Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2015

CHỮ “L” NGƯỢC VÀ 2 VỤ THẢM SÁT CHẤN ĐỘNG

Có nhiều điểm tương quan trùng hợp ngẫu nhiên hay chính là sự sắp đặt của số phận trong vụ thảm sát 6 người ở Bình Phước vừa qua. Đó chính là yếu tố về phong thủy trong việc xây dựng nhà cửa. Chữ L ngược trong vụ thảm sát này cũng “vô tình” trùng với chữ L ngược trong vụ thảm sát của sát thủ Lê Văn Luyện.
Cổng nhà ông Mỹ ở Bình Phước
Trong những vài vừa qua, dư luận đã rất bàng hoàng và quan tâm theo dõi diễn biến cũng như tình tiết mới của vụ thảm sát này, nóng lòng muốn tìm ra hung thủ từ cơ quan chức năng. Tối qua, ngày 10.7, các cơ quan chức năng đã bắt được 2 nghi phạm là Nguyễn Hải Dương (sinh năm 1991), quê An Giang, nghi phạm thứ hai tên Vũ Văn Tiến (sinh năm 1991). Các nghi can đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình Tuy nhiên, công an vẫn đang mở rộng điều tra vụ án để tạo sự chính xác, minh bạch nhất, xử lý đúng người đúng tội, những nút thắt cần được sáng tỏ.
Trong vụ thảm sát 6 người ở Bình Phước đang gây hoang mang trong dư luận đã làm những người quan tâm liên tưởng đến vụ thảm sát của Lê Văn Luyện ở Bắc Giang cách đây 4 năm. Điểm chung đó là nhắm vào những người giàu có, ra tay bằng thủ đoạn vô nhân tính, tận diệt đến người cuối cùng và vẫn còn một mầm sống sót. Tuy nhiên, còn một điểm chung nữa về phong thủy mà mọi người ít bàn đến, đó là dáng chữ L ngược trong hai vụ thảm chấn động này
Hai gia đình bị thảm sát có cùng dáng chữ L ngược
Theo phong thủy, chữ L ngược ở phần cổng tựa như cái máy chém, là thế nhà phạm Đoạn Hổ Sát và là một thế nhà rất xấu. Nhà hình chữ L được coi là xấu vì nó trông giống cao dao phay và vị trí đại hung (xấu nhất) là chỗ “lưỡi dao”. Nếu phòng trẻ em đặt ở vị trí này, chúng sẽ cảm thấy bị cô lập và có thể nghĩ ra nhiều trò quỷ quái mà không ai phát hiện được. Nếu người lớn tuổi ở trong phòng đó, họ có thể cảm thấy bị bạc đãi.
Thêm nữa là nhà xưởng hình chữ L như một lưỡi đao chém vào phần nhà ở. Đây là thế nhà phạm phải Đao Trảm Sát. Về phong thủy cần có hàng rào ngăn cách bảo vệ nhưng ở đây hoàn toàn không có. Nhà xưởng lại ở ngay sau lưng nhà, sẽ tạo ra sự bị động tất yếu, người sống trong nhà luôn có sự bất an.
Tiệm vàng Ngọc Bích trong vụ thảm sát ở Bắc Giang
Mặt khác, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy nhìn thấy dáng cổng của gia chủ ở Bình Phước và dáng ở khung cửa trên tầng của chủ tiệm vàng Bắc Giang có “tương đồng đáng sợ”gói gọn trong chữ L ngược. Có thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng đây là điều đáng để suy nghĩ về phong thủy mà không ai có thể phủ nhận được.
Ngoài ra, 2 chữ L ngược này đáng sợ và nghiệt ngã hơn, khi tạo ra 2 vụ thảm sát gây chấn động dư luận trong cả nước. Đưa hai vụ án này trở thành tâm điểm của dư luận trong thời gian dài, bởi hành động gây ra đều rất dã man và sát đến tận cùng. Nhẹ nhõm nhất cho dư luận trong vài ngày qua, đó là sự sống sót của em bé 18 tháng tuổi, đây cũng là một điểm trùng khớp với sự thảm sát của Lê Văn Luyện khi bé Ngọc Bích – con của chủ nhà cũng may mắn sống sót.
Sự trùng khớp về 2 chữ L ngược đã vượt qua cái giới hạn của ngẫu nhiên mà đã lớn hơn trong hai chữ sinh mệnh của con người. Đây là vấn đề nhạy cảm và phức tạp thuộc về một phạm trù không cùng tận “phong thủy”.
Hy vọng rằng, sự vọng này sớm sáng tỏ để những nạn nhân vô tội được yên nghỉ.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thị trường chứng khoán đổ sập sẽ cuốn kinh tế Trung Quốc xuống bùn


 Thiên Hà - Một Thế Giới – 10 July 2015
trungquoc-kinhte2
Những ngày qua, tin tức liên tục về sức khỏe suy yếu trầm trọng của thị trường chứng khoán Trung Quốc đã khiến cho giới đầu tư cả thế giới hoang mang. Điều quan trọng nhất, nếu thị trường chứng khoán đổ sập sẽ cuốn kinh tế Trung Quốc xuống bùn thì khi đó một cuộc khủng hoảng kinh tế mới lại bắt đầu.
Sức khỏe của nền kinh tế Trung Quốc ngày nay rất quan trọng với thế giới, đặc biệt là khi nước này đã là nền kinh tế lớn thứ 2 toàn cầu và thế giới chỉ mới phải trải qua một cuộc khủng hoảng tài chính vào 7 năm trước nên việc thị trường chứng khoán đổ sập sẽ cuốn kinh tế Trung Quốc xuống bùn có thể làm cho kinh tế toàn cầu suy thoái một lần nữa.
Thật khó có thể tin, chỉ một năm trước bỗng nhiên thị trường chứng khoán Trung Quốc tăng trưởng một cách kinh khủng khi mà chỉ trong vòng 7 tháng vốn hóa toàn thị trường tăng gấp đôi, số công ty niêm yết lên sàn cũng tăng chóng mặt, thế rồi chỉ trong vài tuần qua từ đầu tháng 6 đến nay, thị trường này đã bốc hơi hơn 30% khiến chính phủ Trung Quốc phải ra tay bảo vệ thị trường.
Bảo vệ bằng mọi giá
Trung Quốc đã làm mọi cách để bảo vệ thị trường chứng khoán của mình, dù đa phần phương thức của họ chỉ có lợi trong tính ngắn hạn.Theo chỉ đạo của cơ quan chức năng, các vụ phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) bị hoãn lại, các quy định về cho vay ký quỹ chứng khoán được nới lỏng, thậm chí các nhà đầu tư được phép dùng căn nhà của họ để cầm cố vay tiền mua cổ phiếu.
Chính sách trên không ăn thua, thế là ngày 27.6, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBoC) cắt giảm lãi suất cơ bản và giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc tại một số ngân hàng thương mại.
Vài ngày sau, PBoC “tung tiền” ra cung cấp hỗ trợ tài chính cho một nhóm gồm 21 công ty môi giới chứng khoán cam kết mua 120 tỉ nhân dân tệ (tương đương 19,3 tỉ USD) cổ phiếu và nắm giữ lượng cổ phiếu này trong 1 năm để kìm đà giảm giá
Tiếp đó, ngày 8.7, Ủy ban Chứng khoán Trung Quốc ban lệnh cấm cổ đông với cổ phần trên 5% tại các công ty niêm yết, các nhà điều hành doanh nghiệp và thành viên hội đồng quản trị bán ra cổ phiếu trong vòng 6 tháng.
Giá vẫn giảm kịch sàn
Nhưng cho đến nay, các động thái trên của Bắc Kinh hầu như không phát huy được tác dụng cứu thị trường nếu không muốn nói là chúng còn làm khủng hoảng lòng tin của các nhà đầu tư hơn trước.
Kể từ mức đỉnh thiết lập hôm 12.6, chỉ số Shanghai Composite Index đến nay đã sụt khoảng 32%, trong đó có những phiên chỉ số này sụt trên 5%.
Áp lực bán ra trên thị trường chứng khoán Trung Quốc căng thẳng đến nỗi vào ngày 8.7, khoảng 1.300 công ty niêm yết đã dừng giao dịch cổ phiếu trên các sàn chứng khoán ở Trung Quốc, khiến lượng cổ phiếu trị giá 2,6 nghìn tỉ USD bị đóng băng, tương đương 40% tổng mức vốn hóa của thị trường.
Ngày 7.7, đến lượt thị trường chứng khoán Hồng Kông theo chân thị trường đại lục rơi vào trạng thái thị trường giá xuống (bear market), hôm 8.7 tới lượt thị trường chứng khoán Mỹ cũng bị lôi theo đà giảm giá.
Sẽ kéo kinh tế Trung Quốc xuống bùn
Lo lắng trước “sức khỏe” của thị trường chứng khoán Trung Quốc, mặc dù so với năm ngoái giá trị toàn thị trường vẫn đang ở mức tăng 8%, nhưng IMF vừa thông báo dự đoán mức tăng trưởng kinh tế năm nay của Trung Quốc chỉ là 6,8%.
Con số 6,8% vẫn có thể là một con số cao so với mặt bằng chung của thế giới, tuy nhiên đối với Trung Quốc việc tăng trưởng dưới 7% một năm có thể được xem là trì trệ, và nguy hiểm vì Trung Quốc vốn là một nước xuất khẩu chính.
Khi bong bóng chứng khoán vỡ, nó cơ cản trở những nỗ lực giải cứu các công ty bất động sản, doanh nghiệp và chính quyền địa phương nợ đầm đìa của chính phủ Trung Quốc.
Những “bữa tiệc” tín dụng và đầu tư mạnh cho cơ sở hạ tầng và các dự án nhà ở đã giúp nước này đạt tốc độ tăng trưởng GDP hằng năm 10% trong thời gian từ 1980 – 2012. Giờ đây, kinh tế Trung Quốc chỉ còn tăng trưởng 7% mỗi năm và ngập trong nợ nần từ việc thị trường nhà đất bị tụt giảm.
Không chỉ có như vậy, chứng khoán gần đây được xem là một kênh huy động vốn hữu hiệu của những công ty đáng lý ra phải phá sản. Cứ lên sàn là có “một mớ tiền”, để tránh điều đó xảy ra, những công ty này như những tế bào ung thư thay vì phải được loại bỏ khỏi nền kinh tế, thì lại được “di căn” sang thị trường chứng khoán.
Kết quả là nếu lấy hệ số giá/thu nhập (P/E) là căn cứ để so sánh, các cổ phiếu thuộc chỉ số Shanghai Composite Index đắt gấp 3 lần so với cổ phiếu ở bất kỳ thị trường nào trong số 10 thị trường chứng khoán lớn nhất thế giới.

Trung Quốc bưng bít các vụ tự tử vì chứng khoán?

Thảo Mai – Bizlive – 11 July 2015

Nạn nhân đầu tiên là các tờ báo dám đưa tin về những vụ tự tử vì chứng khoán, tờ Epoch Times cho hay.

Sau khi bứt phá lên đỉnh cao 7 năm vào tháng Sáu, thị trường chứng khoán Trung Quốc đã quay đầu “rơi tự do”. Chỉ số Shanghai Composite trên sàn Thượng Hải sụt tới 29% chỉ trong vài tuần.
Tính từ khi thị trường chạm đỉnh vào ngày 12/6, hơn 2,5 nghìn tỷ USD giá trị cổ phiếu đã bốc hơi, nhóm lên một cơn hoảng loạn chính trị.
Bộ Tài chính và các nhà môi giới lớn đã ra tay, hứa hẹn bơm gần 20 tỷ USD vào thị trường để ổn định giá cả.
Tính đến ngày 8/7, gần một nửa số công ty đã ngừng giao dịch trên sàn giao dịch Thượng Hải và Thâm Quyến. Điều này đồng nghĩa giá cổ phiếu sẽ bị đóng băng tại thời điểm giao dịch cuối cùng, “nhốt” luôn vốn liếng của nhà đầu tư.
Ngoài thị trường, chính quyền Bắc Kinh cũng có những biện pháp mang tính “đặc thù”: Dập tắt các tin đồn không có lợi, hô hào người dân tiếp tục bỏ tiền mua cổ phiếu thông qua các đầu báo nhà nước.
“Nạn nhân” đầu tiên của chiến dịch này là các tờ báo dám đưa tin về những vụ tự tử vì chứng khoán.
Ngày 4/7, Ủy ban điều hành chứng khoán Trung Quốc tuyên bố xử phạt ba công ty truyền thông Trung Quốc vì đã đưa “thông tin giả mạo”. Văn Phòng an ninh công cộng còn được huy động hỗ trợ vụ việc.
Những bài báo bị điều tra vì đưa tin về các vụ nhảy lầu hay tự sát tại Trung Quốc thời gian qua. Tuy nhiên giới chức tuyên bố các vụ việc này không xuất phát từ việc nạn nhân mất tiền vì chứng khoán. Họ cũng không trình bày chi tiết quy trình đi tới kết luận này.
“Chính quyền Trung Quốc đang ra sức điều tra nguồn gốc của những tin đồn để người dân không dám đăng tải lên mạng những vụ tự tử vì chứng khoán”, ông Zhu Xinxin, cựu biên tập viên tại Đài Phát thanh nhân dân Hà Bắc, cho hay.
Bắc Kinh lo ngại những thông tin thất thiệt như vậy có thể dẫn đến bất ổn xã hội. Ông Zhu cho biết trong quá khứ, những vụ thị trường chứng khoán sụp đổ từng gây ra tình trạng hoảng loạn trong người dân.
Khi các thông tin tiêu cực bị xóa sổ, thì nhiều đầu báo nhà nước như Tân Hoa Xã hay Nhân dân nhật báo hối hả chạy tin ca ngợi thị trường với những dòng tít rất kêu như: “Tự tin trong việc duy trì một thị trường chứng khoán ổn định”, “Niềm tin vào thị trường chứng khoán ổn định và lành mạnh” hay “Giao dịch chứng khoán là một quá trình trau dồi”.
Một trong các bài báo khẳng định: “Thị trường đã trải qua 20 năm phát triển. Nó hoàn toàn có khả năng thoát khỏi cuộc khủng hoảng tạm thời lần này. Thật nguy hiểm khi bán tháo thiếu suy nghĩ khi chỉ số đi xuống, trong khi thực tế là thị trường đang được điều chỉnh”.
Song hành theo đó là những câu chuyện giàu có qua đêm nhờ chứng khoán.
Tờ Legal Evening News đưa tin cụ bà Sun 78 tuổi đã dành 20.000 nhân dân tệ (3.215 USD) để mua cổ phiếu vào năm 1994. Tính đến ngày 10/6, trị giá của của chúng đã vọt lên 600.000 nhân dân tệ (96.500 USD).
“Tôi dự đoán và giao dịch cổ phiếu bằng cách theo sát các chính sách của chính phủ”, tờ báo dẫn lời bà Sun.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Nam Hải đánh giá thế nào về quan hệ Việt - Mỹ?


Trung Nam Hải với vai trò là 'chướng ngại vật mang tính tự nhiên' của quan hệ Việt - Mỹ hiểu rõ như lòng bàn tay nên vẫn "mắt lạnh bàng quan" không thèm để ý.
Tờ Phương Đông xuất bản tại Hồng Kông hôm nay có bài xã luận: "Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Namthăm Mỹ, Trung Nam Hải mắt lạnh bàng quan" cho rằng, quan hệ Việt - Mỹ phát triển chắc chắn sẽ động đến quan hệ Trung - Việt.
Trung Quốc là "vật chướng ngại tự nhiên của quan hệ Việt - Mỹ"
Cũng như các tờ báo của nhà nước Trung Quốc, Phương Đông xoáy vào chi tiết Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng không nắm chức vụ nào trong bộ máy Nhà nước, Chính phủ mà "được" ông Obama tiếp ở phòng Bầu Dục của Nhà Trắng. Điều này cho thấy truyền thông Trung Quốc không hiểu gì về lịch sử, và cũng không biết gì về người Mỹ - PV.
Tuy nhiên Phương Đông nhận định, đây là dấu hiệu cho thấy Mỹ thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Washington không có ý lật đổ chính quyền Việt Nam mà chỉ muốn phát triển quan hệ, củng cố lòng tin giữa hai nước.
Phương Đông cho rằng kể từ khi bình thường hóa quan hệ, quan chức cấp cao 2 nước Việt - Mỹ thường xuyên thăm viếng nhau cho đến việc đàm phán TPP hôm nay, thậm chí là lĩnh vực giao lưu hợp tác quốc phòng vốn "nhạy cảm" (đối với Trung Nam Hải) cho thấy quan hệ Việt - Mỹ cũng "gần như đồng minh" bởi lẽ người Mỹ muốn "câu con cá to phải có mồi lớn"?!
Vẫn thủ đoạn quen thuộc tuyên truyền chống phá quan hệ Việt - Mỹ thường thấy của truyền thông nhà nước Trung Quốc, Phương Đông cho rằng "giá trị chiến lược lớn nhất của Việt Nam là kiềm chế Trung Quốc"?!
Luận điệu của Phương Đông xem chừng cũng "na ná" Thời báo Hoàn Cầu: "Mỹ chỉ lợi dụng vấn đề Biển Đông để ly gián quan hệ Trung - Việt nên việc Hoa Kỳ mời ông Nguyễn Phú Trọng sang thăm chính thức là một chiến lược đối với Việt Nam. Còn phía Việt Nam đang phải chịu áp lực rất lớn từ Trung Quốc ở Biển Đông, cần mượn sức mạnh của Mỹ để cân bằng với ảnh hưởng của Trung Quốc.
Người Việt hy vọng mua được vũ khí trang bị 'giá rẻ' một chút từ Hoa Kỳ, thậm chí Hà Nội còn hy vọng rằng, nếu chẳng may Trung - Việt xảy ra chiến tranh ở BIển Đông thì Mỹ có thể ra tay nghĩa hiệp, thậm chí rút đao tương trợ"?!
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Mỹ Barack Obama tại Nhà Trắng.
Phương Đông kết luận: "Trung Nam Hải với vai trò là 'chướng ngại vật mang tính tự nhiên' của quan hệ Việt - Mỹ hiểu rõ như lòng bàn tay nên vẫn "mắt lạnh bàng quan" không thèm để ý. Trục quan hệ tam giác Mỹ - Việt - Trung hình thành cũng bởi Biển Đông, nếu Biển Đông sóng yên biển lặng thì Trung - Việt lại gần chống Cách mạng màu của Mỹ, nếu Biển Đông nổi bão, Mỹ - Việt lại cùng liên thủ đối phó với Bắc Kinh. Quan hệ 3 bên chỉ là lợi dụng và chống lợi dụng, phát triển trong sự cảnh giác lẫn nhau".
Đài Phát thanh Quốc tế Trung Quốc ngày 10/9 có bài xã luận với luận điệu không khác. Đài này kết luận rằng: "Quan hệ Việt - Mỹ bề ngoài xích lại gần nhau, nhưng thực chất không bên nào yên tâm hợp tác với bên nào. Mỹ là một nước dân chủ, lẽ tự nhiên xung đột với chế độ xã hội chủ nghĩa?!"
Ô hay, nếu nói về sự khác biệt chế độ chính trị, hệ thống chính trị là lý do để đối đầu thay cho đối thoại thì năm 1959 Tổng thống Dwight Eisenhower đã không mời Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Khrushchev thăm Mỹ, cũng làm gì có chuyện Richard Nixon thăm Trung Quốc năm 1972 gặp Mao Trạch Đông?
Nếu nói tương đồng về ý thức hệ, tại sao Trung Quốc muốn phát triển quan hệ với Hoa Kỳ nhưng lại lôi chiêu bài ý thức hệ ra chống phá quan hệ Việt - Mỹ? Đối thoại là một xu thế không thể đảo ngược của thời đại. Muốn đối thoại, đầu tiên phải có sự tôn trọng và thừa nhận lẫn nhau. Người Mỹ hiểu điều này, người Việt hiểu điều này, trò trẻ con của truyền thông Trung Quốc chẳng thể mảy may tác động. Càng điên cuồng chống phá, càng bộc lộ dã tâm! PV.
Trục quan hệ Mỹ - Việt - Trung và cảnh báo của cụ Nguyễn Du
Kinh dị hơn, ngày 8/7 Thời báo Hoàn Cầu, một trong những cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc ra bài xã luận: "Việt Nam không thể giống trẻ con chạy vào vòng tay của Mỹ" với những luận điệu kích động, miệt thị không thể tưởng tượng nổi: "Hà Nội không thể không lo lắng, Washington đưa cho viên kẹo, thực chất là một viên thuốc độc". Những lời lẽ này của Thời báo Hoàn Cầu và truyền thông nhà nước Trung Quốc đúng là "thuốc độc", nhưng họ đang đầu độc chính người Trung Quốc, còn người Việt và người Mỹ đã biết từ lâu.
Cỗ máy tuyên truyền khổng lồ của nhà nước Trung Quốc ra sức bôi đen quan hệ Việt - Mỹ thành "âm mưu kiềm chế Trung Quốc", miệt thị Việt Nam như "trẻ con", còn Hoa Kỳ là một con ngáo ộp đáng sợ, chỉ có Trung Quốc mới là chính nhân quân tử hay "chỗ dựa tin cậy", nhưng lại đang từng ngày từng giờ la liếm lãnh thổ láng giềng không từ một thủ đoạn nào - PV.
Trải qua các cuộc chiến tranh và luôn là tâm điểm cạnh tranh ảnh hưởng của các cường quốc, người Việt quá thấm thía việc ngả theo bất kỳ cường quốc nào, phụ thuộc vào họ cũng dẫn đến suy vong. Chỉ có độc lập tự chủ, tự lực tự cường, bắt tay hợp tác với tất cả các nước và dân tộc tiến bộ, yêu chuộng hòa bình và công lý, luôn cảnh giác với những kẻ bành trướng miệng Nam mô bụng một bồ dao găm mới là lối thoát.
Phó Tổng thống Mỹ đã lẩy hai câu Kiều trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du trong bữa tiệc chiêu đãi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cho thấy họ rất hiểu người Việt, thực sự thiện chí muốn ngồi lại hợp tác với nhau, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân hai nước. Điều này khiến người Viết chợt nhớ đến câu chuyện của Từ Hải, một lời cảnh tỉnh của cụ Nguyễn Du đối với Việt Nam trong quan hệ bang giao với các nước lớn:
Từ rằng: Quốc sĩ xưa nay,
Chọn người tri kỷ một ngày được chăng?
Sân bay quân sự, đảo nhân tạo Trung Quốc bồi lấp, xây dựng bất hợp pháp trên đá Chữ Thập, quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam luôn là lời nhắc nhở.
Chọn bạn đã khó, chọn tri âm tri kỷ còn khó hơn nhiều. Một cá nhân đã như vậy, một quốc gia cũng không khác. Từng bị "đồng chí, anh em" dạy cho nhiều bài học trả bằng xương máu, người Việt quá rõ điều này. Suy nghĩ của Từ Hải khi Hồ Tôn Hiến tìm cách chiêu an mà thực tế là tiêu diệt đối thủ cho ta một bài học cảnh giác với các nước lớn:
Một tay gây dựng cơ đồ,
Bấy lâu bể Sở sông Ngô tung hoành!
Bỏ thân về với triều đình
Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu?
Áo xiêm ràng buộc lấy nhau,
Vào luồn ra cúi công hầu mà chi?
Sao bằng riêng một biên thùy.
Sức này đã dễ làm gì được nhau?
Chọc trời quấy nước mặc dầu,
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai?
Theo Thiền sư Nhất Hạnh, Vua Minh Mạng là người rất mê Truyện Kiều, dù phật ý và phạt thi sĩ Nguyễn Du 3 chén rượu vì câu: "Chọc trời khuấy nước mặc dầu, dọc ngang nào biết trên đầu có ai", nhưng phạt rồi Vua vẫn phải thừa nhận: "Nhưng mà hay! Phạt thì phạt nhưng thơ rất hay! Vì vậy trẫm thưởng cho khanh", Vua sai người mang 3 tấm lụa tặng cụ Nguyễn Du may áo, giai thoại này vẫn được truyền đến hôm nay.
Nhưng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, Từ Hải đã không vượt nổi ải mỹ nhân mặc dù trước đó nhìn quá rõ bụng dạ của "triều đình". Những lời ngon ngọt cùng với lễ hậu mà Hồ Tôn Hiến sai người mang vào hậu trướng gặp Thúy Kiều đã khiến cơ đồ của Từ Hải thành mây khói:
Tin lời thành hạ yêu minh,
Ngọn cờ ngơ ngác trống canh trễ tràng
Việc binh bỏ chẳng giữ giàng,
Vương sư dòm đã tỏ tường thực hư.
Hồ công quyết thế thừa cơ,
Lễ tiên binh hậu khắc cờ lập công.
Kéo cờ chiêu phủ tiên phong,
Lễ nghi phục trước bác đồng phục sau.
Để rồi: 
Đang khi bất ý chẳng ngờ,
Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn.
Người Mỹ hiểu Việt Nam, hiểu Truyện Kiều của Việt Nam thì không lý do gì chúng ta lại quên lời cảnh tỉnh của tiền nhân mà sao nhãng việc phòng thủ của đất nước, đặc biệt là với thủ đoạn nham hiểm "tiên lễ hậu binh" của đối phương. Những lời ngon ngọt hay kích bác, đều chỉ nhằm đánh gục ta mà thôi. Vì vậy hãy nên tỉnh táo, đừng để rơi vào cảnh "hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn", tệ hơn nữa là cái kết câu chuyện Mỵ Châu mà Tố Hữu kể:
"Nỏ thần vô ý trao tay giặc,
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu."
Hồng Thủy/GDVN
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hòa bình nhờ dân chủ (Democratic peace)

1344488828

Tác giả: Lê Hồng Hiệp
Thuyết hòa bình nhờ dân chủ lập luận rằng các quốc gia có hệ thống chính trị dân chủ tự do không bao giờ tiến hành chiến tranh chống lại nhau. Nhà nghiên cứu Jack Levy trong một bài báo đăng trên tạp chí Journal of Interdisciplinary History vào năm 1988 cho rằng đây có lẽ là thực tế trong quan hệ quốc tế có tính chất gần nhất với một quy luật thực nghiệm vốn hiếm hoi trong các ngành khoa học xã hội.
Thuyết hòa bình nhờ dân chủ được cho là bắt nguồn từ bài luận “Nền hòa bình vĩnh cửu” (Perpetual Peace) năm 1795 của Emanuel Kant, trong đó ông cho rằng giữa các quốc gia sẽ có được nền hòa bình nếu như họ theo thể chế cộng hòa tự do. Mặc dù Kant không đề cập đến khía cạnh dân chủ, nhưng thực tế các nền cộng hòa tự do nhìn chung có xu hướng theo đuổi dân chủ. Chính vì vậy có thể nói Kant chính là người khai sinh ra những ý tưởng đầu tiên cho thuyết hòa bình nhờ dân chủ.
Mặc dù vậy, phải gần 200 năm sau bài luận của Kant ra đời thì ý tưởng “hòa bình nhờ dân chủ” mới được củng cố và phát triển thành một tư tưởng có nhiều ảnh hưởng. Trong bài báo “A Force for Peace” đăng trong tạp chí Industrial Research năm 1972, Dean Babst, người đầu tiên thống kê về mối quan hệ giữa dân chủ và hòa bình, đã chỉ ra rằng “Từ năm 1789 đến năm 1914 không có cuộc chiến tranh nào giữa các quốc gia độc lập có chính phủ do dân cử”.
Sau đó, một loạt các nghiên cứu khác của Melvin Small và David Singer (1976), Michael Doyle (1983), Rudolph Rummel (1983), Zeev Maoz và Bruce Russett (1992)… cũng đã góp phần củng cố thuyết “hòa bình nhờ dân chủ”, đặc biệt là qua các dữ liệu thống kê mang tính chất thực nghiệm lịch sử.
Ví dụ, trong nghiên cứu năm 1992 của mình, Maoz và Russett tập trung vào thời kỳ từ 1946 đến 1986, là giai đoạn số lượng các nền dân chủ đã tăng lên đáng kể, đồng thời hai ông cũng giới hạn các mối quan hệ được phân tích trong phạm vi những cặp quốc gia “phù hợp về mặt chính trị”. Theo đó Maoz và Russett chỉ nghiên cứu những cặp quốc gia gần gũi nhau về mặt địa lý và bao gồm ít nhất một cường quốc (Mỹ, Liên Xô, Anh, Pháp, Trung Quốc). Kết quả cho thấy trong số 29.081 cặp quan hệ mà họ phân tích, không có cuộc chiến tranh nào diễn ra giữa các quốc gia dân chủ trong giai đoạn 1946 đến 1986.
Tương tự, nếu một cuộc chiến tranh được định nghĩa là một cuộc xung đột vũ trang khiến ít nhất 1.000 người thiệt mạng thì từ năm 1816 đến năm 1991 có tất cả 353 cặp quốc gia tham gia vào các cuộc chiến tranh như vậy. Tuy nhiên không có cuộc chiến tranh nào diễn ra giữa hai quốc gia dân chủ, trong khi 155 cuộc xảy ra giữa một quốc gia dân chủ và một quốc gia phi dân chủ, và 198 cuộc là giữa hai quốc gia phi dân chủ với nhau.
Tuy nhiên ý nghĩa của những con số thống kê này là không rõ ràng. Liệu có mối liên hệ nhân quả nào giữa dân chủ với xu hướng tham gia chiến tranh của các quốc gia hay không? Nhiều nhà chỉ trích cho rằng trước tháng 03 năm 1999 khi NATO không kích Nam Tư, một thực tế là không có cuộc chiến tranh nào diễn ra giữa hai quốc gia cùng có các nhà hàng của hãng McDonald’s. Chính vì vậy, một câu hỏi được đặt ra là liệu có phải các quốc gia dân chủ không tiến hành chiến tranh chống lại nhau là bởi chế độ chính trị dân chủ của họ hay không, hay là bởi các yếu tố khác nữa? Ví dụ, một số học giả cho rằng mối quan hệ tương đối hòa bình giữa các quốc gia dân chủ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh xuất phát từ sự tồn tại mối đe dọa từ Liên Xô, khiến các quốc gia này đoàn kết và hợp tác với nhau hơn để đối phó với mối đe dọa đó.
Tuy nhiên, ngay cả khi lập luận này là thuyết phục thì chúng ta có thể lý giải như thế nào về những thời kỳ khác, khi các quốc gia dân chủ vẫn chung sống hòa bình với nhau khi không có những mối đe dọa chung như vậy?
Các nhà nghiên cứu ủng hộ thuyết hòa bình nhờ dân chủ cho rằng có nhiều yếu tố khác nhau lý giải cho mối quan hệ hòa bình giữa các quốc gia dân chủ. Các yếu tố này bắt nguồn từ chính tính chất nền chính trị nội bộ của các quốc gia dân chủ, cũng như mối quan hệ của họ với nhau.
Một quốc gia dân chủ thường được định nghĩa là một quốc gia mà ở đó có tổ chức các cuộc bầu cử phổ thông nhằm bầu chọn các vị trí chủ chốt trong chính quyền với sự tham gia của các đảng phái chính trị cạnh tranh lẫn nhau. Ngoài ra, chính quyền của các quốc gia này phải tôn trọng các quyền tự do dân sự và chính trị cơ bản của người dân. Các nhà lý thuyết hòa bình nhờ dân chủ cho rằng bản chất dân chủ của các quốc gia này khiến họ trở nên hòa bình hơn trong quan hệ với các quốc gia khác.
Thứ nhất, các xã hội dựa trên các chính sách kinh tế mở như các quốc gia dân chủ thường kiềm chế tham vọng của nhà nước trong việc tiến hành chiến tranh xâm lược bành trướng do chiến tranh được coi là gây thiệt hại hoặc không mang lại lợi ích về mặt kinh tế. Mặt khác, trong các nền dân chủ, người dân có tiếng nói và họ thường gây áp lực lên chính phủ nhằm buộc chính phủ tránh các cuộc chiến tranh hao người tốn của. Ngoài ra, nền văn hóa tự do thường bén rễ sâu trong các nền dân chủ, khiến cho các nền dân chủ này hạn chế xu hướng xâm lược ra bên ngoài, bởi họ cũng muốn tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của các dân tộc khác. Điều này khiến cho các nền dân chủ tự do duy trì một mối quan hệ quốc tế hòa bình hơn so với các quốc gia độc tài.
Tuy nhiên các lập luận này đã gặp phải nhiều chỉ trích, bởi lẽ nếu bản chất của các quốc gia dân chủ là hòa bình, thì họ phải duy trì quan hệ hòa bình với các quốc gia dân chủ lẫn phi dân chủ. Trên thực tế, chiến tranh cho dù chống lại một quốc gia dân chủ hay phi dân chủ đều có thể gây hao người tốn của như nhau. Tuy nhiên trên thực tế các quốc gia dân chủ cũng tham gia các cuộc chiến tranh chống lại các quốc gia phi dân chủ nhiều không kém bản thân các cuộc chiến tranh do các quốc gia phi dân chủ gây ra.
Thứ hai, các nhà lý thuyết hòa bình nhờ dân chủ cho rằng các thế chế trong lòng các nền dân chủ luôn kiểm soát và cân bằng lẫn nhau, qua đó kiềm chế xu hướng hiếu chiến của chính phủ cầm quyền. Cụ thể, các thể chế dân chủ buộc các nhà lãnh đạo quốc gia phải chịu trách nhiệm giải trình trước người dân về các chính sách của họ và nếu một nhà lãnh đạo dân chủ tiến hành chiến tranh vì các lý do mà người dân cho rằng không đầy đủ, thiếu thuyết phục hoặc gây thiệt hại cho đất nước thì người dân có thể khiến các nhà lãnh đạo đó mất chức trong các kỳ bầu cử hoặc thủ tục luận tội. Chính vì lý do này, các nhà lãnh đạo dân chủ sẽ thận trọng và kiềm chế hơn khi cân nhắc tiến hành các cuộc chiến tranh.
Lập luận này mặc dù là một cơ sở quan trọng cho thuyết hòa bình nhờ dân chủ nhưng cũng có những khuyết điểm. Ví dụ, bản thân chính quyền các quốc gia dân chủ cũng có nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau, và trong nhiều trường hợp các cơ quan này có thể vận hành trong bí mật và chỉ báo cáo trực tiếp với các nhà lãnh đạo tối cao mà thôi. Điển hình cho trường hợp này là các cơ quan an ninh, tình báo hay quân đội, ví dụ như Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA). Điều này khiến cho ý nghĩa của sự minh bạch hay cơ chế kiểm soát và cân bằng trong các nền dân chủ bị giảm sút.
Nguyên nhân thứ ba mà các nhà các nhà nghiên cứu đưa ra nhằm ủng hộ cho thuyết hòa bình nhờ dân chủ liên quan đến khía cạnh văn hóa. Trong nền văn hóa dân chủ tự do, các cá nhân và các nhóm thường ưu tiên các biện pháp phi bạo lực trong việc giải quyết tranh chấp và biết cách chấp nhận các quan điểm trái ngược với mình. Hơn nữa, các quốc gia dân chủ chia sẻ các giá trị chung, do đó họ dễ dàng hơn trong việc thương lượng, đàm phán với nhau, và hạn chế các xung đột hay biện pháp cưỡng bức.
Có thể nói mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi xung quanh logic cũng như tính xác thực nhưng thuyết hòa bình nhờ dân chủ đã tạo ra những ảnh hưởng đáng kể đối với giới học giả cũng như các nhà hoạch định chính sách. Một số người lạc quan cho rằng dân chủ sẽ được mở rộng trên toàn cầu và thế giới sẽ trở nên hòa bình hơn. Đây cũng là lập luận được một số chính quyền tiêu biểu là Mỹ dưới thời Tổng thống Bill Clinton và George W. Bush sử dụng để đưa ra chính sách thúc đẩy quá trình dân chủ hóa trên toàn thế giới.
Tuy nhiên, một thực tế cho thấy, quá trình dân chủ hóa thường đòi hỏi sự đầu tư rất nhiều nguồn lực. Mặt khác, quá trình dân chủ hóa trong nhiều trường hợp lại tạo ra những bất ổn cho chính các quốc gia đó. Một số nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi sang dân chủ cũng có xu hướng gây chiến tranh nhiều hơn so với các quốc gia đã có nền dân chủ lâu đời. Ví dụ, sau sự kiện “Mùa xuân Ảrập” năm 2011 và việc Ai Cập dân chủ hóa sau sự ra đi của Tổng thống Edhud Mubarak, một câu hỏi được đặt ra là liệu khu vực Trung Đông sẽ trở nên hòa bình hơn hay ngược lại, nhất là khi nhiều người cho rằng một nước Ai Cập dân chủ có thể bác bỏ hiệp định hòa bình đã được duy trì với Israel kể từ năm 1979.
Nguồn: Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (chủ biên), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế, (TPHCM: Khoa QHQT – Đại học KHXH&NV TPHCM, 2013).
- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2015/07/11/hoa-binh-nho-dan-chu-democratic-peace/#sthash.shC6J315.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vài bệnh mãn tính của trí thức Việt


Trong bối cảnh xã hội chuyển đổi, đầy biến động và rủi ro, giới trí thức thường là đội ngũ tiên phong dẫn dắt xã hội đổi mới và phát triển. Nhưng đáng tiếc, giới trí thức văn nghệ sĩ Việt đã bị “thui chột” sau những kinh nghiệm đau buồn như “cải cách ruộng đất” và “nhân văn gia phẩm”, nên đa số thường “trùm chăn”, không dám lên tiếng, vì sợ. 
Đây là cái sợ tiềm tàng đã đi vào tiềm thức ít nhất hai thế hệ, nên muốn thoát khỏi nó phải cam đảm để phản tỉnh.

Ngày nay, các bác sỹ thường khuyên chúng ta phải kiểm tra sức khỏe định kỳ nếu không muốn bị đột tử (vì tim mạch) hay mắc các bệnh nan y (như ung thư). Trong “thế giới phẳng”, Tom Friedman cũng khuyên các doanh nghiệp phải kiểm tra sức khỏe thường xuyên, nếu muốn tồn tại và phát triển. Không biết giới trí thức Việt có kiểm tra sức khỏe và khám bệnh thường xuyên không, và có thừa nhận bệnh tật của mình không?

Có lẽ việc này cần hơn là “định nghĩa lại trí thức”. Tại sao phải định nghĩa lại? Chẳng lẽ lâu nay chúng ta không biết trí thức là gì, là ai, và làm gì. Đã qua rồi cái thời ông Mao điên rồ và xảo quyệt nói bậy: “trí thức không giá trị bằng cục phân”, hay cái thời mấy ông Việt Minh ngây ngô và cuồng tín, bắt chước ông Mao: “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”. Họ không hiểu vùi dập trí thức là đồng nghĩa với tự sát quốc gia.

Tuy đã qua rồi, nhưng hệ quả của nó vẫn còn, bởi căn nguyên là cực đoan và cuồng tín chưa chết, vẫn còn lẩn khuất trong chính chúng ta. Nếu chịu khó quan sát, ta có thể nhận diện một số căn bệnh mãn tính điển hình của giới trí thức và văn nghệ sĩ Việt. Họ là thành phần ưu tú của quốc gia, làm đầu tàu thúc đẩy tiến bộ xã hội, nên cần quan tâm và khám bệnh, cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen (mấy ông này uống và hút dữ lắm!).

Những nhận xét dưới đây có thể đúng, có thể sai, có thể bổ sung, có thể tranh luận, nhưng là cần thiết. Đừng vội phủ định hay khẳng định ngay.

Hay định kiến và chia rẽ


Người ta hay nói (nửa đùa nửa thật) rằng một người Việt thì không thua kém một người nước khác, nhưng ba người Việt thì chắc thua kém một người nước khác. Bởi vì ba người Việt thường không hợp sức mà còn chia rẽ, tự phân hóa và vô hiệu hóa nhau. Không hiểu vì sao tính cá thể của người Việt rất cao, nhưng tính cộng đồng rất thấp. Đây là một nghịch lý mang bản sắc Việt Nam (không giống người Trung Hoa). Cũng chưa thấy tài liệu nghiên cứu nào phân tích xem đây là do tính bản địa, hay là do ảnh hưởng của văn hóa Pháp (xin lỗi mấy ông tây nhé!) 


Chỉ biết rằng người Việt có tiếng là hay định kiến và chia rẽ, hay cãi nhau không ai chịu ai. Càng trí thức, càng hay cố chấp và chia rẽ khỏe. Chưa thể lý giải ngay được, nhưng có thể do cực đoan và bảo thủ. Làm việc nhóm rất khó, không phát huy được nội lực và không kết nối được năng lượng (synergy). Rất khó đồng thuận để có tiếng nói chung. Có lẽ vì biết như vậy nên cụ Hồ mới nhấn mạnh đoàn kết “như con ngươi của mắt mình”, nghĩa là không đoàn kết thì mù luôn. Hy vọng Việt Nam không phải là một “thung lũng mù”!

Gần đây, đáng mừng là đã xuất hiện một số hội đoàn độc lập theo hướng dân chủ hóa và cởi mở hơn, như xã hội công dân. Nhưng đáng buồn là các hội đoàn mới này cũng khó phát triển nhanh và mạnh được. Không phải chỉ vì số lượng ít, nguồn lực thiếu thốn, bị chính quyền ngăn cản, mà bản thân nội bộ cố chấp và chia rẽ, rất khó đồng thuận để có tiếng nói chung. Nghe nói vừa mới hình thành đã cãi nhau rồi. Chưa cần bên ngoài phá, bên trong đã tự phân hóa rồi. Có lẽ cũng vì vậy mà hòa hợp và hòa giải dân tọc mới khó thế. Khi nói đến dân trí, người ta thường hiểu theo nghĩa cộng đồng chứ không phải từng cá thể. Nếu cứ định kiến và chia rẽ như vậy thì làm sao có thể nâng cao dân trí, làm sao có thể “thoát Trung”?

Không chịu lắng nghe


Theo nguyên lý truyền thông, lắng nghe quan trọng hơn cả nói, để thu lượm và sàng lọc thông tin cần thiết. Phải bình tâm mới lắng nghe được người khác, để hiểu được cả những điều người khác không nói ra. Điều này càng quan trọng trong thời đại bùng nổ truyền thông kỹ thuật số. Muốn lắng nghe phải khiêm tốn, chân thành, nhạy cảm. Người ta nói xã hội càng “high-tech” thì con người càng phải “high-touch”. Ta thường làm ngược lại. Gần đây, Việt Nam được xếp vào nhóm nước vô cảm nhất thế giới (trong khi chưa “high-tech”). Đa số người Việt, nhất là giới trí thức, chỉ thích nói cho người khác nghe, mà không chịu lắng nghe người khác nói. Một số người còn hay “xoa đầu” và dạy bảo người khác (nhất là đối với lớp trẻ). Họ thường vô cảm, không hiểu được người khác muốn gì, nghĩ gì. Thế hệ già không hiểu thế hệ trẻ. Bắc - Nam, trong - ngoài, không hiểu được nhau. Thói quen không chịu lắng nghe có thể do thái độ ngạo mạn, coi thường người khác, luôn cho mình là đúng, ai không giống mình là sai.

Trong bộ máy công quyền trước đây, người ta quen độc quyền thông tin theo cấp bậc. Có một thời, chỉ có lãnh đạo mới được đọc “bản tin tham khảo” (lấy từ các hãng thông tấn nước ngoài). Thời ấy đã qua rồi, nhưng hệ quả của nó vẫn còn, vì hệ tư tưởng cũ chưa thay đổi. Một khi trong đầu đã chứa định kiến gì, thì người ta hay cố chấp, luôn phủ định hoặc khẳng định, mà không cần lắng nghe để tìm hiểu sự thật. Không chịu lắng nghe và chia sẻ thông tin thường dẫn đến định kiến và chia rẽ. Điều đáng nói là không phải chỉ có những người cộng sản (cuồng tín) mà cả những người chống cộng (cực đoan) đều mắc phải căn bệnh mãn tính này. Trí thức mà định kiến và cực đoan thì còn nguy hiểm hơn cả người khác.

Học giả nhiều hơn học thật

Chưa thấy ở đâu người ta coi trọng bằng cấp và học hàm học vị một cách cực đoan như ở Việt Nam. Giới thiệu ông trí thức nào mà thiếu cái tít “GSTS” là toi. Trong khi đó dân chúng gọi GSTS là “gà sống thiến sót” (xin lỗi không phải tôi nói!). Vì vậy, nhu cầu “học giả” và làm “bằng giả” trở thành một thị trường ngầm phát đạt, như một khối u mãn tính, làm mấy đời bộ trưởng giáo dục đành chào thua. Điều đáng nói là nó không chỉ phổ biến trong nhà trường mà còn trong giới công chức và trí thức. Một quốc gia có trên 90 triệu dân (một nguồn tài nguyên quý mà chắc nhiều nước thèm muốn) nhưng chất lượng nguồn nhân lực đang khủng hoảng đến mức báo động. Chúng ta không lo giới trí thức Việt nhỏ bé, nhưng rất lo chất lượng dân trí còn thấp, bị phân hóa và vô hiệu hóa quá nhiều và quá lâu. Vì vậy, trí thức thật thì ít, trí thức giả thì nhiều. Giới trí thức Việt giống như một bức tranh “mosaic” nhiều màu sắc khó tả, rất đặc thù chẳng giống ai, mang đậm “bản sắc” Việt Nam.

Nguồn gốc trí thức Việt đại khái có mấy thế hệ. Thế hệ những người “học tây” thời trước (cả Bắc lẫn Nam) là trí thức thật, nhưng vừa quá ít vừa “quá date” (passé rồi), nếu chưa chết hoặc không nhanh chân ra nước ngoài thì cũng đã bị vô hiệu hóa bởi thời thế hoặc thời gian. Thế hệ “thiếu sinh quân” (thời chống Pháp) được chọn đi học Trung Quốc/Liên Xô, đa số đã trở thành quan chức, một số khác có tài đã trở thành trí thức thật, nhưng nay đã về hưu. Thế hệ “học Đông Âu” (thời chiến tranh với Mỹ), tuy đông nhưng bị phân hóa, đa số thực dụng buôn bán kinh doanh giàu lên nhanh như “tướng soái”, một số trở thành tư bản đỏ (đang lũng đoạn thị trường), nhưng vẫn giữ cái mũ phó tiến sĩ hoặc tiến sĩ dổm, một số khác có tài theo đuổi khoa học nghệ thuật, thường bị vô hiệu hóa, hoặc phải nhập quốc tịch nước khác. Thế hệ đi học các nước “phương tây” (sau chiến tranh) ngày càng đông và đa dạng, đa số kinh doanh, một số làm công chức, một số khác làm cho nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài. Trí thức người Việt sống ở nước ngoài là một nguồn nhân lực quan trọng, có nhiều nhân tài, có lòng ái quốc, có thể đóng góp nhiều hơn cho đất nước và làm cầu nối với thế giới, nhưng chưa được thực sự trân trọng.

Im lặng trùm chăn
Trong bối cảnh xã hội chuyển đổi, đầy biến động và rủi ro, giới trí thức thường là đội ngũ tiên phong dẫn dắt xã hội đổi mới và phát triển. Nhưng đáng tiếc, giới trí thức văn nghệ sĩ Việt đã bị “thui chột” sau những kinh nghiệm đau buồn như “cải cách ruộng đất” và “nhân văn gia phẩm”, nên đa số thường “trùm chăn”, không dám lên tiếng, vì sợ. Đây là cái sợ tiềm tàng đã đi vào tiềm thức ít nhất hai thế hệ, nên muốn thoát khỏi nó phải cam đảm để phản tỉnh. Đến nay, hệ thống kiểm soát và kiểm duyệt (văn hóa tư tưởng) về cơ bản vẫn chưa thay đổi, với hồ sơ nhân quyền đang là vấn nạn trong quan hệ với Mỹ và phương Tây (giống như vấn đề MIA trước đây). Trong bối cảnh đó, giới trí thức văn nghệ sĩ “trùm chăn” là dễ hiểu. Quá trình phản tỉnh để thoát khỏi nỗi sợ không đơn giản, tùy thuộc vào hoàn cảnh mỗi người. Có những người đến cuối đời mới dám lên tiếng nói ra sự thật (như tác giả “Đèn Cù”).

Bên cạnh đa số im lặng trùm chăn (silent majority), có một thiểu số lớn tiếng (vocal minority). Những người đã định cư ở nước ngoài thường “dũng cảm” hơn và “lớn tiếng” hơn những người trong nước. Một số quá khích và nôn nóng muốn thay đổi ngay. Một số khác trong lòng còn nặng hận thù và cố chấp, chỉ thích chửi nhưng không đề ra được giải pháp. Ai cũng muốn thay đổi, nhưng nếu không có giải pháp khả thi, thì thành viển vông. Vì vậy, cần tránh cả khuynh hướng “trùm chăn” lẫn “quá khích”. Nếu bình tâm nhìn kỹ thì quá trình dân chủ hóa trên thế giới tuy đa dạng và phức tạp, nhưng có quy luật, cần thời gian. Qua kinh nghiệm nhiều nước đã chuyển đổi (trong 40 năm qua) người ta thấy cách tốt nhất là đấu tranh ôn hòa, thông qua “Bất tuân Dân sự”. Phong trào dân chủ gần đây tại Hong Kong là một ví dụ, khác nhiều so với thời Thiên An Môn. Trong thời đại toàn cầu hóa và truyền thông kỹ thuật số, muốn đấu tranh hiệu quả phải có dân trí cao, ứng dụng công nghệ cao, dùng “sức mạnh mềm” đối phó với “sức mạnh cứng”, biết kết nối quốc tế để vận dụng sức mạnh toàn cầu (global synergy).

Hội nhập quốc tế chậm

Trong thời đại toàn cầu hóa, giới trí thức đáng lẽ phải hội nhập quốc tế nhanh hơn những nhóm người khác, để dẫn dắt họ trong quá trình đổi mới và phát triển. Đáng tiếc, giới trí thức Viêt hội nhập quốc tế hơi chậm so với các nước khác đang chuyển đổi. Có nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, chính sách kiểm soát và kiểm duyệt chặt chẽ với các quy định lạc hậu, không khuyến khích và tạo điều kiện cho giao lưu, hội nhập quốc tế. Thứ hai, bị đóng cửa quá lâu nên giới trí thức bị “nội địa hóa” quá nhiều, một số mang tâm lý bài ngoại, không quen hội nhập. Thứ ba, hàng rào ngôn ngữ và văn hóa cũng làm cho việc giao lưu, hội nhập của trí thức với thế giới bên ngoài khó khăn. Tuy nhiên, thế hệ trí thức trẻ học tại các nước Phương Tây sau này ngày càng đông, riêng học tại Mỹ đến nay là 16.500 người (sau 20 năm). Họ không bị hàng rào ngôn ngữ và văn hóa cản trở, giao lưu và hội nhập dễ dàng. Đây là một nguồn nhân lực và một lớp trí thức mới quan trọng, nhưng chưa được coi trọng đúng mức.

Trong thời đại toàn cầu hóa và truyền thông kỹ thuật số, liên kết và giao lưu quốc tế vô cùng quan trọng, giúp cho những người trí thức mở rộng tầm nhìn, không kỳ thị dân tộc, ngăn ngừa xu hướng dân tộc cực đoan và bạo lực giữa các quốc gia. Theo kinh nghiệm phát triển của nhiều nước, chỉ khi nào giới trí thức trưởng thành như một thế lực mạnh trong xã hội, và nhân tài được trọng dụng như tài sản quốc gia, thì đất nước đó mới thực sự phát triển. Nhưng trước hết, giới trí thức Việt cần chữa trị các bệnh mãn tính nói trên.

Nguyễn Quang Dy. 7/7/2015

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mệt rùi, đọc dongngan phát!

Những câu chuyện về Azit Nê-xin 

4- Nêxin tản mạn thơ
dongngan
Về chuyện văn thơ của giới chức sắc tôi không hiểu lắm vì đó là sân sau của họ. Không hiểu sao Nexin lại phát hiện ra cái bí mật ấy. Hình như ông ấy có máu trinh thám nên mới giỏi thế. Tưởng hết chuyện, thì Nexin lạị tiếp tục dốc hầu bao:
– Tôi cũng lại nể giới văn nghệ nước anh một lần nữa. Vừa rồi mới biết một loạt nhà văn nhà thơ các anh xông vào nghề vẽ. Chẳng phải chơi chơi như mấy tay ở nước tôi, mà triển lãm cá nhân thực sự, báo chí ca lên mây xanh, thành tác giả tất. Tiếc chưa được xem tận nơi. Nhưng văn nghệ sĩ các anh keo kiệt lắm, chắng ai tặng tranh cho tôi như giới chức sắc tặng thơ. Khi biết tôi là Nexin còn tưởng tôi giàu lắm, gạ bán tranh giá cao!
Tưởng là hết chuyện thì Nexin lại tiếp tục nổ:
– Không ngờ giới văn chương nghệ thuật các anh lạ có nhiều người hăng hái làn chính trị thế..
– Tôi thủng thẳng:
– Sao cơ
– Nexin cao giọng:
– Còn sao giăng gì nữa, khối anh xông vào trường chính trị đòi hỏi này kia nọ. Sao không đi làm chính trị quách đi cho rảnh.
Tôi nhẹ nhàng giải thích:
– Không phải thế đâu, nước chúng tôi làm gì cũng vừa hồng vừa chuyên. Chính trị là một nửa cuộc sống.
Nghe thế Nexin tròn xoe mắt. Tôi bồi tiếp:
– Trước khi làm văn nghệ sĩ thì tôi là công dân, công dân thì phải thấm nhuần chính trị. Còn hăng hái chính trị chẳng qua là chuyện hưng phấn nhất thời thôi. Nghệ sĩ vẫn là chính.
– Nexin nghe thế vò đầu
– Ôi thế thì không hiểu được
Tôi bảo ông:
– Bởi thế ông mới không phả là người Việt Nam!
* * *
Trước khi ra máy bay về nước tôi vào một quán cà phê nhâm nhi với ông. Tôi hỏi trong chuyến tế vừa qua có được ăn bữa cỗ nào không?
Không cần nghĩ lâu, ông trả lời rất nhanh:
– Có chứ, tôi biết ở Việt Nam cỗ đãi khách là quan trọng;
– Ở những đâu?
– À, ở Bắc ninh và Cao Bằng
– Có gì khác nhau không
– Ồ có chứ, .Bắc Ninh cỗ 8 món, Cao Bằng thì 16.
– Cảm giác thế nào?
– Còn thế nào nữa, ê hề. Món ăn ở Thổ nghèo lắm, chỉ vài thứ thôi.
Tôi cười :
– Thế nhé, Nexin có thấy người làm văn học nghệ thuật chúng tôi giống mâm cỗ không, cái gì cũng có, càng nhiều càng ít.
– Nexin đế theo:
– Cả các quan nữa cũng thế
Nói rồi, Neexxin chợt vùng đứng lên ôm chặt lấy tôi hôn chùn chụt, rồi lắp bắp:
– Ôi tôi hiểu bạn mà, Đông Ngàn, bạn thật tuyệt. Tôi phục bạn quá.

Phần nhận xét hiển thị trên trang