Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2015

Bàn về một người trộm chó sắp bị tử hình.


Ngẩu Pín  

Tôi vừa đọc về một vụ án tử hình dành cho anh Hiếu, người bị cho là giết ba người truy đuổi, do nghi ngờ các anh trộm chó.
Vụ trộm chó, đáng tiếc, không hề liên quan ở đây, tôi xin trích lời của cơ quan công an:

Điều tra bước đầu từ Công an huyện Củ Chi cho thấy, khoảng 18h anh Bảo đang ở nhà thì Hữu và Phương chạy đến thông báo phát hiện 2 thanh niên trộm chó đi trên đường Nguyễn Kim Cương, ấp 8, xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi.

Lúc này, Bảo điều khiến xe gắn máy chở Hữu và Phương cầm theo 3 cây mã tấu đuổi “cầu tặc” hướng từ từ ấp 8 ra tỉnh lộ 15 


Vậy khi nào, 3 thanh niên này được quyền truy đuổi và bắt ( chưa nói phải chém nhé ) những anh kia?
Chúng ta cần giở luật :
Khi bắt quả tang hành vi phạm tội
Khi vừa kết thúc hành vi phạm tội
Và khi có 2 dữ kiện đó, thì cái cuối cùng là PHẢI truy đuổi liên tục.

Ví dụ dễ hiểu, khi anh đang đuổi 1 anh cướp áo đỏ, nhưng bị anh cướp cắt đuôi thoát, 2 phút sau anh gặp lại anh áo đỏ, anh hô cướp và xông vào chém, rất có thể anh nhầm người, do vậy, luật nói rõ, anh phải truy đuổi liên tục.

Vòng lại vụ 3 thanh niên chết, rõ ràng các anh KHÔNG bắt quả tang, KHÔNG truy đuổi liên tục, các anh đang ngồi nhà và một bạn đến gọi, vậy là xách mã tấu ( dao tự chế dài 60 cm ) lên đường truy đuổi.
Tôi lại trích cơ quan công an :

Lực lượng công an cũng thu giữ tại hiện trường 1 xe gắn máy hiệu Exciter màu trắng xanh (được xác định của anh Nguyễn Quốc Hữu), 3 cây dao tự chế (dài khoảng 60cm) nằm lăn lóc ngoài đường. 

Rõ ràng, 3 anh hoàn toàn trái luật khi xách mã tấu chém các anh kia, và có 3 mã tấu thì tôi đoán, 1 anh dùng 2 mã tấu, vì anh cầm lái khó lái một tay, tay kia cầm mã tấu chạy với tốc độ cao được.

Như vậy, ta phải tách hành vi trộm chó ra 1 vụ riêng biệt, vì ko hề liên quan đến trộm chó, 2 anh kia cũng không hề chở chó ăn cắp. do 3 anh truy đuổi không hề bắt quả tang và truy đuổi liên tục, nói chính xác, các anh không có quyền gì vác dao chém các anh kia. Ở đây chỉ là 2 nhóm côn đồ truy sát nhau.

Và như vậy mọi chuyện dễ hiểu hơn nhiều, 3 anh không mũ chở quá người quy định (3 người 1 xe) , chạy xe không biển số với tốc độ cao, dùng mã tấu chém hai anh kia, và bị anh Hiếu dùng súng xung điện bắn trả, ba anh ngã chết là ngoài ý chí chủ quan của anh đang bị truy sát.
Súng cũng là 1 từ người viết không ưng lắm, đó chỉ là cái hình khẩu súng, tác dụng như cái cung bắn bằng dây chun, tầm sát thương chỉ trên một mét vì gắn theo sợi dây điện, đây cũng là tầm sát thương của mã tấu.
Như vậy, để toàn mạng trước 3 cây mã tấu, cú bắn tên ra là hoàn toàn dễ hiểu, đây rõ ràng không phải tội giết người, anh chạy chỉ cố phòng ngự để tẩu thoát.
Cú bắn khiến 3 anh kia lạc lái, lao vào tường nhà dân chết.
Tại sao ghép 1 người chỉ đang cố tự vệ trước 3 anh hung hãn với 3 cây mã tấu đang cố chém chết họ vào tội chết?
Luật pháp ở đâu khi tử hình một người đang tự vệ?
Vì anh ta trước đó trộm chó? Nhưng 3 anh truy đuổi không bắt quả tang cũng không truy đuổi liên tục, luật pháp nào cho phép các anh chạy xe quá người quy định, ko mũ, ko biển số, lạng lách với 3 cây mã tấu để chém người anh không hề quen biết, chú ý tình tiết hai anh chạy trốn không hề có chó chết làm tang chứng để bị chém?
Những anh trộm chó đã bị đánh chết và đốt xác mà không hề được luật pháp quan tâm, nhưng khi đứng trước vành móng ngựa, luật pháp cũng quay lưng với các anh.
Tòa ở Việt Nam, đáng buồn, hay xử theo sức ép dư luận. Tôi nhớ có một vụ xử 3 năm tù một anh chui gầm gường nhà nghỉ rình và đâm tình địch nhiều nhát đến chết, rõ ràng anh ta đã bị kêu án rất nhẹ ở 1 vụ giết người có chủ mưu, chỉ vì dư luận ghét người đàn bà ngoại tình và thông cảm cho người chồng bị cắm sừng.
Tòa xử ai, tội gì phải đưa ra bằng chứng, dẫn luật rõ ràng. Tòa không thể xử một người tội chết chỉ vì nó làm dư luận quá bức xúc.
Dư luận là ai? Dư luận có biết pháp luật là cái gì không? Và nếu dư luận thông minh ngang toà thì dẹp toà đi, để dư luận tự xử, dẹp công an luôn đi, để dư luận tự xử.
Công lý là dành cho mọi người, và bình đẳng với mọi người, không một ai bị chết bởi cái tội họ không hề mắc chỉ để làm an lòng “Dư Luận”. 


(bài biên có sử dụng tham luận của chuyên gia luật Ungchinh hình bộ thượng thư và Hadat và các thành viên trại súc vật)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bị ăn quỵt tiền bôi trơn: Đau lắm nhưng không dám kêu


Phạm Huyền 
Bôi trơn, hoa hồng, chi phí không chính thức, tiền mặt, tham nhũng, phong bì, bồi dưỡng, FDI, cải cách, cải thiện, Nghị quyết 19, bôi-trơn, hoa-hồng, chi-phí-không-chính-thức, tiền-mặt, tham-nhũng, phong-bì, bồi-dưỡng, FDI, cải-cách, cải-thiện, Nghị-quyết
Vnn - Cả hội trường cười rầm rầm khi ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban pháp chế, VCCI, bình luận, tỷ lệ "ăn quỵt" năm qua đã giảm bớt. Bởi, doanh nghiệp chi tiền bôi trơn nhưng không phải lúc nào cũng được việc. Nếu không trả hoa hồng, 89% doanh nghiệp FDI cho biết là sẽ có chuyện bất lợi xảy ra.

Bôi trơn có lúc cũng không được việc

Tuần trước, gánh nặng bôi trơn của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) đã được ông Đậu Anh Tuấn đề cập tại Lễ công bố kết quả xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.


Tuần này, vị trưởng Ban pháp chế VCCI tiếp tục được mời đến Diễn đàn Kinh tế mùa Xuân để báo cáo rõ thêm về căn bệnh trầm kha đó trước toàn thể chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước, đặc biệt là trước Ủy ban Kinh tế của Quốc hội.

Cái chữ "ăn quỵt" nghe vừa hài hước, lại vừa xót xa!
Bôi trơn, hoa hồng, chi phí không chính thức, tiền mặt, tham nhũng, phong bì, bồi dưỡng, FDI, cải cách, cải thiện, Nghị quyết 19, bôi-trơn, hoa-hồng, chi-phí-không-chính-thức, tiền-mặt, tham-nhũng, phong-bì, bồi-dưỡng, FDI, cải-cách, cải-thiện, Nghị-quyết
Ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế của VCCI phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân (ảnh Phạm Huyền)
Rất bình tĩnh, ông Tuấn cắt nghĩa, năm 2010, chỉ có hơn 47% doanh nghiệp FDI cho biết công việc đã được giải quyết đúng sau khi họ trả các khoản chi phí không chính thức, nhưng năm 2014, tỷ lệ này là hơn 58%. Điều đó cũng có nghĩa rằng, một số lớn các doanh nghiệp FDI trước đây đã bị "mất trắng" với công chức Việt Nam (53%) một khoản tiền lớn mà không được việc gì, và giờ thì con số này giảm xuống (42%).

Nỗi thống khổ của doanh nghiệp FDI càng đậm nét hơn, khi nghiên cứu này chỉ ra rằng: 17,2% doanh nghiệp đã phải bôi trơn khi xin giấy phép đầu tư, 31,4% phải chi tiền hoa hồng khi đấu thầu, 66,2% đều phải đưa phong bì lúc thông quan và 22,3% doanh nghiệp FDI đã không muốn đưa ra toà án khi có tranh chấp, bởi chạy án là phổ biến.

Nếu không trả hoa hồng, 89% doanh nghiệp FDI cho biết là sẽ có chuyện bất lợi xảy ra.

Tháng 12 năm ngoái, lãnh đạo Thanh tra Chính phủ, đã khiến dư luận một phen nôi sóng khi nói tham nhũng ở Việt Nam giai đoạn 2012-2014 có tính chất ổn định. 

Ý ông muốn nhấn mạnh rằng, chỉ số cảm nhận tham nhũng ở Việt Nam do Tổ chức minh bạch quốc tế đánh giá đã không tụt, không tăng trong 3 năm qua.
Bôi trơn, hoa hồng, chi phí không chính thức, tiền mặt, tham nhũng, phong bì, bồi dưỡng, FDI, cải cách, cải thiện, Nghị quyết 19, bôi-trơn, hoa-hồng, chi-phí-không-chính-thức, tiền-mặt, tham-nhũng, phong-bì, bồi-dưỡng, FDI, cải-cách, cải-thiện, Nghị-quyết
Gánh nặng chi phí cho doanh nghiệp ngày càng lớn (theo NLĐ)
Nhưng ở tình huống này, ý nghĩa tốt đẹp của hai chữ "ổn định" đã trở nên khôi hài. Cũng giống như câu chuyện ăn quỵt giảm xuống, mừng cho doanh nghiệp thôi thì mất tiền nhưng được việc, nhưng buồn cho văn hoá hoa hồng - bôi trơn - tham nhũng ở Việt Nam không xoay chuyển gì.

Làm sai thì hướng dẫn, không nên phạt

Bôi trơn và tham nhũng sẽ khiến cho những doanh nghiệp chân chính không tồn tại được, còn những doanh nghiệp yếu kém, không có năng lực lại phất lên. Điều này sẽ càng làm giảm năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Chỉ ra hệ luỵ đó, TS. Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, cho rằng, Nghị quyết 19 của Chính phủ đáng ra phải đưa việc chống tham nhũng, giảm chi phí bôi trơn cho doanh nghiệp là nội dung trọng tâm.

Việt Nam tiến tới một môi trường kinh doanh ngang ASEAN-6, năm sau phải là ASEAN-4 thì song hành với hàng chục giải pháp cải cách thủ tục thuế, bảo hiểm, khởi nghiệp, phá sản,... phải là mục tiêu về chỉ số chống tham nhũng.
Bôi trơn, hoa hồng, chi phí không chính thức, tiền mặt, tham nhũng, phong bì, bồi dưỡng, FDI, cải cách, cải thiện, Nghị quyết 19, bôi-trơn, hoa-hồng, chi-phí-không-chính-thức, tiền-mặt, tham-nhũng, phong-bì, bồi-dưỡng, FDI, cải-cách, cải-thiện, Nghị-quyết
Giao dịch tiền mặt phổ biến tạo cơ hội cho tham nhũng
Ông Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển, Bộ KH-ĐT, nói: "Doanh nghiệp lâu nay làm ăn dựa vào quan hệ với Nhà nước. Căn bệnh thâm căn, cố đế này đã ăn vào máu người Việt cả nửa thế kỷ nay, tức 50 năm, còn chúng ta mới chỉ nhận thức được vấn đề 20 năm thôi. Cho nên, phải đổi mới tư duy. Các văn bản pháp quy của Nhà nước, nhất là Luật phải càng cụ thể, càng tốt. Nếu doanh nghiệp làm sai thì phải hướng dẫn lại chứ không phạt doanh nghiệp".

Còn với TS. Trần Du Lịch, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM, chúng ta tập trung tốn tiền để cải cách thủ tục hành chính, là chỉ làm được phần ngọn. Phần gốc phải giải quyết là nền hành chính công quốc gia cần phải đổi mới.

Bên lề Diễn đàn Kinh tế mùa Xuân, có câu chuyện rằng, một hãng sữa lớn của Việt Nam tổ chức sự kiện và có mời một anh phóng viên nước ngoài tham dự. Kết thúc sự kiện, hãng này tặng cho các đại biểu một túi quà nhỏ có vài hộp sữa. Nghĩ không giá trị nhiều, anh phóng viên nọ mang về trụ sở, mở túi ra và tá hoả phát hiện một phong bì có 200.000 đồng. Rất sợ hãi, anh này vội vã quay trở lại nơi tổ chức sự kiện thì đã chẳng còn ai. Sau đó, anh phải tìm đến tận trụ sở công ty sữa đó để trả bằng được cái phong bì ấy.

Với người Mỹ, việc nhận quà bằng tiền mặt là tối kỵ và nếu có quà, tổng giá trị quá 20 USD sẽ phải trả lại.

Ở Việt Nam, bao giờ mới có văn hoá như vậy?

Theo: Ngocduonglc
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Con ông Lê Duẩn nói gì?:

TS Lê Kiên Thành: Cha tôi không bao giờ biết vì sao mình là người được lựa chọn

Lan Hương (thực hiện) 

ANO - Chưa bao giờ, trong những cuộc trò chuyện, tôi hỏi Tiến sĩ (TS) Lê Kiên Thành những câu hỏi thẳng thắn, sòng phẳng, thậm chí đôi khi có thể khá khó chịu về cha ông - cố Tổng Bí thư (TBT) Lê Duẩn như trong buổi trò chuyện này. Và ông đã đáp lại bằng sự thẳng thắn thậm chí còn vượt cả sự chờ đợi của tôi.
40 năm sau ngày đất nước thống nhất, có lẽ đây là thời điểm hợp lý hơn bao giờ hết để hiểu thêm một phần về cố TBT Lê Duẩn và những đóng góp của ông trong cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước...

Phóng viên: Thời điểm năm 1957, khi Bác Hồ mời ông Lê Duẩn từ miền Nam ra miền Bắc và được Trung ương bố trí làm Tổng Bí thư, đã có rất nhiều người bất ngờ. Khi đó, ai cũng đinh ninh rằng một số đồng chí có uy tín cao ở miền Bắc và là những học trò xuất sắc của Bác sẽ được chọn vào vị trí đó. Nhưng cuối cùng, cha ông lại là người được chọn. Có bao giờ, lúc còn sống, cha ông kể cho ông nghe về lý do của quyết định ấy?
- Tiến sĩ Lê Kiên Thành:  Đối với cha tôi, đó mãi mãi là một câu hỏi cho đến tận cuối đời. Cha tôi từng tâm sự với  tôi rằng, thật ra cho đến trước thời điểm ông ra miền Bắc năm 1957, ông là một trong những người ít gần Bác Hồ nhất. Cha tôi hoạt động cách mạng suốt từ Bắc vào Nam. Nhưng ông chưa từng gặp Bác trước đó cho đến lần gặp đầu tiên sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, cha tôi trở về từ nhà tù Côn Đảo. Ông ra Bắc gặp Bác Hồ ở Hà Nội. Trong cuộc gặp đó, ông là người “cãi” lại Bác trong nhiều chuyện. 
Cha tôi kể lúc đó Bác Hồ đã nhìn ông với ánh mắt đầy ngạc nhiên, bởi xung quanh hầu như mọi người đều nhất mực nghe Bác. Chính cha tôi cũng không biết, buổi gặp đầu tiên đó, ấn tượng của Bác dành cho ông là thế nào. Nhưng với tính cách của cha tôi, ông không bao giờ ngại những điều đó.
Năm 1948, Bác Hồ và Trung ương cử ông Lê Đức Thọ vào miền Nam chấn chỉnh Xứ ủy Nam Kỳ vì đã có những hoạt động khác với đường lối chung của Trung ương Đảng chỉ thị. Và có thể sẽ bố trí ông Lê Đức Thọ làm Bí thư Xứ ủy.
Suốt 5 ngày đầu tiên khi ông Lê Đức Thọ thay Trung ương phê bình Xứ ủy, nhiều người trong Xứ ủy xôn xao bàn tán, nhưng cha tôi ngồi im ghi chép tất cả ý kiến của Trung ương. Hai ngày cuối cùng, ông mới nói. Ông giải thích tất cả những việc Xứ ủy làm, tại sao làm, kết quả như thế nào. Sau hai ngày đó, ông Lê Đức Thọ đứng lên đánh giá ghi nhận việc làm của Xứ ủy Nam Kỳ và nói một câu cuối cùng trước khi kết thúc hội nghị: “Tôi sẽ xin phép Bác Hồ ở lại làm phó cho anh Ba”.
Tôi không biết bằng cách nào, cha tôi, sau hai ngày nói chuyện, đã thuyết phục được ông Sáu Búa (tên gọi thân mật của ông Lê Đức Thọ) - một người nổi tiếng cứng rắn có thể thay đổi hoàn toàn suy nghĩ của mình.
Năm 1955, khi bộ đội và cán bộ cách mạng tập kết ra Bắc, cha tôi xin Bác ở lại miền Nam. Ngày chia tay, cha tôi nói với ông Lê Đức Thọ một câu: “Anh ra báo cáo với Bác, không phải hai năm, mà có thể phải hai mươi năm nữa, tôi mới được ra gặp Bác”. Ngay thời điểm mà nhiều người ở cả miền Nam và miền Bắc vui mừng về Hiệp định Genève, chúng ta đã biết, sẽ không bao giờ có tổng tuyển cử, không bao giờ chỉ là hai năm. Cha tôi nói ông đã khóc rất nhiều khi nhìn những gia đình miền Nam trước khi ra Bắc tập kết đã giơ hai ngón tay - hẹn 2 năm sau gặp lại...
Nhưng sau khi ông Lê Đức Thọ ra, miền Bắc vướng phải sai lầm trong cải cách ruộng đất. TBT Trường Chinh xin từ chức. Lúc đó Trung ương đang tìm người thay thế ông Trường Chinh. Như lời ông Lê Đức Thọ sau này kể lại thì ông chính là người đề cử cha tôi với Bác Hồ. Ông Lê Đức Thọ nói: “Thời điểm này, với những nhiệm vụ cách mạng được đặt ra, không ai xứng đáng hơn là anh Ba”. Có lẽ, việc cha tôi là người gắn bó hơn cả, hiểu cách mạng miền Nam hơn cả, là một trong những nguyên nhân ông được Bác gọi ra Bắc.
Thế nhưng lúc đó cha tôi lại nghĩ rất khác. Ông nghĩ rằng, nếu nói ông là người hiểu miền Nam, thì tại sao không để ông ở lại? Mà ông thì vô cùng muốn ở lại sát cánh cùng đồng bào miền Nam. Cha tôi từng kể, thời điểm đó, ra miền Bắc là điều ông không muốn, vì cách mạng miền Nam còn bao việc bề bộn, số phận của cách mạng miền Nam có nguy cơ đi đến hồi chấm hết, khi mà Mỹ - Ngụy đi đến từng thôn ấp tìm diệt những cán bộ cách mạng còn ở lại, trong khi chúng ta, vì tôn trọng cam kết Hiệp định, đã không thể vũ trang chống lại. Nhưng dù ông tha thiết xin ở lại, Bác Hồ lại vô cùng cương quyết. Bác đã đánh 3 bức điện vào miền Nam yêu cầu cha tôi ra. 
Sau này, cha tôi nhận ra rằng, việc ông được điều ra là đúng. Bởi vì ra là đấu tranh để đi đến thống nhất về đường lối cách mạng miền Nam.
Liệu khi ra miền Bắc, cha ông có phải đối mặt với khó khăn?
- Thời điểm cha tôi ra, ảnh hưởng của cải cách ruộng đất đến uy tín của Đảng vẫn còn nặng nề. Bác Hồ đề nghị cha tôi là Bí thư thứ nhất, kiêm chức vụ khác. Nhưng cha tôi nói: “Thưa Bác, tôi đề nghị Bác bố trí các đồng chí khác cùng gánh vác”. Sau khi tính toán kỹ, Bác cùng Trung ương sắp xếp ông Trường Chinh làm Chủ tịch Quốc hội, ông Phạm Văn Đồng là Thủ tướng.
Trong sâu thẳm, cha tôi nghĩ rằng, sẽ là không công bằng với ông Trường Chinh khi một mình ông phải chịu trách nhiệm toàn bộ cho những sai lầm cải cách ruộng đất, nhất là với những công lao, những cống hiến của ông cho cách mạng - người vào sống ra chết với cách mạng Việt Nam suốt từ những năm 1930 đến giờ.
Đề nghị đó của cha tôi cùng những quyết định sáng suốt của Bác đã khiến những nguy cơ xung đột trong lãnh đạo Đảng, như một số người lo ngại không xảy ra. Sự thay đổi lớn về vị trí lãnh đạo này đã không tạo ra những mâu thuẫn, mà ngược lại đã khiến trong những người đứng đầu của Đảng có sự đoàn kết cao, trừ những khác biệt trong quan điểm về đường lối cách mạng sau này về chủ trương thống nhất đất nước bằng con đường đấu tranh vũ trang hay không?
- Nói về ảnh hưởng của TBT Lê Duẩn với đường lối cách mạng miền Nam, Đại tướng Lê Đức Anh đã nói, Nghị quyết 15 được xây dựng trên nền tảng “Đề cương Cách mạng miền Nam” do cha ông soạn thảo. Có phải từ thời điểm đó, những quan điểm khác nhau về đường lối giải phóng miền Nam của TBT Lê Duẩn và một vài người khác đã bắt đầu thể hiện?
- Tôi được biết Nghị quyết 15 được khởi thảo từ khi cha tôi còn chưa ra Bắc. Ông Hoàng Tùng cùng ông Võ Nguyên Giáp là người khởi thảo bản nghị quyết đó. Nhưng nội dung Nghị quyết 15 cuối cùng chỉ được hoàn thành sau hai năm, với không biết bao nhiêu cuộc họp và tranh luận để đi đến thống nhất.
Nội dung quan trọng của bản Nghị quyết được đưa ra là vấn đề đường lối giải phóng miền Nam. Trong quá trình tranh luận, một bên ủng hộ thuyết hòa bình, cho rằng miền Bắc tự mạnh lên thì sẽ là tấm gương đầy thuyết phục với miền Nam, và miền Nam tất yếu sẽ đi theo chúng ta và cuối cùng đi đến thống nhất. Cha tôi thì ủng hộ quan điểm về con đường vũ trang cách mạng và cho đó là con đường tất yếu, không thể tránh khỏi.
Và dường như đó là tư tưởng xuyên suốt của TBT Lê Duẩn trong giai đoạn chống Mỹ. Điều gì đã khiến ông cho rằng, đó là con đường tất yếu phải đi để giải phóng miền Nam?
- Cha tôi và nhiều người cho rằng, với một nước Mỹ mạnh như thế, một nước Mỹ chưa từng thua trong bất cứ cuộc chiến nào trước đó, nhất là một nước Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ 2, thì không có một lý do gì Mỹ từ bỏ Việt Nam và để cho Việt Nam thống nhất trong hòa bình. Mà Mỹ đánh Việt Nam, là để đánh vào thành trì của Chủ nghĩa xã hội, chứ không riêng gì Việt Nam.
Những khác biệt về quan điểm đấu tranh đã khiến Nghị quyết 15 chỉ được thông qua sau 2 năm trời. Tôi nghe nói, chưa từng có một hội nghị Trung ương nào dài đến như vậy.  Có những Ủy viên Xứ ủy Nam kỳ ra miền Bắc, nghỉ lại tại chính nhà tôi, chỉ để hàng tháng chờ đợi kết quả của hội nghị đó.
Có lần cha tôi kể, khi đó những người bạn lớn của Việt Nam đã cảnh báo chúng ta: Khi mà các đồng chí chưa đủ lực lượng, các đồng chí tiến hành cuộc chiến tranh miền Nam, không những không giải phóng miền Nam được mà còn có khả năng mất luôn cả miền Bắc. Các đồng chí có biết Thế chiến 3 có thể bắt đầu từ chính cuộc chiến này? Nghĩa là áp lực từ các nước xã hội chủ nghĩa đối với cách mạng Việt Nam lúc đó là vô cùng khủng khiếp. Mà chúng ta đương nhiên rất khó chiến đấu với một nước mạnh như nước Mỹ mà không có sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em.
Khi mà trong nội bộ Đảng đã thống nhất được - sau 2 năm về đường lối giải phóng miền Nam, thì Bác Hồ giao cho cha tôi sang thuyết phục những người bạn lớn, nhưng họ không đồng ý việc ta sử dụng con đường vũ trang cách mạng, vì họ đều nghĩ rằng nước Mỹ là một thế lực khủng khiếp mà Việt Nam không thể cản được.
Có một lần cha tôi đi sang và một đồng chí lãnh đạo của nước bạn đã nói với cha tôi trong hội đàm: “Các đồng chí sẽ không bao giờ thắng được Mỹ. Mỹ mạnh đến mức chúng tôi còn phải ngại thì Việt Nam không có cách gì thắng Mỹ”. Lần đầu tiên mọi người chứng kiến cha tôi đập bàn, nói rất gay gắt với đồng chí lãnh đạo nước bạn. Cha tôi kể lại câu chuyện vui rằng, sau khi miền Nam giải phóng, cha tôi gặp lại ông ta, mặt ông ta buồn rười rượi, bởi ông ấy nhớ tất cả lời ông đã nói với cha tôi trước kia.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, thế giới đã nhìn thấy hình ảnh những con người nhỏ bé của một dân tộc nhỏ bé, nhưng yêu tha thiết đất nước mình, chống lại một nước Mỹ hùng cường. Nên khi đó, thế giới dấy lên một sự ủng hộ với Việt Nam. Họ cho rằng người nào ủng hộ Việt Nam chiến đấu thì người ấy là người tốt. Đó là một thứ tình cảm rất khó cưỡng lại. Và chính việc chúng ta làm đã ngày càng giúp nước Bạn lớn nhận ra rằng Việt Nam có khả năng chiến thắng, hoặc ít nhất là khả năng cầm cự lâu dài. Và khi Mỹ bị sa lầy ở Việt Nam, thì chính họ, những người bạn lớn của chúng ta rất có lợi.
Cha tôi, với sự chỉ đạo của Bác Hồ đã bằng mọi cách, để tiến dần từng bước thuyết phục để các nước này phải ủng hộ mình.
Con đường mà cha ông và Đảng ta tin tưởng và lựa chọn là con đường mà như chúng ta đã biết, đã giúp đất nước thống nhất. Nhưng chúng ta phải hy sinh nhiều xương máu. Tôi từng nghe những ý kiến cho rằng sự cứng rắn của Trung ương mà đứng đầu là Bí thư thứ nhất đã khiến cho chúng ta phải trả giá quá nhiều cho chiến thắng đó. Tướng Westmoreland của Mỹ cũng từng nói về điều đó.
- Những bài học và kinh nghiệm về chiến thắng giải phóng miền Nam đã được chúng ta tổng kết nhiều rồi, tôi có nói cũng không bao giờ đủ. Nhưng về vấn đề này, tôi nghĩ như hai miền Nam - Bắc Triều Tiên bây giờ chưa thống nhất, thì đến sau này thống nhất, điều gì sẽ xảy ra với họ - tôi không hình dung ra được! Liệu nó có bi thương hơn sự chết chóc mà chúng ta từng phải gánh chịu hay không, khi mà bóng ma của một cuộc chiến tranh nguyên tử luôn đe dọa họ? Chúng ta đều không thể nói trước được!
Tôi cũng thường nghĩ về việc nếu đất nước mình không lựa chọn con đường đấu tranh vũ trang, nếu chúng ta chưa thống nhất, thì điều tồi tệ nhất có thể xảy ra là gì? Điều đó chúng ta cũng không thể mường tượng được. Nhưng tôi tin rằng, đất nước Việt Nam thống nhất hôm nay là giấc mơ của rất nhiều người Triều Tiên, nhất là những người phải chịu cảnh gia đình ly tán về sự chia cắt đó.
Một lần tôi sang Hàn Quốc, một ông Đại biểu quốc hội Hàn Quốc đã nói với tôi thế này: “Về kinh tế, các ông có thể thua chúng tôi 30 năm, nhưng về thống nhất đất nước, chúng tôi cách các ông không biết bao nhiêu năm!”.
Chắc chắn những người lính đã nằm lại trên chiến trường miền Nam sẽ cảm thấy sự hi sinh của mình cho độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, cho một nền tảng để chúng ta dựng xây tương lai là xứng đáng và tự hào. Nếu không có những sự hi sinh đó, có thể trong tương lai sẽ có những sự hi sinh gấp vạn lần như vậy.
Giống  như ta không thể nói vua Quang Trung đã hi sinh bao nhiêu người để giành lại đất nước? Và đất nước này có đáng để giành lại hay không?
Giống như ta không thể thắc mắc tại sao các vị Vua nhà Trần phải lãnh đạo nhân dân 3 lần chống lại vó ngựa của quân Nguyên Mông mà không đầu hàng để bảo vệ tính mạng của người dân?
Nói thế là vô cùng vô nghĩa!
Khi phải chống lại một nước Mỹ mạnh hơn chúng ta cả trăm lần, sự hi sinh là không thể tránh khỏi. Chính người Mỹ cũng từng nói, họ nghĩ đáng lẽ ra người Việt Nam sẽ phải đổ máu nhiều hơn thế cho độc lập này, khi mà bom đạn Mỹ đã đổ vào miền Nam trong mấy chục năm chiến tranh như thế.
Cái suy nghĩ của nhiều người bây giờ cho rằng sự hi sinh của những người lính cho độc lập dân tộc, là một sự hi sinh không xứng đáng - đó là một sự phản bội, một sự vô ơn với người đã khuất.
Tôi tin Tướng Westmoreland không hiểu hết nước Mỹ. Nếu đặt nước Mỹ trong hoàn cảnh bị xâm lược như chúng ta, ví dụ như người ngoài hành tinh xuất hiện và đe dọa họ chẳng hạn, thì trong hoàn cảnh đó, tôi tin, sẽ có không ít người Mỹ xả thân để bảo vệ đất nước họ. Mà, để đạt được mục đích là chiến thắng, nước Mỹ đã từng ném hai quả bom nguyên tử xuống nước Nhật, nên Westmoreland càng không có lý do để nói câu này.
Ông có biết có quyết định của TBT Lê Duẩn đến giờ vẫn gây tranh cãi. Như cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 chẳng hạn...
- Nói về Tết Mậu Thân năm 1968, chúng ta sẽ phải nhớ đó là thời điểm Westmoreland đề nghị Mỹ tăng gấp đôi số lượng quân Mỹ tại Việt Nam lên 1 triệu quân và đưa chiến tranh ra miền Bắc. Khi đó Chính phủ Mỹ đang đứng giữa hai lựa chọn hoặc là tăng quân viện trợ, tiếp tục cuộc chiến, mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, hoặc dần rút khỏi chiến tranh Việt Nam.
Nếu chiến tranh mở rộng ra miền Bắc, nếu ta mất Hải Phòng, mất Quảng Bình, nghĩa là mất tất cả những con đường chi viện cho miền Nam thì đó sẽ là điều vô cùng tồi tệ. Và cú đánh Tết Mậu Thân - một trận chiến tổng lực, đánh vào cả Đại sứ quán Mỹ và Dinh Độc Lập đã làm người Mỹ choáng váng. Cú đánh đó đã khiến người Mỹ quyết định ngồi vào bàn đàm phán và tính đến phương án rút quân khỏi Việt Nam. Tức là cuộc chiến đã bẻ ngoặt sang một hướng khác hoàn toàn có lợi cho cách mạng Việt Nam.
Chúng ta đã phải trả giá không ít cho bước ngoặt ấy. Nhưng sẽ phải đặt một vấn đề như thế này: Chúng ta sẽ trả giá cho đợt tổng tấn công đó, hay chúng ta sẽ trả giá cho hai mươi năm nữa, hoặc thậm chí lâu hơn mới giải phóng miền Nam? Có gì đảm bảo sự trả giá lâu dài đó sẽ bớt đắt đỏ hơn?
Khi tôi ngồi với ông Võ Văn Kiệt trong một cuộc trò chuyện thân mật, ông nói: “Chú nói thật với mày, chú thấy đánh Mậu Thân là xác đáng, là phải đánh bằng được. Chú chỉ không hiểu tại sao lại đánh đợt 2, đợt 3, vì khi đó yếu tố bất ngờ, bí mật không còn”. Thú thật tôi đã rất hoang mang khi nghe điều đó. Nhưng tình cờ, khi xem bộ phim tài liệu về ông Phạm Xuân Ẩn, tôi đã biết được một chi tiết. Ngay sau đợt tấn công đầu tiên, ông Ẩn chuyển một tài liệu mật ra Hà Nội mà ông Ẩn cho rằng vô cùng quan trọng, đó là nội dung bức điện của Johnson gửi Westmoreland, lệnh cho bằng mọi giá không thể để xảy ra chuyện tương tự. Chính vì nắm được bức điện đó, mà chúng ta phải có cuộc tấn công đợt 2, đợt 3. Đó là lý do người Mỹ đồng ý ngồi vào bàn đàm phán. Việc biết được tài liệu này khiến tôi càng tự tin hơn vào những quyết định của Trung ương và cha tôi trong Tết Mậu Thân. Và càng hiểu điều đó, tôi càng trân trọng những người lính đã hi sinh vì đại cục.
Và sau 20 năm trời lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, với bao nhiêu mất mát đó, cha ông đã đón nhận tin thống nhất như thế nào?
 - Lúc 11 giờ 30 phút, khi nhận được điện thoại báo tin từ Bộ Tổng Tham mưu, cha tôi không nhảy cẫng lên vui mừng như nhiều người khác. Nhưng khi đó ông đã gọi chú Phú - người cần vụ lâu năm của ông châm cho ông một điếu thuốc. Đó là điếu thuốc đầu tiên ông hút sau 20 năm ra miền Bắc. Đó là lần đầu tiên sau 20 năm, ông cho phép mình làm một điều rất cá nhân, một điều có hại đến sức khỏe - chỉ hút một điếu thuốc mà thôi!


Theo: Phuocbeo

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tình đồng chí với nhau!

Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai trên đường đến “thiên đàng“

Mao Trach Dong
Thủ tướng Chu Ân Lai - người Mao Trạch Đông vừa muốn "dùng" vừa muốn "diệt"

Biên bản buổi hội kiến tại Trung Nam Hải giữa Mao Trạch Đông với thủ tướng Australia: Gough Whitlam (11.1973) do chính Chu Ân Lai cầm bút chép, có ghi câu “tự bạch” của Mao: “Tôi đã có hẹn với Thượng đế rồi” ! …

Ý Mao muốn nói để thủ tướng Gough Whitlam rõ là Mao đã 80 tuổi, già yếu nhiều bệnh, sắp lên “thiên đàng” (?) gặp thượng đế.
Nhưng sau đó, người đến “gặp thượng đế” (sớm hơn) không phải là Mao, mà là… Chu Ân Lai !
Chính Mao trực tiếp sắp đặt để đẩy chuyến xe “lên thiên đàng” của Chu khởi hành nhanh hơn và sớm hơn Mao.
Sao Mao muốn “nhường” Chu đến thiên đàng trước?
Bởi lúc đó (cuối 1973), các tướng lĩnh kỳ cựu và công thần khai quốc cỡ Bành Đức Hoài, Lưu Thiếu Kỳ, Lâm Bưu, Đào Chú và hơn 80% đảng viên chính trực đều đã bị Mao hãm vào tử địa. “Bên đời quạnh hiu” của mình, Mao thấy còn sót hai nhân vật đáng ngại mà Mao vừa muốn “dùng”, lại vừa muốn “diệt”: Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình.
Hai người đó gắn bó nhau trong hơn nửa thế kỷ và lúc nào Đặng Tiểu Bình vẫn xem Chu Ân Lai như “một người anh” (hơn Đặng Tiểu Bình 6 tuổi). Cả khi Đặng nắm quyền cao nhất Trung Nam Hải, vẫn thường nhắc đến Chu Ân Lai là vị lãnh đạo “được các đồng chí và toàn dân tôn kính” (trả lời phỏng vấn của ký giả A. Farasi - hãng truyền thông Italia - 1980)Giữa hai người, Chu khôn khéo, mềm dẻo hơn Đặng, nhã nhặn và tận tụy “mỗi ngày làm việc hơn 12 giờ, có khi hơn 16 giờ, suốt đời như thế”.Đặng không giấu giếm:
“Đối với tôi mà nói, Chu Ân Lai trước sau là người anh cả, hai chúng tôi quen nhau rất sớm, từ hồi “cần công kiệm học” bên Pháp, đã ở bên nhau và gần như cùng lúc tham gia hoạt động cách mạng. Thời kỳ “đại cách mạng văn hóa” một số anh em chúng tôi bị “hạ bệ”, may sao Chu Ân Lai trụ lại được”.
“Trụ lại” Trung Nam Hải? Đồng nghĩa “thỏa hiệp” với Mao? Đặng thanh minh (cho Chu Ân Lai):
- “Thời kỳ đó, Chu Ân Lai ở vào tình thế vô cùng khó khăn nên cũng phải nói nhiều điều trái với lòng mình, làm nhiều việc trái với lòng mìnhNhưng nhân dân tha thứ cho ông. Bởi lẽ nếu ông không nói như thế, không làm như thế, thì sẽ không tự bảo vệ nổi mình, cũng chẳng thể phát huy tác dụng trung hòa - tác dụng giảm nhẹ tổn thất (nhờ vậy) Chu Ân Lai đã bảo vệ được khá nhiều người - trong đó có Đặng” (Nhiếp Nguyệt Nham - sđd Kỳ 28).
Nhờ vận động của Chu Ân Lai (cùng các lão thành cách mạng như Diệp Kiếm Anh, Vương Chấn), nên Đặng Tiểu Bình được phục hồi sau nhiều năm bị Mao đưa đi cải tạo lao động. Giây phút đáng nhớ của Đặng là lúc 19 giờ 30 phút 12.4.1973, Chu Ân Lai chủ trì bữa đại tiệc chào mừng Quốc vương Campuchia Norodom Shihnaouk tại sảnh yến hội trong Nhân dân đại hội đường Bắc Kinh, đã bố trí để Đặng có mặt: “khi các nhà lãnh đạo nối đuôi nhau đi vào phòng tiệc, họ kinh ngạc phát hiện một nhân vật quá quen thuộc. Là Đặng Tiểu Bình đấy ư?!. Nhiều người chưa tin vào mắt mình. Đúng là Đặng Tiểu Bình rồi! Ông đã được phục hồi chức vụ Phó thủ tướng, theo sự bố trí của Chu Ân Lai, lần đầu tiên ông được xuất hiện công khai” (Nhiếp Nguyệt Nham - sđd). Đó là cách Chu Ân Lai đưa Đặng Tiểu Bình tái xuất hiện trên chính trường Trung Quốc. Mao không rời mắt khỏi Đặng và Chu, đặc biệt với Chu - lãnh tụ đang được lòng dân.   
Dẫu nhuốm bệnh, trên đường đến cõi chết, Mao vẫn không cam tâm “đi trước” - nếu Chu còn chưa chịu “lên xe”. Trắng ra, nếu Mao chết mà Chu còn sống sẽ là “chướng ngại không thể vượt qua” của Giang Thanh. Dầu khoảng cách giữa vị trí của Giang Thanh đang đứng đến “ngai vàng” Trung Nam Hải chỉ còn một bước ngắn, nhưng nếu có Chu ngăn cản, Giang Thanh khó mà động thủ, tiếp quản - đơn giản: Giang không phải là đối thủ của Chu. Nên tốt hơn hết, Mao tìm cách để Chu “gặp thượng đế” trước mình.
Cơ hội đến: tháng 5.1972, Chu đột nhiên bị đau ở vùng lưng và bụng, uống thuốc nhưng không lành, phải nhập viện. Sau hội chẩn, các chuyên gia phát hiện Chu bị“ung thư tế bào thượng bì bàng quang giai đoạn đầu”. Chu có khả năng vượt qua cơn bệnh hiểm nghèo đó ở mức 80% trở lên nếu được “kịp thời chữa trị đúng phương pháp” - trước hết phải tiến hành phẫu thuật.
Mao được báo cáo bệnh án và phác đồ chữa trị đó, nhưng Mao không đốc thúc thực hiện, lại ngăn cản, truyền đạt để Uông Đông Hưng thay mặt Mao và trung ương đảng đưa ra quyết định trái hẳn với đề nghị của các chuyên gia ung bướu Trung Quốc:
1. Không được phẫu thuật (nuôi bệnh). 2. Không kiểm tra (để bệnh phát triển tự nhiên).
Sách báo xuất bản ở Trung Quốc những năm gần đây tiết lộ: “Các chuyên gia điều trị biết rằng bỏ lỡ thời cơ điều trị sớm chẳng khác nào để thủ tướng Chu Ân Lai chờ chết. Họ đề nghị trực tiếp gửi thư trình bày với Mao, nhưng Uông Đông Hưng ngăn lại: -Các ông phải nghe lời, phải theo luồng tư duy của chủ tịch. Người đang xem xét vấn đề toàn diện, có thể qua một thời gian tính sau”.
“Tính sau” là cách nói trì hoãn, để “giúp” tế bào ung thư mặc sức tấn công Chu suốt 9 tháng ròng buông lỏng (không phẫu thuật). Hậu quả: Chu tiểu tiện ra máu nhiều từ tháng 2.1973, Mao buộc lòng cho phép các bác sĩ điều trị theo phác đồ đã báo cáo trước đó rất lâu. Quá trễ, tế bào ung thư di căn mạnh vào tháng 5-1974. Tổ trưởng điều trị Ngô Giai Bình quyết định phẫu thuật, nhưng Trương Xuân Kiều (một trong tứ bang nhân) ngăn lại. Trương nói ý kiến của Mao chủ tịch không thể phẫu thuật vì“không ai có thể làm thay công việc của Chu thủ tướng” lúc đó. Đến giai đoạn gay go, các phẫu thuật được Mao cho phép chỉ có tính cách “đối phó”, chứ không điều trị thực chất, dẫn đến cái chết Chu Ân Lai lúc 9 giờ 57 phút ngày 8.1.1976.
Thay vì đại lễ truy điệu và vĩnh biệt phải tổ chức tại Nhà Quốc hội đúng với cương vị thủ tướng chính phủ của Chu Ân Lai, nhưng lại diễn ra tại Nhà tang lễ bệnh viện Bắc Kinh và sau đó hỏa thiêu.
Điều nữa: thay vì tro tàn thủ tướng Chu Ân Lai được đối xử trân trọng, đã bị đưa lên chiếc máy bay An-2 xộc xệch để mang tro đi rải. Đó là chiếc máy bay chuyên dùng… phun thuốc trừ sâu! (còn nữa).
GIAO HƯỞNG

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tiên tri về tương lai Trung Quốc (II): Tiến lên Lưỡng Quảng sơn hà ngày xưa


Mao Trach Dong, tien tri, Trung Quoc
Vua Quang Trung từng chuẩn bị xuất binh đòi lại hai vùng đất Quảng Đông và Quảng Tây của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm giữ


Tào Khê và toàn tỉnh Quảng Đông ngày trước thuộc lãnh thổ Việt Nam: “Nếu (Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo Trung Nam Hải) quả thật muốn trung thành với chủ trương phải giao hoàn các lãnh thổ bị lấn chiếm do chiến tranh võ trang (như Mao mong muốn) thì trước hết Trung Quốc phải giao hoàn cho Việt Nam toàn thể lãnh thổ nước Nam Việt do Triệu Vũ Vương thiết lập năm 207 trước C.N. bao gồm vùng trung nguyên Trung Quốc với các tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, đảo Hải Nam và Việt Nam” (Luật sư Nguyễn Hữu Thống – Hoàng Sa - Trường Sa theo Trung Quốc sử).Tài liệu trên ghi: Năm 181 trước CN, sau khi đánh thắng quân Tây Hán tại quận Trường Sa “Triệu Vũ Vương xưng đế hiệu là Nam Việt hoàng đế, ngang hàng với Hán cao tổ tại miền Bắc Trung Quốc”.

Lam Giang Nguyễn Quang Trứ qua cuốn “Vua Quang Trung”, NXB Thanh Niên tái bản, Hà Nội 2004, viết: “Đất nước Nam Việt đã được vua Hán Văn Đế công nhận biên giới từ Ngũ Lĩnh trở về Nam. Thế mà, sau ngàn năm Bắc thuộc, đến khi khôi phục độc lập, người Việt vẫn không thu hồi được trọn vẹn phần đất Giao Châu, bỏ mất quận Hợp Phố, nói gì đến Quảng Châu gồm: Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm”.
Khôi phục lại phần lãnh thổ của nước Việt ở Lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây) là chuyện “nghĩ còn chưa dám huống chi làm! Nhưng vua Quang Trung dám dự định việc ấy. Ngài cho rằng Mãn Thanh bất quá chỉ là một bộ tộc hậu Kim mà thống trị cả Trung Hoa rộng lớn, thế thì tại sao Đại Việt lại không thu lại nổi bản đồ nước Nam Việt ngày xưa”. Vua Quang Trung thường nói với các quan thị giảng: “Không ai làm thì để ta làm cho mà coi!” (sđd. tr. 115).
Gia Long và Quang Trung là hai vị hoàng đế thù địch nhau “một mất một còn”, song riêng việc Quang Trung - Nguyễn Huệ đòi Trung Quốc trả đất thì vua Gia Long ngỏ lời khâm phục hoài bão ấy: “Ngươi Huệ quả thật là một đấng anh hùng, việc không dám nghĩ tới mà y nghĩ tới!”. Hàng ngũ nho sĩ trí thức đương thời “cũng có nhiều người tán thành mưu đồ kỳ vĩ của vua Quang Trung, như Phạm Đình Hổ có câu: Vương sư bắc định Đông, Tây Việt – Gia miếu vô vong cáo nãi ông” (sđd. tr. 117). Lam Giang Nguyễn Quang Trứ phóng dịch:
Ngày nào quân Việt chúng ta
Tiến lên Lưỡng Quảng  sơn hà ngày xưa
Nén hương con cáo bàn thờ
Suối vàng cha vẫn đợi chờ tin vui
Để chuẩn bị “tiến lên Lưỡng Quảng”, vua Quang Trung không chỉ lo đường bộ mà còn nghĩ đến lợi thế đường biển. Sách Gia Khánh Đông Nam Tỉnh Hải Ký của Trung Quốc chép: Quang Trung “nhóm họp quân vong mệnh ở duyên hải, cấp cho binh thuyền, phong chức tước” thường đợi đến mùa hè nắng ráo kéo sang vùng Triết Giang, Phúc Kiến do thám, quấy phá: “mùa thu rút về, tông tích khôn lường, gây họa lớn cho tỉnh Quảng Đông”. Lại sai may 200.000 chiếc chiến bào, hẹn khi nào may đủ số sẽ xuất quân đánh sang Quảng Tây.
Vua Quang Trung sai danh tướng Võ Văn Dũng cầm đầu sứ bộ Đại Việt sang Trung Quốc (thời vua Càn Long) để: 1. Cầu hôn công chúa 2. Xin đất để lập kinh đô mới (thực ra là đòi trả lại vùng lãnh thổ Trung Quốc đã chiếm đoạt của Việt Nam ngày trước). Cả hai việc đều được chấp thuận “vua Càn Long bằng lòng gả một công chúa Mãn Thanh cho vua An Nam (Quang Trung) và cho đất Quảng Tây để đóng đô” (sđd. tr. 117). Chuyện đang dở dang, vua Quang Trung đột ngột qua đời nên sứ bộ Võ Văn Dũng phải dâng biểu báo tin buồn “rồi ôm hận trở về” vì chưa khôi phục được chủ quyền Đại Việt ở vùng Nam Trung Quốc trong đó có Quảng Đông.
Quảng Đông – nơi có thánh địa Tào Khê – và là nơi ngài Bồ-đề Đạt-ma (từ Ấn Độ sang Trung Quốc) đặt chân đến năm 520 (sau gần 3 năm lênh đênh trên biển).
Khi Bồ-đề Đạt-ma có mặt tại Quảng Đông, hoạt động thiên văn học và tiên tri thành văn đã xuất hiện tại Trung Quốc từ lâu đời. Vào cuối nhà Thương, các nhà thiên văn và tiên tri cổ đại ngạc nhiên khi quan sát thấy 5 ngôi sao: Kim tinhHỏa tinhThủy tinhThiên vương tinh và Diêm vương tinh hội tụ nhau trên bầu trời ngày 28.5.1059 TCN. Họ tiên đoán một biến cố trọng đại sẽ xảy ra trong tương lai gần. Trong vòng chưa đầy hai thập niên sau, tiên tri đó phù hợp với sự xuất hiện của một danh nhân lịch sử kiệt xuất: Chu Vũ Vương.
Lần khác, cũng 5 ngôi sao trên hội tụ một lần nữa ngày 29.5.205 TCN “báo trước sự sụp đổ của nhà Tần và sự đăng quang của nhà Hán”. Khi một vẫn thạch rơi vào thành phố Lạc Dương ngày 29.11.620, các nhà tiên tri cho biết: “theo như kinh nghiệm đã được ghi chép trong sách vở, hiện tượng trên báo trước cái chết của một tên nghịch tặc đang sống trong khu vực ấy, năm 620 lời tiên tri ứng nghiệm khi quân của Cao Tổ bao vây Lạc Dương và giết chết Vương Thời Trung” (Ts. Dương Ngọc Dũng và Lê Anh Minh – Lịch sử văn minh và các triều đại Trung Quốc, NXB Tổng hợp TP. HCM, quý IV – 2004, tr. 134-135). Với ngài Bồ-đề Đạt-ma, những tiên tri lưu xuất thẳng từ bổn tánh (không thông qua chiêm nghiệm thiên văn) – như lời kệ của ngài:
Ngô bổn lai tư độ
Truyền pháp cứu mê tình.
Nhất hoa khai ngũ diệp
Kết quả tự nhiên thành.
Phỏng dịch: Ta sang đất Trung Hoa. Truyền pháp cứu mê tình. Một hoa nở năm cánh. Kết quả tự nhiên thành.
Câu tiên tri: “Nhất hoa khai ngũ diệp” đã ứng vào lịch sử phát triển của thiền tông Trung Hoa với sự xuất hiện năm thiền phái: 1. Lâm Tế, 2. Tào Động, 3. Vân Môn, 4.Pháp Nhãn, 5. Quy Ngưỡng.
Trong năm thiền phái trên, phái thiền Quy Ngưỡng truyền đến đời Tổ thứ 8 là ngài Hư Vân (xem kỳ 49-50-51), rồi truyền trao Tuyên Hóa thượng nhân làm Tổ thứ 9.
Lúc Mao Trạch Đông đưa lực lượng công an chiếm giữ chùa Nam Hoa (1951) thì hòa thượng Tuyên Hóa đã ra khỏi chùa (từ 1949) đến Hương Cảng, sang Mỹ và tiếp nối mạng mạch hoằng pháp ngoài biên giới Trung Quốc theo đúng lời tiên tri và sứ mệnh được giao. (còn nữa)
GIAO HƯỞNG


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mỹ đã tháo bùa yểm để Nhật trị Trung Quốc

  

My da thao bua yem de Nhat tri Trung Quoc
Tổng thống Mỹ và thủ tướng Nhật

Có vẻ như đã đến lúc nước Mỹ chấp thuận để Nhật Bản đưa ra lời xin lỗi sau cùng, và chính thức khép lại quá khứ vào thời điểm 70 năm sau thế chiến thứ hai. Có thể nói Mỹ đã tháo bùa yểm để Nhật trị Trung Quốc.

Một trong những vấn đề hấp dẫn và đáng chú ý nhất trên thế giới ở thời điểm hiện tại, đó là việc dõi theo những bước đi của tổng thống Mỹ Barack Obama. Vị tổng thống đương nhiệm của nước Mỹ đang chứng tỏ, ông muốn để lại một dấu ấn đậm nét nhất về nhiệm kỳ của mình, xứng đáng với sự kỳ vọng về vị tổng thống da màu đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ. Cục diện thế giới đang được cấu trúc lại với tốc độ chóng mặt theo những bước đi của ông Obama. 

Với tình hình này, có lẽ thỏa thuận hạt nhân Iran cũng sẽ chưa phải là thành tựu lớn nhất của ông Obama, mà đó là sự trỗi dậy của một cường quốc khác trong quá khứ là Nhật Bản. Có vẻ như đã đến lúc nước Mỹ chấp thuận để Nhật Bản đưa ra lời xin lỗi sau cùng, và chính thức khép lại quá khứ vào thời điểm 70 năm sau thế chiến thứ hai. Và mở ra một chương mới cho lịch sử Nhật Bản, và cả châu Á Thái Bình Dương nữa.
Theo dõi những bước đi của tổng thống Barack Obama ở thời điểm hiện tại là một vấn đề hấp dẫn bậc nhất đối với các nhà phân tích. Theo truyền thống, các tổng thống Mỹ luôn dành khoảng thời gian cuối trong nhiệm kỳ của mình để thực hiện những việc sẽ ghi lại dấu ấn cá nhân sâu sắc của mình. Nhưng có vẻ như tham vọng của ông Obama còn lớn hơn thế. 
Với thỏa thuận hạt nhân Iran, chấm dứt vấn đề nhức nhối nhất ở Trung Đông trong suốt 12 năm qua, ông Obama đã dư sức tạo được dấu ấn cá nhân của riêng mình. Nhưng Washington vẫn chưa dừng lại. Hãy còn gần 8 tháng nữa nhiệm kỳ thứ hai của tổng thống Obama mới kết thúc. Và vị tổng thống da màu đầu tiên của nước Mỹ đang hướng tới việc tái cấu trúc lại cục diện thế giới, điều mà chỉ một số ít các tổng thống Mỹ làm được trong lịch sử.
Lịch sử nước Mỹ thế kỷ 20 chỉ ghi nhận hai sự kiện nổi bật được xem là có vai trò cấu trúc lại cục diện thế giới. Đó là kế hoạch Marshall dưới thời tổng thống Truman, để hỗ trợ sự hồi phục kinh tế ở các nước châu Âu sau thế chiến thứ hai. Nó được xem như động thái trực tiếp tăng cường ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của Mỹ ở châu Âu và gần như trở thành người lãnh đạo cao nhất ở lục địa già. 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

GÓP Ý MỘT TÍ


dongngan
Xem tượng hai dãy 18 vua Hùng đứng tiêu do công ti nào đó hiến tế, và tượng vua tổ tại khu Đền Hùng ( hơi giống anh hàng tiết canh lòng lợn) mình chợt bật ra ý nghĩ: Hãy đóng băng các dự án văn hóa bằng cách không chi xèng nào hết trong một thập kỉ để các lão làm văn hóa đương thời ngủ đông, hoặc chết lâm sàng một thời gian thì may ra các di tích văn hóa mới còn. Vùng đất linh thiêng mà họ đem các thứ kỉ lục, tặng tượng ma nơ canh các vua Hùng đứng tiêu binh vào đó để lợi dụng PR thì còn gì để nói nữa.
Lời nhắn cuối
Khôn hồn thì sớm gỡ đi không các vua Hùng văn cố chết cả nút đó nha, chờ mà xem! 28/4/2015


Phần nhận xét hiển thị trên trang