Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2015

Tư liệu văn học sử:

 TRẦN DẦN, MỸ HỌC KHỔ ĐAU


Image result for nhà thơ trần dần
trần dần
(1926-1997)


Trần Dần mất ngày 17 tháng giêng năm 1997. Trong 40 năm, sau Nhân Văn, Trần Dần đã chỉ thấy những hòm bản thảo của mình: 2/3 bị tiêu tán, mục nát, 1/3 bị kết án chung thân trong trạng thái nằm. Vậy mà vẫn viết. Viết đều. Bởi ông cho rằng viết hay ghi là phương pháp duy nhất nói chuyện với mình khi không thể nói được với ai. Từ 1958, “ghi trở nên một hình phạt”, người thanh niên 32 tuổi ấy đã bị “đòn ngấm quá cuống tim rồi”.
Tác phẩm chịu chung số phận với con người, phần lớn đều chưa được in ra: gần 30 tập thơ, 3 cuốn tiểu thuyết, và không biết bao nhiêu bản thảo bị mối mọt.
Trần Dần sinh ngày 16 tháng 7 năm Bính Dần, tức ngày 23 tháng 8 năm 1926, trong một gia đình giàu có ở Nam Ðịnh. Ðậu bằng thành chung rồi lên Hà Nội học đến tú tài. Trần Dần là bạn thân từ nhỏ với Vũ Hoàng Ðịch, em ruột Vũ Hoàng Chương. Trong không khí văn nghệ gia đình và bè bạn, ngay từ 1944, sau khi xong trung học, Trần Dần, đã cùng Vũ Hoàng Ðịch, Trần Mai Châu, Ðinh Hùng… nghĩ đến việc cách tân Thơ Mới, chủ trương nhóm Dạ Ðài, viết “Bản tuyên ngôn tượng trưng” ký tên ba người Trần Dần, Trần Mai Châu và Vũ Hoàng Địch, in trên giai phẩm Dạ Ðài số 1, ra ngày 16/11/1946. Ngoài thơ, Dạ Ðài còn có tiểu thuyết, truyện ngắn và bình luận. Vừa ra được số đầu, mới lên khuôn số thứ nhì thì chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, Trần Dần tham gia kháng chiến.
Đạo diễn Trần Vũ nhớ lại: ở Sơn La, năm 1946, Trần Dần làm công tác tuyên truyền cùng với Vũ Khiêu và Vũ Hoàng Ðịch. 1948, khi thành lập khu 14 ở Tây Bắc, Trần Dần cùng Vũ Khiêu, Vũ Hoàng Ðịch lên Tây Bắc. Một thời gian sau, khu 14 bị giải thể. Trần Dần tham gia quân đội, nhận công tác địch vận của trung đoàn Sơn La từ 1948 đến 1950.
Hồ Phương kể lại: “Ở nhóm văn nghệ Tây Bắc có Trần Thứ (nay là Trần Vũ), Trần Dần và Hoài Niệm… Tờ Sông Ðà của nhóm này cũng là một tờ báo được trình bày khá đẹp, nghiêng về sáng tác thơ văn. Hồi ấy Trần Dần hay làm thơ leo thang, bài thơ thường được trình bày khá kiểu cách. Dòng thì in chữ nhỏ, dòng lại in chữ to, thiên về hạng theo mốt.” (trích Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học, tập II, nxb Tác Phẩm Mới, 1987, trang 140)
Sau kỳ học tập chính trị năm 1951, Trần Dần về Trung Ương, nhận công tác ở Cục Quân Huấn. Cuối năm 1953, chiến đấu ở mặt trận Ðiện Biên Phủ, cùng đội ngũ với Ðỗ Nhuận và Tô Ngọc Vân, Trần Dần viết tiểu thuyết Người người lớp lớp.
Năm 1954, được cử đi Trung Quốc để viết bản dẫn giải bằng tiếng Việt cho phim Chiến thắng Ðiện Biên Phủ. Ông không ghi gì về chuyến đi này trong nhật ký.
Ðầu năm 1955, trong quân đội manh nha sự phản đối đường lối văn hóa văn nghệ của Ðảng: Trần Dần, Tử Phác, cùng với sự hỗ trợ của Lê Ðạt, Hoàng Cầm, một mặt lên tiếng phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu, một mặt yêu cầu hạn chế sự can thiệp của Bộ Chính Trị vào lãnh vực văn hóa văn nghệ. Phong trào tiếp diễn với Giai Phẩm Mùa Xuân, xuất hiện tháng 3 năm 1956, đăng bài Nhất định thắng của Trần Dần. Trần Dần bị bắt, cứa cổ tự tử, nhưng không chết. Phong trào tiếp tục đến tháng giêng năm 1958 thì bị dập tắt hẳn.
Nhưng những chôn vùi thường đưa đến những hậu quả bất ngờ: như hỏa sơn Vésuve thình lình chôn sống Pompéi trong một trận mưa tro đá. Nhưng 1700 năm sau, người ta đào lại các lớp địa tầng, “phục hồi” những xác người hóa thạch. Chính những xác hóa thạch đó đã cho biết họ bị ngọn lửa Vésuve bức tử như thế nào. Tại sao mà chết? Xác người hoá thạch ở Pompéi, 1700 năm sau, đã thuật lại cho hậu thế lịch sử cái chết của mình. Vésuve đâu có lường trước hậu quả khi nhúng tay vào tội ác? Vésuve đâu có ngờ rằng trong bất cứ hoàn cảnh nào, con người cũng tìm đủ mọi cách để “phục hồi” sự thật? Vésuve đâu nghĩ đến sự phản bội của thời gian: đáng lẽ những sự thật đã bị chà đạp, bóp méo, chôn vùi đến hàng ngàn năm phải tiêu tan, tro bụi, nào ngờ, chúng lại được chính thời gian đồng lõa với con người, tìm cách soi tỏ sự thật như một thỏa thuận nhân văn ngấm ngầm giữa quá khứ và hiện tại, giữa bây giờ và hậu thế.
Về Nhân Văn Giai Phẩm, có những sự việc đã bị chôn sống, tưởng rồi sẽ tan trong lòng đất. Có những sự thực đã bị bóp méo đến độ dị dạng. Trong hơn nửa thế kỷ, người ta đã quen sống với những quái thai dị đạng đó: những xuyên tạc, bôi nhọ được đề cao như những chân lý. Ngờ đâu, những con chữ trong hòm lại có ngày đứng dậy, thuật lại truyện mình. Tập Trần Dần ghi 1954-1960 là một trong những tư liệu hòm, tự khai, tự quật. Do nhà xuất bản Văn Nghệ tại California in năm 2001. Tác phẩm chìa ra những dòng chữ viết đầu tiên, để lấp những trang còn trắng về một thời kỳ văn học sử, còn chưa được biết, còn chưa được viết.

Image result for nhà thơ trần dần


Trần Dần ghi, tức là Trần Dần viết nhật ký cho mình, ghi lại những ý nghĩ, sự kiện, đột hiện ra trong óc. Những điều mắt thấy tai nghe. Những câu chuyện bạn bè kể lại. Tất cả bộ mặt hàng ngày của đời sống “thời ấy”, vui có, buồn có, bực tức có, phẫn nộ có, lạc quan có.
Sự ghi ấy đến với chúng ta như thế nào, sau nửa thế kỷ? Nó cho biết một phần sự thật về thế giới đã bị chôn vùi, dĩ nhiên là dưới con mắt chủ quan của người ghi. Một sự chủ quan đầy ý nghĩa vì đây là những hàng nhật ký chứ không phải hồi ký. Đây là những ghi chép hàng ngày, tại chỗ, còn nóng hổi, chỉ để giúp trí nhớ của riêng mình, không có hậu ý cho người khác đọc. Mà dù có muốn người khác đọc, thì cũng không chắc có một ngày người ta sẽ đọc. Bị xếp trong hòm, nó còn mang tính cách trăn trối, trăn trối với mình, trăn trối với người, trăn trối với nghệ thuật. Vì không cốt yếu viết cho “người khác” đọc, cho nên nó không cần phải “làm đẹp” lên hoặc “làm xấu” đi, không phải giả đò tự phê phán mình để tỏ niềm trung thực, như một số hồi ký viết về thời kỳ này, cốt viết và in cho người khác đọc. Bởi thế, khi đọc Trần Dần ghi, tức là chúng ta đã xâm phạm vào đời tư cá nhân Trần Dần, vào chỗ thầm kín nhất của con người: vào những ý nghĩ riêng tư, nhiều khi thái quá, vào những sự thật trần truồng, nhiều khi không khoan nhượng, vào những sai lầm có thể có, đối với bất cứ ai. Đó là con dao hai lưỡi, cũng là lợi khí của văn học nằm trong tinh thần sáng tác của Trần Dần.
Tập Trần Dần ghi 1954-1960 gồm ba phần. Phần đầu là những suy nghĩ về sáng tạo. Phần thứ nhì chụp lại thời đấu tố. Phần thứ ba nghiêng về chân dung và cuộc sống con người trong ba năm kỷ luật.
Phần thứ nhất, ngắn nhưng sắc sảo, bộc lộ quan niệm thơ nói riêng và sáng tác nói chung của Trần Dần. Tuy viết từ thời trẻ, nhưng đã khái quát những suy nghĩ sâu sắc của một đời người, đời thơ, bao trùm những ý nghĩa triết lý và nghiệm sinh. Ðó là một lối tuyên ngôn nghệ thuật phát xuất tự đáy lòng, với những trăn trở, vừa muốn tìm hiểu, vừa để xác định một trật tự cho riêng mình, nhưng chưa vỡ lẽ cái mình muốn xác định ấy là gì. Trần Dần viết: “… những hình ảnh thơ nóng bỏng, cháy như lửa, một hình ảnh ánh lên nhiều hình ảnh, hình ảnh nọ chống đối hình ảnh kia, hòa hợp với nhau, lôi kéo nhau trong một điệu nhảy ma quỷ… Ðúng là: một cuộc sống chaotique, nhưng một cái chaos có harmonie của nó. Một điệudanse macabre có cái thần tiên của nó. Một cái hỗn độn có cái trật tự của nó. Và cái harmonie, cái thần tiên, cái trật tự đó là tùy theo tiêu chuẩn, tôi cho là: ý thích của tôi. Mà ý thích của tôi là theo tiêu chuẩn tối cao! Ðó là sơ lược cái mơ ước ngày tôi 18, 19 tuổi.” (trang 35)
Ðó là lời “tuyên ngôn” thơ, rất “hỗn độn”, mơ hồ, nhưng lại rất sát với thơ. Nếu so với những lời văn hoa Trần Dần viết trong bản “Tuyên ngôn tượng trưng” của nhóm Ðạ Ðài mười năm trước, nào những “Chúng tôi -một đoàn thất thổ- đã đầu thai nhằm lúc sao mờ” (rất Vũ Hoàng Chương), nào những “Chúng tôi đã nhìn lên Tinh đẩu và đã nhìn xuống Thế nhân”, nào những “Sụp đổ: lâu đài phong nguyệt; và mai một: ý tứ những thi nhân mò ánh trăng mà thác”… thì đúng là trong hoàn cảnh nào, các tuyên ngôn cũng vô dụng. Tuyên ngôn Dạ Ðài trịnh trọng, khuôn sáo, không nói được gì, so với mấy trang đầu tập Trần Dần ghi 1954-1960.
Nói với mình, Trần Dần bỏ hẳn lối viết rườm rà, hoa mỹ, để hướng về chữ, chỉ có chữ, trần trụi chữ, sâu và thực.


*

Phê bình văn, thơ kháng chiến
Câu hỏi đầu tiên đến với người sáng tác là: viết như thế nào? Trần Dần không thoát ra ngoài thông lệ. Lúc ấy đang đánh nhau, có đòi hỏi phải viết về chiến tranh. Người ta bảo phải viết như thế này, thế kia. Còn anh? Là nhà văn, anh nghĩ gì? Anh viết như thế nào?
Trần Dần ghi: “Chúng ta thấy chúng ta vào khói ra lửa, sinh tử không sờn, chúng ta thấy chúng ta hành động ghê gớm lắm. Nhưng có điều buồn là chúng ta không thấy chúng ta! [...]
Chiến tranh rèn luyện. Chúng ta được nhiều điều. Nhưng [...] tôi nói nó là bộ xương. Chiến tranh làm chúng ta rắn xương rắn thịt, làm cho tâm hồn chúng ta có hình cốt, có cái khung rất tốt rất bền. Nhung bạn đừng lầm bảo rằng bộ xương đó là người, hình cốt và và cái khung là tâm hồn rồi đó. Nói vậy là một sự dối trá [...]
Cho nên bạn nói Chiến tranh là rèn luyện;- bạn cần nghĩ thêm Hoà Bình cũng rèn luyện, mà còn rèn luyện hơn là chiến tranh nữa [...]
Hoà Bình rồi, người ta mới có thể biết trong chiến tranh người ta đã mất mát và thu hoạch được những gì. [...] Tôi nói rằng chúng ta mất nhiều hơn. Tại vì tôi nghĩ tới chiến tranh và tội ác của nó. Và tại vì tôi so sánh những cái thu hoạch 9 năm chiến tranh vừa qua với những cái thu hoạch lớn hơn gấp bội nếu 9 năm qua là 9 năm kiến thiết Hoà Bình. [...] Vì thế tôi muốn viết nhiều, muốn viết những cái tôi chưa dám viết. Và tôi muốn viết không có kiểm duyệt. [...]
Tôi vừa viết xong cuốn “Người người lớp lớp”. Viết về chiến tranh ở Điện Biên Phủ đấy. Nhưng mà tôi đã chán rồi. Tại vì rằng tôi ít thấy sự thực của chiến tranh trong đó quá. Và vì rằng tôi thấy ít sự thực của bản thân trong đó quá. Chưa phải là chiến tranh và chưa phải là tôi. Cho nên tôi viết tới hơn 300 trang mà không thích bằng một bài thơ tôi cũng mới làm về chiến tranh: “Anh đã thấy” (mes douleurs) trên dưới có 6 trang! Vài trang thơ này tôi còn thấy chiến tranh nhiều hơn, và thấy tôi nhiều hơn 300 trang “Người người lớp lớp”.
[...] Tôi muốn tả những người chiến sĩ. Người rất già người rất trẻ. Người bần cố và người con địa chủ. Người con tư sản và người công nhân. Người học sinh và người không biết chữ. Người đã làm sư và người đi ăn cướp. Người đi buôn và người đã bị buôn. Người đã lừa lọc và người đã bị lừa lọc. [...] Người anh hùng và người dút dát. Người lấy súng bắn địch và người lại lấy súng tự thương. [...] Người thuần, người ngổ ngáo. Người chỉ biết phục tùng, người hay cãi bướng. Và đa số là ngại học tập, ngại nghe đả thông. Ngại nghe cán bộ nói nhiều. Ngại bị “nắm tư tưởng”. Nắm, nắm con cặc.
[...]
Tôi nghe người ta nói đừng viết cuộc sống telle qu’elle est (chú thích: cuộc sống như nó đang diễn ra) mà phải viết la vie telle qu’elle doit être! (cuộc sống như nó phải được diễn ra) – Tôi lại hiểu rằng: viết cuộc sống telle qu’elle est tức là viết cuộc sống telle qu’elle doit être.- Tôi hiểu rằng không có gì đẹp hơn, không có gì cao cả hơn, không có gì cộng sản hơn là: Sự Thực không tô điểm, Sự Thực trần truồng. Và cũng không có gì xấu hơn, không có gì yếu ớt hơn, phi cộng sản hơn là Sự Thực tô điểm, Sự Thực mặc áo hồng, áo xanh, áo hoa. Tôi nói rằng, dù áo hoa đó thích hợp, dù sự tô điểm đó là tô theo phương hướng thực của cuộc sống thực, thì cái áo đó và sự tô điểm đó vẫn cứ là không đáng tán thành. Cuộc sống cởi truồng, nó có ý nghĩa như những sự tô điểm và những bộ áo đẹp và lý tưởng nhất. Màu da của cuộc đời toute nue, đó là tất cả các bộ áo của trần gian rồi[...]
Chính vì vậy tôi muốn viết chiến tranh telle qu’elle est. 10 cây số máu. Xương phơi đầy đường. Người đáng sống thì chết. Kẻ đáng chết thì sống mãi. Tôi tưởng rằng, nếu mà nói giáo dục, thì không gì giáo dục hơn là sự thực ở trần. Chiến tranh cởi truồng là có thể giáo dục Chiến tranh, lại giáo dục cả Hòa Bình [...]
Cho nên tôi rất muốn viết về chiến tranh. Viết thật trần truồng. Không gì lớn hơn Sự Thực. Vì vậy cho nên không bao giờ tôi viết được Sự Thực[...] Nhưng mà cũng không bao giờ tôi lại không muốn tả cho đúng Sự Thực.[...]” (trích những dòng ghi từ 16/9 đến 1/10/54, trang 43-48).
Lời ghi trần trụi trên đây là một tuyên ngôn cởi truồng về mục đích của văn học, về nhân cách của nhà văn. Suốt cuộc đời, Trần Dần đã tôn trọng nó: ông đã ghi lại cuộc sống của mình, của những người xung quanh, bằng trái tim, một trái tim dù bị dìm dẫm, bằm vặp, nhầu nát nhưng vẫn giữ tròn nhiệm vụ lọc máu để nuôi sống con người.
24/12/1954, đêm Noël, Trần Dần ghi:
“Bước quanh bờ Hồ. Trời tôi tối. Còn vẳng tiếng hát micro nhà thờ buông trầm trầm. Hai thằng đi. Tôi và Lê Ðạt. Buồn quá. Ðây là những lúc người tôi hẫng lắm. Rỗng lắm. Tôi còn đầy dư vị những câu chuyện trao đổi đêm nay về chính sách văn nghệ. Dư vị chua, đắng, nhạt thếch.
Xem bài thơ “Ðại hội văn công” của Dương Chi trên báo Thời Mới. Tôi nhớ lại nhiều bài thơ kháng chiến của anh em kháng chiến. Ý tứ, điệu nhịp. Tôi có ý nghĩ so sánh. Thấy nó na ná nhau quá. Thử đào sâu hơn, tôi thấy phương pháp thơ của Dương Chi không khác là bao nhiêu với phương pháp thơ của nhiều anh em kháng chiến(!) Tôi còn muốn nói là giống nhau nữa. Phương pháp thơ gì? Tôi cho rằng phương pháp thơ đó, căn bản có mấy điểm:
1) một nội dung chính trị chưa thấm, chưa nhuyễn tới mức không còn là chính trị đơn thuần nữa;
2) trộn vào nội dung chính trị đó, một vài cái gì ươn ướt một tí! Ví dụ “đại hội văn công” thì trộn vào:tình đất nước, xuôi ngược Mán, Thổ, Mường… Nam Bắc… bốn phương về đây tụ hội. Và một vài cái ánh đèn… con mắt trái tim rung v.v… [...]
3) đem cái đó đặt thành vần điệu. Kỹ thuật là xem các thể thơ 4, 5, 6, 7 chữ. Thi thoảng hạ một câu lục bát nghe có vẻ mê ly. Tôi thường nghĩ đó là một ngón “thơ chim gái”. Phụ nữ nghe phải sít soa. Và cả quần chúng khi đó, lúc đó, cũng phải rít lên. Nhưng về sau không còn ai nhớ nó nữa.
Vì vậy tôi coi phương pháp thơ Dương Chi trong bài đó giống phương pháp của anh em kháng chiến. Theo ý tôi là một phương pháp thơ rất hỏng. Không có gì đáng gọi là cách mạng cả. Tôi muốn nói: “Các anh đừng có lên mặt kháng chiến. Đừng vênh váo mình tiến bộ. Đừng khinh anh em trong Hà Nội lạc hậu! Về cơ bản, các anh không hơn gì anh em Hà Nội đâu. [...] Ta chưa có cách mạng thi ca”.
Tôi nhớ một hôm tôi đọc chơi chơi ví dụ: “hồn lâng lâng mơ máu giặc nồng say”. Nhiều anh em cười. Tôi đố: thơ ở đâu nào? Có anh đoán :- Một tờ báo Hà Nội nào hẳn? Tôi nói thực: Ðó là tập “Tiếng hát” của nhà xuất bản Quân Ðội Nhân Dân. Thơ kháng chiến đấy!” (trang 65- 66).
Trần Dần ghi những điều mà mọi người thấy, nhưng không dám nói ra: Một người chuyên trị thơ kháng chiến như Tố Hữu, nếu ông chịu khó đọc lại thơ ông, thì ông sẽ thấy Trần Dần nói đúng, thơ ông đầy những câu văn hoa ngớ ngẩn, lẩy Kiều một tý, ngược xuôi Mán Mường một tý, ươn ướt một tý, ca dao một tý, rất đúng ngữ điệu “chim gái”:
Mười lăm năm ấy ai quên
Quê hương cách mạng dựng nên cộng hòa
Mình về mình lại nhớ ta
Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào
. (trích Việt bắc)
Bài Bầm ơi, vào loại rất hay của Tố Hữu cũng là một bài lẩy ca dao:
Bầm ra ruộng cấy bầm run,
Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non
Mạ non bầm cấy mấy đon
Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.
Mưa phùn ướt áo tứ thân
Mưa bao nhiêu hạt thương bầm bấy nhiêu.
Cho nên khi bình thơ Tố Hữu, Trần Dần đã phê một câu chí lý: “Chỗ nào hay thì lại là lặp lại Nguyễn Du, Tản Ðà, ca dao… Tố Hữu chưa đem tới một cách nhìn mới mẻ gì.”
Nhưng cái họa của thơ kháng chiến là không chỉ có Tố Hữu làm thơ như thế mà hầu hết các nhà thơ nổi tiếng, khi xung phong yêu nước, họ đều nặn ra những câu thơ ngớ ngẩn như vậy. Điều này rất khác với các nhạc sĩ. Tôi nhớ một hôm, đi chơi xa với nhà thơ Lê Đạt, trong xe, tôi để cassette nhạc kháng chiến của Phạm Duy. Không nhớ rõ là khi nghe đến bài nào, Quê nghèo, Về miền Trung hay Bà mẹ Gio Linh… Lê Đạt buột miệng: “Phải yêu nước như “nó” mới làm được nhạc như thế”. Nguyễn Huy Thiệp khi nghe Thái Thanh hát Bà mẹ Gio Linh cũng bảo: “Nghe nổi cả da gà!”. Câu nói của Lê Đạt, Nguyễn Huy Thiệp làm tôi suy nghĩ nhiều về lòng yêu nước, về thơ và nhạc kháng chiến: quả là thơ kháng chiến “yếu” hơn nhạc kháng chiến rất nhiều. Có bài thơ kháng chiến nào làm cho chúng ta “nổi da gà” như Bà mẹ Gio Linh. Tại sao? Vì các nhà thơ không có “gien” yêu nước? Hay vì làm thơ yêu nước không dễ, có yêu nước thật, may ra thơ mới hay. Có rút ruột mình ra, lên đồng với chữ như Hoàng Cầm, mới làm được Bên kia sông Đuống. Có mất mát như Hữu Loan, mới làm được Màu tím hoa sim? Còn tất cả những “giả đò”, đều ngớ ngẩn và buồn cười, nhất là giả đò yêu nước. Chúng ta thử đọc một bài thơ yêu nước của Xuân Diệu:
Sớm nay xa cách làng Còng
Bước đi một bước trong lòng mến yêu
Làng Còng vất vả, gieo neo
Tô đong, thóc rẽ, bao nhiêu căm thù.
Nông dân lao động bốn mùa
Trồng bông, bón mía, lại vừa tỉa ngô.
Mùa thường ngập lụt chẳng no
Chiêm thời thỉnh thoảng mất khô một kỳ.
Tháng ba hái củi nặng nề
Tháng mười kéo một đêm khuya thức ròng.
(trích bài “Tặng làng Còng”)
Màu mè hơn Tố Hữu, Xuân Diệu tìm cách trộn trạo hổ lốn các yếu tố ca dao, lao động, nông dân, canh tác… vào cho đủ lệ bộ mũ mã cân đai, có thể rất hợp khẩu vị lãnh đạo, nhưng không làm rung động mảy may “lòng người “. Bài này thuộc loại tạm được, nhưng Xuân Diệu còn bao bài thơ khẩu hiệu không thể nào đọc được, ví dụ:
Người gánh gánh của chúng tôi: là Đảng
Người gánh gánh với chúng ta: là Đảng
Người gánh ta, ta gánh Người: là Đảng
Người gánh đất, Người gánh trời: là Đảng.
(trích bài “Gánh”)
Tóm lại, hầu như không một nhà thơ nào, thời ấy, theo kháng chiến, (tự nguyện hay bắt buộc) làm thơ ca tụng, mà không nặn ra những bài văn vần, nửa vè, nửa khẩu hiệu, tạo nên một vũ trụ quái thai thơ. Vũ Hoàng Chương cũng có những câu:
Chen tiếng hoan hô này khẩu hiệu
Muôn năm chủ tịch Hồ Chí Minh.
Muôn năm người lính già tiêu biểu
Vì giang sơn quyết bỏ gia đình
(trích bài “Nhớ về Hà Nội vàng son”)
Đó là bi kịch chung của thơ văn kháng chiến mà Trần Dần đã cô đọng lại trong vài hàng phê bình thẳng thắn và xác thực.
Nhưng điều tệ hại là chính cái sườn nửa vè, nửa khẩu hiệu ấy lại trở thành mẫu mực cho thơ văn suốt một thời dài sau khi kháng chiến chấm dứt, khi đã đánh “tuyệt nọc” Nhân Văn.
Phần cốt lõi trong nhật ký Trần Dần là thân phận con người. Con người trong cải cách ruộng đất và đấu tố, con người sau Nhân Văn. Trần Dần có đấy. Trần Dần ghi. Trước đây, chúng ta đã được đọc nhiều cuốn tiểu thuyết hay viết về thời kỳ cải cách ruộng đất. Nhiều cách viết về thân phận con người, mô tả những khổ, đau, sống, chết… trong cải cách ruộng đất. Trần Dần không viết về cải cách ruộng đất, cũng không viết về tố khổ, mà ông ghi, ông chụp hình tố khổ bằng chữ. Nghệ thuật của ông nằm ở chỗ: không làm nghệ thuật, mà chụp nó. Như thể vô tình ông đã tạo ra cái mà ông gọi là Esthétique de la douleur.
Trong lúc nói chuyện về nghệ thuật với Lê Đạt và Đặng Đình Hưng, có lần Trần Dần bảo: “cái esthétique của tôi, nó là esthétique de la douleur” (mỹ học khổ đau) (trang 345). Nhưng ông có ý phê bình cái mỹ học khổ đau ấy là của thế kỷ XIX. Muốn biết cái “mỹ học khổ đau” ấy như thế nào, thì cứ đọc những hàng Trần Dần ghi. Ông ghi như thế nào? Ghi ngắn, gọn, những điều chính yếu. Bỏ hết những chữ thừa, tác giả xóa mình sau ống kính chữ. Chỉ có chữ. Vắn tắt như tốc ký. Chỉ có cách ấy mới lọc được nước cốt của nỗi đau.
Lối viết ấy có thể xem như một cách chắt hiện thực, lọc nước cốt các loại hiện thực, để chỉ lấy phần cô đọng nhất. Ðó là hiện thực Trần Dần. Ðó là mỹ học khổ đau.
“Thụ chém xong, Hoành, Sang nhảy vào đè ông Tuân xuống, thọc con dao nhọn vào vết chém đâm sâu vào thái dương, ông Tuân ọc ọc rồi chết. Hoành, Sang khiêng xuống bếp, treo cổ. Hoành chạy đi. Sang chạy ra cản nhân dân, xem giấy không cho vào”. (trang 118)
Những khuôn mặt, những tình huống, những cảnh, những lời, trổi lên qua vài nét phác, đôi khi là khuôn mặt địa chủ, đôi khi là khuôn mặt “nhân dân”… đôi khi cả một khung cảnh. Ðôi khi chẳng có gì cả, trần trụi hai ba chữ, cụt lủn, trống không, như những hàng ghi đầu năm 56:
1/1 Thẩm tra chỗ dựa.
Tối họp: Tội ác địa chủ. Bảo vệ đường sắt.
3/1 Nhà Thu.
Tối, trấn áp địa chủ. Họp du kích trao đổi vũ khí. Họp thanh niên, thiếu nhi.
8/1 Ðiểm tố khổ Nông Hội.
9/1 Nhà Thu.
Thông tin kẻ khẩu hiệu: Có khổ tố khổ. Ðánh đổ địa chủ cường hào đại gian đại ác. Hoan nghênh đại hội nhân dân. Sáng suốt chọn người vào thẩm phán xã.
Tố khổ Nông Hội.
1/1 Nhà Thu.
Tối: Công thẩm Hoàn (Nguyễn văn Nga).
12/1 Sáng: đấu Hoàn. (trang 167).
Lối tốc ký: sợ không viết ngay sẽ quên mất, hình ảnh sẽ biến đi, bởi vậy phải ghi hoả tốc. Cảnh đấu Nguyễn Văn Nga được chụp khá đầy đủ, gồm 17 màn, có 17 nhân vật thay phiên nhau lên đàn đấu và đây là hai màn đầu, vẫn lối tốc ký, vắn nhất, tắt nhất:
Đấu Nguyễn văn Nga
1. Anh Tụng lên.
- Mày mất thóc, em mày lấy, mày vu cho tao mày đánh tao.
- Nga, mày có đánh anh Tụng không?
- Không.
Ðả đảo…
- Mày có đánh không?
- Có.
Ðả đảo thái độ ngoan cố…
- Mày ngoảnh mặt lên đây. Khoanh tay lại. Bây giờ mày đã nhận mày kể lại đi.
- Thưa quý tòa con mất thóc về hỏi, chả nhẽ ở nhà mất còn có ai, anh Tụng…
- Anh với mày à?
- Ông Tụng, con hỏi ông Tụng, xong có đánh.
- Nga! Ðánh thế nào? Hỏi! Cho phép mày quay về ông bà nhân dân mà nói về việc đánh anh Tụng. Phải thưa ông bà.
- Thưa ông bà nhân dân, con mất thóc, con đánh anh Tụng à ông Tụng. Con trói vào cột.
- Mày có treo anh Tụng lên không?
- Con có treo ông Tụng lên ạ…
Ðả đảo…
- Nga! Hỏi! Về sau thóc ai lấy?
- Con không biết ạ…
Kết luận:- Chúng ta nhân dân thấy bộ mặt ngoan cố tên địa chủ. Nó đã nhận là thóc con cháu nó lấy mà nó đổ cho anh Tụng, nó đánh.
2. Ông Sử
- Mày đánh tao nát cả người cả ngợm ra.
- Con chỉ đánh nát người thôi ạ. Không đánh vào ngợm ạ.
- Tao đói quá tao đi bẻ mấy bắp ngô. Tao lấy của nhân dân chứ có lấy của nhà mày đâu? Sao mày lột quần tao ra, chắp 10 roi đánh!
- Mày có đánh ông Sử không?
- Có.
- Mày đánh bằng gì?
- Con đánh bằng roi tre ạ. Ông ấy ăn cắp ngô, con đi tuần thì con đánh ông ấy chảy máu đít. (trang 135-136).
Màn đấu Nguyễn Văn Nga tiếp tục với các nhân vật khác: Em anh Niệm, Chị Vinh, Bà Chính, Ông Thìn, ông Dăm lần lượt lên đàn tố.
Ở trang 172, Trần Dần ghi:
Viết 5 câu chuyện tình, không được in, đốt đi 2, còn 3. [...]
Em ạ, chính sách quản lý hộ khẩu là để đánh địch, nhưng em coi chừng, nó lại đánh vào tình yêu của chúng ta [...]
- Ðạo lý không có tương lai.
- Viết quyển “Ðời làm lính”, xong lại đốt đi. Vì nó đụng đến nhiều thứ quá.
- Nhật ký cho D. “Tác phẩm xuất bản cho một người.”
Hiện thực Trần Dần là một hiện thực tốc ký của mỹ học khổ đau. Không bình. Không luận. Để sự thực trần truồng nói. Là “tác phẩm viết cho một người”, “xuất bản cho một người”, tác giả lọc ra những nét độc đáo nhất của một chân dung, một sự kiện, một hiện tượng để ghi lên giấy, tạc vào óc người, người duy nhất viết và đọc: Trần Dần.
Mỗi hiện tượng, mỗi tình huống hay chân dung phác ra, bằng vài câu, vài dòng. Kẻ đọc “lén”-như chúng ta ngày nay- nếu giầu tưởng tượng, có thể xây dựng nên một tác phẩm văn học. Trần Dần tạo ra nguyên liệu, trong trạng thái thô nhám, ròng, như vàng ròng, chưa pha tạp, chế biến, và mặc “ta” xoay sở:
Chị Chuột chửa hoang.
6 tháng bụng to rồi. Làng mới đem ra điếm cho tuần gác, cùm, trói. Nuôi cho ăn cho đẻ xong xuôi. Trói hai ngón tay, hai ngón chân, lấy xe điếu lăn chân, rứt lông cho đau. Tra hỏi: chửa với ai. Chị Chuột khai chửa với phó Riếm.
Vào bắt bò nhà phó Riếm. Phó Riếm không chịu, xin thử máu. Bát nước lã: Giọt máu phó Riếm với giọt máu đứa bé không quyện vào nhau. Vậy là không phải.
Lại tra, lăn xe điếu. Chuột khai ngủ với Bạch.
Bạch đẹp trai, đàn sáo. Vợ cũng đẹp. Bạch nhận. Làng ăn vạ. Bắt bò, 2 lợn, đong thóc, cả làng ăn. Sạt nghiệp. (trang 139).
Với “vụ việc” chị Chuột như vậy, “ta” có thể đọc như thế nào? Điều tra những gì nằm ngoài các con chữ, là việc của ta. Và “ta” cũng có thể dựng một truyện ngắn, như thể tác giả hào phóng muốn cung cấp những chất liệu đầu tiên cho ai muốn dựng nên một tác phẩm văn học. Cách viết gọi óc tưởng tượng của con người, nhưng rất có thể cũng là cách kêu cứu SOS, ngắn gọn, của một mớ chữ đang bị chôn sống trong hòm: Chuyện Nhân Văn, chuyện cải tạo sau Nhân Văn, cũng nằm trong lối tốc ký ấy:
“9/9
[...]Chiều. Nắng càng tấn công gay gắt. Hàng tấn bom Napalm ánh sáng thiêu đốt đất cát nóng bỏng. 2, 3 giờ, gió máy xem chừng yếu thế, đến chiều thì tắt gió hoàn toàn! Suốt cả cái tháng bẩy này, mùa hạ mùa thu giằng co nhau. Sống trong cái thế cầm cự ấy, vạn vật mệt nhoài… Sao mà tôi ghét cái ách thống trị gắt gao của mùa hè như vậy?
- Nắng này, anh ra đào gốc, không chịu nổi đâu! Nó hắt vào mặt, rát rạt! Anh Thuần bảo tôi… Thôi anh ở nhà(!)… Anh xuống chuồng bò cào phân! Mát mà! Có được không?
[...]
Ðêm, tôi thiếp đi trong mộng ác. Tay mưng, đau nhất là ở những chỗ đã thành chai mà lại mưng tái lại. Mọi bắp thịt suốt đêm lọc acide, và chôn cất những tế bào chết vì lao lực quá sức… Lục đục suốt đêm vậy trong toàn bộ xác thịt tôi.
[...]
10/9
[...] Gió khiếp quá. Hàng sư đoàn gió bấc trèo qua núi lúc nào đổ xuống đồng cỏ. Suốt buổi sáng, mùa hè bị đánh tan nát. Nắng bị gió may thổi mát đi, nguội lửa.
Gió tốc mái, rứt mấy lá gồi chuồng bò. Cây cành bị túm tóc, vật vã kêu gào, gió vẫn không tha. Các tàu chuối bị tước xơ ra. Có tàu rách mướp, trông hệt một con rết xanh khổng lồ, hàng nghìn chân xanh ngọ ngoạy điên cuồng, cào trong không khí, cái đuôi nó bị giữ rịt ở thân, nó lồng lộn ngang ngửa, không thoát [...]
Các nón lá bị gió nó hất chụp mặt. Nó kéo ra sau, quai nón xiết cổ như thừng thắt cổ! Bụi phả vào mắt chúng tôi, chưa dụi xong, gió đã ném thêm. Bọn tôi đào gốc, đã nhọc, còn bị lũ gió may kia trêu chọc. Nó đùa dai chứ… Có lúc tôi cuốc đất, mắt nhắm tịt, một anh mù làm việc.” (đầu tháng 9, 1958, trang 334-335)
Tháng 12 năm 1959, Trần Dần thốt lên: “Chao ôi! Con đường để đi tới chỗ “Ðúng” mới nhiều máu làm sao.” Con người nhất định thắng ấy, đã thua, đã hàng, chấp nhận ly khai những lý tưởng ngày trước của mình.

Image result for nhà thơ trần dần


10-12-59 Trần Dần ghi:
“Sớm mai tòa án xử Thụy An gián điệp và Nguyễn Hữu Ðang phá hại, cả hai: hiện hành. Tôi không có giấy gọi cho dự, có lẽ vì không có vị trí gì ở đó. Không phải là nhân chứng, cũng không phải là đại biểu của nhân dân…
Người có một cái gì văng vắng. Tôi đã có đứng với nhóm Ðang cầm đầu. Tôi đã ly khai với “lý tưởng” đó. Cả khi đứng ở đó, cả khi ly khai, cả bây giờ, tôi vẫn cứ rớm máu. Chao ơi! Con đường để đi đến chỗ “Đúng” mới nhiều máu làm sao? Tương lai có để dành cho tôi nhát dao nào nữa không?
Đang đã nhìn thấy cái sai lớn của Đang chưa?[...].
Ngoài trời mưa bụi. Rét xoàng. Không có gió. Ðôi lúc vài tiếng chuông xe đạp. Năm nay rét muộn. Ðang ra tòa cuối năm. Tôi cũng không thể nào nhởn nhơ với sự kiện này. Chao ôi! Con đường để đi tới chỗ “Ðúng” mới nhiều máu làm sao!” (trang 376)
1958, “Ghi trở nên một hình phạt”. Nhưng vẫn ghi. Cuốn sổ 1958 ghi lại con đường nhiều người muốn ngoi lên để đi đến chỗ “Đúng”. Ai cũng muốn tìm một đường “máu” để thoát thân: biết đâu Đảng chả đoái thương mà nghĩ lại? Phương tiện nào cũng tốt kể cả “khai”. Cả “tố”. Bao nhiêu khuôn mặt đã bước trên con đường “nhiều máu “ấy. Trần Dần ghi. Bao nhiêu khuôn mặt đã đạt được sự “Đúng ” ấy. Trần Dần ghi. Bao nhiêu khuôn mặt đã vo ve sự “Đúng” ấy. Trần Dần ghi. Bao nhiêu khuôn mặt đã “Sai “. Trần Dần vẫn ghi. Cả đúng lẫn sai đều lầm than, đều dần đi tới chỗ tha hóa. Họ tan tác cả. Chính quyền đã thành công trong sự “giẻ rách hoá “con người, như lời Lê Đạt.
Ngày 16/4/1958, Trần Dần ghi:
“Hiện nay Nguyễn Hữu Ðang, Thụy An, Minh Ðức đã bị bắt, chẳng bao lâu sẽ ra tòa. Báo chí vẫn tiếp tục diệt đánh Nhân Văn Bộ 6 Giai Phẩm Mùa Xuân (tức là 6 người: Hoàng Cầm, Văn Cao, Lê Ðạt, Trần Dần, Sỹ Ngọc, Tử Phác). Bộ 6 đã buông nhau ra. Bọn Nhân Văn Giai Phẩm cũng ô rơ voa nhau hết [...] Sỹ Ngọc đóng cửa, miễn tiếp khách.
Bản thân tôi, do chỗ đã tự giác đình bản tư tưởng thù địch (thứ tự giác kết quả của áp lực…) nên mọi mặt khác, tôi cũng đình bản cả giao du, đình bản cả việc viết lách.
Có nên đi gặp những đồng chí lãnh đạo để hỏi những việc cần phải làm không? Ði thì lại sợ bị hiểu lầm. Nhưng nếu ngồi nhà, tiêu cực đợi, có khi còn bị hiểu lầm gấp bội. [...]
Bọn Ðang – Minh Ðức – Thụy An thân thì bị cầm tù, tội ác thì đem bêu đầu trên báo chí. Vai trò của bọn chúng trong các vụ phá hoại 3 năm đang được vạch trần.
Phan Khôi thì đóng cửa, nằm khàn, không đọc báo.
Trương Tửu, Trần Ðức Thảo làm gì?
Còn cả loại B chúng tôi hiện ra sao? Làm gì?
Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Ðạt đang tiếp tục kiểm thảo ở cơ quan, cùng với những Quang Dũng, Trần Lê Văn, v.v…
Chúng tôi đi sâu vào kiểm điểm sáng tác hơn nữa. Kiểm điểm sáng tác cho sâu mới thật là khó sao! Cứ như phải rứt bỏ một mảng thịt của mình.” (trích trang 244, 245)
“Tôi chịu cái hình phạt ấy, nhẫn nại và đau khổ. Hình phạt của một người bị bung dừ [...] Tôi vừa là một tội nhân, vừa phải cố tách mình ra, làm một đao phủ thủ, hành hạ cái chủ nghĩa xét lại có thực trong tôi và đám Nhân Văn.” (trang 260)
Phải nhận tội, phải cắt bỏ những mảng thịt của mình, phải tự chửi rủa mình, phải tìm gặp lãnh đạo, phải tố cáo bạn bè để xin một chút ơn huệ thừa, nhưng rồi cũng không ai thoát được guồng máy, không ai tránh khỏi bị ninh rừ.
Thành công lớn nhất của guồng máy là đã đánh vào những yếu tố thiêng liêng nhất của con người, đánh vào tình bạn, tình người, đánh tan tác hết.
Những người “Nhân Văn” không chết, nhưng họ bị rút máu, rút gân, rút dần sinh lực. Họ đều rời rã, đều muốn đầu hàng, nhiều người đã đầu hàng. Họ muốn được lãnh đạo thương xót, họ muốn được lãnh đạo đoái thương. Họ đã xuống đến đáy vực thẳm, họ chịu hết nổi. Họ sẵn sàng “chút lòng trinh bạch từ nay xin chừa” nhưng người ta vẫn lạnh lùng quay đi. Người ta vẫn không cho ngoi lên. Cái phận người nhỏ nhoi. Cái phận người Nhân Văn phải đi vài sa lầy, phải lún xuống, phải chịu nhận cái thời không nhân văn của dân tộc mình. Câm và điếc. Như là đã chết. Và điều đó chỉ có mỹ học khổ đau của Trần Dần mới viết nên được.


Thụy Khuê

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chế tạo thành công máy tạo sóng lớn nhất thế giới để chống lũ


Vừa qua, các nhà khoa học Hà Lan đã chế tạo ra máy tạo sóng nhân tạo lớn nhất thế giới nhằm giúp người dân sống tại những vùng trũng thấp thoát khỏi cảnh bị lũ lụt tàn phá
Để thực hiện dự án, chính phủ Hà Lan đã phải chi số tiền lên đến 26 triệu euro. Chiếc máy Delta Flume này sẽ tạo sóng bằng cách hút 9 triệu lít nước rồi bơm vào một hồ chứa với vận tốc 1.000 lít/giây sau đó đẩy một lượng lớn nước vào bức tường thép cao 10m. Nhờ đó, các nhà khoa học có thể tạo ra những con sóng có cường độ tương tự như lúc biển lặng, biển động, thậm chí như khi có sóng thần.
Sau đó, con sóng sẽ được truyền qua một bể hẹp dài 300 mét và tác động vào một loạt hệ thống chống lũ, như đê điều, các đụn cát, đập và một số rào cản khác, để kiểm tra các hệ thống này có thể chống chịu tốt tác động của lực nước lớn hay không.
Nguồn: ODN

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Việt Nam có gì, còn gì ?

Trong chuyến đi 3 nước 2006 : Malaysia - Thailand - Australia. Một ông anh lúc đó đang học Nghiệp vụ quản lý nhà nước và Tiếng Anh tại Singgapore (nay là 1 trong phó Giám đốc sở GTCC phụ trách tuyến Metro TP.HCM) chat qua Yahoo hỏi
- Mình so với Thái mà Malaysia thế nào em?
- Khoảng 50 năm lao động và 30 năm văn minh.
- Em có cần nói Việt Nam mình vậy không?
- Em nói thật : về kinh tế Hàng hóa họ có 65-75% nội địa hóa, Nông nghiệp 80% nội địa hóa. Chúng ta phải mất 50 năm theo kiểu phát triển hiện nay may ra theo kịp?
- So với Australia thì sao em ?
- 100 năm kinh tế - 200 năm văn minh.
- làm gì có chuyện đó, em hướng ngoại quá. hàng ngàn du hoc sinh của TP đang hoc các ngành và nghiệp vụ tại Úc mà.
- Anh tin cũng được, không tin cũng chẳng mất gì.

Sau đó khi gặp nhau cafe tại Sai gòn: Anh hỏi rõ về Khoảng cách với Australia.
Kinh tế : Australia : nội hóa nông nghiệp > 90%, đó là đất nước duy nhất mà người nông dân có mức sống cao hơn thành thị.
Công nghiệp và dich vụ : Nội địa hóa cao, sản phẩm chất lượng, chính sách thuế hợp lý, kinh tế thị trường quá phát triển.
Còn văn minh : họ đạt mức tự giác trên mọi phương diện : đi xe bus, ferry, Tàu lửa, metro tự cà thẻ, không soát vé. điểm dừng các ga tự động, Giao thông trật tự theo luật rất nghiệm túc, vào siêu thị không cần gởi hành lý, Giáo duc quốc tế hóa trên cơ sở rất phù hợp với mọi sắc dân và hiện đại.
Con người : nhiệt tình giúp đỡ nhau, du khách được đối xử công bằng, lich sự. Văn mình, sòng phẳng và ý thức.
Tài nguyên thiên nhiên được quản lý và bảo vệ chặt chẽ, quy hoạch nguồn nước, khoáng sản cho con cháu là 50 năm, họ không cho phép dùng cây rừng, Đá núi làm vật liệu xây dựng, không dùng đất sét làm gạch, từng hạt cát, vôi, cũng chắc chịu gìn giữ
- Ta cách họ 200 năm đúng không anh ?
- Chú quá tự ti rồi .....

Năm 2015 . 10 năm sau lần gặp ấy!
Việt Nam thừa nhật tut hậu với Thái 50 năm trên các phương tiện truyền thông báo chí
Các cửa hàng - siêu thị của các tập đoàn kinh doanh lớn đều là nơi phân phối 90% hàng hóa sản xuất - lắp ráp cho Trung Quốc.
Bạn có thể xác minh qua thực tế, Ngày 2/9/2015 mình cần 1 bàn ủi nước, ra Điện máy Xanh (thuộc tập đoàn siêu thị bán lẻ TGDD) xem 32 mẫu bàn ủi, 29 mẫu sản xuất và lắp ráp ở China, 1 indonêsia : giá 299.000, 1 malaysia giá 340.000 - 520.000" 1 cái là nhãn mác Nhật nhưng không ghi rõ nơi lắp ráp giá > 1triệu.
Anh nhân viên phuc vụ rất tận tình, chạy lăng xăng giới thiệu.
- Có cái bàn ủi nào của Việt Nam sản xuất hay lắp ráp không em ?
- Hình như không có anh ơi!
- Mắc chút cũng được em xem có không ?
- Hàng này công ty hợp tác lắp ráp với China, chất lượng tốt lắm !
- Sao không hợp tác với Doanh nghiệp VN cho dân Vn có việc làm nhỉ?
- Chi phí và kỹ thuật anh ơi !.

Qua Thiên Hòa, Chơ lớn .v.v. đều là nhưng nơi ra hàng cho China hết, Sản phẩm quốc nội dù là CKD lắp ráp thôi không đươc 10%, Nguyễn Kim thì hàng Thái là hầu hết.
Quyết định Không mua về sửa cái Philips sử dụng tiếp.

Chiều đi Coopmart (Hợp tác xã của Nhà nước) mua nhu yếu phẩm xong vào khu vực mua dụng cụ học tập cho Bin- Bo.
Không có 1 sản phẩm Việt nam ?????
Hộp bút, bút chì, bút lông, thước Made in China cả?
- Thôi mình về các con
- con thichi mấy bút chì và dụng cụ đó, màu đẹp quá!
- Nó là sản phẩm độc hại, nó sẽ giết các con khi sử dụng, nó sẽ giết dân tộc ta trong tương lai gần.

Về nhà tôi chở các con ra 1 nhà sách trên Đường Đồng Đen:
- Anh có bán Bút chì, bảng, Phần, thước 100% VN sản xuất không? "Thiên long" hay "Bến Nghé" đó
- Có nhưng hộp bút thì VN không sản xuất?
- 10 cây bút chì "Thiên long", 10 cây bút lông kim "Bến nghé". Cho em coi cái hộp bút dành cho tiểu học! tổng cộng 96.000. (bút chì Vn : 4.000/cây, ở Coopmart 4 cây bút chì china giá 9000VND)
- Của China nghen anh.
- Lai nó nữa, có của Thai hay bất kỳ nước nào khác không? có loại bằng gỗ thông như hồi xưa không, của Vn mình đó, kéo ra đậy vào?
- Không có,
Trời đất nước công nghiệp hóa - Hiện đại hóa : cái hộp bút bằng nhựa cũng phải nhập của ngoại bang

Các doanh nghiệp thương mại - dich vụ thì đang làm vai trò tuông hàng cho China, Doanh nghiệp sản xuất thì phá sản. Công nhân Vn thất nghiệp, các Doanh nghiệp FDI, ngay cả DN trong nước lại nhập khẩu gần cả triệu Công nhân Trung Quốc???? Nông dân thì bị bán phá giá , bán "lúa non" , thương lái theo China tẩm độc vào sản phẩm để đạt lợi nhuận và giết người tiêu dùng .v.v.

Việt Nam có gì, còn gì ??? hay chỉ là cô gái đẹp mặc trên mình cái áo rách và trang điểm lòe loẹt !

PS. Bạn hãy thực tâm trả lời ???
Hiển thị bớt
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những cái giá đau đớn phải trả cho ‘sự thần kỳ Nhật Bản


Ít ai thấy hết những hậu quả mà dân Nhật đã và còn đang hứng chiụ do những sai lầm trong việc phát triển quá nhanh và không đồng bộ, nặng về phần khối lượng hơn về phần chất lượng.
Nhật Bản là một nước đông dân, nghèo nàn về tài nguyên, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh, thế nhưng kinh tế Nhật Bản đã sớm phục hồi (1945-1954), phát triển cao độ (1955-1973) khiến cho thế giới phải ngạc nhiên và khâm phục. Hiện nay, Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu thế giới về khoa học và công nghệ, có nền kinh tế lớn thứ hai toàn cầu tính theo GDP.
Nhiều bài viết đã thần tượng hoá, gọi là “Thần kỳ Nhật Bản”. Nhiều quốc gia theo sau chọn mô hình của Nhật để phát triển kinh tế vì muốn có những thành tích kinh tế lừng lẫy như Nhật. Nhưng ít ai thấy hết những gì mà người nước Nhật đã đánh mất để có được, không đánh giá đúng những gì mà nước Nhật đã trả , không thấy hết những hậu quả mà dân Nhật đã và còn đang hứng chiụ do những sai lầm trong việc phát triển quá nhanh và không đồng bộ, nặng về phần khối lượng hơn về phần chất lượng.
Trong giai đoạn đẩy mạnh phát triển công nghiệp, nhiều nông dân Nhật đã rời bỏ nông thôn, di cư vào các đô thị để kiếm sống, một số bị ép bán đất đai để ưu tiên xây dựng nhà máy, sân gôn, khu nghỉ mát, phi trường mới v.v…. Đa số nông dân không có trình độ học vấn cao nên không kiếm được việc làm tốt và ổn định, chính vì thế họ trở thành những cư dân nay đây mai đó, kiếm sống ngày qua ngày, một số không may mắn trở thành ăn mày trên các đường phố, nhà ga. Vào những thập niên 1970, lúc còn du học tại Nhật bản, tôi đã chứng kiến tận mắt có rất nhiều người ăn mày, vô gia cư sống trong những ổ chuột của các nhà ga, các công viên ngay tại trung tâm Tokyo.
Một số vì quá bất mãn đâm ra loạn trí đã dùng dao đâm loạn đám đông đi qua nhìn họ với cặp mắt khinh bỉ, cũng có kẻ khùng điên đem đổ xăng vào xe buýt rồi đốt cháy v.v…Trong khi đó, tại nông thôn chỉ còn lại những ông già bà lão với những đàn ông là trưởng nam của gia đình phải ở lại để kế nghiệp cha mẹ, những người này không thể tìm được vợ, do đó đã xuất hiện nhiều công ty môi giới giới thiệu các cô dâu đến từ các nước nghèo Á Châu. Số người làm ngành nông càng ngày càng giảm đi, trở thành vấn đề nghiêm trọng trong tương lai. Trong khoảng thời gian này, nước Nhật được thế giới ca ngợi là “ Japan as number One”.
Tại những đô thị lớn như Tokyo,Osaka , những tòa nhà đồ sộ của chính phủ và tư nhân đua nhau mọc như nấm, dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến môi trường sinh sống của người dân trong các đô thị. Diện tích công viên cây xanh mất dần, đường xá chật hẹp, thường xảy ra nạn kẹt xe, khí thải của xe cộ làm ô nhiễm thành phố, việc xử lý rác thường và rác công nghiệp v.v… Thời đó, chính phủ Nhật đã có những quyết định dời các trụ sở của nhà nước ra ngoài trung tâm thành phố, thành lập những trung tâm vệ tinh, khuyến khích các xí nghiệp di chuyển ra ngọai ô, xây thêm phi trường mới (phi trường Narita hiện nay), qui định giờ giao thông của các xe tải hạng nặng. xây thêm nhiều cao tốc, thay đổi giờ làm việc của các xí nghiệp và các trường học, trồng thêm cây xanh, xây cất nhiều chung cư ở viền đai thành phố v.v…
Tỷ lệ chiếm hữu đất đai của các đại công ty càng ngày càng gia tăng, nhất là ở đô thị lớn. Tỷ lệ tư nhân làm chủ đất đai càng ngày càng giảm đi. Để đạt được những thành tựu về kinh tế, để kiếm được nhiều lợi nhuận, các công ty khuyến dụ nhân viên làm thêm giờ (zangyò). Nhân viên nghĩ rằng cuộc sống sẽ sung túc ra, nhưng thực chất họ không giàu thêm bao nhiêu, vì những chi phí cơ bản cho cuộc sống của con người như: giá bất động sản, chi phí giao thông, chi phí ăn uống, chi phí giáo dục cho con cái, chi phí y tế v.v… càng ngày càng leo thang với tốc độ nhanh hơn đồng lương mà họ kiếm thêm vào. Đó là chưa nói đến đời sống tinh thần, thời gian sinh hoạt của gia đình càng ít ỏi (Thời gian di chuyển trong một ngày mất gần 2 giờ, vào những ngày trong tuần, thời gian người cha, người chồng tiếp xúc với gia đình chỉ khoảng 4 giờ đồng hồ). Hạnh phúc gia đình bị hy sinh . Tỷ lệ sống độc thân càng ngày càng gia tăng, 4% vào năm1980 và dự đoán sẽ tăng đến 17% vào năm 2020.
Giới trẻ Nhật chịu sức ép lớn trong việc cạnh tranh để vào học các trường nổi tiếng, để xin việc làm ổn định trong các công ty lớn. Họ gặp nhiều khó khăn tài chính trong việc tìm kiếm một cuộc sống tự lập, phải trả một giá khá đắt cho việc thuê 1 căn phòng, do chế độ cho thuê nhà phi lý của các chủ nhà ở Nhật Bản. Người thuê phải trả nhiều chi phí như: 1 tháng tiền nhà cho người môi giới (Fudoya san) gọi là “chukai ryòkin”, 2 tháng tiền nhà để đặt cọc (gọi là shikikin), 1 tháng tiền nhà trả trước và 2 tháng tiền nhà để làm quà cho chủ nhà (gọi là reikin). Tổng cộng phải có đủ tiền để trả 6 tháng tiền nhà trước khi dọn vào ở . Có rất nhiều người trẻ hiện nay không muốn lập gia đình và không muốn có con vì thấy chi phí nuôi con và cho con đi học đại học vượt ngoài khả năng chứ đừng nói chi việc mua nhà cho mình.
Tỷ lê tự tử ở những người trẻ ngày càng cao do nhiều sức ép từ xã hội và nơi làm việc. Nhật bản là 1 trong những nước có tỷ lệ tự sát cao nhất thế giới, 70% là đàn ông mà phần lớn là những thanh niên dưới 30 tuổi. Mặc dù chính phủ Nhật đã bỏ ra 22,5 tỷ yên (tương đương 220 triệu đô la) cho chương trình chống tự sát để giúp đỡ những nạn nhân mắc hội chứng căng thẳng tâm lý và một số bệnh lý khác thoát khỏi giai đoạn khó khăn, để làm giảm tỷ lệ này, nhưng tỷ lệ vẫn gia tăng, hiện rõ nhất từ những năm 1990. Năm 2009 đã có trên 30 000 vụ tự sát, con số tương tự như vậy đã xảy ra liên tục trong 12 năm qua. Trung bình, mỗi ngày có 100 người Nhật tự sát.
Trong thời kỳ phát triển kinh tế cao độ, vào những năm 1950-1970, các chất độc hại được thải ra từ các công trường sản xuất đã làm ô nhiễm nước, không khí, thực phẩm, gây ra nhiều căn bệnh có hại cho con người. Người ta đã phát hiện ra nhiều căn bệnh ô nhiễm (công hại), trong đó có 4 căn bệnh công hại lớn nhất (四大公害病, yondai kōgai-byō) là: Bênh Minamata (水俣病) phát sinh năm 1956 tại Kumamoto-ken, là căn bệnh hội chứng thần kinh đầu tiên trong lịch sử nhân loại, gây ra bởi nhiễm độc thủy ngân. Bệnh dainiminamata (第二水俣病) phát sinh năm 1964 tại ShinNigata-ken. Bệnh suyễn Yokkaichi (四日市ぜんそく) phát sinh tại Mie-ken, shimane và Miyazaki-ken vào những năm 1962-1972. Bênh itai-itai (イタイイタイ病) phát sinh tại fukuyama vào những năm 1910-1970.
Trải qua 1 thời gian lâu dài gần hơn 30 năm đấu tranh đòi bồi thường của trên mười ngàn gia đình nạn nhân thấp cổ bé họng, kể từ khi phát hiện cho đến những năm 1975. Tòa án đã kết tội các công ty hóa chất như: Chisso, Showadenkò. Vào tháng 3 năm 2001, chính thức thừa nhận 2265 nạn nhân, trong số đó 1784 nạn nhân đã chết. Đến năm 2004, tại Toà án Tối cao của vùng Kansai, chính phủ và chính quyền vùng Kumamoto đã nhìn nhận trách nhiệm, cty Chisso bị phạt đền bù 86 triệu Yen. Vào tháng 10 năm 2007, Hội Hổ tương Nạn nhân bệnh Minamata, khoảng 2100 người chưa được giãi quyết, đã cùng khởi tố xí nghiệp và chính phủ, số tiền đòi bồi thường lên đến 2,28 tỷ yen. Tổng giám đốc cty Chisso từ chối . Tháng 7 năm 2009, Ủy ban đặc biệt phụ trách những vấn đề và cứu trợ các nạn nhân mắc bệnh Minamata được thành hình (gần trên 54 năm kể từ khi phát hiện căn bệnh). Vào tháng 3 năm 2010, chính phủ , chính quyền địa phương và cty Chisso đồng ý đền bù 2,1 triệu yen và chi phí điều trị cho mỗi nạn nhân. Đó là 1 trong những hậu quả mà dân Nhật đã và đang phải gánh chịu .
Theo tin tức của đài NHK, có khoảng 124 000 người Nhật di dân đi nước khác sinh sống. Khoảng năm 1977, lúc đang làm việc cho 1 công ty của Nhật tôi có dịp đọc 1 bài báo nói về dự tưởng tương lai của nước Nhật. Một học giả người nước ngoài đã kết luận là trong trương lai người Nhật sẽ di dân ra nước khác rất nhiều mặc dù người Nhật rất nặng tình với quê hương của họ. Có lẽ đây là thời điểm chín mùi vì 2 lý do chính có thể nêu ra như sau:
- Mất lòng tin với giới lãnh đạo: Nước Nhật đang trải qua thời kỳ chuyển giao quyền lực mới kể từ khi chiến tranh thế giới lần thứ 2. Lần đầu tiên đảng Dân Chủ lên nắm chính quyền ,đã hạ bệ đảng Dân chủ Tự do cầm quyền trong suốt 50 năm qua.Chính trị chưa ổn định vì chưa có nhà lãnh đạo được dân chúng tin tưởng thật sự.
-Đời sống kinh tế khó khăn: Do giá dầu và giá lương thực cao cộng thêm ảnh hưởng của sự suy thoái kinh tế toàn cầu.
Ngoài ra cũng có 1 vài vấn đề khác như :
- Việc xử lý rác công nghiệp, vì nước Nhật sản xuất ra nhiều mặt hàng điện tử nên phát sinh ra nhiều rác điện tử mà việc xử lý chúng cũng là chuyện nhức đầu không kém.
-Nạn bắt nạt trong trường học. Bô giáo dục cho biết có 124,898 vụ, tương đối nhiều hơn các nước khác.
-Có nhiều người già sống cô đơn, 3,8 triệu người sống 1 mình, con số này sẽ tăng đến 6,3 triệu trong 35 năm tới.
Ngày nay, Nhật Bản là một trong những quốc gia mà người dân có mức thu nhập khá cao trên thế giới. Nhiều người nước ngoài cho rằng cuộc sống ở Nhật Bản thật sung sướng vì lương bổng cao, phúc lợi tốt. Với đồng lương lãnh ở Nhật đem tiêu sài ở nước ngoài, nơi mà vật giá rẻ hơn nhiều , thì rõ ràng dễ mang lại ấn tượng người Nhật rất giàu có. Bản thân người Nhật cũng nghĩ rằng họ thuộc tầng lớp trung lưu. Tuy nhiên, nếu lấy tổng thu nhập của mỗi hộ gia đình trừ đi các khoản thuế, bảo hiểm, chi phí ăn uống, đi lại, tiện nghi, giáo dục cho con cái, v.v… thì chẳng còn lại bao nhiêu.
Theo thống kê năm 2008, thu nhập bình quân mỗi tháng của một hộ gia đình là 534 235 yên (khoảng 5000 đô la), sau khi trừ thuế thu nhập, thuế cư trú và các loại cước phí bảo hiểm như bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, bảo hiểm hưu trí, v,v… còn lại 442 749 yen (disposable income) .Trừ chí phí sinh hoạt (living expenses) là 324 929 yen, còn lại là 117 820 yen. Số tiền còn lại này dùng để trả nợ nhà, chi phí bảo hiểm nhân mạng, để dành. Nếu phải trợ cấp cho 1 hay 2 người con ăn học đại học ở trong các đô thị lớn thì rất chật vật. Riêng học phí của đại học cũng rất đắt : 158 718 yen ở trường công và 325 849 yen ở trường tư.
Đắt đỏ nhất ở Nhật Bản phải kể đến là giá nhà ở. Tuy giá đất ở Nhật đã giảm nhiều kể từ khi nền kinh tế thổi phồng sụp đổ, giá đất ở Tokyo và Osaka vẫn đắt nhất trên thế giới. Giá của 1 condo tại Tokyo khoảng 27 triệu yen , tức khoảng 5 lần lương 1 năm của 1 hộ gia đình.Giá của 1 căn nhà có đất tại Tokyo đắt kinh khủng, người dân bình thường không bao giờ mơ tưởng mua được. Khi mua nhà, người ta thường trả góp kỳ hạn 20-30 năm, nhưng ở Nhật người ta được phép trả góp lâu dài hơn. Một khoản chi phí lớn khác trong gia đình là chi phí ăn uống. Thực phẩm tại Nhật rất đắt so với nhiều nước khác trên thế giới.Thống kê cho thấy mức chi trung bình khoảng 70.000 yen 1 tháng, chiếm khoảng 20% chi phí sinh hoạt.
Tóm lại, nước Nhật là 1 nước văn minh và giàu có về vật chất nhưng chất lượng cuộc sống của người dân chưa được nâng cao đúng mức. Nước Nhật đã có những thành công đáng khâm phục nhưng cũng vấp phải những thất bại, hứng chịu những hậu qủa nghiêm trọng mà các nước theo sau nên học hỏi. Điều chắc chắn mà Việt Nam nên học của Nhật là: Tinh thần trách nhiệm, tinh thần tập thể, tôn trọng kỷ luật, tinh thần đoàn kết, tinh thần học hỏi cầu tiến, tính khiêm nhượng, biết người biết ta, tính sạch sẽ, tính đúng giờ và nhất là tính không nói dối nói khoác.
NGÔ KHÔN TRÍ (JAPANEST.COM)
Phần nhận xét hiển thị trên trang