước mà thôi…

Chúng tôi sẽ được như Canada và Úc vậy…”

Ông De Brieux bình luận và kết luận:

“Tôi cho là tham vọng đó hoàn toàn chính đáng, đáng khen và cao thượng. Chúng ta phải yên trí là từ nay chính phủ Pháp sẽ trả lại quyền tự trị cho họ. Để họ tự cai quản một cách hoàn toàn độc lập.

Chúng ta không thể thờ ơ trước một sự biểu thị đẹp đẽ như vậy về lòng tin cậy. Chúng ta không thể đánh lừa hi vọng đó…

Vai trò mà vị Phó vương yêu cầu ta làm là hoàn toàn hợp với truyền thống, với tinh thần đại lượng và nghĩa vụ chúng ta trước nhân loại.

Hiểu như vậy thì công cuộc chiếm thuộc địa không còn mang tính chất hành động kẻ cướp nữa.

Nếu sức mạnh và sự cao đẳng cho phép một nước có quyền can thiệp bằng vũ lực vào số mệnh của một dân tộc khác  thì quyền đó sẽ đưa lại những nghĩa vụ không thể trốn tránh được để đáp lại. Nghĩa vụ đó là làm cho dân tộc bị trị những điều kiện sớm nhất để xứng đáng được độc lập.

Một hành động chính trị cao đẹp nhất là nói với người An nam”

“Chúng ta không phải là chủ mà là kẻ đỡ đầu của các người. Khi các người đủ mạnh về tinh thần để khỏi cần sự đỡ đầu đó, đủ mạnh để không trở thành miếng mồi, đủ giàu để không thể mất mặt với thiên hạ, thì chúng ta trả lại quyền cho các người, chúng ta không cầm tay dắt đi nữa mà, như người cha thấy con đủ sức đương đầu với cuộc sống, sẽ để cho con tự mình cai quản lấy mình, để cho con mình tự đi trên con đường mà chúng ta đã chỉ lối cho. Và chúng ta sẽ nhìn theo như cha nhìn con, anh nhìn em, tự hào về các người…

Chính do các người ự quyết định lấy ngày giải thoát. Nền tự do đã ở đó, các người phải giành lấy. Đây là trường học. Đó là những vũ khí cần thiết hiện nay. Hãy cầm lấy. Chúng ta mang đến cho các người và bày cho cách sử dụng. Đừng ham độc lập quá sớm. Nếu hôm nay thoát ngay khỏi sự giúp đỡ của chúng ta, các người sẽ rơi vào tay những tên chủ không đại lượng bằng. Hãy tin chúng ta và làm việc đi. Sẽ là một ngày vinh quang cho các người mà chúng ta có thể  thôi không coi các người là con trẻ mà là những người em…”

…Phải nghĩ và làm quen với ý nghĩ là dù chúng ta có làm gì đi nữa cũng không thể mãi mãi giữ Đông Dương được.

Nếu chúng ta không trả cho người An nam thì có kẻ sẽ giành lấy.

Và kẻ đó chính là nước Trung Hoa.

Và ngày mà ở châu Âu chúng ta phải đương đầu với một cường quốc thì ngày đó người Trung Hoa sẽ nhẹ nhàng chiếm Đông Dương như người Ý năm 1870 đã chiếm lấy đất đai của Gíao hoàng. Nếu người Sài Gòn muốn chống lại thì với 100 nghìn người Trung Hoa ở chợ Lớn họ không cần súng ống cũng trị được. Ở đâu trên đất Đông Dương cũng vậy, cứ 1 người Pháp thì đã có 20 người Trung Hoa.

Và ngay người An nam, nếu ta không cảm hóa họ, cũng sẽ đưa tay ra đón những người Tàu mà họ gọi là “các chú”chưa quên những người đó đã là chủ cũ của nước này.

Nhưng Trung Quốc có cần xâm chiếm không? Đông Dương đã là của họ rồi. Chúng ta là chủ danh nghĩa, họ là chủ thật sự. Chúng ta đưa lính đến, họ đưa con buôn đến. Chúng ta mơ có thuộc địa để đến làm giàu, nhưng chính họ thực hiện giấc mơ đó. Chúng ta cai trị thuộc địa, họ khai thác nó.

Ta coi người nông dân An nam là xa lạ, họ quen biết, họ nói cùng tiếng nói, họ dùng tiền mua thốc lúa non, lúa già, mua trả sòng phẳng. Họ biết tính để cho người nông dân đủ sống để cày cuốc làm ra thóc gạo.

Thương nghiệp nằm trong tay họ. Họ tuồn thóc gạo cả xứ theo các kênh rạch về các hãng xay xát ở chợ Lớn và, bán gạo xong họ nhét tiền đầy túi, trở về xứ sở nằm nghỉ.

Sức mua bán của dân tộc này thật kỳ quặc. Trong một làng nghèo đói không mua bán gì, có một người Tàu đến, nhân làm  thuê vất vả… Chỉ 2 năm sau, y có một cửa hàng nhỏ, cả làng đều vay mượn y. Và những người Tàu khác sẽ đến theo.

Sự đoàn kết của họ ngoài sức tưởng tượng: trong cửa hàng, đến giờ ăn họ xúm lại quanh bàn, ở trần như nhau, không phân biệt chủ và người làm. Ăn xong là làm việc, kỷ luật ra trò. Họ biết chia nhau quyền lợi, không tranh chấp, đoàn kết chặt chẽ. Ví dụ ở Rangoom họ quyết định không để cho ngời Tàu kéo xe, thế là không có người Tàu kéo xe. Thợ Tàu đến được dùng vào làm việc khác.

Họ không sợ khổ, không sợ chết. Họ chèo thuyền ra đánh cá trong lúc sóng to gió lớn…
Họ bất chấp toán học và vẫn tính toán đâu vào đấy. Họ thông minh và rất nhạy cảm với cái mới. Cái gì họ không mời nước ngoài đến làm là họ tính để tự làm. Quân lính họ sử dụng vũ khí thành thạo, hành quân cả sư đoàn…

Làm sao ta có thể bảo vệ Bắc Kì khi họ cảm thấy bị chật chội hay buôn bán khó khăn và đưa một quân đoàn vượt qua Lạng Sơn? Suốt dọc biên giới chúng ta không có hành lũy pháo đài nào để chống trả cả.

Với biển người của họ, ta làm sao chống được bằng máy tiểu đoàn? Nếu có thủy quân họ sẽ vào thẳng Nam kỳ, qua Cap Saint Jacques có khó hơn chút ít thôi. Chúng ta không có phòng thủ gì hết trên sông Sài Gòn…

Trong khi tính toán tất cả các vấn đề đó, chúng ta phải cố gắng đặt dấu ấn trên người An nam, càng sâu càng tốt để sẽ còn một cái gì đó của trí tuệ chúng ta tiếp tục được duy trì…”

(Theo: Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Kim): Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới. Quyển 1 tập 1. NXB Đà Nẵng – 2001. Từ trang 139 đến 145.)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Malaysia âm thầm cùng Mỹ chống Trung Quốc bành trướng Biển Đông


Doc bao - Tạp chí Nikkei Asian Review ngày 9/9 bình luận, sự vênh váo của Trung Quốc đã thúc đẩy Đông Nam Á gần gũi hơn với Hoa Kỳ. Sự hiếu chiến của Bắc Kinh ở Biển Đông nơi họ nhảy vào tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng Đông Nam Á đã khuấy lên sự bất bình trong khu vực, đẩy nhiều quốc gia về phía Mỹ, Malaysia là một ví dụ.

Kula Lumpur có truyền thống tránh mối liên hệ với Washington, nhưng trong những năm gần đây dư luận đã chứng kiến sự gia tăng đều đặn trong hoạt động hợp tác quân sự giữa 2 nước. Một trong những diễn biến mới đáng chú ý nhất là việc máy bay giám sát hàng hải P-8 của hải quân Hoa Kỳ đã hạ cánh và tiếp nhiên liệu tại các căn cứ quân sự của Malaysia dọc theo Biển Đông.

Malaysia đã bắt đầu lặng lẽ cho phép quân đội Mỹ sử dụng 2 trong số các căn cứ của mình ở ven Biển Đông kể từ nửa cuối năm ngoái, các quan chức ASEAN tiết lộ. Theo thỏa thuận này, máy bay P-8 của Mỹ được tiếp nhiên liệu từ căn cứ của Malaysia, đổi lại Hoa Kỳ phải chia sẻ các thông tin tình báo mà họ trinh sát, do thám được cho Kuala Lumpur.



"Hợp tác giữa Malaysia với quân đội Mỹ chưa được công bố, nhưng tất nhiên Trung Quốc phải nhận thấy điều này. Kuala Lumpur biết rõ rằng việc giúp Mỹ có thể gây ra một phản ứng dữ dội từ phía Trung Quốc", nguồn tin ngoại giao ASEAN nói với Nikkei Asian Review.

Trước đây Malaysia đã bỏ nhiều công sức theo đuổi "giai điệu hòa hoãn" với Trung Quốc, ngay cả khi tranh chấp lãnh thổ. Thái độ này trái ngược hẳn với Philippines và Việt Nam, hai thành viên ASEAN phản ứng mạnh mẽ trước hoạt động bành trướng của Trung Quốc.

Kuala Lumpur đã từng tin rằng vấn đề Biển Đông có thể được kiểm soát tốt hơn thông qua các hoạt động đàm phán âm thầm phía sau hậu trường. Nhưng khi Bắc Kinh tăng cường các hoạt động bành trướng trên Biển Đông, chuông báo động đã rung lên ở Kuala Lumpur.

Từ năm 2008 đến 2012, tàu Trung Quốc đã xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa mà Malaysia yêu sách tổng cộng 35 lần. Trong năm 2013 hải quân Trung Quốc tập trận ngay ngoài khơi bờ biển Malaysia. Đầu 2014 Bắc Kinh tái diễn một hoạt động quân sự tương tự.

Tháng 6 năm nay căng thẳng đã leo thang khi một chiếc tàu Cảnh sát biển Trung Quốc được nhìn thấy lượn lờ bên trong vùng nước ven biển gần bờ Malaysia dẫn đến một cuộc chạm trán trực tiếp với một tàu hải quân Malaysia được cử đến để theo dõi.

Để kiềm chế sự hung hãn ngày càng tăng này, chính phủ Malaysia đã bắt đầu cho phép hải quân Mỹ tiếp cận nhiều hơn các cảng của họ. Năm 2003 tàu hải quân Mỹ chỉ được phép cập cảng Malaysia 6 lần. Con số này tăng lên gấp 4 đến 5 lần kể từ năm 2012.

Ngoài ra để hỗ trợ các hoạt động quân sự của Mỹ trong khu vực, Malaysia cũng đã quyết định thành lập một căn cứ hải quân trên bờ Biển Đông và xây dựng một lực lượng thủy quân lục chiến.

"Bây giờ có rất nhiều người trong chính phủ Malaysia nghi ngờ về cách tiếp cận mềm hiện tại. Đồng thời rất ít người có thể đưa ra một lựa chọn tốt. Tôi mong rằng Malaysia sẽ làm nhiều hơn những điều thầm lặng với Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ", Shahriman Lockman, một nhà phân tích cấp cao tại Viện Chiến lược và nghiên cứu quốc tế Malaysia cho biết.

Giaoduc.net.vn

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mới chỉ là màn đầu của "Tai nạn khí hậu" thui đồng chí Nhơn ợ!


NHỮNG ĐẠO DIỄN THIÊN TÀI, HÃY MAU XUẤT HIỆN ...
Sau hai bộ phim “Phải sống” và “Không thiếu một em nào”, Trương Nghệ Mưu tiếp tục đề tài về số phận những con người lầm lũi bằng bộ phim “Đường về nhà” ( nguyên tác “Ngã đích phụ thân mẫu thân”). Đó là năm 1999, “Đường về nhà” đã lăng-xê một minh tinh mới: Chương Tử Di.
Trong “Đường về nhà”, nhân vật nữ chính do Chương Tử Di đóng, vì si mê một nhà giáo vùng sâu mà đưa cơm đến cho chàng. Trên tay cầm bát cơm, nàng chạy bộ qua cánh đồng hoa dại, nàng ngã dúi trên lối mòn quanh co, nàng ngất xỉu trong tuyết… để theo đuổi tình yêu cháy bỏng. Nhiều nhà phê bình đã bảo rằng: thậm xưng quá! Trương Nghệ Mưu trả lời: “Tôi còn muốn cho nhân vật nữ bơi qua nước lũ, nhưng không có điều kiện dàn dựng bối cảnh!”.
Thật tiếc nuối cho một ý đồ nghệ thuật của Trương Nghệ Mưu!
Thì đây, Sài Gòn chỉ cần một trận mưa đã ngập bốn bề. Các nhà làm phim Việt Nam đâu cần dàn dựng bối cảnh. Tuyệt vời, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, chúng ta đã có một phim trường hoành tráng để nhân vật bơi qua nước lũ.
Những đạo diễn thiên tài thuộc dòng dõi con Rồng cháu Tiên, hãy mau xuất hiện mà làm bộ phim có giá trị gấp mấy lần “Đường về nhà” đi nào.
Phen này, Trương Nghệ Mưu sắp bị bẽ mặt rồi! Phen này “Ngã đích phụ thân mẫu thân” made in Vietnam sẽ ăn đứt danh phẩm của Trung Quốc!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

HỖN LOẠN BÊN NGOÀI, TẺ NHẠT BÊN TRONG


Yên Ba: Có lần ở đâu đó, anh đã nói về sự tẻ nhạt trong đời sống văn học. Vậy theo anh, cho đến bây giờ, cái sự tẻ nhạt ấy có còn không và tại sao?
Vương Trí Nhàn: Theo tôi, chúng ta đang sống trong cái-thời-văn-học mà có khi  hàng năm trôi qua cũng không thấy có gì thay đổi lắm, không có sự kiện gì đáng kể.
Thỉnh thoảng tôi vẫn  mang một số bài cũ của mình in lại, bởi tin rằng nhận xét của mình về tình hình chung vẫn  đúng. 
 Cái cảm giác về sự tẻ nhạt vẫn còn, nó là cái có thực và chưa biết bao giờ mới gạt bỏ được.Tôi nghĩ rằng cái đáng lo của đời sống sáng tác nói chung và phê bình nói riêng, là nó cứ đều đều, làng nhàng; giở một tờ báo ra, đọc vài dòng thấy chán, lại bỏ xuống. Lâu lâu, có ai bảo báo đó có một hai bài đọc được, lại mới  đi tìm. Lại chán , lại bỏ, vòng quay tiếp tục.  
Đọc lại báo chí cũ, khoảng 50 năm đầu của thế kỷ trước, thấy người đương thời làm được nhiều lắm.  Cũng giống như tôi nghe nói, trước 75 Sài Gòn đã  hơn Thái Lan, còn bây giờ thì chưa biết bao giờ ta có thể đuổi kịp cái đất nước láng giềng gần gũi ấy.
Văn chương cũng thế, trong vòng 5-10 năm, kiểm điểm lại, thấy chúng ta không làm được cái gì cho đáng kể. Có lần, chính các anh ở Hội nhà văn cũng nói đại ý: văn chương ta  hiện đang ở tình trạng có nền không có đỉnh, không có những tác phẩm đủ sức gây bất ngờ, không có cái gì xuất hiện như một hiện tượng kỳ lạ để có thể làm cho mọi người phải đi tìm
Trong giới với nhau ai sống thế nào đã biết, nên ai sắp viết ra cái gì đại khái ra sao cũng đã biết được rồi. 
Người doạ điên thì có, người điên thật thì không, nói chung  toàn những người tỉnh như sáo và hết sức thực dụng  thì làm sao có cái gì mới mẻ, táo bạo cho được.  
Tức ý anh muốn nói sự tẻ nhạt là một đặc điểm chi phối  cả một giai đoạn ?
 Tôi đang định nói thế. Lịch sử văn học có những lúc rất lạ. Như hồi Thơ mới, báo Ngày nay những năm 38-39 mỗi số chỉ đăng có 3 - 4 bài thơ ( nhiều nhất  là của Xuân Diệu Huy Cận) nhưng toàn những bài có giá trị sau này người ta còn đọc mãi. 
Hoặc Tiểu thuyết thứ bảy mấy năm 40-42 có thời gian  các số liên tiếp in truyện ngắn của Nam Cao mà toàn truyện bây giờ người ta in đi in lại, đọc đi đọc lại.
 Trong khi đó An Nam tạp chí  trước và sau 1930 (hoặc Nam Phong cũng thế), số báo nào cũng đăng hàng vài  chục bài thơ, mà trừ thơ Tản Đà, không bài nào bây giờ được ghi nhận.
Tôi có cảm tưởng thời nay cũng có gì na ná  như cái thời trước 1930 ấy.  Một số người có trách nhiệm kể cả những vị gọi là chuyên gia  cho rằng các nhà xuất bản chưa chịu  gạn lọc kỹ. Tôi xin cãi lại không có cái  hay thì lấy gì mà gạn ! Làm kỹ cũng chỉ đến thế thôi ! Bảo một tác giả viết một trăm  bài thơ thì làm được ngay, nhưng bảo làm lấy một bài hay  thì chịu.

 -- Chẳng nhẽ anh không thấy là mọi người đang nỗ lực để vượt lên trên sự trì trệ đó?
  --  Có nhưng chưa đủ. Nỗ lực kém quá nên cũng bằng không. Hiện chúng ta đang thiếu những cuộc thảo luận kỹ lưỡng để bàn đến cùng về những vấn đề thiết yếu. Ví dụ để chuẩn bị cho những cuộc thi tiểu thuyết, lẽ ra  phải  có một cuộc trao đổi: Thế nào là tiểu thuyết? Trong quá khứ, tiểu thuyết đã có một tiến trình tiến hoá như thế nào ? Chỗ  khác của tiểu thuyết  phương Đông với tiểu thuyết phương Tây, chỗ khác của tiểu thuyết  thế kỷ XX với tiểu thuyết các thế kỷ trước? Và nhất là những xu hướng phát triển của tiểu thuyết  trên thế giới hiện nay. Phải có người dịch giới thiệu, rồi các nhà văn trao đổi và thảo luận, mỗi người tìm lấy cho mình một hướng đi mà mình thấy gần gũi nhất. Lý luận, không gì khác, chính là những thăm dò mở đường, là cái mũi dùi khoan vào những bí mật phía trước để gợi mở cho người viết. 

 --  Có vẻ anh muốn nói tới mối quan hệ giữa kiến thức và sự sáng tạo?Anh có thể nói rõ hơn một chút
 -- Hiện nay, trên nhiều lĩnh vực khoa học, lý luận và thực hành gần như song hành với nhau, chậm chí lý luận đi trước thực hành.
 Trong thiên văn học, có nhiều trường hợp người ta tìm thấy những ngôi sao trong phòng thí nghiệm trước, rồi sau đó dùng kính viễn vọng mới nhìn thấy trên bầu trời.
  Văn chương cũng thế. Có người như Claude Simon (giải thưởng Nobel 1985) chẳng hạn, là loại có lý thuyết trước, sau đó ông ấy mới dùng văn chương để minh hoạ cho lý thuyết của mình.
  Ở ta có tình hình ngược lại. Lý luận bị coi là xa lạ với  sáng tác và thực tế nó cũng đáng như vậy. Các nhà văn  chỉ lo viết và  viết, không tính cái định viết sẽ như thế nào, có thể có một ý nghĩa lý luận nào chăng, trong thể loại có định mở ra một con đường mới không? Thế thì làm sao có được những cách tân thực sự?
 Theo tôi quan sát, rõ ràng ở các nhà thơ lớp trước, văn hoá thơ (tức là sự hiểu biết về bản chất thơ ca, lịch sử của nó, con đường đi tới của nó) khá hơn hẳn cái hơn ở một mức vượt bậc so với các nhà thơ bây giờ. 
 Trong những năm sáu mươi ở Hà Nội, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Nguyễn Đình Thi.....đã  bỏ  nhiều công sức dịch văn học nước ngoài, mang  các thứ hương xa hoa lạ vào Việt Nam. Xuân Diệu còn viết nhiều tiểu luận  giới thiệu về các nhà thơ  thế giới. Mà những cái đó ông làm tốt hơn nhiều nhà nghiên cứu, do đó tác động đến anh em viết văn làm thơ trẻ  lúc ấy rất lớn.
  Bây giờ, sự tiếp xúc với văn học nước ngoài có thể rộng rãi hơn, nhưng không được kỹ như hồi trước, mà phần chính lại chỉ do các nhà nghiên cứu làm, nên ảnh hưởng tới  giới sáng tác là  khá hạn chế.
 Mặt khác, nay cũng là lúc nhà văn nhà thơ ít có  ai  đi vào khám phá văn học cổ như các thế hệ trước. 
  Xuân Diệu 42 tuổi đọc diễn văn trong lễ kỷ niệm Nguyễn Du năm 1958 ở Nhà hát lớn; tới 1966 Xuân Diệu cho in cả quyển sách về  Nguyễn Du và Truyện Kiều. 
  Các bạn làm thơ trẻ, cỡ khoảng 30, 40 bây giờ, khó lòng mà làm được như vậy, không phải không ai cho làm mà cái chính là có cho làm cũng không làm được. 
  Đáng lẽ phải học hỏi Xuân Diệu để rồi vượt lên ông, đi xa hơn ông,  thì lại biến ông  thành đích, thành  ngưỡng, thành cái  trần và tự coi thế là đủ. 
  Một người bạn tôi quan sát cách viết phê bình của một số nhà thơ hiện nay nói đùa: các ông toàn ngồi ngửi hơi nhau rồi viết. Lối nói có thể hơi thô lỗ nhưng nó nói đúng một sự thật, là  nhiều bạn trẻ bây giờ chỉ loanh quanh ngồi tán với nhau và tán về nhau. Đấu hót với nhau một hồi rồi viết lại. Chỉ sợ không ai biết  nên phải lo giảng cho mọi người biết là bạn mình làm thơ hay lắm! Trong khi đó gần như không bao giờ dẫn lại các tác giả cổ điển. 
 "Chiếm lĩnh" lại thơ của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương  Nguyễn Gia Thiều, Phạm Thái, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà... không phải chỉ là việc của các nhà nghiên cứu, nó còn là việc của các nhà thơ. Mà ở đâu cũng thế thôi, ở Liên xô trước đây, một trong những người viết  hay nhất về Tchekhov là nhà văn Ehrenburg, còn nhà văn Nabokov (sống ở Mỹ, tác giả Lolita) thì có cả một loạt bài giảng về các văn hào cổ điển Nga. Bởi các nhà văn thường có sự đồng cảm  riêng khi đọc văn  của nhau.
 Ở nước ta, tôi có cảm tưởng lớp nhà văn mới trưởng thành sau chiến tranh ít hiểu về sáng tác của ông cha, chính điều đó cũng góp phần  tạo nên cái sự tù túng, không phát triển.
 Thế còn tầm quan trọng của việc trao đổi và giới thiệu văn học nước ngoài.
-- Bây giờ, có thêm nhiều sách văn học phương Tây để đọc, song  thử hỏi có mấy người biết các nền văn học phương Tây đó một cách cặn kẽ theo dõi từng biến động ở đó chứ không phải chỉ đọc các bản dịch ? Tôi mạnh dạn mà nói rằng  nhiều người đọc Việt Nam cách đây 15 năm thì có thể đối thoại cùng người đọc Nga, còn người đọc bây giờ hầu như không ai có thể  làm được việc đó với tác giả và người đọc trong văn học Mỹ. Nói thế có phần chung chung, vì người đọc có nhiều loại. Tôi chỉ muốn nói trong phạm vi giới cầm bút. Cách đây 15, 20 năm, một số anh em yêu mến và “thuộc“ văn học Nga biết rõ Moskva có mấy tờ báo hay tạp chí văn học quan trọng, khuynh hướng từng tờ ra sao, hiện do ai nắm, nội tình nó như thế nào? Còn bây giờ có ai thạo văn học Mỹ, văn học Pháp như thế không, tôi có cảm tưởng là không, hoặc chỉ có rất ít.

 Theo tôi, luôn luôn cần đặt văn học chúng ta trong văn mạch chung của văn học thế giới, để mà thấy được tình hình của mình thực trạng của mình, đồng thời học hỏi được những cái mới lạ, cũng tức là cái người ta đã trải, và trước sau ta cũng sẽ đi tới.
 Năm 1995, trong một cuộc họp ở Hội nhà văn, tôi đã nhắc chuyện  hội nhập nhưng không có người nghe nên qua đi. Tôi nói là: chúng ta đang có một nền văn học "lạc hậu so với xã hội" với nghĩa trong khi tất cả những thứ khác của ta từ quần áo may mặc xuất khẩu, cho đến cá, tôm, hàng công nghệ, thời trang, ca nhạc phim ảnh … đủ mọi thứ lo hội nhập với thế giới, thì văn học chúng ta bằng lòng dừng lại ở trình độ một thứ hàng nội địa trong nước dùng với nhau. Chưa tính đến chuyện đặt văn học Việt Nam vào văn mạch văn học thế giới, hoặc mới nhìn việc giao lưu  một cách rất thiển cận --- thế thì làm sao có sự tiến bộ ? Theo tôi, chuyện này không chỉ riêng là của ta. 
 Chung quanh chủ đề  hội nhập anh đã rút được những kinh nghiệm nào? 
 -- Có lần nhân nhà xuất bản nơi tôi công tác tiếp một đoàn nhà văn Trung Quốc, tôi có hỏi họ là rồi các anh sẽ đi đến đâu? Hay lại giống như thế kỷ 20 của phương Tây, lại đi về cái cá nhân, lại phi lý, cô đơn...? 
Họ nói họ còn đang tìm, song không cho rằng Trung quốc đứng ngoài quy luật vận động chung của thế giới. 
 Theo tôi những vấn đề như thế anh không quan tâm không được. Bản sắc dân tộc bao giờ cũng có, nhưng những con đường mà nhân loại đã tìm thấy và đã đi qua, thì nước nào cũng sẽ đi qua, dù mỗi nước sẽ đi theo cách của mình.
  Bảo nhau giữ lấy bản sắc là đúng. 
  Nhưng phải lo làm giàu cho cái bản sắc ấy. Sợ tiếp xúc rồi sinh ra học đòi bắt chước nên trên dưới bảo nhau hạn chế tiếp xúc. 
  Sẽ gây khủng hoảng thôi tránh sao được. 
   Nhìn vào các ngành điện ảnh hay hội họa, các nghệ sĩ ở đây tiếp xúc với thế giới hiện đại thành tâm hơn. Mà tìm ra được hướng đi của mình còn là khó. 
  Đằng này trong văn học, anh em mình lại không muốn làm cái chuyện đó nữa, hoặc chi lo làm một cách bôi bác, cốt lòe bạn đọc và nói dối nhà nước để xin tiền công quỹ về phung phí với nhau. Thì còn thay đổi sao được.
(còn tiếp)
VTN

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ngoại trưởng Trung Quốc tuyên bố quần đảo Trường Sa, mà Trung Quốc gọi là Nam Sa, là “lãnh thổ của Trung Quốc”.



Bộ trưởng Vương Nghị nói Trường Sa là của Trung Quốc

Bộ trưởng Vương Nghị phát biểu tại một hội nghị trước các nhà ngoại giao nước ngoài tại Bắc Kinh hôm 16/9.
Tuyên bố đưa ra trong bối cảnh các nước, như Mỹ và Việt Nam, đã phê phán việc Trung Quốc bồi đắp ở quần đảo Trường Sa.
Ông Vương Nghị nhắc lại Trung Quốc “có căn cứ lịch sử và pháp lý đầy đủ” đối với quần đảo Trường Sa.
Ông được dẫn lời nói việc Trung Quốc bảo vệ chủ quyền là “thiên kinh địa nghĩa”, và là “lẽ dĩ nhiên”.
Ngoại trưởng Trung Quốc cũng nói Trung Quốc xây dựng cơ sở hạ tầng trên chuỗi đảo và bãi cạn của mình ở Biển Đông “không nhằm vào bất cứ ai, mà là muốn cải thiện điều kiện và nâng cao năng lực đồn trú, đồng thời là nhằm thực hiện nghĩa vụ quốc tế xứng đáng với quốc gia lớn nhất” tại Biển Đông.
Tuyên bố này chắc chắn không được các nước như Việt Nam ủng hộ.
Hôm 15/9, khi thăm Tokyo, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Nhật Shinzo Abe đã ra tuyên bố chung lên án việc bồi đắp đảo ở Biển Đông.
Mặc dù không nhắc tên Trung Quốc, tuyên bố này nói Việt – Nhật “quan ngại sâu sắc về những diễn biến phức tạp gần đây đang diễn ra ở Biển Đông, bao gồm việc bồi đắp đảo và xây dựng công sự quy mô lớn”.



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cứ như đồng chí Hun này thì mọi việc sẽ đỡ phốc tạp!

Ts Trần Công Trục: Vài lời nhắn gửi Thủ tướng Hun Sen

(GDVN) - Công đầu trong việc ổn định xã hội Campuchia, làm lắng dư luận đang bị kích động về biên giới lãnh thổ thuộc về Thủ tướng Hun Sen. Ông đã làm được một việc cần phải làm, chứng minh cho người dân Campuchia cũng như dư luận khu vực, quốc tế thấy rõ, công tác phân giới cắm mốc biên giới Việt Nam - Campuchia đã diễn ra một cách công khai, minh bạch, hợp pháp, hợp lý và là một thành quả cần được bảo vệ. Thể hiện tác phong nói là làm của một chính khách lão luyện, trấn áp kịp thời các thế lực cực đoan kích động chống phá biên giới.
Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ.
LTS: Xung quanh một số phát biểu bình luận và ý tưởng của Thủ tướng Campuchia Hun Sen trong việc thúc đẩy công tác phân giới cắm mốc biên giới Việt Nam - Campuchia, Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ đã gửi cho Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam bài bình luận của ông, xin trân trọng giới thiệu đến quý bạn đọc.
Thủ tướng Campuchia Hun Sen và đảng Nhân dân Campuchia cầm quyền CPP đã có những phát biểu và động thái rất tích cực, đáng hoan nghênh xung quanh vấn đề biên giới Việt Nam - Campuchia sau những nỗ lực không mệt mỏi vô hiệu hóa các thủ đoạn chống phá, xuyên tạc vấn đề biên giới lãnh thổ giữa 2 nước mà các thế lực chính trị đối lập Campuchia lợi dụng để chống phá ông, lừa gạt dân chúng và kiếm phiếu bầu.

Điều này thể hiện rõ trong các phát biểu, ý tưởng của ông Hun Sen trong phiên họp Nội các gần đây đã được truyền thông Campuchia phản ánh.

Bảo vệ thành quả công tác phân giới cắm mốc Việt Nam - Campuchia

Chống phá biên giới Việt Nam - Campuchia là một trong những thủ đoạn chính trị được phe đối lập Campuchia CNRP sử dụng để lừa gạt một bộ phận người dân Campuchia thiếu thông tin và kiến thức về biên giới lãnh thổ và có nhiều bức xúc, bất mãn trong cuộc sống nhằm tìm kiếm phiếu bầu trong cuộc bầu cử Quốc hội 2013. Thủ đoạn này đã ít nhiều mang lại ít nhiều lợi ích cho phe đối lập với 55 ghế trong Quốc hội.

Được đà, lực lượng chính trị đối lập Campuchia tiếp tục thúc đẩy chống phá đảng cầm quyền và cá nhân Thủ tướng Hun Sen bằng chiêu ngụy tạo tài liệu xuyên tạc công tác phân giới cắm mốc Việt Nam - Campuchia, tung luận điệu tuyên truyền lừa gạt người dân đất nước chùa tháp rằng Hun Sen và CPP để "mất đất" cho Việt Nam vì đã sử dụng "bản đồ giả" để đàm phán.

CNRP cáo buộc bản đồ chính phủ Campuchia dùng đàm phán phân giới cắm mốc với Việt Nam không phải "bản đồ Hiến pháp", tức 26 mảnh bản đồ bonne do Sở Địa dư Đông Dương phát hành giai đoạn 1933 - 1953.

Đỉnh điểm của chiến dịch chống phá mới diễn ra từ tháng 6 năm nay. Một nhóm nghị sĩ đối lập Campuchia đã ngang nhiên ngụy tạo tài liệu hiệp ước biên giới giữa 2 nước và tung lên mạng xã hội Facebook để tiếp tục lừa gạt người dân, kích động bất ổn xã hội Campuchia nhằm gây áp lực lên đảng cầm quyền. Thủ tướng Hun Sen đã kiên trì, khéo léo xử lý tình huống này một cách khá thuyết phục.

Việc ông Hun Sen gửi công hàm cho Liên Hợp Quốc, Hoa Kỳ, Pháp, Anh để mượn lại 26 mảnh bản đồn bonne do Sở Địa dư Đông dương Pháp phát hành giai đoạn 1933-1953 để đối chiếu không những dẹp tan nghi ngờ của dư luận, mà còn buộc phe đối lập CNRP phải từ bỏ thủ đoạn "bản đồ" để chống phá biên giới Việt Nam - Campuchia. CNRP đã công khai yêu cầu các nghị sĩ đảng này không nhắc đến vấn đề biên giới Việt Nam - Campuchia, mà xoay sang vấn đề nội bộ khác, thanh niên thất nghiệp và việc làm.

Thủ tướng Campuchia Hun Sen.

Công đầu trong việc ổn định xã hội Campuchia, làm lắng dư luận đang bị kích động về biên giới lãnh thổ thuộc về Thủ tướng Hun Sen. Ông đã làm được một việc cần phải làm, chứng minh cho người dân Campuchia cũng như dư luận khu vực, quốc tế thấy rõ, công tác phân giới cắm mốc biên giới Việt Nam - Campuchia đã diễn ra một cách công khai, minh bạch, hợp pháp, hợp lý và là một thành quả cần được bảo vệ.

Thể hiện tác phong nói là làm của một chính khách lão luyện, trấn áp kịp thời các thế lực cực đoan kích động chống phá biên giới.

Chính phủ Campuchia đã đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục, phổ biến thông tin, công khai minh bạch thông tin tài liệu quá trình đàm phán, phân giới cắm mốc đã giúp người dân Campuchia hiểu biết nhiều hơn về vấn đề biên giới lãnh thổ. Tuy nhiên một số phần tử đối lập cực đoan vẫn ngoan cố chống phá bất chấp tất cả, Thủ tướng Hun Sen đã khẳng định bản lĩnh của một chính khách dày dạn kinh nghiệm trong điều hành một đất nước đa đảng phái và khá phức tạp.

Việc bắt giữ Hong Sokhour với chứng cứ phạm tội quả tang chỉ một tiếng sau khi ông ta tung tài liệu ngụy tạo hiệp ước biên giới Việt Nam - Campuchia lên Facebook với những bình luận kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan đã tác động rất mạnh đến phe đối lập CNRP. Sam Rainsy và Kem Sokha đã buộc phải thay đổi thủ đoạn khi cái bùa "bản đồ" không còn mê hoặc được quần chúng.

Ngoài ra, đảng CPP còn ra chỉ thị cho tất cả các tổ chức đảng này ở địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền về biên giới lãnh thổ, để cán bộ đảng viên của CPP và người dân Campuchia nắm được hoạt động này một cách hệ thống, khoa học, có căn cứ pháp lý.

Đây mới thực sự là giải pháp căn cơ, lâu dài để đối trị với thủ đoạn chống phá biên giới Việt Nam - Campuchia của các thế lực đối lập cực đoan, lấy biên giới lãnh thổ làm con tin cho các âm mưu, toan tính chính trị cá nhân.

Phải thừa nhận đó là những điểm mạnh mà Thủ tướng Campuchia Hun Sen đã khẳng định được, chính nó đã góp phần củng cố ổn định trong xã hội Campuchia, ngăn ngừa mầm mống của chủ nghĩa dân tộc cực đoan quá khích và những mối họa mà lực lượng này có thể gây ra với chính người dân, đất nước Campuchia. Đây cũng là nội dung Việt Nam chúng ta cần nghiên cứu học tập nước bạn.

Thủ tướng Hun Sen mong muốn thúc đẩy phân giới cắm mốc với Việt Nam

Lần đầu tiên ông Hun Sen đã công khai tuyên bố thúc đẩy công tác đàm phán phân giới cắm mốc với Việt Nam. Thủ tướng Campuchia còn đưa ra một số ý tưởng mà cá nhân tôi cho rằng rất đáng hoan nghênh và khả thi. Thứ nhất, là ý tưởng mời chuyên gia của một bên thứ 3, cụ thể là Pháp đứng ra hỗ trợ công tác phân giới cắm mốc giữa hai nước.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Campuchia 
Hun Sen trong lễ khánh thành một cột mốc biên giới.

Đây là một ý tưởng khá thiết thực, hoàn toàn khả thi nếu đội ngũ chuyên gia đáp ứng được các tiêu chí về thỏa thuận nguyên tắc xử lý vấn đề biên giới giữa 2 nước cũng như các hiệp ước, văn bản mà hai bên đã ký kết. Trên tinh thần khách quan, cầu thị, khoa học và hợp pháp, hai bên có thể tính toán đến lựa chọn này.

Thứ hai là Thủ tướng Hun Sen tuyên bố Campuchia sẵn sàng chịu 1 nửa tổng chi phí để trả cho đội ngũ chuyên gia cũng như xây dựng hệ thống cột mốc biên giới giữa 2 nước. Đó cũng là một cử chỉ đầy trách nhiệm của Thủ tướng Hun Sen mà chúng ta cần ghi nhận.

Đặc biệt là Thủ tướng Hun Sen cũng đã nhận thấy rõ bản chất vấn đề, nếu không đẩy mạnh công tác phân giới cắm mốc thì mọi sự chậm trễ đều sẽ gây ra những khó khăn mới.

Phân giới cắm mốc phải dựa trên bằng chứng pháp lý và kỹ thuật, không phải dựa theo chính trị và cảm xúc

Cá nhân tôi cho rằng phát biểu này của Thủ tướng Hun Sen mới thể hiện tầm nhìn của một nhà chính khách về vấn đề biên giới lãnh thổ trong thế giới đương đại rất đáng để chúng ta suy ngẫm và rút ra bài học cho mình. Trên thế giới lâu nay, biên giới lãnh thổ cùng với tôn giáo sắc tộc, khủng hoảng kinh tế, dịch bệnh là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến bạo loạn xã hội ở các quốc gia khác nhau.

Riêng về biên giới lãnh thổ là lĩnh vực đòi hỏi tính khoa học, pháp lý, khách quan và cầu thị rất cao, nhưng lại gắn chặt với tâm tư, tình cảm và suy nghĩ của người dân bất cứ quốc gia nào. Biên giới lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng và hệ trọng, là bất khả xâm phạm.

Chính những yếu tố cảm xúc này đã có lúc lấn át yếu tố lý trí, dễ bị lập trường chính trị chi phối khiến yếu tố bằng chứng pháp lý và kỹ thuật bị lu mờ.

Phát biểu của Thủ tướng Campuchia Hun Sen là hết sức xác đáng, khách quan, cầu thị, hợp pháp và hợp lý. Chỉ có công khai quan điểm này và thúc đẩy phân giới cắm mốc theo đúng tinh thần dựa vào bằng chứng pháp lý và kỹ thuật, kết hợp với tuyên truyền giải thích rộng rãi mới có thể xây dựng được tuyến biên giới hòa bình hữu nghị và hợp tác, người dân giáp biên hai nước mới yên ổn làm ăn và tránh được các chiêu bài thủ đoạn mà các thế lực cực đoan lợi dụng chống phá.

Lịch sử là câu chuyện rất phức tạp, nhất là lịch sử liên quan đến biên giới lãnh thổ. Nếu chỉ dựa vào các tài liệu hay thậm chí là "bằng chứng" lịch sử thuần túy, sẽ có sự xáo trộn rất lớn về biên giới lãnh thổ giữa các quốc gia và có thể đẩy mối quan hệ giữa 2 nước láng giềng vào xung đột không lối thoát.

Do đó việc sử dụng các bằng chứng lịch sử, căn cứ lịch sử trong công tác tuyên truyền, giáo dục về biên giới lãnh thổ cũng như đàm phán, hoạch định biên giới phải hết sức thận trọng, nghiên cứu kỹ và có chọn lọc.

Cá nhân tôi hoàn toàn đồng ý với phát biểu này của Thủ tướng Hun Sen: "Chúng tôi có vài điểm quan trọng trong phần biên giới còn lại chưa phân định. Một số mốc biên giới phía Việt Nam đã đồng ý còn một số khác thì Việt Nam chưa đồng ý. Với Việt Nam, chúng tôi đang đẩy mạnh công tác phân giới cắm mốc bởi bất kỳ sự chậm trễ nào sẽ gây ra những khó khăn mới.

Có nghĩa là, chúng tôi không đồng ý với tất cả các điểm phía Việt Nam nêu ra, và chúng tôi sẽ phản hồi với phía Việt Nam về những mốc giới mà chúng tôi không đồng ý".

Nó cũng nhắc nhở chúng ta rằng, ở những vị trí tranh chấp mà cả hai bên đều không đủ tài liệu pháp lý chứng minh đủ sức thuyết phục đối phương thì nên tính toán đến các nguyên tắc pháp lý và thông lệ quốc tế trên tinh thần khách quan, cầu thị, có đi có lại.

Bất kỳ bên nào cũng không nên hiểu rằng đây là một sự nhân nhượng hay mất đất. Không nên chính trị hóa vấn đề biên giới lãnh thổ, bởi nếu cứ lấy lập trường thay căn cứ pháp lý thì không bao giờ có thể hoạch định phân giới xong.

Một vài điều nhắn gửi Thủ tướng Hun Sen

Ông Hun Sen đã có những phát biểu, bình luận cá nhân tôi cho là rất xác đáng, hợp lý, hợp pháp về công tác phân giới cắm mốc giữa Campuchia và Việt Nam như đã phân tích ở trên. Trong đó chính Thủ tướng Campuchia Hun Sen cũng nhấn mạnh rằng phải trọng chứng cứ pháp lý và kỹ thuật chứ không phải cảm xúc hay chính trị.

Tuy nhiên, nhận thức về lịch sử đối với biên giới lãnh thổ cũng là một khía cạnh mang nặng cảm xúc và chính trị. Câu nói: "Chúng tôi đã mất đi một vùng đất rất rộng cho những người khác trong một thời gian dài trước đây, trong quá khứ. Chúng ta không thể cho phép điều này tiếp tục hoặc lặp lại chính nó" có thể dẫn đến những hiểu lầm về biên giới lãnh thổ hiện tại với câu chuyện của cả mấy trăm năm về trước.

Không dân tộc nào nên quên lịch sử của cha ông mình, nhưng cũng không dân tộc nào nên theo đuổi việc lật lại lịch sử để làm xáo trộn hiện tại. Chủ nghĩa dân tộc, chủ quyền lãnh thổ là những vấn đề hệ trọng quốc gia, động đến tình cảm tâm tư của mỗi người thì càng phải thận trọng và nhìn nhận nó một cách đúng đắn, làm sao có lợi nhất cho hòa bình, thịnh vượng và phát triển của quốc gia, dân tộc.

Xới lại lịch sử chỉ gây ra bất ổn, chia rẽ và kìm hãm phát triển, không giải quyết được vấn đề gì thì là chuyện không nên làm, không đáng làm. Chủ nghĩa dân tộc, chủ quyền lãnh thổ nếu tách rời tính chất pháp lý, khoa học, khách quan, cầu thị sẽ trở thành con dao hai lưỡi đẩy cả xã hội vào một vòng xoáy bất ổn khó tìm ra lối thoát.

Ts Trần Công Trục
http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Ts-Tran-Cong-Truc-Vai-loi-nhan-gui-Thu-tuong-Hun-Sen-post161725.gd
 
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ai bảo ngày nay thiếu lòng trắc ẩn? Dù chẳng liên quan gì, nhưng xin cảm ơn nhà Thơ Thúy Quỳnh, TBT báo VNTN:


CHÙM THƠ HAY CỦA MỘT NGƯỜI ĐÃ KHUẤT
Tôi nhận được một chùm thơ do nhà thơ Ngô Minh gửi, nói là nhờ đăng giúp. Thơ rất hay nên tôi đăng Văn nghệ Thái Nguyên. Hôm nay thì biết thêm về tác giả. Người tài thường bạc mệnh. Mong linh hồn bác sớm siêu sinh tịnh độ.
"Tôn Phong ( Tôn Thất Phong) dòng dõi Hoàng tộc Huế là nhà thơ dưới đáy cuộc đời. Anh tham gia kháng chiến chống Pháp. Hòa bình tập kết ra Bắc, làm công nhân nông trường ở Thanh Hóa. Do đọc trước đám đông thơ Phùng Quán mà bị bắt giam vì tội "theo Nhân văn Gia Phẩm". Sau 1975, anh được tha tù, vào Nha Trang sống không lương.Do nghèo nên anh phải cùng các con đi bán chè chén ở Ga. Nghèo nhưng anh vẫn làm thơ. Không làm thơ "ngành nghề" phải đạo,mà thơ buồn, thơ thế sự, thơ tình. Đã xuất bản 4 tập thơ. Năm 2014 anh mất khi 83 tuổi để lại người vợ không lương. Do khó khăn, chị Pham Thị Ái Mỹ, vợ anh Tôn Phong đã gửi ra cho tôi một chùm thơ, để nghị tôi gửi đi các báo để in nhằm giúp chị kiếm đồng nhuận bút trang trải cuộc sống" (FB Nhà thơ N.Minh )
Chùm thơ của Tôn Phong:


Sao trong mắt

Liềm trăng
Nằm giữa đồng trời
Nhặt lên gặt lấy ngời ngời sao sa

Ai lên
Cung quảng cùng ta
Nâng tay dắt chị Hằng Nga về cùng

Ta thành tỉ phú sao trăng
Vung tay ánh sáng tung chân chói lòa

Tặng em
Một dải ngân hà
Em đeo lên ngực mặn mà thêm duyên

Ngờ đâu 
Gặp mắt em nhìn
Ta xin đánh đổi trăm nghìn trăng sao

Ta thành 
Tỉ phú lao đao
Gia tài vét sạch đặt vào mắt em.
                                   
                                              
Không có gì

Ném mình
vào cuộc mênh mông
Trước mênh mông thấy mình không là gì

Gọi người
gió cuốn tên đi
Tôi gọi tôi với thầm thì tôi thôi

Gọi trăng
trăng bận luân hồi
Thì tôi gọi núi về ngồi bên sông

Goi trời
tát cạn mênh mông
Để tôi ngồi lại chờ không có gì.

 

Một mình
Một đời em một đời anh
Có đem cộng lại cũng thành chiêm bao
Một nắng dội một mưa rào
Một thân phận một lao đao ở đời
Một lửa cũng đã tàn rồi
Một trăng đã nhạt một lời nhớ quên
Thôi em con mắt đi tìm
Một bong bóng nước một kim đáy hồ
Chừ ta tan nát đời thơ
Một con chữ một ngẩn ngơ cái nhìn
Cảm ơn nhau một cuộc tình
Một không một có
 một mình một ta..


Tôn Phong