Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2015

Đọc Lưu Á Châu để hiểu thêm một vài vấn đề về Trung Quốc

Tướng Trung Quốc bàn về niềm tin và đạo đức 

Tác giả: Lưu Á Châu (Liu Ya-zhou, Trung Quốc)
____________


Đọc Lưu Á Châu để hiểu thêm một vài vấn đề về Trung Quốc: 
Cuộc chiến Việt Nam 1979

Sau khi nói về “Giấc mơ quân đội và đất nước hùng mạnh”; “đây không chỉ là giấc mơ mà đã trở thành niềm tin vững chắc của tôi”, “tôi rất yêu quý quân đội chúng ta, 15 tuổi, tôi nhập ngũ, đến nay đã 34 năm trong quân đội; tôi đã cống hiến cả tuổi thanh xuân và sẽ cống hiến cả đời mình cho quân đội”, ông ta nói về việc “quân đội Trung Quốc đã hai lần phát huy vai trò chính trị quan trọng”.
Một lần là sóng gió chính trị 4/6 (sự kiện quân đội giải tán biểu tình tại Thiên An Môn 4/6/1989). “Có thể nói, không giải quyết vấn đề “4/6”, không có cục diện phát triển phồn vinh của Trung Quốc ngày hôm nay; không có quân đội, vấn đề ngày “4/6” sẽ không giải quyết, cũng không thể có 13 năm huy hoàng”.Thiên An Môn là chuyện của Trung Quốc, còn đây là chuyện liên quan đến Việt Nam chúng ta. “Một lần khác là cuộc chiến tự vệ chống Việt Nam năm 1979 và cuộc chiến “Lưỡng Sơn” sau này (cuộc chiến “Lão Sơn” và “Giả Âm Sơn” theo cách gọi của Trung Quốc, tức cuộc lấn chiếm của Trung Quốc ở khu vực điểm cao 1509 huyện Vị Xuyên và Núi Bạc, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang, Việt Nam - N.D). Đặc biệt là cuộc chiến tự vệ đánh trả Việt Nam năm 1979, nhiều đồng chí chưa nhận thức được ý nghĩa của cuộc chiến này.
Khi đó, có người nói: chúng ta đánh nhau với người Việt Nam, hiện nay, những người hy sinh là liệt sĩ, sau khi quan hệ hai nước trở lại tốt đẹp, họ sẽ là gì? Tôi trả lời: “Vẫn là liệt sĩ!”. Vì sao? Chúng ta phải nhìn nhận cuộc chiến này từ góc độ chính trị. Ý nghĩa của cuộc chiến này nằm bên ngoài cuộc chiến. Cuộc chiến này của đồng chí Đặng Tiểu Bình là đánh để hai người xem, một là Đảng Cộng sản Trung Quốc, hai là người Mỹ.
Sau khi Đặng Tiểu Bình trở lại cầm quyền vào năm 1978, tháng 1/1979, ông thăm Mỹ, tháng 2/1979 đánh Việt Nam. Về chính trị, cuộc chiến này không thể không đánh. Vì sao? Sau khi Đặng Tiểu Bình trở lại nắm quyền, chương trình cải cách mở cửa của Trung Quốc đã được ông vạch sẵn, muốn thực hiện chương trình này phải xác lập quyền lực tuyệt đối trong nội bộ Đảng. Phải đánh một trận. Khi đó, “bè lũ bốn tên” vừa bị đập tan, những người có tư tưởng cực tả trong nội bộ Đảng còn rất đông, họ vừa chống lại Đặng Tiểu Bình, vừa phản đối lại đường lối và chính sách của ông. Muốn cải cách phải có quyền lực. Biện pháp xác định quyền lực nhanh nhất là gây chiến tranh. Lưu Dụ (?) cũng làm như vậy. Khi đó, rất nhiều người phản đối chiến tranh, cho rằng Quân Giải phóng vừa trải qua “cách mạng văn hóa”, không thể đánh trận được. Tuy nhiên, Đặng Tiểu Bình rất quyết đoán, dẹp mọi tranh cãi, chỉ huy Quân Giải phóng ào ạt vượt qua biên giới vào ngày 17/2. Thứ hai là người Mỹ, ý nghĩa của việc này cũng rất lớn.
Đến nay, Đặng Tiểu Bình đã xa chúng ta được 5 năm, nhưng tôi cũng luôn cảm thấy ông ở cạnh bên chúng ta. Lý Hiến Trung (Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Không quân Bắc Kinh) nói: “Mao Trạch Đông của chúng ta, càng ngẫm càng thấy vĩ đại”. Thời gian càng lùi xa, sự vĩ đại của Đặng Tiểu Bình càng khiến chúng ta cảm nhận rõ ràng hơn. Ông chuyển hướng cả đất nước Trung Quốc chúng ta. Các đồng chí thấy đấy, cuộc chiến này xảy ra năm 1979.

Trung tướng Lưu Á Châu. Nguồn: Shanghaiist.com.
Năm 1975, sau khi hao binh tổn tướng, người Mỹ cuống cuồng tháo chạy khỏi Việt Nam. Đặng Tiểu Bình nói, tôi dạy cho Việt Nam một bài học. Khi đó, Việt Nam đang theo ai? Đang theo Liên Xô. Đặng Tiểu Bình tấn công. Cuộc chiến phản kích tự vệ đối với Việt Nam vào lúc đó của Đặng Tiểu Bình thực sự đã đưa Trung Quốc ra khỏi cái gọi là phe xã hội chủ nghĩa của Liên Xô. Khi ấy, nhiều nước Đông Âu không hài lòng, nói rằng một nước xã hội chủ nghĩa lại đánh một nước xã hội chủ nghĩa khác. Khi đó, Đặng Tiểu Bình đã thấy rõ không cần thứ chủ nghĩa xã hội ấy của họ. Kết quả như thế nào? Chủ nghĩa xã hội giả hiệu đã chết yểu.
Vào năm 1989, tất cả các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ hàng loạt. Ngay cả Liên Xô cũng tan rã. 10 năm trước đó, Đặng Tiểu Bình đã nhận ra vấn đề này, dùng chiến tranh để vạch rõ ranh giới với các nước xã hội chủ nghĩa. Đặng Tiểu Bình, thật là một kỳ tài! Vừa rồi, tôi nói gây ra cuộc chiến tranh này vì người Mỹ, chính là trả hận cho người Mỹ. Có bằng chứng không? Có đấy. Ngày hôm trước rời Nhà Trắng thì ngày hôm sau, Đặng Tiểu Bình bắt đầu đánh Việt Nam. Vì sao có thể giúp Mỹ hả giận? Bởi vì, người Mỹ vừa tháo chạy nhục nhã khỏi Việt Nam. Chúng ta sao lại giúp người Mỹ hả giận? Thực ra không phải vì Mỹ, mà là vì chúng ta, vì cải cách mở cửa. Trung Quốc không thể cải cách mở cửa mà không có viện trợ của các nước phương Tây, đứng đầu là Mỹ. Nhờ cuộc chiến này, Mỹ đã ồ ạt viện trợ kinh tế, kỹ thuật, khoa học kỹ thuật và cả viện trợ quân sự, tiền vốn cho Trung Quốc.
Tuần trăng mật giữa Mỹ và Trung Quốc kéo dài đến mười năm, đến ngày 4/6/1989 mới tạm lắng. Cuộc chiến này đem lại cho Trung Quốc những gì? Đó là một lượng lớn thời gian, tiền bạc và kỹ thuật. Nhờ những yếu tố này, Trung Quốc tiếp tục đứng vững sau khi Liên Xô sụp đổ. Đây là thành công vĩ đại. Thậm chí có thể nói, bước đi đầu tiên của cải cách mở cửa Trung Quốc chính là từ cuộc chiến tranh này. Với ý nghĩa đó, cống hiến của quân đội Trung Quốc đối với công cuộc cải cách mở cửa thật to lớn vô cùng” (1).
Người Việt Nam chúng ta cũng nên biết về chuyện nội bộ của quân đội Trung Quốc, từ cách nhìn của người chỉ huy cao cấp, đã nhuốm màu “quan phương”, nhưng cũng có tình tiết lý thú; làm ta hiểu rõ thêm thực chất của cuộc chiến tranh mà ông Lưu gọi là “tự vệ”! (Trung Quốc đánh Việt Nam từ lệnh của Đặng Tiểu Bình là do ông nói ra, chứ Việt Nam có đánh Trung Quốc trước đâu!).
TÂM LÝ QUÂN ĐỘI TRUNG QUỐC - NHÌN TỪ ÔNG LƯU
Khi đó, tôi đến thăm bộ đội tham gia chiến đấu, để lại ấn tượng rất sâu đậm đối với tôi. Khi ấy, cải cách mở cửa đã bắt đầu, đặc biệt là khi tác chiến ở “Lưỡng Sơn”, hậu phương vẫn ca hát nhảy múa trong thanh bình. Các cán bộ chiến sĩ không những phải đối mặt với thử thách sinh tử, mà đều có gánh nặng cuộc sống. Đặc biệt là cán bộ cơ sở, hầu hết gia đình đều rất khó khăn. Lúc đó, tôi đến viếng một chính trị viên đại đội của Quân đoàn 14, anh ta đã hy sinh. Vợ anh ta gặp tôi, nói rằng, trước khi ra trận, chồng chị vẫn còn nợ tiền, khi phát lương tháng cuối cùng trước khi ra trận, trừ hết các khoản nợ, chỉ còn 5 xu tiền lương trong túi. Cuối cùng, cô ấy đưa cho tôi xem bản kê di vật, chỉ còn đúng 5 xu. Tôi thấy thật xót xa.
Có một chiến sĩ gia đình nghèo đói, di chúc của họ thật đầy máu và nước mắt. Trong di chúc của một chiến sĩ, có đoạn, nếu tôi chết, mong công xã hãy cho gia đình tôi một con bò. Có người khác viết, nếu tôi chết, hãy cởi bộ quân phục của tôi đem về quê, anh em nhà tôi không có quần áo để mặc. Xem những trang viết này thật là xót xa.
Tinh thần của các binh sĩ vĩ đại như núi Thái Sơn. Từ hậu phương đến tiền tuyến, tôi thấy sự chênh lệch quá lớn, không thể nói lên lời! Không chỉ là cuộc sống mà còn những cái khác. Chẳng hạn, tôi đã từng điều tra bộ đội tham chiến ở bốn quân đoàn, những cán bộ có vợ chưa cưới thì 100% đều từ hôn, không có trường hợp ngoại lệ. Tôi xem thư đoạn tuyệt hôn nhân của một cô gái, viết cũng rất có lý:“Anh hy sinh không còn không sao, nếu anh bị thương mất chân mất tay, chúng ta sẽ biết sống ra sao?”. Đây cũng là thực tế. Một chính trị viên phó đại đội ở quân đoàn 27 dẫn đầu đội xung kích tấn công một ngọn núi, bị hy sinh, cả đội xung kích có 30 người thì hy sinh 20.
Sau khi trở về, đại đội tập hợp những người sống sót trong toàn đại đội điểm danh, thi thể của chính trị viên phó đại đội và hai mươi mấy chiến sĩ đặt trên một sân phơi của dân. Vào lúc đó, thư của vợ chưa cưới chính trị viên phó cũng vừa gửi đến. Thư gì vậy? Thư cắt đứt quan hệ hôn nhân. Trước mặt những người sống sót và trước thi thể những người đã hy sinh trong đó có chính trị viên phó, đại đội trưởng đã đọc bức thư ấy, các chiến sĩ toàn đơn vị ai cũng đầm đìa nước mắt. Tôi luôn thấm thía khung cảnh khi ấy và tâm trạng của họ. Ánh sáng nhân tính vào thời điểm ấy mới rực sáng nhất. Khi bước vào chiến đấu rất hiếm thấy lời nói hùng hồn. Thật sự có thể làm rung động lòng người thì tuyệt đối không thể tràng giang đại hải, càng không thể là đạo lý suông. Trầm tĩnh có sức mạnh lớn hơn nhiều so với ồn ào náo động.
Tôi đi qua một đơn vị chuẩn bị bước vào chiến đấu, tâm trạng háo hức trước khi tham chiến của bộ đội như miêu tả trong tiểu thuyết, trên phim ảnh, truyền hình… tất cả đều chỉ là sự phóng đại. Trước khi tác chiến, một vùng bộ đội đóng quân tĩnh lặng như tờ. Cán bộ chỉ huy đều ẩn nấp ở nơi rất xa. Khi thời bình, số cán bộ chỉ huy này rất khí phách hào hùng. Có một cán bộ cho đến nay vẫn còn duy trì quan hệ với tôi. Khi đó tôi là cán bộ cấp Tiểu đoàn phó, anh là Sư đoàn trưởng. Anh gặp tôi, nói một cách khí phách: “Tôi có 3 suy nghĩ, cậu hãy viết thành sách cho tôi! Thứ nhất, tôi muốn làm George Smith Patton Jr của Trung Quốc; thứ hai, binh sĩ được coi là gì? Binh sĩ chính là những con số Ả rập; thứ 3, tôi mong mỏi được đánh trận. Đánh một trận thăng một cấp”.
Chính vì mấy câu nói đó, tôi đã không tha thứ cho anh ấy. Anh ấy không có thiện cảm với chiến sĩ. Thời bình, nếu Đại đội trưởng, người chỉ huy có quan hệ tốt với chiến sĩ, thì có thể đoàn kết thành một tập thể vững mạnh, nhưng nếu có chút mâu thuẫn, chắc chắn sẽ dẫn đến tình trạng mỗi người một phách. Tuy nhiên, khi chiến tranh nổ ra, cán bộ, chiến sĩ cũng sẽ sẵn sàng xông pha không chùn bước.
Các bạn đều biết tôi từng viết một tác phẩm có tiêu đề Vương Nhân Tiên. Tác phẩm này đã gây tiếng vang rất lớn. Vương Nhân Tiên là Phó Tham mưu Đại đội thuộc Sư đoàn 14, Quân đoàn 14, người Côn Minh, thuộc dòng dõi con em cán bộ. Trước chiến tranh, Vương Nhân Tiên từng bị xử lý do vi phạm kỷ luật, sau này hy sinh. Có người cho rằng anh ấy không phải là anh hùng, nhưng tôi cho rằng anh ấy là anh hùng, hơn thế nữa còn là anh hùng đích thực.
Quân đoàn trưởng Quân đoàn 14 khi đó, xxx từng nói: “Nghe nói Lưu Á Châu muốn viết về Vương Nhân Tiên? Quân đoàn 14 có nhiều nhân vật anh hùng như vậy sao không viết, lại đi viết về một người như vậy?”. Người khác đem chuyện này kể với tôi, tôi chỉ bĩu môi một cách khinh thường. Hugo từng nói, trong chủ nghĩa anh hùng đích thực tuyệt đối có một chủ nghĩa nhân đạo đích thực tuyệt đối. Rủi ro của Vương Nhân Tiên chính là điển hình của chủ nghĩa nhân đạo, đồng thời cũng là điển hình của chủ nghĩa anh hùng.
Vương Nhân Tiên vốn yêu một cô bạn gái tại Côn Minh, nhưng khi quân đội di chuyển đến Lão Sơn, cô bạn gái này đã cắt đứt quan hệ với Vương Nhân Tiên. Sau khi quân đội tiến vào khu vực Lão Sơn, đóng quân tại một địa phương gọi là Lạc Thủy Động. Vương Nhân Tiên và một số cán bộ khác ở trong một gia đình nông dân người Miêu. Nữ chủ nhà là một cô gái dân tộc Miêu rất xinh đẹp, vừa kết hôn không lâu, có một đứa con mới sinh. Tính cách của cô gái này tràn đầy nhiệt huyết, rắn rỏi khí khái. Đa phần các cô gái dân tộc thiểu số đều có đặc điểm chung như vậy. Không giống với các cô gái dân tộc Hán, không dám yêu cũng không dám oán hận. Dân tộc Hán là một dân tộc không có tình yêu nhất. Dù dân tộc Hán có dân số đông nhất trên thế giới, nhưng họ không có tình yêu. Ở nước ngoài vì tình yêu có thể gây chiến tranh, Trung Quốc có thể không? Ngô Tam Quế được coi là nam nhi dám chiến đấu vì tình yêu, lại vẫn bị cho là Hán gian.

Cô gái Miêu. Tranh của Jin Ming Lee.
Cô gái người Miêu ở Lạc Thủy Động sau khi nhìn thấy Vương Nhân Tiên đẹp trai, phong độ, cao 1m82. Nghe nói trên khuôn mặt anh ấy luôn mỉm cười, ban đầu Vương Nhân Tiên không hề để ý tới cô ta. Phụ nữ nông thôn mà, gia cảnh rất nghèo. Mặc dù, lớn lên rất xinh đẹp, nhưng đã là người có con. Trước khi bộ đội lên Lão Sơn, cô gái người Miêu đã rót nước vào bình cho tất cả các chiến sĩ đóng quân tại nhà cô và cố ý cho thêm đường vào bình của Vương Nhân Tiên, đường cho vào nhiều đến mức ngọt như mật ong.
Buổi tối, cô gái người Miêu bế con đến phòng của Vương Nhân Tiên. Cô đã hành động một cách tự nhiên nhất trước mặt Vương Nhân Tiên: cởi áo cho con bú. Hai người cứ ngồi với nhau như vậy trong căn phòng. Vương Nhân Tiên ra sức rít thuốc. Anh ấy đang cố gắng kìm chế. Nhưng cuối cùng không kìm chế nổi. Vì sao không thể? Điều này là có lý do, lý do đó chính là ngày mai bộ đội phải lên Lão Sơn. Chuyến đi này có thể anh ấy muốn “ghi danh”. Anh ấy là người đàn ông có tâm huyết, chính trực, chưa từng quan hệ với phụ nữ. Anh khẳng định, nghĩ lại chuyện đó anh vẫn không đành lòng. Đây là lẽ hết sức thường tình của con người.
Khi đó, hai người đã quan hệ trong chuồng heo. Ngày thứ 2, tình hình đột nhiên thay đổi, các cuộc tiến công đã bị hoãn lại. Kế hoạch tác chiến bị trì hoãn, vì vậy tình yêu của họ đã đến một cách tự nhiên như vậy. Bất cứ việc gì đều giống nhau, đã có một lần thì sẽ có một trăm lần. Trong những ngày đó, bất cứ nơi đâu của Lạc Thủy Động đều lưu lại những hình ảnh yêu thương của họ. Tuy nhiên, số lần quan hệ trong chuồng heo cũng tương đối nhiều. Vương Nhân Tiên sau mỗi lần làm chuyện đó đều hút thuốc, hết điếu này đến điếu khác, thật là nguy hiểm. Cô gái Miêu rất hạnh phúc, đã hát ngay tại chuồng heo. Một cô gái thật có cá tính!
Sau này, người chồng của cô đã phát hiện ra, hỏi cô đã quan hệ với ai, cô không nói, cuối cùng chồng cô đã báo cáo vụ việc lên đơn vị. Tập đoàn quân 14 cảm thấy đây là một sự việc hết sức nghiêm trọng, phá hoại kỷ luật quần chúng. Quân đoàn trưởng Quân đoàn 14 xxx ra lệnh xử nghiêm. Quân đội đã triệu tập tất cả các cán bộ và binh lính đóng gần nhà cô gái Miêu, xếp thành hàng, gọi cho cô gái đến nhận mặt. Cô gái người Miêu thật cương nghị, hôm đó tôi cảm thấy còn phải cung kính nể phục. Cô bước tới phía trước Vương Nhân Tiên, chỉ tay nói: “Chính là anh ấy” rồi lại nói một câu gì đó, tôi nghe không hết, nhưng ý nói là tôi thích anh ấy, tôi yêu anh ấy. Trưởng ban Bảo vệ nói: “Tôi đã sớm đoán được là Vương Nhân Tiên. Tôi đã nhìn thấy đầu thuốc lá cao cấp có ở khắp nơi trong chuồng heo. Mùi thơm của những đầu thuốc này chỉ có anh ta hút”.
Vương Nhân Tiên bị kỷ luật và giáng cấp từ Phó Đại đội xuống cấp Trung đội. Ngày tấn công Lão Sơn, Trung đoàn điều Vương Nhân Tiên lên tuyến đầu. Ngày 12/7, một sư đoàn của Việt Nam và quân ta đã xảy ra một cuộc chiến giằng co quyết liệt tại khu vực Lão Sơn. Pháo bắn suốt ngày đêm. Vì Lạc Thủy Động cách tuyến đầu rất gần, có thể nhìn thấy một vùng trời rực lửa đạn bom. Cô gái người Miêu cứ ngồi ở đầu thôn, ngóng về phía Lão Sơn. Người chồng đã đánh cô, xuống tay rất nặng. Đầu và mồm đều bị chảy máu, làm cô bất động. Vương Nhân Tiên đang chiến đấu tại điểm cao nhất của mặt trận. Anh là tham mưu pháo binh, đã kịp thời báo cáo hàng nghìn tình huống cho pháo binh tuyến sau. Hỏa lực pháo binh của quân ta dài như tầm mắt, dội lên đầu kẻ địch.
Tháng 8, tôi leo lên Lão Sơn, nhìn xuống phía dưới, vẫn còn nhìn thấy cảnh thây xác. Đó đều là xác quân địch bị bắn chết trong cuộc chiến “12/7”. Sau này, quân địch phát hiện trên địa phương này có căn cứ, đã tập trung hỏa lực đánh vào đây. Vương Nhân Tiên đã hy sinh. Đồng đội của anh ấy nói rằng, khi chết, anh đang dựa vào một gốc cây và cứ đứng chết như vậy. Sau khi bộ đội rút đi, vẫn đi qua Lạc Thủy Động. Cô gái người Miêu đứng ở đầu thôn, tìm từng người, từng người một. Các sĩ quan binh lính đi ngang qua cô, họ đều cúi đầu, giống như đã phạm một lỗi lầm. Họ đã thay đổi quan điểm về Vương Nhân Tiên và khi đó đã có một tâm trạng hoàn toàn thay đổi.
Cuối cùng, cô gái cũng biết Vương Nhân Tiên đã hy sinh. Bạn xem cô gái đó sẽ làm gì? Cô đã bán tài sản trong nhà lấy tiền mặt, mua hai tút thuốc lá đầu lọc tương đối cao cấp, đến trước mộ của Vương Nhân Tiên, bóc toàn bộ hai tút thuốc, rồi châm lửa từng điếu từng điếu một, cắm lên mộ. Trên mộ đã cắm đầy thuốc. Khi đó, tôi nghe thấy hết sức cảm động.
Năm 1984, khi tôi đến Lão Sơn thì mộ của Vương Nhân Tiên đã được xây rồi. Ban đầu, trong quân đội không ghi công cho Vương Nhân Tiên, sau này, do yêu cầu mạnh mẽ của các nhà văn như chúng tôi, Vương Nhân Tiên đã được ghi công, đại để được ghi công hạng nhất. Khi đó, tôi đi tìm bia mộ tại nghĩa trang liệt sĩ và tôi đã tìm thấy. Tôi đã học theo cách của cô gái người Miêu, bóc một bao thuốc lá, đốt từng điếu và cắm lên mộ anh. Khi đó, tôi là Phó Tiểu đoàn Ban Liên lạc Không quân.
Năm 1999, tức 15 năm sau đó, tôi đảm nhiệm cương vị Chủ nhiệm Chính trị Không quân Bắc Kinh, tôi lại cùng một vài đồng chí Trưởng ban như Vương Xuân Ba, Lưu Phan đã đến nghĩa trang liệt sĩ Ma Lật Pha. Lão Sơn vẫn xanh tươi như xưa. Lần đó, tôi chỉ mang rượu, thuốc lá từ Bắc Kinh, trước mộ Vương Nhân Tiên tôi đã rót rượu và châm thuốc mời anh. Tôi và các đồng chí đi cùng đều không cầm được nước mắt. Họ nói, Chủ nhiệm vẫn còn tình cảm sâu đậm với vùng đất này quá! Sau khi tôi đến công tác tại Không quân Thành Đô, tạm thời tôi vẫn chưa đi. Đương nhiên tôi muốn đi. Bia mộ ngàn năm vẫn biết nói. Khu vực Ma Lật Pha có vài nghìn ngôi mộ, đến gần mỗi ngôi mộ là đến gần một linh hồn. Đến gần nghĩa trang liệt sĩ Ma Lật Pha, những toan tính đời thường trong đầu không còn tồn tại nữa (2).
(Mời xem tiếp kỳ sau)V.H.N trích bình

(1) & (2)
Bản dịch của TTXVN.
Nguồn: Tạp chí Hồn Việt - webcache

__________________________



22/08/2010 
Một khuôn mặt khác của Lưu Á Châu 
Dương Danh Dy trích dịch
imageVừa qua Vietnamnet và một số báo mạng tiếng Việt nước ngoài đã đăng bài viết của Lưu Á Châu (mạng BVN đã đưa lại bài này từVNN), một Trung tướng, nguyên Chính ủy không quân Trung Quốc. Điều đáng tiếc là người giới thiệu bài viết trên chỉ sử dụng khoảng 7 trang trên tổng số 22 trang (chữ Trung Quốc) của bài nói đó, bỏ hẳn phần “Niềm tin” và đặc biệt đã bỏ qua đoạn nói rõ quan điểm của tác giả về vai trò của quân đội Trung Quốc, đồng thời cũng là quan điểm của tác giả đối với cuộc đàn áp phong trào học sinh sinh viên Trung Quốc năm 1989 và cuộc chiến tranh biên giới năm 1979…
Vì vậy xin mạn phép trích dịch bổ sung mấy đoạn đưới đây để bạn đọc trong và ngoài nước có cái nhìn toàn diện hơn, chính xác hơn về quan điểm nghe có vẻ cấp tiến của Lưu Á Châu để bạn đọc nhìn nhận toàn diện hơn về con người hai mặt của Lưu. Có thể sau khi đọc xong, một số bạn đọc sẽ vỡ mộng về “người Trung Quốc tiến bộ này” như đã có bạn đọc nói với tôi… Nhưng sự thật vẫn là sự thật, dù có đi theo “con đường Mỹ” chăng nữa, Trung Quốc “bá quyền nước lớn” vẫn là “Trung Quốc bá quyền nước lớn”. Xin đừng ảo tưởng.
Dương Danh Dy
Vấn đề niềm tin
Martin Luther King nói: “Tôi có một giấc mơ”, cũng giống như ông, tôi có một giấc mơ. Giấc mơ quân đội hùng mạnh, giấc mơ đất nước hùng mạnh. Hai giấc mơ đó thực ra là một giấc mơ, đã trở thành niềm tin kiên cường của tôi. Chúng ta đều là quân nhân. So với tôi, các anh đều là những quân nhân trẻ tuổi. Khi lên lớp tại Đại học Kỹ thuật quốc phòng tôi đã từng dẫn một câu của Mao Chủ tịch: “Thế giới là của các bạn, cũng là của chúng ta, nhưng nói cho cùng là thuộc về các bạn”. Tôi nói, quân đội là của các anh, bởi vì các anh cũng là mặt trời của quân đội. Tôi vô cùng yêu mến đạo quân này. Tôi tham gia quân đội năm 15 tuổi, đến nay đã 34 năm, Tôi đã hiến dâng tuối thanh xuân cho quân đội, tôi nhất định sẽ hiến dâng cả đời cho quân đội, tuy vậy tôi không dám nói liệu có hiến dâng con cháu cho quân đội hay không. Tôi sinh ra trong doanh trại quân đội, lớn lên trong doanh trại quân đội. Cha tôi là một người lính già, năm 1939 ông và 6 thanh niên nông dân cùng quê tham gia Bát Lộ quân. Trong chiến dịch tàn khốc Mạnh Lương Cố, 6 người ấy đều hy sinh trong chiến đấu, chỉ còn lại một cha tôi…
Từ cải cách mở cửa đến nay về chính trị quân đội Trung Quốc đã hai lần phát huy vai trò quan trọng.
Một là cơn bão táp chính trị “6-4” [đàn áp Thiên An Môn]. Đồng chí Tiểu Bình đã nói, cơn sóng gió này sớm muộn sẽ dến. Không thể không đến, nhưng có khả năng sẽ đến sớm. Sau “6-4” công cuộc cải cách mở cửa ở nước ta bước sang một trang mới. Gần đây mọi người học tập Báo cáo chính tri của “Đại Hội 16” trong đó có một mệnh đề quan trọng, đó là thành tựu huy hoàng 13 năm qua của trung ương đảng do đồng chí Giang Trạch Dân làm hạt nhân… Có thể nói không có sự giải quyết vấn đề “6-4” sẽ không có cục diện phồn vinh hưng thịnh của đất nước chúng ta hôm nay; không có quân đội, vấn đề “6-4” không thể giải quyết được, nghĩa là sẽ không có 13 năm huy hoàng. Sáng sớm ngày 6 tháng 4 hôm ấy, Bắc Kinh sau khi trải qua một đêm trời long đất lở đã đột nhiên yên tĩnh, rất nhiều bộ đội thu dọn tụ tập tại quảng trường Thiên An Môn, không biết tình hình bước tiếp theo sẽ phát triển ra sao… Buổi sáng ngày hôm đó, mọi điện thoại ở Bắc Kinh đều không gọi được. Vì sao gọi không được? Bởi vì toàn thể thị dân đều núp trong nhà gọi điện thoại, trong chốc lát đường dây quá tải. Tin đồn không cánh mà bay, bay khắp cả nước. Phương Tây huyên náo. Con mắt toàn thế giới tập trung nhìn vào quảng trường Thiên An Môn. Chủ tịch nước Dương Thượng Côn lúc đó nói: “Trên quảng trường Thiên An Môn sáng sớm hôm đó nếu có một Trung đội có vấn đề là nguy vô cùng”. Thế nhưng quân đội của chúng ta là quân đội do đảng lãnh đạo. Không có Trung đội nào [có vấn đề] cả. Quân đội đã trải qua thử thách. Quân đội đã trả giá nặng nề cho “6-4”… có người Bắc Kinh đã hạ độc thủ để ngăn cản quân đội vào thành, có một Trung đội trưởng bị đánh bị thương rồi bị đem ra thiêu sống, có hai Tiểu đội trưởng sau khi bị thiêu chết rồi còn bị treo lên… Quân đội Trung Quốc đã phát huy tác dụng quan trọng trong sự kiện “6-4”, ổn định giang sơn, đó là một lần cống hiến của quân đội trong thời kỳ mới.
Một lần nữa là cuộc đánh trả tự vệ đối với Việt Nam năm 1979 và sau đó là cuộc chiến đấu tại “Lưỡng Sơn” (tức vùng Pháp Ca Sơn). Đặc biệt là cuộc đánh trả tự vệ Việt Nam năm 1979, rất nhiều đồng chí chúng ta không nhận thức được ý nghĩa của cuộc chiến tranh này. Đương thời đã có người nói: chúng ta và người Việt Nam đánh nhau, bây giờ hy sinh là liệt sĩ, tương lai một khi quan hệ hai nước tốt, bọn họ sẽ là cái gì? Tôi nói: “vẫn là liệt sĩ” Vì sao vậy? Chúng ta cần xem xét cuộc chiến này từ góc độ chính trị. Ý nghĩa của chiến tranh luôn luôn ở ngoài chiến tranh. Cuộc chiến tranh này của đồng chí Đặng Tiểu Bình là đánh để cho hai người xem, một là Đảng Cộng sản Trung Quốc, hai là bọn Mỹ. Năm 1978 đồng chí Tiểu Bình được phục hồi, tháng 1 năm 79 thăm Mỹ, tháng 2 đánh nhau. Xem xét từ chính trị thấy, trận đánh này không đánh không được. Vì sao vậy? Sau khi đồng chí Tiểu Bình phục hồi ý tưởng chiến lược cải cách mở cửa Trung Quốc đã hình thành trong tim gan đồng chí, muốn thực hiện ý tưởng chiến lược đó cần phải xây dựng được quyền uy tuyệt đối trong đảng. Phải đánh một trận. Lúc đó “lũ bốn người” vừa bị đập tan, những người có tư tưởng cực tả trong đảng chống Đặng càng chống đường lối và chính sách của ông hơn. Muốn cải cách cần phải có quyền uy. Biện pháp nhanh nhất để xây dựng quyền uy là đánh nhau….
Người Mỹ sau khi hao binh tổn tướng tả tơi nhếch nhác rút khỏi Việt Nam, đồng chí Tiểu Bình đã nói, chúng ta cho Việt Nam bài học. Lúc đó Việt Nam chạy theo ai? Chạy theo Liên Xô, lúc đó đồng chí Tiểu Bình phát động cuộc đánh trả tự vệ Việt Nam là đã vạch ranh giới giữa Trung Quốc với cái gọi là mặt trận xã hội chủ nghĩa Liên Xô… Mười năm trước đồng chí Tiểu Bình đã nhìn rõ điểm này, dùng cuộc chiến tranh đó để vạch rõ ranh giới với anh… Vừa rồi tôi nói trận đánh này cũng là đánh vì người Mỹ, có nghĩa là nói để cho người Mỹ hả giận. Có chứng cứ không? Có. Ngày hôm kia đồng chí Tiểu Bình vừa rời Nhà Trắng Mỹ về thì ngày hôm sau đánh. Vì sao muốn để người Mỹ hả giận? Người Mỹ vừa vỡ đầu sứt tai chạy khỏi Việt Nam. Vì sao chúng ta phải làm cho họ hả giận? Thực ra điều đó cũng không phải vì Mỹ mà là vì chúng ta vì cải cách mở cửa. Trung Quốc muốn cải cách mở cửa mà không có viện trợ của phương Tây đứng đầu là Mỹ là không có khả năng. Đánh trận này, viện trợ kinh tế, viện trợ khoa học kỹ thuật, bao gồm cả viện trợ quân sự và tiền vốn sẽ không ngừng chảy vào Trung Quốc. Thời kỳ trăng mật Trung Mỹ dài tới 10 năm, mãi đến ngày 6 tháng 4 năm 1989 mới có dấu chấm. Trận đánh đó mang lại cho Trung Quốc cái gì? Mang lại cho Trung Quốc rất nhiều thời gian, rất nhiều nguồn vốn, rất nhiều kỹ thuật… Vì thế có thể nói, bước đi đầu tiên của cải cách mở cửa Trung Quốc đã được cất lên từ cuộc chiến tranh này… [*]
DDD
Nguồn Trung Quốc báo đạo chu san 28/5/2005 đăng lại trên “Bách gia tranh minh”.
[*] Sau khi đọc thêm phần trích dịch cần thiết của ông Dương Danh Dy nhằm bổ sung cho phần dịch của ông Nguyễn Hải Hoành, BVN xin cung cấp thêm một vài nét về tiểu sử và con người Lưu Á Châu để chúng ta có cái nhìn phía này và phía khác của họ Lưu cho toàn diện: Lưu Á Châu là một sĩ quan cao cấp quân đội Trung Quốc nổi tiếng vì có những phát ngôn thẳng thắn, dám công khai phê phán, góp ý cho nhiều chủ trương chiến lược cấp cao nhất của TQ. Năm 1972 (20 tuổi) đi học ĐH ngoại ngữ tiếng Anh trong khi đang ở bộ đội. Tốt nghiệp ĐH làm cán sự Ban Liên lạc Không quân, thăng tiến rất nhanh. 38 tuổi làm Chính ủy một Viện kỹ thuật binh chủng tăng thiết giáp, 44 tuổi được phong quân hàm Thiếu tướng, 45 tuổi làm Chủ nhiệm chính trị không quân Quân khu Bắc Kinh, 50 tuổi là Chính ủy không quân Quân khu Thành Đô. 51 tuổi (2003) phong Trung tướng, làm Phó chính ủy binh chủng Không quân Trung Quốc, từ 25/1/2010 được đề bạt làm Chính ủy Trường đại học Quốc phòng Trung Quốc, ngang cấp Tư lệnh Đại quân khu.
Con đường thăng tiến nhanh như diều của Lưu cũng đủ thấy lập trường cơ bản của Lưu là ủng hộ phe đương quyền lúc bấy giờ do Đặng Tiểu Bình cầm chịch. Được coi là một tướng lĩnh cấp cao có tinh thần đổi mới tư tưởng chiến lược quân sự, tiếp thu các trào lưu tư tưởng tiên tiến phương Tây, phê phán sự lạc hậu bảo thủ của văn hóa truyền thống Trung Quốc, phê phán các tôn giáo Nho, Lão, Phật, Lưu ủng hộ đường lối cải cách mở cửa, đồng thời cũng ủng hộ triệt để lập trường xử lý vụ Thiên An Môn và cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam năm 1979 mà TQ gọi là “chiến tranh phản kích tự vệ” của Đặng Tiểu Bình. Lưu phê phán Cách mạng văn hóa và các sai lầm của Mao Trạch Đông nhưng vẫn đề cao tư tưởng Mao Trạch Đông. Có công trong việc bí mật hội đàm với Hàn Quốc để lập quan hệ ngoại giao Trung Quốc-Hàn Quốc.
Gần đây Lưu Á Châu phát biểu nhiều về việc Trung Quốc cần cải cách chế độ chính trị, thực hiện dân chủ hóa chính trị chứ không nên chỉ đơn thuần phát triển kinh tế. Lưu dám nói những câu như: Nếu một hệ thống không cho người dân được thở không khí tự do và phát huy sức sáng tạo đến mức tối đa, không lựa chọn đưa vào các vị trí lãnh đạo những người tốt nhất đại diện cho chế độ và nhân dân, thì hệ thống ấy sẽ đi đến diệt vong... và dự đoán: Trong 10 năm tới Trung Quốc không thể tránh khỏi xảy ra sự chuyển đổi từ chính trị của quyền lực sang dân chủ.
Lưu Á Châu bắt đầu sáng tác văn học từ 1974. Một số tác phẩm đã được giải thưởng. Tác phẩm chủ yếu: Trần ThắngChiến tranh do ác quỷ đạo diễnQuảng trườngCái chết của Hồ Diệu Bang, và nhiều chuyên luận quân sự, chính trị như Đại quốc sáchĐại chiến lược Trung Quốc 20 năm tớiBàn về miền Tây;... rất có tiếng vang trong dư luận. 32 tuổi vào Hội Nhà văn, được bầu làm Ủy viên ban chấp hành Hội.
Lưu Á Châu có tác phong sống gương mẫu, giản dị, gần quần chúng. Khi xuống các đơn vị bộ đội đều không ăn nhậu, tối ngủ cùng lính. Khi cấp trên đến làm việc, Lưu không bao giờ chiêu đãi ăn uống.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

NGUYỄN MẠNH TUẤN nửa đời văn không có thẻ hội viên
























Ở tuổi 70, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bộc bạch: “Trước những chuyển biến xã hội, tôi thấy, có nhà văn như được nhận thức lại, có người lại đưa ra quan điểm ngược với những gì họ nói trước đó. Còn tôi, tuyệt nhiên không có điều đó. Bởi trước sau tôi vẫn viết trên nguyên tắc trình bày hiện thực xã hội, qua đó mới gởi gắm vấn đề mình quan tâm. Nếu vấn đề bị hiểu sai, coi như mình thất bại. Nay hiểu thế này mai hiểu thế khác thì chính anh tự phủ nhận mình. Không có tư tưởng ổn định là nguồn gốc của sự sáng tác lệ thuộc và cơ hội. Tôi không bao giờ hoang tưởng về lao động nhà văn của mình. Đã có lần trả lời phỏng vấn báo chí, với câu hỏi: “Ông có phấn đấu để tác phẩm của mình lưu danh muôn thuở?”, tôi nói: “Mỗi tác phẩm của tôi chỉ cần sống ba năm, ba năm sau người ta quên thì tôi viết cuốn khác, và nếu không còn sức viết thì tôi bỏ nghề, chứ quyết không nói lung tung”. Đến bây giờ mấy chục năm qua, người ta vẫn nhắc đến tác phẩm của mình, như thế là tôi đã có lời”.


NGUYỄN MẠNH TUẤN NỬA ĐỜI VĂN KHÔNG THẺ HỘI VIÊN

Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn một thời lận đận vì những tác phẩm Đứng trước biển, Cù lao Tràm... viết trước Đổi mới vài năm. Lúc ấy những tác phẩm nổi đình nổi đám của ông vừa mang lại cho ông danh tiếng, vừa đẩy ông vào một tình huống mà ông gọi là “lên bờ xuống ruộng”. Thời điểm khó khăn nhất trong đời văn của mình, ông đã không nhận được một tiếng nói ủng hộ nào từ Hội Nhà văn. Năm 1990, ông quyết định rời khỏi hội và từ đó chọn cho mình một lối đi độc lập trong sáng tác và mưu sinh. Mở đầu cuộc trao đổi với Người Đô Thị, ông nhắc lại câu chuyện cũ...
Năm 1990 tôi là trưởng phòng biên tập hãng phim Nguyễn Đình Chiểu, thu nhập cũng khá, bởi những năm đó hãng phim nhà nước sống khỏe, do không có sự cạnh tranh. Tôi đã ra khỏi hội và ra khỏi nhà nước trong tâm lý xã hội đang quan niệm phải là “cán bộ”, phải trong biên chế nhà nước mới có đời sống ổn định, mới là “công dân hạng nhất”. Tôi cũng phải đấu tranh tư tưởng rất nhiều. Ở lại thì được gì, “giũ áo ra đi” thì được gì. Hồi đó, việc ra khỏi hội còn bị coi như “đào ngũ”, báo chí không nhắc đến tên, sách viết ra không được quảng bá. Tôi rơi vào tình trạng bị cô lập. Những cuốn Cù laoTràm, Đứng trước biển đụng chạm vào những vấn đề cốt lõi của sự trì trệ, thói quan liêu của xã hội thời đó. Tôi bị “đánh” “lên bờ xuống ruộng”. Hội Nhà văn TP.HCM và Hội Nhà văn Việt Nam không hề có tiếng nói bảo vệ. Cuốn Tự điển Nhà văn Việt Nam do Hội Nhà văn xuất bản không có tên tôi. Bản thảo tác phẩm tôi gửi cho các nhà xuất bản ở Hà Nội đều bị gác khéo.
May mắn, thời gian này tôi sống ở miền Nam, cơ chế thoáng hơn nên việc tôi ra khỏi hội không ảnh hưởng đến việc in sách và công bố tác phẩm. Sách của tôi viết ra trong những năm 1990 trở đi đều được in từ các nhà xuất bản địa phương ở miền Nam.
Không khí nặng nề lúc ấy, cũng có lúc khiến tôi mệt mỏi. Tôi đã mua đất ở ngoại thành để về ở ẩn. Nhưng các đài truyền hình và các hãng phim “không tha”, khiến tôi đành chuyển sang viết kịch bản phim. Tôi nghĩ, hoàn cảnh cũng có chi phối, nhưng đó không phải gốc của vấn đề. Có quan điểm sống, sáng tác đúng thì mình sẽ tồn tại.

Thưa ông, khi trở thành một người cầm bút độc lập, ông trải nghiệm được điều gì?

Ở góc độ sáng tác phải nói là rất thuận lợi, vì hoàn toàn tự do về thời gian, tự do chọn lựa đề tài, không phụ thuộc vào “chỉ đạo” của bất kỳ ai. Nhưng thời gian đầu, do quá quen an nhàn (thực ra là lười biếng) trong cơ chế bao cấp, giờ phải sống tích cực hơn trong “tự do”, cũng rất chật vật về tâm lý. Khi tôi được mời vào Hội Nhà văn, cũng cảm thấy danh giá, nhưng khi nhận thức nơi đó không phải là “thánh đường” thì xin ra cũng là lẽ thường.
Từ khi chuyển sang làm phim, tôi vẫn sống khỏe. Thay vì viết tiểu thuyết thì viết kịch bản phim, tôi vẫn đưa được tư tưởng của mình đến với công chúng. Một cuốn sách giờ chỉ in vài ngàn cuốn, một bộ phim hay thu hút hàng triệu khán giả. Điện ảnh và truyền hình là loại hình nghệ thuật hiện đại có tác động quảng bá và phục vụ rộng rãi tới công chúng, không lý do gì mình không tham gia. Trong khi cuốn sách chỉ mình nhà văn đứng tên tác giả thì với một bộ phim, tác giả là cả một tập thể: đạo diễn, quay phim, diễn viên..., biên kịch (nhà văn) lọt thỏm giữa đám đông! Có thể điều này khiến nhiều nhà văn không thích làm phim, nhưng với tôi thì không đáng bận tâm.

Cuộc đời viết văn của ông đã trải qua thời bao cấp, thời đổi mới và bây giờ có lẽ sắp bước sang “đổi mới lần hai”. Thời cuộc thay đổi, quan điểm sáng tác của ông có thay đổi hay không, thưa ông?

Trước những chuyển biến xã hội, tôi thấy, có nhà văn như được nhận thức lại, có người lại đưa ra quan điểm ngược với những gì họ nói trước đó. Còn tôi, tuyệt nhiên không có điều đó. Bởi trước sau tôi vẫn viết trên nguyên tắc trình bày hiện thực xã hội, qua đó mới gởi gắm vấn đề mình quan tâm. Nếu vấn đề bị hiểu sai, coi như mình thất bại. Nay hiểu thế này mai hiểu thế khác thì chính anh tự phủ nhận mình. Không có tư tưởng ổn định là nguồn gốc của sự sáng tác lệ thuộc và cơ hội. Tôi không bao giờ hoang tưởng về lao động nhà văn của mình. Đã có lần trả lời phỏng vấn báo chí, với câu hỏi: “Ông có phấn đấu để tác phẩm của mình lưu danh muôn thuở?”, tôi nói: “Mỗi tác phẩm của tôi chỉ cần sống ba năm, ba năm sau người ta quên thì tôi viết cuốn khác, và nếu không còn sức viết thì tôi bỏ nghề, chứ quyết không nói lung tung”. Đến bây giờ mấy chục năm qua, người ta vẫn nhắc đến tác phẩm của mình, như thế là tôi đã có lời.
Vừa rồi tôi nói về quan điểm sáng tác và hành nghề, nhưng về nghệ thuật, kỹ thuật lại khác. Bây giờ đang thời đại bùng nổ internet, tác phẩm văn học muốn thích nghi với sự chuyển động xã hội nhanh đến thế phải thay đổi rất nhiều về phương cách thể hiện, nếu không sẽ lỗi thời. Khi internet đã thành kênh phổ cập thông tin và gợi tạo cảm xúc rất phong phú cho đời sống xã hội, không lý gì văn học cũng như các loại hình nghệ thuật khác không chịu ảnh hưởng.
Tôi tin đến thế kỷ 100, vẫn có người đọc sách, nhưng cùng lúc ấy chắc chắn chẳng ai đọc các tác giả vẫn viết theo kiểu thế kỷ XX. Nên ngay từ bây giờ, nhà văn phải sớm biết mình, biết người, tự thân tìm cách thay đổi để thu hút bạn đọc, đừng vội chê độc giả xuống cấp. Nhà văn có nhiều tác phẩm được công chúng đón nhận, đương nhiên cũng là nhà văn sống được bằng nghề. Đã viết ít thì cũng nói ít thôi.

Ông bình luận gì về vai trò của Hội Nhà văn hiện nay?

Ở nước ta, các loại hội kiểu hiện nay, ra đời vào thời mặt trận Việt Minh những năm bốn mươi, như một phương cách để những người cộng sản tập hợp quần chúng và hình thành lực lượng chính trị... trong đó có Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật bao gồm các hội chuyên ngành như Hội Nhạc sĩ, Hội Mỹ thuật, Hội Nhà văn... Việc các hội được bao cấp kinh phí hoạt động trong thời gian rất dài đã trở thành một nguyên nhân đáng kể của tình trạng ỷ lại, thụ động, thiếu sự sáng tạo và sự phong phú trong sáng tác. Đã có những tác giả và tác phẩm nghệ thuật trở thành công cụ thuần túy, sa vào sự thô thiển trong quá trình phục vụ mục tiêu chính trị.

Vào những năm 1980, ông đã viết Những khoảng cách còn lại. Bốn mươi năm sau ngày thống nhất đất nước, nhìn lại ông thấy “khoảng cách” ấy đã được thay đổi thế nào?

Khoảng cách thì cứ mãi còn và thậm chí có nhiều nguyên nhân khiến nó lại còn xa hơn. Xa hơn là vì ngày nay hình như chúng ta vẫn lẫn lộn giữa hai vấn đề: chiến tranh vệ quốc và xây dựng đất nước sau chiến tranh. Nếu không phân định rõ hai vấn đề này thì khoảng cách mãi mãi xa. Xã hội mấy chục năm qua đã có nhiều thay đổi và có không ít những nhân tố tích cực. Nhưng thực tế cũng cho thấy sự bất mãn và sa sút niềm tin trong nhân dân ngày càng đáng lo ngại. Nguyên nhân chính là nạn tham nhũng ngày càng nghiêm trọng và tỏ ra khó bị đẩy lùi; do chiều hướng gia tăng nhanh các căn bệnh xã hội như coi thường luật pháp, gian dối trong các mối quan hệ, bạo lực, vô cảm..., do sự trì trệ cải cách thể chế đã làm ảnh hưởng đến cơ hội phát triển... Và rồi, những sai lầm của việc quản trị xã hội hiện tại dường như đã làm nảy sinh tâm lý phủ định mọi sự, kể cả cuộc chiến tranh vệ quốc. Bản thân tôi cho rằng, cuộc chiến tranh vệ quốc và kết quả hòa bình, thống nhất đất nước là xong một chương của lịch sử. Xây dựng đất nuớc, dù vẫn người cũ, lại là một chương khác, với những đòi hỏi khác và cách đánh giá khác.

                                         DUY THÔNG ( thực hiện)

Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn sinh năm 1945, viết văn từ những năm 70 thế kỷ trước, gây ấn tượng mạnh với độc giả qua những cuốn tiểu thuyết nổi đình đám vào những năm 1980: Những khoảng cách còn lại, Cù lao Tràm, Đứng trước biển, Ngoại tình, Đời hát rong, Yêu như là sống... Năm 1990 ông ra khỏi Hội Nhà văn, bắt đầu tập trung viết kịch bản phim điện ảnh và phim truyền hình: Đồng tiền xương máu, Người đàn bà yếu đuối, Chuyện tình bên dòng kinh Xáng, Ấp ba nhà, Cô thư ký xinh đẹp, Blouse trắng, Hướng nghiệp, Nghề báo, Hậu họa, Thái sư Trần Thủ Độ, Huyền sử Thiên đô, Công nghệ thời trang... Sau hơn mười năm vắng bóng trên văn đàn, mới đây nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn tái xuất với các tác phẩm Nỗi sợ hãi mầu nhiệm, Phần hồn.


Nguồn: Người Đô Thị

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhờ các bức ảnh này mới thấy người Việt cao và đẹp lên rất nhiều:

Bộ ảnh nude thời Pháp thuộc & những tranh cãi

Tranh cãi ảnh nude thời Pháp thuộc Ảnh nude dường như luôn chông chênh trên lằn ranh giữa nghệ thuật và phi nghệ thuật, thậm chí bị coi là dung tục. Bên cạnh đó, là những thành kiến về người mẫu nude, nhiếp ảnh gia nude về việc họ có “lối sống buông thả”, đạo đức có vấn đề, dễ gây ảnh hưởng xấu cho xã hội…
Chèn hình ảnh nếu có
Những bức ảnh Nude từ thời Pháp thuộc vẫn đang là đề tài tranh cãi của giới nhiếp ảnh, các nhà phê bình và cơ quan quản lý
Chất lượng ảnh đã giảm sút do bị chụp lại nhiều lần, song những gì còn lại vẫn cho thấy bản gốc rất đẹp” – nhà nhiếp ảnh Hữu Bảo nói về những bức ảnh nude thời Pháp thuộc.

Không phải nhân học hình ảnh

Những bức ảnh phụ nữ Việt khỏa thân này nằm trong số hàng nghìn bức ảnh về Việt Nam dưới thời Pháp thuộc của nhà nhiếp ảnh nổi tiếng người Pháp Pierre Dieulefils (1862-1937). Sau đó, chúng được nhà sưu tập bưu ảnh nổi tiếng người Pháp Philippe Chaplain mua và lưu giữ. Ông Philippe Chaplain đã cho Tạp chí Xưa và Nay mượn bộ sưu tập của mình.
Theo quan điểm của ông Hữu Bảo, những bức hình đó rất chuẩn về bố cục lẫn ánh sáng, đường nét, đồng thời sinh động. Các ảnh này đã được trưng bày trong triển lãm Để hiểu hơn về một Hà Nội xưa do Tạp chí Xưa và Nay phối hợp với Thư viện Hà Nội tổ chức hồi đầu năm 2010.
Tuy nhiên, những ảnh nude này cũng gây tranh cãi. Những tranh luận về nhóm ảnh khỏa thân chủ yếu xoay quanh việc các nhân vật trong ảnh liệu có bị ép buộc cởi đồ để chụp những bức hình hở hang như thế hay không. Thậm chí, có ý kiến còn cho rằng đó là những tấm hình dàn dựng phi thực tế trong chủ ý dã tâm của người Pháp. Người dân do đó phải tuân thủ mệnh lệnh “bắt cởi phải cởi, bắt chết phải chết” của chủ.
Chèn hình ảnh nếu có
Theo một nhà nghiên cứu, những bức ảnh này chính là cái nhìn của phương Tây về phương Đông

Ý kiến ngược lại cho rằng những bức ảnh đó chỉ là tác phẩm của những người muốn Á Đông hóa, An Nam hóa đề tài nude – một đề tài mỹ thuật hàn lâm vốn luôn được mến chuộng. Bố cục của các tác phẩm cũng được phân tích là quen thuộc và nhan nhản trong nghệ thuật cổ điển.
TS Đào Thế Đức – thư ký tòa soạn Tạp chí Xưa và Nay, nói: “Giờ đây, nếu nhìn tổng thể những bức ảnh đó, chúng ta cũng không thể nói đích xác chúng được bố trí hay không và bố trí đến đâu”.
Tuy nhiên, theo TS Đức, đó chắc chắn không phải là những tư liệu nhân học hình ảnh. Ông cho biết: “Nhân học hình ảnh phải do người dân tự thể hiện. Nhờ đó, những bức ảnh, thước phim cho thấy rõ người dân thực sự muốn thể hiện mình ra sao. Nó hoàn toàn không phải cái nhìn của người ngoài cuộc. Trong khi điều thấy rõ trong những bức ảnh này chính là cái nhìn của phương Tây về phương Đông. Qua cái nhìn đó, phương Đông trở nên hơi kỳ quặc, lạ lẫm, thậm chí có phần nào lạc hậu”.
TS Đức cho rằng những tác phẩm này không chỉ không do người dân tự chụp mà còn ít khả năng do người Việt chụp. Nó chính là những bức ảnh do người Pháp chụp với tinh thần Tây phương dễ nhận thấy. “Thời đó, chắc chỉ có mấy ông Tây mới bắt đàn bà con gái lột trần ra chụp ảnh như vậy thôi”.

Hoàn toàn không gợi dục

Song, điều kỳ lạ là những bức nude trên hoàn toàn không có tính gợi dục. “Tôi đã nói chuyện với một số người trong triển lãm, nhưng không ai cho rằng những tác phẩm này dung tục cả”, ông Hữu Bảo cho biết. Tuy nhiên, những tạo hình khó có thể coi là như trong cuộc sống thông thường. Một người mẫu gánh nước nhưng yếm lại trật ra hở ngực. Mấy phụ nữ cùng ngồi quanh tẩu thuốc và cũng hở ngực một cách lạ thường.
Những bức ảnh này chính là cái nhìn của phương Tây về phương Đông. Qua cái nhìn đó, phương Đông trở nên hơi kỳ quặc, lạ lẫm, thậm chí có phần nào lạc hậu.
Một vài khuôn mặt lặp lại của thiếu nữ nude tại một số bức ảnh dạng tư liệu khác khiến nhà nhiếp ảnh Hữu Bảo nghĩ đến việc đây chính là người mẫu. Tuy nhiên, tại sao họ lại dám chụp những bức ảnh không có điểm gì chung với Nho giáo như vậy, điều này cũng còn bí ẩn. Nhưng dù sao đi nữa, những ảnh nude này vẫn mang giá trị tư liệu đặc biệt. Nhất là khi chúng còn được người Pháp dùng làm bưu thiếp – một phương tiện truyền tải thông tin, quảng bá nghệ thuật và tuyên truyền tư tưởng vào thời thuộc địa.


“Những bức ảnh này chính là cái nhìn của phương Tây về phương Đông. Qua cái nhìn đó, phương Đông trở nên hơi kỳ quặc, lạ lẫm, thậm chí có phần nào lạc hậu”
TS. Đào Thế Đức
 
“Rõ ràng đây là những hình tư liệu quý. Giờ đây, điều dễ thấy nhất là về nhân chủng học người Việt đã thay đổi quá nhiều”, ông Hữu Bảo đánh giá. Cũng theo nhiếp ảnh gia này, “trong những bức hình nude thời đó những khuôn mặt người Việt to và bè hơn chứ không thanh thoát như bây giờ. Ở một vài khuôn hình, chúng ta còn thấy khuôn mặt họ hơi nhô ra và có nét gãy. Căn cứ vào các đồ vật để so sánh, chiều cao của họ cũng chỉ khoảng 1 m 50. Rõ ràng nếu đặt trong tương quan với chúng ta bây giờ, những bức nude này cho thấy sự khác biệt thú vị. Và cũng vì thế, tôi rất thích cách thể hiện của tác phẩm. Bằng cách chọn những phụ nữ rất dung dị, họ không vệ nữ hóa ảnh nude mà chọn cách thể hiện đúng người Việt, theo tinh thần Việt, theo đúng tỷ lệ của người Việt. Đây chính là cách mà danh họa Nguyễn Phan Chánh vẽ Tiên Dung – Chử Đồng Tử sau này. Nếu nói đến eo thon, tỷ lệ vàng thì không phải. Nhưng toàn bộ tác phẩm nói lên được một tinh thần Việt Nam và dễ được chấp nhận”.
Trong những bức ảnh đó, các thiếu nữ nhìn thẳng không e ngại. Nhưng họ cũng không hề có các tạo dáng khó, phô diễn đường cong lựa theo ánh sáng. Chúng gợi một cảm giác mộc mạc, chân phương, dễ mến. “Đây là phong cách chụp rất phổ biến của những bức ảnh nude chụp vào thế kỷ 19”, nhiếp ảnh gia Ngô Xuân Phú – cũng là người đã theo học nhiếp ảnh tại Hà Lan trong 2 năm, cho biết.
Trích từ: Vuanhiepanh

imageimage



c





image[IMG][IMG][IMG]clip_image006[4]imageimageimage 
 
TC st

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TÍNH HÁO DANH VỤ LỢI NHỎ MỌN CỦA NGƯỜI VIỆT


Paul Nguyễn Hoàng Đức
Việt Nam có hơn 24.000 tiến sĩ, đông bậc nhất thế giới nhưng là nước nghèo nàn đội sổ bậc nhất thế giới, và cũng có đông người làm thơ nhất cỡ ít ra cả triệu nhà thơ nhưng không thấy tác phẩm lớn mà chỉ thấy các mẩu vụn vẫn được gọi là “thơ hắt hơi”, những thứ bé hơn cả chuồng gà chuồng vịt. Tại sao? Bởi vì người Việt chỉ háo danh hão huyền nhắm vào vụ lợi “tham bát bỏ mâm” gắp cho mình, nên đất nước mới nghèo nàn lạc hậu và thi ca chỉ là chiếu rách à ơi mua vui bên chén rượu nhạt hay chén trà trong chốc lát. Hôm nay tôi xin bàn vào việc này.
Số lượng hơn 24.000 tiến sĩ Việt, kết quả thế nào? Nếu mỗi tiến sĩ chỉ cần viết một bài tiểu luận, thì chúng ta sẽ có ngần ấy bài, và in được khoảng 240 cuốn sách dầy dặn với mỗi cuốn có 100 bài. Nhưng than ôi, làm gì có ai thấy hơn hai trăm cuốn sách đó, mà 24 cuốn cũng không?
Chúng ta nghĩ gì khi một tiến sĩ không viết nổi 1 bài tiểu luận? Vậy thì 1 luận án bảo vệ tiến sĩ của người ta dầy hơn một trăm trang A4 lại không hơn một tiểu luận chỉ nghìn chữ thôi sao? Có một vụ án đã vỡ lở tại Việt Nam, một kẻ vừa tốt nghiệp đại học ra trường đã dịch vụ làm luận án cho hơn trăm tiến sĩ bằng cách vào các thư viện sao chép các đoạn tài liệu. Điều đó nói lên cái gì? Đó là những tài liệu vô hồn, chỉ có số liệu mà không có phán đoán, nhưng như vậy cũng đủ cho một bằng tiến sĩ. Ở Việt Nam, tôi được biết trong nhiều khoa người ta chấm lẫn cho nhau để có 100% thạc sĩ, người nào cũng nhận điểm suýt soát tối đa “nắm phải chim” tức là “chín phẩy năm”.
Chính vì tiến sĩ của ta đa số là chép tài liệu, đẩy đít nhưng không cần có ngoại ngữ, hoặc ú ớ mấy từ, không cần biết phán đoán cá nhân, mà như nhân gian nói, chúng ta chỉ là “tiến sĩ giấy”, có thể ăn được, nói được, chém gió rất tài, nhưng lại không làm được. Việc viết được luận án tiến sĩ ư? Đó chỉ là trong khoa, trong trường chấm “nội bộ” lẫn nhau, nhưng việc viết một bài tiểu luận hay một cuốn sách chuyên luận là rất khó, bởi lẽ việc đó phải hiện diện trước công luận, chứ không phải thứ úm ba la chém gió trong nhà. Ngành văn học là dễ thấy nhất, có cả triệu người đã học trình độ đại học, nhưng cả nước không có đủ chục người có khả năng viết phê bình văn học. Còn các ngành khác? So với Nhật Bản hay Hàn Quốc, các chuyên gia tính, số đăng ký bản quyền phát minh ở Việt Nam kém hơn cả nghìn lần. Than ôi, lượng tiến sĩ của mình thì đông gấp năm lần người ta, nhưng bằng phát minh thì chưa được một phần nghìn. Nghĩa là chúng ta chỉ có bằng giấy không thể nào ra quả được.
Ở đời ai cũng khát danh vọng, bởi vì cái đó là biểu hiện của vinh quang cũng như sự tôn trọng. Đó là điều chính đáng! Một viên sỏi ném xuống nước còn sủi bọt lên, làm người mà vô tăm tích như bèo trôi trên sông không để lại dấu vết gì thì cũng thật buồn. Nhưng như người Việt nói “Thế gian chuộng của chuộng công/ Nào ai có chuộng người không bao giờ”. Còn người phương Tây có phương ngôn “Người ta được quí trọng ngang với những gì cống hiến cho mọi người”. Nếu ta không cống hiến hay hy sinh cái gì cho người khác, thì làm sao muốn người ta trọng thị mình?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2015

Cỏ xanh ra đời - Trần Đình Lương



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đừng suy nghĩ, chàng ngốc của em. Họ rất căm ghét những người biết suy nghĩ!

Nhà số 10.
Nhà số 11.
Nhà số 12. Hai người đàn ông dừng lại. Gõ cửa.
Một tên cầm chiếc còng. Một tên nắm chặt những tờ báo cuộn tròn. Vừa đợi, họ vừa huýt sáo.

*

Trên phố là những con chuột bạch đánh vòng. Không hẳn là những con chuột bạch. Đó là những người lùn. Vì sao họ lùn? Chắc là vì một căn bệnh bí ẩn nào đó chứ không phải căn bệnh lùn tuyến yên. Họ nhỏ lại và họ bỗng thích đánh vòng. Yêu cầu của họ được đáp ứng. Những lồng sắt được thiết kế và xây dựng khắp nơi để họ thay nhau chui vào. Họ đi nhàn tản trong đó và lồng sắt xoay tròn...
Khắp nơi nơi. Khung cảnh thật ngoạn mục. Những âm thanh thật vui tai.
Có những người mang những cái thúng, vốc từng nắm ném vào bọn người lùn. Bọn người lùn đổ xô lại, rồi chia ra từng nhóm. Họ ăn.
“Họ ăn cái gì đó?” Một du khách tò mò hỏi.
“Hứa hẹn.” Ai đó trả lời.
“Thứ đó làm bằng cái gì?”
“Anh làm được đó chứ!”
“Tức là sao?”
“Vì đầu óc anh cũng có sẵn hai thứ: đơn giản và hũ nút!”
“Tôi không hũ nút đến thế! Tôi đã đoán ra những thứ còn lại. Cũng dễ thôi.”
“Kẻ ngoại quốc này, anh thông minh đấy!”

*

“Ý mày là sao?”
“Tôi phản đối A!”
“Vậy mày ủng hộ anti-A!”
“Tôi chỉ không ủng hộ A.”
“Vậy tức là mày không phản đối anti-A!”
...
“Tôi phản đối A mặc dù A, B, C, ... Z đã cử A ra đại diện. Tôi không ủng hộ A , tôi thuộc về B, C, D, ... Z.”
“Ở đây không như vậy. A là A, B, C, ... Z. Phản đối A là phản đối A, B, C, ... Z.”
“Ý anh là sao?”
“Tội danh thành lập!”

*

“Mày đã viết những bài này!” Hắn đưa ra những tờ báo.
“Nhưng chúng đã được cấp giấy phép...”
“Vẫn bị thu hồi.”
“Nhưng chúng được đăng tải ở những kênh chính thống...”
“Vẫn là bằng cớ khởi tố, chính thức.”

*

Anh được về.
Anh lững thững đi về phía căn hộ của mình. Những người quen gặp anh, họ ngỡ ngàng như nhìn kẻ lạ. Anh biết, có cái gì đó đã đổ vỡ. Anh và đời sống của anh, như hình nhân trong lễ hoả thiêu bị bỏ lại, không được đốt, nằm co ro rã xác dưới mưa.
Các khớp xương. Những nơi nhạy cảm với vuốt ve và tra tấn. Anh không nghĩ mình chịu đựng kém đến vậy. Anh rùng mình, không muốn nhớ nỗi đau thể xác và cả những đòn tra tấn tinh thần.
Cơ thể anh đang đau nhức. Vậy là anh còn sống!
Rau củ héo úa và thối rữa trong bếp. Con dao rỉ sét và dính máu. Những con cá trợn trắng mắt trong chảo dầu sôi. Con gà đã bị vặt lông cắt cổ nằm sõng sượt nhúng cái đầu vào thau nước. Chỗ bị cắt máu đang tan ra.
Anh không ăn được. Dạ dày anh cuồn cuộn quặn thắt. Anh muốn nôn thật dữ dội, ồng ộc vào bồn cầu. Nhưng anh chẳng có gì để nôn cả, ngoài con người thật của chính anh.
Bạo liệt như bức tranh của Goya, thần Saturn đang ăn thịt đứa con. Chỉ khác là anh, Cronus chiến bại nghe lệnh truyền tối thượng của Zeus vô hình, phải nôn ra chính bản thân mình, cái con người phản kháng lẽ ra phải tồn tại mà anh đã chiếm giữ chỗ của người ấy trong đời sống này. Ta nghe thấy tiếng những bao cơ bị rách, tiếng da bị nứt, tiếng gân bị đứt, tiếng nổ bụp hai nhãn cầu, đôi con mắt rớt ra treo lòng thòng trên hai hốc mắt. Máu trong người tuột xuống kéo bầu trời đổ sập trên vai gã Atlas, đổ sập và da thịt bong ra bay tứ tung. Tiếng dây vĩ cầm rên siết một linh hồn thống hối tìm đường thoát ra khỏi sự u ám đang bủa vây như trong một cao trào của bản giao hưởng. Đó, một linh hồn vất vưởng bay như bụi cuốn theo cơn bão loạn cuồng. Như đoàn tàu đang chạy với vận tốc nuốt chửng trọng lượng đột ngột dừng khẩn cấp! Mọi thứ bung vỡ và thế giới nát nhừ thành bụi, trước khi chúng ta kịp biết một điều gì đó...

*

Tôi đi qua chốn này, ối a vui như ngày hội...
“Anh là người ngoại quốc, anh đâu biết xứ sở này là cường quốc của thi ca. Chúng tôi có vô thiên lủng các nhà thơ. Một xứ hạnh phúc có nhà thờ (tính luôn lăng miếu tượng đền) ngang bằng nhà thổ. Con người được cứu rỗi cả linh hồn và thể xác như các nhà thơ ngợi ca! Thánh nữ của chúng tôi đi khắp thế giới, dẹp yên phiền não chúng sinh.”
“Họ dẹp yên như thế nào?”
“Hai xị![1] Vào cái hẻm kia sẽ biết! Một xị, nếu vào hẻm kia nữa.”
“Họ đi khắp thế giới, họ sống bằng gì?”
“Cầu xin!”
“Với ai? Thượng Đế?”
“Cầu xin người đời.”
“Họ cầu xin điều gì?”
“Đừng đánh đập và bỏ đói họ.”

*

“Đây là đâu?”
“Một nấm mồ tập thể trong một nấm mồ tập thể. Cuộc sống là một nghĩa địa. Trái đất là nơi chôn cất. Những xương tàn cốt vụn hàng hàng thế hệ lớp lớp thời đại nằm lẫn lộn vào nhau. Không phải sao?”
“Tôi muốn hỏi thăm đường.”
“Nơi đây làm gì còn đường, từ khi những con đường rời đi...”
“Nhưng đây là một con đường...”
“...với đất đá đạn bom trộn lẫn thịt da xương máu mồ hôi nước mắt.”
“Con đường này đi về đâu?”
“Anh muốn đi về đâu? Đường này đi vào tuyệt lộ.”
“Nhưng họ nói nó dẫn về...” Hắn rụt rè nói lên địa chỉ.
“Nơi đó đã bị xoá tên khỏi bản đồ.” Họ ngừng lời, trầm ngâm, rồi tiếp: “Đơn giản là nơi anh nói đó đã không hề tồn tại.”

*

Hôm nay, anh đã gặp nó, gọi đúng tên nó, giữa phố đông. Nó là thứ anh và mọi người tránh né. Vì chỗ ngồi. Vì chỗ đứng. Vì một nơi trú ẩn. Vì bữa cơm. Vì giấc ngủ. Vì những bức rèm bị giật khỏi cửa sổ. Anh và đám đông sợ hãi rúm ró lại. Không nhìn vào mắt nhau. Hôm nay anh đã gọi tên nó. Trên phố, những con chuột đánh vòng. Nó là nỗi sợ. Sự sợ hãi. Nó là sự sợ hãi. Anh gọi to tên nó ra, và anh run rẩy. Anh muốn yên ổn. Và anh vội vã về xây bốn bức tường, không chừa cửa. Và anh xây bít bầu trời trên đầu lại. Và anh yên ổn. Trong nấm mồ của chính anh.

*

Nhà số 13.
Bà lão đang đọc sách Khải Huyền.

*

Nhà số 12.
Xác người đàn ông chết trong căn hộ được tìm thấy.

*

Nhà số 11.
Người đàn ông đọc Hamvas Béla.
“Trên núi, trong ngôi nhà trong rừng, tôi chuẩn bị để nhịn ăn và giữ im lặng. Buổi tối tám giờ tôi ăn một bữa tối nhẹ. Sự tiêu hoá kết thúc vào mười hai giờ đêm. Và bắt đầu thời gian nhịn ăn. Sẽ cả ngày hôm sau, đến bốn giờ chiều ngày thứ ba. Tổng cộng bốn mươi giờ đồng hồ.
Böhme nói: Adam sống trên thiên đường bốn mươi ngày. Izrael vất vưởng bốn mươi năm. Giê-su ở sa mạc bốn mươi ngày, đức Ki-tô nằm trong mộ bốn mươi giờ. Bởi vậy tôi chọn bốn mươi tiếng đồng hồ. Tôi không phải người theo đạo. Tôi cần cái toàn bộ. Nhưng tôi biết, con người làm đúng nếu nhìn nhận bằng tôn giáo, bởi giữa tất cả các tri thức của con người, phần lớn sự thông thái chân thực nằm trong tôn giáo.
Trong bốn mươi giờ, tôi sẽ không thốt lên đến nửa lời. Tôi dạo chơi thầm lặng, không làm công việc chân tay, đúng hơn tôi ngồi trong bóng râm và đọc, thiền, và nếu cảm thấy cần, tôi cầu nguyện. Chốc chốc cần làm dịu cơn đòi hỏi cồn cào của dạ dày bằng nước pha lẫn một chút chanh. Buổi sáng và buổi tối cần phải rửa ráy từ đầu tới chân. Cần tẩy rửa sạch hệ thống ruột trong một ngày của nó. Tất cả chỉ có vậy.” [2]
“Chúng ta là những tạo vật xấu xí vô thừa nhận.” Người đàn ông ngừng đọc, và nói vào sự im lặng.

*

Nhà số 12.
Chúng tôi dọn vào. Nàng và tôi. Hai kẻ trôi sông lạc chợ. Một kiểu nào đó theo cách nói này.
Mùi xú uế. Mùi lưu cữu. Mùi của sự cũ kỹ. Của sự dùng đi dùng lại. Nhưng dứt khoát không phải mùi vị của trường tồn. Nơi chúng tôi sẽ gặp rất nhiều người đã chết. Và thở trong bầu không khí có sự-tồn-tại-vắng-mặt của họ.
Nàng quét lớp bụi. Tôi bật công-tắc. Cái bóng đèn cũ kỹ loẹt xoẹt loẹt xoẹt như sắp nổ nhưng, không, nó còn sáng. Và hi vọng nó thắp sáng qua đêm nay. Dẫu gì thì cái thứ ánh sáng mờ mờ này vẫn hơn đêm tối. Hai hộp cơm trên bàn. Hai chai nước suối. Đấy, nguồn sống. Có khi, cuộc sống đơn giản và cay nghiệt đến lạnh người.
Tôi nằm xuống chiếc giường ẩm mốc, nghe tiếng nàng loay hoay trong nhà tắm. Tiếng xối nước. Tiếng giật bồn cầu. Mọi thứ trôi tuột xuống dưới.
Bên dưới chúng ta là cứt đái.
Bên ngoài, rác rưởi túa về, dồn đống lại. Sự sợ hãi loang ra loang ra từng đám sương mù đen. Lũ cây ậm ạch thở tức tưởi.
Bên trên, quyền lực đè võng mái nhà xuống.
Ở đây, tối ám mênh mông, có hai linh hồn lưu vong khốn khổ về cư ngụ.
Nàng vào giường, cùng tôi xem bộ phim AntiChrist của Lars von Trier.
“Chaos reigns.” Con cáo nói.

*

Nhà số 11. Bà lão đang đọc
Cain nói với Abel em nó: “Ta hãy ra đồng đi!” Và xảy ra là khi chúng ở ngoài đồng, thì Cain đã xông vào Abel em nó mà giết đi.
Yavê đã phán với Cain: “Abel, em ngươi đâu?” Nó thưa: “Tôi không biết! Tôi có phải là người canh giữ em tôi ư?” Người phán: “Ngươi đã làm gì? Tiếng máu của em ngươi từ đất kêu oán lên Ta. Bấy giờ, ngươi hãy là đồ chúc dữ và bật khỏi mặt đất màu mỡ đã há miệng hớp lấy từ tay ngươi máu em ngươi. Ngươi có canh tác đất đai, đất đai sẽ chẳng còn cho ngươi sức lực của nó. Ngươi sẽ vất vơ vất vưởng rong chạy trên đất.” [3]
...
Cain ở lại cùng với lời chúc dữ. Abel ra đi.
Một giọng não nề đang hát “... Bạn ơi, đó là người di tản buồn...”

*

Chúng tôi nằm bên nhau.
“Anh không còn thấy em đẹp.” Nàng buồn bã nói.
“Trí tưởng tượng của chúng đã chết.” Tôi rầu rĩ đáp. “Chúng ta bây giờ giống như hai món đồ vật. Không hơn không kém.”
Chúng tôi ngần ngại, tránh ném về nhau những cái nhìn thẳng thừng, tránh làm tổn thương nhau thêm nữa. Da thịt cả hai khô rạn như chiếc bình gốm cũ. Chúng tôi không muốn nhìn tường tận vào những kẽ nứt của nhau. Mỗi khi ở bên trong nàng, tôi tự hỏi chẳng lẽ chỉ còn là vấn đề xúc giác.
Nàng vuốt ve tôi, những nơi đã từng nhạy cảm mà nàng đã từng thuộc lòng.
“Cho tình yêu khốn khổ của chúng ta. Lại đây anh. Em sẽ dùng sự xấu xa của em dẹp yên phiền não!”
Và nàng chuyển động.
Sương mù đen loang ra. Chúng bò loanh quanh tìm kẽ hở chui vào ngôi nhà.
Họ đi giật những tấm rèm che đời sống.
Ngoài phố, lũ chuột bạch đánh vòng.
Cuối cùng, chúng tôi chạm tới đáy âm u. Bóng tối vô tận đã bao trùm, mọi thứ chết lịm. Một hoà âm cực cảm thê lương xuyên qua mọi thứ bị huỷ diệt này, một niềm khắc khoải không cùng tận. Tôi phóng vào trong nàng một dòng muội tro màu đen, tắt nguội.
Những đứa trẻ rơi xuống. Rơi mãi xuống.
Chúng không rơi vào cái chết. Cái chết đã được lấy đi. Lũ trẻ rơi, vướng vào từng đám sương mù đen, treo lơ lửng. Những hình thù đội tang đen gỡ chúng ra, mang chúng ném vào sự sợ hãi.
Ném chúng vào đời sống.
Những kêu khóc loang dài loang dài...

*

Hai bàn tay ốm đói của tôi, mười ngón tay chết cóng của tôi im lìm nằm bất lực như chó ốm trên lưng nàng, trên những đốt xương cột sống nổi gờ dưới da. Nàng vùi đầu vào ngực tôi. Nước mắt chảy lặng lẽ của nàng cùng với mồ hôi âm ỉ xoi mòn tim tôi.
...
“Em vẫn không muốn tin rằng chúng ta là những kẻ đã chết.”

*

Bên ngoài có tiếng chân. Hai người đàn ông dừng lại. Một tên cầm chiếc còng. Một tên nắm chặt những tờ báo cuộn tròn.
Rồi chần chừ giây lát, bọn họ bỏ qua nhà kế cận. Nhà số 11. Nơi gã đàn ông nổi loạn mới dọn tới. Trong nhà đó, hiu hắt ánh đèn và bóng tối, những tiếng nói vang ra:
“Con cái các ngươi sẽ chăn chiên nơi đồng vắng trong bốn mươi năm, ... cho đến chừng nào thây của các ngươi đã ngã rạp hết trong đồng vắng... thì các ngươi cũng sẽ mang hình phạt vì tội gian ác mình bấy nhiêu năm, nghĩa là bốn mươi năm, một năm đền cho một ngày...” [4]

*

Nàng pha cà-phê, và chúng tôi ngồi ăn bữa sáng. Có một thứ gì đó họ đang lắp đặt ngoài vườn. Tôi bước lại cửa sổ. Vén màn nhìn ra.
Đó là chiếc lồng của những con chuột bạch!
“Của chúng ta.” Nàng nói. “Em đặt họ làm.”
Nàng vuốt trán tôi như muốn xoá những vết hằn trên đó, và nàng hôn lên đó. “Đừng suy nghĩ, chàng ngốc của em. Họ rất căm ghét những người biết suy nghĩ.”
Tôi hiểu, vì cái lồng này, họ đã tạm tha cho chúng tôi.
“Chúng ta cao lớn bình thường. Chúng ta là những con chuột đánh vòng kì lạ trong những con chuột.” Nàng tếu táo. “Anh ra vườn thử xem vòng có xoay tốt không. Em phải dọn dẹp một chút.”
...
“Chúng ta hãy sống đến khi nào còn đủ sức”.
...
“Đêm qua em đã mơ về hạnh phúc như một thứ đã từng tồn tại. Nó đã từng tồn tại, ở đây, ở chốn này...”
“Phải không, anh?”
Le M. Chánh

5.9.2015

_________________________
[1]2 xị: 200 ngàn VNĐ. 1 xị: 100 ngàn VNĐ.
[2]Hamvas Béla, “Một giọt từ sự đoạ đày”, trích từ tiểu luận triết học Silentium, người dịch: Nguyễn Hồng Nhung.
[3]Kinh Thánh Cựu Ước, sách Khởi Nguyên, chương 04, “Cain và Abel”.
[4]Kinh Thánh Cựu Ước, Dân Số Kí, chương 14.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nguyên Ngọc, một người Quảng kỳ lạ


Khiếu Thị Hoài
 


Kỳ lạ, bởi ở tuổi ngoại bát tuần, khi người ta yên vị hưởng thụ hạnh phúc sum vầy bên gia đình, con cháu thì ông gần như tách hẳn gia đình ngoài Hà Nội vào sống trong Hội An.
Kỳ lạ, bởi ở tuổi ngoại bát tuần, ông không chỉ làm giáo dục ở Hội An mà còn đi rất nhiều, không chỉ đi Hà Nội, Sài Gòn, Tây Nguyên mà còn đi nước ngoài thực hiện những chuyến công tác về văn hóa. Ông đi nhiều tới nỗi chúng tôi vẫn đùa ông là người có hộ khẩu trên máy bay.
Kỳ lạ, bởi ở tuổi ngoại bát tuần, ông vẫn nhìn thế giới với cái nhìn của trẻ thơ, luôn đặt câu hỏi “vì sao”, luôn khám phá tìm tòi những điều mới mẻ. Ông là nhà văn Nguyên Ngọc.
1.Tôi gặp ông hơn 10 năm trước, trong một cuộc phỏng vấn nhân hội thảo “Vật lý và nghệ thuật” được tổ chức ở Hội An. Đó là lần đầu tiên tôi được gặp ông, người đã dịch những cuốn của Jean Paul Sartre, Roland Barthes, Milan Kundera… những cuốn sách tôi từng gối đầu giường những năm tuổi trẻ. Ấn tượng của tôi về ông là đôi mắt sáng và trông rất trẻ thơ, nhất là khi nói đến những mối liên hệ giữa vật lý và nghệ thuật. Rồi ông nói ông cùng ban sáng lập Trường Đại học Phan Châu Trinh đang xây dựng ngôi trường này tại Hội An, cuộc hội thảo thú vị này được coi như một hoạt động mở đầu của  ngôi trường đang phôi thai. Ông nói tôn chỉ mục đích của Trường Đại học Phan Châu Trinh là kết hợp chặt chẽ giữa trung tâm văn hóa - trung tâm khoa học - trung tâm giáo dục chứ không phải tách rời việc nghiên cứu khoa học và phát triển văn hóa của đất nước, địa phương, khu vực với việc giảng dạy trong nhà trường. Ông còn nói rất nhiều về ngôi trường đang được xây dựng với vẻ hăng say cùng ánh mắt rất sáng. Tôi  nghĩ, ông là nhà văn, ông mơ mộng muốn làm gì đó cho giáo dục nước nhà thì nói vậy thôi chứ làm sao mà xây dựng trường đại học ở cái tuổi đã hơn 70 được.
  Nhưng tôi đã nhầm, gần 10 năm sau, “ngôi trường trong mơ” đã trở thành hiện thực với những khóa đào tạo đầu tiên và cuộc đời thật thú vị khi tôi được làm việc cùng ông. Có điều kiện ở gần, tôi thấy ông không chỉ tìm hiểu và đón nhận những điều mới mẻ mà ông có niềm tin mãnh liệt vào sự thay đổi. Có lẽ đó là một trong những lý do khiến ông không thể cũ và mãi mãi không già theo năm tháng mà nói như nhà văn Trung Trung Đỉnh thì “không gì có thể làm cũ ông Ngọc được”.
2. Ở Trường Đại học Phan Châu Trinh, ông đã cùng ban giám hiệu nhà trường đưa triết lý giáo dục khai phóng phả vào nội dung giảng dạy với niềm tin “không có học trò kém”. Rằng mỗi người học đều có một khả năng nào đó mà đôi khi chính họ không nhận ra nên chúng ta, người dạy phải đi tìm và khơi gợi khả năng đó và giúp người học tự phát huy hết khả năng tốt nhất của mình. Để phát triển giáo dục khai phóng, ngoài những việc ở tầm vĩ mô, Nguyên Ngọc còn làm những việc nhỏ, rất cụ thể, đôi khi với từng sinh viên.
Một sinh viên muốn làm đề tài khoa học về thiên nhiên trong thơ Đoàn Văn Cừ nhưng lại không có đầy đủ tác phẩm của nhà thơ, ông biết được và trực tiếp liên hệ với gia đình nhà thơ để giúp sinh viên đó có được toàn bộ tác phẩm của Đoàn Văn Cừ. Nguyên Ngọc cũng từng ngồi chép lại cho một sinh viên những trang văn mà ông cho là “hay nhất trong tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh (của Bảo Ninh)”. Và dẫu rất bận nhưng ông sẵn sàng lắng nghe tâm sự cũng như chia sẻ với sinh viên về hướng phát triển của các em.
Mới đây, khi đọc luận văn tốt nghiệp của một sinh viên về đề tài trò chơi dân gian của trẻ em Việt Nam, Nguyên Ngọc đã nhận ra tâm hồn yêu trẻ và một tư duy mới mẻ về giáo dục của sinh viên này khi em đề xuất hình thức giảng dạy ở tiểu học nên hướng đến việc tổ chức cho học sinh chơi những trò chơi truyền thống. Nguyên Ngọc đã giới thiệu sinh viên này với nhóm Cánh Buồm để em có thể thực tập sư phạm và tìm hiểu về bộ sách mới mà nhóm đã thực hiện dành cho tiểu học. Và sau 2 tháng trở lại Hội An, sinh viên này đã chủ động đến với những lớp học dành cho trẻ em mồ côi, xung phong đem sách giáo khoa mới ra thực hành. Những chuyện cụ thể như vậy có thể kể ra rất nhiều và hầu hết sinh viên từng được làm việc với Nguyên Ngọc đều tự khám phá những khả năng sẵn có của bản thân và được ảnh hưởng rất lớn từ ông về tư duy.
3. Những khi có dịp tản bộ trong phố, ông thường chỉ cho chúng tôi thấy ngôi nhà cũ của gia đình nay là hiệu sách nhân dân Hội An trên đường Phan Châu Trinh. Ông chỉ tôi ngôi trường Viên Minh ông từng học thời thơ ấu trên đường Nguyễn Thái Học rồi tự nói về bản thân một cách rất tự nhiên, rằng “Mình có được đi học hết tú tài đâu, nói cho đúng, mình bị thất học đấy chứ”. Mười ba tuổi ông rời Hội An khi mới học hai năm phổ thông và thi tú tài bán phần, sau đó ông tự học thêm một bán phần tú tài trong mấy năm sau rồi vào chiến trường đến mãi năm 1975. Cho đến mãi bây giờ, nói theo một cách nào đó ông vẫn chưa học hết tú tài, ông chẳng có một bằng cấp nào ngoài một chứng chỉ chính trị mấy chục năm về trước khi còn trong ngành quân đội.

Nguyên Ngọc tên thật là Nguyễn Văn Báu, sinh ngày 5.9.1932 ở Bình Triều, Thăng Bình. Năm 1950, khi đang học trung học chuyên khoa (nay là trung học phổ thông), ông gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam, chủ yếu hoạt động ở Tây Nguyên, chiến trường chính của Liên khu V bấy giờ. Sau một thời gian ở đơn vị chiến đấu, ông chuyển sang làm phóng viên báo Quân đội nhân dân Liên khu V và lấy bút danh Nguyên Ngọc. Một số tác phẩm chính của ông: Đất nước đứng lênRẻo caoĐường chúng ta điĐất Quảng,Rừng xà nuCó một đường mòn trên biển ĐôngCát cháyTản mạn nhớ và quênNghĩ dọc đườngBằng đôi chân trầnCác bạn tôi ở trên ấy...

Tuy chẳng có bằng cấp nào trong tay nhưng ông để lại cho đời rất nhiều công trình lớn nhỏ về văn hóa Tây Nguyên, được giới chuyên môn trong và ngoài nước đánh giá là một chuyên gia hàng đầu về Tây Nguyên. Những năm gắn bó với rừng cùng với hiểu biết về dân tộc học thể hiện trong những công trình về Tây Nguyên, ông đã khiến vùng đất này trở nên sáng rõ. Với Nguyên Ngọc, Tây Nguyên không đơn thuần là địa danh mà là không gian thiêng, nơi ông chọn để đọc hiểu quá khứ cũng như để bình giá hiện tại, và cũng là nơi ông lên tiếng bảo vệ.
Ông bảo, tất cả kiến thức ông có được là do quá trình tự học và tích lũy suốt đời. Quả là tôi chưa thấy ông ngừng học, ngừng tìm tòi một ngày nào cả. Mà dường như chính sự ham học, ham khám phá cũng làm cho con người ông lúc nào cũng trẻ chăng? Không chỉ ham đọc, ham học, ông còn là con người ham công việc. Một việc gì, dù nhỏ, khi đã làm, ông đều dốc hết tâm huyết để tiến hành một cách quyết liệt, tới cùng, đầy tự tin. Ở tuổi ngoại bát tuần, ông vẫn nhìn thế giới với cái nhìn của trẻ thơ, luôn đặt câu hỏi “vì sao”, luôn khám phá tìm tòi những điều mới mẻ và luôn thốt lên “lạ thật” hay “kỳ lạ quá” mỗi ngày.
Ông mê chụp ảnh, chụp ảnh rất đẹp và say mê những vẻ đẹp của thiên nhiên. Ngày chúng tôi từ Tây Nguyên về Hội An, trời đã gần về chiều và ô tô phải dừng vì sự cố kỹ thuật, trong khi mọi người cùng chuyến xe với ông đều mệt phờ và rệu rã thì kỳ lạ thay, ông – khi đó đã 80 tuổi – vẫn ung dung mang máy ảnh đi chụp hết góc này đến góc khác để ghi lại những vẻ đẹp của rừng lúc hoàng hôn. Mới đây, khi chúng tôi lên kế hoạch tổ chức một lớp đào tạo ngắn hạn về cách làm clip dành cho sinh viên, ông bảo: cho mình học với nhé. Vậy đấy, ông luôn khao khát học, học rất nhiều lĩnh vực. Và có lẽ đây cũng là một điều làm cho ông luôn mới mẻ chăng?
Bạn bè cùng thời gọi ông là một cuốn tiểu thuyết mà chương nào cũng lớn, chương nào cũng hay. Còn tôi, tôi thấy ông rất lạ, lúc nào cũng mới mẻ, tinh khôi trong mỗi câu nói, mỗi công việc thường ngày, trong những công trình lớn nhỏ khác nhau. Và thật kỳ lạ, tôi luôn nhớ ông, ngay cả khi ông ở rất gần, nhớ ông như nhớ về thuở ấu thơ của mình mỗi khi phát hiện ra một điều (với mình là) kỳ thú.

K. T. H.
Nguồn: http://www.baoquangnam.com.vn/van-hoa-van-nghe/van-hoa/201502/nguyen-ngoc-mot-nguoi-quang-ky-la-584080/
Phần nhận xét hiển thị trên trang