Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2015

Thăm quê cố tổng thống Nguyễn Văn Thiệu



Núi Mặt Quỷ

Thăm quê cố tổng thống Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu

  Hoàng Xuân Gửi đến BBC từ Sài Gòn
QTXM: Nguyễn Văn Thiệu là một nhân vật lịch sử Việt Nam. Dù theo quan điểm nào, tìm hiểu về một nhân vật lịch sử là rất cần thiết cho hiểu biết.
  Cuối cùng tôi đã tận mắt nhìn thấy hòn đá Dao và núi Mặt Quỷ, hai địa danh đi đôi với giai thoại lạ lùng về vị tổng thống của nền Đệ nhị cộng hòa (miền Nam Việt Nam cũ), ông Nguyễn Văn Thiệu.
Dù vẫn nằm nguyên bao nhiêu năm nay tại quê hương ông Thiệu, nhưng có vẻ chúng nổi tiếng với người ở xa hơn là với dân địa phương.
Rất nhiều cư dân Phan Rang độ tuổi 20-30 ở ngay làng Tri Thủy thậm chí chưa hề nghe đến những cái tên này.
Giai thoại về ông Nguyễn Văn Thiệu kể rằng trong một lần đi xem phong thủy tại vùng đất nơi ông sinh ra, các thầy phong thủy nổi tiếng bấy giờ đã cho hay nhà ông Thiệu có hướng đối diện với núi Mặt Quỷ là điềm rất xấu, nhưng nhờ có đá Dao nên hòn đá này chính là vật tối quan trọng với bổn mạng của ông.
Đá Dao là một tảng đá dựng đứng trên sườn phía đông của núi Đá Chồng- một ngọn núi thấp có vô vàn tảng đá chồng chất lên nhau, mọc đơn độc giữa cánh đồng lúa xanh biếc ở làng Tri Thủy, xã Tri Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
Mặt núi hướng ra biển, địa thế tuyệt đẹp. Hòn đá mang hình lưỡi dao có mũi nhọn hướng thẳng về núi Mặt Quỷ nên mới sinh ra cái tên này. Dân gian nơi này vẫn truyền nhau câu "Đá Dao kỵ Mặt Quỷ".
Do vậy ông Thiệu đã gấp rút làm con đường quanh chân núi Đá Chồng, đồng thời xây dựng trên đỉnh núi một ngôi chùa và trên sườn núi gần đá Dao tòa Văn Thánh miếu để trấn yểm, giữ cho vận hanh thông. Đột nhiên, vào một buổi chiều năm 1974, trong khi trời quang mây tạnh, không hề có sấm chớp (nói thêm, đất Phan Rang mang khí hậu bán sa mạc, lượng mưa và lượng sấm chớp đều ít nhất cả nước), đá Dao bỗng vỡ đôi ra trong một tiếng động lớn, rồi lăn xuống chân núi. Không biết có phải ứng với điềm trời hay không, nhưng chỉ một năm sau, chính quyền ông Thiệu sụp đổ.

Sau hơn 40 năm, mảnh đá Dao vỡ ra nay vẫn còn đó nhưng đứng trên đường sẽ không thấy được do bị đá chồng che khuất. Bạn hãy theo con đường thoai thoải lên thiền viện dành cho ni, đi ra ban công phía đông nhìn xuống. Đá Dao nằm ngay đó, mũi nhọn chếch lên trời, phần chân bị che khuất trong bụi rậm. Nhìn theo hướng này sẽ thấy một ngọn núi đá xa xa có tảng đá nhô lên trên đỉnh. Đó chính là Mặt Quỷ.
Những bài báo viết về Mặt Quỷ trước giờ hầu hết đều sai lệch khi nói rằng đá Dao và Mặt Quỷ đều nằm trên một ngọn núi. Có những chi tiết sai hoàn toàn như "đá Dao lăn xuống đổ vào Mặt Quỷ khiến ba tảng đá này cũng vỡ ra", chứng tỏ người viết chưa hề đặt chân đến đây. Sự thật là Mặt Quỷ và đá Dao nằm trên hai ngọn núi nhưng cách nhau đến năm sáu cây số đường bộ và cả một mặt đầm Nại rộng lớn.
Chúng tôi trèo xuống khỏi núi Đá Chồng, theo con đường Yên Ninh (xưa gọi là đường Bình Sơn) chạy thêm khoảng 5 km về hướng cầu Tri Thủy bắc qua đầm Nại. Nơi đây như một bức tranh phong cảnh điển hình với những ngọn núi đá hoang dã nằm sát con đường nhỏ uốn lượn ven bờ đầm lăn tăn sóng, xa xa những dãy núi đậm nhạt mờ mờ như vẽ. Theo con đường quanh co đó đến làng Tân An, đến sân bóng đá tự tạo bên trái, rẽ vào con đường rẫy, nhìn bên trái, Mặt Quỷ đã hiện ra rõ ràng trong cái nắng chói chang.
 Ông Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001) làm Tổng thống của Đệ nhị Cộng hòa, Nam Việt Nam
Quả không hổ danh kỳ lạ! Mặt Quỷ mang hình dạng một sinh thể dạng người với đầy đủ đầu cổ, tay chân, lưng bụng... Ở ngang bụng còn loa lóa một dải trắng giống như chiếc thắt lưng. Nó ngồi một mình gần đỉnh núi trơ trọi trong tư thế sừng sững, đĩnh đạc, oai nghiêm như vị thần núi đang phóng mắt quan sát vùng mình cai quản.
Khuôn mặt vuông vức và khá dữ, hai con mắt xếch, tay trái hơi co lại chống hông, tay phải đặt thoải mái bên người, lưng thẳng, hai chân hơi tách nhau duỗi nhẹ, mặt quay chếch về phía tay phải nhìn đăm đăm. Theo hướng Mặt Quỷ, đúng bên kia là núi Đá Chồng.
Khác với Đá Chồng mọc trơ trọi có thể đi vòng xung quanh chân núi, Mặt Quỷ nằm trong một dãy núi đá thấp và cây bụi liên tiếp. Sau nó là núi Nhỏ, núi Quít, núi Đá Keng, núi Bà Mụ, phía đông là Núi Của Đất Thánh (có tên này vì Tân An là một làng đạo Công Giáo). Chị X, một người dân sinh sống ngay dưới chân núi Mặt Quỷ kể:
"Nghe ông bà kể tại Mặt Quỷ nhìn qua nên có năm bên đó dịch bệnh chết quá chừng. Dân bên đó kéo qua đây giựt đổ Mặt Quỷ mà bao nhiêu người kéo cũng không được."
Chị X kể tiếp: "Có lần tôi cũng lên đó, thấy ngay chỗ này (chị chỉ vô cổ) đá chỉ dính vô nhau thôi mà người ta kéo mấy cũng không đổ".
Giờ xương rồng đã mọc lấp con đường mòn xưa kia dẫn từ chân núi lên đá Mặt Quỷ. Trong cái nắng lung linh như thiêu đốt của Phan Rang cuối tháng 8, vị thần núi vẫn ngồi đó chống tay quan sát, oai nghiêm và trang trọng.
Phong cảnh đầm Nại làng Tri Thủy luôn mê hoặc và gợi cho tôi những thắc mắc không dứt ngay từ lần đầu tiên đặt chân đến đây, cách nay đã ba mươi năm. Nó như một mâm cỗ nhỏ xíu mà đủ đầy: chỉ trong bán kính vài cây số có cả biển, cả núi, cả đầm nước mặn và ngay cạnh là cánh đồng lúa xanh ngắt. Cậu bé Nguyễn Văn Thiệu ngày đó sáng sáng ôm tập sách bơi qua đầm Nại đi học, chiều về dang nắng chăn bò chăn dê, và đứng trên đỉnh núi đá trập trùng phóng tầm mắt ra xa. Cậu đã nghĩ gì?
  Đây là nơi có căn nhà ông Thiệu xây cho cha mẹ ở Tri Thủy. Tại làng Tri Thủy, ngôi nhà ông Thiệu xây cho ba mẹ ông vẫn còn hầu như nguyên vẹn. Vẫn từ Phan Rang qua cầu Tri Thủy, rẽ vào hẻm đầu tiên bên trái, đến ngã ba đầu tiên lại rẽ phải, ngôi nhà có rất nhiều cây cảnh và hòn non bộ màu tường vôi vàng hàng rào bên trái chính là nó.
Sau 1975, ngôi nhà được chính quyền địa phương sử dụng cho rất nhiều mục đích: nó từng là trụ sở phòng văn hóa thông tin huyện, là trường mẫu giáo, là nhà kho của hợp tác xã (cất giống má, phân bón... đồ đó - một người dân địa phương kể - "đồ" có nghĩa là vân vân). Người ở hiện tại và lâu nhất là gia đình chị Lê Thị Lê, năm nay 53 tuổi. Mẹ chị Lê là bà Trương Thị Thìn, được cấp ngôi nhà này do có công với cách mạng. Sau khi bà mất, chị Lê và chồng con tiếp tục ở đây, đến nay gần ba chục năm. Chị đã lên chức bà, con cháu còn lại khoảng 5, 6 người tam đại đồng đường.
Ngôi nhà rộng khoảng 150 m2, nằm lọt giữa khu vườn nhỏ, xây theo kiểu bốn mái, bên trái có một ngôi nhà nhỏ hơn chia làm hai phòng, xưa không biết là gì còn nay gia đình chị Lê đặt một chiếc giường nhỏ ở phòng ngoài, phòng trong làm bếp. Vài bức tường phía hông sau nhà bị phá ra, để lộ vách dày khoảng 20 cm -25 cm toàn bằng đá tảng.
Hiên rộng khoảng 1,5 m chạy vòng quanh ngôi nhà, có những tam cấp bước ra vườn, có chấn song là những con tiện lớn màu men xanh đặc trưng kiểu xây cất một thời. Ngôi nhà rất mát mẻ nhờ vào hàng hiên rộng này và sảnh rộng khoảng ba bốn m2 trước khi bước vào phòng khách, mỗi phía đều có hai cửa sổ gỗ song sắt rất lớn.
Trên khu vực bàn thờ cũ vẫn còn nguyên những trang trí bằng gỗ chạm rất đẹp. Hai bên mặt tiền nhà cũng có hai bình phong cùng kiểu bằng sứ men xanh.
Cả ngôi nhà toát lên vẻ trang nhã và giản dị. Chỉ tiếc, nó đã bị biến dạng quá nhiều: chồng chị Lê làm nghề tạo non bộ cây cảnh nên đã tạo luôn hai hòn non bộ mang hình rễ cây khá lớn ở ngay trong sảnh. Trên cổng nhà cũng chưng bảng hiệu đàng hoàng .Những cây cối trong vườn cũng bị chặt hoặc trồng thêm, vài kiến trúc bị phá hoặc xây thêm nhưng toàn thể ngôi nhà trông vẫn trang nhã. Chắc chỉ còn cây me rất lớn nằm sát cổng, um tùm che mát cả nửa ngôi nhà là của nhà cũ.
Không có hàng rào nào ngăn cách ngôi nhà này với hàng xóm trừ một tấm lưới B40 thâm thấp. Đứng nhà này có thể nhìn thấy người nhà bên cạnh đi ra đi vào. Xóm chài Tri Thủy lặng lẽ và bình yên trong cái nắng bỏng và mùi vị biển nhè nhẹ, con đường cát đọng nước đây đó như vô vàn xóm chài ven biển miền Trung khác.
Chúng tôi cũng cảm thán y như những người từng đến thăm ngôi nhà này trước đó: một ông tổng thống xây nhà cho cha mẹ mình giản dị vậy sao? Chẳng có chút gì là dấu vết vàng son của quyền lực tối cao dải đất miền Nam một thời.
Trải hàng chục năm biến động, trước kia ngôi nhà có tầm nhìn ra ao cá khá lớn, đằng sau thông thẳng ra đầm Nại, nghe dân địa phương kể ông Thiệu thường đi canô về nhà theo lối này, nay đã bị những nhà khác xây sau che khuất hết.
   . Gần đó, đi vòng theo đường luồn trong xóm ra đến ao cá rẽ vô tay trái, trước đây từng là ngôi nhà của cha mẹ người Bí thư kiêm Tham vụ báo chí, cũng là em họ của ông Thiệu: ông Hoàng Đức Nhã. Khi chúng tôi đến thì nó chỉ còn là một bãi đất trống. Một vị cao niên ở địa phương dẫn chúng tôi ra đó.
Ông cúi xuống sờ sờ vào những kiềng nhà vẫn còn nguyên móng vẫn còn, kể: ngôi nhà mới bị đập cách đây một tháng. "Hình như ông Nhã không còn người thân nào ở địa phương nên không có ai đến nhận nhà. Cứ để đó riết dần dần nó rệu rã sắp sụm xuống nguy hiểm quá, thêm vô đám cờ bạc ở đâu tới biến chỗ này thành tụ điểm cờ bạc, nên xã quyết định đập nó luôn."
"Nhà ông Thiệu bình thường, chứ nhà này mới đồ sộ, xây kiểu Huế, lớn, đẹp lắm"-ông nói thêm.
Cách đây ba năm, lãnh đạo tỉnh Ninh Thuận từng chỉ đạo các ban ngành trong tỉnh đề xuất biến ba ngôi nhà này (nhà của ông Nguyễn Văn Thiệu, ông Hoàng Đức Nhã và một quan chức chính quyền cũ là ông Trần Đình Thống) thành điểm du lịch, nhưng không rõ vì sao chủ trương này chưa thành sự thật.
Chưa kể, chị Lê cho hay ngôi nhà ông Thiệu đang rục rịch muốn giao cho Hội người cao tuổi, nhưng họ ngần ngại không muốn nhận vì lịch sinh hoạt của Hội khá thưa, lâu lâu đến họp rồi lại đóng cửa thì chẳng ai bảo quản căn nhà.
Dấu vết ông Thiệu để lại ở vùng này khá nhiều. Ngoài ngôi nhà xây cho cha mẹ nói trên, còn có ngôi nhà hóng gió bằng gỗ cất kiểu nhà sàn ở bờ biển Ninh Chữ, chỉ cách mép sóng độ mười lăm hai chục mét, tầm nhìn bao trọn một vòng cung biển xanh ngắt tuyệt đẹp.
Dân địa phương gọi là Trại Mát hay Nhà Mát. Vẫn theo họ kể, cách đây khoảng hai mấy năm ngôi nhà này vẫn còn nguyên, nhưng sau đó nó bị đập ra và xây lại bằng xi măng mái ngói cũng với hình dạng cũ. Tuy nhiên, trước kia sàn nhà cách mặt đất đến ngang hông người lớn, trẻ con rất thích chạy chơi dưới đó thì giờ khoảng cách đó chỉ còn phân nửa.
 Nó được dùng làm nhà hàng hải sản mang tên Nhà Mát, thuộc quyền quản lý của khách sạn Sài Gòn-Ninh Chữ. Có vẻ rất vắng. Hôm chúng tôi đến, đúng vào giờ ăn mà cả nhà hàng chỉ lèo tèo đúng hai người khách.
Ninh Thuận từ nhiều năm nay là một trong những tỉnh nghèo nhất Việt Nam, nhưng cũng được trời ban cho những thắng cảnh và câu chuyện độc đáo không nơi nào có. Những chứng tích, di vật và giai thoại lịch sử ở Ninh Thuận gắn liền với những nhân vật nổi tiếng của Việt Nam một thời tạo nên một vòng tròn du lịch hoàn hảo cho những ai ưa khám phá.
Vì vậy tôi nghĩ nhìn ở góc độ ngắn và thực dụng nhất thì việc tận dụng những điều này nhằm kéo khách du lịch đến sẽ giúp người dân địa phương có thêm nguồn thu lâu dài. Mặt khác, tôi nghĩ những dấu vết, chứng tích còn lại đều bổ ích để có thêm nhìn nhận về một nhân vật của lịch sử, thuộc về lịch sử.
Không biết bao giờ tỉnh Ninh Thuận mới giữ gìn và đối xử với những chứng tích quý giá này như chúng đáng phải thế? Thật xót xa khi chứng kiến chúng đang mất đi với tốc độ ngày càng nhanh và có những thứ đã hoàn toàn biến mất.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của Hoàng Xuân từ TPHCM

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bảy điều khiến bạn trở nên ‘khó ưa’



Có những người bạn vừa gặp đã thích ngay. Họ làm bạn thấy mình đang hiện diện, được tôn trọng và cuộc trao đổi giữa bạn và họ có kết quả tốt đẹp.
Cũng có những người bạn vừa gặp đã thấy khó chịu. Có thể họ nói quá nhiều, quá khoe khoang. Có thể họ quá rụt rè ít nói. Và nhiều lý do khác nữa, hãy đừng là một trong những người này.
Sau đây là 7 điều khiến người đối diện nhanh chóng mất cảm tình, theo tổng hợp của Business Insider.
smile_face_
1. Nói nhiều mà không lắng nghe
Những người này thích nói về họ nhiều đến nỗi không cho bạn có cơ hội để hỏi hay nhận xét ý kiến nữa. Nếu bạn có lên tiếng, họ cũng chẳng nghe. Không có gì ngạc nhiên khi nhóm người này khiến việc ngồi đối diện họ quả thực là một sự tra tấn.
Khi trò chuyện, hãy nhớ nhìn về phía người đối diện, đặt câu hỏi khi mình đã nói, và khi họ hói hãy nhớ cười, hay nheo mày, hay gật đầu... tất cả những gì khiến người đối diện cho thấy đây là một cuộc trao đổi giữa hai phía.
Đừng đưa ra lời khuyên nếu bên kia chưa nhờ bạn góp ý. Lắng nghe tốt hơn là đưa ra ý kiến. Dễ hiểu thôi, khi bạn lắng nghe, người đối diện cảm thấy họ quan trọng, còn khi bạn bắt đầu khuyên bảo, bạn trở nên quan trọng hơn.
2. Trọng trên, khinh dưới
Những người này trước mặt các sếp hay khách quý thì tỏ ra sốt sắng, chân thành, trong khi xem người dưới quyền là không đáng cho họ trân trọng. Đừng là những người này.
Khi bạn thô lỗ với người dưới quyền bạn, một ngày nào đó, một người nào đó đứng ngoài sẽ biết, và nhanh chóng tất cả mọi người đều biết, kể cả các ông sếp bà sếp quý của bạn. Và khi đó, tất cả những hình ảnh đẹp bạn cố công xây dựng trong thời qua sẽ thành mây khói.
Những người đáng mến xử sự tốt với tất cả mọi người, lắng nghe tất cả mọi người, vì họ trân trọng tất cả mọi người.
3. Xao lãng vì điện thoại, email
Những người này ngồi trước mặt bạn nhưng mắt thì không rời màn hình điện thoại. Họ liên tục xem có email mới hay không, bạn họ trên Facebook hay Instagram có đăng hình ảnh gì mới hay không, trong khi bạn hay những gì trước mặt họ lại không quan trọng bằng.
Nếu bạn đang có một cuộc đối thoại với một hay nhiều người, hay đang họp, hãy cất điện thoại, máy tính bảng, hay tất cả những gì tương tự, vào túi xách.
Thời gian và sự tập trung là một món quà quý vô hình một người có thể trao đi. Và khi bạn trao tặng món quà vô hình này, người khác sẽ rất thích bạn dù có thể chính họ cũng không hiểu vì sao.
4. Ích kỷ
Những người ích kỷ sẽ không bỏ ra bất kỳ thứ gì nếu họ không được nhận lại hơn hay bằng giá trị tương xứng. Đừng như vậy.
Hãy cho đi và không cần nhận lại. Khi bạn cho đi một điều gì đó, sợi dây nối giữa bạn và người nhận đang hình thành một mối quan hệ thực sự.
Nếu bạn thực sự quý mến và tin tưởng người đối diện, đừng lo mình chẳng nhận lại được gì.
5. Coi bản thân là quan trọng
Những người xem mình là quan trọng sẽ gây ấn tượng với những người cũng xem mình là quan trọng. Tất cả mọi người còn lại sẽ thấy khó chịu với điều đó.
Đừng là một trong những người này, những người nghĩ việc mình bước vào đám đông giống như bước trên sàn diễn, trong khi thực sự thì “khán giả” đang rất ngứa mắt.
Vì thực sự những người đối diện bạn mới quan trọng hơn bạn. Bạn đã biết mình nghĩ gì, muốn gì, trong khi bạn cần nghe thêm từ người khác. Đúng không? Bạn sẽ không thể học hỏi thêm nếu cho mình là giỏi nhất, là quan trọng nhất.
Hãy dành cho người đối diện một vài lời khen nếu bạn thấy thích điều gì đó nơi họ. Vì thực sự thì ai cũng nên được khuyến khích, khen ngợi. Họ sẽ cảm kích, không chỉ vì lời khen, mà là vì bạn quan tâm để ý đến họ.
6. Liên tục than thở
Thay vì nói làm việc, những người này nói tôi phải làm việc. Thay vì nói đi tập thể dục, những người này nói tôi phải đi tập thể dục. Những câu chữ đơn giản thôi nhưng có sức ảnh hưởng lớn đến thái độ, không chỉ cho bản thân mà còn cho những người xung quanh.
Bạn không “phải đi tập thể dục”, bạn tập để có sức khỏe tốt và tinh thần minh mẫn. Bạn không “phải làm việc”, bạn làm công việc của mình để đóng góp cho công ty và kiếm tiền cho bản thân và gia đình.
Ai cũng thích ở gần những người vui vẻ, nhiệt thành. Cũng là một việc, một câu nói, hãy chọn từ ngữ tích cực để tỏa ra nguồn năng lượng thu hút. Bạn sẽ thấy vui vẻ hơn và mọi người cũng quý mến bạn hơn.
7. Chỉ thấy cái sai của người khác
Và không bao giờ thừa nhận sai lầm của mình, đó là cách làm người khác mất cảm tình với bạn.
Thực tế thì ai cũng thích “tám” và nghe chuyện “tám.” Nhưng khi nói về người khác, dù họ không nghe, cũng hãy giữ một chút gì tử tế.
Và khi chính bạn làm gì đó sai, hãy nhận lỗi và xin lỗi. Người đáng mến là người biết mình không luôn luôn đúng. Nhận thức điều này có nghĩa rằng bạn không bị căn bệnh kiêu ngạo làm hư mình. Khi bạn biết cười vào những điều xấu của bản thân, người ta có thể cười cùng bạn, nhưng sẽ không cười sau lưng bạn.
@NguoiViet
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Biển Hồ Cạn Nước

Khi đơn phương chuyên quyết tiến hành xây chuỗi 8 con đập khổng lồ Vân Nam là Trung Quốc đã phát động một cuộc chiến tranh môi sinh không tuyên chiến với 5 nước hạ nguồn sông Mekong.


Ngô Thế Vinh

Vào ngày 31 tháng 7 năm 2015, từ Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), ông Đinh Hưng đã gửi đến.. một lời báo động … muộn màng:
“Các dòng sông Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long đang bị xâm nhập mặn vào nội địa trên 70 km, và có chiều hướng tăng nhanh. Hiện một số địa phuơng trong vùng ĐBSCL đã xuất hiện tình trạng thiếu nước ngọt trầm trọng.
Những tháng gần đây tại ĐBSCL, việc nước mặn tấn công ‘Chưa từng thấy’ làm ‘Đảo lộn cuộc sống’, không phải là bất ngờ mà là tất yếu theo dự đoán. Người dân các tỉnh Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang đang phải ‘Chạy mặn’ từng ngày.
Các tiểu vùng nước ngọt quanh năm bị đảo lộn, bị mặn xâm nhập, đã đe dọa cả trăm ngàn hecta đất nông nghiệp, nhiều vườn cây ăn trái nằm trên nguy cơ xóa sổ, thủy sản nước ngọt bị tổn thất lớn. Tất cả nguy hại đang đổ trên đầu người dân nơi đây.”
Đồng Bằng Sông Cửu Long S.O.S. Ký họa Babui
Đồng Bằng Sông Cửu Long S.O.S. Ký họa Babui


Hiện tượng ngập mặn ở ĐBSCL –  thực ra – đã được báo động lâu lắm rồi, từ hồi cuối thế kỷ trước lận:
“… mười ngày trước Giáng Sinh, ngư phủ Nguyễn Văn Chơn và vợ cư ngụ tại huyện Lấp Vò Tỉnh Đồng Tháp đã lưới được một con cá đuối khổng lồ trên sông Tiền, đoạn giữa hai Xã Tân Mỹ và Tân Khánh Trung. Con cá đuối có chiều dài hơn 4 mét ngang 2 mét và nặng tới 270 ký.
Cá đuối hay Selachian, tên khoa học là chondrichthyes, thuộc loài cá sụn (cartilaginous fishes) gồm các giống cá mập, cá nhám, cá đuối và là cá nước mặn. Đây cũng là lần đầu tiên ngư dân Đồng Bằng Sông Cửu Long lưới được một con cá nước mặn lớn như vậy rất xa biển và trên một khúc sông nằm sâu trong đất liền…
Cho sẻ thịt bán ngay tại bến số tiền thu được lên tới ngót 2 triệu đồng tính ra khoảng 140 đô la như món quà Giáng Sinh mà cả hai vợ chồng anh đã không thể nào ngờ tới.
Nhưng ‘Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai’ như lời thơ Nguyễn Đình Toàn, bởi vì khi mà nước sông Cửu Long xuống mức thấp nhất so với 73 năm trở lại đây và có nơi mực nước sông chưa được hai thước gây sạt lở hai bên bờ làm thiệt hại nhà cửa và cả nhân mạng.
Nhiều chuyên gia Việt Nam ở ngoại quốc và cả trong nước đã lên tiếng báo động về hiểm họa hạn hán với sông Cửu Long có thể cạn dòng do các công trình xây đập ngăn nước của các quốc gia Thượng Nguồn Thái Lào và nhất là chuỗi tám con đập bậc thềm khổng lồ Vân Nam Trung Hoa mà lâu nay .. vẫn không hề lên tiếng phản đối…
Và khi một con cá đuối nước mặn lớn như vậy có thể vào tới Đồng Tháp thì đó là báo hiệu nạn ngập mặn (salt intrusion) đã vào rất sâu trong vùng châu thổ, nơi vốn là đất của ‘sữa và mật ngọt’ hay đúng hơn vùng đất của ‘phù sa, lúa gạo, cây trái và tôm cá đầy đồng…’ (Ngô Thế Vinh. Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng. Văn Nghệ: California, 2000).
Nowy obraz (3)

Mười lăm năm sau, sau khi tác phẩm dẫn thượng được xuất bản, từ Vĩnh Long, ông Đinh Hưng lại tiếp tục kêu than và kêu cứu … trong vô vọng:
“Trong khi đó, một sự thật hiển nhiên đang đe dọa cư dân ĐBSCL là vấn đề nhiễm mặn đang hủy diệt môi trường sống, lại chỉ nhận được sự thờ ơ của nhiều tầng lớp xã hội, của truyền thông báo chí, không thấy sự lên tiếng đòi hỏi chính phủ về trách nhiệm, kế hoạch và phương pháp hữu hiệu để giải quyết ‘thảm họa’, về giá trị đầu tư phù hợp và hiệu quả cho giải pháp chống xâm nhập mặn – đang là mối đe dọa hiện hữu đến kinh tế, đến an toàn lương thực và dân sinh khu vực, thậm chí đe dọa đến số mệnh của cả quốc gia.”
Muốn biết sự vô cảm, và tầm nhìn ra sao về “số mệnh của cả quốc gia” thì chỉ cần nhìn vào địa chỉ Trụ Sở Văn Phòng Thường Trực Ủy Ban Sông Mê Công Việt Nam: 23 Hàng Tre, Hoàn Kiếm, Hà Nội! Cũng còn may là trụ sở này chưa đến nỗi đặt ở tỉnh … Hà Giang!
Còn muốn biết sự vô tâm của giới truyền thông Việt Nam về “số mệnh của cả quốc gia” thì cứ xem qua bộ phim Mê Kông Ký Sự, và những lời xưng tụng (hết sức vô tình) của báo chí trong nước:
“Bộ phim ký sự, thám hiểm đẫm chất văn học, phiêu lưu ‘Mê Kông ký sự’ do Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh (HTV) sản xuất. Đây là bộ phim tài liệu dài nhất trước nay: 75 tập (20 phút/tập) nội dung bao trùm 6 quốc gia..
Xem Mê Kông ký sự, người xem thú vị và ngạc nhiên với những cảnh quay đẹp, những nét văn hóa, những câu chuyện đầy huyền thoại…”
 (Tibetization of South China Sea). Rồi đến giới truyền thông làm phim chuẩn bị cho tham vọng Tây Tạng Hoá Dòng Sông Cửu Long (Tibetization of Mekong River) bằng “những cảnh quay đẹp, những nét văn hóa, những câu chuyện đầy huyền thoại” để cổ vũ cho một viễn ảnh về một Trật Tự Trung Hoa trong an bình (Pax Sinica) hay nói rõ hơn là Hán hoá tất cả những xứ sở ở hạ lưu của con sông này.
Hạn từ “Tibetization of Mekong River” không phải là “sáng tác riêng,” phát xuất từ sự hoang tưởng của kẻ đang viết những dòng chữ này đâu. Cứ nhìn cái bàn tay lông lá đang cố luồn sâu vào mọi địa hạt  – kinh tế, văn hoá, chính trị… – của tất cả các quốc gia hạ nguồn (Miến Điện, Thái, Lào và Việt Nam) sẽ thấy ngay ý đồ “Tây Tạng Hoá Dòng Sông Cửu Long” của họ.
Tác hại nhãn tiền về môi sinh không chỉ là sự hiện tượng khô hạn và nhiễm mặn mà còn là vô số rác rưởi, cùng những chất thải kỹ độc hại – từ thượng nguồn thuộc siêu cường Trung Hoa vĩ đại – ào ạt đổ xuống những lãnh thổ phía dưới mà hai quốc gia ở cuối sông phải “lãnh đủ” là Cam Bốt và Việt Nam.
Nowy obraz (4)

Khi đến khảo sát Biển Hồ, vào năm 2000, nhà văn Ngô Thế Vinh đã ghi nhận rằng: “Chưa bao giờ mực nước cạn như những năm qua, trong mùa khô có nơi chỉ còn sâu chưa tới nửa mét, nước thì quá nóng khiến loại cá trắng không sống nổi chết nổi phều hoặc phải thoát xuống những sông hạ lưu.” (sđd, tr. 282).
Hơn một thập niên sau, vào mùa khô năm 2015, chúng tôi mới có dịp đi ghe máy lòng vòng thăm vài làng nổi của người Việt ở giữa Biển Hồ. Không  thấy “cá trắng nổi chết phều vì nước nóng” nhưng tôi lại nhìn ra một sự kiện cũng não lòng không kém: ngư dân địa phương đang dần phải chuyển nghề. Họ nuôi cá để ăn, và để bán, thay vì đánh bắt vì ngư sản mỗi lúc một càng khan hiếm.
Và khi ngư sản ở Biển Hồ đã trở nên khan hiếm thì sông Tiền và sông Hậu, khi xuôi dòng về đến Châu Thổ Sông Cửu Long, cũng sẽ chả còn cá mắm gì để làm quà tặng cho hàng chục triệu người dân Việt ở nơi đây nữa.
Mực nước ở Biển Hồ mà chúng tôi chứng kiến vào mùa khô vừa qua, nhiều nơi, không còn được nửa mét như hồi năm 2000 nữa. Có chỗ đã biến thành vũng cho trẻ con chơi đùa, hay hoá thành… sân chơi bóng chuyền rồi!

Hồ nay thành Vũng. Ảnh tư liệu của MIRO, chụp vào mùa nước cạn năm 2015
Hồ nay thành Vũng. Ảnh tư liệu của MIRO, chụp vào mùa nước cạn năm 2015
Bởi vậy, không có gì ngạc nhiên khi thỉnh thoảng chúng tôi lại bị mắc cạn giữa Biển Hồ. Mọi người phải nhẩy xuống nước cho ghe nhẹ bớt, rồi lôi nó ra những nơi có mực nước sâu hơn để tiếp tục chuyến đi. Khi hì hục như thế tôi chợt nhớ đến một câu nói một quen thuộc (“nước có thể nâng thuyền và cũng có thể lật thuyền”) mà không khỏi cảm thấy ngậm ngùi, cùng đôi chút đắng cay
Thì ra không phải lúc nào nước cũng có thể nâng thuyền hay lật thuyền được. Có những lúc, và những nơi mà nước cạn đến mức trở nên hoàn toàn vô tác dụng. Đất nước tôi, rất có thể, sẽ trở thành một nơi như vậy trong tương lai gần –  theo như tin loan (vào ngày 11 tháng 8 năm 2015) của báo Người Lao Động:
“Dự thảo với hơn 1.000 loại phí và lệ phí về nông nghiệp vừa được trình lấy ý kiến của Quốc hội làm cho bất cứ ai cũng phải giật mình. Con số này quả là không tưởng nổi đối với một ngành nông nghiệp kém phát triển và mấy chục triệu nông dân còn quá khó khăn như ở nước ta. Nếu cứ mạnh tay thu phí như thế này thì người dân sẽ kiệt quệ và chẳng mấy lúc chẳng còn gì để thu.”
Cái “lúc người dân chẳng còn gì để thu” và cũng không còn sức để nổi dậy nữa chính là thời điểm mà Việt Nam bước bước vào ngưỡng cửa của sự diệt vong, nếu không rơi vào vòng lệ thuộc.
Làng nổi Rạch Lộ Quýt ở Biển Hồ. Ảnh tư liệu của MIRO, chụp vào mùa nước cạn năm 2015.
Làng nổi Rạch Lộ Quýt ở Biển Hồ. Ảnh tư liệu của MIRO, chụp vào mùa nước cạn năm 2015.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lịch sử Khai sinh người Hán và sự hình thành nước Tàu

Hà văn Thùy
Trung Quốc xưa. Ảnh Google

1/ Những trang sử phải viết lại
“Con người xuất hiện vào lối 500.000 năm trước đây rồi lần lượt bị tiêu diệt qua bốn đợt băng tuyết, những người còn sống sót kéo nhau lên các miền núi cao nguyên sống trong hang hốc. Sang đến Tân Thạch, sau khi làn băng giá thứ tư tan rã, khí hậu trở nên ấm áp, loài người lục tục rời bỏ những hang động trong dẫy Thiên Sơn để thiên di xuống các vùng bình nguyên… Một nhóm sang phía Tây thành người da trắng. Trong những người tiến về phía Đông làm thuỷ tổ giống da vàng có hai chi gọi là Bắc Tam hệ và Nam Tam hệ.
Bắc Tam hệ là ba phái đi theo Thiên Sơn Bắc lộ gồm có:
1/Phái Mãn tộc chiếm lĩnh vùng cực Đông Bắc Trung Hoa ngày nay.
2/ Phái Mông Cổ chiếm lĩnh chính Bắc Trung Hoa.
3/ Phái Đột Quyết chiếm lĩnh Tây Bắc Trung Hoa và Đông Nam Tây Bá Lợi Á.
Nam Tam hệ gồm có ba tộc là Miêu (Viêm, Việt), Hoa, Tạng.
Thoạt kỳ thuỷ, Miêu tộc theo dòng sông Dương Tử vào khai thác vùng Trường Giang thất tỉnh sau theo bình nguyên Hoa Bắc lên khai thác vùng lục tỉnh Hoàng Hà. Phía Nam lan tới khu vực Việt giang ngũ tỉnh…
Khi Miêu tộc đã định cư rồi thì Hoa tộc tuy theo Thiên Sơn Nam lộ nhưng còn sống đời săn hái vùng Tân Cương, Thanh Hải…Về sau họ theo khuỷu sông Hoàng Hà tiến vào Bắc Trung Hoa chiếm đất của người Việt.”(1)
Những dòng trên được khởi thảo bởi các học giả người Pháp như E. Aymonier, E. Chavannes, L. Aurousseau vào đầu thế kỷ XX, sau đó được nhiều sử gia Trung Hoa như Vương Đồng Linh, Chu Cốc Thành bổ sung và trở thành cuốn sử chính thức của Á Đông, được nhiều đại học danh tiếng nước Mỹ sao chép lại.
Nhưng đến nay, nhờ những phát kiến về di truyền học, bức tranh về nguồn gốc loài người cùng thời tiền sử Á Đông được vẽ lại bằng những đường nét khác hẳn:
Người hiện đại Homo sapiens xuất hiện tại Đông Phi khoảng 180.000 năm trước. Đó có thể do cuộc hôn phối của người đàn ông duy nhất với 3 người đàn bà, sinh ra 3 đại chủng: Europide (da trắng), Australoid (da đen) và Mongoloid (da vàng). Người tiền sử từ Trung Phi đi lên Trung Đông từ rất sớm nhưng do bức thành băng hà chắn phía bắc nên không thể đi tới châu Âu. Đợt di cư đầu tiên là đi theo hướng mặt trời mọc về phương Đông. Cuối năm 1998, Dự án Đa dạng di truyền người Trung Quốc (2), cung cấp những dữ liệu cho thấy cuộc hành trình của người hiện đại sang phương Đông như sau:
- Khoảng 70.000 năm trước, người hiện đại Homo sapiens từ Trung Đông theo ngả Nam Á tới Trung và Bắc Việt Nam. Tại đây hai đại chủng Mongoloid và Australoid hoà huyết tạo ra những chủng Indonesien, Melanesien, Vedoid và Negritoid tràn lan khắp lục địa Đông Nam Á. Khoảng 50.000 năm trước, người từ Đông Nam Á di cư tới châu Úc, sau đó là New Guinea và các đảo ngoài khơi. Khoảng 40.000 năm trước, do băng hà tan, khí hậu trở nên ấm áp, người từ Đông Nam Á đi lên khai thác lục địa Trung Hoa. Do sống theo từng nhóm riêng rẽ trong thời gian dài trên địa bàn rộng, người Đông Nam Á đã phân ly thành những bộ lạc khác nhau mà sau này lịch sử gọi bằng tên chung là Bách Việt. Ban đầu người Việt mang theo những công cụ đá mài mà tiêu biểu là loại búa đá lưỡi cong (gọi là phủ, việt) nên tên người Việt được viết với bộ Qua. Khoảng 15.000 năm cách nay, những lớp người tới sau mang theo giống lúa, khoai sọ và gà, chó từ văn hoá Hoà Bình Việt Nam lên, phát triển nông nghiệp lúa nước trên lưu vực Dương Tử rồi Hoàng Hà. Lúc này tên người Việt được viết với bộ Mễ để ghi nhận chủ nhân của cây lúa nước. Cho đến thiên niên kỷ thứ IV TCN, người Bách Việt có nhân số chiếm tới 54% nhân loại, trong đó người Lạc Việt có khoảng 15-20% , giữ vai trò lãnh đạo về ngôn ngữ và xã hội. Người Bách Việt xây dựng nền văn minh nông nghiệp sớm và rực rỡ nhất thế giới.
Khoảng 30.000 năm trước, một số nhóm Mongoloid từ Đông Nam Á theo con đường Ba, Thục lên định cư tại Tây Bắc Trung Quốc. Đó là tổ tiên của những bộ lạc Mông Cổ thiện chiến sống du mục trên các đồng cỏ Thiểm Tây, Cam Túc. Sau này, được khoa học định loại là chủng Mongoloid phương Bắc.
2/ Khai sinh người Hán và việc hình thành nước Tàu
a/ Khai sinh người Hán
Có thể hình dung bức tranh sau: Ít nhất vào khoảng 30.000 năm cách nay, người Bách Việt đã có mặt khắp 18 tỉnh của Trung Quốc. Ở vùng phía Bắc có tình trạng: Sống cách nhau con sông Hoàng Hà nhưng giữa người Bách Việt và người Mông Cổ là hai thế giới khác biệt. Dù phải sống trên thảo nguyên khô lạnh và khắc nghiệt nhưng người Mông Cổ do phương thức sống du mục nên không thể lùa đàn gia súc qua sông Hoàng tới vùng đồng bằng lầy lội. Mãi sau này, khi thấy những người nhỏ bé, có sắc da đen, tóc xoăn, trồng lúa nước sống nhàn hạ và sung túc bên kia sông, người Mông Cổ nảy lòng tham, mưu toan chiếm đất của Bách Việt. Khoảng 2600 năm TCN, một số bộ tộc Mông Cổ du mục do họ Hiên Viên dẫn đầu, vượt sông Hoàng Hà, chiếm Thiểm Tây, Sơn Tây… Do người Bách Việt quá đông, chống cự kiên cường nên người Mông Cổ lâm vào trận chiến dai dẳng, ác liệt, chịu nhiều thiệt hại.  Sau trận quyết chiến Trác Lộc, tuy diệt được thủ lĩnh Việt tộc là Đế Lai, chiếm được một phần đất đai nhưng người Mông Cổ vẫn thường xuyên bị tấn công trong một trận chiến du kích trường kỳ. Mặt trận càng mở rộng thì quân Mông Cổ càng phải dàn mỏng ra và lâm vào tình thế bất lợi. Từ thực tế chiến trận, kẻ xâm lược nhận ra: không thể toàn thắng người Việt bằng bạo lực. Mặt khác, từ thực tế cho thấy nguồn thức ăn dồi dào, đất đai rộng rãi, người đông đúc nên không bắt buộc phải tàn sát diệt chủng và nô lệ hoá kẻ bại trận. Do vậy, ở những nơi chiếm được, người Mông Cổ thực thi chính sách mềm dẻo: dành cho người Mông làm quan cai trị, làm công nghiệp, thương nghiệp, để cho người Việt giữ nguyên quyền cày cấy trên đất của mình, đi lính, làm tạp dịch và đóng một mức thuế vừa phải. Nhận thấy người Việt hiền lành, ưa cuộc sống tự do, thích ca múa… nên các thủ lĩnh Mông Cổ tôn trọng nếp sống của người Miêu Việt, dùng âm nhạc, ca múa phủ dụ. Nhờ vậy, dần dần giữa người Mông và người Việt xây dựng được cuộc chung sống tương đối hoà thuận. Do sống chung đụng, đã có cuộc hoà huyết giữa người Bách Việt và người Mông Cổ, tạo ra chủng mới là Mongoloid phương Nam. Việc hoà huyết này như phản ứng dây truyền tràn lan rất nhanh, chỉ vài ba thế hệ, phần lớn người Việt trong vùng bị chiếm cũng như người Mông Cổ chiếm đóng biến thành chủng Mongoloid phương Nam. Sắc dân này trở nên thành phần chủ thể của dân cư thời Đào Đường, nhà Hạ, Thương, Chu. Khi Lưu Bang lập nước Hán thì được gọi là người
Như vậy, trên thực tế, người Hán chỉ ra đời từ sau năm 2600 TCN, là con lai giữa người Mông Cổ phương Bắc và người Bách Việt.
b/ Sự hình thành nước Tàu.
Sách cổ Trung Quốc chép rằng: Họ Hiên Viên chiến thắng Si Vưu trên sông Hoàng Hà, được tôn làm Hoàng Đế. Do sử sách chép quá vắn tắt khiến cho hậu thế không biết sự việc diễn ra như thế nào. Trong quan niệm truyền thống, Hoàng Đế là ông vua duy nhất, là cội nguồn duy nhất khai sinh ra Trung Hoa. Ngay Đại Việt sử ký toàn thư cũng nói Hoàng Đế dựng muôn nước. Đồng thời sử sách cũng quy cho Hoàng Đế toàn bộ công trạng tạo lập văn minh tiền sử Trung Hoa. Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào minh định sự kiện này. Các sách sử đều cho rằng: người Hán từ phía Bắc xuống chiếm đất của người Việt. Chính nhận thức sai lầm này đã dẫn đến những ngộ nhận kéo dài trong lịch sử Á Đông.
Dựa trên sự hình thành cộng đồng dân cư trên lục địa Trung Quốc ở thời kỳ này, tôi đề nghị một kịch bản khai sinh nước Tàu như sau:
Ở phía bắc sông Hoàng Hà có nhiều bộ lạc Mông Cổ sinh sống trong tình trạng luôn có chiến tranh giành giật bãi chăn thả, gia súc và nô lệ. Để có sức mạnh, một số bộ lạc liên minh với nhau. Họ Hiên Viên là thủ lĩnh một liên minh bộ lạc mạnh nhất và là mũi chủ công tiêu diệt Đế Lai, đưa lại chiến thắng cho người Mông Cổ. Vì vậy, sau chiến thắng, họ Hiên Viên chiếm được vùng đất rộng nhất, trù phú nhất và được tôn làm Hoàng Đế. Sau Hoàng Đế là Đế Cốc, Đế Chí rồi Đế Nghiêu. Đấy là dòng chủ lưu, được ghi nhận trong truyền thuyết và sách sử. Tuy nhiên, trên thực tế, không chỉ có liên minh của Hiên Viên mà nhiều bộ lạc hay liên minh bộ lạc Mông Cổ khác cũng vượt Hoàng Hà chiếm đất của người Việt. Trên giang sơn của người Bách Việt có nhiều vùng bị chiếm đóng và diễn ra cuộc chung sống giữa kẻ thua và người thắng như mô tả ở trên. Những trung tâm xen kẽ theo hình da báo này không ngừng mở rộng địa bàn để chiếm ưu thế, tranh giành mối lợi. Sử sách ghi lại, vào đời Chu, trên địa bàn Trung Nguyên có đến gần 1000 ‘nước’, có tên riêng, tự trị, chỉ gắn kết lỏng lẻo với nhà Chu. Những ‘nước’ này gồm những bộ lạc Việt còn độc lập ở xen kẽ với những vùng bị chiếm đóng. Vào thời Xuân Thu, số tiểu quốc sáp nhập lại, còn hơn 100, trong đó nổi lên hơn chục nước tương đối lớn: Tần, Mân, Vương, Chu Nam, Thiệu Nam, Lương, Đường, Bội, Vệ, Dung, Cối, Trịnh, Tào, Tề. Thành Thang tập hợp những nước nhỏ này, tạo dựng nhà Thương, trở thành ông vua đầu tiên của lịch sử Trung Hoa. Đến nhà Chu, do tài năng, đức độ của mình mà Văn Vương giữ vị trí thiên tử, quần tụ quanh mình nhiều nước chư hầu.
Đấy là hiện trạng của vùng phía bắc sông Dương Tử. Còn ở mạn nam Dương Tử, nước Xích Quỷ là liên minh bộ lạc của người Bách Việt cũng phân rã thành những nước như Ngô, Việt, Sở phía đông; Ba, Thục, Kiềm, Điền, Dạ Lang… phía tây. Dân cư các nước này tuy độc lập với các thế lực phương bắc nhưng có tiếp xúc làm ăn quan hệ với người phương bắc và xảy ra sự hoà huyết với họ. Như phản ứng dây chuyền, những người lai thuộc chủng Mongoloid phương Nam ngày càng đông và chỉ sau vài thế kỷ, đã chiếm đa số trong dân cư các nước phía nam Dương Tử. Vào cuối thời Chu, các nước Ngô, Việt rồi Sở tuy luôn chiến tranh với người phía bắc nhưng về chủng tộc, phần lớn dân số đã là Mongoloid phương Nam, đồng chủng với người phương bắc. Tới khoảng 2000 năm TCN, đa số dân sống trên đất Trung Quốc đã là chủng Mongoloid phương Nam. Sau khi nhà Tần thống nhất Trung Quốc, diệt Ba, Thục, chiếm miền Kinh, Dương rồi nhà Hán tiêu diệt nước Sở, nước Trung Quốc có bản đồ gần như ngày nay, với thành phần dân cư đa số là người Hán thuộc chủng Mongoloid phương Nam.
Tới đây cũng cần bàn rõ về số phận người Mông cổ:
Có thể đã diễn ra tình huống thế này: Khi vượt Hoàng Hà chiếm đất của Bách Việt, người Mông Cổ chuyển dịch theo từng bộ lạc. Mỗi bộ lạc hay liên minh bộ lạc này chiếm từng khu vực của người Việt và nhanh chóng thiết lập sự thống trị của mình, tạo thành hình thế giống như tấm da báo hay những vết dầu loang. Giai đoạn này có thể kéo dài hàng trăm năm. Tới khi những vết dầu loang mở rộng, sát liền ranh giới với nhau, tự nhiên tạo nên bức thành ngăn không cho những bộ lạc Mông Cổ đến sau thâm nhập. Bên trong ‘bức thành’ đó, người Mông Cổ hoà huyết và hoà nhập văn hoá với dân Bách Việt tạo thành chủng Mongoloid phương Nam, là chủ nhân mới của Cửu Châu, sau này mở rộng khắp Trung Nguyên, làm nên các nước Thương, Chu, Tần, Hán. Những bộ lạc Mông Cổ bị ngăn lại, trở thành dân khác chủng với người Hoa Hạ, lập ra nước Mông Cổ ở phía Bắc hoặc vẫn sống theo từng bộ lạc, bị các triều đại Thương, Chu gọi là Địch.
Người Hán phương Nam hưởng ưu thế di truyền của hai nguồn gốc nên thông minh, năng động hơn. Họ cũng được thừa kế nền văn minh rực rỡ từ tổ tiên Bách Việt. Trên cơ sở đó, khoảng 1500 năm TCN, họ đã xây đựng nền văn minh Trung Hoa tiên tiến vào hàng đầu của thế giới. Những thành tựu tiêu biểu là:
- Cải tiến và hoàn thiện chữ tượng hình của người Việt.
- Bổ sung vào bản kinh vô tự của người Việt là kinh Dịch hai thành phần là Thuyết quái và Hệ từ. Nhờ vậy kinh Dịch được phổ biến và trở thành công cụ nhận thức sự vận động của thiên nhiên và xã hội.
- Đúc kết tri thức của người Việt cổ thành kinh Thư, kinh Thi, kinh Lễ, kinh Nhạc.
- Sáng chế ra la bàn, xe kéo.
 3/ Kết luận
Từ những dữ liệu di truyền học, chúng ta xác định được rằng, người Hán xuất hiện từ khoảng 2600 năm TCN, thuộc chủng Mongoloid phương Nam, do sự hoà huyết giữa người Mông Cổ phương Bắc và người Bách Việt. Nếu người Hán được hiểu với nghĩa như trên thì cần bàn lại về thuật ngữ “người Hán” thường dùng hiện nay. Trong nhiều tài liệu, chẳng hạn của Y. Chu cũng nói: “Người Hán phía Bắc và phía Nam Trung Quốc có đặc điểm di truyền khác nhau.” Nói cụ thể, người Hán phía Bắc thuộc chủng Mongoiloid phương Bắc, còn người Hán phía Nam thuộc chủng Mongoloid phương Nam. Vô hình trung nảy sinh mâu thuẫn: hai chủng người khác nhau về di truyền cùng được gọi là người Hán! Phải chăng đã tới lúc phân định rõ: người Trung Quốc ở miền Nam thuộc chủng Mongoloid phương Nam, là cư dân tạo thành nhà Hán nên được gọi là Người Hán. Còn người Trung Quốc ở phía Bắc thuộc chủng Mongoloid phương Bắc nên trả lại cho họ đúng tên là người Mông Cổ? Đấy là những bộ lạc Mông Cổ du mục trước đây bị nhà Thương, nhà Chu coi là Địch. Sau này khi các vương triều Trung Hoa mở rộng lãnh thổ, chiếm thêm dân, thêm đất, những người Mông Cổ này sáp nhập Trung Quốc và được gọi là người Hán phương Bắc. Danh có chính thì ngôn mới thuận. Chỉ khi phân định rõ ràng như vậy, chúng ta mới tránh được những ngộ nhận đáng tiếc.
Phải vậy chăng? Rất mong quý vị cao minh chỉ giáo.
Sài Gòn, Trọng Đông  Bính Tuất.
© Hà Văn Thùy
——————————————–
Tham khảo:
1. Kim Định. Việt lý tố nguyên. An Tiêm. Sài Gòn, tr 52
2. J.Y. Chu & đồng nghiệp: Genetic relationship of population in China.
Proc. Natl. Acad. Sci.USA 1998 số 95 tr. 11763-11768
- Jin Li: Ngày 29.9.1998 Jin Li thông báo một tin chấn động giới khoa học tại Washinton: ” Công trình của chúng tôi cho thấy con người hiện đại trước hết đã đến Ðông Nam Á sau đó đi lên Bắc Trung Hoa.” “Từ Trung Ðông men theo bờ Ấn Ðộ Dương, ngang qua Ấn Ðộ đến Ðông Nam Á. Sau đó họ đi lên Bắc Trung Hoa, Siberia và cuối cùng là châu Mỹ.” ["Our work shows that modern humans first came to Southeast Asia and then move late to Northern China." "...from Middle East, following the Indian Ocean coatline across India to Southeast Asia. Later, they moved northern China, Siberia and eventually the Americas"(Los Angeles Times  29.9.1998)].
THEO DÒNG SỰ KIỆN:
3 Phản hồi cho “Lịch sử Khai sinh người Hán và sự hình thành nước Tàu”
1.     kim Lang says:
Đọc bài nầy cho thấy tác giã và vị phãn bác ỡ trên,đã sưu tầm nhiều dư kiện về lịch sữ,địa lý và nhân chũng.Nói như thế thì dân tộc Việt Nam là dân tộc gốc cũa Bách Việt cụ thễ nhật.Hơn nữa,đã trãi mười tám đời vua Hùng Vương gắng bó với những câu truyện như Sữ Tích Trầu cao,Sơn Tinh,Thuỹ Tinh,những ngụ ngôn,ca dao nhân gian truyền khẫu.v.v.Dân Việt.mộc mạt,chất phát hiền lành lại hiếu hoà,mưa nắng hai muà,trên thuận dưới hoà,hiễu người hiễu ta.Chung qui cũng bỡi Hán mà ra nông nỗi đến ngày nay.
Nhưng may ra,cũng chưa có cùng đường bí lối.Hướng đi cũa nhân loại ngày nay cho ta thấy rõ,không còn cãnh mạnh được yếu thua,nước lớn không dễ giàn ăn hiếp nước như thế kỹ trước,bỡi vì nếu tiếp tục như thễ,không thễ giãi quyết được vấn đề,nhất là những cái mẫu thuẫn,nghịch lý còn tồn động lại hàng nghìn năm nay.
Hy vọng rằng mọi người con dân nước Việt nhận ra được điều nầy mà chia sẽ,chung lưng đấu cật,cùng làm những việc có ích lợi cho tiền đồn dân tộc,đễ sớm theo kịp nhịp sống hoà mình cùng nhân loại văn minh.Vì có nhân hoà mới có vũ trụ hoà.
Không cần bàn nhiều,theo tôi nghĩ một chính phũ mà biết thương dân,tức là biết tu đức vậy./.
2.     David Nguyen says:
Loài người hiện đại (Homo sapien) xuất hiện ở Phi Châu vào khoảng 200 ngàn năm về trước. Vào khoảng 50 ngàn năm về trước có sự đột biến (mutation) nhân di truyền FOXP2, họ bắt đầu có ngôn ngử. Bằng chứng là sự đột ngột gia tăng những vật dụng hàng ngày cách đây khoảng 50 ngàn năm. Chính vì có ngôn ngử, họ có những thông tin và truyền đạt kinh nghiệm. Họ bắt đầu ra khỏi Phi Châu. Khi họ định cư nơi nào, cơ thể họ thích ứng và tiến hóa theo môi trường. Họ biến thành những người da trắng, da đen, và da vàng.
Khi họ đến Á Châu, họ biến thành Đại Chũng Á (Mongoloid). Đại Chũng Á chia làm hai nhánh: Đại Chũng Á Bắc (Northern Mongoloid) và Đại Chũng Á Nam (Southern Mongoloid). Đại Chũng Á Nam di chuyễn ra Úc Châu và trở thành Đại Chũng Úc (Autraloid), da đen tóc quăn. Sự hợp giống giữa Đại Chũng Á Nam và Đại Chũng Úc thành người Cổ Mã Lai (Indonesien). Người Đại Chũng Á Nam có lẻ đến định cư trước ở Đông Nam Á, da vàng tóc thẳng (bao gồm đồng bằng sông Hồng) rồi di chuyễn lên phía bắc. Giống người Cổ Mã Lai dùng thuyền di chuyễn đến những vùng duyên hải Đông Nam Á và Trung Hoa lục địa và lại hợp giống với người Đại Chũng Á Nam (Southern Mongoloid): người thấp, vạm vở, nước da đen (khảo cổ phát hiện ở vùng Qùynh Văn (Nghệ An)
Khi người Ou (ở Vân Nam) bị người phương bắc xâm lăng. Họ chạy xuống vùng bắc và bắc trung phần VN và phía Nam Dương Tử Giang. Giống người này cao và thon người, có nước da trắng. Khảo cổ tìm thấy những mộ phần của họ ở vùng Hòa Bình và Bắc Sơn. Sự hợp giống người “Hòa Bình” và người “Qùynh Văn” tạo ra giống người Lạc Việt (và có lẻ Bách Việt nửa).
Người Đại Chũng Á Nam hợp giống với người Cổ Mã Lai ở phương bắc Trung Hoa và di chuyễn về phía bắc. Tại đây họ hợp chũng với người Đại Chũng Á Bắc (Northern Mogoloid), đặc biệt những người Altaic. họ có những đặc tính như mắt hí, trắng vàng, cao lớn và rất hiếu chiến. Họ có những trung tâm phát triển thành đoàn thể cách đây 8000 năm. Họ là những người lập ra binh pháp Tôn Tử dùng để xâm chiếm các quốc gia khác ở phương Nam và Tây Trung Hoa.
Cách đây 500 ngàn năm, có sự xuất hiện loài người Homo neanderthalensis (hầu hết tiến hóa ở Âu Châu) chứ không phải người hiện đại (Homo sapien). Người Neanderthal bị diệt chũng cách đây 30 ngàn năm.
Người ta đã đào sới được một loài người Homo erectus ở tỉnh Sơn Tây, Trung Hoa, đã tiến hóa đến giữa người Homo erectus và Homo sapien. Những người theo thuyết đa nguyên về con người cho rằng: con người hiện đại xuất hiện từ nhiều trung tâm trên trái đất. DNA đã chứng minh là xác người ở Sơn Tây, Trung Hoa là loài người Homo erectus chứ không liên quan đến người hiện đại. Mitochondria DNA đã chứng minh loài người trên toàn thế giới hiện nay đến từ đông Phi Châu. Đây là nơi người ta tin rằng có sự đột biến của nhân di truyền FOXP2 về sự xuất hiện ngôn ngử.
Văn minh lúa nước có lẻ xuất phát từ Đông Nam Á nhưng khảo cổ đào sới cho thấy mẩu khảo cổ về lúa nước lâu đời nhất lại ở phía đông phía nam sông Dương Tử Giang
3.     David Nguyen says:
Cám ơn ông Hà Văn Thùy đã viết lại ngắn gọn lịch sử của người Lạc Việt và người Hán. Có một điều viết sử chúng ta phải có những di tích lịch sử và khảo cổ để chứng minh. Không có những điều này thì nó trở thành dã sử. Theo di tích lịch sử ở miền Bắc có những nơi khảo cổ cho thấy những mộ chôn người với xương nhỏ thấp nhưng rắn chắc và người ta cho rằng có thể là nước da đen (Qùynh Văn/Nghệ An). Đúng như ông đã nói đây là người indonesien đã dùng thuyền cập vào miền duyên hải bắc VN và phía nam sông Dương Tử Giang. Ở Hòa Bình, các nhà khảo cổ cho thấy những bộ xương trong những ngôi mộ có hình dáng cao nhưng không to xương lắm. Đó là những người Ou từ phía tây (Vân Nam) bị dân tộc phía bắc xâm chiếm và họ đã di dân về phía Hòa Bình (nền văn minh Hòa Bình) và Bắc Sơn. Người Ou và người Indonesien+người Nam Đại Chũng Á hợp chủng tạo thành người Lạc Việt (có thể là những người Bách Việt). Họ mắt to và dáng xinh đẹp hơn người Hán. Truyền kỳ Lạc Long Quân (Đại Chũng Á Nam+Indonesien) và Âu Cơ (người Ou) có lẻ từ những hợp giống này.
Người Hán là kết hợp của người Nam Đại Chũng Á+Indonesien, họ đi lên phía bắc và hợp với người Bắc Đại Chũng Á (không nhất thiết là Mông Cổ thôi vì họ có da trắng và tóc vàng). Họ trở nên hung dữ và ưa gây chiến tranh hơn. Đến khi nhà Hán được thành lập và được gọi là người Hán. Người Hán đã xâm lăng người Lạc Việt cách đây 3000 năm và 2000 năm. Sự lai giống giữa người Lạc Việt và người Hán có thể xãy ra nhưng tới mức độ nào thì chưa ai biết rỏ.
Những thử nghiệm về DNA đã chỉ đường đi của những nòi giống khi xưa. Hơn nửa, tiếng Việt bắt nguồn từ nhóm Mon-Khmer thuộc Autroasiatic cũng đã chứng minh phần nào nguồn gốc người Lạc Việt từ phía Nam chứ không phải từ nhóm Tai-Kadai hay nhóm Autronesien (Indonesien/Cổ Mã Lai)
Người Trung Hoa (Hán) cố tình cho là người Bách Việt (và Lạc Việt) là cùng nguồn gốc để xâm lăng. Họ vốn dỉ là dân tộc hiếu chiến lây cướp dựt làm nền tảng cho sự lập quốc chứ không có nền văn minh lúa nước như những người ở Đông Nam Á và người Bách Việt. Nhờ vào sự phát minh này, những người ĐNA và Bách Việt sống sung túc hơn vào thời xưa và không có thói cướp dựt như Đại Hán nhà ta.



Phần nhận xét hiển thị trên trang

QUẢ BÁO

Thời nhà Trần, vào lúc thiên hạ thịnh trị, ở trấn Sơn Nam Hạ có 2 người cùng tuổi, cùng làng học rất giỏi. Một người họ Nguyễn, 1 người họ Phạm. Cả 2 cùng thi đỗ tiến sĩ. Họ Phạm sau đó được bổ làm quan, chuyên coi về việc học ở vùng Sơn Nam Thượng. Ngược lại, họ Nguyễn lại đi theo bọn thảo khấu, sau làm đến tướng cướp, trấn giữ 1 quả núi, chuyên giết hại người qua lại để cướp tài vật. Có người đem việc đó hỏi đức Tuệ Trung Thượng sĩ, 1 bậc tu hành đắc đạo lúc bấy giờ:
"Hai người đó cùng tuổi, cùng làng, lại cùng theo học chữ thánh hiền, tại sao nhân quả lại khác nhau làm vậy?"
Thượng sĩ trả lời:
"Tại cái "nhân" (nghiệp) đời trước khác nhau. Tên họ Nguyễn kiếp trước là loài lang sói, tới kiếp này tuy được thân người, song nghiệp sát chưa hết, nên khuất thân làm tướng cướp. Tên họ Phạm kiếp trước tuy là con lợn, song chuồng ở cạnh một ngôi chùa, hàng ngày được nghe kinh mà kiếp này có được thân người..."
Họ Nguyễn về sau bị triều đình điều quân đánh dẹp nên bị bắt sống. Họ Phạm thì vì tội nịnh hót, chỉ lo bày mưu cho quan lại địa phương xây cất rõ nhiều đình miếu, tượng đài... mà không thiết gì đến việc học hành của dân, để đến nỗi trẻ con cả vùng Sơn Nam Thượng không có trường lớp cho ra hồn mà học nên bị bãi chức, bắt đem về kinh chịu tội. Cả 2 đều bị tru di. Người kia lại đến hỏi Thượng sĩ:
"Quả báo kiếp sau của 2 kẻ đó thế nào?"
Thượng sĩ bảo:
"Tên họ Nguyễn phải làm súc sinh một trăm kiếp, bắt đầu từ loài giun sán trở đi... hết 100 loài thì được trở lại kiếp người. Tên họ Phạm thì đọa ngục A Tỳ, vô lượng kiếp không biết khi nào mới thoát ra nổi..."
Người kia lại hỏi:
"Tên họ Nguyễn giết bao nhiêu mạng người, tại sao quả báo xem ra lại nhẹ hơn tên họ Phạm kia không giết một người nào là cớ làm sao?"
Thượng sĩ trả lời:
"Giết người dẫu bao nhiêu mạng cũng còn đếm được. Chứ hại đến cái sự học thì không thể nào mà đong đếm cho được. Bởi chỉ cần làm cho 1 người thất học kiếp này, điều đó cũng khiến cho người ấy phải trầm luân trong vô lượng kiếp mà không biết tới khi nào mới được giải thoát... Hại 1 người còn như thế, huống hồ tên họ Phạm kia hại cả 1 trấn?"
Liên hệ đến sự học của những người làm giáo dục ngày nay, thấy rùng mình, nếu nhân quả là có thật!
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2015

Hà Nội ngập sâu, ùn tắc khắp nơi sau mưa lớn Cập nhật


 - Trận mưa kéo dài từ rạng sáng 8/9 đến giờ cao điểm khiến nhiều tuyến phố ở thủ đô Hà Nội lại rơi vào cảnh ngập úng và ùn tắc nghiêm trọng.
Từ lúc 5h30 đến 7h sáng nay Hà Nội xảy ra mưa. Theo Cty TNHH MTV thoát nước Hà Nội, tổng lượng mưa tại Vân Hồ là 24mm; Xuân Đỉnh 61,7mm; Cầu Giấy 44,4mm; Nam Từ Liêm 46mm; Hồ Tây 60,5mm; Trúc Bạch 64mm; Hoàn Kiếm 22mm...
đường Hà Nội, ngập sâu, ùn tắc nghiêm trọng, mưa lớn
đường Hà Nội, ngập sâu, ùn tắc nghiêm trọng, mưa lớn
đường Hà Nội, ngập sâu, ùn tắc nghiêm trọng, mưa lớn
Mưa lớn gây ngập úng và tắc đường trên phố Đội Cấn - Giang Văn Minh. (Ảnh: Phạm Hải)
Với lượng mưa lớn, dồn dập (40mm/30phút), tại Đội Cấn, Liễu Giai, Cao Bá Quát, Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt (trước ĐH Điện lực), Phan Văn Trường, Trần Quốc Hoàn, Quan Nhân, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Sơn, Ngọc Lâm…xảy ra úng ngập với mức độ 0,1 – 0,2m.
Từ sáng sớm, trên đường Đội Cấn nhiều phương tiện đã phải "ngập ngừng" trước đoạn đường ngập úng kéo dài khoảng vài trăm mét. Công nhân thoát nước cũng phải đứng ra điều khiển giao thông. 
Hàng chục phương tiện đành "liều mình" vượt nước ngập trước sự chỉ dẫn của nhân viên cty thoát nước: "Đi chậm, ga đều".
đường Hà Nội, ngập sâu, ùn tắc nghiêm trọng, mưa lớn
đường Hà Nội, ngập sâu, ùn tắc nghiêm trọng, mưa lớn
Vất vả đến trường. Ảnh: Lê Anh Dũng
đường Hà Nội, ngập sâu, ùn tắc nghiêm trọng, mưa lớn
(Ảnh: Phạm Hải)
Tại đường Vạn Bảo, hàng trăm phương tiện cũng "chôn chân" tại chỗ khi tình trạng ùn tắc kéo dài. Đường 2 chiều đã thành 1 chiều khi các phương tiện dồn lên tranh nhau vượt. Các phương tiện ở chiều ngược lại không còn lối thoát để đi nên ùn tắc càng nghiêm trọng.
"Mẹ con tôi xuất phát từ 7h sáng đến giờ (8h) vẫn chưa qua nổi mấy km đường từ nhà đến trường học của con", chị Hồ Lê ở Văn Cao, Ba Đình cho biết.
Những hình ảnh ghi nhận tình trạng ùn tắc, úng ngập trên phố Hà Nội:
đường Hà Nội, ngập sâu, ùn tắc nghiêm trọng, mưa lớn
đường Hà Nội, ngập sâu, ùn tắc nghiêm trọng, mưa lớn
Khu vực Nguyễn Chí Thanh- Kim Mã - Vạn Bảo kẹt cứng các phương tiện. (Ảnh: Phạm Hải)
đường Hà Nội, ngập sâu, ùn tắc nghiêm trọng, mưa lớn
đường Hà Nội, ngập sâu, ùn tắc nghiêm trọng, mưa lớn
đường Hà Nội, ngập sâu, ùn tắc nghiêm trọng, mưa lớn
Tình trạng giao thông rối loạn trước cổng trường học, khu vực phố Lê Đại Hành sáng 8/9. (Ảnh: Phạm Hải)
đường Hà Nội, ngập sâu, ùn tắc nghiêm trọng, mưa lớn
Nhân viên cty Thoát nước đã phải đứng ra điều tiết giao thông trên phố Đội Cấn. Ảnh: N.trang

đường Hà Nội, ngập sâu, ùn tắc nghiêm trọng, mưa lớn
Ảnh: Lê Anh Dũng

Phần nhận xét hiển thị trên trang