Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2015

Những người Việt bất hạnh trên đất Thái Lan


songtra ♦ 
 Trong lịch sử, có ba đợt di cư của người Việt đến Thái Lan: đợt thứ nhất xảy ra đã 230 năm trước; nhóm thứ nhì đa số là những tín đồ Công giáo bỏ chạy lánh nạn bắt đạo tại Việt Nam; và đám người thứ ba là những người đến Thái vào năm 1944-45, trước khi Pháp trở lại Đông Dương. Nhóm đầu tiên thì không có gì đặc biệt để nói. Top thứ hai thì được vua Thái giúp đở về mọi mặt. Đám người đến sau cùng là đáng nói hơn hết, vì số phận hẩm hiu, tăm tối, bị kỳ thị mà họ đã chịu đựng trong gần 50 năm. Và đây cũng là nhóm người Việt còn giữ được gốc rễ Việt nam.
NHỮNG ĐỢT DI DÂN ĐẦU TIÊN ĐẾN THÁI LAN CỦA NGƯỜI VIỆT
Theo như những tài liệu còn được lưu lại bởi các nhà sư thuộc phái An Nam (tại Thái) thì số người Việt chính thức đến định cư tại Thái Lan vào năm 1776. Do tranh chấp tại triều đình Huế, một vị Hoàng tử đã đưa thân nhân và người của ông ta lánh mạn tại Hà Tiên. Nhưng khi bị truy đuổi theo, biết không chống nỏi nên vị Hoàng tử này đã ghé vào Thái lan xin tị nạn. Ông được cấp đất để sinh sống, nhưng sau vài năm thì bị xử tử vì bỏ trốn (muốn về lại VN).
Vua Gia Long đã cùng đám tàn quân đến tị nạn tại Bangkok năm 1782. Ông từng nhiều lần dùng quân của mình để giúp vua Xiêm chiến đấu với quân Miến Điện. Đã có lần quân Thái giúp ông đánh Sài Gòn, nhưng không thành vì có xảy ra (đột ngột) chiến tranh Thái-Miến. Sau 4 năm sống lưu vong, vua Gia Long âm thầm để lại bức thư ghi ơn vua Thái và xin lỗi: không thể công khai nói lời chào với đức vua. Ông đã thành công bí mật tập trung quân tại một đảo nhỏ để cùng kéo về Việt Nam. Dĩ nhiên là một số bị kẹt lại.
Năm 1834, Thái lan đưa 30 ngàn bộ binh và 10 ngàn thuỷ binh đánh vào Hà tiên, rồi sau đó kéo lên đánh các tỉnh miền Tây. Khi rút quân họ đã mang theo 1500 người Việt (Công giáo) đang trốn trong rừng tại Châu Đốc và 1500 thường dân về lại Thái. Trong chuyến đi này quân Thái đã đem theo 15 giáo dân Công giáo trên một chiếc thuyền đặc biệt – chủ yếu là giáo sĩ Tây biết tiếng Việt nhằm mục đích chiêu dụ và giúp đở các giáo dân đang trốn tránh.
Cuộc viễn chinh này của Thái, ngoài mục đích gây chiến họ còn có ý định mang về một số người Việt. Giám mục Lasalle Taberb, trưởng giáo phận Nam Kỳ, đang lánh nạn ở BK được mời tham gia, nhưng ông từ chối vì sợ việc giúp các giáo dân sẽ làm vua VN giận dữ và tình hình có thể xấu hơn.
Người Việt theo đạo Công giáo
Những người Việt theo công giáo được 2 sĩ quan chức cao cấp người Thái trong đoàn quân đứng ra bảo trợ, che chở và giúp đỡ – Những thanh niên khoẻ mạnh được xâm chữ “Việt trung thành” vào lòng bàn tay. Vua cho họ đất để làm ruộng, cho đồ ăn, tiền bạc, cho miễn thuế và giúp xây nhà thờ, tu viện, mở trường học dạy tiếng Việt (hầu tiện việc dạy giáo lý). Sau 4, 5 năm thì đám thanh niên Công giáo bỏ nghề nông, quay về làng Việt (Công giáo) Samsen. Lúc này, vua cho phép họ làm bất cứ nghề nào và đi bất cứ đâu.
Người Việt bắt đầu làm nghề đánh cá, thợ mộc, đóng ghe, và xây cất nhà cửa. Cũng từ đó họ di tản, lập nghiệp trên khắp đất nước Thái và góp công xây dựng nền tảng, cơ sở đạo cho Công giáo Thái vào buổi ban đầu. Hiện nay, Thái có độ 400 ngàn tín đồ CG.
Người Việt theo đạo Phật
Ngoài ra, còn có một số người Việt Công giáo (đi đường bộ) qua cư ngụ tại tỉnh Chathaburi, có biên giới với Cambodia. Những người này và những người theo Phật giáo được cho sống tại tỉnh Kanchanaburi, (vài chục năm sau) được chính phủ cho về Bangkok sống và những thanh niên được bổ sung vào lực lượng pháo binh. Vua còn bỏ tiền và đất riêng để xây chùa cho người Việt: chùa Bảo Ân, tức Wat Somyanamborihar, ở BK.
Chùa do người Việt xây lên có hơn 10 cái, một nữa trong số này nằm ở khu phố Tàu Bangkok, và tất cả đã trở thành chùa Tàu hay Thái. Có vài chùa vẫn còn tên Việt, chẵng hạn, chùa Hội Khánh, tức wat Mongkholsamakhom ở phố Tàu; có chùa vần còn tụng kinh bằng tiếng Việt do các sư sãi người Thái hay Tàu tụng. Chùa xây đầu tiên từ thời vua Gia Long lánh nạn: chùa Khánh Nhân Tự, tức wat Uphrayratbamrung, BK, và chùa Quảng Đức Tự, tức wat Anamnikayaram, BK. Theo cuốn sách “Thailand in the 80s” (304 trang) do văn phòng Thủ tướng Thái xuất bản vào năm 1984 mà Songtra tìm thấy tại thư viện ở Canada thì có tất cả 15 chùa Phật giáo do người Việt xây trên đất Thái.
Vừa rồi là nói về những người Việt đầu tiên trên đất Thái (theo Công giáo nhiều hơn Phật giáo); họ đã trở thành người Thái từ lâu và hầu hết đã quên gốc Việt. Khu Việt Nam ở Bangkok còn được gọi là “Ban Yuan Samsen” hay làng Việt Nam Samsen, nơi đây có nhà thờ Samsen hay nhà thờ Francisco Xavier, nhà thờ đầu tiên của người Việt.
NHỮNG NGƯỜI VIỆT XẤU SỐ – ĐẾN THÁI LAN VÀO NĂM 1944-45
Đợt nhập cư cuối cùng của người Việt xảy ra sau chiến tranh thế giới lần thứ II, họ đến từ ngã Lào và định cư ở những tỉnh thuộc miền bắc nước Thái – có tất cả khoảng 70 ngàn người, phần lớn bỏ đi vì sợ Pháp trả thù khi chiến tranh chấm dứt. Tuy nhiên, họ không may mắn như những người đi trước, họ phải đối diện với sự kỳ thị, bạc đãi và xua đuổi của chính quyền Thái Lan, vì chính phủ Thái luôn xem họ là những người nhập cư trái phép, có hại cho an ninh quốc gia.
Chính sách của chính phủ Thái đối với người Việt
Ban đầu, chính phủ Thái cũng đối xữ tử tế, nhưng sau khi ông Hồ Chí Minh đến vận động sự ủng hộ của người Việt và thiết lập một chính quyền song song với chính quyền Thái thì chính phủ Thái bắt đầu kiểm soát gắt gao. Ngoài ra, còn có nguyên nhân khác: vì các cán bộ cao cấp của đảng cộng sản Thái đều sang Hà Nội để học tập; và vì tâm lý lo sợ sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản vào lúc đó.
Thái thành lập sở quản lý Việt kiều, một bộ phận riêng trực thuộc tổng nha cảnh sát và nhiều luật cấm được ban hành:
1. Mọi công chức, cảnh sát, binh sĩ, không được lập gia đình với Việt kiều, nhất là người trong quân đội: phải giải ngũ hoặc ly dị.
2. Việt kiều chỉ được phép định cư tại 9 tỉnh qui định và không được ra khỏi quận mình cư ngụ. Ra khỏi quận phải có giấy phép để trình tại các trạm kiểm soát dọc đưòng (để kiểm soát VK và cộng sản Thái), nếu không muốn bị bắt tù.
3. Cấm hội họp, cấm dạy Việt ngữ (sợ cán bộ CSVN dạy lý thuyết CS, tuyên tuyền chống chính quyền).
4. Không được học đại học.
5. Cấm làm một số nghề dành cho người Thái hay ngoại kiều hợp pháp.
6. Cấm mua đất đai, cấm mua xe, cấm xuất ngoại.
7. Cấp sổ gia đình và giấy chứng minh riêng cho Việt kiều.
Chia phe và sự phân biệt đối xữ giữa người Việt
Nhờ những biện pháp độc tài, kỹ luật sắt và trừ phạt dã man, mà cán bộ phụ trách Miền Bắc đạt được hiệu quả tối đa trong việc kiểm soát, chi phối Việt kiều thân Bắc và tổ chức những cuộc vận động gây quỷ gởi về giúp Miền Bắc. Tất cả mọi lệnh của cán bộ đưa ra, VK đều thi hành tuyệt đối, mặc dù không thích, nhưng không nói, không dám chống đối. Ví dụ: có lần ở rạp chiếu phim, mọi người xem quảng cáo và tin tức của Thái, nhưng khi vào phim. Cả rạp đứng lên bỏ về, trả lại vé và tuyên bố sẽ tẩy chay nếu còn tiếp tục chiếu phim Miền Nam. VK sợ cán bộ còn hơn cảnh sát, chính quyền Thái. Cán bộ bắt VK phải xây nhà sát với nhau và nhà nào cũng phải có cửa bí mật thông với nhau để cán bộ trốn tránh các cuộc lùng bắt của chính phủ – khu vực đông người Việt sinh sống là căn cứ an toàn mà cảnh sát Thái không làm gì được.
Đa số VK thân Bắc, chỉ có 5% thân Nam. Ra đường hai phe không nhìn nhau, không dám bắt chuyện; ra chợ phe thân Nam bán hàng thì phe thân Bắc không mua, phe thân Nam mua thì phe thân Bắc không bán. Trai gái của 2 phe không được lấy nhau. Bà con họ hàng bên phe Nam có đám ma, đám cưới, hỏi, giỗ, bà con phe Bắc không được đến dự và ngược lại.
Phe Nam thường bị đe doạ, khủng bố; đi đâu cũng bị coi thường là “Việt gian bán nước”. Trong số thân Nam có một số không đứng đắn, thường xuyên bịa chuyện để bán tin hay báo cáo cho sứ quán VNCH, cũng như chính quyền Thái. Nếu có người tố những việc làm bất chính của họ thì liền bị họ vu khống, phá rối đủ điều, bịa chuyện không tốt viết thư giấu tên, làm hại người tố. Ngay cả cán bộ thông tin Miền Nam (cùng phe) họ cũng không chừa và nội bộ của sứ quán Miền Nam có vài lần đã bị xáo trộn nặng. Lợi dụng sự quen biết với cơ quan chính quyền Thái, họ chạy chọt kiếm tiền khi VK gặp nạn.
Thái dàn xếp cho Việt kiều hồi hương
Chính phủ Thái xem cộng đồng VK như trái bom nổ chậm, rất nguy hại cho đất nước của họ. Vì vậy, Thái gia tăng nổ lực thương lượng (trả chi phí và chuyên chở, vv,) cho tất cả VK hồi hương. Miền Nam chỉ nhận tượng trưng 99 người, còn Miền Bắc nhận làm nhiều đợt. Tuy nhiên, VK hồi hương về Bắc, đã thất vọng về sự quá nghèo nàn so với miền bắc Thái và cuộc sống của họ ở đó – không đúng như từng được tuyên tuyền; bất mãn vì không được hậu đãi, không được giúp đở nhiều về sinh kế và chổ ở. Sau khi nhận khoảng 35 ngàn VK thì Hà Nội tìm cách ngưng vì thấy không có lợi. Trước đó một thời gian ngắn, Miền Nam cũng có nhận mấy ngàn VK từ Cambodia hồi hương, nhưng vì họ được đưa đến vùng đất quá khô cằn, và vì nạn tham nhũng nên tiền bạc, vật liệu, những hổ trợ từ chính phủ cũng không đúng như được hứa trước khi về. Nói chung, chính sách hồi hương của cả Nam và Bắc đều thất bại và làm mất sự tin tưởng đối với cả người đã về và người chưa về.
Kết luận:
Việt kiều đến Thái từ gần 200 năm trước đã hoàn toàn mất gốc. Đợt VK đến Thái vào những năm 1944-45, nhiều người còn giữ được gốc nhờ sự kèm kẹp của cán bộ. Chính sách bạc đãi quá khắt khe và hình ảnh người Việt xấu xí, mà chính quyền và truyền thông Thái, đã dành cho những VK đến muộn này trong suốt gần 50 năm (từ 1945 đến khi 2 nước có quan hệ bình thường vào đầu thập niên 90), làm cho nhiều Việt kiều không dám ngẫng cao đầu mạnh dạn xưng: tôi là người gốc Việt và đã làm cho người Việt không có cơ hội học hành, làm ăn lớn hay vươn lên so với người Thái trong suốt thời gian dài đó.
Giả sử ngày xưa cán bộ CS hoạt động ở Thái Lan âm thầm như những người Tàu thân Trung Quốc thì chắc những biện pháp áp đặt đối với VK đã đở khắt khe hơn. Thời đó, công an vẫn theo giỏi người Tàu thân và hoạt động cho Trung Quốc, nhưng không có những phản ứng hay hành động mạnh đối với những người này. Họ vẫn được tự do đi lại làm ăn, không bị hạn chế nơi cư ngụ hoặc nghề nghiệp hay bị bắt bớ, tù tội, tống tiền bởi đủ diều, mặc dù vào thời gian đó, chính sách của Thái là không bang giao và chống Trung Quốc.
Theo tôi, chính sách kiểm soát gắt gao Việt kiều phù hợp với việc bảo vệ an ninh quốc gia của Thái và 70 ngàn Việt kiều đến muộn này là những người bất hạnh. Ngoài ra các chính quyền Việt nam cũng tệ: chỉ lo đạt được mục đích chính trị, được tiền, được lòng chứ không nghĩ đến hậu quả mà Việt kiều phải gánh chịu hay nghĩ đến tương lai của họ – chỉ muốn vắt sữa từ những con bò gầy còm, kiệt sức, chứ không tìm cách nuôi cho bò mập ra nhằm có nhiều sữa hơn và sữa cũng bổ hơn.
Những gì đã xảy ra đối vơi người Việt tại Cambodia và Thailand là những bài học vô giá cho dân tộc Việt Nam, vì ít có dân tộc nào khác trên thế giới, ngoại trừ người Do Thái, phải gánh chịu những đau khổ và nhục nhã như vậy nơi xứ người.
Mọi chi tiết trong bài này đều lấy ra từ bài viết của Hoàng Linh về Việt kiều tại Thái Lan, nằm trong cuốn sách: “Vòng quanh thế giới – Người Việt tại hải ngoại.” Đăng bài này và những bài về Cambodia, vv, nhằm chia sẽ vài sự thật phản ảnh “hậu quả của sự chia rẽ giữa người Việt Nam tại nước ngoài”. Tôi nghĩ, tôi may mắn mới bắt gặp những sách tài liệu chỉ in 500 bản copy này.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Có đến mười cái không kia đấy, bác Tiến ợ!

SÁU KHÔNG
Tham luận của nhà văn Trần quốc Tiến trong đại hội nhà văn các tỉnh phía Bắc 11 – 5 – 2015 – tại Quảng Ninh
Một là: Không coi viết văn làm thơ là nghề mà coi nó là nghiệp, là sự nghiệp. Nghề và nghiệp rất khác nhau. Nghề là mục đích làm ra tiền để kiếm sống, dùng mọi thủ đoạn và lao động cơ bắp để kiếm tiền, cạnh tranh quyết liệt để tồn tại. Nhưng viết văn, làm thơ đâu phải như vậy. Nhà văn và lao động nhà văn đứng cao hơn thế rất nhiều. Quyển sách của nhà văn chân chính viết ra chắc chắn không phải chỉ có mục đích duy nhất là kiếm tiền, dù cũng có tiền. Cái đứng cao hơn đồng tiền là nó chuyển tải văn hóa sống đến cộng đồng, là mang thông điệp làm người đến đồng loại để vươn tới một tầm cao văn minh, làm cho con người ngày càng hoàn thiện về các mặt chân thiện mỹ... Hãy coi văn chương là nghiệp, nghiệp lớn mà mỗi nhà văn là một sứ giả của Trời mang sứ mệnh cao cả thổi luồng gió mới vào những tâm hồn bình lặng. Ai coi văn chương là nghề, người ấy không phải là nhà văn!

Hai: Nhất quyết không viết vì tiền. Ở Việt Nam ta, những tác phẩm hay nhất là những tác phẩm không có xu nhuận bút nào. Truyện Kiều ai trả nhuận bút cho Nguyễn Du, ai trả nhuận bút cho thơ Hồ Xuân Hương, cho thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương... Tôi đố những vị lĩnh nhuận bút trăm triệu ngày nay giám đọ văn chương với những người không có xu nhuận bút nào thời ấy? Thế thì văn hay là phải ít tiền, càng ít tiền bao nhiêu văn càng hay bấy nhiêu. Ngày nay rất nhiều bài văn hay trên mạng không có xu nhuận bút nào mà nhiều bài báo in không đọ nổi. Muốn nhiều tiền thì viết văn theo đơn đặt hàng, để rồi biến nhà văn thành thợ văn...
Ba là: Nhà văn không được nịnh ai, ngoài đời không nịnh ai, trên trang viết không nịnh ai để bảo toàn nhân cách nhà văn. Trong Hội nhà văn, chúng ta kính trọng các lãnh đạo nhưng quyết không xu nịnh lấy lòng ai, vị nào không làm tròn chức phận anh đầy tớ là ta cạo gáy luôn, có thế thì Hội ta mới vươn lên tầm cao được. Ngoài xã hội thì không nịnh quan. Chưa bao giờ những người làm quan lắm tội như bây giờ. Gặp các quan ta hãy trừng mắt mà áp đảo để cảnh báo rằng tớ là nhà văn đây, nếu cậu mà tham ô, hống hách, cửa quyền bắt nạt dân là tớ viết bài choảng luôn! Quan có nhã ý biếu cái phong bì thì hãy lắc đầu quay đi. Ngày xưa Khuất Nguyên có dạy ta rằng người đời đục thì nhà văn phải trong, người đời say thì nhà văn phải tỉnh, nhà văn tỉnh được giữa cái lúc đời đang say, nhà văn trong được giữ cái lúc đời đang đục, ấy là bảo tồn được nhân cách nhà văn.
Bốn là: Không nên đặt hàng các nhà phê bình viết hay cho tác phẩm tồi của mình. Ngày nay các nhà phê bình bị chê cười quá nhiều có một phần trách nhiệm từ các nhà văn. Một số cây bút viết rất kém liền kết thân với một số nhà phê bình chiêu đãi họ để họ làm vai trò phù thủy biến cái đống rác văn chương của mình thành đỉnh cao sáng tạo... Chính vì thế mà ngày nay cầm đến tờ báo hay quyển tạp chí, đọc lướt các bài giới thiệu sách người không am hiểu văn chương cứ tưởng ở Việt Nam văn hào thi hào đang nở rộ, thật ra thì chỉ có nở rộ văn thơ rởm mà thôi... Còn các nhà phê bình, nếu các bạn cứ viết phê bình như các bạn đang viết hiện nay thì đến giữa thế kỷ này ngành phê bình sẽ chết hẳn, chấm dứt vai trò cái roi quất cho con ngựa sáng tác lồng lên đã tồn tại nhiều thế kỷ, và khi các bạn xuống âm phủ gặp các nhà phê bình giỏi dưới ấy như cụ Hoài Thanh chẳng hạn sao các bạn cũng bị các cụ bạt tai vì tội làm hỏng cả một nghành quan trọng thời hội nhập.
Năm là: Không nên ồ ạt dịch văn học Việt Nam ra nước ngoài, họ nếm phải của giả thì họ sẽ chán, đến khi có của thật thì họ sẽ lắc đầu vì cho là của giả. Qúy hồ tinh không quý hồ đa. Cho người ta ăn một miếng thật ngon hơn là cho ăn mười miếng dở. Làm thế nào cho thế giới nếm văn chương Việt Nam, nếm đến đâu là gật gù đến đấy. Muốn vậy thì phải lấy chất lượng văn chương làm tiêu chí cao nhất để quyết định dịch và giới thiệu với bạn đọc nước ngoài. Tác phẩm nào dù có đến mười cái cao mà có một cái bị thấp là chất văn học thì kiên quyết loại bỏ. Lấy tác phẩm là chính, tác giả là phụ. Tác giả dù to bằng quả bưởi, mà tác phẩm lại chỉ bằng hạt đỗ, hãy loại ngay. Ngược lại tác giả chỉ bằng hạt đỗ mà tác phẩm của ông ta như trái núi thì hãy để lên đài hoa cho thiên hạ cùng chiêm ngưỡng... Đấy mới là cao tay cho những ai đang cầm cân nảy mực cho văn học nước nhà. Nếu không làm như thế thì ôi thôi, hết nói!
Sáu là không nên tổ chức quá nhiều cuộc thi văn chương dễ gây nhiễu loạn. Nhà văn cũng không nên chạy đua lấy giải thưởng bằng mọi giá. Tôi đã nhiều lần lên tiếng rằng các giải thưởng tràn lan chấm bố toác như hiện nay đang làm hại văn chương, vì ngồi chiếu nhất văn chương có khi lại là một anh mõ mà thôi. Sự nhầm chỗ do chấm bố láo là cái búa tạ phang vào ngôi nhà văn để dẫn đến nguy cơ đổ sập có ngày...
Vì sao tôi lại khuyên các nhà văn muốn có văn chương đích thực thì đừng có chạy theo đuôi các giải thưởng? Là vì sẽ mất tự do sáng tác, bị gò ép theo khuôn mẫu của hào quang đom đóm. Văn chương chứ đâu phải cái lưỡi câu mà uốn lên uốn xuống thế nào cũng được? Cố nặn ra những hàng chữ không phải là tâm đắc của mình thì một phần hay, chín phần dở, treo cái bằng khen lên là rơi nước mắt vì buồn... Tôi nói như thế có nghĩa là đừng ép mình sáng tác cái gì mà mình không thích, còn như ta sáng tác cái ta thích mà được giải thì càng tốt.
Gớt nói: Tất cả mọi lý thuyết đều là mầu xám, chỉ có cây đời là mãi mãi xanh tươi. Mượn cách nói của Gớt tôi nói: Tất cả các giải thưởng đều là mầu xám, chỉ có lời khen của bạn đọc là mãi mãi xanh tươi...

Ở nước ta có một con người vĩ đại trên ngực không lấp lánh huân chương, trên tường nhà không treo các bằng học hàm học vị, không một mảnh bằng khen, giấy khen, không nhận một giải thưởng nào dù to, dù nhỏ... Người ấy là Hồ chí Minh danh nhân văn hóa! Nếu thật lòng muốn học tập đạo đức Hồ chí Minh thì các nhà văn chúng ta nên bắt đầu học từ đấy...
Nam Định, 9 – 5 – 2015 


TRẦN QUỐC TIẾN
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Hạ Nam
Sau nhiều phản hồi của cư dân mạng ở Việt Nam, Google đã có động thái tích cực không ghi địa danh Hoàng Sa thuộc một tỉnh của Trung Quốc.
Google bỏ ghi quần đảo Hoàng Sa thuộc một tỉnh của Trung Quốc - ảnh 1
Cập nhật mới nhất của Google không ghi quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Hải Nam (Trung Quốc) – Ảnh: Chụp lại màn hình Google
Trước đó, khi tìm kiếm từ “Hoàng Sa” hay “Paracel Islands” trên trang Google đều thấy trang web này dẫn nguồn từ Wikipedia ghi quần đảo này thuộc tỉnh Hải Nam (Trung Quốc).
Cụ thể, khi tìm kiếm từ “Hoàng Sa” ở Google, chúng ta sẽ thấy ở góc bên phải của trang kết quả sẽ xuất hiện câu “Island group in China” (Google tiếng Anh) hay “Nhóm đảo ở CHND Trung Hoa” (Google tiếng Việt) dẫn nguồn từ Wikipedia.
Google bỏ ghi quần đảo Hoàng Sa thuộc một tỉnh của Trung Quốc - ảnh 2
Trước đó Google ghi quần đảo Hoàng Sa là “Nhóm đảo ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”, mà cụ thể là tỉnh Hải Nam – Ảnh: Chụp lại màn hình Google
Tuy nhiên, khi vào Wikipedia cả tiếng Việt và Anh thì thấy trang web không cho kết quả như trên, mà nêu rõ quần đảo Hoàng Sa đang có tranh chấp. Trung Quốc kiểm soát quần đảo này sau trận hải chiến năm 1974 và đến nay Việt Nam vẫn là một bên có tuyên bố chủ quyền hợp pháp đối với quần đảo Hoàng Sa.
Huyện đảo Hoàng Sa là một đơn vị hành chính trực thuộc TP.Đà Nẵng, bao gồm quần đảo Hoàng Sa.
Nguồn: 
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhà iem cũng vì hoàn cảnh nên mới phải vậy. Nói như các pác để gãy hết răng ăn dưa à?

Đánh trống lảng có "định hướng" (trường hợp báo Hà Nội Mới)

Giaovn 08/05/2015

Nhiều vụ việc của Hà Nội, thì không thấy Hà Nội Mới đâu. Cứ trốn biền biệt. Tiêu biểu nhất gần đây là sự kiện được gọi là "thảm sát cây xanh Hà Nội 2015". Dĩ nhiên, Hà Nội Mới trốn biệt, hoặc chỉ ra mặt ở bài dạng như sau.

Ấy thế, nhưng cũng chính Hà Nội Mới thì lại đang vươn tay ra sự kiện "dưa hấu ở tỉnh đoàn Quảng Ngãi 2015". Xem cụ thể tư liệu ở dưới.

Đây có thể xem là một bài đánh trống lảng. Việc của Hà Nội, sao không thấy Hà Nội Mới đặt câu hỏi có giá trị một chút, như chính họ đang đặt cho Quảng Ngãi, rằng: "Họ đã "ăn" trên lưng nông dân 2.000 đồng/kg dưa?", hay "Số tiền chênh lệch đang nằm ở đâu, thưa tỉnh đoàn Quảng Ngãi ?".

Dĩ nhiễn việc đánh bài lảng ở đây, không chỉ là riêng cho Hà Nội Mới. Mà có thể gọi là đánh trống lảng có "định hướng" chung cho nhiều tờ báo hiện nay ở Việt Nam đầu thế kỉ XXI.

Từ đây trở xuống là tư liệu.

---

Số tiền chênh lệch đang nằm ở đâu, thưa Tỉnh đoàn Quảng Ngãi?

Thứ Sáu 00:27 08/05/2015
(HNMO) - Nhẽ ra, chiến dịch "giải cứu" dưa hấu cho bà con nông dân của Tỉnh đoàn Quảng Ngãi đã thành công một cách “ngọt ngào”, bởi hơn 750 tấn dưa - như Tỉnh đoàn thống kê - không phải là một con số nhỏ.
Tỉnh đoàn Quảng Ngãi thuê xe tải, huy động đoàn viên thanh niên về các xã Tịnh Hiệp, Tịnh Trà (huyện Sơn Tịnh) thu mua dưa hấu tại đồng ruộng
Tỉnh đoàn Quảng Ngãi huy động đoàn viên thanh niên về các xã Tịnh Hiệp, Tịnh Trà
(huyện Sơn Tịnh) thu mua dưa hấu

Nhẽ ra, hàng trăm thanh niên tình nguyện lưng ướt đẫm mồ hôi trong nhiều ngày nắng như đổ lửa khi đứng đường bán từng quả dưa, hẳn sẽ tự hào vì mình đã làm được một việc thiện nguyện và những người nông dân sẽ được hưởng lợi nhiều hơn, đúng với công sức lao động cực nhọc họ đã đổ ra..., nếu như việc thu gom, mua bán dưa của Tỉnh đoàn được làm công khai, minh bạch, có sự giám sát của người dân, cộng đồng và cả các cơ quan chức năng của tỉnh.

Tỉnh đoàn: Chúng tôi trả cả tiền chênh lệch cho nông dân!

Ngày 6/5/2015, Báo Hànộimới Điện tử có bài: "Họ đã “ăn” trên lưng nông dân 2000 đồng/kg dưa hấu?" phản ánh việc Tỉnh đoàn Quảng Ngãi bán cho các đầu mối ngoài Hà Nội 5000 đồng/kg, trong khi đó họ mua của bà con nông dân chỉ với 3000 đồng/kg. Ngay ngày hôm sau 7/5, Báo Hànộimới nhận được Công văn số 2002 –CV/TĐTN – TNNT do Bí thư Tỉnh đoàn Hà Thị Anh Thư ký, cho rằng Báo Hànộimới đã thông tin không chính xác.

Để rộng đường dư luận, cũng như làm rõ việc thu gom và bán dưa cho nông dân của Tỉnh đoàn Quảng Ngãi “tròn hay méo”, Báo đã cử một nhóm PV trực tiếp vào Quảng Ngãi, xuống tận các thôn, gặp từng hộ dân đã bán dưa cho Tỉnh đoàn. Và những gì người dân cho chúng tôi biết, hoàn toàn trái ngược với nội dung công văn trả lời báo Hànộimới của Tỉnh đoàn Quảng Ngãi.

Trong Công văn gửi Báo Hànộimới, Tỉnh đoàn khẳng định: Ngày 3-5-2015, sau khi nhận được thông tin từ Bí thư Đoàn xã Tịnh Hiệp đề nghị có 10 tấn dưa Hắc mỹ nhân cần bán, giá thương lái mua là 3.500 đồng/kg, Tỉnh đoàn thống nhất nâng giá dưa thành 5000 đồng/kg để người dân đảm bảo có lãi, tiếp tục ổn định cuộc sống; Sau đó liên hệ và thống nhất với đầu mối ở Hà Nội thu mua 10 tấn dưa với giá 5000 đồng/kg (chưa tính tiền chuyên chở); Đến ngày 6-5-2015, người bán dưa phản hồi dưa non, không ngọt; Tỉnh đoàn làm việc lại với Đoàn xã để trao đổi với bà con, thống nhất giảm 1 tấn hao hụt, dưa non, chỉ tính tiền 9 tấn (xe 10 tấn). Số tiền thu được sau khi đầu mối Hà Nội chuyển về sẽ được chuyển trả cho bà con nông dân ( hiện số tiền này vẫn chưa được chuyển trả cho bà con); Giá dưa bán tại Hà Nội do các đầu mối quyết định khi cộng tiền chuyên chở, bốc vác, Tỉnh đoàn không tham gia chỉ làm đầu mối bán giúp dưa cho bà con nông dân.

Trước đó, ngày 11-4-2015, sau khi được tin dưa hấu bị thương lái ép giá 600 đồng/kg, Tỉnh đoàn thống nhất nâng giá dưa thành 2000 đồng/kg (ngày 14-4-2015, sau khi thỏa thuận với các đầu mối tiêu thụ nâng giá dưa thành 3000 đồng để hỗ trợ bà con nông dân). Tỉnh đoàn Quảng Ngãi thu mua 40 tấn dưa hấu (An tiêm loại tròn) cho bà con nông dân tại ruộng với giá 2000 đồng/kg và tổ chức bán tại tỉnh với giá 4000 đồng/kg là đúng sự thật. Tuy nhiên, đây là chủ trương của Tỉnh đoàn sau khi trừ chi phí chuyên chở, rơm, hư hỏng, hao hụt còn lại 1000 đồng/kg trả thêm cho bà con. Thực tế, ngày 15-4-2015, Tỉnh đoàn đã trả tiền chênh lệch đợt 1 và đợt 2 cho bà con nông dân tại xã Tịnh Hiệp (huyện Sơn Tịnh), xã Bình An và Bình Minh (huyện Bình Sơn) là hơn 38 triệu đồng (đợt 1: 21,575 triệu đồng, đợt 2: 16,500 triệu đồng) và có tin phát trên sóng của Đài PTTH tỉnh Quảng Ngãi và có danh sách ký nhận của người dân, chứng kiến của đại diện lãnh đạo UBND xã ký xác nhận). Ngoài ra, khi dưa chở đi các tỉnh sẽ có tỷ lệ hao hụt khoảng hơn 500 kg (hao gió) hư hỏng… nhiều người tiêu thụ yêu cầu Tỉnh đoàn bù kinh phí hỗ trợ. Tỉnh đoàn đã bù 17 triệu đồng mua dưa hấu bù cho các chủ đầu mối vì không thể trừ kinh phí của người dân.

Thực tế: Một nửa quả dưa, không phải là quả dưa !
Trong công văn của mình, Tỉnh đoàn Quảng Ngãi đã thừa nhận, việc Báo Hànộimới phản ánh Tỉnh đoàn mua của nông dân 2000 đồng/kg, bán được 4000 đồng/kg là đúng sự thật, nhưng số tiền chênh 2000 đồng/kg, Tỉnh đoàn đã chuyển lại cho nông dân.

Vượt qua hơn 30 km đường tối hun hút, xóc lộn ruột, trên chiếc xe máy cà tàng thuê được ngoài thành phố Quảng Ngãi, chúng tôi tìm về xã Tịnh Hiệp. Ông Nguyễn Đức Phong (thôn Mỹ Danh, xã Tịnh Hiệp, huyện Sơn Tịnh) cho chúng tôi biết, vụ vừa rồi nhà ông thu hoạch được 4,3 tấn dưa, loại dưa tròn Hồng Lương. Dân Tịnh Hiệp thuần trồng dưa Hồng Lương, không trồng Hắc Mỹ Nhân. Vì sao? Là do đồng đất – ông Phong nói. Mỗi xã tùy theo thổ nhưỡng mà chọn giống dưa, loại nào cũng có ưu, nhược, ví như Hắc Mỹ Nhân thì được giá nhưng không được quả, còn Hồng Lương thì ngược lại. Vậy giá dưa Tỉnh đoàn thu mua của ông là bao nhiêu? Đợt đầu rẻ, chỉ 2000 đồng/kg, đợt sau được 2700 đồng/kg, đáng lý ra là 3000 đồng nhưng dân phải chịu bốc xếp, tiền rơm lót mất 300 đồng/kg. Tiền dưa đã được Tỉnh đoàn thanh toán hết. Coi như xong. Không thấy ai nói hỗ trợ thêm gì. Và đến nay cũng chưa thấy ai trong thôn nhận được tiền chênh do bán dưa. Việc mua bán giữa dân và Tỉnh đoàn không có hợp đồng, cứ nghe xã thông báo, dân chở dưa ra điểm tập kết, thanh niên tình nguyện cân cho bao nhiêu là mừng bấy nhiêu, những lúc dưa rớt giá mấy trăm đồng/kg, để thối ngoài đồng, có người mua cho bù tiền giống, đỡ tiền công là mừng lắm rồi.

Ông Lý Xuân Nghị (cũng ở thôn Mỹ Danh) có khoảng gần 9 tấn dưa, bán cho Tỉnh đoàn 3 đợt. Mỗi đợt các anh thanh niên tình nguyện chỉ mua mỗi hộ vài tấn. Đợt sau cùng chưa thấy các anh ấy chuyển tiền về, những ba tấn mấy – ông Nghị nói thêm. Đến nay không có việc hỗ trợ hoặc được trả thêm tiền chênh do Tỉnh đoàn bán dưa cho nông dân – ông Nghị quả quyết.

Chúng tôi còn gặp một số hộ dân khác của xã Tịnh Hiệp, tất cả đều khẳng định chưa gia đình nào nhận được tiền hỗ trợ, tiền chênh do bán dưa với giá cao hơn; và, giá dưa mua của người nông dân tùy theo các thời điểm đều do Tỉnh đoàn quyết định.

Căn cứ nội dung công văn của Tỉnh đoàn Quảng Ngãi gửi Báo Hànộimới yêu cầu "trả lại uy tín cho Tỉnh đoàn, để động viên phong trào thanh niên tình nguyện”..., Báo Hànộimới đề nghị Tỉnh đoàn Quảng Ngãi trả lời công luận: Số tiền chênh lệch khi bán dưa đang nằm ở đâu? Đồng thời cũng đề nghị các cơ quan chức năng của tỉnh Quảng Ngãi sớm vào cuộc làm rõ sự thật, công khai minh bạch số tiền chênh do bán dưa cho nông dân do Tỉnh đoàn thu được. Số tiền chênh ấy là bao nhiêu? Chi vào việc gì? Vì thu mua của dân 2.000 đồng, tự ý bán ra nâng lên 4.000 đồng/kg, tức là gấp đôi số tiền đã bỏ ra mua của nông dân. Thế nhưng thực tế thì nhiều nông dân mới chỉ nhận được 2.000 đồng trong số 4.000 đồng ấy, tức là bán 1 quả nhưng nhận tiền mới chỉ nửa quả mà thôi.

Bởi lẽ, một nửa quả dưa không bao giờ là quả dưa. Lòng tốt nửa vời hoặc là ngụy lòng tốt không thể là lòng tốt đúng nghĩa! 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thấy hay không mặc kệ bố ông, nói nhiều làm giề?

Cái mà ai cũng biết nhưng ít người thấy

XUÂN DƯƠNG

(GDVN) - Sự tồn tại của trí thức "rởm cao cấp" một phần là do cá nhân không được dạy dỗ đến nơi đến chốn về đạo làm người, phần khác còn do sự thiếu trách nhiệm.
Một bệnh nhân nữ bị đau răng gặp bác sĩ nha khoa, “ào ác ĩ, em au ong ồm”.
Bác sĩ: “Hiểu rồi, bà đau trong mồm hả, hàm trên hay hàm dưới”, bệnh nhân “àm ưới”.
Sau khi chữa xong, bệnh nhân nói:  “cảm ơn bác sĩ, em phải trả bao nhiêu tiền”?

Bác sĩ: “bà nói gì tôi không hiểu?”.
Bệnh nhân cho bốn ngón tay bành mồm ra rồi nói: “em ải ả ao yêu iền?”, bác sĩ: “ồ không nhiều, chỉ 350 nghàn đồng thôi”.
Câu chuyện hài châm biếm những người quá quen với sự khập khiễng dù không có thật, nhưng lại phản ánh sự thật. Trong cuộc sống, khi dùng đồ rởm nhiều đến mức thành thói quen, người ta quên mất cách dùng đồ thật.
Có lẽ vì thế, chuyện đích thân ông Hiệu trưởng Đại học Ngoại Thương ký văn bản “tố cáo” một giảng viên trường này khiến dư luận hơi giật mình.
Chuyện thường ngày ở huyện, nhất là “huyện Giáo Dục” việc gì phải làm to như vậy?
Tháng 5/2010 trường Đại học Ngoại Thương được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới. Đây được coi là một cơ sở đào tạo Đại học có uy tín, một mô hình tốt về xã hội hoá giáo dục…
Không lâu sau đó, chuyện đấu đá nội bộ bắt đầu xuất hiện mà điển hình là đơn thư nặc danh liên quan đến vấn đề tài chính, đặc biệt là liên quan đến ứng viên chức Hiệu trưởng.
Tháng 8/2012, tại Hội nghị cán bộ chủ chốt mở rộng, kết quả giới thiệu chức danh Hiệu trưởng, TS Đào Thị Thu Giang, Phó hiệu trưởng được 77 % phiếu tín nhiệm.
Tất cả các ứng viên khác, trong đó có 3 Phó hiệu trưởng chỉ đạt được mức tín nhiệm từ 22-40% (Dân trí).
Tuy nhiên sau gần 3 năm từ ngày bà Giang được 77% phiếu tín nhiệm, Hiệu trưởng trường này vẫn là GS. Hoàng Văn Châu.
Và phải mãi đến ngày hôm qua, 6/5/2014, Đại học Ngoại thương mới có Hiệu trưởng thay thế. Ông này, là cán bộ được điều về từ Bộ Giáo dục.
Như thế, ông Châu tại vị hai nhiệm kỳ kéo dài tới 10 năm, vậy tám năm qua ông làm gì mà chỉ đến khi sắp nghỉ hưu ông mới chịu công khai cái “em sâu làm rầu nồi canh thơm phức của trường mình”? Phải chăng ông muốn cái hương vị “nồi canh” mà ông mở nắp là dành cho người “kế vị” ông? 
Xin nêu một vài sự kiện liên quan đến ba Đại học thuộc vào hàng danh tiếng nhất cả nước là Bách Khoa Hà Nội, Kinh tế Quốc dân và Ngoại Thương: Đại học Bách Khoa có hai vụ lùm xùm về đạo văn (ông Nguyễn Cảnh Lương, ông Trần Văn Tớp) khiến Ban cán sự Đảng Bộ GD-ĐT quyết định không đồng ý bổ nhiệm ông Trần Văn Tớp vào vị trí hiệu trưởng Đại học Bách Khoa.
Đại học Kinh tế Quốc dân có ông Hoàng Xuân Quế, Phó Viện trưởng Viện Ngân hàng - Tài chính, đã sao chép tới 30% nội dung luận án tiến sĩ của ông Mai Thanh Quế khiến Bộ GD&ĐT phải thu hồi bằng tiến sĩ của ông này.
Nếu đem so sánh thì vụ việc của giảng viên Nguyễn Huyền Minh ở Đại học Ngoại Thương cũng chẳng có gì đặc biệt. Có chăng là thời điểm và cái cách mà lãnh đạo trường này công bố mà thôi.
Những trường thuộc vào loại uy tín nhất “làng đại học” Việt Nam còn như vậy thì các trường kiểu “xã hội hóa” như Đại học Hoa Sen, Hùng Vương, Chu Văn An, Lương Thế Vinh… còn lắm chuyện để nói.
Không có gì là quá khi nói ngôi nhà Giáo dục bị dột từ trên nóc. Không nhắc lại những chủ trương hay dự kiến chủ trương “giời ơi” như cộng điểm cho mẹ Việt Nam anh hùng, hay 34 nghìn tỷ cho sách giáo khoa. Xin đề cập đến bộ phận có nghĩa vụ phải công tâm nhất Bộ này là Thanh tra.
Có người tố cáo hiệu phó một trường đại học tư thục trên địa bàn Hưng Yên sử dụng bằng tiến sĩ  “rởm”. Tổ chức nước ngoài bán bằng cho vị hiệu phó này là Liên minh các viện hàn lâm quốc tế của Nga (MMC). Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao trong một bài báo đã xác nhận MMC là cơ sở sản xuất bằng tiến sĩ rởm. [3]
Thanh tra Bộ GD&ĐT sau nhiều tháng xác minh đã kết luận rằng người tố cáo sai,  bằng tiến sĩ của vị hiệu phó này không phải là bằng “rởm” (kết luận thanh tra số 1147/KL-TTr).
Khi bị truyền thông vạch rõ kết luận của Thanh tra Bộ có nhiều sai sót đến mức đáng ngờ, một vị Thứ trưởng Bộ GD&ĐT phải vào cuộc thẩm định lại, kết luận của Bộ mà vị Thứ trưởng này ký ghi rõ “chưa đủ cơ sở công nhận (bằng do MMC cấp cho vị hiệu phó nọ) tương đương văn bằng tiến sĩ trong hệ thống văn bằng của Việt Nam”  (kết luận số 816/KL-BGDĐT).
Tuy nhiên dù đã kết luận bằng tiến sĩ của vị hiệu phó này không được công nhận tại Việt Nam, nghĩa là không đủ tư cách làm hiệu phó một trường đại học nhưng Bộ GD&ĐT lại giữ “quyền im lặng” trong việc bắt buộc người này phải thôi chức hiệu phó.
Tương tự, khi một kỹ sư mạo nhận học vị thạc sĩ bị tố cáo, Thanh tra Bộ GD&ĐT lại cho rằng người dân tố cáo sai, vị kỹ sư nọ đúng là thạc sĩ. Chỉ đến khi ông Thứ trưởng vào cuộc thì ông “thạc sĩ” nọ mới chịu trở về đúng “vị trí” kỹ sư của mình.
Vừa qua Học viện Chính trị khu vực III thuộc học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh quyết định “thu hồi bằng Cao cấp Lý luận Chính trị của học viên Huỳnh Ngọc Tục- Tỉnh uỷ viên, Giám đốc Sở Công thương Gia Lai”.
Lý do vì ông này sử dụng bằng tốt nghiệp cấp 3 “rởm” (hệ bổ túc văn hóa) để thi vào hệ tại chức Đại học Luật. Cả hai quyết định kỷ luật mà ông này phải nhận từ Tỉnh Ủy và UBND tỉnh Gia Lai đều là “cảnh cáo”! [2]
Vấn đề là vì sao cái sự “rởm” về bằng cấp lại trở nên “phổ cập” như vậy?
Có phải là do không có chế tài nào đủ mạnh để răn đe, hay tại chẳng có ai dại gì mà động vào tổ kiến lửa?
“Khi những vị cán bộ có chức quyền dùng bằng giả không bị pháp luật trừng trị mà còn “trèo cao” hơn đến độ không ít vị còn được phong các chức vị quan trọng trong cơ quan Nhà nước” [3] thì có nghĩa là rút dây động … “chức vị quan trọng”, rút làm sao được!
Có ý kiến cho rằng, việc sử dụng bằng “rởm” hoặc mạo nhận trình độ của khá nhiều cán bộ, công chức, giáo viên… chưa gây nên hậu quả nghiêm trọng nên không cần xử lý hình sự.
Cách ngụy biện này rất “hợp lòng người” vì các “trí rởm” này đông lắm, có thể dễ dàng tìm thấy từ cấp xã, phường đến cấp tỉnh, bộ.
Một bài viết trên Tuanvietnam.vietnamnet.vn ngày 23/7/2013 có đoạn: “Còn nhớ chuyện bằng ngoại rởm của ông phó bí thư tỉnh và ông thứ trưởng nọ đã bị dư luận phanh phui, song cuối cùng thì "hòa cả làng". Ông phó bí thư không làm ở tỉnh thì về làm phó bí thư Ban cán sự, ông thứ trưởng thì "hạ cánh an toàn".
Vị Thứ trưởng mà bài báo đề cập là nói về ông C.M.Q. bên Bộ Y Tế, còn ông Phó bí thư tỉnh ủy là lãnh đạo tỉnh Y.B.
Báo Baovephapluat.vn cơ quan của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ngày 5/9/2013 viết: “Năm 2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo làm một cuộc rà soát lại trình độ học vấn của các cán bộ, nhân viên đang làm việc trong bộ máy công vụ nước ta đã phát hiện ra hơn 10.000 trường hợp sử dụng bằng giả. Đáng tiếc con số này không được công bố rộng rãi và cũng không có một trường hợp nào bị xử lý. [3]
Bài báo trên đưa ra kết luận: “Trong khi đó, những người có tài, được đào tạo có bài bản ở thế giới thì ngại về công tác trong nước vì sợ bị đổ vấy với không ít vị Giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ rởm đang giữ các trọng trách ở nhiều lĩnh vực”.
Nếu tiến hành một đợt kiểm tra nữa bắt đầu từ năm 2015, có bao nhiêu vạn bằng giả sẽ được phát hiện?
Khi lãnh đạo cấp viện, Hiệu trưởng các trường Cao đẳng, Đại học sử dụng bằng tiến sĩ “rởm” thì hậu quả đi kèm là hàng nghìn bằng cử nhân mà những người này ký (với học vị tiến sĩ viết trước tên) sẽ không có giá trị pháp lý. Dưới góc nhìn của pháp luật, hậu quả này là nghiêm trọng hay không nghiêm trọng?
Việc giảng viên Nguyễn Huyền Minh của Đại học Ngoại Thương xin nghỉ việc và nói sẽ bồi hoàn kinh phí đào tạo là một quyết định cá nhân đúng đắn, dù muộn cũng vẫn đáng khích lệ, còn hơn vị Phó Giáo sư của Đại học kinh tế Quốc dân quyết định kiện Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ra tòa.
Chuyện những cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ, mạo nhận học vị hoặc dùng bằng “rởm” làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức đoàn thể dân sự, kể cả các trường Cao đẳng, Đại học không còn là vấn đề thời sự. Người dân và truyền thông không còn dành sự chú ý đặc biệt cho các loại “rởm” này vì nói mãi vẫn thế, hơi đâu mà nói tiếp!
Sự tồn tại của loại trí thức “rởm cao cấp” này một phần là do cá nhân không được dạy dỗ đến nơi đến chốn về đạo làm người, phần khác còn do sự thiếu trách nhiệm, nếu không gọi là tiếp tay của một số bộ phận có chức năng quản lý nhà nước.
Nghe tiếng gà gáy giữa trưa, cháu hỏi ông: “ông ơi, gà gáy để làm gì”, trả lời “để đánh thức mọi người”, hỏi “ban ngày, mọi người đều thức, sao lại cần đánh thức”, trả lời “vì ban ngày vẫn có người đang ngủ”, hỏi tiếp “sao lại có người ngủ ngày”, trả lời “vì họ thuộc vào 30%”, “thế 30% là cái gì hả ông?”, “là cái mà ai cũng biết nhưng ít ai thấy”…
Khi đã quen sống với “trí thức rởm”, nếu có ai đó tố cáo “trí rởm” thì dù họ có là “trí thức thật” người ta vẫn ngỡ ngàng bán tín, bán nghi./.
***
Tài liệu tham khảo:
[2] http://vtc.vn/thu-hoi-bang-cao-cap-chinh-tri-giam-doc-so-tien-than-bang-bang-gia.7.539003.htm
[3] http://baobaovephapluat.vn/van-hoa-xa-hoi/phong-su-xa-hoi/201309/lay-lan-can-benh-bang-gia-te-nan-lam-bang-hoai-xa-hoi-2268814/

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2015

Sẵn sàng cho phiên chợ “ngoại tình” duy nhất nơi cao nguyên đá

Dân trí Phiên chợ chủ yếu dành cho những đôi trai gái có mối tình trắc trở, đã yêu nhưng lại lỡ duyên, dang dở vì một lý do nào đó...
Ông Nguyễn Cao Cường, Chủ tịch UBND huyện Mèo Vạc, Hà Giang vừa cho biết, từ ngày 13 - 16/5 (tức 25 – 28/3 âm lịch) sẽ diễn ra tuần văn hóa, du lịch Lễ hội chợ tình Khâu Vai tại huyện Mèo Vạc, Hà Giang.
Chợ tình Khâu Vai, thuộc huyện Mèo Vạc, cách thành phố Hà Giang khoảng 180km, là phiên chợ tình đặc biệt “có một không hai” ở Việt Nam. Phiên chợ chủ yếu dành cho những đôi trai gái có mối tình trắc trở, đã yêu nhưng lại lỡ duyên, dang dở vì một lý do nào đó. Hàng năm, cứ đến ngày 27/3 âm lịch, họ lại vượt núi, băng rừng nơi cao nguyên đá về hò hẹn, gặp lại người yêu cũ, cùng nhau uống rượu và tâm sự, ôn lại chuyện tình xưa.
Nhiều đôi vợ chồng khi xuống chợ cùng nhau nhưng đến nơi lại tách nhau đi tìm “tình cũ” của mình mà không bị ghen tuông hậm hực tại phiên chợ phong lưu này. Sau ngày 27/3, “cửa lòng” khép lại, họ lại trở về để sống chung thủy với cuộc sống hôn nhân hiện tại của mình.
Năm nay, tuần văn hóa, du lịch Lễ hội chợ tình Khâu Vai sẽ có nhiều hoạt động đặc sắc.
Năm nay, tuần văn hóa, du lịch Lễ hội chợ tình Khâu Vai sẽ có nhiều hoạt động đặc sắc.
Trao đổi với PV Dân trí, ông Nguyễn Cao Cường, Chủ tịch UBND huyện Mèo Vạc, Hà Giang cho biết: Năm nay, lần đầu tiên Tuần văn hóa du lịch lễ hội chợ tình Khâu Vai được tổ chức với quy mô lớn và có nhiều hoạt động đặc sắc. Tuần lễ được diễn ra liên tục trong 4 ngày, nhiều sự kiện văn hóa đa dạng và phong phú sẽ tái hiện và làm nổi bật được nét văn hóa đặc trưng của vùng cao nguyên đá.
Theo Chủ tịch UBND huyện Mèo Vạc, tuần văn hóa du lịch bắt đầu diễn ra vào tối 13/5 với sự kiện khai mạc Tuần văn hóa du lịch chợ tình Khâu Vai và chương trình Chung kết Người đẹp Cực Bắc. Đây là lần đầu tiên diễn ra cuộc thi người đẹp với sự tham gia của đại diện người đẹp đến từ tất cả các huyện trong tỉnh Hà Giang.
Phiên chợ dành cho những cặp đôi có mối tình trắc trở, lỡ duyên có cơ hội gặp lại nhau.
Phiên chợ dành cho những cặp đôi có mối tình trắc trở, lỡ duyên có cơ hội gặp lại nhau.
Trong ngày 14/5, sẽ diễn ra các hoạt động thi “bò khỏe bò đẹp”, du khách cũng sẽ được trải nghiệm hoạt động cưỡi ngựa về chợ tình, thi đan nón và làm bánh dày của dân tộc Giáy, dân tộc Nùng; lễ dâng hương miếu Ông miếu Bà, giao lưu ẩm thực, văn hóa dân tộc Nùng, Giáy; tái hiện lại truyền thuyết chợ tình Khâu Vai, hát đối đáp, giao duyên… Các hoạt động trên sẽ được tổ chức tại Thị trấn Mèo Vạc và Khâu Vai.
Ngày chính của lễ hội (27/3 âm lịch) sẽ diễn ra các hoạt động thi chọi chim, trình diễn múa kiếm của dân tộc Giáy, lễ ăn hỏi của dân tộc Nùng và một số hoạt động văn hóa dân gian ở chợ tình Khâu Vai. Ở thị trấn Mèo Vạc cũng sẽ diễn ra hoạt động chọi bò truyền thống.
Theo Ban tổ chức, nằm trong khuôn khổ tuần văn hóa du lịch chợ tình Khâu Vai, năm nay lần đầu tiên sẽ phục dựng và mở phiên chợ tình phong lưu tại xã Sơn Vĩ, huyện Mèo Vạc vào sáng 16/5. Phiên chợ được mở sẽ kết nối giữa các địa phương trong huyện Mèo Vạc với nhau. Ngoài ra, là địa bàn giáp biên cũng sẽ tạo điều kiện để mở rộng quan hệ, giao lưu văn hóa và tăng cường tình đoàn kết với các dân tộc phía Trung Quốc. Phiên chợ cũng sẽ diễn ra các hoạt động đặc sắc như hội chọi dê, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, trình diễn trang phục dân tộc…
Xuân Thái

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Quan hệ Việt-Mỹ: Ý nghĩa chính trị của vũ khí sát thương

may_bay_trinh_sat_P3C_Orion
Tác giả: Trương-Minh Vũ & Ngô Di Lân
Quá trình thiết lập mối quan hệ đối tác quân sự “ngầm” giữa Việt Nam và Mỹ đã đạt được một bước tiến quan trọng. Trong chuyến thăm Washington mới đây của Phó thủ tướng Phạm Bình Minh, chính phủ Hoa Kỳ cuối cùng đã đồng ý gỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam vì lý do an ninh hàng hải.
Bước tiến này cho thấy rằng cả hai bên đã vượt qua nhiều rào cản trong mối quan hệ song phương. Lâu nay Mỹ luôn cho rằng việc gỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam là một vấn đề nhạy cảm bởi sự khác biệt trong hệ thống giá trị và chính trị giữa hai bên. Sự dè dặt trong việc gỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí được thể hiện một cách rõ ràng qua nhiều tiếng nói bày tỏ quan ngại rằng những vũ khí này sẽ được sử dụng với mục đích đàn áp những người “bất đồng chính kiến”.
Những ý kiến như vậy đang được ủng hộ và vận động bởi những người Việt ở Mỹ, những người luôn nhấn mạnh rằng việc gỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam cần đi kèm với cải cách chính trị. Mặc dù vậy, các chính trị gia Mỹ đã phản ứng một cách dè dặt trước những đề xuất này. Ở một chừng mực nào đó đã tồn tại sự nhất trí ngầm giữa hai bên rằng việc gỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam là cần thiết, như một phản ứng chiến lược trước những hành động cứng rắn gần đây của Trung Quốc trên biển Đông.
Còn trong nội bộ Việt Nam, bắt đầu có nhiều tiếng nói chỉ trích chính sách quốc phòng “3 không” của nước này (bao gồm không lien minh quân sự với bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia). Những ý kiến phản biện cho rằng cách tiếp cận này không còn hữu hiệu trong việc giúp bảo vệ lợi ích quốc gia và chủ quyền, nhất là sau khi Trung Quốc đưa giàn khoan HD-981 vào trong khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Bất chấp những sự khác biệt nhất định về lập luận, những tiếng nói này ủng hộ việc Việt Nam xích lại gần Mỹ hơn. Từ góc nhìn của các chiến lược gia Việt Nam, chỉ có Mỹ mới có thể gây thay đổi tính toán của Trung Quốc ở biển Đông, và ngăn chặn việc nước này sử dụng vũ lực để thay đổi hiện trạng. Trong khi đó, nhận được sự hậu thuẫn của một cường quốc về sức mạnh quân sự đồng nghĩa với việc cán cân quyền lực được thay đổi theo chiều hướng có lợi cho Hà Nội.
Trong chuyến thăm Mỹ vừa qua, Phó thủ tướng Phạm Bình Minh đã liên tiếp khẳng định rằng nỗ lực tìm kiếm vũ khí của Mỹ là một chuyện hết sức “bình thường” và không nhắm tới bất kì “nước thứ ba nào”. Tuy nhiên, rõ ràng cả Hà Nội lẫn Washington đang theo đuổi một cuộc chơi cân bằng quyền lực.
Tuy được xem là một bước đột phá quan trọng, vũ khí của Mỹ sẽ khó lòng lật ngược thế cờ trong mối quan hệ tay ba Trung-Việt-Mỹ nói chung và trong cuộc tranh chấp ở biển Đông nói riêng. Đầu tiên, kể cả Mỹ có gỡ bỏ toàn bộ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam thì điều này cũng không giúp thay đổi cán cân quyền lực giữa Trung Quốc và Việt Nam một cách đáng kể.
Dù thế nào đi nữa, hải quân Trung Quốc vẫn sẽ áp đảo hải quân Việt Nam. Hạm đội của Trung Quốc cũng hiện đại và được trang bị tốt hơn so với Việt Nam. Vũ khí của Mỹ còn rất đắt tiền, Hà Nội khó lòng có thể mua đủ vũ khí của Mỹ để thay đổi cấu trúc quân đội hiện nay một cách đáng kể với hi vọng răn đe Trung Quốc. Kể cả trong trường hợp Việt Nam có thể mua một lượng rất lớn vũ khí của Mỹ, Quân Đội Nhân Dân Việt Nam cũng sẽ mất nhiều năm để tích hợp vũ khí Mỹ vào trong một hệ thống quân đội mà trong đó vũ khí của Nga đã áp đảo từ trước đến giờ.
Quan trọng hơn nữa, vẫn còn tồn đọng một số sự khác biệt và cách hiểu khác nhau giữa hai nước trong lĩnh vực hợp tác quốc phòng. Về phía mình, Việt Nam muốn hợp tác quốc phòng không chỉ giới hạn trong việc mua bán vũ khí. Lý tưởng đối với Việt Nam là hải quân hai nước sẽ tuần tra chung trên biển và Mỹ sẽ thể hiện cam kết bảo vệ an ninh hàng hải và ổn định trên biển Đông một cách mạnh mẽ hơn trong trường hợp Trung Quốc tiếp tục hung hăng. Một sự bảo đảm “ngầm” nhưng chắn chắn rằng Mỹ sẽ giúp đỡ và bảo vệ Việt Nam trong trường hợp Trung Quốc tấn công trước vẫn phù hợp với chính sách quốc phòng “3 không” hiện tại.
Mặc dù vậy, đây là những thoả thuận mà Mỹ khó lòng đồng ý, bởi nhiều lý do trong đó có việc cắt giảm ngân sách quốc phòng, các cam kết quân sự của Mỹ ở các nơi khác cũng như việc Mỹ muốn tránh đối đầu quá trực tiếp với Trung Quốc. Thực tế hơn thì Việt Nam hi vọng rằng Mỹ sẽ sớm hỗ trợ Việt Nam trong việc tuần tra trên biển. Điều này lý giải những cuộc thảo luận trước thềm chuyến thăm của ông John Kerry vào tháng 7 vừa qua (2014), như một nguồn tin ngoại giao từ Hà Nội cho hay. Cho đến nay chưa có thoả thuận hay hiệp định nào như vậy được ký kết. Nhưng đây chắc chắn sẽ là một trong những ưu tiên hàng đầu của Hà Nội.
Không thể phủ nhận rằng việc gỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam là một bước khởi đầu quan trọng cho sự gia tăng hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Mỹ. Tuy vậy, điều này vẫn chưa thoả mãn được sự trông đợi từ cả hai phía, nhất là trong việc kiềm chế những tham vọng của Trung Quốc ở biển Đông. Không lật ngược thế cờ quân sự, bước đột phá vừa qua vẫn có ý nghĩa biểu trưng và chính trị hết sức quan trọng, và là một giải pháp tạm chấp nhận được đối với cả hai bên trong thời điểm hiện tại.
Trương-Minh Vũ là giảng viên Khoa Quan hệ Quốc tế, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP. Hồ Chí Minh. Ngô Di Lân nghiên cứu về chính sách ngoại giao, hiện đang theo học tại Đại học Maastricht (Hà Lan). Quan điểm trong bài là quan điểm riêng của các tác giả.
- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2014/10/11/y-nghia-chinh-tri-cua-vu-khi-sat-thuong/#sthash.w0KmycSy.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang