Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2015

Cảng Hòn Khoai là chỉ dấu cho việc xây Kênh đào Kra?

kra

Nguồn: Graham Ong-Webb,  “New Viet port a clue to Kra Canal?”, The Straits Times, 20/08/2015.
Biên dịch: Nguyễn Thùy Giang | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Bàn tán về tuyến đường biển có thể sắp được xây dựng vẫn còn chưa kết thúc. Kênh đào Kra, nếu được hiện thực hóa, sẽ được xây cắt ngang eo đất Kra của Thái Lan, cho phép tàu thuyền không phải đi qua Eo biển Malacca cũng như trung tâm cảng Singapore.
Ý tưởng lâu đời về một kênh đào nối thẳng Vịnh Thái Lan với Ấn Độ Dương như vậy đang vấp phải nhiều nhạy cảm địa-chính trị khu vực. Các tiến triển gần đây cho thấy sự nhạy cảm gia tăng khi liên quan đến cả quan hệ Trung– Mỹ. Điều này càng rõ ràng hơn sau khi truyền thông Trung Quốc loan tin vào tháng 5 rằng Trung Quốc và Thái Lan đã ký một bản ghi nhớ tại Quảng Châu để xây dựng kênh đào Kra với chi phí khoảng 28 tỷ đô la Mỹ. Giới chức hai nước nhanh chóng bác bỏ thông tin trên chỉ trong vài ngày.
Tuy nhiên, điều đó không ngăn được những đồn đoán rằng dự án vẫn sẽ được triển khai.
Ngay tháng sau đó, Việt Nam tuyên bố sẽ xây một cảng biển nước sâu trị giá 2,5 tỷ đô la tại đảo Hòn Khoai, khoảng 17km ngoài khơi bờ biển Cà Mau – tỉnh cực nam của Việt Nam. Dự án đã được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thông qua.
Nhìn sơ qua, mọi mối liên hệ giữa Cảng Hòn Khoai và Kênh đào Kra mà giới tinh hoa chính trị và doanh nghiệp Thái Lan rất mong muốn – sẽ không rõ ràng. Nguyên do là cảng này đã được đặt trong một vấn đề bao trùm hơn là quyết định gia tăng nhập khẩu than để phục vụ nhu cầu năng lượng ngày càng lớn của Việt Nam.
Thật vậy, một bài báo của tờ Wall Street Journal đã chỉ đích danh Indonesia và Australia nằm trong số bốn nhà cung cấp năng lượng “hứa hẹn nhất” của Việt Nam, cùng với Trung Quốc và Ấn Độ. Nằm ngay giữa Vịnh Thái Lan và Biển Đông, Cảng Hòn Khoai có vị trí đắc địa để nhận hàng hóa từ Indonesia và Australia. Song quyết định xây dựng cảng không thực sự mang ý nghĩa kinh tế – cho đến khi kênh đào Kra mang lại cho cảng này một lượng tàu thuyền thương mại dồi dào.
Dự án đã trải qua hai lần thiết kế, song cả hai đều nhằm đáp ứng cả các loại hàng hóa khác bên cạnh than.
Thiết kế hiện tại là kết quả của một nghiên cứu khả thi được thực hiện bởi Tập đoàn Bechtel – công ty kiến trúc và xây dựng lớn nhất Hoa Kỳ, trong một thỏa thuận ký với doanh nghiệp Việt Nam là Vân Phong. Thiết kế này bao gồm 12 cầu cảng dự kiến, một nửa trong số đó sẽ được dùng cho nhập khẩu các mặt hàng khác ngoài than.
Thiết kế trước đó, do Cục Hàng hải Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp Úc N&M Commodities, dự kiến có tới 24 cầu cảng mà chỉ một nửa trong đó phục vụ cho nhập than. Phần còn lại phục vụ nhập khẩu hàng hóa, container, xăng dầu, khí hóa lỏng và các loại tàu Ro/Ro được thiết kế phục vụ vận chuyển hàng hóa có bánh xe – tức các mặt hàng sẽ đi qua Kênh đào Kra đến từ tận những nơi như Trung Đông và Châu Âu.
Nếu thỏa thuận hiện nay với Bechtel được thông qua, Cảng Hòn Khoai sẽ đóng dấu lợi ích kinh tế của Hoa Kỳ ngay tại trung tâm của bức tranh địa-kinh tế được định hình bởi sự biến đổi quyền lực mà Kênh đào Kra mang lại. Cùng với ảnh hưởng mạnh mẽ của Hoa Kỳ thông qua Bechtel, Cảng Hòn Khoai được cho là sẽ được tài trợ 85% vốn bởi Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hoa Kỳ (Ex-Im Bank). Ex-Im Bank là một cơ quan tín dụng hỗ trợ xuất khẩu của Mỹ.
Vai trò của Bechtel và Ex-Im Bank gần như là dấu hiệu cho động thái chiến lược của Hoa Kỳ nhằm đảm bảo nước này không bị gạt ra khỏi kiến trúc kinh tế châu Á được định hình bởi Trung Quốc.
Huyết mạch quan trọng cho Trung Quốc
Kênh đào Kra không chỉ biến Thái Lan trở thành một trung tâm hàng hải khu vực có thể lấn át các cảng trung tâm dọc eo biển Malacca của Singapore và Malaysia. Nó còn có vai trò như một huyết mạch quan trọng trong Con đường tơ lụa trên biển của Trung Quốc mà giờ đây là một phần trong kế hoạch “Một vành đai, một con đường” của nước này.
Nếu có sự tham gia của Trung Quốc thì chắc chắn Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng Châu Á (AIIB) mới thành lập – được thiết kế để tài trợ các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn – sẽ cân nhắc dự án này. Các thảo luận đượm màu dân tộc chủ nghĩa trên các cộng đồng ảo có ảnh hưởng của Trung Quốc như Thiết Huyết Luận Đàm (Tiexue Luntan) đã kêu gọi AIIB tiếp sức cho giấc mơ lâu đời của Thái Lan là xây dựng Kênh đào Kra.
Rốt cục, mối liên hệ giữa Kênh đào Kra và Cảng Hòn Khoai sẽ chỉ là phỏng đoán đơn thuần nếu truyền thông Việt Nam đã không đưa tin về dự án cảng này cùng lúc với cuộc họp Nội các chung Việt Nam – Thái Lan lần thứ ba được tổ chức tại Bangkok vào tháng 7 vừa qua.
Đáng chú ý, kết quả của cuộc thảo luận mới nhất giữa Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Thái Lan Prayut Chan-o-cha là một tuyên bố nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước của Liên hợp Quốc về luật Biển năm 1982, cũng như thúc đẩy đối thoại và tham vấn để đạt được Bộ quy tắc ứng xử giữa các bên ở Biển Đông.
Kênh đào Kra của Thái Lan và cảng Hòn Khoai của Việt Nam giờ đây cùng nằm trong cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung đối với các dự án hợp tác kinh tế tại ASEAN trong bối cảnh Trung Quốc tìm cách giành vị thế lãnh đạo khu vực – ít nhất là trong lĩnh vực kinh tế; còn Mỹ thì “tái cân bằng” sang châu Á nhằm duy trì ảnh hưởng của mình. Do cả hai dự án đều kề cận với Biển Đông – nơi mà căng thẳng Mỹ – Trung đang được bộc lộ tại đây – kênh đào Kra và cảng Hòn Khoai cần được nhìn nhận trong một bối cảnh trật tự khu vực rộng lớn hơn được sắp đặt bởi hai cường quốc này.
Graham Ong-Webb là nghiên cứu viên tại Viện Nghiên cứu Chiến lược và Quốc phòng tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, Singapore.
- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2015/09/14/cang-hon-khoai-kenh-dao-kra/#sthash.tcp1Dx1g.dpuf
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Gốc rễ những rối loạn kinh tế của Trung Quốc là gì?



Minxin Pei
Đỗ Tùng chuyển ngữ

Xem xét các phản ứng của thị trường tài chính đối với một loạt tin xấu gần đây về kinh tế Trung Quốc, rõ ràng cộng đồng doanh nghiệp toàn cầu đã không mảy may có ý niệm rằng "phép lạ kinh tế" Trung Quốc sẽ “lộ tẩy” một cách quá đột ngột. Nhưng đối với những người quen thuộc với các tác phẩm kinh tế chính trị viết về các chế độ bóc lột, việc Trung Quốc vấp ngã không chỉ là chuyện có thể xảy ra nhưng là chuyện không thể tránh khỏi.
Hầu hết những lãnh đạo doanh nghiệp và các nhà đầu tư có thể quá bận rộn nên không đọc một tác phẩm kinh điển và nhiều lý thuyết như "Tổ chức, thay đổi tổ chức và hiệu suất kinh tế, " của nhà sử học kinh tế đoạt giải Nobel là Douglass North, hoặc một cuốn sách dễ tiếp cận hơn, "Tại sao có những quốc gia thất bại" của Daron Acemoglu, kinh tế gia giảng dạy tại Học viện Kỹ thuật Massachusetts, và James Robinson, kinh tế gia giảng dạy tại Đại học Harvard. Những hiểu biết sâu sắc của các học giả này, là những người đã suy nghĩ thâm sâu về mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế, đáng được chúng ta quan tâm.
Khái niệm trung tâm của các học giả này là "nhà nước thú dữ" (predatory state), một từ của giới học thuật mô tả một chính phủ tham tàn. Mặc dù có những khác biệt ở bề ngoài trong cách giới cầm quyền "săn mồi" đối với xã hội, tính chất cốt lõi của một “nhà nước thú dữ” là việc sử dụng quyền lực chính trị để tự làm giàu của kẻ cầm quyền.
Nếu quyền lực của nhà nước bắt nguồn từ sự đồng ý của người bị trị và được hạn chế bởi các quy định của pháp luật, thì giai cấp cầm quyền sẽ có rất ít khả năng ăn cắp của người dân. Tuy nhiên, nếu kẻ cầm quyền đặt mình lên trên luật pháp và sử dụng bạo lực độc quyền của nhà nước để bảo vệ đặc quyền ăn cắp của họ, thì họ có thể bòn rút thu vén của cải của xã hội tùy thích. Các ví dụ nổi tiếng nhất trong lịch sử gần đây là Ferdinand Marcos ở Philippines và Mobutu Sese Seko của Zaire, cả hai đều là “quan tặc” (kleptocrats).
Một sự sang đoạt từ từ
Nhà nước bị “chế độ thú dữ” nắm quyền sẽ làm xã hội nghèo khổ. Hình thức bần cùng hóa cực đoan và thảm khốc nhất là việc cưỡng đoạt trắng trợn bởi những kẻ độc tài có một tầm nhìn ngắn hạn.
Các “chế độ thú dữ” tinh vi hơn, thường do các đảng phái chính trị độc tài có tổ chức chặc chẽ với một tầm nhìn dài hạn hơn nhiều, thì muốn có một chiến lược tinh tế và bền bỉ lâu dài hơn trong việc bòn rút của cải của xã hội. Thay vì ăn cắp ngay lập tức không thèm che dấu có thể làm tiêu tan vốn liếng tư bản của quốc gia và do đó đe dọa lợi ích lâu dài của bè đảng họ, “chế độ thú dữ” được kiểm soát bởi các đảng chính trị có tổ chức ăn cắp bằng những phương pháp gián tiếp, được ngụy trang và có tính thường trực.
Thông thường, họ đưa ra những quy tắc phức tạp để hạn chế sự di chuyển vốn (vốn di chuyển tự do thì khó ăn cắp), làm cho quyền sở hữu bấp bênh (tài sản không được luật pháp bảo vệ thì ăn cướp dễ dàng hơn), kiểm soát khu vực ngân hàng (một cách đánh thuế dân chúng bằng lãi suất âm và ban phát tín dụng cho khách hàng ưu đãi), duy trì các doanh nghiệp nhà nước lớn (để chuyển tài sản đến những kẻ cầm quyền là người kiểm soát các công ty này), và độc quyền các ngành chủ chốt (để đánh thuế lên xã hội một cách gián tiếp).
Nếu so sánh thì rõ ràng chế độ thú dữ tập thể phức tạp hơn nhiều so với chế độ thú dữ cá nhân và có xu hướng duy trì quyền lực lâu dài hơn. Mặc dù phương pháp “ăn cắp từ từ” (slow theft) như vậy có thể ít tệ hại hơn loại cướp bóc nhanh (fast plunder), các doanh nghiệp tư nhân và người dân thường vẫn không thoải mái khi sống dưới chế độ như vậy vì một phần lớn của cải mà họ phải khó nhọc tạo ra bị lấy đi mà không có sự đồng ý của họ. Cho dù các hệ thống “ăn cắp từ từ” có tinh vi phức tạp và ngụy trang khéo đến mấy thì cuối cùng người dân và doanh nghiệp tư nhân cũng sẽ nhận ra bộ mặt thật của hệ thống và sẽ mất đi động lực làm việc. Hơn nữa, cho dù một hệ thống với các phương pháp “ăn cắp từ từ” có thể sản xuất ra nhiều của cải hơn so với một hệ thống cướp bóc nhanh chóng, nó vẫn là một hệ thống kinh tế cực kỳ thiếu hiệu quả. Dưới một hệ thống như vậy, nguồn tài nguyên quý giá bị lãng phí vào các dự án mà kẻ cầm quyền ưa chuộng vì các dự án này có thể giúp họ đảm bảo sự hỗ trợ chính trị hay mang lợi ích cho gia đình và bạn bè của họ.
Xét theo góc nhìn về nhà nước thú dữ cho chúng ta một cái nhìn sâu hơn và đáng lo ngại hơn về nguyên nhân suy thoái kinh tế của Trung Quốc. Nếu chúng ta quan sát các tổ chức kinh tế chính yếu của Trung Quốc và cách hoạt động của họ, chúng ta có thể nhanh chóng phát hiện một hệ thống cổ điển của sự “ăn cắp từ từ”: một tài khoản vốn khép kín, tài sản tư nhân không được bảo vệ hữu hiệu, độc quyền nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng và các ngành công nghiệp chủ chốt (như viễn thông và năng lượng), các doanh nghiệp nhà nước khổng lồ (chiếm ít nhất một phần ba tổng sản phẩm trong nước), và ngân sách của chính phủ hoàn toàn thiếu minh bạch.
Cái ít tệ hại hơn giữa hai cái xấu
Một câu hỏi là làm thế nào cái hệ thống “ăn cắp từ từ” lại có thể tạo ra phép lạ kinh tế trong hơn 35 năm qua. Câu trả lời cũng dễ tìm thôi. Thiếu hiệu quả kinh tế luôn luôn là sự tương đối. Hệ thống “ăn cắp từ từ” có thể kém hiệu quả hơn so với hệ thống tư bản chủ nghĩa tự do trong đó sự cướp bóc bởi nhà cầm quyền được hạn chế ở mức tối thiểu, nhưng nó lại hiệu quả hơn hệ thống cướp bóc nhanh. Có hai yếu tố trong trường hợp của Trung Quốc - một lịch sử và một cấu trúc - đã cho phép các hành động “ăn cắp từ từ” tiếp tục mà không làm chậm đi sự tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ hậu - Mao Trạch Đông.
Sự thật lịch sử là hệ thống “ăn cắp từ từ” đã thay thế một hệ thống trước đó còn tồi tệ hơn nhiều: hệ thống cầm quyền toàn trị theo chủ nghĩa Mao đã hoàn toàn ngăn cấm kinh tế tư nhân và việc tạo ra của cải. Chắc chắn rằng chỉ một việc từ bỏ chủ nghĩa Mao đã cởi trói cho sự năng động kinh doanh và chuyển hướng hoàn toàn nền kinh tế Trung Quốc, mặc dù điều này khó có thể định lượng.
Các yếu tố khác đã làm hệ thống “ăn cắp từ từ” tiếp tục được mà không phá hủy nền kinh tế là một số các điều kiện và biến cố xảy ra một lần nhưng vô cùng thuận lợi, chẳng hạn như dân số trẻ, di cư từ nông thôn ra thành thị, toàn cầu hóa và sự gia nhập của Trung Quốc vào Tổ chức Thương mại Thế giới. Những yếu tố này đã đẩy mạnh nền kinh tế đến một mức thành quả cao như vậy nên Trung Quốc có thể thực hiện “ăn cắp từ từ”, và tốt nhất được hiểu như là một hình thức đánh thuế.
Nhưng khi Trung Quốc hụt hơi về mặt kinh tế, quốc gia không còn khả năng để trả mức giá này. Quan trọng hơn, số liệu thống kê kinh tế và tài chính của Trung Quốc càng lúc càng được phơi bày, đặc biệt là núi nợ của chính quyền địa phương và các doanh nghiệp nhà nước, cho thấy rằng việc “ăn cắp từ từ” tích lũy lâu dài có thể tác hại như cướp bóc nhanh.
Phân tích nghiêm trọng này cho thấy rằng các thách thức cơ bản của Trung Quốc là chính trị, không phải là kinh tế. Điều kiện tiên quyết cho những cuộc cải cách chân chính cần thiết để hồi sinh năng động kinh tế là tháo bỏ nhà nước thú dữ và hệ thống “ăn cắp từ từ”. Nhưng đây là một nhiệm vụ không thể thực hiện, bởi vì hoàn thành nhiệm vụ này đồng nghĩa với chuyện phá hủy các nền móng kinh tế của sự cầm quyền của đảng Cộng sản Trung Quốc. Những ai không tin vào cái lý luận có tính vận mạng này nên đọc "Tại sao Quốc Gia Thất Bại" và hãy nhìn vào các nước giàu nhất trên thế giới. Họ sẽ thấy rằng ngoại trừ đối với các nước sản xuất dầu mỏ, là nơi các nhà lãnh đạo có thể ăn cắp từ thiên nhiên, tất cả các xã hội giàu có khác được cai trị bởi các quy định của pháp luật và do đó không có cả hai loại “ăn cắp từ từ” và cướp bóc nhanh.
Minxin Pei là một giáo sư về chính thể tại Claremont McKenna College và một thành viên cao cấp không cư trú của German Marshall Fund của Hoa Kỳ.
Nguyên tác tiếng Anh đăng ngày 7/9/2015 tại http://www.gmfus.org/commentary/root-chinas-economic-troubles-its-politics-stupid
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện về mối tình đầu của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nổi tiếng về tài tiên tri, để lại những câu sấm ký huyền bí tiên đoán về thời cuộc nhưng ít ai biết mối tình đầu tuyệt đẹp của Trạng Trình.
trang-trinh-1Khi nói tới Nguyễn Bỉnh Khiêm, người ta thường nghĩ đến một vị Trạng nguyên tài ba tha thiết với việc dân việc nước, sống liêm khiết, ngay thẳng và đặc biệt là rất giỏi tiên tri, để lại cho đời những câu sấm ký huyền bí tiên đoán về thời cuộc, vận mệnh của một vương triều, một quốc gia trong giai đoạn nhất định, vì vậy ít ai biết rõ về đời tư của ông.
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) tên chữ là Hạnh Phú, hiệu là Bạch Vân tiên sinh, biệt hiệu Tuyết Giang phu tử; người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, thừa tuyên Hải Dương (nay là làng Trung Am xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng). Đỗ Trạng nguyên khoa Ất Mùi (1535), đời Mạc Thái Tông (Đăng Doanh), làm quan đến chức Tả thị lang bộ Lại kiêm Đông các đại học sĩ, rồi Thượng thư bộ Lại, tước Trình tuyên hầu, sau được phong tước Trình Quốc Công nên thường được gọi là Trạng Trình.
trang-trinh-2
Tem kỷ niệm danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm (hình minh họa)
Khi đến tuổi trưởng thành, ngoài chuyện học hành, văn chương, thơ phú, Nguyễn Bỉnh Khiêm có sở thích cùng bạn bè dạo chơi, thăm thú các danh lam, thắng cảnh và trong một lần đi du ngoạn, ông đã gặp mối lương duyên đầu tiên của mình. Hôm đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm đi qua đất Hà Dương (nay là xã Hà Dương, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng) thì tình cờ gặp một cô gái đi gánh nước. Trông "người yểu điệu, nét hảo cầu", duyên dáng, xinh đẹp khiến cho chàng trai họ Nguyễn ngẩn ngơ, xao xuyến đem lòng yêu mến, cứ tiến đến gần nhìn say đắm làm cô gái xấu hổ vứt cả quang gánh bỏ chạy.
Nguyễn Bỉnh Khiêm giật mình như tỉnh mộng vì hành động có phần "sỗ sàng" của mình nhưng không biết nói sao chỉ trông theo thở dài. Chợt thấy chiếc đòn gánh dưới đường, chàng cúi xuống nhặt lên và nảy ra một ý, viết lên trên đó bốn chữ "Huyền lý hảo cầu" rồi bỏ đi.
Cô gái chờ cho chàng trai lạ mặt đi xa mới quay lại lấy đòn gánh, đọc thấy dòng chữ nhưng không hiểu có ý là gì bèn vội vàng trở về thưa chuyện với cha. Thấy con gái mình mặt còn đỏ lên vì ngượng, lại hỏi ngay ý tứ của dòng chữ trên đòn gánh, biết có chuyện vui, người cha đọc to bốn chữ rồi cười lớn và giải thích "Huyền lý hảo cầu" nghĩa là từ nơi xa đến tìm điều tốt lành. Nói xong ông hỏi con gái:
- "Ai viết cho con những chữ này?".
Cô gái đáp:
- "Dạ, đó là một anh học trò qua đường!".
Nghe xong, ông lại cười mà nói:
- "A, phải chăng chàng trai này muốn nói mình từ nơi xa đến tìm người con gái tốt để làm hồng nhan tri kỷ? Với khẩu khí này ta đoán cậu ta là học trò yêu của quan Bảng nhãn Lương Đắc Bằng chứ không sai".
Thấy cha vui cười, lòng cô gái xốn xang vội lánh vào phòng để che giấu tình cảm của mình đang thể hiện rõ trên khuôn mặt xinh đẹp. Dù không dám hỏi nhưng cô đã biết rõ tên của người ấy, một chàng trai nổi tiếng thông minh mà cha cô thường khen ngợi mỗi khi nhắc tới những học trò của người bạn đồng liêu.
trang-trinh-3
"Tình trong như đã, mặt ngoài còn e" (Tranh minh họa)
Không lâu sau đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhận được giấy mời của cha cô gái gánh nước mà chàng tình cờ đã gặp và kể từ đấy cuộc tình duyên thắm đẹp giữa hai người chính thức được bắt đầu với sự vun vén của hai gia đình, cuối cùng là lễ thành hôn của đôi trai tài gái sắc.
Các tư liệu không cho biết tên người vợ cả (chính thất) của Nguyễn Bỉnh Khiêm, chỉ biết rằng bà họ Dương, hiệu là Từ Ý, ái nữ của Dương Đức Nhan, ông đỗ tiến sĩ năm Quý Mùi (1463), làm quan đến Hình bộ hữu thị lang, tước Dương xuyên hầu và là tác giả của tuyển tập thơ 5 quyển rất nổi tiếng gọi là "Tinh tuyển chư gia luật thi" (gọi tắt là Tinh tuyển thi tập, Cổ kim thi gia tinh tuyển), gồm 472 bài thơ của 13 tác giả từ cuối đời Trần đến đầu thời Lê.
Trâm Anh
Theo Lê Thái Dũng / PNO
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nỗi đau có thật ( ảnh của N.T.S )



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Về chiếc HKMH siêu đẳng của Mỹ sắp sửa vận hành


Hải quân Mỹ cho hạ thủy Hàng không mẫu hạm hiện đại nhất thế giới CVN-78 USS Gerald Ford tại thành phố Newport News, tiểu bang Virginia vào sáng 9-11-2013. Đây là HKMH đầu tiên thuộc lớp Gerald R. Ford, sau nó còn 2 chiếc nữa là USS John F. Kennedy (CVN 79, đang được đóng) và USS Enterprise (CVN 80). 
Các tàu này sẽ dần thay thế lớp HKMH vận hành bằng năng lượng hạt nhân Nimitz (đóng lần đầu vào năm 1968, chiếc mới nhất và là chiếc sau cùng thuộc lớp này là USS George H.W. Bush, năm 2003).
 
left align image
Ngày 9-11, hải quân Mỹ đã chính thức làm lễ hạ thủy và đặt tên cho siêu tàu sân bay đầu tiên CVN-78 USS Gerald Ford thuộc lớp Ford. Nghi thức này đánh dấu thời điểm nó chính thức được đưa vào sử dụng. Trước đây, vào ngày 10-10-2013, siêu tàu sân bay này đã được chính thức làm lễ “rửa tội”, đích thân con gái cố Tổng thống Mỹ Gerald Ford là bà Susan Ford là người đã nhấn nút xả nước con tàu. USS Gerald R. Ford đã được thử nghiệm với 400 triệu lít nước. Ngày 17.11, USS Gerald R. Ford (CVN-78) đã lần đầu tiên ra khỏi bến đậu. Một chiếc tàu kéo đã kéo tàu sân bay ra biển, di chuyển gần 2km. Hiện tại tàu sân bay USS Gerald R. Ford đang được neo đậu bên cạnh người đồng nghiệp USS Enterprise (CVN-65) đã nghỉ hưu vào tháng 12 năm ngoái. USS Gerald R. Ford sẽ thay thế tàu sân bay Enterprise để tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ của Hải quân Mỹ vào tháng 3- 2016. Theo số liệu được cung cấp của nhà máy đóng tàu, CVN-78 dài khoảng 333 mét, cao 77 mét, sàn đáp rộng 78 mét, lượng giãn nước trên 110.000 tấn, nặng gấp 400 lần tượng “Nữ thần tự do” của Mỹ. Để sơn hết toàn bộ thân tàu người ta đã phải sử dụng hết khoảng 757.000 lít sơn màu xám chì, số sơn này đủ để che phủ toàn bộ tòa Bạch Ốc… 350 lần. 

Với lượng giãn nước cao hơn khoảng gần 20.000 tấn, nhìn chung thiết kế tổng thể của tàu trông khá giống các tàu sân bay lớp Nimitz hiện đang hoạt động nhưng sàn đáp của USS Gerald Ford cao hơn nhiều so với Nimitz. Diện tích mặt boong cũng rộng hơn đáng kể, đồng nghĩa với việc các hàng không mẫu hạm lớp Ford đáp ứng được nhiều lượt bay cùng một thời điểm hơn và có nhiều không gian bảo trì các chiến đấu cơ hơn.Nếu như các HKMH lớp Nimitz có tháp chính nằm giữa thân tàu thì tàu sân bay lớp Ford lùi về phía cuối khoảng 50m, về hình dạng và kích thước của nó dường như nhỏ hơn 1 nửa, trông không “uy phong” như tháp chính của tàu sân bay kiểu cũ. Tuy nhiên, không gian bên trong của nó lại rộng hơn, chứng tỏ thiết kế hợp lý hơn, để có được nhiều không gian mặt boong hơn. USS Gerald R Ford có thể mang theo trên 90 máy bay các loại, bao gồm cả máy máy cánh cố định và trực thăng với đủ chủng loại cảnh báo sớm, tác chiến chống ngầm, tác chiến điện tử… Đặc biệt, nó được trang bị “cặp song sát” là máy bay chiến đấu tàng hình thế hệ thứ 5 F-35C và máy bay trinh sát/tấn công không người lái tàng hình (UCAV) X-47B. Hai loại máy bay chiến đấu tàng hình có và không người lái hiện đại này sẽ giúp HKMH lớp Ford có khả năng xuyên phá qua mọi hệ thống phòng không tiên tiến nhất thế giới. Bảo đảm được tần suất và số lượt chiếc máy bay xuất kích ngày càng gia tăng trong tác chiến hiện đại là mục tiêu then chốt của bất cứ hàng không mẫu hạm nào. Được trang bị hệ thống máy phóng và thiết bị hãm điện từ, USS Gerald Ford sẽ phóng máy bay ra khỏi sàn tàu một cách nhẹ nhàng và thu hồi máy bay hạ cánh an toàn hơn sử dụng máy phóng hơi nước và thiết bị hãm đà kiểu cũ. Ước tính hiệu suất hoạt động mỗi ngày của USS Gerald Ford sẽ cao hơn 25% so với các HKMH lớp Nimitz hiện đang sử dụng của Hải quân Hoa Kỳ. Tính đa dạng trong tác chiến của hàng không mẫu hạm sử dụng máy phóng điện từ chính là khả năng bảo đảm hoạt động bình thường cho tất cả các loại máy bay mà nó mang theo. Máy phóng sử dụng hệ thống động lực điện từ có tính năng ưu việt, dễ dàng kiểm soát chính xác lượng điện phát ra, có thể dễ dàng phóng luân phiên hoặc xem kẽ các loại máy bay không người lái và có người lái với trọng lượng cất cánh từ vài tấn đến vài chục tấn mà chỉ cần thay đổi một vài tham số điều khiển. 
 

 
 
 
 
 
 
 
Hàng không mẫu hạm này được chế tạo với mục đích trở thành tàu sân bay lớn nhất, mạnh nhất thế giới. Với cường độ tác chiến mức cao nhất, siêu HKMH này có thể duy trì mật độ mỗi ngày đêm xuất động 220 lần chiến đấu cơ, tác chiến liên tục trong 5 – 7 ngày. Trong cường độ tác chiến mức độ trung bình, mỗi ngày nó có thể huy động 180 lượt máy bay, tấn công 1500 mục tiêu trong thời gian 1 tháng liền. Do thiết kế tối ưu và áp dụng các công nghệ cao nên CVN-78 có trình độ tự động hóa cao hơn hẳn so với các HKMH lớp Nimitz. HKMH lớp Ford chỉ cần 4.660 thủy thủ, ít hơn so với HKMH lớp Nimitz 700 người, nó cũng chỉ cần đến 3 thang máy nâng, hạ tiêm kích hạm so với 4 của các tàu sân bay kiểu cũ. HKMH Ford class còn được áp dụng một số công nghệ đỉnh cao như radar mảng pha điện tử thế hệ mới nhất, hệ thống phòng thủ laser trên hạm, hệ thống thông tin dạng lưới đa cực.
Với khả năng phòng thủ/tấn công siêu hạng của mình, CVN-78 xứng đáng trở thành siêu tàu sân bay lớn nhất, hiện đại nhất và mạnh mẽ nhất thế giới từ trước đến nay. Sau khoảng hai năm rưỡi huấn luyện và đào tạo, vào khoảng tháng 3 năm 2016 “Ford” sẽ được bàn giao cho Hải quân Mỹ và chính thức bước vào hoạt động. HKMH này sẽ phục vụ cho tới năm 2057 với nhiệm vụ tuần tra vùng biển và bảo vệ nước Mỹ trong thế kỷ tới.Hải quân Mỹ dự định sẽ đóng ít nhất là 3 tàu sân bay thuộc lớp Ford bao gồm: CVN-78 USS Gerald R. Ford, CVN-79 USS John F. Kennedy, CVN-80 USS Enterprise. Hiện nay, công tác triển khai chế tạo CVN-79 đã bắt đầu được tiến hành nhằm đảm bảo duy trì vị thế thống trị thế giới cho lực lượng hải quân Mỹ trong thế kỷ 21.
 

 
Các quan chức Hải quân Mỹ đang đặt kỳ vọng vào các loại vũ khí năng lượng định hướng như vũ khí laser, nói rằng vũ khí laser thậm chí còn có thể thay thế một số hệ thống tên lửa hiện có của nước này với sức hủy diệt khủng khiếp hơn rất nhiều trên các HKMH thế hệ mới nhất. 

Nhà báo Mỹ – Zachary Keck cho biết, Hải quân Mỹ đang xem xét khả năng trang bị cho các tàu sân bay thế hệ tiếp theo, Ford class, của nước này với các loại vũ khí laser vượt trội. Trích dẫn nguồn tin từ phó Đô đốc Michael Manazir – Giám đốc Trung tâm Khí tài Không quân của Mỹ, nhà báo trên chỉ ra rằng, tàu sân bay thế hệ mới có nền tảng hoàn hảo để triển khai các loại vũ khí laser. Hiện tại, loại vũ khí này có thể được sử dụng chỉ với mục đích phòng thủ, tuy nhiên, Phó Đô đốc Manazir tin rằng, khi công nghệ ngày càng phát triển vượt trội, hàng không mẫu hạm Mỹ có thể được trang bị công nghệ tấn công bằng laser mới. 
 

 
Với khả năng phòng thủ/tấn công siêu hạng của mình, CVN-78 sẽ trở thành siêu HKMH lớn nhất, hiện đại nhất và mạnh mẽ nhất thế giới từ trước đến nay.

“HKMH USS Gerald Ford sử dụng hệ thống phân phối điện 13.800 volt, gấp ba lần so với các tàu sân bay lớp Nimitz, 4.160 volt”, ông Keck cho biết. Ông cũng tiết lộ thêm rằng, HKMH USS Gerald Ford sẽ dùng nguồn năng lượng này để vận hành Hệ thống phóng máy bay bằng điện từ (EMALS), phần còn lại có thể được sử dụng cho những vũ khí năng lượng định hướng (Directed Energy Weapon-DEW) và súng điện từ railgun. Bằng việc triển khi vũ khí năng lượng định hướng trên tàu sân bay, Hải quân Mỹ muốn giải quyết các vấn đề mà các hệ thống phòng thủ tên lửa truyền thống vẫn đang gặp phải. 

Trước nhất, nếu sử dụng vũ khí năng lượng định hướng thì chi phí sẽ thấp hơn rất nhiều so với các hệ thống phòng thủ tên lửa truyền thống và còn tăng cương sức mạnh phòng thủ cho HKMH. Thứ nữa, các tàu sân bay chỉ có không gian giới hạn nên chỉ có thể được trang bị các hỏa tiễn với số lượng nhất định. Các chuyên gia tin rằng, vũ khí laser có thể giải quyết được cả hai vấn đề trên. 

“Trên thực tế, Hải quân Mỹ đã vận hành một hệ thống vũ khí năng lượng định hướng, có tên Hệ thống Vũ khí Laser (LaWS), đang được triển khai trên tàu USS Ponce. Nó về cơ bản được triển khai nhằm đối phó với các mối đe dọa đến từ các phương tiện bay không người lái của Iran cũng như các tàu nhỏ có thể được sử dụng để nhấn chìm tàu của Hải quân Mỹ trên Vịnh Ba Tư”, ông Keck nói thêm. USS Ponce là tàu chiến đầu tiên của Mỹ được trang bị pháo laser trị giá 40 triệu USD. Ở thời điểm hiện tại, vũ khí laser của Mỹ vẫn quá nặng và cần nhiều năng lượng, khiến nó không phù hợp với máy bay chiến đấu. 

Tuy nhiên, các loại vũ khí năng lượng định hướng vẫn cần được nghiên cứu, cải tiến thêm, nhà báo trên nhấn mạnh, viện dẫn báo cáo của Trung tâm An ninh Mỹ Mới. Báo cáo trên cho rằng: “Một số loại vũ khí có nhiều hứa hẹn và đạt đúng kỳ vọng nhưng một số loại lại không thể đáp ứng được kỳ vọng – như vũ khí năng lượng định hướng”. 

Trước đó, Phó đô đốc Thomas Moore, Giám đốc chương trình HKMH của hải quân Mỹ từng nói rằng: “Vũ khí Laser cần một nguồn năng lượng 300 kW mới có thể bắt đầu hoạt động hiệu quả, đặc biệt khi kết hợp với súng điện từ railgun. Trong tương lai, vũ khí laser có thể thay thế một số hệ thống tên lửa hiện nay và tỷ lệ tiêu diệt chính xác mục tiêu cũng sẽ cao hơn”. 

Siêu HKMH USS Gerald R. Ford của Mỹ hiện đang gặp phải hàng loạt vấn đề về hoạt động, thậm chí là những thất bại liên tiếp trong các cuộc thử nghiệm kể từ khi hạ thủy. 

Tờ Boston Globe dẫn một bản báo cáo, Director, Operational Test, and Evaluation – DOT&E report- của Ngũ Giác Đài tiết lộ USS Gerald R. Ford đang gặp phải hàng loạt vấn đề về hoạt động, thậm chí là những thất bại liên tiếp trong các cuộc thử nghiệm về khả năng phóng và thu hồi máy bay chiến đấu. Ít nhất 4 hệ thống tối quan trọng trên con tàu cho thấy khả năng hoạt động yếu kém hoặc thiếu tin cậy. “Độ tin cậy yếu kém của những hệ thống quan trọng nói trên có thể gây ra một chuỗi những sự chậm trễ trong suốt hoạt động bay, làm ảnh hưởng đến khả năng xuất kích máy bay của con tàu, khiến con tàu dễ bị tổn thương trong các cuộc tấn công hoặc chí ít là gây ra những hạn chế đối với các hoạt động tác chiến theo lộ trình”, bản báo cáo viết. Khoảng 60% các hệ thống trên tàu sân bay Gerald R. Ford sẽ chạy bằng năng lượng hạt nhân như những tàu sân bay trước đó, dựa trên thiết kế của lớp Nimitz, trong khi đó 40% còn lại là các bộ phận mới hoàn toàn gồm một đường băng rộng hơn và các hệ thống công nghệ cao. Trong đó, rất nhiều công nghệ mới hiện đang gặp phải những vấn đề nghiêm trọng. Đầu tiên phải kể đến hệ thống phóng máy bay điện từ vốn được kì vọng thay thế hệ thống phóng máy bay sử dụng hơi nước. Hệ thống này sử dụng một motor điện công suất 100.000 mã lực, có khả năng phóng lần lượt nhiều loại máy bay khác nhau ở nhịp độ nhanh. Tuy nhiên, các cuộc thử nghiệm trên bộ đối được tiến hành ở New Jersey ho thấy hiệu suất thành công là 240 đợt phóng (không gặp phải trục trặc nào), trong khi đó lẽ ra trong giai đoạn phát triển hiện tại của tàu sân bay Gerald Ford, hiệu suất trên phải là 1.250 đợt. 

Hệ thống cáp hãm đà sử dụng để giảm tốc độ máy bay khi hạ cánh trên boong tàu, cũng thể hiện độ tin cậy không như dự tính. Trong những lần thử nghiệm vừa qua, hệ thống trung bình xử lý được 20 lần hạ cánh mà không gặp phải thất bại nào. Thực tế này kém xa so với mức 4.950 lần hạ cánh thành công cần đạt được, đó là chưa kể đến mục tiêu cuối cùng của hệ thống này là 16.500 lần thành công liên tiếp. Nếu như hàng loạt vấn đề trên không được giải quyết, các nhà thử nghiệm vũ khí của Ngũ Giác Đài cảnh báo rằng siêu HKMH Gerald Ford sẽ không thể đáp ứng được số lần xuất kích trong chiến tranh mà các nhà lập kế hoạch tác chiến của Hải quân Mỹ đề ra. Thay vào đó, với hoạt động như hiện nay, cần có hai tàu sân bay như trên mới đạt được hiệu xuất được kỳ vọng ở một chiếc. Các hệ thống phóng và hạ cánh trên đều do hãng General Atomics chế tạo. Hiện tại lãnh đạo của hãng này từ chối phản hồi về các vấn đề đặt ra. Bản đánh giá cũng nêu ra những mối lo ngại về tiến trình sản xuất radar băng tần kép mà hãng Raytheon thiết kế. Radar này đang được thử nghiệm dọc bờ biển Virginia, được kỳ vọng có thể thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau như kiểm soát không lưu, quét tìm kiếm các mối đe dọa tiềm tàng ở mọi hướng và thu thập dữ liệu có thể tích hợp vào máy tính của các hệ thống vũ khí. Tuy nhiên, có rất ít thông tin về độ tin cậy của hệ thống radar mới này, mặc dù có tới 80% các bộ phận của hệ thống đã được bàn giao cho Hải quân. Hãng Raytheon cũng chưa đưa ra phản hồi nào về vấn đề này. Hiện tại, cũng chưa rõ hệ thống thang máy hỗ trợ các vũ khí chủ chốt của con tàu có hoạt động như mong đợi hay không. 

Theo đánh giá của J. Michael Gilmore, một quan chức thuộc Ngũ Giác Đài phụ trách công tác thử nghiệm và đánh giá hoạt động của các hệ thống vũ khí cho hay một số hệ thống khác như thông tin liên lạc cũng hoạt động kém hơn mức tiêu chuẩn cho phép. Gilmore cho rằng hiện Hải quân Mỹ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc thiết kế lại những bộ phận chủ chốt của con tàu. Để xoa dịu dư luận, trong một cuộc phỏng vấn, Phó Đô đốc Thomas J. Moore, sĩ quan điều hành các chương trình tàu sân bay, đã bày tỏ sự tin tưởng rằng cho đến khi chính thức bàn giao để đi vào hoạt động chính thức tháng 3 vào năm tới, Hải quân Mỹ và các nhà thầu sẽ vượt qua những trở ngại hiện nay. “Những công nghệ mới này tạo ra rất nhiều thách thức phát triển, chúng tôi không đồng tình với những nguy cơ nói trên. Đây vẫn sẽ là một con tàu lý tưởng, mang lại những khả năng mà các thế hệ tàu sân bay trước đó không thể có được” – Moore nói. Tuy nhiên, Hải quân Mỹ lại từ chối đưa ra những nhìn nhận chi tiết về bản đánh giá nói trên và không đề cập cụ thể việc những trục trặc trên sẽ ảnh hưởng như thế nào tới kế hoạch bàn giao, chi phí và hiệu quả chiến đấu của con tàu. Về phần mình, hãng đóng tàu Newport News cũng từ chối bình luận về kết quả mà bản đánh giá đề cập. Christie R. Miller, phát ngôn viên của hãng đóng tàu cho hay: “Chúng tôi sẽ tuân thủ ý kiến của Hải quân về bản báo cáo này”. USS Gerald R. Ford là chiếc đầu tiên thuộc lớp tàu sân bay thế hệ mới của Mỹ. Con tàu được làm lễ rửa tội và hạ thủy vào đầu tháng 11 năm 2013. hiện đang trải qua quá trình thử nghiệm hơn 2 năm tại xưởng đóng tàu ở Virginia và theo kế hoạch sẽ được bàn giao cho Hải quân Mỹ trong năm 2016 với trị giá ước tính hơn 12 tỷ USD. 
USS Gerald R. Ford trước đây đã gặp phải không ít ý kiến chỉ trích. Năm ngoái Cơ quan Kiểm toán của Chính phủ Mỹ đã công bố rằng chi phí chế tạo con tàu tăng 22% so với kế hoạch ban đầu. Theo đó cơ quan này đã đề xuất tạm hoãn việc chế tạo tàu sân bay USS John F. Kennedy, chiếc thứ hai thuộc lớp này cho tới khi Hải quân Mỹ và các nhà thầu có thể làm chủ được chuỗi các công nghệ chưa từng được triển khai. Hải quân Mỹ hiện vẫn còn 1 năm phía trước để khắc phục những vấn đề gặp phải đối với con tàu trước khi bàn giao. Tuy nhiên đánh giá của Gilmore, dựa trên quá trình phân tích và đánh giá trong khoảng thời gian thử nghiệm vừa qua đối với tàu Gerald Ford là tín hiệu mạnh mẽ nhất cho thấy Hải quân Mỹ hiện có thể không đạt được mục tiêu tăng cường tần xuất các chuyến bay chiến đấu mà một con tàu đơn lẻ có thể đảm nhiệm. Trong khi đó, Ronald O’Rourke, một nhà phân tích hải quân thuộc cơ quan nghiên cứu của Quốc hội Mỹ đồng thời là chuyên gia về các chương trình đóng tàu cho hay con tàu đầu tiên của bất kỳ lớp mới nào thông thường cũng gặp phải những thách thức đáng kể về công nghệ và chi phí. Còn phó Đô đốc Moore không đề cập cách giải quyết trực tiếp những mối lo ngại của Lầu Năm Góc về hệ thống phóng và thu hồi máy bay mới nhưng cho rằng công nghệ này hiện đại tới mức…những vấn đề trên không thể được giải quyết. Ông thừa nhận rằng lượng điện năng mà Hải quân Mỹ cần thiết để phóng và thu hồi hàng trăm máy bay trên một tàu sân bay hoạt động trên biển là chưa từng có. Về hệ thống radar của tàu, Moore cho biết Hải quân Mỹ hiện vẫn rất tin tưởng vào radar mới bởi nó mới chỉ được thử nghiệm khi con tàu đang neo đậu tại cảng, đây là giai đoạn chưa thể tận dụng hết năng lượng của con tàu. Moore tin tưởng rằng siêu HKMH Gerald R.Ford sẽ vượt qua tất cả những thử thách hiện nay trước khi gia nhập hạm đội.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lý do khiến Trung Quốc không được phép “bén mảng” đến trạm ISS?


Vì sao người TQ bị “cấm cửa” ở trạm không gian ISS?
Trạm ISS đã đón tiếp phi hành gia của nhiều nước khác nhau, trừ Trung Quốc
Phi hành gia Trung Quốc không được phép “bén mảng” đến trạm ISS vì Quốc hội Mỹ lo sợ sẽ bị đánh cắp các bí mật trong lĩnh vực không gian vũ trụ.
Trạm Không gian Vũ trụ Quốc tế (ISS) được Cơ quan Hàng không Vũ trụ Quốc gia Mỹ (NASA) khởi xướng đã đi vào hoạt động được 15 năm, là nơi đã đón tiếp rất nhiều phi hành gia từ nhiều cường quốc vũ trụ trên thế giới, tuy nhiên có một điều kỳ lạ là chưa có bất cứ một phi hành gia Trung Quốc nào được phép đặt chân lên trạm vũ trụ này.
Trong một cuộc phỏng vấn gần đây với CNN, ông Nie Haisheng, chỉ huy tàu vũ trụ Thần Châu 10 của Trung Quốc bày tỏ: “Là một phi hành gia, tôi rất muốn được bay cùng các nhà du hành của các nước khác. Tôi cũng rất mong chờ được vào trong trạm ISS”.
Mặc dù các phi hành gia Trung Quốc có mơ ước cháy bỏng như vậy, nhưng điều đó rất khó trở thành hiện thực bởi một quy định ngặt nghèo của các nghị sĩ Mỹ. Năm 2011, Quốc hội Mỹ thông qua một đạo luật cấm NASA có bất cứ sự hợp tác nào với Trung Quốc trong lĩnh vực không gian vũ trụ.
Lệnh cấm này được ban hành khi các nghị sĩ Mỹ lo ngại rằng nếu NASA hợp tác với Trung Quốc, các bí mật công nghệ của Mỹ trong lĩnh vực không gian vũ trụ rất có thể sẽ bị đánh cắp và làm nhái, gây tổn hại đến an ninh quốc gia.
Chính đạo luật này đã “cấm cửa” các phi hành gia Trung Quốc không được “bén mảng” tới trạm ISS, và các nhà phân tíchtin rằng Quốc hội Mỹ sẽ không sớm thay đổi đạo luật trên.
Nhà phân tích vũ trụ Miles O’Brien cho biết: “Cứ mỗi lần vấn đề này được đề cập ở bất cứ nơi nào gần Quốc hội, nó sẽ bị dập tắt ngay lập tức. Các nghị sĩ Mỹ vẫn có hoài nghi rất lớn về Trung Quốc. Trung Quốc vẫn bị coi là một đối thủ luôn tìm cách đánh cắp các bí mật sở hữu trí tuệ của Mỹ”.
Vì sao người TQ bị “cấm cửa” ở trạm không gian ISS?
Lệnh cấm của Quốc hội Mỹ đã khiến các phi hành gia Trung Quốc không có cơ hội tiếp cận trạm ISS. Ảnh minh họa
Trung Quốc đã nhiều lần nỗ lực nhưng bất thành trong việc vận động Quốc hội Mỹ bãi bỏ đạo luật trên, cả bằng các biện pháp chính trị lẫn những lời kêu gọi “thống thiết” của các phi hành gia Trung Quốc.
Ông Nie Haisheng từng đưa ra một lời kêu gọi tha thiết gửi tới nước Mỹ: “Không gian vũ trụ là một vấn đề gia đình, nhiều quốc gia đang phát triển các chương trình vũ trụ và Trung Quốc, với tư cách là một nước lớn, cũng cần phải có những đóng góp của riêng mình cho lĩnh vực này”.
Mặc dù bị cấm hợp tác với NASA, song cho đến nay Trung Quốc cũng đã có những thành công nhất định trong lĩnh vực không gian vũ trụ. Năm 2003, Trung Quốc đưa người đầu tiên vào vũ trụ, và hoàn tất chuyến đi bộ đầu tiên ngoài vũ trụ vào năm 2008.
Năm 2013, ông Nie và phi hành đoàn của mình đã kết nối với trạm thí nghiệm Thiên Cung 1, một phiên bản nhỏ hơn của trạm ISS. Năm ngoái, một tàu vũ trụ không người lái của nước này đã bay quanh quỹ đạo Mặt trong trong 8 ngày để chụp ảnh Trái đất và bề mặt Mặt trăng.
Theo tin24h

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đồng bằng Nam Bộ đang lâm nguy? VTL


131115162442_vietnam_rural_poverty_624x351_hoangdinhnamgettyimages.jpg
17 triệu người tại Việt Nam sống tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long.
Theo dự báo đến năm 2030 khoảng 45% diện tích của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đối mặt với nguy cơ nhiễm mặn.
Ngăn xâm nhập mặn ĐBSCL, gìn giữ an toàn lương thực của một khu vực hàng năm đã đóng góp 27% GDP, 90% số lượng gạo xuất khẩu và gần 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam và ổn định cuộc sống và an sinh cho trên 17 triệu người là việc làm bắt buộc vào lúc này mặc dù đã quá trễ.

Mặn đã đến chân

Không còn là kịch bản dự đoán nữa, biến đổi khí hậu đã hiện diện thực tế. ĐBSCL đang bị nước mặn xâm nhập, đất đai bị mặn hóa. Thảm họa này ngày càng gia tăng bởi tác động kép của biến đổi khí hậu do nước biển dâng cao và do việc tích nước hàng loạt tại các đập thủy lợi, thủy điện của các quốc gia lân cận ở thượng nguồn, làm giảm cao độ mực nước hệ thống sông Cửu Long vào mùa khô.
Hệ thống kênh vùng tứ giác Long Xuyên được xây dựng thời vua Nguyễn với mục đích thoát lũ, ngọt hóa, lưu thông, chinh phục được những vùng đất nhiễm phèn, nhiễm mặn biến thành những miệt vườn trù phú. Hệ thống kênh Phụng Hiệp, kênh xáng Cà No được xây dựng từ thời Pháp thuộc với chức năng ngọt hóa, khẩn hoang vùng đất nhiễm mặn của Bán đảo Cà Mau thành vùng đất màu mỡ cả trăm năm qua. Giờ đây thì ngược lại, hệ thống kênh rạch này bị nước biển xâm nhập đang lan tỏa xâm nhập mặn hầu hết khắp khu vực, đang biến đất đai tại đây thành đất bị thấm mặn.
Các dòng sông Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long đang bị xâm nhập mặn vào nội địa trên 70 km, và có chiều hướng tăng nhanh. Hiện một số địa phuơng trong vùng ĐBSCL đã xuất hiện tình trạng thiếu nước ngọt trầm trọng.
Những tháng gần đây tại ĐBSCL, việc nước mặn tấn công “Chưa từng thấy” làm “Đảo lộn cuộc sống”, không phải là bất ngờ mà là tất yếu theo dự đoán. Người dân các tỉnh Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang đang phải “Chạy mặn” từng ngày.
Các tiểu vùng nước ngọt quanh năm bị đảo lộn, bị mặn xâm nhập, đã đe dọa cả trăm ngàn hecta đất nông nghiệp, nhiều vườn cây ăn trái nằm trên nguy cơ xóa sổ, thủy sản nước ngọt bị tổn thất lớn. Tất cả nguy hại đang đổ trên đầu người dân nơi đây.
Một bất ngờ khác là sự vô cảm bao trùm. Cộng đồng mạng không sục sôi như với những sự kiện khác bị kết luận một cách mơ hồ, võ đoán là có nguy cơ ảnh hưởng môi trường. Trong khi đó, một sự thật hiển nhiên đang đe dọa cư dân ĐBSCL là vấn đề nhiễm mặn đang hủy diệt môi trường sống, lại chỉ nhận được sự thờ ơ của nhiều tầng lớp xã hội, của truyền thông báo chí, không thấy sự lên tiếng đòi hỏi chính phủ về trách nhiệm, kế hoạch và phương pháp hữu hiệu để giải quyết “thảm họa”, về giá trị đầu tư phù hợp và hiệu quả cho giải pháp chống xâm nhập mặn – đang là mối đe dọa hiện hữu đến kinh tế, đến an toàn lương thực và dân sinh khu vực, thậm chí đe dọa đến số mệnh của cả quốc gia.

Đầu tư và hiệu quả của việc ứng phó

Nỗ lực của Chính phủ cùng với sự hỗ trợ quốc tế trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam trong những năm qua, bằng nhiều nguồn vốn viện trợ không hoàn lại từ nhiều quốc gia trên thế giới, cũng đã đạt được một ít thành công. Ước tính trong 5 năm trở lại đây Việt Nam đã nhận được khoảng trên 1,3 tỷ USD cho ứng phó với biến đổi khí hậu.
Quyết định số 1397/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch thủy lợi đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2012 – 2050 trong điều kiện biến đổi khí hậu, với tổng kinh phí dự kiến thực hiện khoảng 171.700 tỷ đồng, chỉ gần bằng 1/3 tổng mức xây dựng Sân bay Long Thành – Đồng Nai.
Chính phủ đã có thể có quan điểm, mục tiêu rõ ràng, nhưng giải pháp qui hoạch tổng thể không đồng bộ, cụ thể, không có chiến lược rõ ràng, thực tế, triển khai hành động manh mún, nhiều bất cập. Kinh phí dành cho sứ mệnh thì không đủ đáp ứng, chủ yếu trông chờ vào nguồn vốn ODA và các nguồn vốn viện trợ của nước ngoài, không thể đem lại kết quả chống xâm nhập mặn triệt để cho ĐBSCL.
Thực tế “mặn nạn” nhãn tiền đó là do các nguyên nhân trên. Nhìn lại vài dự án được đầu tư, sứ mệnh ngăn mặn của các công trình thủy lợi bỗng dưng biến thành “thủy hại”: như cống đập Ba Lai và Âu thuyền Tắc Thủ Cà Mau đem lại kết quả “ngoài mặn và sâu bên trong cũng mặn”. Bởi hai con đập đâu ngăn được các khúc sông rồng thông với nhau và đã nhiễm mặn cả trăm cây số vào nội địa.
Thực trạng thảm họa tràn mặn, thấm mặn trên diện rộng đang diễn ra ở ĐBSCL cho thấy hiệu quả của giải pháp chống xâm nhập mặn của những năm gần đây hầu như thất bại, giống như sự bế tắc của công cuộc chống ngập ở Thành phố Hồ Chí Minh.

‘Thức tỉnh’

Lãnh đạo khu vực hàng năm nhóm họp để có những cam kết hỗ trợ cho khu vực sông Mekong.
Việc nâng cao độ mực nước an toàn tối thiểu để ngăn xâm nhập mặn cả về nước mặt và thấm mặn toàn vùng, trữ được lượng nước ngọt lớn, sử dụng được phần lớn lượng nước ngọt do thượng nguồn đổ về, tạo dòng chảy một chiều của các cửa sông hệ thống sông Cửu Long đồng loạt, biến ĐBSCL thành đồng bằng vùng nước ngọt ở phía trên và vùng mặn ở phía dưới gần biển. Đó là biện pháp giải quyết phù hợp và triệt để vấn đề xâm nhập mặn đồng thời cải thiện rất tốt việc thoát lũ cho mùa lũ.
Các chuyên gia trong và ngoài nước có nhiều tâm huyết đã đề cập đến giải pháp kiểu đập ngầm (underwater sill) như trên sông Mississippi của Hoa Kỳ. Đó là một công trình ngăn mặn hữu hiệu và có tính địa lý tương đồng với hệ thống sông Cửu Long. Phải chăng chính phủ cần lắng nghe để tìm một hướng đi, một giải pháp đúng, có hiệu quả triệt để, phù hợp và đã muộn trước thảm họa gần kề?
Phải tỉnh táo, sáng suốt, dành nhiều trí lực, nguồn tài chính cho công cuộc chống biến đổi khí hậu. Đừng trông chờ sự cứu rỗi tình trạng xâm nhập mặn khu vực ĐBSCL vào lượng mưa thượng nguồn sông Mê Kông. Đừng để bức tranh sự sống trù phú của ĐBSCL đã bị hủy diệt một ngày nào đó sẽ được trưng bày giữa Bảo tàng Lịch sử Quốc gia có giá đầu tư lên đến 11.277 tỷ VND, như là mặc niệm cho chính sự thờ ơ và chủ quan của chúng ta!
Hãy dành nguồn vốn đang hạn hẹp bởi nợ công chồng chất để chống chọi nguy cơ hủy diệt đất nước hơn là đầu tư những dự án có những hiệu quả mơ mộng hay ý tưởng viển vông. Làm được sứ mệnh cứu Đồng bằng Nam Bộ không những không hổ thẹn với tiền nhân mà tránh được lỗi lớn với con cháu ngày sau.

Phần nhận xét hiển thị trên trang