Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

Hàng loạt đối tượng sắp được miễn thị thực vào Việt Nam

Hàng loạt đối tượng sắp được miễn thị thực vào Việt Nam
NGÔ TRANG
Phó thủ tướng Phạm Bình Minh vừa yêu cầu Bộ Công an chủ trì khẩn trương hoàn thiện dự thảo nghị định quy định việc miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài là vợ, chồng, con của người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc của công dân Việt Nam, trình Chính phủ trước ngày 15/8/2015.

Trên cơ sở đề xuất của Bộ Công an, Phó thủ tướng đồng ý một số nội dung: quy định việc cấp giấy miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài là vợ, chồng, con của người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc của công dân Việt Nam nhập cảnh Việt Nam với mục đích thăm người thân và giải quyết việc riêng. 

Trường hợp đương sự không có giấy tờ chứng minh là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền cấp thị thực của Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm xác minh đương sự là người gốc Việt Nam để xem xét, quyết định việc tiếp nhận hồ sơ xin miễn thị thực.

Về đối tượng áp dụng nghị định, Phó thủ tướng giao Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Công an chỉnh lý lại, tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài được cấp giấy miễn thị thực về Việt Nam thăm người thân và giải quyết việc riêng.

Bộ Công an và Bộ Ngoại giao cần xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ về quy trình, thủ tục cấp giấy miễn thị thực đảm bảo nhanh, gọn, thuận lợi.

Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ: Tư pháp, Ngoại giao khẩn trương hoàn thiện dự thảo nghị định, trình Chính phủ trước ngày 15/8/2015.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

RẤT NGHIÊM TRỌNG! KHÔNG THỂ ĐỂ CHÌM XUỒNG!


Chu Hảo 

KHÔNG THỂ ĐỂ CHÌM XUỒNG!


(Bài gửi riêng cho Tễu Blog)
Có nhiều sự cố “lỗi tại cậu đánh máy”, nhưng lỗi của “cậu ấy” lần này hơi bị to. Nghiêm trọng hơn và thảm hại hơn! Tôi muốn nói đến khúc nhạc đệm rền vang khi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bước lên diễn đàn (để đọc diễn văn khai mạc trong buối giao lưu trực tuyến nhân ngày 27 tháng 7 vừa qua tai Hội trường Bộ Quốc phòng) là giai điệu bài hát Ca ngợi Tổ quốc của Trung Quốc, rất nổi tiếng từ những năm 50 thế kỷ trước, và cũng mới được ông Tập Cận Bình cùng hát với dàn đồng ca.
Đây cũng có thể là lỗi kỹ thuật vô tình, như tôi đã từng được chứng kiến tại Lễ đón tiếp Chủ tịch Trần Đức Lương của Tổng thống Ấn Độ vào năm 2001. Khi chào cờ Việt Nam đáng lẽ phải cử bài Quốc ca của ta theo nhạc điệu hành khúc Tiến quân ca của Văn Cao, thì bộ phận kỹ thuật của bạn cho phát bài Quốc ca của Việt Nam Cộng hòa thời trước 1975 theo nhạc điệu bài Thanh niên hành khúc của Lưu Hữu Phước. Bê bối hết sức! Lúc ấy tôi và anh Phạm Hồng Giang (nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy Lợi), đứng ở cuối hàng dọc, cố tình không đứng nghiêm và tìm cách ra hiệu cho cả đoàn biết là đây không phải Quốc ca. Nhưng đáng tiếc là cả đoàn vẫn đứng rất nghiêm cho đến nốt nhạc cuối cùng của bài “Này thanh niên hỡi, quốc gia đến ngày giải phóng…”. Chúng tôi được biết Chủ tịch Trần Đức Lương rất phàn nàn về sự cố và cũng được biết là anh Nguyễn Đình Bin (Nguyên thứ trưởng Bộ Ngoại giao), người chịu trách nhiệm về lễ tân của đoàn đã nhận tất cả thiếu sót về sự không kiểm tra chu đáo của mình. Ngay sau đó anh Bin cho đoàn biết là bộ thuật kỹ thuật của phía bạn rút đĩa nhạc từ ngăn đánh dấu chữ “Việt Nam” trong rương đựng đĩa Quốc ca các nước mà không kiểm tra lại xem đó là bài nào. Trong bữa tiệc chiêu đãi tối hôm ấy Tổng thống Ấn Độ đã ngỏ lời xin lỗi Chủ tịch nước ta. Phía bạn xử lý vụ này thế nào chúng tôi không được biết. Nhưng về phía ta hình như anh Bin không việc gì. Và như vậy là hợp lý vì, theo chúng tôi, giá mà vị Chủ tịch Nước hoặc là không lơ đãng đến nỗi không nhận ra bài nào là Quốc ca của mình, hoặc nhận ra mà biết xử lý kịp thời, yêu cầu dừng nhạc lại thì hay biết bao nhiêu…
Tuy nhiên, chắc chắn đây là lỗi vô tình vì vào lúc ấy quan hệ giữa hai Nhà nước rất tốt đẹp và không ai có lợi gì trong vụ nhầm lần này. Nhưng lỗi kỹ thuật xẩy ra trong tối giao lưu nhắc đến ở trên thì hoàn toàn khác. Nó xẩy ra vào lúc quan hệ giữa nước ta và Trung Quốc đang có rất nhiều trục trặc, bất thường và nguy hiểm. Lỗi kỹ thuật dù vô tình hay hữu ý ấy đều là mong muốn của những kẻ muốn ta trở thành chư hầu của bè lũ bá quyền Đại Hán Bắc Kinh, đều là sự xúc phạm nghiêm trọng đến Chủ tịch Trương Tấn Sang, đến tình cảm dân tộc chính đáng của đồng bào cả nước. Nếu là lỗi vô tình thì người chỉ đạo nghệ thuật của chương trình non yếu quá. Nếu là lỗi cố tình thì vấn đề trở nên hết sức nghiêm trọng, dù nó liên quan trực tiếp đến cấp lãnh đạo cỡ nào, càng cao càng nguy. Sự cố này không thể để “chìm xuồng”.
Những người lãnh đạo các cấp trong cuộc hẳn phải biết trách nhiệm của mình. Hãy chủ động xin từ chức nếu có lòng tự trọng, nếu không vì tai nạn nào đã làm đứt giây thần kinh xấu hổ. Mong lắm thay! 
Phố Hội, đêm 30.07.2015
C.H.
Nguồn:
http://xuandienhannom.blogspot.com/2015/07/gs-chu-hao-vu-viec-nghiem-trong-nay.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mới lên giữ trọng trách được 5 tháng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam đã làm đơn xin thôi chức để về hưu non với lý do "sức khỏe".

(NLĐO) –

Đó là ông Lê Phước Thanh, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam.
Ngày 30-7, trả lời báo chí, ông Thanh xác nhận mình đã nộp đơn xin nghỉ hưu trước tuổi vào ngày hôm qua (29-7) và hiện đang chờ ý kiến của Bộ Chính trị.
Ông Lê Phước Thanh, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam vừa có đơn xin nghỉ hưu trước tuổi chỉ sau vài tháng giữ chức
Ông Lê Phước Thanh, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam vừa có đơn xin nghỉ hưu trước tuổi chỉ sau vài tháng giữ chức
Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam cho biết ông gửi đơn với tư cách cá nhân.
Lý do xin nghỉ hưu chỉ sau vài tháng được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam, ông Thanh cho biết là do “sức khỏe kém”.
Trước đó, vào 27-2, ông Thanh được Tỉnh ủy Quảng Nam bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2011-2015 với số phiếu ủng hộ 100%.
Ông Lê Phước Thanh sinh 10-10-1956, quê quán thị trấn Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc, Quảng Nam; trình độ tiến sĩ kinh tế.
Trước khi làm Bí thư Tỉnh ủy, ông từng kinh qua các chức vụ Phó cục trưởng Cục Quản lý vốn và tài sản của Nhà nước tại doanh nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng; Giám đốc Sở Tài chính Quảng Nam; Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam; đại biểu Quốc hội khóa 13…
Liên quan đến tình hình nhân sự của tỉnh Quảng Nam, ngày 23-6, Tỉnh ủy Quảng Nam tổ chức Hội nghị Cán bộ chủ chốt của tỉnh để bàn về công tác nhân sự, giới thiệu nguồn cán bộ của địa phương tham gia ứng cử vào Ban Chấp hành Trung ương khóa 12.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam đã có tờ trình giới thiệu ông Phan Việt Cường, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy, nhân sự quy hoạch chức danh Phó Bí thư, Bí thư Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2015 - 2020 vào chức danh Chủ tịch HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2016 - 2021, tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 12.
Đồng thời, giới thiệu ông Briu Liếc, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa 11, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Tây Giang, ứng cử Ủy viên chính thức của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 12 để làm nhiệm vụ lãnh đạo Ban Chỉ đạo Tây Nguyên hoặc Ủy ban Dân tộc Trung ương.
Tr.Thường
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ảnh chưa từng công bố về Nhà Trắng sau vụ khủng bố 11/9


Những bức ảnh cho thấy các diễn biến bên trong Nhà Trắng, với gương mặt lo lắng, thất thần của Tổng thống Mỹ George W. Bush, Phó tổng thống Dick Cheney, cố vấn an ninh quốc gia Condoleezza Rice, sau các vụ khủng bố kinh hoàng ngày 11/9 đã lần đầu tiên được công bố.
Tổng thống Mỹ Bush họp với các quan chức cấp cao tại căn hầm bên dưới Nhà Trắng trước khi có bài phát biểu trực tiếp trên truyền hình về các vụ tấn công 11/9. (Ảnh: Cơ quan lưu trữ quốc gia Mỹ)

Ảnh diễn biến tại Nhà Trắng sau các vụ tấn công 11/9:

Phó tổng thống Dick Cheney theo dõi thông tin trên truyền hình về vụ tấn công Trung tâm Thương Mại Thế giới ở New York   
Phó tổng thống Dick Cheney theo dõi thông tin trên truyền hình về vụ tấn công Trung tâm Thương Mại Thế giới ở New York

Ông Cheney phụ trách Nhà Trắng vào thời điểm xảy ra vụ tấn công vì ông Bush khi đó đang có chuyến thăm Florida
Phó thống Cheney trông rất căng thẳng và lo lắng 
Cố vấn an ninh quốc gia Condoleezza Rice mím môi khi ngồi họp với các Phó tổng thống Cheney và các quan chức cấp cao

Vẻ mặt ưu tư của ông Cheney
Tổng thống Mỹ Bush họp với các quan chức sau khi trở về từ Florida


Ông Bush thảo luận với các quan chức trước khi có bài phát biểu trực tiếp trên truyền hình vào khoảng 8h30 tối ngày 11/9
Đệ nhất phu nhân Laura Bush và Đệ nhị phu nhân Lynne Cheney cũng có mặt tại căn hầm bí mật bên dưới Nhà Trắng
Các quan chức theo dõi bài phát biểu của Tổng thống Mỹ Bush trên truyền hình vào tối ngày 11/9
Phó tổng thống Cheney và vợ tại căn hầm bí mật của Nhà Trắng
Ông Cheney và vợ sau đó lên một trực thăng để sơ tán tới nơi an toàn
Ông Cheney và vợ ngồi trên trực thăng sau khi rời Nhà Trắng
Tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York trong giờ phút tị tấn công
Tổng thống Bush được cấp dưới thông báo về các vụ tấn công khi đang ở thăm một ngôi trường tại Florida
Tổng thống Bush được cấp dưới thông báo về các vụ tấn công khi đang ở thăm một ngôi trường tại Florida
An Bình/ Dantri
Theo Dailymail
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Người Việt "giống đười ươi"?



Phùng Khắc Khoan (1528 - 1613), tự là Hoằng Phu, hiệu là Nghị Trai, người làng Phùng Xá (làng Bùng), thuộc huyện Thạch Thất, Hà Nội, đỗ Hoàng Giáp năm Quang Hưng thứ 3 (1580) đời Lê Thế tông.

Năm Đinh Dậu 1597, Phùng Khắc Khoan được vua Lê Thế Tông cử làm Chánh sứ phái đoàn An Nam tại Yên Kinh (tên gọi cũ của Bắc Kinh, Trung Quốc).

Bấy giờ có một rắc rối là nhà Minh đã nhận lễ của nhà Mạc, nên Phùng Khắc Khoan phải trổ tài ngoại giao để nhà Lê được công nhận lại.

Ở Yên Kinh, nhân sinh nhật vua Minh Thần Tông, sứ thần các nước đều có thơ chúc thọ, Phùng Khắc Khoan làm đến 30 bài dâng lên, Thần Tông xem, khen ngợi và ra lệnh “in ngay để ban hành trong thiên hạ”.

Những bài thơ đó được Phùng Khắc Khoan tập hợp lại trong cuốn Vạn thọ khánh hạ tiết thi tập. Điều lý thú, là ở cuối tập thơ còn có bài Hậu chí chép lại những tư liệu mô tả chi tiết thói quen, cách ăn mặc của người Việt bấy giờ, dưới góc nhìn của một ông sứ thần Cao Ly là Lý Túy Quang.

Lý Túy Quang (có sách chép Lý Toái Quang), hiệu Chi Phong, là một nho gia người Triều tiên, nguyên là sứ thần Cao Ly tại triều Minh (Trung Quốc) từ năm 1590. Tại đây ông có dịp gặp gỡ và có những giao lưu về văn hóa, phong tục với sứ thần của ta là Phùng Khắc Khoan.

Bài viết Thêm một vài tư liệu ghi chép về người Việt thế kỷ XVII của tác giả Phạm Hồng Toàn đăng trong cuốn Lịch sử, sự thật & sử học, do tạp chí Xưa & Nay và nhà Hồng Đức tái bản lần 2 năm 2013 cho biết:

“Sách An Nam quốc sử thần xướng họa vấn đáp lục của Lý Túy Quang, hiệu Chi Phong xuất bản bằng tiếng Triều Tiên có chép: “Năm Vạn lịch Canh Dần (1590), tôi là Túy Quang (hiệu Chi Phong) được cử làm Thư trạng quan, sang kinh sư mừng tiệc thọ, được gặp sứ thần An Nam. Mỗi người ở một nhà riêng, cấm không được đi lại cùng nhau. Chỉ khi ngày triều hội là được gặp nhau một vài lần. Khi xong việc, về triều thì biên chép qua những điều tai nghe mắt thấy. Dâng lên vua coi, thì được vua vời vào dưới chính điện, hỏi về cách ăn mặc, chế độ, cùng là phong tục nước An Nam như thế nào, hay có thơ từ xướng họa đều biên chép dâng lên...

...Mùa Xuân năm Đinh Dậu (1597), lấy danh nghĩa Tiến úy sứ lại được đến Kinh sư, lại được gặp sứ thần An Nam...”.

Trong bài viết đã dẫn trên, tác giả Phạm Hồng Toàn cũng cho biết toàn văn ghi chép của sứ thần Cao Ly được Phùng Khắc Khoan ghi lại thành bài Hậu chí ấy như sau:

“Nước Nam cách Bắc Kinh 1300 dặm. Từ đấy đi đường Lưỡng Quảng đến Nam Kini, lại từ Nam Kinh đến Bắc Kinh. Vua nước ấy họ Mạc. Triều đình Trung Quốc cho là họ Mạc hay tráo trở, bỏ hiệu vua, chỉ gọi là Đô thông sứ. Đến đây họ Lê bị dứt đi. Sứ thần đây là sứ thần của họ Lê sai sang Trung triệu xin phong vương. Từ tháng 7 năm ngoái ở nhà bắt đầu đi, đến tháng 8 năm nay mới tới Bắc Kinh, lưu ở quán Ngọc Hà đến nay là 5 tháng nữa.

Sứ thần họ Phùng, tên là Khắc Khoan, tự hiệu là Nghị Trai, tuổi ngoại 70, hình dáng lạ lùng, răng nhuộm đen, tóc vấn thành búi. Áo dài, ống tay rộng, khăn đội trên đầu thì lấy cả khổ vải đen trùm lên đầu như dáng khăn ông sư, để một nửa rủ về đằng sau xuống quá vai. Ông họ Phùng người tuy già nhưng sức còn khỏe, thường đọc sách và viết sách luôn luôn.

Gặp ngày triều hội, vào chầu thì búi tóc đội khăn đội mũ theo đúng đồ mặc các triều thần Trung Quốc. Nhìn mặt có vẻ vướng víu khó chịu, khi về nhà liền bỏ ra ngay. Người cao quý thì nhuộm răng, người thấp kém thì mặc áo ngắn, đi chân không, tháng rét vẫn đi chân không, không có quần lót và bít tất. Vì thói quen như vậy. Nơi nằm thì phải trên giường, không có hầm sưởi, ăn uống giống người Trung Hoa mà không thật tinh khiết. Áo mặc phần nhiều là the, lụa, không mặc áo gấm vóc và áo bông. Dáng người đại để sâu mắt, ngắn ngủi, hay giống dáng đười ươi. Tính nết cũng hiền lành, có biết chữ, biết viết, thích tập múa kiếm mà lối múa khác với lối dạy trong Kỷ hiệu Tân thư. Khi muốn cho quân quan học tập thì dạy kín mà không phổ biến. Tiếng nói giống người Oa (Nhật bản) mà nhiều thanh, mím miệng. Trong đám người (ở đây) chỉ có một người biết tiếng Hán để làm thông ngôn hay dùng chữ viết để cùng nhau hiểu. Chữ riêng của nước ấy thì chữ viết lạ lắm, thật không thể hiểu được”.

Các ghi chép của ông sứ thần nước Cao Ly này giúp ta phần nào hình dung ra về cách ăn mặc và hình dáng người nước Nam thời ấy.

Đáng chú ý là dòng ông Củ Sâm này tả về dáng người Việt: “đại để sâu mắt, ngắn ngủi, hay giống dáng đười ươi”, cũng hao hao như cha con Vương Kỳ và Vương Tư Nghĩa (Trung Quốc) mô tả trong sách Tam tài đồ hội

(Dưới đây chép lại từ: 

http://nguoidongbang.blogspot.com/2015/04/hic-hic-nam-la-giong-vuon-nui-cho-rung.html):

Giao chỉ còn gọi An Nam, dân nước đó là hậu duệ của giống vượn núi chó rừng ( ?! ), tính tình gian giảo. Tóc ngắn, chân trần, mắt sâu, miệng vẩu, cực kỳ xấu xí. Kẻ nào thô ráp, to lớn thì người ta gọi là đồ “Quỷ mọi”, ai còn trông ra hình người thì hẳn là hậu nhân của binh lính Mã Viện đời Hán còn sót lại ? 
Tục nước đó, cha với con ở không chung một nhà, nấu không cùng một bếp, chuyện cưới hỏi không qua mai mối. Trai gái lấy nhau hỗn loạn, chỉ lấy trầu cau làm tin, rồi sau cứ thế đưa nhau về nhà. Nhược bằng vợ ai tư thông với kẻ khác, thì liền bỏ chồng cũ, người chồng cũ lại đi lấy vợ mới. 
Nước ấy lại liền với Chiêm Thành, dân nước ấy đi làm lao dịch cho Chiêm Thành, hàng năm phải nộp thuế. Đàn ông thích làm trộm cướp, đàn bà chuộng sự dâm loàn. (WT...)
Từ thời Hán xứ đó là do Trung Quốc cai trị, đặt làm quận huyện lại lập giao Châu thứ sử đứng đầu. Đời Đông Hán có Phục Ba tướng quân Mã Viện giữ yên xứ đó cứ thế tới tận cuối thời Ngũ Đại thì Ngô Xương Văn tiếm chế xưng vương. Các đời sau cũng đều bắt chước mà xưng vương, nhưng qua bao đời mà tính mọi vẫn không đổi.



Lưu ý là Tam tài đồ hội ra đời khoảng 10 năm sau những ghi chép của Lý Túy Quang.

Thôi thì người xưa viết vậy, đúng sai khoan hãy vội tin, nhất là cái anh Tam tài đồ hội vớ vỉn kia, ngồi một chỗ mà phán chuyện thế giới, mà ở vào cái thời đi từ Thăng Long sang Bắc Kinh mất đến hơn 1 năm, chứ lúc ấy chưa có in tẹc nét để gúc phát ra ngay như bây giờ.

Chỉ thắc mắc rằng: Tại sao Lý Túy Quang lại được vua Cao Ly bấy giờ là Tuyên Tổ đại vương, gọi vào chính điện để hỏi han “về cách ăn mặc, chế độ, cùng là phong tục nước An Nam như thế nào, hay có thơ từ xướng họa đều biên chép dâng lên...”

Tuyên tổ Đại vương họ Lý, tên là Công, con của Lý Triệu... Hay là Đại vương có liên quan đến dòng họ nổi tiếng Lý Xương Côn hay Lý Long Tường người Việt ở Triều Tiên nên mới quan tâm thăm hỏi? Và cả danh nho xứ Củ Sâm kia nữa, cũng người họ Lý?

Hai ông người Việt "giống đười ươi" này (Lý Xương Côn và Lý Long Tường) sang Triều Tiên lập sự nghiệp từ thế kỷ XII, khoảng hơn 500 năm trước khi Lý Túy Quang viết những dòng tả hình dáng người Việt xấu xí.  Và nếu giả thuyết về quan hệ dòng họ nói trên là có lý, thì danh nho Củ Sâm Lý Túy Quang có thể ngắm Đại vương nhà mình hoặc tự soi gương để vẽ chân dung "đười ươi".

Còn muốn biết các cụ cố nội của cha con nhà họ Vương (tác giả Tam tài đồ hội) vẽ người Việt có láo toét như bọn chúng “mô tả” không, xin mời xem bức tranh “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn chi đồ” do họa gia Trần Giám Như (Trung Quốc) vẽ cảnh vua Trần Anh Tông đón vua cha là Trần Nhân Tông từ động Vũ Lâm (Hoa Lư - Ninh Bình) về kinh sư.

Một trích đoạn bức tranh tả rõ các ăn mặc và hình dáng người Việt vào thế kỷ XIV
Nhân vật chính trong bức tranh là ông tổ Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam, Ngài Điều ngự giác hoàng Trần Nhân Tông

Chữ đề trên lạc khoản cho biết, kiệt tác này được vẽ vào năm Chí Chính thứ 23, đời Nguyên (1363). Hiện bức tranh được lưu giữ tại Bảo tàng Liêu Ninh, Trung quốc, giá bán tại cuộc đấu giá ngày 23-4-2012 là 1,8 triệu USD.

 

Nguồn: Locliec

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nguyễn Quang Thiều và NM

MỘT CÂU HỎI LẠC LÕNG......NHƯNG CẦN THIẾT

  Nhà văn Nguyễn Quang Thiều
Chiều ngày 17 tháng 7, tôi có một buổi nói chuyện với học sinh, sinh viên Việt Nam tại Phòng thông tin, sứ quán Hoa kỳ về hướng nghiệp với đề tài “ Làm thế nào để trở thành nhà văn”.
Tôi nói với các bạn trẻ rằng : Câu hỏi làm thế nào để trở thành nhà văn sẽ trở thành một câu hỏi cô đơn và lạc lõng trong xã hội Việt Nam hiện nay. Tôi đã đánh giá rất cao phòng Thông tin sứ quán Hoa Kỳ khi chọn chủ đề này. Trên bề mặt xô bồ của đời sống, nó đúng là một chủ đề lạc lõng, nhưng trong sâu thẳm của giáo dục, nó là câu hỏi cần thiết và có thể là cấp bách với chúng ta.
Hiện thực cho thấy, hầu như chẳng có phụ huynh nào khuyên con cái mình trở thành nhà văn mà chỉ khuyên chúng trở thành bác sỹ, nhân viên ngân hàng, tài chính kế toán, quản lý khách sạn, hải quan, tiếp viên hàng không....Nghĩa là phải học những nghề có thể kiếm ra tiền một cách dễ nhất. Tôi thông cảm một phần với các bậc cha mẹ. Đó thực sự không hoàn toàn là lỗi của họ.
Với những vụ sát hại man rợ tận cùng xẩy ra ở Bình Dương và Nghệ An, tôi cảnh báo các bạn trẻ rằng : nếu chúng ta không tìm cách ngăn chặn thì đến một ngày nào đó, chúng ta sẽ nghe tiếng gõ cửa và những kẻ sát nhân bước vào ngôi nhà chúng ta ra lệnh chúng ta làm những gì chúng muốn. Nếu không tuân lệnh, chúng sẽ sẵn sàng nổ súng. Chúng ta đừng bao giờ ngốc nghếch nghĩ rằng : chúng ta ở trong một ngôi nhà kiên cố là chúng ta có thể an toàn. Khi xã hội không an toàn thì mỗi ngôi nhà chúng ta không có khả năng an toàn. Khi sông hồ quanh ta nhiễm độc thì bể nước trong ngôi nhà chúng ta với đủ các loại máy lọc tiên tiến nhất cũng sẽ bị nhiễm độc. Và cái gì sinh ra những tội ác man rợ tận cùng đang diễn ra trong xã hội chúng ta ? Mọi người có thể đưa ra nhiều nguyên nhân. Nhưng nguồn gốc của mọi tội ác sinh ra từ những con người vô cảm và không biết rung động trước cái đẹp của thiên nhiên và cái đẹp của con người. Chính việc giáo dục của chúng ta đã đóng góp một phần quan trọng trong giáo dục thẩm mỹ và nhân văn đã làm cho con người trở nên vô cảm và độc ác.
Tôi nói với các học sinh, sinh viên hôm đó về vai trò của văn học trong việc xây dựng nhân cách con người. Nếu có một lúc nào đó họ sa ngã thì cái đẹp mà một phần do văn chương mang lại sẽ làm cho họ biết sám hối. Tôi không khuyên họ trở thành nhà văn của một triệu bạn đọc nhưng hãy trở thành nhà văn của một bạn đọc đó là chính họ. Bởi khi họ viết văn cho dù dưới một hình thức nào đó thì đấy là hành động hướng tới cái đẹp và suy ngẫm về cái đẹp. Khi họ viết văn là họ có cơ hội nghe được bản thân mình rõ nhất và xem lại bản thân mình. Trong những năm qua, có một số người lên tiếng về việc quá nhiều người làm thơ và in thơ. Họ gióng hồi chuông về sự bình dân hóa thơ ca. Nhưng tôi nghĩ khác : tôi thấy đó là một trong những dấu hiệu tốt trong đời sống tinh thần của chúng ta. Bởi khi viết những câu thơ thì hầu như tất cả những người viết đó đang hướng về những điều tốt đẹp. Những văn bản họ viết có thể không phải là một văn bản nghệ thuật thực sự nhưng hầu hết đó là những văn bản nhân tính. Và xã hội con người luôn cần những văn bản đó cho dù nó được xuất bản cho một triệu người đọc hay chỉ là một văn bản viết tay giấu kín trong hộc tủ của ai đó và thi thoảng họ lại mang ra đọc một mình.
Một hai năm trước tôi đọc trên báo chí và thấy rằng có một số trường đại học muốn bỏ thi môn văn. Dạy văn và học văn không phải để sinh ra các nhà văn, nhà thơ mà là một trong những con đường đưa con người vào thế giới nhân tính. Một hiện thực là rất nhiều học sinh không còn thích học môn văn nữa. Lỗi đó không thuộc về học sinh. Lỗi đó thuộc về những nhà giáo dục cùng một phần của các bậc cha mẹ. Trong khi họ, các nhà giáo dục và các phụ huynh, nỗ lực hết mình để truyền đạt những kiến thức mang tính thực dụng cho con em họ thì họ đã bỏ quên việc nuôi dưỡng tâm hồn con em họ. Những đứa trẻ đó lớn lên sẽ trở thành những bác sỹ phẩu thuật rất giỏi, những ông chủ nhà băng lớn, những thương gia giàu có...nhưng lại là những kẻ vô cảm và dửng dưng với mọi số phận quanh họ.
Trong buổi nói chuyện, một sinh viên hỏi tôi : “ Cháu có hai người bạn rất thân nhau. Một người giỏi văn. Nhưng khi lớn lên, người bạn của anh ta gặp khó khăn và anh ta đã phản bội lại bạn mình. Sao một người học giỏi văn lại đối xử với bạn mình không nhân văn như thế ?”.
Câu hỏi vô cùng hay. Vậy thì tại sao ? Tôi trả lời sinh viên kia : Vì cách dạy văn lâu nay của chúng ta hoàn toàn giống như dạy cách sao chép một văn bản lý thuyết từ giáo án của thầy cô sang vở ghi chép của học sinh. Nó giống như học sinh dùng một cái usb “cắm vào” ổ máy của thầy cô rồi coppy vào cái máy của mình. Thao tác đó không hề được đi qua thế giới của những run rẩy, những thổn thức, những chia sẻ, những tưởng tượng, những dày vò và cả những lo sợ mơ hồ. Chính cái thế giới ấy mới làm nên tâm hồn con người. Cậu học sinh kia chỉ học một thao tác kỹ thuật sao chép đơn giản chứ không học cách cảm nhận cuộc sống và cách sống. Và kết quả như bạn sinh viên kia chứng kiến là điều hiển nhiên.
Những năm 70 của thế kỷ trước chúng tôi học văn hoàn toàn khác. Tôi không bao giờ quên được những buổi lên lớp của các thầy cô dạy văn và đặc biệt là thầy Trần Mạnh Hưởng ở trường Cấp 3 Mỹ Đức, Hà Tây cũ. Thầy đã dẫn chúng tôi vào một thế giới mà chúng tôi chưa hề biết trước đó. Có những đêm tôi thao thức mãi với bài giảng của thầy Hưởng, cô Thái hay thầy Du ở lớp học trong ngày. Một điều gì đó thật kỳ diệu và lạ lùng đã dâng lên trong tâm hồn của chúng tôi. Nó đã bồi đắp tâm hồn chúng tôi từng ngày một cách lặng lẽ nhưng thật bền vững và lớn lao. Hãy làm một chính khách, một bác sỹ, một chủ nhà băng, một thương gia...ban ngày và hãy làm một nhà văn vào buổi tối trong ngôi nhà của mình. Hãy viết cho chính mình, viết bằng bút, bằng labtop hoặc bằng những suy ngẫm và cụ thể hơn bằng một hành động của yêu thương trước hết trong chính ngôi nhà của mình. Và sáng mai thức dậy, con đường bạn đi đến công sở đã là một con đường khác đầy cảm hứng, đầy đức tin và vô cùng bền vững hơn chính con đường bạn mới đi ngày hôm qua.
( Nguồn: FB Nguyễn Quang Thiều)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000

ngominh Blog


(Thời biến đổi gien)
  Kỳ 11
    Bùi Ngọc Tấn
Khoảng gần một tháng sau, tôi lại nhận được điện thoại của Luyến từ Hà Nội. Chỉ nghe mấy tiếng “a lô, a lô” của Luyến tôi đã cảm thấy ẩn chứa một niềm vui kìm nén chỉ chực bùng ra. Anh có việc gì lên Hà Nội không, qua em. Nhiều tin đáng mừng. Chúng tôi đã thống nhất với nhau chỉ nói rất vắn tắt qua điện thoại. Cũng như tôi luôn nhắc Luyến tuyệt đối giữ bí mật bản thảo, chỉ những người trực tiếp đọc và duyệt được giữ thôi. Và mỗi khi đọc xong phải cho vào tủ khoá ngay. Sự nhắc nhở này về sau tôi mới biết là vô ích. Nước đổ đầu vịt. Luyến đã phô-tô nhiều bản đưa cho nhiều người. Vì yêu tập bản thảo, Luyến khoe với khá đông bè bạn, thậm chí còn đọc qua điện thoại cho một người bạn trong Đà Nẵng, tốn khá nhiều tiền cho bưu điện.
Tôi lên Hà Nội. Hà Nội luôn hấp dẫn tôi. Hầu hết các bạn chí cốt của tôi đều ở Hà Nội. Lên Hà Nội, tôi có thể nhận biết bao thông tin mà ở Hải Phòng tỉnh lẻ tôi không có được. Giờ đây tôi lên Hà Nội với niềm vui gặp bạn cộng thêm hy vọng về bản thảo nữa.
Xuống xe ô tô ở chân cầu Long Biên, nhẩy xe ôm tới Bà Triệu. Phố Bà Triệu rợp tán lá những cây cổ thụ thân thiết. Bao nhiêu kỷ niệm. Những đêm xuân mưa bụi, tôi và Vũ Lê Mai đạp xe thong thả trên phố vắng, nghe mưa trên tóc, những tối hè đi dạo cùng vợ tôi khi ấy còn là bạn là em, tiếng guốc trên hè như tiếng nhạc. Và tối đầu tiên ra tù về tới Hà Nội cũng đi trên con đường rợp lá xà cừ, lá sấu này. Đây rồi. Căn nhà 64 Bà Triệu. Đã bao nhiêu năm mới lại đặt chân tới đó. Ngôi nhà đầu tiên tôi sống và làm việc khi rời những gian tập thể của Đội Thanh Niên Xung Phong, bắt đầu cuộc đời làm báo viết văn. Tại ngôi nhà này, đời rộng mở trước mặt tôi. Tôi bước vào và thấy nó lạ lẫm làm sao dù vẫn mang số 64. Thấp bé, cũ kỹ, nheo nhếch. Nhưng tôi vẫn nhận ra. Tôi ngủ ở phòng này. Cái tin đầu tiên tôi viết là ở đây. Bài bút ký đầu tiên dài hai trăm dòng tôi viết là ở đây. Từ đây đi nhà hát Nhân Dân nghe Khánh Vân, Xuân Mai hát. Ăn Tết năm 1955 ở đây. Mồng 1 Tết tôi ngồi cho nữ hoạ sĩ Thục Phi ký hoạ, rồi hai chúng tôi đánh bi như những đứa trẻ…
Khi báo Tiền Phong chuyển về 45 Hàm Long, rồi 133 Bà Triệu, và ngay cả khi đã chuyển về Hải Phòng, tôi vẫn có việc tới đây, 64 Bà Triệu. Gặp những biên tập viên nhà xuất bản Thanh Niên Nguyễn Trí Tình, Vương Mộ Thanh, Phan Xuân Hạt về bản thảo, đề nghị tạm ứng… Vẫn là lối đi ở giữa, hai bên là hai dẫy phòng làm việc. Cửa khép. Mãi tới cuối nhà tôi mới thấy một cánh cửa mở. Có người.
– Nhà xuất bản Thanh Niên ở bên 62 kia anh ạ. Chị Luyến làm việc bên ấy.
Thì ra đây vẫn thuộc Trung Ương Đoàn, nhưng là một cơ quan khác.
62 Bà Triệu liền bên. Đó là một toà nhà mới xây, bẩy tầng. Khi tôi còn ở Tiền Phong, còn ở 64, đó là một mảnh đất rộng cỏ mọc, chỉ có một căn nhà tranh bán mái nép sát vào bức tường phía trong cùng. Giờ đây là một toà nhà hiện đại kính sáng loá cao ngất. Tôi sang 62, lễ phép báo cáo với người thường trực rồi leo từng bậc theo cầu thang xây, chứ không đi thang máy. Bởi vì từ năm 1987 đi làm phim cho xí nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh, ở khách sạn Caravelle tới nay tôi chưa đi thang máy nên đã quên hẳn cách ấn nút gọi tầng. Hơn nữa cũng tò mò muốn khám phá ngôi nhà này để biết được quy mô của Trung Ương Đoàn thời mở cửa ra sao.
Tôi lang thang. Toàn người lạ. Những công việc lạ. Người ngồi trước máy vi tính. Người đang đóng gói những kiện hàng gì đó ngoài hành lang, chắc là sách.
Đến tầng bốn. Gặp Luyến. Luyến reo:
– Anh lên từ bao giờ? Giám đốc chưa đọc xong. Nhưng quyết định sẽ in.
Nét mặt nhà thơ rạng rỡ:
– Chiều nay anh lại em. Ăn cơm ở nhà em. Em sẽ mời anh Ngợi giám đốc, anh Cao Giang biên tập đến ăn cơm và cùng bàn luôn thể.
Luyến cho tôi địa chỉ. Lại một tên phố lạ với tôi. Tôi đã xa Hà Nội quá lâu rồi. Nhưng không sao. Tôi có một anh “xe ôm” tuyệt vời: Nguyễn Đức Tốn, bạn học cùng lớp với tôi, dạy đại học sư phạm đã nghỉ hưu, sẵn sàng thồ tôi tới bất kỳ nơi nào tôi muốn. Tôi ăn trưa với Lê Bầu và điện thoại cho Tốn. Tốn có mặt sau lúc nghỉ trưa. Với chiếc Honda Nhật, anh đưa tôi về nhà anh nghỉ ngơi, rồi đèo tôi tới Đoàn Thị Lam Luyến.
Nhà Tốn rất xa, tận khu Đại Học Sư Phạm. Lại phải quành ra đường cao tốc. Rồi quẹo về phố Hoàng Quốc Việt. Một đường phố dài mệt nghỉ.
Tới giáp sông Tô Lịch, chúng tôi rẽ. Sau khi loanh quanh khá lâu vì những kiểu đánh số nhà làm hoang mang mọi hệ thần kinh vững vàng nhất, chúng tôi tới được nhà Luyến.
Như một tay trong, Luyến báo lại cho tôi tình hình tập sách: Giám đốc đã quyết định in. Kế hoạch bổ sung đã được Cục Xuất Bản duyệt. Em không được biên tập quyển của anh. Mà là anh Cao Giang. Nhưng em sẽ xin với các anh ấy cho em đứng tên biên tập cùng với anh Cao Giang. Anh Phạm Đức vừa được chính thức đề bạt phó giám đốc kiêm tổng biên tập. Anh Phạm Đức rất tốt. Mãi mới được đề bạt. Ngộ nhỡ có làm sao, đáng nghĩ ngợi nhất vẫn là anh Phạm Đức.
Tôi đã gặp Cao Giang ở Sở Giáo Dục Hải Phòng khi anh cùng Lam Luyến về viết chân dung các nhà giáo ưu tú. Trong buổi gặp các nhà giáo ở sở giáo dục, tôi ngồi cạnh Cao Giang. Và để tỏ ra mình là một cây bút có thâm niên, tôi đã kịp nói với Cao Giang rằng tôi còn nợ nhà xuất bản Thanh Niên khá nhiều tiền. Hơn một nghìn đồng. Mà lương trung bình ngày ấy mỗi tháng chỉ sáu chục. Có lẽ các anh ấy đã xoá nợ cho tôi. Tôi nói “các anh ấy” vì đó là những người tiền nhiệm của Cao Giang. Những năm 63, 64 ấy xa quá rồi. Món tiền khá lớn các anh tạm ứng cho quyển tiểu thuyết Hải Đăng của tôi là kết quả của những bức thư kể lể túng thiếu khó khăn — mà Nguyên Bình gọi là những thiên tùy bút kinh tế lâm li làm những người cứng rắn nhất cũng phải mềm lòng — và sự thông cảm của nhà xuất bản ([1]). Cao Giang lơ đãng nghe. Chắc hẳn tôi không gây được ấn tượng gì, anh chẳng có một khái niệm gì về tôi. Hôm nay gặp lại anh ở nhà Luyến, anh nhìn tôi như mới gặp lần đầu, tuy chúng tôi bắt tay nhau như những người quen cũ.
Giám đốc Bùi Văn Ngợi còn trẻ, nghĩa là chỉ ngoài năm mươi. Sau này làm việc với anh, tôi “ngộ” ra một điều: Cái lớp kém chúng tôi chục tuổi, cái lớp trên dưới năm mươi ấy có nhiều người tuyệt vời biết bao!
Thế hệ nào cũng có người đáng yêu, tài năng, tâm huyết. Sự cảm thông giữa con người, giữa các thế hệ là rất lớn, là tuyệt đối. Sự cảm thông ấy vượt qua mọi khoảng cách địa lý, khoảng cách thời gian.
Càng ngày tôi càng thấm thía bài học ấy. Nó làm tôi an tâm hơn khi tuổi già đang đến, khi tôi nghĩ đến lúc mình vĩnh biệt cõi đời này. Người xấu rất nhiều nhưng người tốt cũng rất nhiều. Không ai có thể tiêu diệt hết những người tốt trên đời.
Bùi Văn Ngợi đã là thanh niên xung phong Trường Sơn, là biên tập viên rồi tổng biên tập tạp chí Thanh Niên. Anh có vẻ mặt của một thư sinh với cặp mắt rất linh lợi, nụ cười tươi, gò má xương xương và chiếc cằm hơi nhọn. Tôi nhìn anh vừa tò mò vừa kính trọng. Một người tuyệt vời đang ngồi trước mặt tôi. Một người không thể là ngây thơ, nông cạn khi quyết định in tập sách của tôi. Chỉ có thể là dũng cảm, tâm huyết, đầy trách nhiệm với nhân dân, với đất nước. Một quan chức nhưng chia xẻ với tôi tất cả. Một người duy nhất trong đội ngũ những người làm xuất bản mà tôi gặp dám dấn thân vào chông gai hiểm nguy để tập sách tôi viết đến với bạn đọc. Mà sao anh nhanh nhẹn vui tươi thế. Không một nét lo lắng trong việc in tập sách của tôi. Vẻ hoạt bát lấn át cái sâu sắc trên gương mặt anh, cái sâu sắc và cả thông minh nữa mà sau này làm việc với anh tôi càng hiểu rõ. Ngợi rút từ túi xách hai tập bản thảo khổ A4 của tôi:
– Thú thật với anh Tấn là tôi chưa đọc hết. Mới được năm trăm trang. Còn khoảng bốn chục trang nữa. Lẽ ra đã đọc xong nhưng cậu em tôi nằm bệnh viện. Thành ra hơi bị ngắt quãng. Đêm nay tôi sẽ đọc hết trong bệnh viện. Nhưng tôi đã quyết định in. Đọc vài trang là biết bản thảo như thế nào rồi huống chi chỉ còn bốn mươi trang. Bản thảo tốt. Tôi đánh giá như vậy. Nhưng có điều này chúng ta phải suy nghĩ. Trong năm nay ta và Mỹ sẽ ký hiệp định thương mại. Tập sách của anh vì vậy phải chờ cho đến khi ký xong hiệp định với Mỹ đã. Hiệp định thương mại với Mỹ sẽ đem lại lợi ích to lớn cho đất nước, cho các doanh nghiệp hàng trăm triệu, hàng tỷ đô la. Mọi công việc phải phục tùng lợi ích ấy. Không thể vì tập sách của chúng ta mà để bị ảnh hưởng.
Tôi hơi chững lại. Cái chuyện hiệp định thương mại Việt – Mỹ làm tôi hơi bất ngờ, hơi hẫng.
– Liệu bao giờ mình với Mỹ ký hiệp định thương mại hở anh?
Tôi hỏi vậy vì biết những cán bộ như anh thường được nghe phổ biến tình hình thời sự, nắm được những thông tin mà một người bình thường như tôi không thể biết. ([2])
– Khoảng cuối năm nay. Từ tháng 9 tới tháng 11.
Cũng chẳng lâu. Bây giờ đã là tháng 7 rồi. Tôi thấy chủ nhà Lam Luyến đưa mắt nhìn tôi. Hình như ý kiến này cũng bất ngờ cả với Luyến. Tôi nói vui để làm giảm sự trầm lắng của bầu không khí lúc đó:
– Số phận quyển sách của tôi lại phụ thuộc vào ông Bill Clinton ở tận Washington thì gay quá nhỉ.
Tất cả cười. Giám đốc Bùi Văn Ngợi động viên:
– Theo chỗ chúng tôi biết thì chỉ vài tháng nữa thôi. Cứ phải ký xong với Mỹ đã. Mọi công việc đều phải phục tùng lợi ích ấy. Chúng tôi nhất định in tập sách của anh. Sáng mai mời anh đến nhà xuất bản ký hợp đồng và nhận trước tiền tạm ứng.
Đó là điều tôi không ngờ tới. Đến lúc ấy tôi mới thật tin các anh quyết định in. Không hồ nghi gì nữa. Hơn thế các anh còn tạm ứng tiền nhuận bút. Tôi đâu dám nghĩ tới điều ấy dù lúc nào cũng túng. Vậy là chuyến này về có thể đưa cho vợ ít tiền. Nhưng kìa, Luyến đưa mắt nhìn tôi, bàn tay thõng xuống ghế khẽ xua xua ra hiệu đừng nhận lời. Luyến hơi nhíu mày gửi tới tôi tín hiệu không bằng lòng với ý kiến Ngợi vừa nói. Vẻ phấn khởi trên mặt tôi hẳn là tan rất nhanh. Tôi đến đây chỉ với một bản thảo đã nộp, hoàn toàn không nắm được gì hết, nhất cử nhất động làm theo ý Luyến. Luyến là người tôi quen hơn cả và cũng là người tôi tin rằng muốn tập sách của tôi được in. Tôi lấy giọng hài hước nói với giám đốc nhà xuất bản:
– Cảm ơn anh về dự định ký hợp đồng và tạm ứng đối với tôi. Tôi nợ nhà xuất bản Thanh Niên gần hai nghìn đồng từ những năm 60, nghĩa là một món tiền rất lớn so với hiện nay, tới bây giờ vẫn chưa trả được. Bởi vậy tôi không dám nhận tạm ứng nữa. Với lại tôi cũng hơi duy tâm. Tôi nghĩ có lẽ những lần trước vì nhận tạm ứng nên sách tôi viết không được in. Cho nên lần này tôi sợ. Nhận tạm ứng của các anh, có thể bản thảo của tôi lại bị trục trặc gì chăng…
Luyến lúc bấy giờ mới khẽ khàng:
– Báo cáo giám đốc. Nhà xuất bản có ký hợp đồng tạm ứng cho anh Tấn cũng chỉ được một hai triệu là cùng. Anh Tấn thì kinh tế khó khăn từ lâu rồi. Các cháu cũng đã lo lắng cho bố mẹ được tạm đủ. Phần nhà xuất bản chúng ta chỉ lo sao cho bản thảo hoàn chỉnh, sẵn sàng, khi ký hiệp định là có thể in được ngay.
Bữa cơm ngon. Vừa ăn vừa chuyện. Từ chuyện in ấn, các anh chị hỏi sang chuyện sinh sống của vợ chồng tôi, chuyện học hành làm ăn của các cháu. Trời nóng. Đang là tháng 7. Bia Tiger đá, canh cá quả. Thịt gà… Đại khái là như vậy.
Ăn xong Ngợi đến bệnh viện. Hình như em trai anh đang sống những ngày cuối cùng. Cao Giang cũng ra về. Còn lại tôi, Tốn tài xế xe ôm của tôi và Luyến. Như nhìn thấu những gì tôi đang lo lắng suy nghĩ, Luyến bực dọc bảo tôi:
– Chờ ký hiệp định thương mại với Mỹ thì biết đến bao giờ. Anh cứ để em lo. Em sẽ tìm nơi in ngay, không phải chờ đợi gì cả…
Thì ra cái lý do Luyến huơ tay ngăn tôi không ký hợp đồng, không nhận tạm ứng của nhà xuất bản là như vậy. Đúng là tôi đang hoang mang về việc từ chối tạm ứng, nghĩa là chẳng có gì ràng buộc giữa tôi với nhà xuất bản, chẳng có gì bảo đảm tập sách của tôi sẽ được in ra. Một cơ hội vàng có thể tuột khỏi tay tôi.
– Em đã phô-tô thêm một bản. Đà Linh tuần sau từ Đà Nẵng ra đây. Em sẽ gặp Đà Linh. Không. Tuần sau lâu quá. Mai có chuyến bay vào Đà Nẵng. Mai em phải đi.
Tôi không ngờ hôm sau Đoàn Thị Lam Luyến bay vào Đà Nẵng thật. Tôi không biết Đà Linh là ai, cho đến lúc ấy tôi chỉ biết một người có thể in sách cho tôi. Đó là giám đốc nhà xuất bản Thanh Niên Bùi Văn Ngợi mà tôi đã gặp! Mãi sau mới biết Đà Linh là phó giám đốc nhà xuất bản Đà Nẵng. Và nhiều năm sau này tôi có gặp Đà Linh, trong một buổi rất đông bạn bè từ Hà Nội xuống thăm tôi: Ngoài Nguyên Ngọc, Châu Diên, Dương Tường, Phạm Xuân Nguyên, còn có Đà Linh và Đỗ Hoàng Diệu, hai người bạn mới tên tuổi đang nổi như cồn. Đỗ Hoàng Diệu là tác giả tập truyện ngắn Bóng Đè mà Đà Linh là người chịu trách nhiệm xuất bản. Còn một người nữa: Dương Thắng, một “đầu nậu” sách, ông bầu của Bóng Đè.
Sau này khi đã thân nhau hơn, quan hệ giữa Luyến và tôi không chỉ là quan hệ của một biên tập viên với một tác giả, tôi mới biết Luyến bay vào Đà Nẵng không chỉ vì tôi, hay nói đúng hơn không chỉ vì Chuyện Kể Năm 2000. Trong quá trình cộng tác, hiểu nhau hơn, Luyến đã nói cùng tôi nhiều điều. Chuyến ấy Luyến bay vào Đà Nẵng còn để gặp một người bạn trai, một kỹ sư điện tử, đang có ý định chuyển sang nghiệp văn chương bằng nghề dịch tiểu thuyết từ tiếng Anh, tiếng Pháp. Trong khi đọc tập bản thảo của tôi, mặc dù tôi đã dặn hết sức giữ bí mật, không để một người thứ hai biết và đọc, Luyến vẫn thấy cần có người chia xẻ. Luyến bảo:
– Tháng ấy em mất hơn một triệu tiền điện thoại. Chỉ để đọc cho ông ấy nghe những đoạn trong tiểu thuyết của anh.
Cũng là sau này khi đã thân, Luyến mới nói cho tôi biết thái độ của các anh nhà xuất bản đối với tôi khi mới đọc xong bản thảo. Trước tiên, các anh hơi ngỡ ngàng về chuyện có một người tên là Bùi Ngọc Tấn tác giả tập bản thảo này. Nhất là  lại từng ở báo Tiền Phong. Cần phải tìm hiểu thêm về . Đó là một điều thú vị thì đúng hơn một sự nghi ngờ. Cái tên Bùi Ngọc Tấn quá mới. Dễ hiểu thôi. Trước khi bị bắt, tôi chỉ là người mới vào nghề, chỉ những ai thuộc thế hệ tôi lúc ấy mới biết đến tôi. Tôi đã thành danh đâu.
Để tăng thêm niềm tin về chuyện có một gã Bùi Ngọc Tấn là tác giả tập sách, Lam Luyến đưa ra tập truyện ngắn Những Người Rách Việc in năm 1996, tôi tặng Luyến, và sang nhà xuất bản Hội Nhà Văn kiếm được quyểnMột Thời Để Mất của tôi in ở đấy năm 1995 mang về. Rồi biết tôi mới in tập truyện ngắn Một Ngày Dài Đằng Đẵng, nhà xuất bản Hải Phòng năm 1999, các anh ra hiệu sách tìm mua về một quyển. Ba tập sách gần 600 trang tôi viết trong thời gian “ủ” Chuyện Kể Năm 2000 đủ thuyết phục các anh về một gã Bùi Ngọc Tấn. Đến lúc ấy các anh Bùi Văn Ngợi, Phạm Đức, Cao Giang, Lê Hùng… và có thể cả Lam Luyến nữa mới biết có một người như vậy đang sống trên cuộc đời này. Sự phát hiện trở thành một niềm cảm thông sâu sắc trong bữa cơm trưa đầu tiên chúng tôi ăn với nhau ở quán cơm Ngô Văn Sở.
Phố Ngô Văn Sở đã khác nhiều so với khi tôi còn ở đó, nhất là cái phố nhỏ Trương Hán Siêu đâm ngang chạy song song với đường Bà Triệu. Một phố biết bao thân thiết với tôi mà mấy chục năm rồi tôi mới đặt chân tới. Những khoảnh đất bao quanh những ngôi biệt thự xinh xinh đều biến thành cửa hàng cửa hiệu mặt tiền. Thay cho cành lá tươi xanh là bóng loáng những nhôm kính, những hàng hoá nhiều mầu sắc. Khi bốn chúng tôi — Phạm Đức, Cao Giang, Lam Luyến và tôi — đã ngồi quanh chiếc bàn ăn trên gác hai, khi các cháu phục vụ đã đem bia tới và chúng tôi đã uống ngụm bia đầu tiên, tôi giật mình, đặt cốc xuống bàn, chạy ra cửa sổ nhìn sang bên kia đường. Đúng rồi. Ngôi nhà đối diện bên kia đường là nơi ở tập thể của báo Tiền Phong. Chính tôi đã ở đấy. Bóc đi lớp vỏ nhôm kính phía ngoài, bóc đi mấy quầy đặt những máy phô-tô cop-py, những chai dầu gội đầu… thì ngôi biệt thự nhỏ xinh kia chính là nơi tôi đã ở trong những tháng năm đẹp nhất đời tôi. Dù không trông thấy những cánh cửa chớp, dù cái cổng gỗ chạy trên đường ray không còn nữa. Dù cái sân sau rộng rãi đã bị lấn, bị thu hẹp lại, tôi vẫn nhận ra. Từ cái sân ấy, bước qua cửa, là một cầu thang gỗ. Chiếc cầu thang lên tầng hai không có chiếu nghỉ mà lượn cong, cô nữ sinh trường phổ thông cấp ba Lý Thường Kiệt xách cặp lồng đựng bánh mì và bít tết vừa làm ở nhà còn nóng đến cho tôi nằm ốm trên chiếc giường cá nhân. Dù tất cả anh em đã sang cơ quan làm việc, cả ngôi nhà chỉ còn mình tôi, nàng vẫn bước những bước nhẹ nhàng rón rén. Kỷ niệm không còn một trời mây Đông Bắc. Mái tóc mắt yêu tiếng guốc nhẹ rụt rè thang gác. Câu thơ tôi nhẩm trong đêm thăm vợ báo tin Đinh Chương bị bắt, từ bệnh viện Hà Sắn trở về ngồi một mình trong buồng tối chờ nộp mạng chính là để nói tới cái cầu thang ấy, tới thời gian chúng tôi yêu nhau, vợ tôi còn là cô nữ sinh tóc xoã…
– Chính là nhà anh ở cũ đấy.
Cao Giang, Phạm Đức đã đứng cạnh tôi.
– Vâng. Chúng tôi ở tầng trên. Bên dưới là gia đình anh Tạ Văn Bảo.
– Anh Tạ Văn Bảo vẫn ở đấy. Kia kìa. Vẫn cái buồng ấy. Chỗ ô hẹp hẹp để máy phô-tô cop-py là anh ấy xây thêm ra cho con anh ấy làm. Anh Tạ Văn Bảo đã làm giám đốc nhà xuất bản Thanh Niên chúng tôi.
Khi tôi ở báo Tiền Phong, Tạ Văn Bảo làm trưởng phòng thanh niên công nhân. Tôi nhớ đến người trưởng phòng thanh niên nông thôn của tôi ngày ấy: Anh Đỗ Văn Thoan. Cao Giang bảo:
– Anh Đỗ Văn Thoan cũng đã làm giám đốc xuất bản Thanh Niên. Nghỉ hưu rồi. Anh ấy ở ngay cạnh nhà tôi. Anh Thoan đang bị ung thư di căn.
Tôi đã nhận ra tất cả. Không chỉ nhận ra ngôi nhà tôi đã ở cách đây non nửa thế kỷ, tôi còn nhìn thấy ngôi nhà sát nó, phía bên kia, dù đang bị che khuất. Ngôi nhà có căn buồng anh chị Xuân Thu trên tầng hai, người anh con bác tôi mà tôi quý như anh ruột, căn buồng tôi đã đổi tên là căn buồng anh chị Diệu, căn buồng thần tiên mà cô nữ sinh tôi yêu mua xôi ruốc xôi lạp xường, gọt mắc coọc, pha nước chanh và gọi tôi bằng em: Em để yên chị làm. Cứ quấy chị thôi, hư lắm, căn buồng tôi đã ngủ hai đêm khi từ trại Vĩnh Quang ra tù về Hà Nội rồi mới lên tầu hỏa về Hải Phòng với vợ con…
“Thời xưa của anh đấy. Anh nhận ra rồi chứ?”
Cái nắm tay của Phạm Đức nói vậy cùng tôi. Tôi không chỉ là một tác giả với ban biên tập, một người viết ra tập sách mang nhiều tự sự với những thăng trầm mà còn đã từng là một cán bộ Trung Ương Đoàn như các anh các chị. Giữa chúng tôi còn có cái tình của những người cùng gốc gác cơ quan, nhất là cơ quan Trung Ương Đoàn, một tổ chức của tuổi trẻ nhiều mơ ước khát vọng lãng mạn. Các anh chị rất thông cảm với tôi, một kẻ lận đận, vất vả nhưng vẫn làm việc và không chịu thua, không chịu đo ván. Tôi có thể nói vậy mà không sợ chủ quan. Điều ấy càng được chứng minh trong những lần sau, khi tôi làm việc với nhà xuất bản.
Cao Giang, trưởng phòng biên tập văn nghệ, một biên tập viên già dặn kinh nghiệm, một đảng viên và hình như cả một cấp uỷ nữa, biên tập cho tôi. Anh nhận ra những người quen trong tập sách. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy anh quen hầu hết các bạn tôi.
– Anh Vũ Bão đến đây luôn. Kỳ này chúng tôi in cho anh ấy tập hồi ký. Tập ấy cũng rất căng.
– Dạo tôi làm xuất bản bên Liên Xô, có nhận nhuận bút mang về Việt Nam cho anh Hứa Văn Định.
Cao Giang nói vậy vì trong tiểu thuyết của tôi có những cái tên ấy. Anh yêu cầu sửa. Tất cả tên bè bạn và cả tên anh Nguyễn Văn Phổ nữa. Nguyễn Văn Phổ được anh đích thân đổi thành Nguyễn Văn Phố.
Với các bạn tôi, tôi thay đổi hoặc tên hoặc họ. Rất dễ dàng. Nhưng với anh Nguyễn Văn Phổ, tôi có lời thưa lại. Tôi nhớ đến bộ quan áo số bạc mầu của anh Phổ. Tới mái đầu húi cua của Phổ. Tới cái gáo nước bằng tôn hoa thõng một bên tay khi anh đi làm, khi anh về trại. Tôi nhớ câu nói của anh làm nhói lòng tôi:“Tôi đi tù năm vợ tôi 33 tuổi. Năm nay vợ tôi 51 tuổi rồi.”
Tôi nhớ ngày tôi đến Thanh Xuân Bắc thăm anh khi cả hai chúng tôi đã được ra tù. Chúng tôi ôm lấy nhau. Câu đầu tiên tôi hỏi anh là hỏi về chị Phổ, người phụ nữ “chờ chồng từ năm 33 tuổi đến năm 51 tuổi vẫn chờ đợi và không chịu tuyệt vọng.”([3])
– Chị đâu rồi anh?
– Nhà tôi vào Sài Gòn đi tu rồi.
Quá bất ngờ. Tôi chỉ muốn kêu trời. Hoặc thét lên một tiếng. Nhưng họng tắc nghẹn.
– Chị tu ở đâu. Anh cho tôi địa chỉ. Tôi sắp vào trong ấy. Để tôi đến thăm chị.
Phổ lấy giấy bút. Tôi nhìn theo tay anh:
Sư cô Trí Tuệ
Tĩnh xá Tòng Lâm
260 Nguyễn Thị Minh Khai (Xô Viết Nghệ Tĩnh
cũ) Quận 3. Thành phố Hồ Chí Minh.
Đưa tờ giấy cho tôi, anh hỏi:
– Anh có đọc được không?
Tôi ngơ ngác, không biết anh hỏi gì.
– Mắt tôi không nhìn thấy gì nữa. Tôi viết theo quán tính. Tôi nhận ra anh vì nghe giọng nói của anh.
Tôi khóc. Hôm ấy tôi đã không giữ được nước mắt. Những giọt nước mắt nóng bỏng. Những giọt nước mắt lặn vào trong. Suốt thời gian ở tù, cùng một toán, cùng là tổ trưởng, chưa một lần Phổ nói với tôi vì sao anh phải vào tù, vì sao anh tù lâu đến thế. Trong tù không ai nói với ai điều vì sao ấy. Chỉ đến khi chiếc máy bay không người lái của Mỹ bay qua khu vực trại, tiếng rầm rầm trên trời ập đến rất nhanh và tắt đi cũng rất nhanh để lại dấu vết là một vệt khói mảnh vắt ngang bầu trời rất lâu mới tan, Nguyễn Văn Phổ ngước mắt nhìn vệt khói nói một mình:
– Tiên sư cái thằng Mỹ. Mình bị nghi là gián điệp Mỹ mà nó còn mạnh thế này thì đến bao giờ được ra hở giời?
Anh chỉ nói vậy. Qua đó chúng tôi biết anh bị nghi làm gián điệp cho Mỹ. Theo nhiều người kể lại, Nguyễn Văn Phổ tham gia quân đội ngay trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp năm 1946. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người ký giấy cho anh trở vào Hà Nội hoạt động tình báo. Tổ tình báo của anh có ba người. Anh, nhà văn Vũ Bằng, và một đảng viên ít tuổi nhất làm tổ trưởng. Năm 1954, khi hiệp nghị Genève được ký kết, cả tổ được lệnh chuyển vào Nam, nhưng Phổ đã xin được ở lại Hà Nội. Ít ngày sau anh bị bắt vì tội đã đốt — hay định đốt? — nhà in Ideo.([4]) Anh bị xử tù 15 năm. Sau đó xử lại, mức án rút xuống còn 8 năm rưỡi, và thực tù hơn 17 năm. Anh cười:
– Cái tổ tình báo của tôi chỉ có mỗi Vũ Bằng là không bị bắt. Cái anh tổ trưởng đảng viên ít tuổi kia khi vào Nam cũng bị ta bắt như tôi. Vũ Bằng thật là may…
Rồi anh rủ rỉ:
– Tôi về được ít ngày thì một cô sĩ quan công an đến nói năng rất lễ phép, tế nhị. Bác làm cho chúng cháu cái thu hoạch. Cháu biết bác cũng chẳng muốn nghĩ đến những chuyện ấy nữa nhưng đây là ý kiến cấp trên của cháu. Tôi bảo: Cô nói tôi cũng làm nữa là cấp trên của cô. Tôi viết. Cuối cùng nó lại như một bản thanh minh anh ạ. Mới nghĩ nộp ngay cũng phí. Tôi đem thuê đánh máy. Gửi Viện Kiểm Sát một bản. Tháng sau đến Viện Kiểm Sát. Anh cán bộ phụ trách việc của tôi rất phấn khởi nói: Việc của bác thế nào cũng được xử lại. Cháu đang trình viện trưởng. Nửa tháng nữa mời bác quay lại. Y hẹn, tôi tới. Anh cán bộ kiểm sát ỉu xìu: Không xong rồi bác ơi. Đồng chí viện trưởng không duyệt. Tôi cũng chẳng nghĩ ngợi gì. Tù thì tù rồi. Cũng sắp về với tổ tiên rồi. Bẵng đi lâu lâu, đã quên hẳn chuyện khiếu nại, thì anh cán bộ viện kiểm sát tới nhà: Bác ơi! Bác làm sổ hưu đi. Vụ của bác xử lại rồi. Trắng án.
Tôi mừng cho anh. Anh nói cả ba lần xử đều không có mặt anh. Tôi bàn với anh về việc đòi bồi thường, nhưng anh lại quan tâm đến một chuyện khác: Làm thế nào lấy lại được cái nhà của anh. Một biệt thự ở phố Nguyễn Gia Thiều!
Tôi khuyên anh nên thực tế một chút bằng chính kinh nghiệm của mình:
– Không được đâu anh ơi. Gia đình vợ tôi đấy. Có hai ngôi nhà phố Mai Hắc Đế, mở nhà in, nhà in Giang Tả in báo Cờ Giải Phóng cho các ông ấy. Thế mà bây giờ có đòi được đâu. Bao nhiêu hộ, bao nhiêu chủ rồi. Trước bạ lại không còn…
Anh ngắt lời tôi:
– Trước bạ tên tôi. Tôi vẫn giữ.
Thế thì lại là chuyện khác. Vẫn còn tí chút hy vọng.
Anh tiếp:
– Nhà tôi cực dễ nhưng cũng cực khó…
– Thế nghĩa là sao anh?
– Nhà tôi Trung Ương đảng lấy làm trụ sở Ban Đối Ngoại.
Tôi kêu lên:
– Thế thì nhà anh phải hàng vạn cây vàng!
Tôi đã hiểu nội dung cực dễ nhưng cũng cực khó của anh. Người ta muốn giải quyết, chỉ một câu nói là xong. Anh thở dài:
– Khó lắm.
B.N.T.
([1])Thực ra tôi không vay chằng vay bửa rồi xù, quyển Hải Đăng của tôi đã được các anh vào kế hoạch và giục tôi đưa in nhưng tôi cứ nấn ná sửa thêm, và ít ngày sau tôi bị bắt, bản thảo bị tịch thu.
(2)Vẫn còn tình trạng phân phối thông tin theo cấp bậc ấy, nó tạo ra một sự phân biệt đối xử, phân biệt lòng tin và phần lớn người được tin cậy hơn thấy rằng mình phải làm thế nào để xứng đáng với sự tin tưởng ấy.
(3) Trích Chuyện Kể Năm 2000.
(4) Bởi thực ra nhà in Ideo có cháy bao giờ đâu!
(Xem tiếp kỳ sau)
Phần nhận xét hiển thị trên trang