Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015

Việt Nam có tránh được lời nguyền tài nguyên?


Phát triển bền vững
Đăng ngày Thứ sáu, 31 Tháng 7 2015
Lời nguyền tài nguyên là cách nói chua chát nhằm vào những quốc gia sa đà vào đào bới của cải dưới lòng đất hòng tạo ra bước đột phá về kinh tế. Nó đã trở thành đề tài được giới học giả thảo luận sôi nổi trong nhiều thập kỷ gần đây.

Tại sao Sudan và một số nước Tây Phi giàu dầu mỏ, kim cương mà các chỉ tiêu về mức sống, giáo dục, tuổi thọ… lại thuộc loại thấp nhất thế giới? Tại sao Arập Saudi xuất khẩu dầu mỏ nhiều nhất thế giới lại có đến 17% người dân thất học? Tại sao nội chiến triền miên luôn gieo lên đầu những người dân châu Phi khốn khó, trong khi chính họ mới là chủ nhân đích thực các kho báu ẩn giấu dưới lòng đất? Ỷ lại vào tài nguyên thiên nhiên chẳng những sẽ thất bại mà càng lún sâu vào tụt hậu.
Lời nguyền tài nguyên – bức tranh hiện hữu trên thế giới

Nhìn ra thế giới trong vài thập kỷ gần đây, có mấy nước nhờ đào bới tài nguyên thiên nhiên mà nhanh chóng bứt phá lên phía trước. Ngược lại, có khi chính vì thiếu than đá, dầu mỏ, quặng sắt..., mà một số nước Đông Á lại hoá rồng. J. Sachs, A. Garner và một số học giả khác qua phân tích ngót 100 nền kinh tế trên thế giới trong hai thập kỷ 1970 – 1980 đã chứng minh rằng những nước có tỷ trọng xuất khẩu tài nguyên trong GDP cao thường có xu hướng tăng trưởng chậm, không đầu tư đúng mức cho giáo dục khiến có ít trẻ em được cắp sách đến trường.
Thực chất, đằng sau nghịch lý nói trên là những hậu quả nặng nề cho đất nước khi tài nguyên thiên nhiên bị lạm dụng bởi những nhóm lợi ích trong một đất nước thiếu tri thức khoa học – công nghệ lại có thể chế yếu kém và thiếu minh bạch. Sự giàu có quá dễ dàng của họ chính là nguồn gốc gây ra tham nhũng, tình trạng tù mù trong hệ thống nhà nước, gia tăng phân hoá giàu nghèo, tàn phá môi trường, sự tụt hậu về giáo dục – khoa học – công nghệ, cả nội chiến và bất ổn chính trị...
Ngày nay trong bối cảnh hội nhập và khủng hoảng năng lượng toàn cầu, bản đồ quyền lực thế giới đã được vẽ lại. Một số nước cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên lại nắm được tri thức khai thác, chế biến chúng, có lực lượng khoa học – công nghệ hùng hậu trong nhiều lãnh vực. Trong khi đó, nhiều nước khác có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú lại yếu kém cả về tri thức lẫn thể chế, không làm chủ được nguồn tài nguyên của mình. Họ dễ bị chinh phục, không phải bởi pháo hạm như ngày xưa, mà bởi các tấm séc ngân hàng. Chính đồng tiền do bán rẻ tài nguyên thiên nhiên đã mang lại bất công và khổ đau cho đa số người dân, mất độc lập tự chủ cho đất nước.
Các nước phát triển cũng không khỏi lao đao nếu không chú ý đến mặt trái do những nguồn tài nguyên mới khám phá mang lại. Căn bệnh Hà Lan (Dutch disease) phản ánh tình trạng khủng hoảng ở Hà Lan và Anh vào những năm 1970, khi những mỏ khí và dầu trữ lượng lớn được phát hiện ở Biển Bắc. Nguồn thu từ dầu khí đã làm lệch cơ cấu kinh tế và tăng giá trị thực đồng nội tệ. Cuối những năm 1970, từ chỗ nhập khẩu dầu mỏ, cỗ xe kinh tế đồ sộ Anh quốc bỗng thừa dầu để xuất khẩu. Đồng bảng tăng giá trị thực, xuất khẩu hàng chế biến đình đốn, công nhân đình công đòi tăng lương, kinh tế rơi vào suy thoái.
Làm chủ bất cứ một công nghệ khai thác, chế biến tài nguyên nào cho đến những nấc thang giá trị gia tăng tột cùng, chính là chỗ khác nhau cơ bản giữa những nước tránh được và không tránh được lời nguyền tài nguyên.
Song cũng có nhiều nước thành công nhờ phát triển theo con đường khác. Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Chile, Malaysia... rất giàu tài nguyên, dẫn đầu thế giới về sản lượng than, đồng, chì, thiếc, vàng, đất hiếm... nhưng những nguồn lợi ấy chỉ góp phần nhỏ trong GDP vì họ tăng trưởng nhờ phát triển nhiều ngành công nghiệp khác. Ở Iran, tuy dầu mỏ đóng góp đến 38% GDP, nhưng họ biết sử dụng nguồn lợi ấy để ra sức phát triển khoa học – công nghệ, trong đó có nhiều công nghệ mũi nhọn, sánh vai với các cường quốc trên thế giới.
Lời nguyền tài nguyên không phải là quy luật tất định, càng không phải định mệnh, đối với những nước giàu tài nguyên. Song với tư cách là một quy luật thống kê, nó đủ độ tin cậy để cảnh báo mọi người chớ đi theo vết xe đổ của một số nước, đừng hoạch định chính sách phát triển quốc gia bằng cách trông chờ vào các kho báu còn ẩn giấu đâu đó dưới lòng đất. Brazil, nước đông dân thứ năm trên thế giới, mới đây đã phát hiện mỏ dầu cực lớn trên thềm lục địa. Thay vì hoan hỉ, Tổng thống Lula da Silva đã lôi đích danh bóng ma lời nguyền tài nguyên ra để cảnh báo dân chúng: “Đừng để xảy ra lời nguyền tài nguyên như ở nhiều quốc gia dầu mỏ khác. Nguồn lợi này sẽ phải được dùng để phát triển giáo dục, khoa học công nghệ và xoá đói giảm nghèo... Chúng ta không nên trở thành một nước xuất khẩu dầu thô đơn thuần, mà phải ra sức xây dựng một ngành công nghiệp hoá dầu hùng mạnh...”
Làm chủ KHCN - tiêu chí đích thực để tránh được lời nguyền tài nguyên
Làm chủ công nghệ hoá dầu, hay bất cứ một công nghệ khai thác, chế biến tài nguyên nào khác cho đến những nấc thang giá trị gia tăng tột cùng, chính là chỗ khác nhau cơ bản giữa những nước tránh được và không tránh được lời nguyền tài nguyên. Những nghiên cứu về nguyên nhân dẫn đến lời nguyền tài nguyên thường chỉ ra sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế (căn bệnh Hà Lan), sự yếu kém về thể chế (dân chủ, minh bạch, phân bố lợi tức), quản lý nhà nước và luật pháp... Nhưng hầu như ít ai nhắc đến yếu tố làm chủ công nghệ.
Để làm rõ hơn vai trò của yếu tố khoa học – công nghệ, chúng tôi đã xem xét mối tương quan giữa nguồn lợi thu được từ dầu mỏ với năng lực khoa học – công nghệ dựa trên số công trình khoa học công bố trên quốc tế từ 30 nước đang phát triển có sản lượng dầu thô cao hơn Việt Nam, 300.000 thùng/ngày. Kết quả nghiên cứu cho thấy có hai nhóm nước “đối lập” nhau, những nước còn lại nằm xen vào giữa hai nhóm này. Ở một cực, điển hình là Kuwait, Arập Saudi, Các tiểu vương quốc Arập thống nhất, Angola, thu lợi từ dầu mỏ rất lớn, chiếm 65 – 80% GDP, nhưng sản sinh ra rất ít công trình khoa học tính trên GDP.
Phía bên kia là Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Argentina với nguồn thu từ dầu mỏ chỉ chiếm 2 – 4% GDP nhưng số công trình tính trên GDP cao hơn gấp bội. Các nước này không ỷ lại vào tài nguyên thiên nhiên mà phát triển nhiều ngành công nghiệp và dịch vụ khác nhờ làm chủ được KHCN. Trong số các nước xen vào giữa hai nhóm trên, đáng chú ý nhất là Iran, thu nhập từ dầu mỏ chiếm đến 38% GDP, nhưng nền khoa học – công nghệ của họ mạnh hơn hẳn các nước Hồi giáo vùng Vịnh thuộc cực thứ nhất.
Việt Nam liệu có tránh được?
Nước ta giàu tài nguyên khoáng sản đến mức nào? Về việc này có lẽ nên nhắc lại một phát biểu dựa trên khoa học địa chất và ý tưởng thống kê của A. P. Aleksandrov, nguyên chủ tịch viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, theo đó trữ lượng khoáng sản của một nước nói chung tỷ lệ thuận với diện tích của nước ấy.
Chả thế mà Nga, Trung Quốc, Mỹ, Canada, Ấn Độ, Australia, Brazil... luôn dẫn đầu thế giới về sản lượng hầu hết các loại khoáng sản. Nước ta đất chật người đông, cho dù thượng đế có ưu ái cũng không thể hoá phép để biến một nước có diện tích thứ 65 trên thế giới (dân số thứ 13) trở thành cường quốc về tài nguyên thiên nhiên. Gần đây, bauxite Tây Nguyên và cát đen chứa titan dọc theo ven biển miền Trung được xem như một lợi thế tài nguyên lớn của đất nước. Song nhiều chuyên gia địa chất lâu năm lại tỏ ra dè dặt về những con số trữ lượng dường như được thổi phồng, thậm chí họ còn nhắc nhở thêm: cái mà thế giới cần, ta không có, còn cái ta có, thế giới lại không cần, hoặc họ có nhiều hơn.
Trên thực tế, hai mặt hàng khoáng sản lớn nhất của Việt Nam là dầu và than đá, dầu mỏ đứng thứ 36 trên thế giới (hơn 300 ngàn thùng/ngày), than đá thứ 17 (41 triệu tấn). Xem ra, chúng ta không nằm ngoài quy luật thống kê vừa nói trên. Năm 2008, xuất khẩu khoáng sản của ta chỉ chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó 80% là dầu thô, 10% than đá, và các khoáng sản khác chỉ chiếm 10%.
Có tài nguyên dồi dào mới chỉ là tiền đề, xử lý chúng thế nào mới là chuyện quyết định. Liệu việc đào bới cát đen trong mấy chục năm qua đã sinh lợi cho ai, và nguồn lợi mà Chính phủ thu được có thấm thía gì nếu muốn khôi phục lại vùng ven biển miền Trung đã bị tàn phá hay không?
Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến quặng bauxite do TKV trình và được Chính phủ phê duyệt tháng 11.2007, đã toát lên một tinh thần khẩn trương, chạy đua với thời gian để năm 2015 đạt 6 - 8,5 triệu tấn alumina, và tăng tốc mạnh hơn nữa đến 15 triệu tấn vào năm 2025. Ngay đến Trung Quốc, nước hàng đầu thế giới cả về alumina lẫn aluminium (nhôm), với tập đoàn Chalco hùng mạnh, khai thác khoáng sản khắp nơi trên thế giới, cũng chỉ sản xuất hơn 8 triệu tấn alumina hàng năm. Trớ trêu hơn, toàn bộ sản lượng khổng lồ ấy của ta lại phải xuất sang Trung Quốc, nước vừa cung cấp công nghệ vừa bao tiêu sản phẩm cho hai nhà máy đầu tiên, Tân Rai và Nhân Cơ, và chắc chắn sẽ tiếp tục làm như thế cho các nhà máy sau. Trong khi đề xuất một kế hoạch quá mạo hiểm như vậy, lại không hề nói rõ bao giờ ta mới nội địa hoá và làm chủ được công nghệ chế biến alumina, một công nghệ quá cổ điển, đã có từ cuối thế kỷ 19.
Chúng ta đã có quá nhiều bài học thất bại về làm chủ công nghệ. Sau hàng chục năm xây dựng công nghiệp ôtô, mức độ nội địa hoá chỉ quanh quẩn 4 - 5%. Với 100 đôla xuất được từ hàng may mặc ta phải nhập khẩu thiết bị, nguyên vật liệu đến 80 đôla ngay từ các nước láng giềng. Năm nay Việt Nam mới bắt đầu có sản phẩm lọc dầu nội địa, chậm hơn Thái Lan và Malaysia đến vài chục năm. Song có nhà máy lọc dầu không đồng nghĩa với làm chủ công nghệ hoá dầu. Tình trạng chậm tiến độ do trục trặc kỹ thuật tại nhà máy Dung Quất gần đây cho thấy làm chủ công nghệ, ngay chỉ ở mức độ vận hành suôn sẻ những công nghệ nhập từ nước ngoài, vẫn còn lắm gian nan.
Tại sao người Việt Nam không bước lên được quỹ đạo mà người Hàn Quốc đã ung dung trên đó từ cách đây bốn thập kỷ?
Hàng trăm đề tài được nghiệm thu xuất sắc về chế biến quặng ilmenit để tạo ra bột TiO2, zircon... , vẫn nằm trong ngăn kéo. Trong khi đó, qua chuyến khảo sát gần đây tại Bình Thuận, nơi dự kiến có lượng ilmenit và zircon đến hơn 6 triệu tấn, chúng tôi được xác nhận rằng cách có lời nhất là bán ilmenit sơ chế thô (qua khâu tuyển trọng lực) cho Trung Quốc, rồi mua lại của họ các thành phẩm chế biến tiếp theo.
Cần phải nhận dạng cho đúng tại sao chúng ta thất bại, không làm chủ được công nghệ trong rất nhiều ngành công nghiệp. Việc này sẽ giúp chúng ta đi dúng quỹ đạo công nghiệp hoá - hiện đại hoá, để không sa lầy vào cái "bẫy thu nhập trung bình". Nhưng cho dù có những thất bại vừa qua, chúng ta không được phép hạ cái khẩu hiệu "khoa học - công nghệ là then chốt" xuống trong khi rất cần trưng nó lên để hoạch định một ngành công nghiệp hướng đến thương hiệu quốc gia dựa trên lợi thế tài nguyên thiên nhiên của mình.
***
 
Xem thêm:


>> Xuất khẩu tài nguyên thô là ăn thịt chính mình

Có tài nguyên không thể không khai thác. Nhưng không vội, không vơ vét, vì còn phải dành cho con cháu mai sau, và vì phải có đủ thời gian để học làm chủ công nghệ. Nhất quyết không bán rẻ tài nguyên cho nước ngoài. Cát đen không những chỉ chứa TiO2, monaxit, đất hiếm mà trong đó còn có zircon, từ đó làm ra hợp kim zircaloy cho vỏ thanh nhiên liệu trong nhà máy điện hạt nhân, còn có thorium, nguồn nhiên liệu tương lai có thể thay thế cho uranium đang cạn dần. Vậy tại sao phải ra sức đào bới các đụn cát xinh xắn mà thượng đế đã dày công vun đắp để chắn sóng, che gió, để từ nước mưa chắt lọc ra những mạch nước mội ngay sát bờ biển... rồi đem cát đen ấy bán vội cho nước ngoài? Như thế đâu phải là công nghiệp hoá - hiện đại hoá!
Có người phản biện: "Các nước ngày nay giàu có chính là nhờ vơ vét tài nguyên để công nghiệp hoá trong hàng trăm năm qua, có còn gì dành lại cho con cháu họ đâu?" Xin thưa, ít ra họ cũng còn truyền lại khối tri thức khoa học - công nghệ khổng lồ làm của hồi môn cho con cháu.
GS PHẠM DUY HIỂN (THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lỡ rùi nên lợn ăn khoai!


Việt nam "ca ngợi tổ quốc" Trung Hoa lên mạng Tàu - Nhục quốc thể quá trời luôn!

FBker Nguyên Trung Thuan CHO BIẾT: "báo Tàu đưa nguyên cả video rồi nhá. Còn nhắc lại cả vụ Cờ 6 sao nữa, có kèm theo lời bình của cư dân mạng TQ. Nhục quốc thể quá trời luôn!
- Người quan sát:
Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang đọc lời chào mừng, hội trường vang lên ca khúc tiếng Trung "Ca ngợi Tổ quốc"
越南国家主席张晋创致辞 会场响起中文歌《歌唱祖国》
http://www.guancha.cn/Neighbors/2015_07_31_328880.shtml
- Hoàn cầu:
Báo Mĩ: Khi Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang đọc lời chào mừng, hội trường vang lên ca khúc yêu nước tiếng Trung "Ca ngợi Tổ quốc"
美媒:越南国家主席致词时会场响起中文爱国歌曲《歌唱祖国》http://news.china.com.cn/live/2015-07/31/content_33772090.htm
(Miễn dịch vì nội dung cũng giống thông tin báo chí nước ngoài đã đưa)."
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Liên minh Việt - Thái bất ngờ rầm rộ đối phó với Trung Quốc và Campuchia


Xu thế chính trị ở Phnom Pênh vẫn có xu hướng thân thiện với Bắc Kinh. Vì thế Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã cùng một đoàn hết sức hùng hậu sang ngay Bangkok để làm việc. Hai bên ký bản tuyên bố chung để nâng dần mối liên kết. Mối liên kết này mà chặt chẽ thì đương nhiên Campuchia phải dè chừng...

Ảnh: Hội đàm nội các Việt- Thái 

Sau chuyến đi của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Hoa Kỳ, dư luận dành nhiều lời tốt đẹp cho mối quan hệ trong tương lai của hai nước. Đương nhiên Trung Quốc không hài lòng và tiếp tục gây sức ép lên Việt Nam bằng nhiều cách. Thứ nhất là chuẩn bị cuộc tập trận quy mô ngay trên Biển Đông trong đầu tháng 8. Thứ hai lại dùng con bài mua chuộc Campuchia gây bất ổn ở phía Nam qua vấn đề biên giới.

Mặc dù trong tháng 6 và tháng 7 các đoàn cao cấp của Việt Nam sang Phnom Pênh như con thoi. Từ đảng, chính quyền và quân đội đều cử các người có tiếng nói sang trao đổi. Thế nhưng xu thế chính trị ở Phnom Pênh vẫn có xu hướng thân thiện với Bắc Kinh.

Vì thế Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã cùng một đoàn hết sức hùng hậu sang ngay Bangkok để làm việc.

Dù rằng có khác biệt về hệ thống chính trị, nhưng hai quốc gia có nhiều mục tiêu chung. Cả hai đều đóng một vai trò quan trọng trong khối ASEAN và không muốn Trung quốc chi phối xu hướng phát triển.

Hai bên ký bản tuyên bố chung để nâng dần mối liên kết.

Mối liên kết này mà chặt chẽ thì đương nhiên Campuchia phải dè chừng...

Từ trước đến nay giữa Campuchia và Thái Lan có nhiều tồn đọng tranh chấp về biên giới. Hai nước vẫn trong tình trạng tạm hòa hoãn. Thế của Thái Lan và tiềm lực của Thái Lan mạnh hơn Campuchia. Nếu Campuchia gây bất ổn cho Việt Nam thì Thái Lan cũng có thể là một đối trọng lại cán cân quan hệ quốc tế.

Vì thế chuyến đi của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được tiến hành rất nhanh. Báo chí không đưa tin nhiều. Nhưng nhìn số lượng quan chức cao cấp của chính phủ ( đủ thành phần nội các) thì mới thấy nó quan trọng biết nhường nào.

Bản tuyên bố của hai nước sẽ mở đường cho một liên minh chiến khu Việt- Thái trong thời kỳ mới.

http://baochinhphu.vn/…/Hop-tac-Viet-NamThai-Lan…/232351.vgp

Dân Choa
(FB Dân Choa)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chống đổ bộ-nhiệm vụ cuối cùng của tuyến phòng thủ


Chiến dịch đổ bộ đánh chiếm Cô Công (Campuchia) cuối năm 1979 của hơn 30 tàu chiến của Hải quân Việt Nam với Lữ đoàn lính thủy đánh bộ 101 Vùng 5 Hải quân, kết hợp với không quân ném bom, thì có thể thấy, đó là một cuộc đổ bộ lớn nhất của Hải quân Việt Nam từ trước đến nay nhưng hình thức tác chiến truyền thống. (Trinh sát, tìm bãi đổ bộ; dọn bãi đổ bộ bằng hỏa lực; dùng lực lượng nhỏ, nhanh, đánh chiếm đầu cầu; cuối cùng đại quân tràn vào bờ). Thời đó, năm 1979, cuộc đổ bộ này đã khiến không ít quốc gia ĐNA và kể cả Trung Quốc giật mình, lo lắng, về mức độ và khả năng hợp đồng tác chiến của Hải quân Việt Nam.

Lực lượng Hải quân Đánh bộ Việt Nam 
trong một cuộc diễn tập đổ bộ đường biển.
Việt Nam chắc chắn sẽ không ngồi nhìn khi các thế lực hung hăng đang củng cố, xây dựng đảo nhân tạo hòng tạo ra ưu thế tác chiến, diễu võ dương oai bằng các cuộc tập trận... Cách đây 40 năm, khi giao nhiệm vụ đánh chiếm quần đảo Trường Sa cho quân đội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhấn mạnh: “Đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, nếu không hành động sớm sẽ bị nước khác đánh chiếm”.

Biết bao nhiêu xương máu của thế hệ cha anh đã nhuộm đỏ vùng biển Trường Sa để cho con cháu có được thành quả như hôm nay. Nhưng nguy cơ “bị nước khác đánh chiếm” là tiềm tàng, đang thách thức quân và dân huyện đảo Trường Sa từng giờ từng ngày. Vì vậy, không ngừng cảnh giác, chuẩn bị đầy đủ mọi phương án giáng trả có hiệu quả để buộc kẻ thù phải trả giá đắt nếu cậy thế đông, mạnh.

Tác chiến đổ bộ trong chiến tranh hiện đại.

Trong phương án tác chiến phòng thủ biển, sau khi gây khó khăn cho địch ở các tuyến phòng thủ từ xa thì chống lực lượng đổ bộ đánh chiếm đảo, điểm đầu cầu ở đất liền…là nhiệm vụ mà thành bại quyết định sự mất còn khả năng phòng thủ biển.

Nghệ thuật tác chiến đổ bộ hiện đại sử dụng 3 lực lượng: tàu đổ bộ lưỡng thê, tàu đổ bộ đệm khí cỡ lớn và máy bay trực thăng tiến hành đổ bộ thẳng đứng mà giới quân sự coi là phương thức tác chiến 3 chiều (lập thể) đã tạo nên một thế "chân kiềng" vững chắc.

Bộ 3 lực lượng này đã đáp ứng các tiêu chí rất cơ bản trong tác chiến đổ bộ, đó là: tập trung, mạnh và nhanh.

Tập trung, vì cả 3 lực lượng trên đều có thể cập bờ, đảo, để triển khai tác chiến cùng một lúc.

Mạnh là vì hỏa lực của 3 lực lượng này đủ mạnh để đè bẹp mục tiêu từ cấp chiến dịch trở xuống mà không cần sự hỗ trợ của các lực lượng khác.

Nhanh là vì khả năng cơ động của chúng rất cao. Nếu đối phương có một sức mạnh vừa phải, một sự cảnh giác tối thiểu thì sẽ không có cơ hội trở tay.

Có thể nói bằng sự xuất hiện tàu đổ bộ cỡ lớn (LPD) và tàu đệm khí cỡ lớn (LCAC)... đã làm cho lực lượng đổ bộ của các cường quốc biển trở thành một lực lượng có tính răn đe cao, uy hiếp mạnh, là "dao găm kề cổ, súng gí mang tai" vào nạn nhân không chỉ là những hòn đảo trơ trọi giữa đại dương mà ngay cả những quốc gia nhỏ bé.

Rõ ràng, chính sự thay đổi công nghệ đã thay đổi lớn chiến thuật đổ bộ đường biển truyền thống.

Chiến dịch đổ bộ đánh chiếm Cô Công (Campuchia) cuối năm 1979 của hơn 30 tàu chiến của Hải quân Việt Nam với Lữ đoàn lính thủy đánh bộ 101 Vùng 5 Hải quân, kết hợp với không quân ném bom, thì có thể thấy, đó là một cuộc đổ bộ lớn nhất của Hải quân Việt Nam từ trước đến nay nhưng hình thức tác chiến truyền thống. (Trinh sát, tìm bãi đổ bộ; dọn bãi đổ bộ bằng hỏa lực; dùng lực lượng nhỏ, nhanh, đánh chiếm đầu cầu; cuối cùng đại quân tràn vào bờ). Thời đó, năm 1979, cuộc đổ bộ này đã khiến không ít quốc gia ĐNA và kể cả Trung Quốc giật mình, lo lắng, về mức độ và khả năng hợp đồng tác chiến của Hải quân Việt Nam.

Trong cuộc đổ bộ này, không có “máy bay trực thăng đổ bộ thẳng đứng” nên gánh nặng tập trung lên tàu LCM-8 chở đại đội đánh chiếm đầu cầu. Do khu vực Cô Công-Campuchia rộng, nếu như có trực thăng đổ bộ vào một khu vực nào đó rồi vận động tấn công đánh chiếm đầu cầu thì giảm tải rất nhiều cho tàu LCM-8. Và lúc đó, nếu quân Pol Pôt mà có ý chí chiến đấu thì đại đội đánh chiếm đầu cầu sẽ gặp khó khăn…khi lính trinh sát và đại đội đánh chiếm đầu cầu thay vì triển khai nhanh bám bờ thì phải đánh chiếm đầu cầu trong tư thế phải vượt sông dưới làn đạn của địch để tiếp cận bãi đổ bộ.

Ngày nay, đương nhiên, chiến thuật đổ bộ luôn là sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại nhưng theo mức độ, nhiệm vụ và do đó sẽ có những hình thức tác chiến khác nhau.

Chẳng hạn, đổ bộ xâm chiếm một quốc gia khác là hình thức tác chiến đổ bộ kết hợp hiện đại với truyền thống với sự tham gia của tất cả các lực lượng quân binh chủng với toàn bộ sức mạnh đột phá.


Đổ bộ đánh chiếm các khu vực ven biển, các khu vực bàn đạp đầu cầu, các căn cứ hải quân ven biển, các hải cảng lớn, các đảo đơn lẻ hoặc các cụm đảo, quần đảo và giữ chúng, thì hình thức tác chiến khác đi. Bởi do mục tiêu chỉ có ý nghĩa về chiến dịch, chiến thuật nên thông thường được tiến hành bởi lực lượng của hải quân và lính thủy đánh bộ mà tác chiến đổ bộ hiện đại như "siêu nhanh, siêu xa, ngoài đường chân trời" thì phương thức tác chiến trực tiếp đoạt bến đổ bộ trước đây đã nhường chỗ cho sử dụng phương thức tác chiến ba chiều (lập thể).

Đây là hình thức tác chiến mà rất nguy hiểm đối với các mục tiêu là quần đảo, đảo nhỏ đơn lẻ rất dễ bị thất thủ. Đặc biệt trong tranh chấp biển đảo mà với lực lượng LPD, LCAC, ngày càng hiện đại thì hình thức tác chiến này càng tỏ ra ưu việt, khả thi, thách thức lớn cho các quốc gia nhỏ bé ven biển muốn bảo vệ chủ quyền.

Vỏ quýt dày có móng tay nhọn.

Cứ nhìn vào phương tiện, vũ khí trang bị, các cuộc diễn tập...đánh chiếm đảo trên Biển Đông của TQ thì hình thức tác chiến đổ bổ ngày nay khiến cho không ít các quốc gia "mất tinh thần" khi bị hù dọa, uy hiếp. Song, hình thức tác chiến đổ bộ hiện đại, kết hợp 3 lực lượng tàu đổ bộ lưỡng thê, tàu đổ bộ đệm khí cỡ lớn và máy bay trực thăng tiến hành đổ bộ thẳng đứng không phải là tuyệt chiêu, không phải có thế vững chắc như "kiềng 3 chân" mà chúng vẫn tồn tại những điểm yếu không thể khắc phục.

Chống địch đổ bộ đánh chiếm đảo, đầu cầu…thì tổng thể nhiều biện pháp với 2 nội dung gồm chống đổ bộ đường không, đường biển. Ở đây, chúng ta chỉ đề cập đến cách sử dụng 2 thứ vũ khí chiến thuật để tác chiến phi đối xứng của lực lượng hiện có được bố trí trên đảo.
Một là:..................................................................................... 
Và, trong thời đại vũ khí công nghệ cao thì to lớn, đông chưa hẳn là lợi thế.

Lê Ngọc Thống
(Blog Lê Ngọc Thống)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Đội quân không tiếng súng” của Trung Quốc đang công khai tấn công Việt Nam


Xuân Quán - Thành phần nòng cốt trong “đội quân không tiếng súng” này gồm có: lực lượng tác chiến trên đất liền với mác “doanh nhân”, lực lượng hải quân trá hình ngư dân và đơn vị chế tạo vũ khí sinh học “hàng độc”. Với một kế hoạch chặt chẽ và kỹ thuật che giấu tài tình, đội quân này đang thầm lặng giết chết người dân Việt Nam, mang về hàng bao tải tiền củng cố cho sức mạnh Trung Quốc. Nhằm đảm bảo tính bảo mật, sách lược dã man này được chia thành những giai đoạn như sau:
Gạo nhựa và sữa độc Trung Quốc
Giai đoạn I: Tận thu
Một trong những sự kiện không thể không nhắc tới là hiện tượng từng đoàn doanh nhân Trung Quốc sang Việt Nam tung tiền mua giá cao, vơ vét hàng nông sản, nhu yếu phẩm từ thủy sản, đường cát, heo, gà, vịt, trứng gà, vịt cũng bị thu mua chất hàng đống.

Đặc biệt vịt sống là sản phẩm bị chiếu cố tận tình nhất, khiến giá mỗi con từ 60.000 đồng/con tăng vọt lên 120.000 đồng, tức tăng gấp đôi. Hiện tượng này đã có vài năm nay, nhưng thời gian gần đây, số lượng bị “vét” lên quá cao và không có dấu hiệu nào cho thấy “cơn dịch vét hàng” chấm dứt. Chỉ riêng điều này đã khiến vật giá leo thang ngay tại Việt Nam vì thiếu hàng để bán và người dân trong nước.

Không chỉ vậy, báo Tuổi Trẻ từng dẫn nguồn từ một cuộc họp của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết: “Nhiều doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu hải sản của Việt Nam đang phải tạm ngưng sản xuất mặt hàng này hoặc hoạt động cầm chừng do không đủ nguyên liệu sản xuất”. Theo bà Nguyễn Thị Thu Sắc, Phó Chủ tịch VASEP, thời điểm đó đã có 147 doanh nghiệp ngưng chế biến và xuất khẩu hải sản để chuyển sang sản xuất các mặt hàng khác, “nguyên nhân do các thương nhân Trung Quốc sang tận nơi mua hải sản mà ngư dân đánh bắt về”.

VASEP còn cho biết có tình trạng thương nhân Trung Quốc “tranh giành, đón mua” tại các cảng cá hoặc thậm chí ngay tận ngoài biển. Các công ty Việt Nam thiếu hàng xuất cảng, đẩy giá mua lên cao mà vẫn không cạnh tranh nổi với độ vung tiền của các doanh nhân Trung Quốc. Miền Trung bị ảnh hưởng bởi “cơn dịch vét hàng” nặng nhất. Hậu quả là giá tôm trắng vọt lên 90.000 đồng/kg, trong lúc năm ngoái giá mua chỉ là 57.000 đồng/kg.

Ngoài ra, các tên thương gia trọc phú này còn nhắm vào hồ tiêu. Theo lời ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp Hội Tiêu VN (VPN), cho biết: “Đã có 20% toàn bộ sản lượng tiêu VN bị thương lái Trung Quốc thu vét“. Cao su cũng vậy, có đến 70% số cao su làm ra ở VN đã vượt biên vào Hoa Lục.

Giai đoạn II: Triệt để cạn kiệt nguồn cung


Thủ đoạn tận thu này nay còn được biến tướng tinh vi hơn, mục tiêu nhằm vào những “mặt hàng lạ” mang tính chiến lược tận diệt nguồn hàng như thu mua lá mãng cầu, nụ thanh long, cau non, cam non, ốc bươu vàng, gỗ sưa, dứa, dừa non, rễ sim, hoa ngâu, lá cây phong ba, hạt chè, xơ dừa, sừng, móng trâu bò đến đuôi trâu, phân trâu…

Trong khi đó tại ngoài khơi, ngày càng nhiều thuyền cá của Việt Nam “gặp nạn” khi đánh bắt ở các vùng biển xa, bị tấn công bởi “tàu lạ” với trang bị vũ khí. Hàng nghìn ngư dân bị nước ngoài bắt mỗi năm, khi hoạt động trong các vùng biển chồng lấn.

Một lý do khác khiến lượng hải sản đánh bắt được ít đi, là do Trung Quốc đang đơn phương áp đặt lệnh cấm đánh bắt hải sản tại các vùng biển mà Trung Quốc yêu sách chủ quyền. Hàng năm Bắc Kinh vẫn đưa ra lệnh cấm đánh bắt, năm sau dài hơn năm trước, với mục đích được nói là để “bảo vệ nguồn hải sản”.

Giai đoạn III: Tuồn “hàng độc” số lượng lớn


Sau khi hút hết “hàng sạch” của thị trường Việt Nam, đơn vị chế tạo và sản xuất vũ khí sinh học “hàng độc” cung cấp cho các thương buôn Trung Quốc vượt qua biên giới tuồn vào Việt Nam bán với giá vừa túi tiền của đại đa số đồng bào lao động để đầu độc người dân Việt Nam trên qui mô cả nước, gây ra hiện tượng “giàu ăn sạch, nghèo ăn độc”. Tượng trưng như:

Gạo nhựa Trung Quốc:

Sau khi tung tiền vơ vét cả triệu tấn gạo của Việt Nam chở sang Trung Quốc. Liền sau đó, “gạo nhựa” được thương lái tung vào Việt Nam đã xuất hiện trên thị trường, đó là một loại gạo giả làm bằng khoai lang/khoai tây xay nhuyển rồi trộn với bột nhựa (resin). Gạo nhựa Trung Quốc nấu trên 30 tiếng vẫn không làm hạt gạo nát nhừ, hột cơm vẫn nguyên vẹn và không dính vào nhau. Tất cả các gạo nhựa đều cùng kích thước và màu sắc giống nhau.

Sữa độc Melamine:

Melamine là hóa chất dùng để sản xuất nhựa, được trộn vào các sản phẩm sữa để chúng trông giàu protein hơn, đánh lừa thị giác giới tiêu thụ khiến các em nhỏ uống vào sẽ mắc bệnh “sạn thận”.

Các hãng thông tấn nước ngoài cũng đã đưa tin về loại sữa độc này làm tử vong 4 em bé và làm hơn hàng trăm ngàn trẻ em khác mắc bệnh vào năm 2008. Sau đó, chính quyền Trung Quốc đã tìm thấy và tịch thu 170 tấn sữa bột độc hại này. Số 170 tấn sữa độc melamine không được Trung Quốc thiêu hủy mà tái phối trí lại để đưa vào thị trường Việt Nam tiêu thụ với giá rẻ khoảng 62.000 đồng/kg, rẻ hơn so với sữa bột khác.

Lục phủ ngũ tạng của gia súc và gia cầm:


Hằng ngày, những con buôn Trung Quốc lợi dụng nhập cảnh không cần chiếu kháng, để đưa hàng ngàn tấn hàng độc ồ ạt vượt qua biên giới vào Việt Nam tiêu thụ. Phần lớn hàng độc được thương lái Việt Nam chiếu cố nhiều nhất như: tim, cật, thận, lòng heo, chân gà, vịt, cánh cổ, trứng non, lòng mề…



Những sản phẩm đã được ngâm tẩm và ướp bằng hóa chất như formol (dùng để ướp xác chết) để giữ tươi được lâu ngày, chống thối rữa. Một người đi chào hàng nói với đối tác: “Yên chí đi! Có để đến nửa tháng nữa cũng chưa thối đâu. Đã tẩm ướp thứ đó rồi thì có chôn xuống đất tới cả tháng, đào lên vẫn còn tươi nguyên”.

Trứng gà, vịt giả, nhiễm Melamine:

Loại hàng độc này tập trung tại “tổng kho trứng” chợ Sẻo Cái ở Hà Khẩu, muốn mua bao nhiêu cũng có. Đây là một chợ khá lớn, bày bán mọi loại thực phẩm tươi, vệ sinh rất kém, bẩn thỉu và lầy lội, tấp nập nhiều con buôn đến mua bán hàng, đặc biệt là mặt hàng trứng gà các loại.



Khu bán trứng gà nằm ngay bên ngoài gần đường vào chợ, hàng đống các thùng trứng gà, vịt xếp chồng chất lên nhau. Giá cả tại chỗ như sau: Khoảng 31.000 đồng/1 kg, khi chở về đến chợ Cốc Lếu ở Lào Cai là 47.000 đồng/1kg, quả là siêu lợi nhuận.

Tại thành phố Lào Cai có chợ Cốc Lếu, Gốc Mít, Kim Tân bày bán rất nhiều trứng gà nhiễm melamine đã qua công đoạn vỏ trứng được đánh màu, chờ con buôn phân phối đi khắp nơi. Trong khi trận bão melamine trong sữa Trung Quốc chưa lắng dịu thì đã tìm thấy trứng gà nhiễm melamine của Trung Quốc đã tràn ngập thị trường Việt Nam.

Trái cây nhập lậu từ Trung Quốc:

Hầu hết tất cả trái cây nhập cảng từ Trung Quốc đều có tẩm hóa chất bảo quản, đặc biệt những sản phẩm chuộng trên thị trường như:

Táo: Quả táo nhập từ Trung Quốc, được bọc trong một lớp lưới xốp. Lưu ý, khi bốc lưới xốp ra thì thấy hạt trắng mịn đọng trên vỏ quả, đó là do hóa chất bảo quản bị bốc hơi.

Cam: Hiện nay, cam nhập lậu từ Trung Quốc là loại cam quả rất to, bọc trong lưới, có màu vàng tươi do tẩm hóa chất và bị đánh bóng.



Quýt: Quýt Trung Quốc vỏ dày, bị đánh bóng và bóc vỏ, hai đầu múi quýt thường khô.

Hồng: Hồng Trung Quốc rất dễ nát nên hàng nhập lậu thường được tẩm nhiều hóa chất bảo quản hình dáng. Ngoài ra, hồng Trung Quốc có vỏ rất đẹp, màu vỏ đỏ đậm do bị bôi phẩm màu.

Dưa hấu: Phần lớn dưa hấu bán trên thị trường loại vỏ vàng, ruột cũng màu vàng là của Trung Quốc, gắn mác New Zealand. Loại dưa hấu này hay bị tiêm nước đường hóa học vào trong ruột nên khi bổ ra sau vài tiếng, ruột sẽ bị mềm nhũn.

Một sự thật rõ ràng, Trung Quốc đã và đang dùng “vũ khí sinh học” dưới hình thức “hàng độc” để đầu độc nhân loại, trong đó có Việt Nam. Để đối phó với một âm mưu chặt chẽ như vậy, cần phải có sự đoàn kết mạnh mẽ, cái tâm và cái tầm của từng người dân trong nước, đặc biệt là những thương lái Việt Nam buôn hàng cho Trung Quốc.

Theo nguyentandungvn.org

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

Sao có vẻ bi quan vậy hởi ông già Alan Phan?


Alan Phan - Những ảo tưởng về TPP
Vừa rồi, khi đài truyền hình Saigon TV ở California phỏng vấn tôi về TPP, tôi tranh luận với ông bạn cũ Lương Đức Hợp, là TPP sẽ chẳng thay đổi gì bộ mặt chính trị và xã hội của Việt Nam chút nào trong thập niên tới. Về kinh tế vĩ mô thì TPP có thể ảnh hưởng nhưng không nhiều; riêng lợi và hại cho Việt Nam cũng chưa chắc đã cân xứng như những lời xưng tụng.
 
Ts Alan Phan
(GNA: Trước hết, ông già Alan xin cám ơn tất cả thân hữu và nhóm BCA tại California đã tham dự và góp công sức khiến Buổi Ra Mắt Sách của Alan Phan thành công trong thân mật. Không thể bắt tay và hàn huyên cùng 162 chiến hữu một lúc, Alan xin mượn diễn đàn này để nói lại chữ Thank You. Dù mới quay lại Quận Cam và chưa tạo dựng nhiều quan hệ, dù buổi trưa hè nóng gay gắt, dù không có “ăn nhậu” hay “phong bì”…, những tấm lòng nồng nhiệt của các bạn là những điểm sáng trong đêm dài của tha hương, nhìn về đất nước.

Alan cũng đã ứng khẩu nói về suy nghĩ cá nhân mình với hiệp ước TPP sắp được 12 quốc gia ký kết; và hôm nay, xin ghi lại tổng lược bài nói chuyện này. Phần thứ 2 của bài là việc đầu tư của người gốc Việt ở hải ngoại tại Việt Nam. Alan sẽ chia sẻ vào bài tới).

Khoảng 2002, trong cuộc tranh cãi với một đại gia Mỹ, hai chúng tôi đánh cược vào một tình thế chính trị đang “hot” lúc bấy giờ. Khủng bố Hồi Giáo đã đánh sập tòa nhà World Trade Center ở New York năm ngoái, dân Mỹ sôi sục với an ninh quốc gia, và TT G. W. Bush đang chuẩn bị đổ quân vào Iraq, lấy lý do tiện lợi là Hussein có thể đe dọa Mỹ và thế giới với “weapons of massive destruction” (WMD, vũ khí có sức tàn phá diện rộng). Ông bạn đại gia Mỹ hờ hởi tin rằng cuộc chiến mới sẽ thay đổi bộ mặt chính trị và xã hội của Trung Đông, đặc biệt là kinh tế dầu khí… Là siêu cường duy nhất còn lại, khi Mỹ kiểm soát nguồn năng lượng quan trọng này, thế giới sẽ có Pax Americana (thời đại thanh bình kiểu Mỹ)….

Quan điểm trái ngược của tôi là bộ mặt Trung Đông đã hình thành qua cả ngàn năm lịch sử, văn hóa, chính trị, xã hội, giáo dục… nó sẽ không thể thay đổi trong vài năm chỉ vì Mỹ và ông Bush có ước muốn như vậy. Dù lý tưởng và triết thuyết có hay đẹp đến đâu, thực tại luôn là một “son of a bitch” (con chó đẻ). Tôi kết luận là sau 2 nhiệm kỳ (nếu ông Bush tái cử) , Iraq sẽ không khác gì ngày nay, a messy nation under some form of dictatorial regime (một quốc gia hỗn loạn dưới một hình thức độc tài nào đó). Riêng Trung Đông, it’s the same old story (thành ngữ VN là –vũ như cẩn).

Lúc đó, căn nhà ở Hồng Kông của tôi có trưng bày một lộc bình thời Khang Hy rất quý. Tôi không sưu tầm đồ cổ, nhưng mua được với giá quá hời từ một công ty nhà nước nhỏ ở Xian (Tây An). Ông đại gia Mỹ thèm thuồng đòi mua lại, thuê cả người định giá là khoảng 30 ngàn đô la, nhưng tôi không bán. Sẵn đó, ông cược với tôi là nếu nhận xét của ông đúng, khi Iraq và Trung Đông đã ngoan ngoãn trong vòng tay Mỹ, thì 6 năm nữa, ông sẽ làm chủ chiếc lộc bình này. Nếu ông sai, ông sẽ ghé Hồng Kong và trả tôi 30 ngàn tiền thua cuộc. Tôi đồng ý, nhưng năm sau, vợ tôi bán chiếc lộc bình khi trang trí lại nhà cửa (không biết sau này ông TBT Trọng có là chủ nhân?). Tôi thấp thỏm cả mấy năm trời, nghĩ là phải mất 30 ngàn nếu thua cược. May mắn sao, trước khi TT Bush hết nhiệm kỳ hai, ông đại gia Mỹ ghé Hồng Kong, tìm tôi và trả tôi chi phiếu 30 ngàn đô la như một gentleman.

TPP và cao trào của hy vọng

Vừa rồi, khi đài truyền hình Saigon TV ở California phỏng vấn tôi về TPP, tôi tranh luận với ông bạn cũ Lương Đức Hợp, là TPP sẽ chẳng thay đổi gì bộ mặt chính trị và xã hội của Việt Nam chút nào trong thập niên tới. Về kinh tế vĩ mô thì TPP có thể ảnh hưởng nhưng không nhiều; riêng lợi và hại cho Việt Nam cũng chưa chắc đã cân xứng như những lời xưng tụng.

Trước khi tôi trình bày quan điểm, anh Hợp cho rằng TPP, theo pháp lý, sẽ bắt Việt Nam phải thay đổi cơ chế theo thị trường, quyền điều hành công đoàn sẽ tự do hơn, nhân quyền được tôn trọng, bản quyền trí tuệ được bảo vệ và quyền lợi của doanh nghiệp tư nhân sẽ do pháp trị định đoạt. Khi vào TPP, Việt Nam sẽ được công nhận chính thức là một thành viên mới của nền kinh tế liên thông, sẽ gia tăng xuất khẩu, cùng thu nhập của người dân và quan trọng nhất, là Việt Nam sẽ đứng về phía Mỹ để thoát Trung.

Tôi nhắc lại, thực tại là son of a bitch. Về pháp lý và cơ chế “hành” chính, Việt Nam có một hiến pháp vừa hoàn thiện, một bộ luật dầy đặc những khôn ngoan của mọi triết thuyết, và một bộ máy gồm toàn các tiến sĩ, giáo sư, học giả…với đủ loại bằng cấp đen trắng đỏ vàng. Nhưng mọi tầng lớp của xã hội, từ người làm ra luật, thi hành luật, hay “chịu đựng” luật… đều giống nhau ở chỗ “nobody give a shit” (không ai quan tâm). Xui bị công an kêu lại thì lo mà móc túi nộp mãi lộ. Không mấy ai mất thì giờ (hay mất mạng) để tranh cãi trừ khi mắc bệnh tâm thần (kiểu VN).

Ảo tưởng muôn đời của lý tưởng Âu Mỹ

Mọi điều phân tích khác của anh Hợp rất tương tự với lý luận mà Nixon và Kissinger đã “bán” cho dân Mỹ 43 năm trước, khi ôm hôn Mao và “mở cửa” Trung Quốc. Hai ông chính trị gia cho rằng nếu giúp cho Trung Quốc giàu có thịnh vượng hơn, chính quyền Cộng Sản sẽ “tự diễn biến” và trở nên dân chủ, tự do, nhân đạo, hòa bình…hơn. Sau đó, tiền ào ạt đổ vào Trung Quốc, vô sản biến thành “tư bản đỏ” nhưng các vị tư bản COCC này lại rất khác biệt với những hình tượng về tư bản mà Mỹ mong ước. XHCN theo sắc mầu Trung Quốc hay Thiên An Môn là một miếng xương hóc búa khó nhai cho Mỹ và những đồng minh.

Lợi và hại của TPP trên nền kinh tế Việt

Ngoài cái ảo tưởng phổ thông nói trên, hiệp định TPP còn chất chứa nhiều ảo tưởng khác. Nhưng trước khi bàn sâu về ảo tưởng, cho tôi định vị lại những “lợi” và “hại” của TPP với nền kinh tế Việt Nam.

Những cái lợi thì các mạng truyền thông và chuyên gia của chính phủ đã “ca cảnh” quá nhiều:

- Mở rộng thị trường xuất khẩu qua nhiều quốc gia thành viên, tạo hiệu ứng tăng trưởng mạnh mẽ cho GDP và thu nhập cá nhân (dựa trên GDP);

- Lượng FDI và FII (đầu tư trực tiếp và gián tiếp của nước ngoài) sẽ gia tăng vì theo TPP, hàng rào thuế quan, bản quyền trí tuệ và thao túng tỷ giá…sẽ giảm thiểu tối đa. Ngoài ra, khi đầu tư nhà máy vào Việt Nam, những dự án FDI từ Trung Quốc hay Hàn Quốc sẽ hưởng lợi từ thị trường của các quốc gia thành viên. Cũng trong khung cảnh tích cực đó, kiều hối (một thành tố vô cùng quan trọng cho ngân sách) sẽ tát nước theo mưa.

- Khi kinh tế phát triển và hội nhập sâu, nhu cầu lao động sẽ lên cao hơn và cấp chuyên viên sẽ hăng hái trau luyện kỹ năng thêm để tăng thu nhập.

- Với chuẩn mực mới về cạnh tranh quốc tế, có thể sản phẩm và dịch vụ của các doanh nghiệp Việt sẽ được cải thiện về chất lượng, công nghệ và thương hiệu.

Những cái lợi trên cũng đi kèm với vài thực tế hơi chua chát và những cái hại mà TPP sẽ gây ra cho nền kinh tế:

- Hiện nay, 72% tổng lượng xuất khẩu của Việt Nam là từ các doanh nghiệp FDI. Tôi không tìm ra dữ liệu là phần chia lại cho lao động và thuế lợi tức của Việt Nam được bao nhiêu phần trăm? Tôi đoán là dưới 5% vì giá nhân công quá rẻ, gia công những phân khúc sản xuất nhỏ là chính, rồi chánh phủ lại miễn trừ nhiều loại thuế với giá khuyến mãi cho đất đai hạ tầng. Như tình trạng đã xẩy ra cho Trung Quốc, khi những điều kiện kiếm tiền của nhà đầu tư ngoại kém đi (giá nhân công, thuế, luật, giá đất…lên cao) , họ sẽ đi tìm những nơi chốn khác.

- Kỹ năng chuyên viên và chất lượng sản phẩm có tăng nhưng sức cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa rất yếu. Như một cậu học trò mẫu giáo được khuyến khích để bắt kịp các bạn đã vào đại học. Việc khả thi sẽ là một vấn nạn về khoảng cách kiến thức, tư duy và thời gian.

- Với TPP, chúng ta không kiếm được nhiều ở các thị trường Âu-Mỹ-Nhật, nhưng thị trường nội địa phải được rộng mở để hàng ngoại tự do xâm nhập. Khi sản phẩm Việt bị giá rẻ của hàng Trung Quốc, Thai Lan cạnh tranh từ phía thấp, còn lại bị đè bẹp bởi chất lượng của hàng Âu, Mỹ, Nhật…ở phía trên; thì lợi thế cạnh tranh càng ngày càng thu hẹp cho mọi doanh nghiệp Việt.

- Đáng quan tâm nhất là lĩnh vực nông nghiệp: lúng túng với bộ máy “hành” chính nông thôn, phí thuế ngất ngưỡng cao rồi lối canh tác cổ truyền manh mún, nông dân Việt sẽ chịu gánh nặng khủng của TPP.

- Trong khi đó, với dòng tiền mới từ FDI và kiều hối, quyền lợi và quyền lực của nhóm nhỏ siêu giàu sẽ gia tăng mạnh mẽ. Các phe nhóm không những kiểm soát mọi hoạt động huyết mạch như tài chánh ngân hàng chứng khoán; mà còn tạo ra các chính sách hổ trợ đắc lực cho những dự án BDS, xây dựng hạ tầng, khai thác khoáng sản…của phe nhóm.

Chuyện nhân quyền

Giữa lợi và hại, tùy vị thế chánh trị và xã hội, TPP sẽ khiến vấn đề “nhân quyền” trở nên ít cấp bách hơn vì người Việt chỉ cần chút cải thiện về mức sống vật chất là đã thỏa mãn và chấp nhận mọi bất cập từ chính phủ. 

Chúng ta thấy rõ là sau khi “đổi mới”, cho đến nay, môi trường sinh hoạt của Việt Nam còn xuống cấp, tệ hơn cả Lào, Kampuchia (chưa cần so sánh với Singapore hay Hàn Quốc); nhưng phần lớn người Việt, kể cả các giới trẻ, đã happy ăn nhậu, cà phê, mê chuyện siêu sao, đá bóng…mà không quan tâm đến chính trị hay văn hóa.

Mặc cho nước ngập mỗi ngày mưa tại Hà Nội và Saigon, hay ô nhiễm thực phẩm, không khí, hay kinh tế bị Trung Quốc đô hộ; dân Việt vẫn được tiếng là “hạnh phúc và lạc quan” nhất nhì thế giới. Khi người dân địa phương không “care” thì mọi hoạt động về nhân quyền của các hội đoàn trong hay ngoài nước sẽ èo uột hơn. Các chính phủ Âu, Mỹ…cũng sẽ thờ ơ với vấn nạn này, không cần phải đánh võ mồm để làm vui lòng nhóm cử tri gốc Việt.

Ảo tưởng của hai bên

Cùng với một thực tại khá chua chát, TPP là xúc tác cho vài ảo tưởng khác của nhiều thành phần.

Ngoài ảo tưởng về dân chủ tự do như đã nói bên trên, chính phủ Mỹ luôn mơ về một Việt Nam mạnh mẽ, liên minh với các đồng minh tư bản để chặn tham vọng bá chủ của Trung Quốc trong khu vực. TT Obama còn gắng hoàn thành việc “xoay trục về châu Á” và TPP như một di sản lịch sử vào cuối nhiệm kỳ. Cái giá phải trả cho ảo tưởng này thực ra không to lớn lắm so với kích cỡ của kinh tế Mỹ, nhưng thất vọng là thất vọng. Quan hệ giữa chính phủ và đảng CS của Việt Nam và Trung Quốc sâu xa hơn cả 16 chữ vàng. Thực ra nó là “lá chắn” của cả 2 đảng bộ trước “diễn biến hòa bình”, đồng nghĩa với sự sinh tồn và quyền lực của vài chục triệu đảng viên tại 2 nước.

Trong khi đó, nhiều quan chức và chuyên gia Việt Nam lại ảo tưởng quá nhiều về “con bài” Mỹ trong bàn cờ mà họ cho là khôn ngoan, thủ đoạn của họ. Họ tin rằng chỉ việc để cho tư bản Mỹ vô làm ăn; rồi chém gió vô tội vạ về nhân quyền, tôn giáo, công đoàn…là chính phủ Mỹ sẽ mở rộng hồ bao (và biên giới) để các quan chức kiếm tiền và giấu tiền. Thêm vào đó, nếu đàn anh Trung Quốc có ức hiếp bóc lột nhiều quá, như chiếm đất chiếm biển…thì quân đội Mỹ sẽ mạnh tay can thiệp. Chính phủ Mỹ dù đôi khi giả vờ ngây thơ, nhưng khối điều nghiên chính trị, kinh tế của họ luôn nhậy bén. Họ biết tính ra từng con số (tiền hay sinh mạng) để thẩm định giá phải trả. Không cân xứng là không thực hiện, mặc cho những sáo ngữ “đối tác toàn diện” hay “toàn bịp”.

&&&&&

TPP không phải là hiệp ước thương mại tự do (free trade agreement –FTA) duy nhất của Việt Nam. Trong 2 năm qua, Việt Nam đã ký 8 FTA với ASEAN, ASEAN + , Hàn Quốc, Chile, Liên Minh Nga-Kazakistan-Belarus…Kết quả của các FTA này không gì là ấn tượng, vì ngoài những doanh nghiệp FDI, công ty nội địa Việt chưa đủ sản phẩm và dịch vụ chất lượng, giá cao để xâm nhập những thị trường này. Mức sống người dân không có cải thiện gì đáng kể. Nghịch lý và mâu thuẫn còn trùng điệp trong xã hội và cơ chế. Chỉ có những quan chức và đại gia là có thêm những phần bánh ngon ngọt.

Bây giờ, nếu được gia nhập TPP, miếng bánh này có thể lớn gấp nhiều lần các FTA hiện tại. Và may mắn thì người dân sẽ có chút mảnh vụn tung tóe đâu đó. Các lãnh đạo 2 chánh phủ Việt, Mỹ sẽ hờ hởi khen tặng nhau vì dù sao, TPP cũng là một cột mốc lịch sử như… hiệp định Geneva, hiệp định Paris, hay WTO hay hiệp ước song phương Việt-Mỹ.

Nhưng với khách quan của người ngoài cuộc, thì TPP là khi kẻ cắp gặp bà già.

Alan Phan
Đời sống không phải là một bài toán cần giải đáp mà là một thực tại cần trải nghiệm – Life is not a problem to be solved, but a reality to be experienced – Soren Kierkegaard

(Blog Alan Phan)
http://www.gocnhinalan.com/bai-tieng-viet/nhung-ao-tuong-ve-tpp.html
Phần nhận xét hiển thị trên trang

“cậy lớn hiếp bé, cậy mạnh hiếp yếu” là truyền thống của Trung Quốc từ xưa tới nay

Tại sao Trung Quốc chặn máy bay Lào trên ADIZ?
Tại sao “cả đoàn” B-52 bay vào ADIZ đó thì Trung Quốc “không biết”(!) còn máy bay dân sự Lào thì bị chặn lại? Theo trang Air Transport World, ngày 27/7/2015, chuyến bay QV 916 của Hãng hàng không dân dụng Lao Airlines đang trên đường từ sân bay Quốc tế Gimhae, Hàn Quốc, về sân bay Vientiane của Lào, thì bị chặn lại khi nó chuẩn bị bay vào vùng nhận diện phòng không (ADIZ) mà Trung Quốc đã ngang nhiên thiết lập cách đây 3 năm trên vùng biển đang tranh chấp với Nhật trên biển Hoa Đông.
B-52 Mỹ nghênh ngang bay vào ADIZ của Trung Quốc 
thì không quân Trung Quốc không ngăn chặn…?
Đây là lần đầu tiên Trung Quốc chặn một máy bay dân dụng tại vùng cấm bay (ADIZ) mà nước này đơn phương thiết lập trên vùng biển đang tranh chấp ở Hoa Đông từ năm 2012.

Thật ra, khi một quốc gia lập ra một khu nhận diện phòng không (ADIZ), thì những máy bay nào bay qua mà không được “nhận diện” tức là không khai báo trước đều bị không quân của quốc gia đó buộc phải quay về hoặc buộc phải bay chệch ra khỏi khu vực này. Trên thế giới có hơn 20 ADIZ như vậy được lập ra và máy bay của Hãng hàng không quốc gia Lào nếu như bay vào đó bị Trung Quốc xử lý cũng không ngoại lệ.

Điều đáng ngạc nhiên là suốt 3 năm, kể từ khi lập ra, Trung Quốc bị Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc… phản đối quyết liệt và kể cả máy bay B-52, Mỹ vẫn ngang nhiên bay vào như thường, trong khi đó Hàn Quốc lại tuyên bố mở rộng ADIZ chồng lấn sang ADIZ của Trung Quốc…nhưng Trung Quốc vẫn không có phản ứng gì. Vậy mà, Lào, một quốc gia không có tranh chấp gì với Trung Quốc trên Biển Đông lại bị Trung Quốc chặn lại.

Tại sao như vậy? Trước hết vì “cậy lớn hiếp bé, cậy mạnh hiếp yếu” là truyền thống của Trung Quốc từ xưa tới nay (đương nhiên, logic tất yếu là khi gặp đối thủ mạnh hơn là run sợ, là né tránh đã còn ghi đậm trong lịch sử chiến tranh Trung Quốc).

Quốc gia Lào hiền lành, nhún nhường thì bị Trung Quốc o ép? Tại sao Trung Quốc không đuổi máy bay quân sự B-52 Mỹ? Rồi máy bay Nhật Bản, Hàn Quốc tập trận um xùm trong cái vùng đó sao Trung Quốc im re? '

Điều gì ẩn sau việc Trung Quốc chặn máy bay dân sự với Lào mới là quan trọng, mới là sự thâm hiểm của giới cầm quyền Bắc kinh. Trung Quốc đang tạo sức ép lên các quốc gia láng giềng của Việt Nam nhằm mục đích gì thì có lẽ không ai là không nhận ra.

Lê Ngọc Thống
(Đất Việt)

http://baodatviet.vn/the-gioi/quan-he-quoc-te/tai-sao-trung-quoc-chan-may-bay-lao-tren-adiz-3279561/

Phần nhận xét hiển thị trên trang