Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2015

Sách mới của Lưu Hiểu Ba: Lời cảnh báo về Trung Quốc!


Didi Kirsten Tatlow
Nguồn: Harvard University Press
Bắc Kinh — Mấy năm qua, chiếc ghế màu xanh để trống của Lưu Hiểu Ba tại lễ trao Giải Nobel Hòa Bình ở Oslo hồi tháng 12/2010 gần như là vật duy nhất nhân danh khôi nguyên bị cầm tù này trò chuyện với thế giới.
Nay sắp có cuốn sách mới lấp đầy khoảng không im lặng đó.
No Enemies, No Hatred” (Không thù, không oán) sắp được Harvard University Press xuất bản vào tháng 1/2012, là tuyển tập bằng tiếng Anh đầu tiên tập hợp các tác phẩm của Lưu Hiểu Ba, cựu giáo sư đại học bị kết án 11 năm tù từ tháng 12/2009 vì tội “xúi giục lật đổ nhà nước”.
Sách gồm hơn hai chục bài tiểu luận và 15 bài thơ viết từ năm 1989 đến 2009 và một tuyển tập tài liệu mô tả con đường Lưu Hiểu Ba đi qua các tòa án và bước vào tù. Trả lời phỏng vấn qua điện thoại, Perry Link, một trong ba chủ biên, nhận xét rằng cuốn sách này là “một trong những phân tích ấn tượng nhất về Trung Quốc ngày nay”, đồng thời là một lời cảnh báo quan trọng đối với những ai hy vọng rằng quốc gia giàu tiền lắm bạc này có thể “cứu” nền kinh tế thế giới. 
Ông Link, một học giả hàng đầu về văn học Trung Quốc hiện đại tại Đại học California, Riverside, nói: “Hình ảnh của Trung Quốc ở phương Tây chỉ là hời hợt nếu so với khắc họa của Lưu Hiểu Ba”.
Ông nói: “Ông thấy rõ những vấn đề, chuyện tham nhũng, và thói đàn áp lưu manh. Đó là cái đất nước Trung Quốc do Đảng Cộng Sản kiểm soát, có lắm tiền và có thể cố gắng cứu đồng euro, và muốn tiếp quản Biển Đông, rồi đến điều ông thực sự bàn đến là dân thường và những vấn đề thường ngày ở đáy xã hội”.
“Ông quả là quan tâm đến rất nhiều mảng đề tài. Và ông lý giải từ những nguyên tắc căn bản nhân văn theo cách tôi thấy rất đáng ngưỡng mộ. Có những nhân vật bất đồng chính kiến khác tôi ngưỡng mộ từng vào tù ra tội, như Ngụy Kinh Sinh, Từ Văn Lập, và Vương Đan, nhưng không có ai trong số những nhà trí thức đó gây ấn tượng mạnh như Lưu Hiểu Ba.”
Lời nói cuối cùng của Lưu Hiểu Ba trước tòa vào tháng 12/2009* được dùng làm tựa đề cuốn sách này; hiện ông đang thụ án ở nhà tù Cẩm Châu thuộc tỉnh Liêu Ninh ở miền đông bắc. Vợ ông, Lưu Hà, là người tuyển chọn thơ, đang bị quản thúc tại gia ở Bắc Kinh. Ông Link đã bị cấm vào Trung Quốc trong gần 17 năm qua, còn Liệu Điền Thất (Tienchi Martin-Liao), chủ tịch Độc Lập Trung Văn Bút Hội, người tuyển chọn tiểu luận, đã không được nhập cảnh hồi đầu năm nay. Những trường hợp cấm đoán này có thể minh họa một chủ thuyết chính trong những tác phẩm của Lưu Hiểu Ba: Trung Quốc ngày nay mang tính “hậu chuyên chế”, nhưng vẫn là chế độ độc tài. Ông viết rằng chế độ này cấp thiết cần phải cải cách.
Phát biểu như vậy đã đưa Lưu Hiểu Ba vào tù bốn lần kể từ những cuộc phản kháng đòi dân chủ bị đàn áp năm 1989 mà ông nổi bật trong số những người tham gia và sự kiện đó được ông gọi là “bước ngoặt” trong đời ông.
Lần đi tù gần đây nhất của ông là do bị buộc tội đăng tải trên Internet những tiểu luận mà các quan tòa xử ông cho rằng thể hiện “ác tâm chủ quan thâm hiểm” đối với “chế độ chuyên chính dân chủ nhân dân”, và tội góp phần soạn thảo Hiến Chương 08, lời kêu gọi tự do chính trị mô phỏng theo Hiến Chương 77 của Tiệp Khắc (Václav Havel, đồng tác giả của Hiến Chương 77, viết lời tựa cho cuốn sách mới này của Lưu Hiểu Ba.)
Lưu Hiểu Ba viết khỏe đến phi thường — 17 cuốn sách, bao gồm những tuyển tập bài báo và thơ, và hàng trăm tiểu luận — và ban chủ biên cho biết chọn lựa tác phẩm không phải dễ dàng. Tuy nhiên, những áng văn của ông rất tự nhiên xếp thành bốn chủ đề chính.
Phần “Hiếu chiến và Du côn” là một phân tích khiến độc giả não lòng về những căn nguyên thiên triều và Mao-ít của chủ nghĩa dân tộc cực đoan ngày nay, xuất phát từ “tính kiêu căng và thói vị kỷ cố hữu” của Trung Quốc, mà khi đối mặt với tính ưu việt về kỹ thuật của phương Tây lại mắc kẹt “trong vòng luẩn quẩn giữa tự ti và tự tôn”.
Trong phần “Bối cảnh Tinh thần của Trung Quốc Hậu Chuyên chế”, ông khảo sát “hố sâu ngăn cách vời vợi” về các giá trị, trong đó người ta phút trước nguyền rủa Mỹ, phút sau phấn khởi nhảy lên máy bay sang Mỹ du học. Ông nói, trong Thời đại Hoài nghi này, người ta có “tính cách hai mang”, ở nhà khinh bỉ nhà nước, ra đường ca ngợi chế độ, mưu cầu lợi ích vật chất. “Cả hai thái độ hành xử này đã ăn sâu thành nếp.” Ông lên án đảng, nhưng cũng đổ lỗi cho “tính tiểu nhân hẹp hòi” của Khổng giáo.
Trong phần “Chó hoang ngày xưa thành chó giữ nhà ngày nay”, ông chỉ trích giới trí thức Trung Quốc vì họ không suy nghĩ độc lập.
Ông viết: “Khi Hán Vũ Đế (156-87 trước CN) công bố phán quyết ‘chỉ tôn kính Khổng giáo’ chính là lúc giới trí thức Trung Quốc bước vào địa ngục trần gian, vì bấy giờ họ chẳng khác nào đầy tớ cho quyền lực.”
“Đã tổn thất đến dường nào cho người Trung Quốc vì nhà tư tưởng cá biệt này — Khổng Tử, một người rất quỷ quyệt, rất uyển chuyển, rất vị lợi, rất lõi đời, né tránh trách nhiệm [phục vụ] công chúng và không đồng cảm với người chịu đau khổ — trở thành hiền nhân và tấm gương mẫu mực của họ trong hai ngàn năm?”
Trong phần “Đằng sau ‘Phép lạ Trung Quốc'”, Lưu Hiểu Ba nhìn thấy “‘phép lạ’ của tham nhũng có hệ thống, ‘phép lạ’ của một xã hội bất công, ‘phép lạ’ của suy đồi đạo đức, và ‘phép lạ’ của một tương lai bị phung phí.”
Từ năm 1989, ông viết, cuộc mưu cầu tiền bạc trong một môi trường bất chính đã tạo ra “một thiên đường của bọn quý tộc cướp cạn”.
“Chỉ bằng tiền Đảng mới có thể duy trì quyền kiểm soát các thành phố lớn của Trung Quốc, thâu nạp giới chóp bu, thỏa mãn động cơ của nhiều người muốn làm giàu nhanh và đập tan sự kháng cự của bất cứ nhóm đối lập nào mới ra đời. Chỉ bằng tiền Đảng mới có thể mặc cả với các cường quốc phương Tây; chỉ bằng tiền Đảng mới có thể mua đứt những nhà nước lừa đảo và mua lấy ủng hộ ngoại giao.”
Tuy nhiên, Lưu Hiểu Ba tìm thấy hy vọng trên mạng Internet. Năm 1999, về nhà sau ba năm cải tạo trong một trại lao động, ông thấy vợ mình đã lắp một máy vi tính có nối mạng. Điều đó đã thay đổi đời ông.
“Internet như một cỗ máy kỳ diệu,” ông viết. “Bây giờ tôi thậm chí sống được bằng tác phẩm của mình.”
Lưu Hiểu Ba “có thói quen viết không sợ sệt”; ông Link nhận xét như vậy trong lời giới thiệu. Thời gian ở trại cải tạo đã khiến ông trở nên “phi cải tạo”.
Tuy nhiên điều đó vẫn không làm khuây khỏa cảm giác tội lỗi của ông vì đã sống sót sau vụ thảm sát 1989 trong khi hàng trăm, có thể hàng ngàn người đã chết trong đợt đàn áp của quân đội. Nổi bật là một dòng thơ ông viết về Tưởng Tiệp Liên, 17 tuổi, con một của Đinh Tử Lâm, nữ giáo sư triết học đã thành lập Những Bà Mẹ Thiên An Môn, tổ chức dành cho thân nhân của những người bị sát hại.
Trong bài “Mười bảy tuổi đời của em”, ông viết, giây phút đó, “mọi bông hoa đều hóa thành một màu duy nhất”.
Ông lấy đâu ra sức mạnh để phát biểu thẳng thắn bất chấp bị áp bức nặng nề? Ông viết:
Tưởng nhớ họ, những người vô tội đã khuất,
Tôi đành phải rút dao, bình thản
Đâm vào mắt mình
Phải lấy mù lòa
Để mua khối óc sáng ngời 
Vì ký ức đau như xẻ thịt lóc xương đó
Chi bằng ta khước từ
Như chưa hề thấy.
* Tại lễ trao giải ở Oslo, nữ diễn viên Liv Ullman đọc bài phát biểu dài mà Lưu Hiểu Ba đã soạn cho phiên tòa năm 2009, trích: “Tôi vẫn giữ những niềm tin tôi đã bày tỏ trong ‘Tuyên ngôn Tuyệt thực ngày 2 tháng 6’ cách đây hai mươi năm – tôi không có kẻ thù và không oán hận ai. Không ai trong những công an đã theo dõi, bắt, và hỏi cung tôi, không ai trong những công tố viên đã buộc tội tôi, và không ai trong những quan tòa đã xét xử tôi là kẻ thù của tôi cả.”(Theo lời giới thiệu sách trên trang Harvard University Press, N.D.)
Bản tiếng Anh: In New Book From Dissident, a Warning on ChinaThe New York Times, 30/11/2011

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Củ cải đêk thèm nghe..


BÁO CHÍ HẠ TẦNG SAO CÓ THỂ KIẾN TẠO QUỐC GIA VĂN MINH ?

Báo chí chính thức được ví như Quyền lực thứ tư sau các quyền Lập pháp, Hành pháp, và Tư pháp. Nhưng ba thứ quyền lực kia có độc lập tương đối, còn báo chí là thứ vừa xuyên suốt vừa ôm đồm bao sân cả ba quyền lực kia, thậm chí tuy nó được xếp thứ tư, nhưng lúc nào cũng sẵn sàng trở thành không phải cái đầu tiên mà còn là cái tiên thiên cho cả ba quyền lực trên cũng như mọi hoạt động của xã hội. Tại sao?
Vì báo chí là chữ nghĩa! Mà chữ nghĩa cũng là tư tưởng! Tư tưởng là gì? Tất nhiên đó là bộ não để vận trình toàn bộ hành động của con người. Triết gia Platon nói một câu mang nguyên lý cao cả phổ quát bậc nhất: Khi một người suy tư, anh ta vừa đặt câu hỏi vừa trả lời, cứ thế tiếp diễn cho đến khi sự việc được giải đáp hoàn toàn. Vì thế không có tư duy xuông, mà người ta buộc phải tư duy bằng ngôn ngữ. Chẳng hạn một nhà vật lý như Newton sẽ tư duy bằng ngôn ngữ rằng “có lực hút của trái đất không nhỉ?” nhà chính trị thì tư duy “làm sao để có chính quyền” hoặc “làm sao để leo ghế”, còn một chàng si tình thì tư duy “liệu cô ấy có nghĩ đến mình không? Mình làm sao để tiếp cận cô ấy?” hay nhà du hành vũ trụ muốn lên mặt trăng thì cũng phải bắt đầu từ câu hỏi “ta sẽ lên mặt trăng bằng cách nào?”
Trí thức nhân loại phổ quát cũng đã tuyên bố rằng: “Ngôn ngữ là tư duy” và “Tư duy bằng ngôn ngữ”. Phật Pháp cho rằng: người có ác tâm thì chưa sao, nhưng ác khẩu thì bị tính là tội rồi vì nó có thể không hành động nhưng lại kích động người khác hành động, còn ác hành hiển nhiên phải chịu tội. Người Việt cũng nói “lời nói đọi máu” – tức là lời nói có ý nghĩa sinh tử như chính cuộc đời. Và cũng còn có câu “trăm năm bia đá thì mòn/ nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Người Trung Quốc thường nói câu “ngậm máu phun người”, tức là việc đổ oan cho ai, chẳng khác gì tưới máu lên người ta, để chính người ta bị hóa máu luôn. Trời ơi làm sao có danh dự để sống nếu bị ai đó vu oan giá họa?
Như vậy từ triết gia Platon được xem như triết gia tổ sư hàng đầu thế giới đến dân tộc cũng như nhân loại, đều xác định “Ngôn ngữ là thành tố quan trọng có liên đới mật thiết với chính cuộc đời của nhân loại”. Đó là ngôn ngữ của lịch sử, được ra đời sau con người một chút. Nhưng theo văn hào Victor Hugo thì: sự nhảy vọt của chữ nghĩa có tính xoay vần cả nhân loại chính là sự ra đời của máy in. Ở đó thông tin được lan chuyền theo tốc độ rập bản của máy in, được truyền đến tay người đọc, ngôn ngữ không còn là rỉ tai nữa mà là có nguồn gốc xuất xứ đàng hoàng, ai viết, viết về cái gì, và viết ở đâu, mỗi thông tin như được đóng đinh vào não trạng của mọi người tạo ra tin tưởng lớn. Và báo chí là thành phẩm trực tiếp nhất của máy in, khi người ta ra cả báo sáng, báo trưa, báo buổi chiều, và thông tin giờ chót. Như vậy có thể nói, mọi cuộc cách mạng hiện đại không cách gì đứng ngoài sức mạnh của báo chí. Dễ hiểu hơn chúng ta hãy nghe một nhà văn Nga nói, một nhà thơ Nga được đăng một bài thơ trên tờ Sputnik với số lượng vài chục triệu ấn bản, rồi người ta chuyền tay nhau đọc, trong khoảng vài ngày nhà thơ này đã nổi tiếng.
Nhưng báo chí là gì cơ chứ? Là gì ư, là tất cả những gì chúng ta vừa diễn giải. Nhưng nên lưu ý điều này: Báo chí là ngôn ngữ và thuộc về tư tưởng cũng như bộ não. Vì thế tính thiết yếu của báo chí là nhắm tới kiến trúc thượng tầng. Các chuyên gia nước ngoài đến Việt Nam có nói: “Muốn hiểu sinh hoạt trí tuệ, chính trị, kinh tế hay văn hóa của một quốc gia, thì người ta tìm ngay tờ báo của thủ đô hay thành phố lớn. Đọc sẽ biết ngay giới tinh hoa ở đó đang nghĩ gì, ưu tư cái gì, và làm được những gì? Nhưng kìa mở tờ báo của thủ đô các bạn ra, toàn thấy trồng rau muống, nuôi cá trê phi, hay mất vài nắp cống. Mà không hề thấy có bất kỳ sinh hoạt tư tưởng nào”. Sinh hoạt tư tưởng ư? Cấp trên ở trên pháp luật bao cấp hết mọi tinh hoa đỉnh cao trí tuệ phủ trùm xuống cho cấp dưới và dân chúng thực hiện rồi còn gì để bàn nữa
(còn nữa)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hơn bốn ngàn chiến binh của tổ chức khủng bố “Nhà nước Hồi giáo” tự xưng (IS) đã thâm nhập châu Âu (EU) dưới vỏ bọc của những dòng người tị nạn.

TPO - 
IS đã thâm nhập thành công châu Âu? Ảnh: ReutersIS đã thâm nhập thành công châu Âu? Ảnh: Reuters
Hãng Lenta ngày 7/9 dẫn tờ Sunday Express, cho biết, các chiến binh IS đã thực hiện các cuộc thâm nhập châu Âu thành công.
Theo đó, chiến binh IS đã trà trộn vào dòng người tị nạn đến thành phố cảng Mersin và Izmir của Thổ Nhĩ Kỳ và từ vượt biển Địa Trung Hải để đến Italia. Sau đó, các thành viên IS sẽ tỏa ra các quốc gia châu Âu khác, đặc biệt là Đức và Thụy Điển.
Tờ Sunday Express bí mật tiếp cận hai kẻ buôn lậu người Trung Đông cho biết, một trong hai người đã giúp ít nhất mười tên khủng bố vào châu Âu. 
“Một số người nói rằng họ muốn đến thăm gia đình của họ. Một số người khác cho thấy họ sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ khác nhau”, một kẻ buôn lậu nói.
Các chuyên gia phân tích nhận định, việc IS thâm nhập lãnh thổ châu Âu là sự khởi đầu cho các hoạt động trả đũa những cuộc không kích mà Mỹ và các đồng minh quân sự châu Âu nhằm vào IS ở Trung Đông.
“Chúng tôi muốn thiết lập các mạng lưới không chỉ ở Syria, mà toàn bộ thế giới”, một chiến binh IS trà trộn vào dòng người tị nạn tuyên bố. Tuy nhiên, mục tiêu mà IS nhắm tới không phải là công dân mà sẽ tập trung vào các chính quyền phương Tây. 
Theo Lenta

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ông Vũ Quốc Hùng: “Phải dẹp bỏ tư tưởng con quan rồi lại làm quan”

GDVN: Hướng tới đóng góp xây dựng cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12, Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam đã có cuộc trao đổi với ông Vũ Quốc Hùng – nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương về vấn đề lựa chọn, đào tạo và sử dụng cán bộ trong Đảng. Theo ông Hùng, đối với bất kỳ vị trí nào cũng cần có sự giám sát chặt chẽ để cán bộ không thể và không dám lợi dụng chức vụ.
Theo quan điểm của ông, tại Đại hội lần thứ 12 tới đây, Đảng cần làm gì để chọn được những cán bộ có đủ năng lực phẩm chất lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước?
Ông Vũ Quốc Hùng: Theo tôi, Trung ương gương mẫu, quyết tâm thì mọi việc sẽ trôi chảy. Ra nghị quyết, ra quyết định thì phải làm cho ra kết quả đúng với định hướng, chứ ra định hướng cho có rồi làm không thành kết quả thì niềm tin ngày càng giảm sút.
Nhân nói tới lòng tin, gần đây nhiều người nói rằng dân mất lòng tin vào Đảng, nhưng theo tôi thì nói như vậy không đúng. Lòng tin trong nhân dân chưa mất mà chỉ bị suy giảm thôi.
Để niềm tin của nhân dân không tiếp tục suy giảm thì có rất nhiều việc phải triển khai làm cho thật tốt, theo tôi thì có ba vấn đề lớn rất cần chú ý:
Thứ nhất, phải siết chặt khâu tuyển chọn cán bộ, nhất là cán bộ cấp cao. Nếu các đồng chí ở trên không đủ tài đức, thì không thể chỉ đạo được cấp dưới, không làm cho cấp dưới nể phục mà làm theo. Nếu cấp dưới không nể phục thực sự, họ chỉ làm theo mệnh lệnh hành chính, làm một cách đối phó thì dân vẫn khổ.
Thứ hai, dứt khoát phải giải quyết được nạn tham nhũng. Bất kỳ quốc gia nào cũng phải đối diện với tham nhũng trong quá trình phát triển, chỉ khác nhau là cách ứng xử thế nào để đạt được hiệu quả tốt nhất, nhanh nhất.
Những năm gần đây, chúng ta chứng kiến quá nhiều những vụ việc sai phạm lớn gây thất thoát cho nhà nước hàng nghìn tỷ đồng – suy cho cùng đó cũng là tiền mồ hôi nước mắt của dân đấy chứ, cho nên phải chắt chiu từng đồng, từng hào.
Nhiều người lo ngại, không chỉ có tham nhũng lớn mà tham nhũng vặt cũng tràn lan khắp nơi, gây bức xúc trong nhân dân. Chuyện này sẽ chẳng bao giờ giải quyết hết được, nếu cấp trên không nghiêm túc, đấy lại là một bài toán khó về nhân sự.
Vấn đề thứ ba là kinh tế dù có tiến bộ nhưng sức phát triển không tương xứng với tiềm năng của đất nước.
Đồng lương của cán bộ thấp dẫn tới chuyện họ lợi dụng vị trí để thu lời bất chính (dù nhiều người không muốn cũng vẫn phải làm).
Vấn đề này, chúng ta phải nhìn thẳng vào thực tế, chứ không thể duy ý chí, không thể để cán bộ khổ cực rồi hô khẩu hiệu.
Đồng lương thấp cũng khiến cho đời sống của người lao động gặp nhiều khó khăn, mà khi còn phải loay hoay với miếng cơm, manh áo thì thật khó để nói với họ những chuyện xa hơn.
Với những vấn đề tồn tại như trên, tôi mong Đại hội Đảng toàn quốc tới đây phải chọn được những người thực sự vì nước vì dân, không nghĩ đến cán nhân mình. Nhưng mà nước và dân cũng chẳng để cho họ thiệt đâu.
Tôi nghĩ rằng, làm cán bộ không nghèo, nhưng cũng không được hèn. Tôi nhớ, có lần một Đại biểu Quốc hội đã nói rằng, làm quan thì thời nào cũng có lộc, nhưng cái lộc ấy khác với chuyện ăn chặn của dân.
Ông Vũ Quốc Hùng: “Lịch sử luôn trung thực, không tha thứ cho bất kỳ ai”. ảnh: Ngọc Quang.
Như vậy vấn đề ông đặt ra suy cho cùng vẫn phải là đột phá trong công tác nhân sự. Đây là vấn đề được quan tâm và đặt ra ở nhiều kỳ Đại hội, nhưng vì sao chúng ta vẫn còn những cán bộ yếu kém năng lực phẩm chất đạo đức?
Ông Vũ Quốc Hùng: Tôi đặt niềm tin và gửi gắm niềm tin Đại hội Đảng 12 sẽ tạo ra một bước đột phá trong công tác nhân sự để đưa đất nước vượt lên nhanh hơn đúng với tiềm năng đang có.
Tôi cũng mong chúng ta sẽ soát xét lại nhiều việc, cho dù cương lĩnh chiến lược đã có, nhưng phải tổng kết thực tiễn một cách nghiêm khắc để có những bước đi mới .
Điều quan trọng là bầu được những đồng chí xứng đáng với dân. Bầu được những người như vậy thì dân mới được nhờ. Còn những người không xứng đáng, cho dù có được bầu lên bằng cách này hay cách khác thì trước sau gì cũng phải gánh nghiệp chướng, sẽ không sung sướng gì, vì lịch sử luôn trung thực, không tha thứ cho bất kỳ ai.

Nỗi oan “phá sản” cuộc đời và lẽ sống của người cán bộ

Vì vậy, tôi nghĩ rằng các đồng chí nào mà tham vọng danh lợi, tiền bạc, quyền lực… thì cũng nên tĩnh tâm nhìn lại toàn cục. Không nên tạo ra một cuộc đua tranh làm cho nội bộ rối ren. Đừng làm ra những việc xấu, hãm hại người khác để rồi sau này hối hận không kịp.
Quyền lợi, danh vọng chỉ là những thứ nhất thời, còn lịch sử muôn đời mới là vững bền. Liều mạng lao vào tranh giành, làm đủ mọi việc sai trái, khi đã tạo ra những vết nhơ thì có bao giờ gột rửa được?
Ông cha ta nói rằng “Con hơn cha là nhà có phúc”. Nhưng liệu rằng trước quá nhiều việc làm sai trái của bố mẹ chúng thì rồi liệu chúng có nên người không? Tôi e rằng những cái nhà rắp tâm làm việc sai trái, hại cả người khác thì trước sau gì cũng vô phúc.
Bây giờ nhiều người đã hiểu sai cả câu nói “Hy sinh đời bố củng cố đời con”. Câu nói ấy khi hiểu đúng nghĩa thì rất tốt đẹp, còn hy sinh theo kiểu lao vào những việc sai trái để có đặc quyền, đặc lợi, rồi thì tù tội, rồi thì bị phế truất phải chịu điều tiếng nhưng để cho con cái được sung sướng thì có nghĩa lý gì.
Thưa ông, đã có những Đại biểu Quốc hội bày tỏ lo lắng công tác cán bộ thì có thứ tự “nhất hậu duệ, nhì quan hệ, ba tiền tệ, bốn trí tuệ”. Cũng có Đại biểu Quốc hội chỉ ra rằng, việc xử lý cán bộ nhiều lúc còn “trên nhẹ, dưới nặng”. Những yếu tố này gây ảnh hưởng thế nào tới công tác xây dựng Đảng, thưa ông?
Ông Vũ Quốc Hùng: Tôi băn khoăn ở hai vấn đề: Thứ nhất là tính tự giác ở nhiều cơ sở chưa cao, làm chỉ có hình thức còn thực chất thì không có. Thứ hai là chuyện mất đoàn kết nội bộ và chạy chức chạy quyền mà dư luận xã hội đã nói rất nhiều năm gần đây.
Tôi nhớ là trong tổng kết việc thực hiện phê bình và tự phê bình theo Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) của các cấp ủy, tổ chức Đảng từ năm 2000 đã chỉ rõ quyết tâm chỉnh đốn một bước những tư tưởng lệch lạc, những hành vi không cho phép trong đạo đức, lối sống của một số cán bộ Đảng viên.
Việc kết hợp xử lý cán bộ vi phạm Điều lệ Đảng, vi phạm pháp luật đã nhận được sự đồng tình ủng hộ của tập thể cán bộ, Đảng viên và nhân dân. Chỉ trong 1 năm, Trung ương, Bộ Chính trị, Thường vụ Bộ Chính trị đã thi hành kỷ luật 39 người (trong đó khai trừ 3 người).
Ở địa phương, cán bộ thuộc diện cấp tỉnh, thành ủy quản lý cũng đã có hàng trăm người bị xử lý kỷ luật, trong đó nhiều người bị khai trừ khỏi đảng, bị cách chức. Còn ở cấp huyện, số cán bộ bị khai trừ và bị cách chức thì đã lên tới vài trăm người.
Việc xử lý cán bộ lãnh đạo Đảng viên, các tổ chức Đảng phải đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng, thấu tình đạt lý. Phải dứt khoát không còn xảy ra chuyện trên nhẹ, dưới nặng, khiến dư luận nhân dân không đồng tình.
Việc quán triệt nêu cao tinh thần nhận thức, trách nhiệm với công tác xây dựng Đảng có ý nghĩa then chốt trong quá trình đổi mới xây dựng đất nước.
Trong đó không chỉ chú trọng tới vai trò của Đảng viên đang giữ cương vị lãnh đạo mà còn phải rất chú ý tới các Đảng viên trẻ mới được kết nạp, cần phải khơi gợi trong họ tinh thần của người chiến sĩ cộng sản, giữ vững được ý chí của một người Đảng viên làm việc gì cũng phải nghĩ tới lợi ích của dân.
Thời kỳ tôi còn công tác, qua các cuộc thanh tra, kiểm tra đã có nhiều biểu hiện suy thoái phẩm chất, đạo đức, số thực dụng, cá nhân vị kỷ, cục bộ địa phương, quan liêu, lãng phí, tham nhũng, chạy chức chạy quyền, chạy cả học vị…
Rồi có cả chuyện cán bộ vì kèn cựa, tranh giành địa vị nên đã làm rối nội bộ, dẫn tới mất đoàn kết. Khi đi sâu kiểm tra thì phát hiện nhiều lãnh đạo đã để cho người thân lợi dụng vị thế của mình để làm giàu, giàu nhanh bất thường.
Trong nhiều kỳ Đại hội đã qua, tôi thấy ấn tượng với Đại hội VI có khẩu hiệu “Nhìn thẳng vào sự thật” và tôi rất mong Đại hội Đảng 12 lần này cũng sẽ có được tinh thần quyết tâm như thế.
Chỉ khi chúng ta nhìn thẳng vào sự thật, không sợ nói ra những điểm hạn chế, tồn tại, yếu kém thì mới đi đến phương châm trong hành động đúng; mới đặt ra chính xác những vấn đề đổi mới cấp bách trong xây dựng chỉnh đốn Đảng.
Nói cho cùng, chúng ta vẫn phải trân trọng những người nông dân. Con em của họ đang canh gác ngoài đảo xa, nơi biên giới, nguy hiểm và gian khổ. Họ đã tin tưởng và đi theo Đảng từ trong kháng chiến gian khổ thì dứt khoát trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không thể làm mất đi niềm tin ấy.
Trân trọng cảm ơn ông!
———–
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc?


Sau hơn 1.000 năm bị bọn phong kiến người Hán thống trị và cưỡng bức đồng hóa, dân tộc Việt Nam vẫn không bị Hán hóa, vẫn giữ nguyên được nòi giống, tiếng nói và phong tục tập quán. Đây quả là một điều kỳ diệu có lẽ chưa dân tộc nào khác làm được. Đáng tiếc là chưa thấy nhiều người quan tâm nghiên cứu vấn đề này, một thành tựu vĩ đại đáng tự hào nhất của dân tộc ta (nói cho đúng là của tổ tiên ta thôi, còn chúng ta bây giờ thua xa các cụ).

Tiếng ta còn thì nước ta còn!
Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm: 1- Đồng hóa tự nhiên, tức quá trình dân tộc A trong giao tiếp với dân tộc B, do chịu ảnh hưởng lâu dài của B mà A tự nhiên dần dần mất bản sắc của mình, cuối cùng bị B đồng hóa; đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người. 2- Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc nhỏ yếu hơn chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của một dân tộc lớn mạnh hơn; đây là một tội ác.


Đồng hóa dân tộc chủ yếu diễn ra dưới hình thức đồng hóa văn hóa, trong đó chủ thể đồng hóa thường là một nền văn hóa mạnh và tiên tiến (như đông dân hơn, kinh tế phát triển hơn, đã có chữ viết, có các hệ tư tưởng), đối tượng đồng hóa thường là nền văn hóa yếu và lạc hậu hơn. Đồng hóa ngôn ngữ là công cụ đồng hóa văn hóa thông dụng nhất, quan trọng nhất, hiệu quả nhất. Một dân tộc bị mất tiếng nói mẹ đẻ của mình và phải nói tiếng của một dân tộc khác thì không còn giữ được bản sắc dân tộc nữa.

Trong lịch sử, các nền văn hóa yếu thường bị nền văn hóa mạnh đồng hóa. Thời cổ, Trung Quốc là quốc gia đông người nhất và có nền văn minh tiên tiến nhất châu Á. Nền văn hóa Hán ngữ của họ có sức đồng hóa rất mạnh. Dân tộc Hồi ở phía Tây nước này, ngày xưa dùng chữ A Rập, sau nhiều năm giao lưu với người Hán cũng toàn bộ dùng chữ Hán và nói tiếng Hán. Ngay cả các dân tộc nhỏ nhưng mạnh về quân sự, sau khi thôn tính và thống trị Trung Quốc được ít lâu cũng bị nền văn hóa Hán ngữ đồng hóa.

Thí dụ dân tộc Mãn sau khi chiếm Trung Quốc và lập triều đại nhà Thanh đã lập tức tiến hành đồng hóa dân tộc Hán: cưỡng bức đàn ông Hán phải cạo nửa đầu và để đuôi sam, phải bỏ chữ Hán mà chỉ dùng chữ Mãn làm chữ viết chính thức trên cả nước. Nhưng đến giữa đời Thanh, tức sau khoảng 100 năm thì tiếng Mãn cùng chữ Mãn đều biến mất, từ đó trở đi người Mãn chỉ dùng tiếng Hán và chữ Hán, nghĩa là họ lại bị đồng hóa ngược bởi chính nền văn hóa của dân tộc bị họ cai trị lâu tới 267 năm!

Các nước đế quốc thực dân sau khi chiếm thuộc địa đều cưỡng chế đồng hóa ngôn ngữ dân bản xứ, quá trình này diễn ra khá nhanh, nhìn chung sau 5-6 thế hệ (mỗi thế hệ 25 năm), tiếng nói của người bản xứ đã bị thay bằng ngôn ngữ của nước cai trị. Đầu thế kỷ XV, Brazil bị Bồ Đào Nha chiếm, chẳng bao lâu tiếng Bồ trở thành ngôn ngữ chính thức duy nhất của người Brazil. Nhiều thuộc địa Pháp ở châu Phi như Bénin, Togo, Sénegan… dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính duy nhất. Năm 1918 nước ta bắt đầu dạy tiếng Pháp ở lớp cuối tiểu học, 10-20 năm sau toàn bộ học sinh trung học cơ sở trở lên đến trường đã chỉ nói tiếng Pháp, giáo viên chỉ giảng dạy bằng tiếng Pháp. Nếu cứ thế dăm chục năm nữa thì có lẽ Việt Nam đã trở thành nước nói tiếng Pháp.

Thế nhưng sau hơn 1.000 năm bị bọn phong kiến người Hán thống trị và cưỡng bức đồng hóa, dân tộc Việt Nam vẫn không bị Hán hóa, vẫn giữ nguyên được nòi giống, tiếng nói và phong tục tập quán.

Đây quả là một điều kỳ diệu có lẽ chưa dân tộc nào khác làm được. Đáng tiếc là chưa thấy nhiều người quan tâm nghiên cứu vấn đề này, một thành tựu vĩ đại đáng tự hào nhất của dân tộc ta (nói cho đúng là của tổ tiên ta thôi, còn chúng ta bây giờ thua xa các cụ).

Vì sao tổ tiên ta có thể làm được kỳ tích ấy ? Có người nói đó là do dân ta giàu tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc, xã hội có cơ chế làng xã bền chặt, v.v… Nói như vậy có lẽ còn chung chung, nếu đi sâu phân tích tìm ra được nguyên nhân cụ thể thì sẽ giúp ích hơn cho việc phát huy các truyền thống quý báu của dân tộc ta. Thực tế cho thấy tổ tiên ta giành được thắng lợi chống đồng hóa không phải bằng đấu tranh vũ trang mà chủ yếu bằng tài trí.

Xin nói thêm rằng chính người Trung Quốc cũng rất quan tâm vấn đề này. Chúng tôi đã thử nêu lên mạng Bách Độ (Baidu) của họ câu hỏi “Vì sao Trung Quốc thống trị Việt Nam hơn 1.000 năm mà Việt Nam không bị đồng hóa?”

Từ hàng triệu kết quả, có thể thấy đa số dân mạng Trung Quốc đều có chung một thắc mắc lớn: Vì sao bị Trung Quốc thống trị lâu thế mà người Việt Nam vẫn không nói tiếng Trung Quốc? Nói cách khác, họ coi đồng hóa ngôn ngữ là tiêu chuẩn đồng hóa quan trọng nhất và đều thừa nhận Trung Quốc đã không đồng hóa nổi Việt Nam. Họ tỏ ra tiếc nuối về sự kiện Việt Nam sau hơn 10 thế kỷ từng là quận huyện của Trung Quốc, từng dùng chữ Hán hàng nghìn năm mà rốt cuộc lại trở thành một quốc gia độc lập, dùng chữ Latin hóa, ngày nay là nước chống lại mạnh nhất chính sách xâm lấn Biển Đông của Bắc Kinh.

Do hiểu biết Việt Nam rất ít, thậm chí hiểu sai, hầu hết dân mạng Trung Quốc không tìm được lời giải thắc mắc trên, kể cả người tỏ ra am hiểu lịch sử nước ta. Họ nêu các lý do:

– Văn hóa Việt Nam có trình độ Hán hóa cao(?), người Việt rất hiểu và không phục Trung Quốc;

– Việt Nam ở quá xa Trung nguyên, khí hậu nóng, quan lại người Hán ngại sang Việt Nam làm việc, đã sang thì chỉ lo làm giàu, không lo đồng hóa dân bản xứ;

– Các nhân vật tinh hoa Trung Quốc như Lưu Hy, Hứa Tĩnh, Hứa Từ, Viên Huy (劉熙、許靖、許慈、袁徽) chạy loạn sang Việt Nam đã giúp nước này có nền văn hóa không kém Trung Quốc;

– Người Hán di cư đến Việt Nam đều bị người bản xứ đồng hóa v.v…

Nói chung họ đều chưa thấy, hay cố ý lờ đi nguyên nhân chính là ở tài trí của người Việt.

Nhưng họ nói người Việt Nam hiểu Trung Quốc là đúng. Do sớm hiểu rõ ý đồ thâm hiểm của phong kiến người Hán muốn đồng hóa dân tộc ta nên tổ tiên ta đã kịp thời đề ra đối sách. Cụ thể là đã tìm ra cách giữ gìn được tiếng nói của dân tộc mình trong quá trình bị bọn thống trị người Hán cưỡng bức học chữ Hán.

Mấy nghìn năm sau, một học giả lớn của dân tộc ta tóm tắt bài học lịch sử này trong một câu nói rất chí lý: “Tiếng ta còn thì nước ta còn!”

Sau khi chiếm nước ta (203 tr. CN), Triệu Đà đã ép buộc dân ta học Hán ngữ, nhằm đồng hóa họ bằng ngôn ngữ. Có lẽ đây là thời điểm muộn nhất chữ Hán vào nước ta.[1] Sách “Việt giám Thông khảo Tổng luận” do Lê Tung viết năm 1514 có chép việc họ Triệu mở trường dạy người Việt học chữ Hán.[2]Về sau, tất cả các triều đại người Hán cai trị Việt Nam đều thi hành chính sách đồng hóa. Triều nhà Minh còn tìm cách tiêu diệt nền văn hóa của ta, như tiêu hủy toàn bộ các thư tịch do người Việt viết, bắt nhân tài, thợ giỏi người Việt sang Trung Hoa phục dịch.

Như vậy, dân tộc ta buộc phải chấp nhận học chữ Hán từ rất sớm (trước Triều Tiên, Nhật Bản nhiều thế kỷ). Do hiểu biết người Hán nên tầng lớp tinh hoa người Việt đã nhanh chóng nhận ra nếu cứ học như thế thì cuối cùng tiếng Việt sẽ bị thay bằng tiếng Hán, dân ta sẽ trở thành một bộ phận của Trung Quốc.

Vậy cha ông ta đã dùng cách nào để giữ được tiếng nói của dân tộc trong hơn 1.000 năm bị cưỡng bức học và dùng chữ Hán cũng như phải tiếp thu nhiều yếu tố của nền văn minh Trung Hoa?

Vấn đề này rất cần được làm sáng tỏ để từ đó hiểu được truyền thống quý báu của dân tộc ta. Dưới đây chúng tôi xin mạo muội góp vài ý kiến nông cạn, nếu có sai sót mong quý vị chỉ bảo.

Đọc chữ hán bằng tiếng Việt: Một sáng tạo xuất sắc của tổ tiên ta

Chữ viết hình vuông là một phát minh lớn của nền văn minh Trung Hoa, được người Hán chính thức sử dụng từ đời nhà Thương (thế kỷ 16 đến 11 tr. CN), ngày nay phổ biến được gọi là chữ Hán.

Thực ra trong hơn 2.000 năm kể từ ngày ra đời, thứ chữ viết ấy chỉ được người Hán gọi là chữ 字 (tự) hoặc văn tự 文字. Đến đời Đường (thế kỷ VII) cái tên 漢字 (Hán tự, tức chữ Hán) mới xuất hiện lần đầu trong sách Bắc Sử 北史 do Lý Diên Thọ biên soạn.[3] Sau đó người Nhật và người Triều Tiên cũng gọi thứ chữ này là Hán tự: tiếng Nhật đọc Kanji, tiếng Triều Tiên đọc Hantzu. Cho tới nay Bộ Giáo dục Đài Loan vẫn chỉ gọi là Quốc tự 國字.

Vì thứ chữ ấy khi vào Việt Nam còn chưa có tên nên tổ tiên ta bèn đặt cho nó cái tên là chữ Nho, với ý nghĩa là chữ của người có học, bởi lẽ Nho 儒 là từ dùng để gọi những người có học. Dân ta gọi người dạy chữ là thầy đồ Nho, bút và mực họ dùng để viết chữ là bút Nho và mực Nho.[4]

Đây quả là một điều độc đáo, bởi lẽ Hán ngữ xưa nay chưa hề có khái niệm chữ Nho; tất cả từ điển Hán ngữ cổ hoặc hiện đại và các từ điển Hán-Việt đều không có mục từ Nho tự 儒字 với ý nghĩa là tên gọi của chữ Hán.

Có thể suy ra: Việt Nam thời xưa không có chữ viết (hoặc đã có chữ Việt cổ nhưng chưa hoàn thiện, chưa diễn tả được các khái niệm trừu tượng), vì thế khi tiếp xúc với chữ Hán, tầng lớp tinh hoa của tổ tiên ta đã nhận thấy đây là một phương tiện cực kỳ hữu ích dùng để truyền thông tin được xa và lâu, không bị hạn chế về khoảng cách và thời gian như cách truyền thông tin bằng tiếng nói, do đó họ đã sớm nghĩ tới việc mượn thứ chữ này làm chữ viết của dân tộc ta.

Muốn vậy dân ta phải biết chữ Hán, một thứ ngoại ngữ. Làm cho dân chúng học và dùng được một ngoại ngữ là việc hoàn toàn bất khả thi ở thời ấy. Hơn nữa chữ Hán cổ khó đọc (vì không biểu âm), khó viết (vì có nhiều nét và cấu tạo phức tạp), khó nhớ (vì có quá nhiều chữ), thuộc loại chữ khó học nhất trên thế giới.

Nói chung, mỗi chữ viết đều có một âm đọc; không ai có thể xem một văn bản chữ mà không vừa xem vừa đọc âm của mỗi chữ (đọc thầm hoặc đọc thành tiếng). Mỗi chữ Hán đều có một âm tiếng Hán; muốn học chữ Hán tất phải đọc được âm của nó. Viết chữ Hán khó, tuy thế tập nhiều lần sẽ viết được, nhưng do khác biệt về hệ thống ngữ âm, người Việt nói chung khó có thể đọc được các âm tiếng Hán.

Ngoài ra Trung Quốc là một nước rộng lớn, đông dân; cho tới trước nửa cuối thế kỷ 20 cả nước vẫn chưa thống nhất được âm đọc của chữ. Loại chữ này chỉ thể hiện ý nghĩa, không thể hiện âm đọc, cho nên nhìn chữ mà không biết cách đọc. Người dân các vùng xa nhau thường đọc chữ Hán theo âm khác nhau, thậm chí khác xa nhau, vì thế thường không hiểu nhau nói gì. Các thứ tiếng địa phương ấy ta gọi là phương ngữ, người Hán gọi là phương ngôn (方言); Hán ngữ hiện có 7 phương ngữ lớn, nhiều phương ngữ nhỏ (次方言).

Không thống nhất được âm đọc chữ Hán là một tai họa đối với người Hán. Với người nước ngoài học chữ Hán cũng vậy: khi mỗi ông thầy Tàu đọc chữ Hán theo một âm khác nhau thì học trò khó có thể học được thứ chữ này.

Để có thể học được chữ Hán mà không cần đọc âm tiếng Hán, tầng lớp tinh hoa của tổ tiên ta đã sáng tạo ra một giải pháp xuất phát từ ý tưởng: nếu người Hán khác vùng có thể tự đọc chữ Hán theo âm riêng của vùng, thì ta cũng có thể đọc chữ Hán theo âm riêng của người Việt.

Muốn vậy, mỗi chữ Hán được tổ tiên ta quy ước đọc bằng một (hoặc vài, tùy chữ Hán gốc) âm tiếng Việt xác định có gốc là âm chữ Hán — ngày nay gọi là âm Hán-Việt, nghĩa là mỗi chữ Hán đều được đặt cho một (hoặc vài) cái tên tiếng Việt xác định, gọi là từ Hán-Việt.

Thí dụ chữ 水 được đặt tên là chữ Thủy, âm đọc thủy khác với âm đọc shuẩy của người Hán. Chữ 色, tiếng Hán đọc sưa, ta đọc sắc. Thủy và Sắc là từ Hán-Việt, cũng là âm Hán-Việt của 水và色.

Âm/từ Hán-Việt được chọn theo nguyên tắc cố gắng bám sát âm Hán ngữ mà tổ tiên ta từng biết.[5]Như chữ 終, âm Hán và âm Hán-Việt đều đọc chung, tức hệt như nhau; chữ 孩, Hán ngữ đọc hái, ta đọc Hài, gần như nhau. Nhưng hầu hết chữ đều có âm Hán-Việt khác âm Hán. Như 集 âm Hán là chí, ta đọc Tập ; 儒 giú, ta đọc Nho. Có chữ âm Hán như nhau mà âm Hán-Việt có thể như nhau hoặc khác nhau, như 同 và 童, âm Hán đều là thúng, từ Hán-Việt đều là Đồng ; nhưng 系 và 細, âm Hán đều là xi, lại có hai từ Hán-Việt khác nhau là Hệ và Tế. Chữ Hán có hai hoặc nhiều âm thì có thể có một, hai hoặc nhiều âm/từ Hán-Việt, như 都 có hai âm Hán là tâu và tu, lại chỉ có một âm/từ Hán-Việt là Đô ; 少 có hai âm Hán shảo và shao, cũng có hai âm/từ Hán-Việt là Thiểu (trong thiểu số) và Thiếu (trong thiếu niên).

Thứ chữ Hán đọc bằng âm Hán-Việt này được dân ta gọi là chữ Nho. Vì đọc chữ bằng tiếng mẹ đẻ nên chữ Nho trở nên dễ học đối với người Việt: chỉ cần học mặt chữ, nghĩa chữ và cách viết văn chữ Hán mà không cần học phát âm cũng như học nghe/nói tiếng Hán. Vì thế thời xưa ở nông thôn nước ta không hiếm người 6-7 tuổi đã biết chữ Nho.[6] Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370) 12 tuổi đỗ Cử nhân, 16 tuổi đỗ Hoàng giáp (Tiến sĩ). Người không biết chữ cũng có thể học truyền miệng các tác phẩm ngắn có vần điệu, như Tam Thiên Tự.[7]

Người biết chữ Nho có thể xem hiểu các thư tịch chữ Hán, viết văn chữ Hán; tuy không nói/nghe được tiếng Hán nhưng vẫn có thể dùng bút đàm để giao tiếp bình thường với người Hán. Chỉ bằng bút đàm chữ Nho, Phan Bội Châu giao tiếp được với các nhà cải cách Trung Quốc và Nhật Bản, đưa được mấy trăm thanh niên Việt Nam sang Nhật học quân sự chính trị, chuẩn bị về nước đánh đuổi thực dân Pháp.

Cần nhấn mạnh: vì âm/từ Hán-Việt không thể ghi âm hầu hết từ ngữ tiếng Việt cho nên cách đọc chữ Hán theo âm Việt hoàn toàn không thể biến tiếng Việt thành một phương ngữ của Hán ngữ,[8] và dân ta vẫn hoàn toàn nói và nghe bằng tiếng mẹ đẻ.

Chữ Nho chỉ dùng để viết mà thôi, và chỉ được giới tinh hoa (trí thức và quan lại người Việt) dùng trong giao dịch hành chính, ngoại giao, lễ tiết, chép sử, giáo dục, thi cử, sáng tác văn thơ. Còn ở Trung Quốc, những người nói một trong các phương ngữ tiếng Hán đều có thể dùng chữ Hán để ghi âm được toàn bộ tiếng nói của phương ngữ ấy, nghĩa là họ có thể dùng chữ Hán để ghi âm tiếng mẹ đẻ.

Dĩ nhiên cách đọc tiếng Việt chỉ có thể làm với chữ Hán, là loại chữ biểu ý (ghi ý), chứ không thể làm với chữ biểu âm (ghi âm). Ngày nay âm/từ Hán-Việt của mỗi chữ Hán có thể dễ dàng viết ra bằng chữ Quốc ngữ (một loại chữ ghi âm), nhưng ngày xưa, khi chưa có bất kỳ loại ký hiệu nào ghi âm tiếng nói, tổ tiên ta chỉ có thể truyền khẩu. Thế mà lạ thay, việc dạy chữ Nho đã được mở rộng, ở thời Nguyễn là đến tận làng, có thể suy ra tỷ lệ người biết chữ Hán của dân ta cao hơn Trung Quốc!

Chỉ bằng cách truyền miệng mà người Việt thời xưa đã tạo ra được một bộ từ Hán-Việt tương ứng với bộ chữ Hán khổng lồ — bộ chữ này trong Tự điển Khang Hy (1716) có hơn 47 nghìn chữ; Tiêu chuẩn Nhà nước Trung Quốc GB18030 (2005) có 70.217 chữ; Trung Hoa Tự hải có 85.568 chữ Hán.

Quá trình tiến hành Việt Nam hóa phần ngữ âm của chữ Hán kéo dài trong hàng nghìn năm, là một thành tựu văn hóa vĩ đại. Có thể phỏng đoán đó là một quá trình mở, do nhiều thế hệ người Việt thực hiện, thể hiện sức sáng tạo bất tận của tổ tiên ta.

Nhật và Triều Tiên cũng mượn dùng chữ Hán, nhưng họ tự đến Trung Hoa nghiên cứu đem chữ Hán về dùng chứ không bị ép dùng từ sớm như ta. Họ cũng đọc chữ Hán theo âm bản ngữ của dân tộc mình — giải pháp do người Việt nghĩ ra và thực hiện trước họ nhiều thế kỷ.

Nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Nguyễn Tài Cẩn nói: “Cách đọc Hán Việt là một tài sản của riêng dân tộc ta. Có dùng nó khi đọc Đạo đức kinh, Kinh Thi, Sở từ… thì mới phù hợp với thói quen dân tộc, tiện lợi cho dân tộc. Theo ý chúng tôi, dùng cách đọc Hán Việt ở những trường hợp này là một điều hết sức phù hợp với khoa học. Đọc theo lối Hán Việt thì dễ hiểu hơn, bởi lẽ ngay trong tiếng Việt đã có khá nhiều tiếng Hán Việt quen thuộc, chỉ đọc lên, nghe được, là hiểu được; đọc theo lối Hán Việt thì cũng thuận tai hơn… ”.[9]

Đúng thế. Thí dụ từ 社會, người Anh biết Hán ngữ đọc shưa huây, người Anh không biết Hán ngữ khi nghe âm đọc ấy sẽ chẳng hiểu gì; còn người Việt biết Hán ngữ đọc “xã hội”, người Việt không biết Hán ngữ nghe đọc sẽ hiểu ngay nghĩa của từ; âm “xã hội” thuận tai, dễ đọc dễ nhớ hơn âm shưa huây. Rõ ràng cách đọc Hán-Việt thật tiện lợi cho người Việt. Trong bài sau, chúng tôi sẽ nói thêm về vấn đề này.

Ngày nay mỗi chữ Hán trong tất cả các từ điển Hán-Việt đều phải ghi kèm từ Hán-Việt tương ứng. Hán-Việt Tự điển của Thiều Chửu có kèm Bảng tra chữ theo âm Hán-Việt, dùng tra chữ Hán rất tiện và nhanh hơn tra theo bộ thủ. Người có sáng kiến làm Bảng này là bà Nguyễn Thị Quy (1915-1992), em ruột Thiều Chửu, khi bà lần đầu xuất bản Tự điển nói trên tại Sài Gòn năm 1966.[10]

Như vậy, bằng cách đọc chữ Hán theo âm tiếng Việt, tổ tiên ta đã thành công trong việc mượn chữ Hán để dùng làm chữ viết chính thức của dân tộc mình và gọi nó là chữ Nho. Sự vay mượn này chẳng những không làm cho tiếng Việt bị biến mất mà còn làm cho nó phong phú hơn rất nhiều, trở thành một ngôn ngữ cực kỳ linh hoạt, có thể tiếp nhận và Việt hóa hầu như toàn bộ từ ngữ mới xuất hiện trong tiến trình phát triển của loài người toàn cầu.

Chữ Nho khác chữ Hán ở phần ngữ âm: nó là chữ Hán được đọc bằng âm tiếng Việt chứ không đọc bằng âm tiếng Hán như chữ người Hán dùng. Nói cách khác, chữ Nho là chữ Hán đã được Việt Nam hóa phần ngữ âm; còn về tự dạng và nghĩa chữ thì cơ bản như chữ Hán của người Hán. Vì thế có người gọi chữ Nho là chữ Hán-Việt.

Rõ ràng nó là chữ của người Việt Nam, đã Việt Nam hóa phần ngữ âm, không thể coi là chữ của người Hán. Chữ Nho là chữ viết chính thức của dân tộc ta trong hơn 2.000 năm, kể từ thời điểm muộn nhất là bắt đầu thời Bắc thuộc cho tới khi được thay thế bằng chữ Quốc ngữ cực kỳ ưu việt, được chính các nhà Nho tiên tiến tán thưởng và đi tiên phong ủng hộ sự phổ cập Quốc ngữ.

Cách đọc chữ Hán bằng âm/từ Hán-Việt đã đáp ứng nhu cầu giao tiếp bằng bút đàm giữa quan lại cấp thấp người Việt với quan lại cấp cao người Hán, khiến cho bọn thống trị người Hán vẫn thực thi được quyền lực cai trị dân bản xứ. Hơn nữa, cách đó làm cho việc phổ cập chữ Hán trong người Việt trở nên dễ dàng, tức đáp ứng yêu cầu dạy chữ Hán của các vương triều người Hán. Vì vậy chúng không còn lý do cưỡng chế dân ta phải học nghe/nói tiếng Trung Quốc.

Cách đọc chữ Hán như trên đã có tác dụng không ngờ là làm cho người Hán dù có cai trị Việt Nam bao lâu thì cũng không thể tiêu diệt nổi tiếng Việt và Hán hóa được dân tộc ta. Có thể là khi bắt đầu sáng tạo cách đọc ấy, tổ tiên ta chưa nghĩ tới điều đó, nhưng rốt cuộc sáng tạo xuất sắc này đã giúp dân tộc ta tránh được nguy cơ bị người Hán đồng hóa. Đây là một thành công vĩ đại!

Đáng tiếc là hiện không thấy có thư tịch nào ghi chép ai nghĩ ra và thời điểm nào xuất hiện cách đọc chữ Hán bằng âm/từ Hán-Việt. Có thể cho rằng sáng kiến đó ra đời khi chữ Hán bắt đầu vào nước ta, tức muộn nhất là khoảng thế kỷ 2 – 1 tr.CN.

Có ý kiến cho rằng cách đọc Hán-Việt bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Đường, cụ thể là Đường âm dạy ở Giao Châu vào khoảng hai thế kỷ 8, 9.

Nếu hiểu ý kiến này theo nghĩa đến đời Đường mới xuất hiện cách đọc Hán-Việt thì e rằng khó có thể giải đáp câu hỏi: vậy thì trong thời gian khoảng ngót 1000 năm trước đó người Việt đọc chữ Hán bằng cách nào? Đến đời Đường, người Hán đã thống trị Việt Nam được hơn 9 thế kỷ, quá thừa thời gian để họ hoàn toàn đồng hóa người Việt bằng văn hóa, ngôn ngữ, khi ấy tiếng Việt đã bị biến mất, sao còn có thể xuất hiện cách đọc Hán-Việt?

Phải chăng nên hiểu ý kiến trên theo nghĩa: đến thời Đường, cách đọc Hán-Việt được hoàn thiện nhờ học tập Đường âm dạy ở Giao Châu vào khoảng thế kỷ 8 – 9.

***

Có thể kết luận: dân tộc Việt Nam tồn tại được và không bị đồng hóa sau hơn 1.000 năm chịu sự thống trị của một quốc gia liền kề có nền văn hóa lớn mạnh là nhờ đã phát huy bản lĩnh trí tuệ của mình, thể hiện ở chỗ sáng tạo được biện pháp đọc chữ Hán bằng tiếng Việt, qua đó đã vô hiệu hóa chủ trương đồng hóa ngôn ngữ của các triều đại phong kiến Trung Hoa.

Có những người Hán đã nhận ra bản lĩnh trí tuệ ấy của người Việt.

Năm 987, nhà Tống cử Lý Giác李覺 đi sứ sang Hoa Lư, Việt Nam, được hai vị Quốc sư Khuông Việt và Pháp Thuận đón tiếp, đàm phán các vấn đề quốc gia đại sự và họa thơ. Khi về nước, Lý Giác tặng vua Lê Đại Hành một bài thơ, trong có câu: “Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu 天外有天應遠照”, nghĩa là: “Ngoài trời này còn có trời khác, nên nhìn thấy”. Nói cách khác, thế giới này đâu phải chỉ có một mặt trời Trung Hoa mà còn có mặt trời Việt Nam!

Câu thơ cho thấy Lý Giác đã bước đầu nhận ra bản lĩnh trí tuệ của người Việt. Đúng thế, tổ tiên ta thật vô cùng tài giỏi, nếu không thì còn đâu giang sơn tươi đẹp này!

Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và nhà nghiên cứu tự do hiện sống tại Hà Nội.

—————————

[1] Nói là “muộn nhất” vì còn có các quan điểm như: chữ Hán vào VN qua con đường giao thương hoặc truyền bá tôn giáo từ lâu trước khi nước ta bị Triệu Đà chiếm; VN đã có chữ viết từ đời Hùng Vương (Hoàng Hải Vân: Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động).

[2]宋代中越文学交流述论 có câu 黎嵩 “越鑑通考總論” viết : 趙佗 “建立學校,導之經義。由此已降,四百余年,頗有似類” .

[3] Bài 汉字名称的来由 (http://blog.sina.com.cn) và một số bài khác có viết: Từ Hán tự 漢字 xuất hiện sớm trong Bắc sử, quyển 9 [biên soạn xong năm 659]. 汉字一词早出自《北史》卷九本纪第九, “章宗一”:“十八年,封金源郡王.始习本朝语言小字, 及汉字经书,以进士完颜匡、司经徐孝美等侍读”. Từ Hán tự xuất hiện nhiều trong sách Kim sử 金史 (năm 1345) đời Nguyên. Ở đời nhà Thanh (1644-1911), thời kỳ đầu do chữ viết chính thức của chính quyền không phải là chữ Hán mà là chữ Mãn (满文) nên phải dùng tên gọi chữ Hán 漢字 để chỉ loại văn tự truyền thống của người Hán, nhằm phân biệt với chữ Mãn.

[4] Có ý kiến nói do thời bấy giờ thứ chữ đó được dùng để dạy dân ta học Nho giáo 儒教 nên dân ta gọi nó là chữ Nho. Nhưng Nho 儒với nghĩa “người có học” xuất hiện trước rất lâu, sau đó mới dùng chữ ấy vào từ Nho giáo để gọi học thuyết của Khổng Tử. Cùng lý do ấy, chữ Khổng có trước khi Khổng Tử ra đời.

[5] Khó có thể biết đó là âm tiếng địa phương nào ở TQ. Trong đó có những âm tiếng Quảng Đông, như nhất, nhì, shập, học chập khi đọc các chữ 一,二,十,學習 (âm Hán-Việt đọc nhất, nhị, thập, học tập).

[6] Thí dụ Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) 8 tuổi học chữ Nho, 13 tuổi văn hay chữ tốt, 24 tuổi đậu Giải Nguyên, 28 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ. Phan Bội Châu (1867-1940) 6 tuổi học ba ngày đã thuộc lòng 1440 chữ Nho trong Tam Tự Kinh. Trần Gia Minh tác giả sách Huyền thoại Kim thiếp Vũ Môn 5-6 tuổi đã học chữ Nho truyền khẩu từ người ông mù lòa.

[7] Do nhà Nho Đoàn Trung Còn sáng tác, là một bài vè dài, mỗi câu hai âm, đọc lên có vần điệu dễ nhớ.

[8] Năm 1867, G. Aubaret trong cuốn Grammaire annamite từng sai lầm nhận định: “Tiếng bình dân nói trong vương quốc An Nam là một phương ngữ của tiếng Trung Quốc” (trích dẫn theo Phạm Thị Kiều Ly trong “Ghi âm tiếng Việt bằng chữ Quốc ngữ”, sách “Tiếng Việt 6”, Nxb Tri Thức, 2015).

[9] Nguyễn Tài Cẩn : Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt.

[10] Dẫn theo Lê Quốc Trinh, con trai bà Quy và là người trực tiếp tham gia làm Bảng tra này.



 

Nguồn:  Nghiencuuquocte

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2015

"CHÙM KHẾ NGỌT" BỊ XÓA TÊN TRONG KỶ YẾU CỦA BÁO TUỔI TRẺ

Xóa tên trong kỷ yếu...

Trên Facebook, nhà văn Nguyễn Đông Thức (trái) nói việc báo Tuổi Trẻ gạch tên Đỗ Trung Quân (phải) trong kỷ yếu là 'nhỏ mọn, không đàng hoàng'
Đang có tranh cãi quanh việc một tờ báo lớn tại Việt Nam, Tuổi Trẻ, không đưa nhà thơ Đỗ Trung Quân, từng làm ở báo, vào kỷ yếu 40 năm thành lập.
Câu chuyện ban đầu được nhà báo, nhà văn Nguyễn Đông Thức viết trên Facebook hôm 2/9:
“Báo Tuổi Trẻ có mời tôi viết một bài trong cuốn ‘Chuyện nghề - Chuyện người’, nhân kỷ niệm 40 năm thành lập.

Trong phần liệt kê các tên tuổi văn chương sau 1975 xuất hiện từ những ngày đầu trên Tuổi Trẻ, tôi nhắc hàng loạt tên, trong đó có nhà thơ Đỗ Trung Quân, tác giả của những bài thơ ‘Quê hương, Phượng hồng, Những bông hoa trên tuyến lửa’... Ông cũng đã có hơn 12 năm làm phóng viên Tuổi Trẻ.
Trong bài viết, tôi chỉ nhắc chung tên ông trong hàng loạt cái tên nhà thơ trẻ cùng thời thập niên 1980, như Nguyễn Nhật Ánh, Lê Thị Kim, Phạm Sỹ Sáu, Nguyễn Thái Dương, Thanh Nguyên, Bùi Chí Vinh, Cao Vũ Huy Miên, Đoàn Vị Thượng...
Nhưng khi in sách, cái tên Đỗ Trung Quân trong bài viết của tôi đã... biến mất.”
Ông Thức nói thêm: “Đỗ Trung Quân hiện đang nằm trong ‘danh sách đen’, sau khi ông hăng hái tham gia các cuộc biểu tình chống Trung Quốc lấn chiếm biển đảo và có tên trong nhóm vận động thành lập Văn đoàn Độc Lập (tất cả những điều này có gì là sai ở một đất nước đã tự nhận là có tự do, dân chủ?)... Cũng như vài bạn cùng chí hướng, ông đang bị phong toả về kinh tế, không cho xuất hiện trên các phương tiện truyền thông, xuất bản, báo chí và coi như thất nghiệp”.
“Việc những người biên tập tập sách ở báo Tuổi Trẻ xoá tên ông Quân trong bài viết của tôi, về một thực tế đã có, chẳng chút liên quan gì đến chính trị, cho thấy đây là một hành động nhỏ mọn, không đàng hoàng, tử tế,” ông Thức viết.

‘Không buồn, chỉ buồn cười’

Hôm 3/9, trả lời phỏng vấn của BBC Tiếng Việt, nhà thơ Đỗ Trung Quân nói:
“Tôi không buồn, không ngạc nhiên, chỉ buồn cười khi biết về chuyện mình bị phủ nhận. Đó không phải là cách hành xử của lãnh đạo một tờ báo lớn. Họ không thể phủ nhận chuyện tôi đã làm ở Tuổi Trẻ 12 năm và chỉ tôi mới có thể phủ nhận quá khứ của chính mình”.
Ông Quân nói không chỉ mình ông mà còn nhà báo Huy Đức, nhạc sĩ Tuấn Khanh, những người từng có đóng góp cho danh tiếng của Tuổi Trẻ cũng bị ‘lờ đi’ trong kỷ yếu.
Ông Quân nhấn mạnh rằng mình ‘không có án’ và việc báo Tuổi Trẻ phủ nhận ông có thể là do ‘lệnh miệng’ từ Ban Tuyên giáo.
“Tôi cho rằng chỉ một số người trong Ban Biên tập báo Tuổi Trẻ có cách hành xử này chứ không phải toàn bộ. Tuy tôi đã nghỉ Tuổi Trẻ từ lâu nhưng những đồng nghiệp khác ở báo này vẫn giữ mối liên hệ thân tình với tôi”, ông Quân nói.
Ông Quân nói ông không bao giờ hối tiếc về chuyện đã lên tiếng chống Trung Quốc ‘với tư cách một người cầm bút và một công dân Việt Nam’.

‘Còn nhiều người khác không được nhắc tên’

Hôm 3/9, ông Lưu Đình Triều, cựu nhà báo ở Tuổi Trẻ và là một trong những người biên tập cuốn ‘Chuyện nghề - Chuyện người’, nói với BBC Tiếng Việt:
“Tôi không nhớ rõ về chuyện cuốn sách loại tên ông Quân và cũng không theo dõi status trên Facebook của ông Thức. Tuy vậy, có nhiều người từng làm ở Tuổi Trẻ cũng không được nhắc tên trong kỷ yếu chứ không riêng các ông Đỗ Trung Quân, Huy Đức và Tuấn Khanh”.
Trong khi đó, viết trên Facebook, ông Đỗ Trung Quân nói thêm: "Câu chuyện nhỏ - không đủ sức gây buồn cho cá nhân tôi - nó chỉ gây cái buồn cười bởi sự trưởng thành của những người cầm nắm đôi khi lại không theo kịp cái bóng lớn của một tờ báo lớn như Tuổi Trẻ."
Nguồn BBC
Phần nhận xét hiển thị trên trang