Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2015

Nhìn các em ở Sơn La cười mà không thể vui được



Phần nhận xét hiển thị trên trang

KÝ ỨC VỀ NGÀY NGHE TIN VỤ KHỦNG BỐ 11/9 Ở NƯỚC MỸ



Hôm nay là Thứ Sáu, nhưng không phải là ngày 13, nó là ngày 11/9/2015. Ngày này cách đây 14 năm trước, ngày 11/9/2001 rơi vào Thứ Ba.

Gần 14 năm đã trôi qua mọi người vẫn không thể quên 102 phút kinh hoàng, kể từ thời khắc chiếc máy bay mang số hiệu 11 của hãng hàng không American Airlines đâm vào tòa tháp thứ nhất (tháp phía bắc) thuộc Trung tâm Thương mại Thế giới (WTC). Thông tin đựợc cho biết là hành động của 19 tên không tặc cướp 4 máy bay chở khách hiệu Boeing và tấn công vào các địa điểm quan trọng của Mỹ, khiến khoảng 3.000 người tới từ hơn 90 quốc gia khác nhau thiệt mạng.

Nước Mỹ đã có một ngày đen tối chìm trong đau thương tang tóc của công dân mình. Thế giới đã có một ngày lặng đi với nỗi đau đồng cảm, chia sẻ của những gia đình có người thân thiệt mạng trong vụ khủng bố. Cái chết của người dân vô tội oan nghiệt trong sự toan tính chiến tranh và hận thù là hồi chuông cảnh báo cho cả loài người.

14 năm trước, tôi 29 tuổi. Nhớ mãi buổi sáng hôm đó cả Hà Nội nhốn nháo, xôn xao. Một ngày chúng tôi vẫn đi làm như mọi ngày và cả cơ quan dường như ai cũng có vẻ rối bời, bần thần với thông tin được coi là vô cùng khủng khiếp. Không ngờ sư kiện xảy ra ở nước Mỹ xa xôi lại tác động đến tâm lý của nhiều người Việt Nam đến thế.

Trưa hôm đó ngay sau giờ nghỉ, tôi cùng cô bạn vào quán cà phê uống nước. Quán đông khách đột xuất, tất cả mọi người đều chụm vào bàn luận.Thấy tôi chăm chú nghe mọi người nói chuyện, một chú lớn tuổi nhìn tôi hỏi:

- Cháu sợ không? Sao ngồi thừ ra thế?
- Vâng, sợ thật. Nhưng vì thương những người dân Mỹ bị chết oan. Sao mà bọn khủng bố ác thế, không còn tính người.
Tôi mới nói được mấy câu như vậy thì có một người đang ông lớn tiếng át đi:
- Bọn trẻ bây giờ nó dở hơi thế đấy. Thương thằng nào lại đi thương thằng Mỹ. Tai họa này đáng gì với chiến tranh Mỹ gây ra cho nhân dân Việt Nam. B52 nó toàn ném vào làng, vào nhà dân. Nó phải bị thế thì nhân dân nó mới sợ. Người Mỹ nó gây cảnh chiến tranh đổ máu ở nơi khác, còn dân nó có biết thế nào là chiến tranh đâu. Bọn khủng bố mới là anh hùng. Mỹ phải được dạy bằng những bài học như thế mới đáng đời. Chúng nó phải biết đau thì mới không gây ra nỗi đau....

Tôi chau mày, cảm giác hơi tự ái. Trả tiền và nhanh chóng ra khỏi quán. Tôi thấy ác cảm với những lời lẽ hằn học, hả hê. Ác cảm với một người vô cảm.

Mãi sau này, khi tôi quan tâm hơn đến những thông tin và những vấn đề khác của Việt Nam và trên thế giới. Tôi xem các bộ phim tư liệu và đọc nhiều sách báo về chiến tranh ở Việt Nam, tôi mới nhận ra mình đã sai khi ác cảm với người đàn ông ấy. Lúc đó làm sao mà tôi biết khi một người phải thốt ra những lời oan nghiệt, cay đắng - không phải là vì họ tàn nhẫn hay vô tâm - mà vì họ cũng có ở trong lòng những nỗi đau - nỗi đau tương tự và còn gấp nhiều lần hơn thế.

14 năm sau sự kiện ngày 11/9, tôi đã khác xưa. Giờ đây, tôi đã hiểu nỗi đau mãi luôn là nỗi đau - chẳng thể lấy nỗi đau này bù đắp và thay thế cho nỗi đau khác. Nỗi đau dù có đi với thời gian, trải qua bao nhiêu năm tháng cũng chẳng làm nó mất đi. Thời gian chỉ làm cho nó lắng xuống, ngủ yên và bớt đi nhức nhối. Khi gặp những tác nhân gây ra, hay được gợi lại. nhắc đến thì nỗi đau lại vùng trỗi dậy.

Giá mà tôi được gặp lại người đàn ông ấy để nói với ông rằng " Thưa chú, từ sự cảm thương, chia sẻ với nỗi đau của nhân dân Mỹ trong vụ khủng bố 11/9 mà giờ đây cháu càng thấu hiểu và thương cảm với nỗi đau của nhân dân mình, nỗi đau của từng nhà, từng người trong cảnh chiến tranh bom bạn và chết chóc. Cháu rất ân hận vì đã nghĩ sai về chú khi mà không phân biệt được nỗi đau hiện tại và trong quá khứ. Nỗi đau của cả một dân tộc và nỗi đau của một sự kiện khủng bố. Cháu tin những lời nói của chú là cách xoa dịu nỗi đau của nhân dân mình chứ không phải là sự tàn nhẫn trước nỗi đau của nhân dân nước Mỹ.".

Ôi không, tôi sẽ không nói dài thế đâu, nếu mà có thể gặp lại người đàn ông ấy, thì tôi chỉ muốn nói một lời xin lỗi thôi. Xin lỗi vì tôi bỏ đi khi chú đang nói dở dang về những nỗi đau mà tôi tưởng nó đã đi vào quá khứ ....

ATVN
Hà Nội ngày 11/9/2015


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Từ Nga Đến Iran, Hậu Qủa Về Sự Phá Sản Của Giá Dầu Hoả Trên Toàn Thế Giới.


Nhiều chuyên gia Mỹ, và các nhà bình luận hy vọng gía dầu xuống thấp là một phương cách để lật đổ những chế độ khó ưa, họ kiếm tiền dễ dàng nhờ dầu hỏa. Bây giờ chuyện đó đang xảy ra, nhưng nó xảy ra với một tốc độ rất nhanh. Điều đó có thể gây ra những xáo trộn, và bất ổn to lớn trong một thế giới vốn dĩ đã có nhiều điều phải lo âu.

Trong lúc chúng ta bận theo dõi cuộc chiến tranh chống tổ chức Quốc Gia Hồi Giáo – Islamic State- và thảo luận với Iran, một vấn đề lớn lao, trọng đại hơn đang xảy ra trên thế giới. Chúng ta chứng kiến sự xuống giá dầu hỏa có tính chất lịch sử, hạ gỉảm hơn 50% trong vòng chưa đầy một năm. Hiện tưởng sụt giá tương tự đã từng xảy ra hồi thập niên 1980’s và làm cho Liên Bang Xô Viết sụp đổ. Tình hình hiện nay thì sao? Nó sẽ đem lại những hậu quả gì cho thế giới?

Ông Nick Butler, người đứng đầu về chiến lược ở công ty BP trước đây, nói với tôi như sau: “Chúng ta đang rơi vào tình trạng giá dầu sụt giảm kéo dài lâu, và sụt giảm nhiều hơn thời thập niên 1980’s.”. Tại sao lại có tình trạng như vậy? Ông vạch rõ những yếu tố cụ thể đưa đến cơn bão táp về giá dầu hoả. Số cung dầu hoả tăng rất nhiều  bởi vì sau nhiều thập niên giá dầu hỏa tăng cao, các nước sản xuất dầu trên khắp thế giới được khích lệ, họ đầu tư nhiều tiền vào việc tìm ra nguồn tài nguyên mới.

Ông Leonardo Maugeri, cựu trưởng ban nghiên cứu chiến lược của công ty Eni, một công ty năng lượng khổng lồ của Ý, nói rằng những khoản đầu tư đó đã được để riêng ra, và sẽ tiếp tục đổ vào ngành dầu hỏa, không ngưng lại được: “Không có cách nào để ngưng hiện tượng này.”, ông Maugeri nói như vậy. Ông tiên đoán giá dầu hỏa có thể tuột xuống còn $35 một thùng vào năm tới, so với giá $105 một thùng hồi năm ngoái.

Lý do chính khiến cho giá dầu hoả sụt gỉảm theo nhịp độ gia tốc là vì nước Ả Rập Saudi. Đây là nước “cung cấp dầu hỏa lên xuống bất thường” nhất thế giới. Họ có thể dễ dàng gia tăng, hay cắt giảm mức sản xuất dầu hỏa, và hiện nước này tiếp tục bơm dầu lên rất nhiều để bán. Theo ông Maugeri, đang dạy ở Havard, Ả Rập Saudi “biết rằng sản xuất thêm nhiều dầu thêm sẽ gây thiệt hại cho chính họ, nhưng họ vẫn làm chỉ vì giá dầu hạ sẽ có hại cho các nước khác nhiều hơn.”. Một trong những mục tiêu Ả Rập Saudi muốn nhắm hại là bắt các công ty khai thác dầu hỏa từ phiến đá diệp thạch – shale- của Hoa Kỳ phải phá sản. Nhưng cho đến nay, âm mưu này của Ả Rập Saudi không đem lại kết qủa. Mặc dù bị thua thiệt vì giá dầu hạ, nhưng các công ty của Hoa Kỳ sử dụng kỹ thuật tân tiến, và phương pháp quản lý khéo, nên họ vẫn sống mạnh gỉỏi. Rồi đây, lại còn có thêm dầu hoả của Iran bán trên thị trường quốc tế. Chuyện này đương nhiên sẽ xảy ra, tuy rằng hơi chậm. Và đó cũng là một yếu khác làm cho giá dầu hỏa hạ gỉảm thấp thêm nữa. Sau cùng, phải nói đến kỹ thuật sản xuất xe hơi, xe vận tải cải tiến, tiết kiệm xăng dầu nhiều hơn trước.

Những nước sản xuất dầu hoả chính trên thế giới đang phải đối phó với tình trạng ngân sách khủng hoảng vì giá dầu hạ thấp chưa từng thấy trong lịch sử. Chúng ta hãy điểm sơ qua những nước trở nên giầu có nhờ dầu hỏa như sau:

Venezuela: Lãnh tụ Hugo Chavez trở nên nổi tiếng như cồn. Cái gọi là “quốc gia Xã Hội Chủ Nghĩa  của thế kỷ thứ 21.” với nền kinh tế quản lý kém cỏi, nhưng vẫn sống oai hùng nhờ giá dầu hỏa bán được giá cao trong một thời gian khá dài. Bây giờ, những người thay thế Hugo Chavez đang thừa kế một đất nước phá sản, nợ nần chồng chất đến nỗi không đủ tiền để trả nợ. Tiền bán dầu hỏa chiếm 98% mặt hàng xuất khẩu. Nền kinh tế Venezuela bị co cụm tới 7% trong năm nay. Hồi năm ngoái, nền kinh tế Venezuela đã bị co lại 4%. (Một trong những lý do nước Cuba tìm cách xích lại gần với Hoa Kỳ vì đàn em của Fidel Castro biết rõ rằng “ông bố nuôi Xã Hội Chủ Nghĩa ở thủ đô Caracas” sắp hết tiền, không còn bao cấp cho đàn em của Fidel Castro được nữa.).

Nước Nga: Giống như Hugo Chavez, uy tín của Vladimir Putin nổi như diều gặp gió, dân chúng tôn thờ nhà lãnh tụ này nhờ giá dầu hỏa tăng vọt lên cao. Do đó, Tổng Sản Lượng Quốc Gia (GDP) của Nga tăng, thu nhập của chính phủ tăng, chính phủ trợ cấp đủ mọi thứ cho dân chúng. Tất cả những điều tốt đẹp đó nay đều đảo ngược. Năm nay nền kinh tế của Nga được ước tính là sẽ co lại 3.4%. Thu nhập nhờ bán dầu hoả chiếm một nửa lợi tức của chính phủ. Phe nhóm quyền lực, như công ty hơi đốt khổng lồ Gazprom sẽ bị giảm lợi tức khoảng 30% trong năm nay. Giáo sư Butler, dạy ở trường King’s College London nhắc nhở chúng ta như sau: “Qúi vị phải nhớ rằng tập đoàn Gazprom là bộ máy cung cấp tài chánh cho bè lũ tay sai của Putin cai trị nước Nga.”.

Iraq:  Dầu hỏa đóng góp 90%  thu nhập của chính phủ ở Baghdad, mặc dù chính phủ ra sức lấy dầu lên thật nhiều để bán, nhưng họ vẫn phải đối phó với sự sút giảm trong tình hình thu nhập của chính phủ. Lý do là vì chính phủ ở thủ đô rất yếu, và cuộc chiến tranh giữa các phe nhóm tôn giáo tiếp tục xảy ra. Vì thế tổ chức Quốc Gia Hồi Giáo trở nên mạnh, và mở nhiều cuộc tấn công vào phe chính phủ. Với thu nhập nhờ dầu hỏa ngày càng giảm, chính quyền thuộc giáo phái Shiite ở Baghdad đang bị áp lực nặng nề phải chi tiền trả cho nhóm Sunnis. Kế đến sẽ còn xảy ra cuộc đụng độ giữa người thuộc sắc tộc Kurds với chính phủ trung ương về việc chia sẻ lợi tức dầu hoả.

Iran:  Mặc dù Tehran sẽ nhận được một số lợi tức lớn vào giai đoạn đầu sau khi các biện pháp trừng phạt quốc tế được bãi bỏ, nhưng giống như các quốc gia sống nhờ vào dầu hỏa, chính quyền Iran là một chính phủ quản trị rất kém. Qũi Tiền Tệ Quốc Tế dự phóng nói rằng giá dầu hỏa phải lên đến mức $100 một thùng dầu thì mới có thể giúp cho Iran lấy lại được sự cân bằng về ngân sách. Nói chung, nước Iran vẫn còn phải đối phó với nhiều áp lực giống như các nuớc khác.

Nhiều chuyên gia Mỹ, và các nhà bình luận hy vọng gía dầu xuống thấp là một phương cách để lật đổ những chế độ khó ưa, họ kiếm tiền dễ dàng nhờ dầu hỏa. Bây giờ chuyện đó đang xảy ra, nhưng nó xảy ra với một tốc độ rất nhanh. Điều đó có thể gây ra những xáo trộn, và bất ổn to lớn trong một thế giới vốn dĩ đã có nhiều điều phải lo âu.

Bài phân tích của Fareed Zakaria trên Washington Post ngày 20/8/2015

Nguồn: http://baocalitoday.com/vn/tin-tuc/the-gioi/tu-nga-den-iran-hau-qua-ve-su-pha-san-cua-gia-dau-hoa-tren-toan-the-gioi.html
 


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lão nông Việt Nam chế robot khiến người Israel thán phục



Nhà sáng chế hàng loạt máy móc nông nghiệp mới chỉ học hết lớp 7.
Ông Phạm Văn Hát ở xã Ngọc Kỳ, Tứ Kỳ, Hải Dương đã sáng chế hàng loạt máy móc giúp nông dân bớt cảnh “con trâu đi trước, cái cày theo sau”. Mọi người khá ngạc nhiên khi ông Hát cho biết mình mới học hết lớp 7.
Được người Israel thưởng 5.500 USD
Thuê 3 ha trồng rau sạch nhưng thời tiết không thuận, thiếu vốn, không có đầu ra ổn định nên ông Hát thất bại nặng nề, kinh tế gia đình bị thiệt hại lớn. Bốn năm trồng rau sạch, tính từ năm 2001, gia đình ông Hát lỗ gần 2 tỉ đồng.
Để giảm bớt gánh nặng nợ nần, ông Hát kể, năm 2010 ông quyết định đi xuất khẩu lao động sang Israel. Tại đất nước xa lạ này, ông được bố trí làm thuê ở một trang trại trồng rau. Nền nông nghiệp hiện đại của Israel giúp ông Hát mở mang tầm nhìn. Ngày đầu tiên làm việc trên cánh đồng rộng hàng trăm hecta, được trang bị nhiều phương tiện sản xuất hiện đại, hệ thống tưới nước thấm đất được điều khiển bằng chip tự động nhưng riêng ông Hát thì vẫn phải làm việc bằng… cuốc. Lý do là cánh đồng được rải phân gà ủ mục nhằm giúp cho đất xốp và mỗi khu vực phải có ba người cầm cuốc “đuổi theo” cái xe kéo phân, cứ một đoạn lại bổ một nhát hất phân xuống ruộng, chỗ dày chỗ mỏng tùy theo sức của từng người.
Làm đến ngày thứ ba ông Hát “hoa mắt, chóng mặt, ù tai”. Ông nằng nặc đòi gặp ông chủ trang trại. Tiếng Anh ông Hát chỉ biết “good” hoặc “not good”. Ông Hát huơ tay ra hiệu rồi lấy que vạch lên những nét nguệch ngoạc trên bãi cát. “Người Do Thái rất thông minh! Ông chủ hiểu ngay tôi muốn cải tiến cái máy. Ông ấy về văn phòng mang giấy, bút, compa, thước kẻ... để tôi vẽ ra những ý tưởng” - ông Hát kể.
Sau đó ông Hát được ông chủ người Israel cho phép chỉ ngồi ở nhà sáng chế. Hai người giao tiếp chủ yếu nhờ... công cụ dịch của Google. Mọi yêu cầu về vật liệu đều được nhân viên trang trại sắm. Nhờ kiến thức đã tích lũy, chỉ sau ít ngày ông Hát đã hoàn thiện thiết bị rải phân tự động gắn vào sau chiếc máy kéo. “Mặc dù khi ấy đã sắp tối, ông chủ vẫn đem máy ra cánh đồng thử. Máy chạy đến đâu rải đều lên luống một lớp phân đều như nhau. Bất ngờ và cảm kích, bố con ông chủ trang trại ôm chầm lấy tôi và cầm luôn bình xịt sơn xịt lên máy dòng chữ: “Máy của Hát”” - ông Hát nhớ lại.
chế tạo, robot, Israel tự chế, lão nông, nông dân, công nghệ, nông nghiệp, chế-tạo, robot, Israel, tự-chế, lão-nông, nông-dân, công-nghệ, nông-nghiệp,
Ông Phạm Văn Hát bên chiếc máy gieo hạt tại một ruộng rau. (Ảnh do ông Hát cung cấp)
Sau đó hội đồng thẩm định của nhà nước Israel đến tận cánh đồng để thực nghiệm “Máy của Hát” và cấp bằng sáng chế cho ông chủ trang trại, đồng thời cấp cho ông chủ một khoản “thù lao sáng tạo” hạng trung lưu và mỗi năm một chuyến du lịch châu Âu. Tết âm lịch 2010, ông chủ đưa ông Hát đến thăm Đại sứ quán Việt Nam tại Israel để bày tỏ cảm ơn và mời các thành viên đại sứ quán về nhà chiêu đãi.
Với những máy móc do ông Hát sáng chế và cải tiến, chủ trang trại chỉ cần từ hai đến ba lao động thay vì 25 lao động như trước kia. Ông Hát được chủ trang trại thưởng ngay 5.500 USD, điện thoại và máy tính.
Chế tạo robot đặt hạt tự động
Đầu năm 2012, ông Hát quyết định trở về nước mở xưởng cơ khí. Đam mê kết hợp với những kiến thức, kinh nghiệm tại Israel, ông đã chế tạo ra bộ ép luống soi rạch trồng rau các loại và bộ ép luống chuyên dùng cho cà rốt, cải tiến một số bộ phận của máy làm đất như chế tạo cày hai lưỡi thay thế cho cày một lưỡi, cày bốn lưỡi thay thế cho cày ba lưỡi…
Ông Hát chia sẻ: “Khi mở xưởng, việc đầu tiên tôi nghĩ đến là làm thế nào để sáng chế ra một chiếc máy đánh luống, soi rạch trồng cây vụ đông. Đã từng trồng mấy mẫu rau màu nên tôi hiểu nỗi vất vả của nông dân”. Ý tưởng gắn thêm hai chiếc lưỡi vào máy cày để vừa vét được đất lên luống vừa soi rạch cho bà con tra hạt được ông áp dụng từ vụ đông năm 2012. Với sáng chế này, nông dân không phải mất thêm công đoạn vét đất lên luống và soi rạch như trước.
Nếu như sử dụng cày một lưỡi, một công lao động chỉ được tám sào (sào Bắc Bộ, tức 360 m2 - PV), vì máy dễ bị văng do thiếu cân bằng, nông dân khó điều khiển máy. Còn sử dụng cày hai lưỡi, một công lao động có thể đạt tới hai mẫu. Cày hai lưỡi và bốn lưỡi của ông Hát đã giúp nông dân đỡ vất vả, nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập.
Cuối năm 2012, một lần tình cờ đi qua vùng trồng cà rốt ở huyện Cẩm Giàng, Hải Dương, ông Hát thấy nông dân dùng máy gieo hạt kéo tay nhưng hạt gieo không đều, mất nhiều công tỉa cây dư thừa. Ông Hát nảy sinh ý tưởng cần phải chế tạo robot đặt hạt tự động.
Nói là làm, ông Hát nghiên cứu, tìm tòi, thiết kế. Sau gần một năm nghiên cứu và thực nghiệm, ông Hát đã chế tạo thành công robot đặt hạt tự động với sự chính xác cao. Robot này được đưa vào sử dụng tại địa phương, bán ra thị trường để phục vụ cho các vườn ươm cây giống cà rốt, su hào, bắp cải và các loại rau khác. Robot này có thể sử dụng điện ắcquy hoặc điện 220 V.
Năng suất của robot cao cấp 30-40 lần lao động thủ công, khoảng cách giữa các hạt được điều chỉnh tùy theo từng loại cây giống, tiết kiệm từ 20% đến 30% hạt giống so với phương pháp thủ công. Đồng thời, giúp nông dân giảm chi phí đầu tư tới 600.000 đồng/sào. Robot đặt hạt tự động được nhiều nông dân ở Hải Dương, Hà Nội, Lâm Đồng… đến đặt mua, tới nay đã có 40 robot được bán ra.
Ngoài ra, ông Hát còn thiết kế, chế tạo máy đặt hạt kéo tay, giúp nông dân không cần đến động cơ hay mô tơ mà vẫn đặt hạt chính xác và đặt được nhiều hàng trên cùng một lượt, có thể áp dụng cho nhiều loại hạt như ngô, đậu tương, hạt củ đậu, hạt đỗ đen, đỗ xanh…
Ông Hát cho hay hiện đang nghiên cứu chế tạo máy bỏ khóm (gieo vãi), máy trồng ngô và máy thu hoạch khoai tây, cà rốt…
Được tặng thưởng huân chương Lao động hạng Ba
Tại Đại hội Thi đua yêu nước và biểu dương nông dân điển hình tiên tiến toàn quốc lần thứ IV giai đoạn 2010-2015 vừa diễn ra tại Hà Nội, ông Hát đã được tặng thưởng huân chương Lao động hạng Ba vì những thành tích, đóng góp của ông cho hiện đại hóa nông nghiệp.
Riêng sáng chế robot đặt hạt tự động của ông Hát đã đạt giải nhất hội thi “Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Hải Dương lần thứ 8” năm 2012-2013, giải khuyến khích cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật nhà nông toàn quốc lần thứ 5” năm 2013 và giải nhất cuộc thi “Nhà sáng chế” năm 2014…
Ông Hát cho biết hiện mới chỉ có máy gieo hạt của ông là được cấp bằng sáng chế độc quyền, còn các loại máy khác đã đăng ký từ lâu nhưng vẫn chưa có kết quả. “Nông dân như chúng tôi thấy rất nản khi phải đi đăng ký, vừa tốn tiền vừa nhiêu khê thủ tục” - ông Hát nói. Trong khi đó, có nhiều loại máy nông nghiệp ông Hát chế tạo vừa ra lò đã bị làm nhái trên thị trường.
@PLTPHCM
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nga phải hy sinh lợi ích để đổi lấy quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc

Bình luận quốc tế) - Nga phải hy sinh lợi ích để đổi lấy quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc trong bối cảnh Moscow đang bị phương Tây áp đặt các lệnh trừng phạt.


Ngày 5/9, truyền thông Nga dẫn bài viết từ báo Haaretz của Israel với tiêu đề “Chiến lược mới của Putin”, trong đó đưa ra những bình luận, đánh giá về chính sách của ông chủ Điện Kremlin trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc.
   Ông Putin sử dụng chiến lược của Stalin trong quan hệ với Mỹ-Trung? - Ảnh 1
Quan hệ Nga - Mỹ đăng gia tăng căng thẳng thời gian gần đây
Mở đầu bài báo tác giả đặt câu hỏi: Không hiểu tại sao Nga vẫn ủng hộ thỏa thuận hạt nhân của Iran bất chấp những tuyên bố lý giải của Moscow cho rằng, việc mở cửa của thị trường thế giới đối với dầu mỏ của Iran sẽ đe dọa khả năng cạnh tranh của nhà cung cấp dầu mỏ Nga trên thị trường Ấn Độ, Trung Quốc và châu Âu?
Theo bài báo, một trong những nguyên nhân khiến Nga chấp nhận quyết định miễn cưỡng của mình là do Moscow không muốn xung đột với Bắc Kinh khi mà Trung Quốc đang rất cần nguồn dầu mỏ giá rẻ của Iran.
Tổng thống Nga Putin hiểu rất rõ rằng, việc tháo dỡ lệnh trừng phạt với Iran sẽ mở ra thị trường dầu mỏ lớn và điều này ảnh hưởng đến lợi nhuận của Nga.
Tuy nhiên, Nga phải hy sinh lợi ích để đổi lấy mối quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc trong bối cảnh Moscow đang bị phương Tây áp đặt các lệnh trừng phạt.
Với kế hoạch này, ông Putin hy vọng rằng, liên minh với Trung Quốc có thể làm suy yếu vị thế của Mỹ, đồng thời tránh leo thang căng thẳng với Bắc Kinh.
Chính vì vậy, ông Putin đã chọn học thuyết lưỡng dụng, cho phép vừa làm suy yếu Mỹ vừa tăng cường quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc trong khuôn khổ xác định.
Bài báo cho rằng, chính sách quan hệ với Mỹ và Trung Quốc mà Tổng thống Putin chọn dường như đang lặp lại chiến lược của Nguyên soái, nhà lãnh đạo Liên Xô Josef Stalin trước đây khi ông quyết định chọn đường lối hợp tác với cựu lãnh đạo TQ Mao Trạch Đông để chống lại Mỹ.
   Ông Putin sử dụng chiến lược của Stalin trong quan hệ với Mỹ-Trung? - Ảnh 2Ông Mao Trạch Đông và Nhà lãnh đạo Liên Xô Josef Stalin
Theo các phân tích mới được công bố, trước đây, sau khi phương Tây đưa ra quyết định trừng phạt Bắc Kinh thì Trung Quốc đã thực hiện các bước “thân” Liên Xô và kết quả là đầu những năm 1950 khối Trung – Xô được thành lập.
Washington coi khối này là mối đe dọa chiến lược có khả năng khơi mào cuộc Chiến tranh thế giới thứ ba. Trước thái độ thù địch của Mỹ, Stalin đã đề xuất liên minh với Trung Quốc, còn Mao Trạch Đông thậm chí còn đưa ra một gợi ý táo bạo hơn.
   Ông Putin sử dụng chiến lược của Stalin trong quan hệ với Mỹ-Trung? - Ảnh 3
Tổng thống Nga Putin
Cựu lãnh đạo TQ Mao Trạch Đông hy vọng rằng, Liên Xô sẽ đóng vai trò là đối tác hạt nhân và chặn đứng sự bành trướng lãnh thổ của Nhật Bản, đồng thời là đối trọng với Khối NATO.
Tuy nhiên, cuối cùng, Stalin đã quyết định dừng đề xuất tham vọng là "thống nhất Xô - Trung" của lãnh đạo TQ bởi ông cho rằng điều đó sẽ làm suy yếu Liên Xô.
Từ những năm 1960 đến khi Liên Xô ta rã năm 1989, giữa Liên Xô và Trung Quốc vẫn duy trì sự thù địch về tư tưởng và chiến lược.
Trong những thập niên gần đây, quan hệ giữa hai nước được cải thiện đáng kể và xuất hiện sự phụ thuộc lẫn nhau trong lĩnh vực thương mại và năng lượng, nhưng Nga vẫn âm thầm xem Trung Quốc là mối đe dọa tiềm năng.
Nguyễn Hoàng
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Truyện cực ngắn của Lê Anh Hoài

Tặng các đồng nghiệp của tôi, nhất là những ai còn làm báo giấy, với lòng thành kính phân ưu.

Cuộc họp đến hồi gay cấn: Làm thế nào để cứu tờ báo khi bọn đọc báo chỉ chăm chăm đọc qua mạng? Tin độc quyền ư? Bài không những hay mà còn độc lạ, và không những độc lạ mà còn sâu sắc, và không những sâu sắc mà còn cảm động ư? Ảnh biểu cảm, góc nhìn lạ ư? Trình bày ấn tượng ư? Tất cả chẳng là gì hết khi tờ báo giấy chỉ như một vạch xuất phát. Bùm một cái, tất cả chạy tuốt lên mạng. Bọn đọc báo, lũ vô ơn ấy chỉ việc mở điện thoại thông minh. Xong!
Long là tổng biên tập giỏi, đã giở đủ chiêu trò. Quân của Long nhiều kẻ thiện chiến, nay tứ tán khắp nơi, chỉ còn một nhúm. Số báo đặc biệt kỷ niệm ngày thành lập sẽ ra sao đây? Long nhìn lướt qua quân sỹ, thấy ai nấy thiểu não, gằm mặt xuống, duy chỉ có Tiên - cô đánh máy - cũng cúi cúi, nhưng mặt tươi hơn hớn. Nàng đang xem tin tức chân dài bikini qua điện thoại.
- Cô kia…!!! Cô… cô… - Long hổn hển, cơ hồ sắp tai biến - Cả cơ quan lo cải tiến để cứu tờ báo. Còn cô…
- Dạ, em có lo đấy chứ ạ.
Xong! Đã dốt còn ngang, đã ngang còn hồn nhiên.
- Cô lo thế nào??? Hả? Hả? - Long gầm lên.
- … Ơ, em nghĩ người ta thích nhìn vào cái điện thoại để đọc tin bài. Sao mình không làm tờ báo hình cái điện thoại ạ?
Đó chính là ý tưởng thiên tài. Tờ báo hình cái điện thoại của Long bán được hàng triệu bản, mà không chỉ trong nước. Các hãng điện thoại quả táo quả na quả khế xếp hàng để chờ được tờ báo của Long in theo hình sản phẩm của mình.
Xong!
***
Long là nhà văn thế hệ chống Mẽo có sừng có mỏ. Đi đến đâu Long cũng nhấn mạnh sự tài giỏi của thế hệ mình và luôn được chào đón bằng những bài hát rừng Trường Sơn cô gái tải đạn xe tăng anh băng qua, những bài thơ đào hầm kéo pháo căm thù sâu yêu thương vời vợi… Những thứ bất diệt như thế hệ của Long, cứ ngồi trên ăn trốc một tấc không đi một ly không rời, mắt trông quá khứ tiêu tiền tương lai.
Long bàn với Tiên cho con đi học rồi tìm cách định cư ở Mẽo. Tiên băn khoăn:
-Nhỡ đâu bên đó nó biết anh thuộc phe chống nó rồi gây khó dễ cho con thì sao?
-Yên tâm, nó dân chủ văn minh, nó không đời nào làm thế.
-Thế sao anh vẫn hô hào chống nó?
-Dốt. Không thế thì làm sao đủ tiền cho con đi học bên đó?!
***Top of Form
Long nhận nhiệm vụ chép sử Hội Mỹ thuật. Long ghi: “Năm 2015, đầu năm Ban lãnh đạo mới tưng bừng ra mắt. Cuối năm, tưng bừng chuẩn bị Triển lãm mỹ thuật toàn quốc. Giữa năm, 2 triệu họa  chết đói”.
***
Hội thảo về thơ tầm quốc gia bế mạc trong không khí trang trọng, quan trọng, long trọng và nghiêm trọng. Hội trường im phắc nghe lãnh đạo ban tuyên giáo kết luận: Thơ Việt đang vươn lên tầm thời đại, bám chặt truyền thống vẻ vang, trung thành với vốn cổ, hòa nhập với quốc tế. Việt Nam là cường quốc về thơ. Các dịch giả cần gấp rút nghiên cứu tổ chức dịch thơ để xuất khẩu. Tuy nhiên, thơ Việt chưa có đỉnh cao, chưa đạt được so với ham muốn…
Long đang ngủ gật, mơ thấy nàng thơ, lờ mờ tiếng bấc tiếng chì, đến đấy choàng dậy, giấc mộng chưa tàn, buột thốt:
-Đúng rồi, nàng thơ chưa lên được đỉnh! Điểm gờ, điểm gờ!
Lãnh đạo đang cao trào cũng tụt hứng, nghẹn lời. Long chưa thoát khỏi cảnh giới u mê, âm dương hỗn độn, lại vọt thêm ra:
-Toàn liệt dương làm sao nàng lên được đỉnh!? Top of Form
Bottom of Form
***
Long trước đến nay chuyên đóng những vai hiền lành, tử tế, nghiêm túc, nói 10 câu đúng cả 10. Thực ra ngoài đời, Long không ngu lại tinh nghề, chỉ phải tính gàn nên lắm lúc ngang, cãi cả lãnh đạo.
Nhận được quả phim nhà nước tài trợ, giám đốc xưởng phim vội triệu tập tất cả quân cán lại. Giám đốc thân chinh làm đạo diễn quả này:
-Tôi đề nghị anh Long nhận vai chính, nhân vật chính này là lãnh đạo tỉnh, anh Long quen đóng vai chính diện nên sẽ rất hợp.
-Tôi không nhận. Đóng phim thì đỡ đói, nhưng tôi không thể nhận vai này được!
-...???
-Các anh các chị nhìn trên ti vi, xem trên báo chứ chưa cần tiếp cận thực tế, xem đấy có phải là loại nhân vật tôi hay đóng không? Nói thật, loại nhân vật này tôi không đóng nổi.
-Hm… anh Long! Chúng ta làm phim truyện. Không phải phim tài liệu…
-Vâng. Vì là phim truyện nên tôi mới nói. Còn nếu làm phim giả tưởng thì tôi không bàn.
Giám đốc đạo diễn nhìn Long ngao ngán. Vai được giao cho phó giám đốc, bí thư. Phim xong, ra rạp chỉ loe ngoe vài mống. Anh em trong đoàn xem với nhau rồi tán:
- Phim kiểu gì ấy nhỉ?
Long bình:
- Phim hài.
Thảo nào mãi Long chẳng được cái danh hiệu nào, dù chỉ ưu tú.
***Top of Form
Bottom of Form
Long là chủ tịch Hội người mù. Bí thư muốn lấy điểm bằng cách tỏ sự quan tâm với người tàn tật mới gọi Long đến. Mọi việc thông qua nhanh chóng, đến đoạn tặng gì cho hội, Long gãi đầu:
-Báo cáo anh, đời sống anh em cực kỳ khó khăn, nên…
-Biết, biết! Chính thế nên tôi phải đến để ủy lạo tinh thần anh em. Phải có món quà ý nghĩa chứ không phải tiền. Tôi đã bảo văn phòng ra Nguyễn Thái Học đặt bức tranh lãnh tụ rất hoành tráng.
-Ơ… tranh ạ?...
-Lại trình bày khó khăn à? Vậy muốn gì?
-Tranh thì hội viên mù không xem được. Giá là cái gì có thể sờ thì tốt hơn anh ạ… Ví dụ như tượng. Anh em thích tượng, nhất là tượng khoả thân.
- Vớ vẩn quá, làm gì có tượng lãnh tụ khoả thân?!
Long biết mình lỡ lời, im bặt.
Buổi đến thăm và tặng tranh của bí thư diễn ra vô cùng xúc động.
***
Tiên là hiệu trưởng, tiền khỏi phải lo. Lại có tính Hoạn Thư nên Tiên tìm mọi cách phong tỏa, hành hạ tinh thần, thuyết phục, giáo dục… khiến Long cuối cùng cam phận ở nhà. Tiên kiểm soát chồng thông qua tài chính, nhiều cũng được, ít không sao, nhưng phải rõ ràng từng khoản từng khoản. Kiểm tra lại thấy không khớp dù chỉ vài nghìn đồng là biết tay bà: Hành ngày không đủ, tranh thủ hành đêm! Không có tiền dư thìbochim.com. Ai cũng hiểu chỉ mình chim không hiểu.
Con chim quý ở lồng son tiếng hót cũng thê lương. Biết thế, nên khi Long đam mê chăm con, đam mê họp phụ huynh và đam mê làm chủ tịch hội phụ huynh lớp rồi đam mê làm chủ tịch hội phụ huynh trường của con thì Tiên luôn đồng ý.
Ngày nọ nàng chết đứng khi phát hiện Long có quỹ đen rất lớn, đủ phạm tội hàng vạn lần. Hơn thế nữa, chàng lại còn thất thân với hiệu trưởng trường ấy.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

CƠ NHỠ TRONG HÒA BÌNH (phần tiếp theo)

thanh thảo

XXI
Có một thời trong văn học Việt Nam người ta hay dùng chữ ‘đông vui” để chỉ một đội ngũ sáng tác. Nếu đó là một lời khen, thì tôi nghĩ nó buồn cười. Văn học, chưa bao giờ ‘đông” mà “vui” cả. Đó không phải là cuộc tụ tập ăn nhậu, một “Ngày hội Đại đoàn kết” hay một bữa giỗ. Văn học, mỗi người đi một đường, mỗi người một kiểu, và như tôi, chỉ thích đi một mình. Lặng lẽ. Như thế thì không thể “đông vui”, nhưng bù lại, nó được việc. Người ta chỉ sáng tác được khi một mình. Nó không hề cô đơn. Nó có thể rất “vui”, nhưng là vui một mình. Chỉ có người đọc thứ hai, thứ ba... nếu tác giả quyết định chia sẻ bản thảo. Khi được về Trại sáng tác văn học quân khu Năm, tôi cũng chỉ nghĩ đó là một cơ quan, một nơi tôi có thể yên ổn ngồi và viết, sau những lúc đi chơi với bạn bè. Trại ấy đúng là như vậy. Chúng tôi chơi với nhau rất thân, ăn nhậu hàng ngày với nhau, nhưng tuyệt đối không ai biết ai đang viết gì. Chỉ khi nào chia sẻ, thì mới biết. Và cũng tuyệt đối không ai góp ý cho ai khi bản thảo chưa hoàn thành. Lúc xong, ra công khai rồi, mới biết. Tôi nghĩ, trại sáng tác, là như vậy. Nó phải tuyệt đối tôn trọng tự do và bí mật của người sáng tác cũng như của tác phẩm. Nghe nói, hồi ấy, trại trưởng Nguyễn Chí Trung cũng có “rèn giũa” hay góp ý cho người này người kia, nhưng tôi hoàn toàn không biết, và cũng không để ý. Khi tôi viết xong trường ca “Những người đi tới biển”, tôi đã đọc bản thảo cho mấy anh em bạn thân nghe, và đọc cho trại trưởng Nguyễn Chí Trung nghe. Anh Thu Bồn, khi đọc tới hai câu thơ trong trường ca : “ Xin mẹ cứ nhai trầu cho buổi chiều yên tĩnh/Chưa tắt ngấn cười kia thì trăng khuyết lại tròn” anh đã bật khóc. Tôi biết, anh Thu Bồn lúc ấy còn mẹ già mà anh không thể phụng dưỡng vì phải đi kháng chiến bao nhiêu năm. Câu thơ tôi đã chạm tới nỗi xót xa của anh-một người con hiếu thảo. Tôi cũng chưa biết số phận bản thảo của mình thế nào, cho tới khi nó được gửi cho NXB Quân đội. Hồi ấy, anh Nguyên Ngọc đã ra Hà Nội, và anh đề nghị ban biên tập NXB cho anh đọc bản thảo. Sau đó, chính anh Ngọc đã thúc đẩy để bản thảo này được in trong thời hạn ngắn nhất, chỉ mất chưa đầy ba tháng kể từ ngày gửi. Phần tôi, điều khiến tôi phấn khởi nhất là được... ứng tiền nhuận bút. Nhà thơ Tạ Hữu Yên, vốn cùng phòng Binh Vận với tôi, đã về công tác tại NXB Quân đội, và ông trực tiếp biên tập bản thảo của tôi. Nhờ mối thân quen đó, tôi cứ gạ ông cho ứng nhuận bút, và lần nào cũng được chấp nhận. Nhớ có lần, nhà thơ Tạ Hữu Yên vào Đà Nẵng công tác, ở lại ngôi nhà Trại sáng tác bố trí cho chúng tôi. Buổi sáng, ông lên sân thượng tập thể dục. Tôi theo lên, không phải để cùng tập với ông, mà nghĩ cách để... mượn tiền ông. Tôi giả vờ không để ý ông đang hăng hái hít thở, cứ hát rống lên một đoạn trong bài hát nhạc sĩ Nguyễn Thành phổ thơ ông: “Không thể nói trời không trong hơn/ và mắt em xanh khác ngày thường/ khi đoàn quân kéo về mùa thu ấy/ nhịp trống rung ba mươi sáu phố phường”. Tôi hát không hay, dĩ nhiên, nhưng rất nhiệt tình. Và tôi liếc thấy nhà thơ Tạ Hữu Yên như đứng sững lại. Ông cảm động. Đúng là nhà thơ, mau xúc cảm. Ngay lúc ấy, tôi ngỏ lời... vay tiền ông, và Tạ Hữu Yên đã vô cùng hào hứng cho tôi... vay. Không kèm bất cứ điều kiện nào. Hồi ấy anh em sống với nhau dễ thương như vậy, dù cùng nghèo túng. Có thể tạm cư, nhưng viết thì không thể tạm bợ. Suốt gần mười năm, từ 1975 tới 1984, lúc nào tôi cũng có cảm giác mình đang ở tạm. Có thể là ở Hà Nội, ở Hải Dương, ở Đà Nẵng hay ở Qui Nhơn. Nhưng chưa bao giờ tôi nghĩ mình viết tạm, dù chỉ một câu thơ. Cơ sự chỉ vì nhà cửa tôi ở lúc ấy rất tạm bợ. Tôi có cảm giác đó là những chỗ trú thân, chưa phải chỗ ở. Vì thế chưa bao giờ tôi nghĩ mình phải mua, phải trang bị cho nơi ở của mình bất cứ thứ gì. Kể cả cái giường nằm, hay cái bàn viết. Kiếm được đồng nào đổ vào ăn nhậu với bạn bè cho vui, thế thôi. Có lẽ lối sống ấy bây giờ không thích hợp, nhưng hồi đó tôi coi là chuyện bình thường, thậm chí chưa bao giờ nghĩ phải khác đi. Có thể hoàn cảnh đất nước lúc ấy cũng thế, có bình mà chưa có an. Và nhiều khi không có cả bình an. Bây giờ thì đã khác nhiều, có thể ngồi viết một cách thoải mái hơn, nhưng cảm giác bất an vẫn còn. Nó lơ lửng ở đâu đó, trong những gì khác với cái tôi đã trải qua. Nếu thi sĩ Trần Vũ Mai từng viết trường ca “Cảm giác lạc quan” ngay sau hòa bình, thì bây giờ không biết nên gọi cái cảm giác mà tôi thoáng nhận là cảm giác gì? Lạc quan chăng, không, mà bi quan, cũng chưa hẳn. Có lẽ nó đi giữa lạc quan và bi quan. Nó đi giữa cái lơ lửng. Đúng kiểu đi mà lâu nay Việt Nam vẫn đi giữa Trung Quốc và Mỹ. Bởi tôi nghĩ nhiều tới biến đổi khí hậu và cạn kiệt tài nguyên. Cạn kiệt tài nguyên chưa chắc đã chết ngay, nhưng biến đổi khí hậu thì dễ… toi lắm đấy. Vậy mà lâu nay nghe tuyên truyền về biến đổi khí hậu rất hời hợt. Người ta nói khai thác tài nguyên theo kiểu tận diệt luôn đi cùng tham nhũng. Đúng như thế. Tham nhũng cũng là một kiểu tận diệt. Tôi đã từng thấy nhiều công trình xây dựng lên tốn hàng trăm tỉ rồi bỏ hoang. Người ta gọi đó là lãng phí. Không phải. Đó là tham nhũng. Chỉ vì mấy chục “phần trăm” bỏ túi cá nhân mà người ta sẵn sàng thiết kế, phê duyệt, xin kinh phí thi công rầm rộ, xong rồi bỏ. Không phải họ không biết, nhưng cứ làm. Đó khác hẳn với lãng phí, là làm mà không biết mục đích sử dụng, không tính được hiệu quả sử dụng. Cũng may là trong một xã hội mà người tốt nhiều hơn kẻ xấu, việc tốt nhiều hơn việc xấu, thì xã hội ấy vẫn tiến lên, dù rất ì ạch. Lãng phí lớn nhất ở nước ta, là lãng phí chất xám. Chất xám vô hình, nhưng sẽ hữu hình khi được thể hiện. Chất xám cũng có thể bị bào mòn, bị thui chột nếu không có đất sống. Bây giờ hư học tràn lan, thực học nghẽn tắc. Người giỏi thật và người “giỏi giả” lẫn lộn, người giỏi thật thiếu điều kiện để chứng tỏ mình, người giỏi giả tăng cường khoa... nói giỏi. Nếu chỉ nghe các chức danh và học hàm học vị, thật chẳng biết ai giỏi ai kém. Trong cái cõi “tù mù” ấy, cộng với internet giúp sức, những kẻ bất tài nhưng già mồm lém miệng tha hồ “đăng đàn” nói xuôi nói ngược, và được hưởng ứng bởi một ít những người “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu”. Như thế, môi trường trí thức là rất có vấn đề. Đó không phải việc của tôi. Vâng, hoàn toàn có thể nghĩ như thế. Nhưng ai cũng nghĩ như thế thì đất nước này nguy to. Ngày xưa, thời thuộc Pháp, nếu ai cũng nghĩ việc cứu nước không phải việc của mình, thì lấy đâu ra những anh hùng hy sinh thân mình cứu nước mà bây giờ chúng ta ngợi ca và cả lợi dụng? Tôi vừa trao đổi với thành phố Quảng Ngãi nên tổ chức một hội thảo khoa học về Trương Quang Trọng - một thủ lĩnh Thanh niên Cách mạngĐồng chí hội, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông Trương Quang Trọng nguyên là một sinh viên trường Thuốc Đông Dương, một người trí thức, con một gia đình khá giả ở huyện Sơn Tịnh - Quảng Ngãi. Sớm tham gia cách mạng, bị Pháp bắt đi đày ở ngục Kon Tum, Trương Quang Trọng đã thể hiện khí phách của một con người có nhân cách vĩ đại, khi tiến lên đối đầu với họng súng của tên quan ba Pháp. Tên này muốn tìm tù nhân Lung để “xài hàng nóng”, nhưng hắn đã gặp Trương Quang Trọng: “ Tao đây! Không có Lung nào hết! Mày muốn bắn thì bắn tao đây này!” Ông Trọng phanh ngực áo nói với tên quan ba bằng tiếng Pháp. Đó là hành động của một người hy sinh vì bạn, hy sinh để giữ danh dự cho những người tù Việt. Tên quan ba Pháp đã nổ súng. Trọng vừa ngã xuống, thì một bạn tù của ông - cũng là người Quảng Ngãi - đã bay lên với “hàng lạnh” trong tay là một con dao nhọn, quyết ăn thua đủ với tên quan ba Pháp. Hồ Độ cũng bị bắn, may không chết. (trích theo hồi ký “Ngục Kon Tum” của Lê Văn Hiến). “Và lồng ngực Trương Quang Trọng ngang tàng thách thức/ và lưỡi dao Hồ Độ phóng qua cái chết/ máu gào thét/ máu/ sáng rực trong khoảnh khắc/”(trích trường ca “Bùng nổ mùa xuân”, thơ tôi). Có lẽ, với những người tù can đảm, “slogan” lúc bấy giờ là “đéo sợ!”. Ngay thời Pháp thuộc với hàng loạt cuộc đấu tranh chống Pháp trong nhà tù, thì tấm gương hy sinh của Trương Quang Trọng là oanh liệt nhất, hào hùng nhất. Lẽ ra, tỉnh Quảng Ngãi đã phải vinh danh Trương Quang Trọng từ lâu rồi. Lý do cho sự chần chừ chậm trễ này có lẽ vì Trương Quang Trọng không phải…đảng viên cộng sản. Không phải cộng sản, nhưng là thủ lĩnh Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội - là…anh ruột cộng sản, tổ chức do chính Bác Hồ sáng lập từ năm 1925.

XXII
Chính những ngày lang thang sau chiến tranh đã cho tôi một thói quen: thích lang thang. Bây giờ lớn tuổi, thích ngồi nhà, uống cà phê cũng ở nhà, chứ hồi trẻ, tôi chỉ thoải mái khi ở ngoài đường. Tôi có thể ở ngoài đường suốt ngày, tới đêm luôn. Với một chiếc xe đạp, thế là miên man và rời rạc, hết chỗ này lại chỗ kia, hết nhà này tới nhà khác. Tôi không du lịch, chẳng phượt, chỉ lang thang. Vô mục đích và vu vơ. Nhưng tôi thích. Bây giờ đến nhà ai cũng ngại, chứ hồi ấy, thấy vui. Nghe nói hồi xưa ở Nga cũng có những người lang thang cơ nhỡ như vậy, họ hành hương khắp nơi chứ không hành hương riêng về Đất Thánh. Người Nga gọi họ là “palomnhik”. Tôi chẳng biết mình có giống những palomnhik ấy không, nhưng đúng là tôi thích lang thang. Dĩ nhiên đích đến luôn là bạn bè. Bạn bè tôi đều nghèo, nhưng không ai lấy đó làm điều. Bây giờ nghèo thấy khổ, hồi ấy không. Nhà tôi 12m2 nhưng lúc nào cũng có khách. Từ những nhà văn tên tuổi trong cả nước tới những anh lang thang cơ nhỡ như tôi. Tất cả đều được đón chào ở nhà tôi, và tất cả đều vui lòng khi cùng gia chủ dùng tạm bữa cơm đạm bạc (ít đạm và ít tiền) hay vầy các cuộc nhậu. Tôi nhớ, có lần nhà thơ Xuân Diệu tới nhà tôi chơi, vợ tôi nấu món bún chả cá, ông ăn ngon miệng tới mức đứng lên không nổi luôn. Vì ngồi trên giường ăn cơm, chứ nhà tôi không có bàn ăn. Giờ nghĩ lại, vẫn thấy xúc động: hồi ấy khổ, mà vui. Chính từ cuộc sống thiếu bài bản như thế, đâm ra tôi viết được, viết được rất nhiều. Nhà thơ, cũng không cần quá tiện nghi để sáng tác. Nhiều khi sướng quá chưa chắc đã có tác phẩm. Vì khi viết, anh chỉ tập trung vào trang viết, dù là viết trên giấy hay trên máy tính, ngoại cảnh khi ấy bị xóa. Đã bị xóa, thì tiện nghi hay bất tiện cũng thế thôi. “Thân thể ở ngoài lao/Tinh thần ở ngoài luôn/”, tôi hay ngâm nga câu thơ độ chế lại từ “Ngục trung nhật ký” của Bác Hồ, người có một tuổi thanh niên vô cùng vất vả và lang thang cơ nhỡ gần như khắp địa cầu. Người như thế, chưa cần làm lãnh tụ hay gì cả, đã vô cùng đáng kính trọng. Những trải nghiệm của riêng người ấy đã bằng trải nghiệm của rất nhiều người cộng lại. Ở nhà số 9 ngõ Công Poăng (9 Impasse Compoint), dù ôm viên “gạch hồng” hay ôm gối ngủ, thì người thanh niên Nguyễn Ái Quốc vẫn là người Việt Nam yêu nước lang thang bậc nhất thời ấy. Không phải ôm cái gì, mà sống như thế nào. Bác Hồ, có thể còn những bí mật đời tư mà chúng ta chưa biết, nhưng chỉ với những gì đã biết, thì tuyệt đối không cần “huyền thoại hóa” gì cả, Bác đã là một vĩ nhân.

Khi lối văn chương sáo rỗng lên ngôi, người ta gọi đó là “văn mẫu”. Tới điếu văn cũng phải dùng “điếu văn mẫu” thì hết biết! Tôi đang dùng một lối văn “phi mẫu” để viết quyển sách này. Có thể coi đó như một phản ứng về lối viết. Tôi cứ viết tự nhiên, nghĩ gì viết nấy, không theo ai và chẳng mong ai theo mình. Khi ký ức ùa về, thật khó “thành kính phân lô”, vì ký ức có khi rất lộn xộn, vừa mập mờ vừa rời rạc, vụt sáng rồi vụt tắt. Chúng ta sống với ký ức, nhiều hơn là ký ức sống với ta. Bởi nó độc lập, trong ta và ngoài ta. Nhiều lúc, tôi muốn để ký ức tự vận hành khi viết, nhưng như thế sẽ rất tù mù. Thăm dò món này thật không đơn giản. Nhớ hồi cơ nhỡ đó, tuyệt đối không ai có điện thoại, vậy mà sao chúng tôi vẫn gặp nhau hàng ngày một cách khá dễ dàng. Luôn biết giờ nào thì bạn mình ở đâu, cứ tới đúng nơi đúng lúc là gặp. Gặp nhau, anh em biết nhau có tiền hay không ngay. Nếu đều không có, thì phải nghĩ cách. Còn chỉ một người có, là xong. Khoảng sau năm 80, khi nghệ sĩ piano Đặng Thái Sơn nổi tiếng thế giới, anh đã có tiền mua cho bố - nhà thơ Đặng Đình Hưng - một căn hộ khiêm nhường ở Giảng Võ. Rất khiêm nhuờng với bây giờ, nhưng hồi đó là ngon. Tôi nhớ nhiều lần tới thăm nhà bác Đặng Đình Hưng và uống rượu với bác, mỗi khi ra về bác Hưng lại dặn: “ Cậu nhớ gọi điện thoại cho mình nhé! Số máy của mình là...”. Đó là số máy bàn. Nhưng hồi đó tôi có biết điện thoại là cái gì đâu! Lấy đâu ra điện thoại, dù điện thoại bàn, để gọi cho bác Hưng. Người già sống một mình, con cái sắm cho cái điện thoại để gọi “chém gió” cho đỡ buồn, nhưng ở thời chả ai có điện thoại, nhất là những bạn văn nghệ nghèo, thì đành chịu. “Cuộc đời vẫn đẹp sao”, thôi thì lại hát và lại đi. Trời có xanh hay mù, thì cũng đi tới quán rượu, hay khá hơn, tới quán bia hơi. Hồi đó đơn giản quá. Bây giờ, chỉ cần tắt điện thoại, là coi như rơi vào khoảng mịt mùng. Phương tiện khiến chúng ta trở nên ỷ lại, và đó là điều không nên. Nhưng thời này mà không dùng điện thoại di động như ông Ngô Thế Oanh bạn tôi, thì cũng không ổn. Nhiều khi muốn gọi điện, muốn trao đổi từ một khoảng cách xa hàng nghìn cây số, nếu không dùng điện thoại di động, thì biết làm sao? Vi tính cũng không dùng nốt, thì biết thế nào? Tôi có những người bạn lạ, theo nghĩa cá tính lạ, ông Oanh này là một. Là Tổng biên tập tạp chí Thơ của Hội nhà văn, mà điện thoại không có, vi tính không dùng, chỉ thích đi bộ. Xe “ba nghìn con trâu” thật vô cùng xa lạ với một nhà thơ như thế. Tôi cũng là người không quan tâm mấy tới tiện nghi, nhưng tối thiểu như điện thoại di động (dù loại “cục gạch”) hay vi tính thì phải có. Để làm việc chứ không phải để chém gió. Tôi rất hâm mộ những người biết làm chủ phương tiện, vì họ có kỹ năng tốt. Người như thế luôn tự tin và chủ động. Nhất là với những người lớn tuổi, khi họ có kỹ năng tốt, họ luôn trẻ hơn tuổi của mình. Tư duy và lao động luôn làm chúng ta trẻ lại. Tỉ phú Warren Buffett là một tấm gương lớn về chuyện này. Ông tự lái một chiếc xe cũ, rất ít xài tiền, nhưng luôn vận động đầu óc, và luôn ở tốc độ cao trong tư duy. Người như thế trẻ lâu lắm. Vì họ chỉ “tham” kiến thức, tham trí tuệ, không tham tiền. Hàng tỉ đô đối với họ chỉ để chứng minh năng lực làm việc. Biết cho đi chính là biết sống. Tôi không có tiền nhiều, không phải tỉ phú, nhưng tôi biết cho đi, và biết sống. Vì thế đầu óc tôi luôn thanh thản. Biết làm “rỗng” đầu óc để có thể tích chứa, chúng ta luôn vui với bất cứ tuổi nào. Bây giờ hay quên một số thứ, nhưng như thế là hợp qui luật bộ nhớ. Lại nhớ, cách đây 25 năm, một quan chức tuyên huấn hay rao giảng về chuyện “ chúng ta phải tăng cường độ “bít” thông tin”. Tôi nghe không hiểu gì cả, nhưng tôi biết vị quan chức này cũng chẳng biết gì hơn tôi về công nghệ thông tin. Nói những điều mình không biết, thì còn khó hơn cho “lạc đà qua lỗ trôn kim”, như Kinh thánh dạy.


Phần nhận xét hiển thị trên trang