Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2015

Amerika: Chương một


Đầy đủ chương một "Người thợ đốt lò" của cuốn tiểu thuyết Amerika.

Trong Nhật ký, năm 1912 Kafka không viết nhiều, thay vào đó ông chép vào hai tác phẩm. Thứ nhất là truyện "Das Urteil" viết một mạch trong đêm 22 tháng Chín. Thứ hai là "Người thợ đốt lò" (Der Heizer). Đây chính là hai tác phẩm khiến Kafka thực sự nhận ra một điều gì đó hết sức quan trọng.

Chương một: Người thợ đốt lò

Khi, ở tuổi mười sáu, chàng thanh niên Karl Roßmann, bị bố mẹ khốn khổ tống cổ ra nước ngoài do có một cô hầu đã quyến rũ và biến anh thành ông bố, tiến vào cảng New York trên con tàu đã đi chậm lại, bức tượng Nữ thần Tự do, mà anh đang ngắm nhìn từ một lúc lâu, chợt như nằm trong một luồng ánh sáng bừng hẳn lên. Cứ như thể cánh tay cầm thanh gươm vung lên chính vào lúc ấy, và không khí khoáng đạt thổi quanh thân hình kỳ vĩ kia.

“Nó cao quá!” anh tự nhủ. Bởi nó mà anh quên mất mình phải đi và dần bị xô đẩy ra đến rìa tàu bởi đám phu khuân vác mỗi lúc một thêm đông.

Một chàng trai trẻ mà anh quen biết thoáng qua trong chuyến đi bước ngang, nói với anh: “Anh không định xuống à?”

“Có chứ, tôi sẵn sàng rồi,” Karl đáp. Anh cười, nhìn anh ta; và trong niềm vui đầy cao ngạo, bởi anh là một chàng trai khỏe khoắn, anh nâng cái rương của mình lên trên vai. Nhưng, lúc nhìn chàng trai kia vung vẩy cây gậy cùng những người khác đi xa dần, anh bối rối nhận ra mình đã để quên cái ô ở tận cuối con tàu. Anh vội đề nghị chàng trai, anh ta tỏ vẻ không hào hứng mấy, ở lại đây trông hộ cái rương, anh xem kỹ chỗ này để có thể chắc chắn sẽ tìm lại được, rồi vội rảo bước. Phía dưới, có một lối đi hẳn có thể giúp anh rút ngắn con đường; thật không may nó đã bị chặn lại; chắc phải làm vậy khi tàu cập bến; thay vì thế anh phải đi qua rất nhiều phòng nhỏ nằm dọc những hành lang uốn cong, liên tiếp đi xuống những đoạn cầu thang ngắn và bước ngang một căn phòng trống kê một cái bàn bỏ không, cho đến lúc, vì mới chỉ đi đường này một hay hai lần trước đó, lần nào cũng là cùng nhiều người khác, anh thấy mình đã thực sự bị lạc. Anh không gặp một ai, chỉ nghe thấy không ngừng hàng nghìn tiếng bước chân trên đầu hoặc, phía xa, giống một hơi thở, tiếng chuyển động cuối cùng của máy móc; thế nên, chẳng suy nghĩ gì, anh gõ vào cánh cửa đầu tiên xuất hiện trước mặt khi anh ngừng lượn vòng vòng.

“Cửa mở đấy,” có tiếng người hét lên từ bên trong, thế nên Karl đẩy cửa, thở phào mừng rỡ. “Tại sao anh lại đập cửa như thằng điên thế hả?” một người đàn ông rất cao lớn hỏi gần như trước khi kịp nhìn thấy Karl. Từ ngọn đèn trên trần, được dùng từ lâu ở các tầng trên, tỏa xuống một làn ánh sáng đục, trùm lên căn buồng nhếch nhác, trong đó mọi thứ sít sịt vào nhau giống hàng hóa xếp trong kho, một cái giường, một cái tủ, một cái ghế và người đàn ông kia. “Tôi bị nhầm đường,” Karl nói, “trong suốt chuyến đi tôi đã không nhận ra, nhưng con tàu này lớn khủng khiếp.” “Đúng, anh có thể nói thế,” người đàn ông tuyên bố, có vẻ tự hào, không ngừng hí hoáy ổ khóa một chiếc va li mà sau đó ông ta đóng lại, dùng hai tay ép vào để nghe tiếng lẫy bật. “Nhưng thôi vào đi, ông ta nói thêm, anh sẽ không đứng mãi bên ngoài đấy chứ!” “Tôi có làm phiền ông không?” Karl hỏi. “Này! tại sao anh lại làm phiền tôi hả?” “Ông là người Đức à?” chàng thanh niên hỏi để thêm yên tâm (người ta đã nói với anh rất nhiều, đặc biệt nhấn mạnh vào mối nguy Ái Nhĩ Lan, về những nguy hiểm đe dọa những người mới từ tàu xuống). “Đúng rồi, đúng rồi,” người đàn ông đáp. Karl vẫn ngần ngừ. Thế là ông kia bèn nắm lấy quả đấm cửa và kéo anh vào bên trong, vội vã khép cửa lại. “Tôi không thể chịu được cảnh người khác đứng ngoài hành lang nhòm vào,” ông ta giải thích (ông ta đã lại chăm chú vào cái va li); “tất cả mọi người đi ngang qua đây, ai cũng nhòm vào phòng! Đến quỷ sứ cũng chẳng chịu được đâu!” “Nhưng ngoài hành lang không có ai mà,” Karl nói, anh đang khổ sở vì bị kẹt vào chỗ thành giường. “Đúng, giờ thì thế!” người đàn ông nói. “Không phải bây giờ là bây giờ sao?” Karl tự hỏi. “Thật khó nói chuyện với cái ông này.” “Anh nằm lên giường đi,” ông kia nói, “trên đó rộng rãi hơn đấy.” Karl tìm cách đu mình trèo lên giường, phá lên cười vì mấy lần nhún đầu tiên không thành công. Nhưng vừa lên đến trên anh đã kêu toáng: “Trời ơi, tôi quên mất cái rương rồi!” “Nó ở đâu?” “Trên kia, trên boong ấy, có một anh tôi quen biết trông hộ. Mà anh ta tên là gì nhỉ?” Và anh rút ra tấm danh thiếp từ đáy một cái túi bí mật đã được mẹ anh khâu để chuẩn bị cho chuyến đi, ở lần vải lót của cái áo vest. “Butterbaum, Franz Butterbaum.” “Anh có cần cái rương ấy không?” “Dĩ nhiên là cần chứ.” “Thế tại sao anh lại đưa nó cho một người không quen giữ hộ?” “Là vì tôi quên mất cái ô ở bên dưới nên phải chạy đi tìm, tôi đâu muốn vác theo cái rương. Và thêm vào đó tôi lại còn bị lạc đường.” “Anh đi một mình à? Không ai đi cùng?” “Vâng, tôi đi một mình.” “Có lẽ mình phải bám chắc lấy ông ta,” đột nhiên Karl nghĩ, “tìm đâu ra một người bạn tốt hơn ngay lập tức bây giờ?” “Và giờ thì anh lại còn đánh mất cái rương nữa. Còn cái ô, tôi chẳng nhắc đến làm gì.” Và người đàn ông ngồi xuống ghế, như thể vụ việc của Karl bắt đầu khiến ông ta để tâm đôi chút. “Nhưng tôi không nghĩ đã đánh mất cái rương.” “Anh thích nghĩ gì tùy ý,” người đàn ông nói, rồi ông ta đưa tay gãi thật mạnh lên mái tóc màu nâu, ngắn và dày. “Trên tàu, tập quán thay đổi theo các cảng. Ở Hamburg thì anh chàng Butterbaum của anh có lẽ sẽ trông cái rương cho anh, ở đây có khả năng cả hai đều mất tăm.” “Vậy thì tôi phải lên trên xem sao ngay đây,” Karl nói, đưa mắt tìm một lối đi. “Ở lại đây đi,” người đàn ông nói, lấy tay đẩy vào ngực anh để anh nằm trở lại trên giường. “Tại sao chứ?” Karl bực bội hỏi. “Bởi vì làm thế thì được gì,” người đàn ông đáp; “một lúc nữa thôi tôi cũng sẽ đi, và chúng ta sẽ cùng đi… Hoặc cái rương đã bị xoáy mất, thế thì chẳng còn gì để làm nữa, hoặc anh chàng kia vứt nó lại, mà lúc đó, khi chẳng còn ai trên tàu, chúng ta sẽ dễ tìm ra nó hơn. Cả cái ô của anh nữa.” “Ông biết rõ con tàu chứ?” Karl nghi hoặc hỏi lại. (Dẫu vậy anh cũng thấy ý tưởng kia tuy thật thuyết phục, rằng đồ đạc của anh dễ tìm thấy hơn khi tàu chẳng còn ai, đang che giấu một cái bẫy nào đó.) “Tôi là người đốt lò trên tàu!” người đàn ông nói. “Ông là người đốt lò!” Karl vui sướng kêu lên như thể điều này vượt quá mọi hy vọng của anh và, chống khuỷu tay lên, anh nhìn thật kỹ người đàn ông; “ngay trước căn buồng tôi ở chung với tay Slovak có một ô kính tròn nhìn sang phòng máy.” “Chính đấy,” người thợ đốt lò nói, “tôi làm việc ở đó đấy.” “Tôi vẫn luôn luôn say mê nghề cơ khí,” Karl nói, tiếp tục mạch suy nghĩ, “và chắc hẳn tôi đã trở thành kỹ sư nếu không buộc phải đi sang Mỹ.” “Điều gì đã ép buộc anh đấy?” người đốt lò hỏi. “Chà!” Karl nói, rồi hững hờ phẩy tay đuổi câu chuyện biến đi, mỉm cười với người thợ đốt lò như để xin ông ta thứ lỗi vì anh không chịu thú nhận. “Lúc nào mà ta chẳng có lý do,” người đốt lò nói, không rõ nói vậy ông ta muốn thúc đẩy hay chối từ việc trình bày lý do ấy. “Giờ thì sẽ chẳng gì ngăn cản tôi trở thành thợ đốt lò nữa,” Karl nói, “bố mẹ tôi chẳng thèm quan tâm xem tôi có thể trở thành cái gì đâu.” “Chỗ của tôi sẽ trống đấy,” người thợ đốt lò nói và, với ý thức đầy đủ về điều này, ông ta thọc hai tay vào túi và tót lên trên giường, duỗi cả hai chân ra, ông ta mặc quần xếp li, màu ghi thép trông giống quần da. Karl phải dịch sát vào tường. “Ông rời khỏi tàu à?” “Chính xác, hôm nay luôn đấy.” “Tại sao chứ? Ông không thích nữa à?” “Đấy là chuyện hoàn cảnh; không phải lúc nào cũng cần phải biết là có thích hay không. Vả lại anh nói đúng, tôi cũng chẳng thích nữa. Chắc anh không nghiêm túc nghĩ đến việc trở thành thợ đốt lò, nhưng cũng chính như thế mà người ta dễ trở thành thợ đốt lò nhất. Còn thì, về phần tôi, tôi triệt để khuyên anh đừng làm thế. Nếu từng muốn học tập bên châu Âu thì tại sao anh lại không làm việc ấy ở đây? Các trường đại học Mỹ tốt hơn rất nhiều so với các trường châu Âu.” “Có thể lắm chứ,” Karl nói, “nhưng tôi gần như không có tiền. Tôi đã đọc câu chuyện về một người ban ngày làm việc ở hãng để có thể đi học vào ban đêm và đã trở thành tiến sĩ và thậm chí thị trưởng, tôi nghĩ thế; nhưng vậy thì phải nỗ lực ghê lắm, ông không thấy à? Tôi e mình không làm nổi. Thêm nữa, tôi không phải là một học sinh đặc biệt xuất sắc, khi rời khỏi trường tôi chẳng thấy buồn chút nào. Và bên đây các trường có thể còn nghiêm hơn. Tôi gần như không biết tiếng Anh. Vả lại tôi nghĩ nhìn chung tại đất nước này người ta không mấy ưa dân nước ngoài.” “Anh đã biết thế rồi cơ à? Tốt quá, anh đúng là người tôi cần. Nghe tôi nói đây: chúng ta đang ở trên một con tàu Đức phải không? nó chạy tuyến Hamburg-Amerika phải không? thế nhưng mà tại sao trên tàu lại không chỉ toàn người Đức? Tại sao máy trưởng lại là người Rumani? Hắn tên Schubal. Thật không tin nổi. Và cái đồ khốn ấy điều hành những người Đức chúng tôi, trên một con tàu Đức! Anh đừng có nghĩ,” ông ta khó thở, bàn tay run rẩy, “đừng nghĩ tôi chỉ phàn nàn cho sướng miệng. Tôi biết anh không có ảnh hưởng và cả anh cũng là một con quỷ khốn khổ. Nhưng thật không thể chịu được!” Và ông ta đấm nhiều phát xuống bàn, không rời mắt khỏi hành động ấy. “Tôi đã phục vụ trên rất nhiều tàu,” ông ta liệt kê một mạch hai mươi cái tên, nghe như chỉ là một cái tên duy nhất; mắt Karl mở to, tròn xoe, “ở những chỗ đó tôi rất xuất sắc, tôi được khen ngợi, tôi từng là một người lao động kiêu hãnh, các thuyền trưởng hài lòng với tôi, thậm chí tôi đã trải qua nhiều năm trên một thuyền buôn.” Ông ta đứng dậy như thể đó là đỉnh cao cuộc đời ông ta. “Thế mà ở đây, trong cái hộp ngớ ngẩn này, nơi mọi thứ đều quá mức chặt chẽ, chẳng cần trí tưởng tượng chút nào, tôi chẳng đáng giá gì, tôi là một kẻ quấy rối, tôi gây phiền cho Schubal, tôi là một thằng lười, tôi chỉ đáng bị quăng bỏ, và tôi nhận đồng lương từ sự thương hại! Anh có hiểu được điều đó không, anh ấy? Tôi thì không.” “Ông không được để mặc mọi chuyện như thế chứ,” Karl nói, đầy kích động. Anh đã gần như mất cảm giác mình đang ở trên mặt sàn nguy hiểm của một con tàu, bên bờ một lục địa xa lạ, anh thấy mình thật yên ổn trên giường của người thợ đốt lò. “Ông đã đến gặp Thuyền trưởng chưa? Đã đòi ông ấy thực thi công lý chưa?” “Công lý? Này, giờ thì tốt nhất là anh đi đi. Anh đi ngay đi. Tôi không muốn anh ở đây. Anh không chịu lắng nghe những gì người ta nói với anh và anh vừa khuyên người khác. Làm sao mà tôi có thể đi gặp Thuyền trưởng hả?” Và, mệt mỏi, người thợ đốt lò lại ngồi xuống, hai tay ôm lấy mặt.

“Thế nhưng mình không thể nói với ông ấy điều gì hay hơn,” Karl nghĩ. Vả lại anh cũng nghĩ sẽ là tốt hơn nếu đi tìm cái rương, thay vì ở lại đây khuyên nhủ người khác, đằng nào những lời khuyên ấy cũng bị coi là ngu xuẩn. Khi đưa cho anh cái rương, bố anh đã nói đùa: “Con sẽ giữ nó được bao lâu đây?” Và giờ thì cái rương quý giá ấy có thể đã mất rồi. Karl chẳng còn cách an ủi nào khác ngoài tự thuyết phục mình rằng bố anh khó mà biết được, dẫu cho có tiến hành điều tra, số phận món quà tặng của ông. Cái rương đã đến được New York, đó sẽ là tất tật những gì hãng tàu có thể nói. Nhưng Karl đau khổ nghĩ anh mới chỉ dùng đến rất ít những gì có trong hành lý của mình: chẳng hạn anh đã không thay áo sơ mi lâu rồi. Vậy là anh đã dè sẻn không phải lối; giờ đây ở khởi đầu của sự nghiệp, nhất thiết anh phải ăn vận sạch sẽ, thế mà anh sẽ phải mặc một chiếc sơ mi bẩn. Ngoài chi tiết này ra thì thiệt hại không quá lớn; bộ com lê anh đang mặc trên người hơn hẳn bộ cất trong rương, đó chỉ là quần áo thay thế mà thôi; thậm chí mẹ anh còn phải vá víu nó ngay trước chuyến đi. Anh cũng nhớ rằng trong cái rương có một mẩu xúc xích Verona mà mẹ anh đưa vào phút cuối cùng nhưng anh mới ăn được chút ít, vì trong suốt chuyến đi anh gần như ăn không ngon miệng và vì thấy đã quá đủ với món xúp phục vụ ở khoang dưới. Tuy nhiên, giờ đây, anh rất muốn có miếng xúc xích để có thể tặng cho người thợ đốt lò. Bởi vì những người này thì lấy lòng dễ lắm, chỉ cần tí chút mà thôi; Karl biết điều này từ bố anh, ông hay phân phát xì gà để mua chuộc tất cả nhân viên thuộc cấp trong công việc làm ăn. Giờ đây Karl chỉ có thể cho tiền, nhưng vào lúc này anh không muốn làm thế, vì còn chưa biết cái rương có bị mất hay không. Suy nghĩ của anh quay lại với cái rương ấy; anh không hiểu nổi tại sao mình đã trông chừng nó trong suốt chuyến đi, tới mức mất ngủ vì nó, thế mà rốt cuộc anh lại để nó bị lấy đi dễ dàng đến thế. Anh nhớ lại năm đêm anh đã liên tục ngờ vực ý định của một tay Slovak nhỏ thó, hắn nằm bên trái anh, cách anh một người. Tay Slovak này chỉ đợi đến lúc Karl, đã quá mệt, chợp mắt đi một giây, để móc lấy cái rương rồi kéo nó về phía mình bằng một cái que sắt dài mà hắn cứ chơi nghịch hoặc tập luyện mãi không thôi. Trong ngày, hắn có vẻ vô hại, nhưng cứ đến đêm là chốc chốc hắn lại dậy để buồn bã rình mò cái rương. Karl có thể nhận ra điều này rất rõ, bởi vì thường có ai đó, bị gặm nhấm bởi một nỗi lo đặc biệt hay thấy ở dân nhập cư, thắp một ngọn nến mặc dù làm thế là trái quy định, để mày mò đọc những tờ hướng dẫn thủ tục nhập cư rất khó hiểu. Những lúc có ánh sáng ở ngay kề bên như thế, Karl có thể thiếp đi một chốc, nhưng nếu không có gì sáng lên hoặc nếu cứ tối mãi thì anh phải mở mắt trừng trừng. Sự căng thẳng không ngưng nghỉ này làm anh kiệt sức, và thế rồi ngần ấy nỗ lực sắp mất tiêu hết cả! A! cái tay Butterbaum kia! nếu có khi nào anh tìm thấy hắn ở đâu đó!

Đúng lúc ấy vang lên từ rất xa, trong màn im lặng cho tới khi đó còn bao trùm, những tiếng động ngắn ngủi, nho nhỏ; nghe cứ như tiếng bước chân trẻ con, tiến lại gần chúng trở nên lớn hơn; có những người bình thản bước đi. Chắc họ nối đuôi nhau đi theo hàng dọc, như thế là bình thường trong một hành lang hẹp, và có thể nghe thấy tiếng lách cách của vũ khí. Karl, đã chực nằm ngả ra giường để vùi mình vào một giấc ngủ thoát hẳn được khỏi tụi Slovak và rương với hòm, hốt hoảng nhảy dựng lên và lấy cùi chỏ huých vào người thợ đốt lò để lưu ý ông ta, vì dường như đoàn người đã bắt đầu tới ngang cửa. “Đó là đội nhạc trên tàu,” người thợ đốt lò nói, “họ vừa chơi trên kia, giờ họ đi sắp xếp hành lý đấy. Xong rồi, ta đã có thể đi. Nào.” Ông ta cầm lấy tay Karl, vào giây phút cuối cùng còn tháo một bức ảnh Đức Mẹ Đồng Trinh lồng khung treo phía trên cái giường, nhét nó vào túi áo vest, nhấc chiếc va li lên rồi vội vã cùng Karl rời khỏi căn buồng.

“Tôi đến chỗ văn phòng đây, tôi sẽ nói những gì tôi nghĩ với mấy ông ấy. Giờ không còn hành khách, chẳng cần phải giữ ý nữa rồi.” Người thợ đốt lò nhắc lại ý này theo nhiều cách nói khác nhau và nhân tiện, định dùng đế giày giẫm chết một con chuột chạy qua trước họ, nhưng rốt cuộc chỉ thu được kết quả là làm nó lẩn nhanh hơn vào một cái lỗ mà con thú chạy kịp tới. Vả lại người thợ đốt lò cử động rất chậm chạp; ông ta có hai cẳng chân dài, nhưng chúng quá nặng nề.

Họ đi qua một phòng của khu bếp, ở đó có các cô gái đeo tạp dề bẩn - bọn họ cố tình dây nước xốt lên đó - rửa bát trong những chậu gỗ lớn. Người thợ đốt lò gọi một cô tên là Line tới, ôm eo cô và lôi cô theo; cô õng ẹo tì người vào cánh tay ông ta. “Đi đòi tiền lương đây,” ông ta nói, “Em đi cùng không?” “Sao lại phải bắt em làm thế?” cô đáp. “Mang tiền về cho em là được rồi!” Và cô luồn xuống dưới tay ông để bỏ chạy. “Ông nhặt đâu được anh chàng bảnh trai đó đấy?” cô hét lên với ông ta nhưng không đợi câu trả lời. Tất cả các cô gái rộ lên cười, tạm thời ngừng rửa bát.

Về phần mình, họ đi tiếp, và đến một cánh cửa phía trên có một gồ tường đỡ bên dưới bởi những bức tượng hình người nhỏ mạ vàng. Trên một con tàu cách trang trí này thực sự là một sự hoang phí. Karl nhận ra mình chưa bao giờ tới phần này của con tàu; trong chuyến đi hẳn nó được dành cho hành khách hạng nhất và hạng nhì, và giờ đây chắc người ta đã gỡ bỏ các barie để tiến hành cọ rửa tổng thể. Quả thật họ gặp nhiều người vai vác chổi, những người này chào hỏi người thợ đốt lò. Karl ngạc nhiên vì con tàu có vẻ xa xỉ quá; lẽ dĩ nhiên ở khoang dưới anh chẳng thể nào ngờ được đến điều này. Chạy dọc theo các hành lang là những đường dây điện và ta nghe thấy tiếng một cái chuông nhỏ rung liên hồi.

Người thợ đốt lò kính cẩn gõ vào cánh cửa và, khi có tiếng “Vào đi!”, bảo Karl bước vào không phải sợ gì. Thế là Karl bước vào, nhưng dừng lại ngay gần cửa. Qua ba cửa sổ của căn phòng, anh nhìn thấy sóng đại dương bên ngoài, và tim anh đập rộn khi ngắm những chuyển động vui tươi của chúng, như thể trong suốt năm ngày vừa rồi không phải giây phút nào anh cũng nhìn thấy biển. Những con tàu lớn cứ đường mình mà đi, chỉ bị xao động bởi chuyển động của những con sóng trong chừng mực trọng lượng của chúng cho phép. Nheo mắt lại, ta có cảm tưởng chúng lắc lư vì trọng lượng của chính chúng. Trên đỉnh cột buồm chính các con tàu treo những lá cờ dài nhưng hẹp khổ căng ra trong không khí vì tốc độ tàu chạy nhưng vẫn phấp phới. Vang lên những loạt đạn; chắc hẳn các tàu chiến đang chào mừng; những khẩu đại bác của một con tàu ấy, đi ngang qua từ khoảng cách rất gần, lấp lánh dưới ánh nắng và như thể đung đưa theo chuyển động vững chãi và thật lặng lẽ của con tàu, nhưng không hoàn toàn chỉ theo chiều ngang. Ta chỉ có thể nhìn thấy các tàu nhỏ hơn và những con thuyền từ xa, ít nhất là từ cánh cửa nơi Karl đang đứng, chúng đi lại ở những khoảng trống giữa các tàu lớn. Nhưng ở phía sau là New York sừng sững, những tòa nhà chọc trời nhìn Karl với cả trăm nghìn cửa sổ của chúng. Đúng, thực sự là trong căn phòng này ta biết mình đang ở đâu.

Ba người đàn ông ngồi quanh một cái bàn tròn: một là sĩ quan của tàu mặc quân phục màu xanh lơ, hai người kia là công chức hành chính cảng trong đồng phục đen mà người ta hay mặc ở Mỹ. Trên bàn chất đống tài liệu đủ loại; viên sĩ quan, bút cầm trên tay, đưa mắt lướt qua chúng rồi đưa cho hai người kia, lúc thì họ đọc, lúc thì họ chọn lựa, lúc thì họ cho chúng vào cặp của mình, trừ phi một trong hai người, có hàm răng gần như không ngừng tạo ra một tiếng động nho nhỏ, không đọc cho đồng nghiệp ghi một biên bản.

Trước cửa sổ, ngồi bên một cái bàn, lưng quay ra cửa, một ông nhỏ thó hí hoáy với những tập tài liệu khổ lớn dựng theo chiều thẳng đứng trước mặt ông ta trên một thanh giá dày đặt ngang tầm mắt. Cạnh ông ta là một két sắt mở nắp hình như trống rỗng nếu chỉ thoáng nhìn qua.

Cửa sổ thứ hai không có ai và có thể nhìn ra ngoài rõ hơn. Nhưng có hai ông che khuất một phần cửa sổ thứ ba, họ thấp giọng nói chuyện với nhau. Một người dựa vào bên cạnh cửa sổ; ông ta cũng mặc quân phục trên tàu và lấy tay nghịch đốc thanh kiếm đang đeo. Người còn lại quay mặt ra cửa sổ và đôi lúc dịch chuyển khiến ta nhìn thấy một phần những tấm huy chương đeo thành hàng trên ngực người kia. Ông ta mặc một bộ com lê dân sự và có một cây gậy tre mảnh, vì hai tay ông ta chống nạnh nên trông nó cũng giống một thanh kiếm.

Karl chỉ nhìn được toàn bộ cảnh tượng trong thoáng chốc: một anh hầu đã nhanh chóng lao tới chỗ những người mới đến và hỏi người thợ đốt lò đến đây làm gì, nhìn ông ta như thể chỗ của ông ta là nơi khác. Người thợ lò trả lời, giọng cũng thật nhỏ như khi được hỏi, rằng ông ta muốn nói chuyện với ông Thủ quỹ. Anh hầu phẩy tay để từ chối, nhưng dẫu vậy vẫn đi nhón chân, bước theo một vòng cung thật lớn để tránh cái bàn tròn, về phía cái ông đang bận bịu với đồng hồ sơ. Ông kia - có thể nhìn rất rõ - thực sự đông cứng người lại khi nghe những lời của anh hầu; tuy nhiên cuối cùng ông ta cũng quay về phía người muốn nói chuyện với mình và, để hẩy đi lời yêu cầu, nghiêm nghị vẫy hai tay về phía người thợ lò, rồi, để cho cẩn thận, vẫy cả về phía anh hầu. Thế là anh hầu bèn quay về chỗ người thợ lò và nói với ông ta, giọng như tâm sự: “Biến đi ngay lập tức.”

Người thợ đốt lò, trước câu trả lời này, quay sang nhìn Karl như thể Karl là trái tim ông ta và ông ta muốn trao gửi cho anh nỗi khổ tâm của mình. Không suy nghĩ gì nữa, Karl lao vào, chạy ngang qua căn phòng, thậm chí còn chạm nhẹ vào cái ghế của viên sĩ quan; anh hầu đuổi theo, người đổ về trước, hai cánh tay vươn ra để tóm lấy anh, như thể đang chạy bắt côn trùng, nhưng Karl đến được chỗ bàn ông Thủ quỹ trước, anh bíu chặt vào đó phòng trường hợp anh hầu định lôi anh đi.

Lẽ dĩ nhiên cả căn phòng liền rộn lên. Viên sĩ quan của tàu ngồi ở bàn nhảy dựng lên, hai ông công chức bến cảng bình tĩnh nhìn, nhưng rất chăm chú; hai ông ở cửa sổ sáp lại gần nhau và anh hầu, nghĩ rằng vai trò của mình đã kết thúc vào lúc các sếp quan tâm đến vụ việc, rút lui ra một xó. Người thợ đốt lò, đứng ở cửa, đầy kích động đợi đến lúc mình cần can thiệp. Rốt cuộc, ông Thủ quỹ quay mạnh người sang phải trên chiếc ghế phô tơi.

Karl lục tìm trong cái túi bí mật, mà anh không ngần ngại trưng bày trước mấy ông kia, và rút ra hộ chiếu của mình, anh mở nó ra đặt xuống bàn như muốn tự giới thiệu. Ông Thủ quỹ có vẻ coi thứ giấy tờ ấy chẳng mấy quan trọng, ông ta búng tay gạt nó sang bên, thế nên Karl cất giấy tờ của mình đi, như thể màn chào hỏi đã được thực hiện một cách ổn thỏa.

“Tôi xin được phép nói,” anh cất tiếng, “rằng theo tôi ông thợ đốt lò là nạn nhân của một sự bất công. Ở đây có một người tên là Schubal cứ liên tục ức hiếp ông ấy. Tuy nhiên ông thợ đốt lò đã phục vụ rất mỹ mãn trên nhiều con tàu, mà ông ấy có thể nêu tên với các ông; ông ấy chăm chỉ, ông ấy coi trọng công việc của mình và thực sự không thể nghĩ ông ấy không đủ sức làm việc trên con tàu này, nơi công việc không ở mức khủng khiếp như trên các thuyền buôn chẳng hạn. Vậy nên chỉ có thể là những lời vu khống làm vướng bước tiến của ông ấy và tước đoạt khỏi ông ấy lòng tôn trọng, thứ mà chắc chắn ông ấy xứng đáng được hưởng. Tôi vừa mới chỉ trình bày vụ việc một cách đại khái, ông ấy sẽ tự nói cho các ông chi tiết những lời khiếu nại của ông ấy.” Karl nói với tất cả những người có mặt trong phòng bởi vì quả thật họ đều đang lắng nghe và bởi vì có vẻ như sẽ dễ tìm ra một người công chính trong số họ hơn là ngay từ đầu đã nghĩ người công chính ấy là ông Thủ quỹ. Thêm nữa, vì mưu mẹo ngoại giao, Karl đã không nói anh chỉ mới vừa quen biết người thợ đốt lò. Vả lại hẳn anh đã nói hay hơn nhiều nếu không bị rối trí bởi khuôn mặt đỏ lựng của cái ông đeo gậy tre mà lúc này, ở vị trí mới, anh mới có thể nhìn rõ.

“Đó hoàn toàn là sự thật,” người thợ đốt lò tuyên bố trước khi bất kỳ ai kịp hỏi ông ta điều gì, và trước cả khi bất kỳ ai nghĩ đến chuyện nhìn ông ta. Sự mau mắn này lẽ ra đã là một sai lầm lớn nếu cái ông đeo nhiều huy chương - là Thuyền trưởng, rất chắc chắn, Karl đột nhiên hiểu ra - không nghĩ, rõ ràng là vậy, rằng phải lắng nghe người khiếu nại. Ông ta bèn chìa tay ra và kêu lên với người thợ đốt lò: “Lại gần đây,” giọng chắc nịch như có thể lấy búa nện lên. Giờ đây mọi việc tùy thuộc vào cách cư xử của người thợ lò, vì Karl không mảy may ngờ vực chuyện ông ta tuyệt đối có lý.

Thật may mắn vì hoàn cảnh này cho thấy người thợ đốt lò đã bị thế giới chà đạp khủng khiếp. Với một sự bình thản mẫu mực ông ta rút ngay từ cái va li nhỏ ra một quyển sổ và một tập giấy, rồi, như thể điều đó là hiển nhiên, lờ tịt ông Thủ quỹ, đi tới chỗ Thuyền trưởng, bày giấy tờ của mình trên bệ cửa sổ cho ông ta xem. Ông Thủ quỹ chỉ còn cách cũng phải tiến đến chỗ họ. “Anh này nổi tiếng vì phàn nàn suốt ngày,” ông ta nói như để giải thích, “người ta thấy anh ta ở văn phòng nhiều hơn ở phòng máy. Anh ta đã làm cho Schubal khốn khổ phải tuyệt vọng khủng khiếp, mà Schubal lại là một người rất hiền lành. Hãy biết rằng,” ông ta nói thêm, quay mặt về phía người thợ đốt lò, “rằng anh đã đi quá giới hạn. Đã bao nhiêu lần người ta phải tống khứ anh ra khỏi phòng phát lương, mà làm thế là đúng, với tất tần tật những mè nheo tuyệt đối quá quắt và sai trái của anh! Đã bao nhiêu lần anh chạy thẳng từ đó lên văn phòng đây! Đã bao nhiêu lần người ta nói với anh, vì lợi ích của anh, rằng Schubal là cấp trên trực tiếp của anh và anh phải dàn xếp với ông ấy, như một thuộc cấp biết điều! Thế mà hôm nay anh lại còn cả gan đến đây vào đúng lúc ngài Thuyền trưởng có mặt nữa, anh dám quấy rầy cả ngài ấy, thậm chí anh còn chẳng đỏ mặt xấu hổ vì đã dẫn theo cái anh chàng này làm người phát ngôn nói năng trơn tru cho những lời cáo buộc tồi tệ của anh, thêm nữa tôi mới chỉ nhìn thấy anh ta lần đầu trên tàu!”

Karl phải cố kiềm chế lắm mới không nhảy dựng lên. Nhưng ở đây đã có ông Thuyền trưởng, ông ta nói: “Ta hãy lắng nghe người này nói một lần. Dẫu sao thì tôi cũng thấy gần đây Schubal hơi có vẻ hách dịch quá, nhưng tôi nói điều đó chẳng phải là để ủng hộ anh đâu.” Những lời cuối này là dành cho người thợ đốt lò; ông Thuyền trưởng đâu có thể ngay tắp lự đứng về phe người đàn ông này, dĩ nhiên là vậy, nhưng mọi thứ đều có vẻ đang thuận lợi. Người thợ đốt lò bắt đầu giải thích và ngay từ đầu đã tỏ ra tự chủ, gọi Schubal là “ông”. Karl hết sức sung sướng, ở chỗ cái bàn mà ông Thủ quỹ đã rời đi, anh không ngừng nghịch ngợm ấn xuống khay của cái cân giấy. Ông Schubal đã bất công! Ông Schubal đã đứng về phía quyền lợi của đám người nước ngoài! Ông Schubal đã đuổi người thợ đốt lò khỏi phòng máy để bắt ông ta dọn toa lét, tuy rằng chắc chắn đó không phải là việc của ông ta! Thậm chí có lần năng lực của ông Schubal còn bị nghi ngờ; năng lực ấy hình như chỉ có vẻ bề ngoài chứ không phải là thực. Đến đây, Karl dồn hết sức chăm chăm nhìn ông Thuyền trưởng, như thể anh là đồng nghiệp của ông ta, để ông ta đừng xoay sang bực bội do cách trình bày của người thợ đốt lò có phần vụng về. Tuy nhiên, từ ngần ấy lời lẽ, người ta không biết được điều gì thật cụ thể và, mặc dù ông Thuyền trưởng tiếp tục nhìn ra trước mặt, với quyết tâm in rõ trong mắt là lần này sẽ lắng nghe người thợ đốt lò cho đến hết, các ông khác bắt đầu sốt ruột và giọng của người thợ đốt lò từ lâu đã không còn ngự trị mạnh mẽ trong căn phòng, điều này rất đáng lo ngại. Đầu tiên là ông vận đồ dân sự vung vẩy cây gậy tre và đập nhè nhẹ xuống sàn. Các ông khác, dĩ nhiên rồi, thỉnh thoảng nhìn ông ta làm vậy; mấy ông bên chính quyền bến cảng, tất nhiên đang vội, lại đặt tay lên đống giấy tờ và bắt đầu lật chúng ra xem, mặc dù không mấy chú tâm; viên sĩ quan của tàu tiến lại gần cái bàn của mình, còn ông Thủ quỹ, nghĩ rằng mình đã chiến thắng, phát ra một tiếng thở dài đầy mỉa mai. Chỉ anh hầu dường như không bị nhiễu bởi không khí lơ đãng chung; anh ta có phần cảm thông với nỗi đau đớn của con người khốn khổ giữa những ông lớn kia và hăng hái gật gật đầu với Karl như để giải thích một điều gì đó.

Dẫu sao trước các cửa sổ cuộc sống của bến cảng vẫn tiếp tục, một cái sà lan chất cả núi thùng hẳn phải được giữ cân bằng một cách kỳ diệu để không bị lăn, thiếu điều thì nhấn chìm căn phòng vào bóng tối khi lướt qua; những chiếc xuồng máy nhỏ, mà giờ đây Karl có thể ngắm nhìn thoải mái nếu anh có thời gian, có đường đi thẳng như kẻ chỉ, tuân theo từng điều chỉnh nhỏ của những người đứng sau bánh lái. Những thứ dị thường và rất nhẹ ló ra từ mặt nước xao động để rồi lại bị mặt nước xao động trùm lên, làm chúng biến mất đi trước những ánh mắt kinh ngạc; những chiếc xuồng của các tàu chạy đường dài tiến lên theo nhịp mái chèo của các thủy thủ đang thao tác khó nhọc; chúng chở đầy hành khách, ngồi bừa phứa trên đó, như thể bị nhồi nhét sau khi bị đẩy cả đống lên, ngoan ngoãn và vô cùng chăm chú, mặc dù một số người không thể tự ngăn mình ngoái đầu để ngắm nhìn những thay đổi của khung cảnh. Đó là một chuyển động không ngừng nghỉ, một sự náo động từ những gì náo động truyền tới những người khốn khổ và các hoạt động của họ.

Mọi thứ đều thúc giục phải khẩn trương lên, phải gọn ghẽ, phải giải thích hết sức cụ thể; nhưng người thợ đốt lò làm gì? Ông ta nói năng rối bời; từ một lúc lâu ông ta đã không còn có thể giữ những giấy tờ kia trên bệ cửa sổ bằng đôi tay run rẩy; ông ta khiếu nại về Schubal từ bất kỳ hướng nào, theo ông ta trong đó điều nhỏ nhất cũng đủ để diệt trừ kẻ xảo trá kia, nhưng những gì ông ta nói với ông Thuyền trường thực chất chỉ là một mớ lùng nhùng buồn thảm. Ông có cây gậy tre đã huýt sáo nho nhỏ từ một lúc, nghểnh mũi lên trần nhà; các ông bên chính quyền bến cảng giữ viên sĩ quan ở bàn họ và không tỏ vẻ muốn thả ông ta ra; chỉ sự bình thản của ông Thuyền trưởng còn làm cho ông Thủ quỹ phải do dự không dám đột ngột can thiệp, điều đó thấy rõ, còn anh hầu đứng nghiêm thì đợi bất kỳ lúc nào sếp mình cũng có thể ban một mệnh lệnh liên quan đến người thợ đốt lò.

Đứng trước tình hình này Karl không thể cứ đờ ra như thế. Anh bèn chậm rãi tiến đến chỗ nhóm người, vội vã suy nghĩ cách thức khéo léo nhất để tham gia. Và thực sự đã gấp gáp lắm rồi; chỉ vài giây nữa thôi chắc hẳn cả hai sẽ bị tống ra khỏi cửa. Ông Thuyền trưởng có là một người trung hậu đi chăng nữa, thậm chí vào lúc này, như Karl mường tượng, ông ta có một lý do đặc biệt nào đó để tỏ ra mình là một ông sếp công bằng, thì xét cho đến cùng ông ta cũng chẳng phải một đối tượng để người ta đùa bỡn; thế nhưng người thợ đốt lò lại đang đối xử với ông ta như vậy, dẫu cho bị thúc đẩy bởi một tâm hồn nổi giận.

Thế nên Karl nói với người thợ đốt lò: “Ông phải giải thích đơn giản hơn, rõ ràng hơn; ông Thuyền trưởng không thể xem xét những lời khiếu nại của ông nếu ông trình bày chúng như vậy. Ông ấy có biết tên họ của từng thợ máy và từng nhân viên chạy việc trên tàu để mà có thể ngay lập tức hiểu ra khi ông nêu tên một ai đó không? Thế nên ông hãy sắp xếp lại những lời phàn nàn, bắt đầu bằng điều chính yếu rồi sau đó mới nói đến các điểm khác, kết thúc bằng những thứ ít quan trọng nhất; thậm chí theo cách này ông sẽ chẳng cần nhắc tới phần lớn chúng. Vừa nãy lúc chỉ nói chuyện với một mình tôi thì ông trình bày sao mà sáng sủa thế!” Và để tự biện minh, anh nghĩ rằng tại Mỹ người ta có thể ăn cắp rương hòm, thì ta cũng có quyền nói đây nói đó một lời dối trá nho nhỏ.

Chà! giá như lời nói dối này ít ra có ích!… Chẳng phải đã quá muộn rồi ư? Người thợ đốt lò nghe thấy giọng nói quen thì bặt tiếng ngay; nhưng với cặp mắt ầng ậc nước bởi cảm giác mất mát phẩm cách, những kỷ niệm đáng sợ và nỗi hoảng hốt hiện tại, ông ta đã không sao còn nhận ra Karl được nữa. Giờ đây làm sao mà ông ta có thể - Karl nhận ra điều đó thật rõ trước người đàn ông đang im tiếng này - làm sao mà ông ta có thể đột nhiên thay đổi cách nói năng, chắc ông ta phải cảm thấy mình đã nói mọi điều cần nói, mà không đưa ra được gì làm bằng chứng và, ngược lại, ông ta đã chẳng nói gì, không thể nghĩ các ông kia còn chịu lắng nghe thêm nữa. Và chính vào lúc này thì Karl, người duy nhất ủng hộ ông ta, lại hiện ra để cho ông những lời khuyên tốt đẹp, nhưng chỉ đủ sức cho ông ta thấy rằng mọi thứ đã hỏng hẳn rồi.

“Tại sao mình lại không tới sớm hơn thay vì nhìn ra ngoài cửa sổ cơ chứ?” Karl tự hỏi. Đứng đó trước người thợ đốt lò, anh cúi đầu và buông thõng hai tay dọc theo đường chỉ quần để đánh dấu chấm hết cho mọi hy vọng.

Nhưng người thợ đốt lò hiểu nhầm ý nghĩa của cử chỉ này; hẳn ông ta đánh hơi thấy ở Karl vài lời trách móc ngấm ngầm và, với ý định đuổi chúng khỏi tâm trí anh, ông ta lại còn quay sang cãi cọ với Karl. Ngay vào lúc mấy ông ở cái bàn tròn cảm thấy bực mình vì sự ồn ào vô tích sự quấy rầy những công việc quan trọng của họ, lúc ông Thủ quỹ, rốt cuộc không còn hiểu nổi sự kiên nhẫn của ông Thuyền trưởng, chuẩn bị bùng nổ đến nơi, lúc anh hầu, bị thái độ của các ông chủ kìm giữ, chằm chằm nhìn người thợ đốt lò bằng ánh mắt phẫn nộ, và lúc ông mang cây gậy tre - đôi khi ông ta được ông Thuyền trưởng nhìn với vẻ thân thiết - tỏ vẻ hoàn toàn không quan tâm đến người thợ đốt lò, phải, thậm chí còn thấy kinh tởm, rút ra một quyển sổ và, rõ ràng đang bận rộn với những sự vụ rất xa lạ với khung cảnh đang diễn ra, cứ liên tục nhìn từ Karl sang quyển sổ.

“Tôi biết rõ mà,” Karl nói, anh khó nhọc đánh lạc hướng nỗi tức tối của người thợ đốt lò - nỗi tức tối giờ đây chĩa thẳng vào anh - nhưng dẫu vậy anh vẫn giữ trên môi nụ cười hòa nhã trong suốt cuộc cãi cọ, “tôi biết rõ mà; ông nói đúng, tôi chẳng hề nghi ngờ điều đó.” Anh những muốn, vì sợ bị đánh, giữ lấy hai bàn tay ông ta cứ vung vẩy không yên hoặc, sẽ còn tốt hơn nữa, kéo ông ta ra một góc để thì thầm với ông ta vài lời xoa dịu, không để ai khác nghe thấy. Nhưng người thợ đốt lò đang sôi sục và Karl thậm chí đã tìm niềm khuây khỏa trong ý nghĩ rằng nếu cần người thợ đốt lò hoàn toàn có thể, với niềm tuyệt vọng trợ sức, xử lý cả bảy người đang có mặt ở đây. Trên bàn - liếc một cái anh đã thấy - có một tấm bảng gồm vô cùng nhiều nút điện: chỉ cần ấn tay lên đó là ta có thể làm nổ tung cả con tàu với tất tật những hành lang của nó, vốn chứa đầy những kẻ thù địch.

Chính vào lúc ấy ông mang cây gậy tre, tới đây hãy còn dửng dưng với toàn bộ câu chuyện, tiến lại gần Karl và hỏi, không lên giọng nhưng âm lượng đủ để át đi tiếng ồn: “Anh tên là gì thế?” Cùng lúc đó, như thể có ai đó đằng sau cánh cửa chỉ đợi câu hỏi ấy, vang lên hai tiếng gõ. Anh hầu đưa mắt dò hỏi ông Thuyền trưởng, ông ta gật đầu. Anh hầu đi ra mở cửa. Bên ngoài, trong bộ quân phục hải quân hoàng gia Đức cũ kỹ, là một người đàn ông tầm thước dường như chẳng gì đặc biệt cho thấy là làm công việc máy móc, và thế nhưng đó lại là… Schubal. Nếu Karl không ngay tắp lự nhận ra ông ta thông qua biểu hiện của tất tật những con mắt để lộ một sự hài lòng nào đó vào lúc ấy, kể cả bản thân ông Thuyền trưởng, thì anh cũng buộc phải hiểu ra nhờ thái độ của người thợ đốt lò, ông ta siết chặt hai nắm tay, gồng bắp tay lên, như thể ở ông ta chẳng gì còn có thể quan trọng cho bằng cái trò cơ bắp này, ông ta sẵn sàng hy sinh mọi thứ ông sở hữu trên đời cho nó: ở trong nó dồn tụ tất tật sức mạnh của ông ta, kể cả sức mạnh đang giúp ông đứng cho vững.

Vậy là kẻ thù đang ở đây, dáng vẻ tự do và thư thái, trong trang phục bảnh bao, với một tập hồ sơ kẹp dưới nách - chắc hẳn trong đó có bảng lương và bản ghi quá trình làm việc của người thợ đốt lò - và lần lượt nhìn ánh mắt những người ở đó, chẳng hề ngượng ngùng đánh giá tâm trạng từng người. Cả bảy người kia đều là bạn của ông ta, vì cho dù ông Thuyền trưởng đã có, hoặc tỏ vẻ như vậy, một số điều phản đối ông ta, thì sau tất cả những gì người thợ đốt lò đổ lên đầu ông ta, chẳng còn gì để trách cứ Schubal nữa. Người ta không thể quá nặng tay với một người như ông thợ đốt lò, và nếu Schubal có lỗi gì, thì đó là bởi ông ta đã không bẻ gãy được tinh thần phản kháng của người thợ đốt lò đúng lúc nhằm ngăn chặn ông ta cả gan đến gặp ông Thuyền trưởng hôm nay.

Nhưng dường như sẽ hợp lý nếu nghĩ cuộc chạm trán giữa hai địch thủ trước những người ở đây cũng sẽ có cùng hiệu ứng như vậy trước một hội đồng cấp cao hơn, bởi vì dẫu Schubal có biết cách che giấu đến đâu, hẳn ông ta cũng sẽ không thể như vậy mãi cho đến cùng. Chỉ cần thoáng một chút thôi là toàn bộ sự hiểm độc của ông ta sẽ lộ ra trước những người kia, và Karl muốn khơi gợi điều này. Anh đã tìm hiểu được gần như thấu đáo những điểm yếu và tâm trạng của mỗi người ở đây; về khía cạnh này, thời gian trôi qua trong căn phòng không hề phí phạm. Giá kể người thợ đốt lò vững vàng hơn, nhưng có vẻ như ông ta không còn khả năng chiến đấu. Giả dụ người ta túm chặt lấy cái tay Schubal thì chắc là ông ta có thể đập vỡ cái đầu căm ghét kia. Thế nhưng ông ta gần như chẳng đủ sức đi vài bước đến chỗ kẻ thù. Vậy thì tại sao Karl lại không lường được điều tuy vậy lại rất dễ lường trước: rằng thế nào Schubal cũng sẽ đến, nếu không phải tự ý thì cũng là theo lệnh của ông Thuyền trưởng? Tại sao Karl, cùng người thợ đốt lò, trên đường đi lại không dựng ra một kế hoạch tác chiến cụ thể thay vì chẳng hề chuẩn bị gì hết mà lại nghĩ thế là đã đủ để bước qua cánh cửa? Người thợ đốt lò có còn đủ sức dù chỉ để cất lời hay không? ông ta có thể trả lời có hay không để tiến hành cuộc đối chất, mà sẽ chỉ có đối chất trong trường hợp thuận lợi hơn cả? Ông ta đứng đó, hai chân giạng ra, đầu gối hơi khuỵu xuống, đầu hơn nhếch lên, và không khí qua lại cái miệng mở to của ông ta như thể trong người ông ta không có phổi để điều hòa không khí nữa. Dẫu sao, Karl cảm thấy mạnh mẽ hơn, bình tĩnh hơn mọi lúc khác, khi còn ở nhà. Giá mà bố mẹ khốn khổ của anh được nhìn thấy anh ở đây, chứng kiến anh chiến đấu bảo vệ điều tốt, trên một mảnh đất xa lạ, trước những nhân vật máu mặt, và tuy còn chưa chiến thắng nhưng anh đã can đảm chuẩn bị sẵn để thực hiện cuộc tấn công sau chót! Nếu được dự vào cảnh tượng này, họ có thay đổi ý kiến về anh không? Họ có ngồi vây quanh con trai họ để khen ngợi không? Họ có nhìn một lần vào mắt anh để thấy trong đó có biết bao nhiêu sự tận tụy hay không? Những câu hỏi thật nhiều nghi ngờ, mà thời điểm thì thật không thích hợp để đặt ra!

“Tôi đến đây vì tôi nghĩ anh thợ đốt lò buộc tội tôi về những sự thiếu trung thực. Một cô gái làm việc ở bếp nói với tôi rằng cô ấy thấy anh ta đi qua. Thưa Thuyền trưởng và các ngài, tôi sẵn sàng bác bỏ mọi lời cáo buộc, với giấy tờ làm bằng chứng và, nếu cần, với những nhân chứng không thiên vị và không định kiến đang ở ngay ngoài cửa.” Schubal nói thế. Đó là những lời lẽ rõ ràng của một con người và, căn cứ vào sự thay đổi nét mặt của những người đang lắng nghe, tưởng chừng đã lâu rồi họ mới được nghe thấy một tiếng nói con người. Lẽ dĩ nhiên họ không nhận ra rằng những lời đẹp đẽ kia đầy rẫy khiếm khuyết. Tại sao ý quan trọng đầu tiên nảy ra trong đầu Schubal lại là “những sự thiếu trung thực”? Lời cáo buộc có nên trước hết hướng vào điểm này thay vì bắt đầu bằng những thiên vị liên quan đến quốc tịch hay không? Có một cô gái dưới bếp nhìn thấy người thợ đốt lò đi tới chỗ văn phòng, chỉ cần như thế Schubal đã rút ngay được kết luận ư? Là cảm giác tội lỗi khiến ông ta hiểu ngay ra? Và ông ta đã dẫn theo các nhân chứng, lại còn là các nhân chứng không thiên vị và không định kiến? Một trò lừa đảo, một trò lừa đảo lớn! Thế mà các ông kia lại chịu tin và nghĩ đó là cách cư xử đúng đắn? Tại sao Schubal đợi lâu đến vậy mới chịu tới sau khi nghe cô gái ở bếp mách lại? Lẽ dĩ nhiên, chẳng có mục đích nào khác ngoài để cho người thợ đốt lò làm những ông kia mệt mỏi đến nỗi họ dần dà đánh mất sự sáng suốt trong óc đánh giá của mình, sự sáng suốt ấy chính là mối nguy lớn nhất mà Schubal phải e ngại. Chẳng phải ông ta đã chờ trước khi gõ cửa - bởi vì chắc chắn ông ta đã rình - chẳng phải ông ta đã chờ, chỉ gõ cửa khi nghe thấy một câu hỏi chẳng hề liên quan cho phép hy vọng người ta đã xong việc với người thợ đốt lò.

Mọi thứ đều sáng sủa, và mặc dù không muốn Schubal chỉ xác nhận điều đó, nhưng vẫn cần làm các ông kia hiểu một cách quyết liệt hơn. Họ phải bị rung chuyển. Karl phải khẩn trương tận dụng thời gian cho có lợi trước khi những nhân chứng kia xuất hiện nhấn chìm đi mọi thứ.

Nhưng ông Thuyền trưởng, đúng vào lúc này, ra hiệu bảo Schubal ngừng nói. Vụ việc của ông ta có vẻ đã xếp lại, Schubal rút lui ra một chỗ và bắt đầu nhỏ giọng nói chuyện với anh hầu, anh ta đã ngay tắp lự xích lại gần ông ta, cuộc trò chuyện ấy được điểm xuyết bằng những ánh mắt liếc xéo về phía Karl và người thợ đốt lò, cùng những động tác tay rất kiên quyết. Vẻ như là ông ta đang chuẩn bị cho bài diễn văn hùng hồn của mình.

“Chẳng phải lúc nãy ông muốn đặt cho chàng trai trẻ này một câu hỏi sao, ông Jakob?” giữa sự im lặng chung, ông Thuyền trưởng hỏi ông mang cây gậy tre.

“Đúng thế,” ông ta đáp, cảm ơn sự quan tâm bằng cách hơi cúi người xuống. Và ông ta hỏi Karl: “Chàng trai trẻ, anh tên là gì thế?”

Karl, nghĩ rằng sẽ có lợi cho vụ việc lớn nếu giải quyết nhanh chóng cái sự cố gây ra bởi một người cứ bướng bỉnh muốn đặt câu hỏi này, cộc lốc nói tên mình mà không trình ra như lệ thường tấm hộ chiếu mà anh sẽ phải tìm trước đó: “Karl Roßmann.”

“Nhưng…,” cái ông được gọi là Jakob nói, rồi lùi lại ngay lập tức với một nụ cười gần như nghi hoặc. (Và ông Thuyền trưởng, ông Thủ quỹ, viên sĩ quan của tàu, cả anh hầu nữa tỏ ra vô cùng kinh ngạc khi nghe thấy họ của Karl; chỉ các ông bên chính quyền bến cảng, cũng như Schubal, tiếp tục giữ thái độ hờ hững.)

“Nhưng…,” ông Jakob nhắc lại, tiến về phía Karl với một bước chân hơi cứng nhắc, “nhưng thế thì tôi là ông cậu Jakob của anh còn anh là người cháu thân yêu của tôi! Tôi đã bắt đầu ngờ là vậy được một lúc rồi mà,” ông nói thêm, hướng về phía ông Thuyền trưởng trước khi sáp lại gần và ôm hôn Karl, anh để mặc mọi chuyện diễn ra mà không nói gì.

“Ông tên là gì?” đến lượt mình Karl hỏi, chắc hẳn là hết sức lịch sự, nhưng không kèm chút cảm xúc nào (anh cố dự đoán xem sự kiện này sẽ gây những tác động nào đến vụ việc của người thợ đốt lò. Lúc này chẳng có gì chỉ ra rằng Schubal sẽ được lợi từ chuyện ấy).

“Anh phải hiểu hạnh phúc của anh chứ, chàng trai,” ông Thuyền trưởng nói, nhìn thấy trong câu hỏi của Karl một sự xúc phạm đến phẩm giá của ông Jakob. (Ông đã đi ra cửa sổ để che giấu nỗi xúc động hiện ra trên khuôn mặt mình và lấy một cái khăn mùi soa lau đi.) “Anh phải hiểu hạnh phúc của anh chứ, chàng trai, đích thân ngài Nghị sĩ Edward Jakob nhận là cậu của anh đấy! Một sự nghiệp xán lạn đang chờ đón anh, trái ngược với mọi dự đoán của anh. Hãy cố mà hiểu điều đó hết mức có thể vào lúc này và hồi tâm đi.”

“Tôi,” Karl nói và quay sang ông Thuyền trưởng, “có một ông cậu Jakob ở Mỹ nhưng, nếu tôi hiểu đúng, Jakob là họ của ngài Nghị sĩ phải không?”

“Đúng thế đấy,” ông Thuyền trưởng đáp, có chút sốt ruột.

“Vâng, nhưng cậu Jakob của tôi, em trai của mẹ tôi, tên là Jakob cơ mà; họ của cậu phải giống họ của mẹ tôi chứ, nhũ danh của mẹ tôi là Bendelmayer!”

“Thưa các ông,” ông Nghị sĩ kêu lên, nhanh nhẹn từ chỗ mà ông đang lui về bên cửa sổ quay trở lại với lời giải thích của Karl, và tất cả phá lên cười, ngoài các công chức bến cảng, một số như thể bị xúc động, số khác vì những lý do không thể hiểu được.

“Điều mình vừa nói đâu có lố bịch đến thế!” Karl nghĩ.

“Thưa các ông,” ông Nghị sĩ nhắc lại, “các ông đang, mà không định, tôi cũng không định thế, dự vào một hoạt cảnh gia đình, và bởi vậy tôi không thể ngăn mình giải thích với các ông, vì tôi nghĩ ông Thuyền trưởng - lời này tạo ra hai cú cúi người qua lại - là người duy nhất biết rõ mọi chuyện.” “Giờ thì mình phải thực sự chú ý đến từng lời rồi đây,” Karl tự nhủ, hết sức sung sướng vì khi liếc nhìn sang bên, anh đã thấy khuôn mặt người thợ đốt lò bắt đầu có sức sống trở lại.

“Trong cuộc lưu trú của tôi ở Mỹ - từ lưu trú dĩ nhiên không thực sự thích hợp ở đây đối với người công dân Mỹ mà tôi đã trở thành với toàn bộ tâm hồn - tôi sống đã nhiều năm dài hoàn toàn chia cách với họ hàng bên châu Âu của tôi, vì những nguyên nhân trước hết sẽ không liên quan ở đây, sau nữa tôi sẽ không thể trình bày chúng mà không bị xúc động quá nhiều. Thậm chí tôi còn e ngại thời điểm tôi sẽ phải kể cho người cháu thân yêu của tôi, thật không may tôi sẽ không thể làm việc ấy mà tránh được một lời chân tình về bố mẹ nó và những người liên quan đến họ.”

“Đây là ông cậu của mình, không còn nghi ngờ gì nữa,” Karl vừa dỏng tai lên nghe vừa tự nhủ, “chắc cậu ấy đã đổi họ.”

“Bố mẹ của người cháu thân yêu của tôi đã… - ta hãy nói điều này ra bởi vì đó là điều duy nhất thực sự chỉ rõ mọi việc - đã đuổi nó đi như tống khứ một con mèo ra ngoài cửa vì nó làm họ phát bực. Tôi sẽ không tìm cách biện hộ chút nào cho những gì cháu tôi đã làm để đến nỗi bị trừng phạt như thế; lỗi lầm của nó thuộc vào những lỗi lầm mà chỉ riêng tên gọi thôi cũng đã tạo ra một lời biện hộ quá đầy đủ rồi.”

“Sắp rồi đây,” Karl nghĩ, “nhưng mình không muốn cậu kể tuốt tuột. Vả lại cậu không thể biết được. Ai đã nói cho cậu nhỉ?”

“Và chuyện là,” ông cậu nói tiếp, người ông tì lên cây gậy tre, hơi đung đưa qua lại, làm thế ông khiến một sự trang trọng không cần thiết lẽ ra đã có phải biến mất - “nó đã bị một cô hầu quyến rũ, một cô Johanna Brummer nào đó, trạc ba mươi lăm tuổi. Tôi chẳng hề có chút ý định xúc phạm gì cháu tôi khi dùng từ “quyến rũ”, nhưng khó mà tìm được một từ thích hợp hơn.”

Karl, đã nhích lại gần ông cậu, ngoái đầu lại để xem ấn tượng mà câu chuyện này gây ra trên các khuôn mặt. Không ai cười, tất cả đều lắng nghe một cách kiên nhẫn và nghiêm trang. Dù sao người ta cũng không hơi tí là cười cợt người cháu của một nghị sĩ. Thậm chí ta còn có thể nói rằng chính người thợ đốt lò đang thoáng mỉm cười; nhưng trước hết ở ông ta đó là thêm một dấu hiệu cuộc sống nữa và sau đó cũng dễ tha thứ, vì lúc ở căn buồng Karl đã muốn biến câu chuyện giờ đây đang được phơi bày giữa thanh thiên bạch nhật thành một điều bí mật.

“Thế là cái cô Brummer ấy,” ông cậu nói tiếp, “sinh một đứa con với cháu tôi; một thằng nhóc rất kháu; nó được đặt tên là Jakob, chắc hẳn để nhớ đến con người tầm thường là tôi đây, bởi vì tuy cháu tôi chỉ nhắc nhở qua loa đến tôi thôi nhưng dường như tôi đã gây ấn tượng lớn lên người phụ nữ ấy. Và tôi sẽ nói thêm ngay: thật may mắn vì vậy! Bởi vì bố mẹ của cháu tôi, để đỡ phải trả tiền bồi thường hoặc tránh việc lùm xùm sẽ đổ ụp lên họ - tôi phải nhấn mạnh rằng tôi chẳng hề biết gì về luật pháp ở đất nước và tình hình thực tế của họ, tôi từng nhận được hai lá thư xin xỏ của họ cách đây đã lâu rồi, tôi không hồi âm nhưng vẫn còn giữ thư, chúng là những mối liên hệ thư từ duy nhất, một chiều, giữa họ và tôi suốt những năm ấy - thế là bố mẹ của cháu tôi, để đỡ mọi món tiêu pha và chuyện lùm xùm, đã đẩy con mình sang Mỹ với một mớ hành lý - các ông cũng thấy đấy - thiếu thốn đến không thể tha thứ được, do vậy chắc hẳn cậu bé này sẽ phải tự loay hoay mà chẳng gặp được những dấu hiệu và phép màu mà ta vẫn còn thấy ở Mỹ; có lẽ cháu tôi đã gặp phải nỗi khốn đốn chết người tại một con hẻm nào đó trên bến cảng nếu cô hầu mà tôi vừa nhắc đến kia không trình bày cuộc phiêu lưu với tôi - trong một bức thư đến tay tôi vào hôm kia sau khi lưu lạc rất lâu trên thế giới - nếu cô ta không đánh động cho tôi về cậu cháu của tôi, và nếu không nhanh trí mà nói cho tôi biết tên của con tàu. Thưa các ông, tôi không có ý định làm mất thời gian của các ông, nếu không tôi hoàn toàn có thể đọc vài đoạn trong bức thư này,” và ông rút từ trong túi, giơ lên và vẫy vẫy hai tờ giấy đúp to tướng đen kịt những dòng chữ nhỏ li ti. “Chắc chắn nó sẽ gây tác động mạnh, vì nó được viết với sự tinh quái hơi hạ đẳng mặc dù với ý đồ tuyệt hảo, và cùng rất nhiều tình yêu dành cho bố của đứa trẻ. Nhưng tôi không muốn giữ các ông lâu hơn thời gian cần thiết để làm sáng tỏ chuyện, cũng không định làm tổn thương, nhất là ở ngay lần đầu tiên gặp gỡ như thế này, những tình cảm mà cháu tôi có thể vẫn còn lưu giữ. Nó sẽ đọc bức thư này, nếu nó muốn, tùy ý nó, khi nào đã được thong thả trong sự tĩnh mịch của căn phòng đang đợi sẵn.”

Tuy nhiên, Karl chẳng hề nuôi dưỡng chút tình cảm nào với cô hầu ấy. Trong sự rối mù của một quá khứ mỗi lúc một lùi xa thêm, anh nhìn thấy cô ta lúc nào cũng ngồi trong bếp, hai khuỷu tay chống lên mặt tủ. Cô ta nhìn anh ra ra vào vào, lấy một cốc nước cho bố anh, làm một việc lặt vặt gì đó cho mẹ anh. Thỉnh thoảng cô ta ngồi ở góc tủ viết một bức thư, tư thế vặn vẹo và tìm kiếm cảm hứng từ khuôn mặt của Karl. Thỉnh thoảng, cô ta lấy tay che mắt, lúc đó chẳng ai nói chuyện với cô ta được nữa. Cũng có khi, thỉnh thoảng, quỳ gối trong căn phòng nhỏ cạnh bếp của mình, cô ta cầu nguyện trước một cây thánh giá gỗ; khi ấy Karl chỉ rụt rè nhìn cô ta, những lúc anh đi ngang qua cánh cửa mở hé. Những lần khác, cô ta đi vòng vòng quanh bếp, nhảy dựng lùi về sau và phát ra tiếng cười phù thủy khi anh đứng chắn đường. Lại có những lần, nếu Karl bước vào, cô ta đóng cửa lại sau lưng anh và giữ tay nắm cửa thật chắc cho tới lúc anh đòi đi ra. Cũng có khi cô ta đi tìm những thứ mà anh chẳng hề yêu cầu rồi im lặng đặt chúng vào tay anh. Một lần cô ta gọi anh là “Karl”, dẫn anh, mà anh thì vẫn còn hết sức kinh ngạc vì cách gọi đó, vào căn phòng nhỏ của cô ta, thở hổn hển, mặt thì nhăn nhó dữ tợn, và khóa trái cửa lại. Rồi, hôn anh đến mức làm anh ngạt thở và bảo anh cởi quần áo ra, rồi cô ta tự mình cởi quần áo cho anh và dẫn anh nằm xuống giường cô ta; cứ như thể cô ta chẳng còn bao giờ muốn nhường anh cho ai khác nữa, như thể cô ta mong được vuốt ve anh và săn sóc anh cho đến tận thế.

“Karl, ôi Karl của em!” cô ta hét lên như có thể nhìn thấy anh và muốn xác nhận rằng mình sở hữu anh, trong khi anh chẳng nhìn thấy gì và bị ngạt thở dưới một đống chăn chiếu như thể được cô ta gom góp lại cho riêng anh vậy.

Sau đó cô ta nằm xuống bên cạnh anh và đòi anh kể cho cô ta nghe những bí mật mà anh chẳng hề biết; rồi, vì anh không biết các bí mật ấy, cô ta giận dỗi, một cách nghiêm túc hoặc chỉ để đùa thôi, cô ta lắc người anh, lắng nghe trái tim anh đập, và đến lượt mình giơ ngực ra để anh nghe, nhưng cô ta không bắt anh làm thế được; cuối cùng, ép chặt cái bụng trần của mình lên cơ thể anh, cô ta quờ tay theo một cách thức thật khó chịu giữa hai chân anh, đến nỗi anh phải ngoặt đầu ngoặt cổ thò ra khỏi cái gối, trong lúc đó thì cô ta nhiều lần ép bụng lên người anh; suốt thời gian này Karl thấy như thể cô ta đã trở thành một phần con người anh và, có thể vì thế mà anh cảm thấy một nỗi sầu muộn xâm chiếm lấy mình. Anh khóc lóc trở về giường mình, còn cô hầu thì hét “tạm biệt” đến cả nghìn lần. Chẳng còn gì khác nữa, thế nhưng ông cậu vẫn từ đó kể được cả một câu chuyện. Cô bếp cũng đã nghĩ đến Karl: cô ta đã báo cho cậu anh là anh sắp đến. Đó là một hành động đẹp từ phía cô ta, rồi một ngày nào đó ông sẽ thưởng cho cô ta vì điều đó.

“Còn bây giờ,” ông Nghị sĩ kêu lên, “cháu sẽ tự nói cho cậu biết rằng cậu chính là cậu của cháu.”

“Cậu là cậu của cháu,” Karl nói và hôn tay ông, rồi nhận lại một nụ hôn lên trán. “Cháu rất sung sướng vì đã gặp được cậu, nhưng cậu nhầm nếu cậu tưởng bố mẹ cháu chỉ nói xấu cậu mà thôi. Vả lại, ngoài vấn đề này, cậu còn có vài nhầm lẫn nữa trong câu chuyện, cháu muốn nói rằng trên thực tế mọi chuyện có lẽ đã không xảy ra giống như cậu đã kể. Nhưng lẽ dĩ nhiên cậu không thể đánh giá chính xác những gì ở xa đến vậy, và thêm nữa cháu cũng không nghĩ là có gì xấu nếu các ông đây nghe một câu chuyện hơi thiếu chính xác ở một số chi tiết, khi mà câu chuyện ấy không thực sự liên quan đến họ.”

“Nói hay lắm,” ông Nghị sĩ nói; ông dẫn Karl đến chỗ ông Thuyền trưởng, người lúc này rõ ràng đang tỏ ra rất quan tâm và đầy thông cảm, và hỏi ông ta: “Xem tôi có một đứa cháu tuyệt không nào?”

“Tôi sung sướng lắm,” ông Thuyền trưởng nói, cúi người xuống theo cách thức chỉ thấy ở những người được đào tạo về quân sự, “tôi sung sướng lắm, thưa ông Nghị sĩ, vì được làm quen với cháu của ông. Thật là một vinh hạnh đặc biệt cho con tàu của tôi vì đã được làm nơi diễn ra một cuộc gặp như thế này. Nhưng chuyến đi chắc rất mệt nhọc ở khoang dưới, ở đó ta chẳng bao giờ biết mình phải ở cùng với ai. Chúng tôi làm tất cả những gì có thể để làm chuyến đi dễ chịu hơn cho các hành khách của khoang dưới, hơn nhiều so với, chẳng hạn thế, các đồng nghiệp người Mỹ của chúng tôi, nhưng lẽ dĩ nhiên chúng tôi đã không thể biến một chuyến đi như vậy trở thành một điều khoái lạc rồi.”

“Tôi không thấy có gì tệ đâu,” Karl nói.

“Nó không thấy có gì tệ đâu!” ông Nghị sĩ nhắc lại, phá lên cười.

“Chỉ có mỗi cái rương của tôi, tôi e đã đánh mất nó…” Câu nói này nhắc cho chàng thanh niên nhớ tới toàn bộ chuyện đã qua và những gì còn phải làm; anh nhìn ra xung quanh và thấy những người có mặt đang cứng người trong niềm tôn trọng và kinh ngạc, mắt dõi chằm chằm vào anh. Chỉ các công chức bến cảng để lộ, ở mức độ mà những khuôn mặt nghiêm trang và hài lòng của họ cho phép, rằng họ tiếc vì đã tới vào một thời điểm kém thích hợp như thế này; vẻ như cái đồng hồ treo tường trước mặt họ còn quan trọng hơn tất tật những gì đang diễn ra trong căn phòng này và tất tật những gì còn có thể xảy đến.

Người đầu tiên thể hiện lòng cảm thông của mình sau ông Thuyền trưởng, thật kỳ lạ, là người thợ đốt lò.

“Tôi xin chúc mừng anh bằng cả tấm lòng,” ông ta nói, và siết chặt lấy bàn tay Karl, muốn qua đó mà diễn tả một điều gì đó giống như cảm giác ngưỡng mộ. Nhưng sau đó khi ông ta muốn làm cùng điều ấy với ông Nghị sĩ, ông Nghị sĩ bèn bước lùi lại, như thể người thợ đốt lò đang vượt quá các quyền của mình; thế nên người thợ đốt lò dừng lại ngay lập tức.

Nhưng tất cả những người khác thấy rõ cần phải cư xử thế nào, và họ tạo ra một sự lộn xộn lớn xung quanh Karl và ông Nghị sĩ. Karl nhận được những lời chúc mừng từ cả Schubal, trong sự huyên náo chung, anh nhận những lời chúc mừng ấy và cảm ơn. Các công chức bến cảng là những người cuối cùng, sự tĩnh lặng đã trở lại, họ nói hai từ tiếng Anh, chúng tạo ra một ấn tượng thật lố bịch.

Giờ ông Nghị sĩ đã có tâm trạng để thoải mái tận hưởng việc nhớ lại và nhắc cho những người khác một số chuyện ít quan trọng hơn, chúng không chỉ được lắng nghe mà còn được mọi người thích thú đón nhận. Chính bằng cách ấy mà ông cho biết ông đã ghi vào sổ tay những dấu hiệu đặc biệt đáng chú ý nhất của Karl được nêu trong bức thư của cô bếp, để có thể sử dụng ngay những thông tin này khi cần. Suốt khi người thợ đốt lò lảm nhảm một cách không thể chịu đựng nổi ông đã mở quyển sổ ra không ngoài mục đích nào khác ngoài tự tạo cho mình một trò giải trí và so sánh cho vui những gì cô bếp nêu lên, lẽ dĩ nhiên chúng chẳng hề chính xác như một tấm phiếu nhân trắc học, với con người của Karl. “Và đó chính là cách người ta tìm ra cháu của mình!” ông kết luận bằng cái giọng như thể ông còn muốn nhận thêm những lời chúc mừng khác nữa.

“Giờ chuyện gì sẽ xảy ra với ông thợ đốt lò đây?” Karl hỏi đệm vào, sau câu chuyện cuối cùng của ông cậu. Anh nghĩ tình hình mới này cho phép anh nói tất tật những gì anh nghĩ.

“Những gì anh ta xứng đáng,” ông Nghị sĩ đáp, “những gì ông Thuyền trưởng nghĩ là đúng đắn. Tôi nghĩ tất cả các ông đều nhất trí rằng chúng ta đã chán và quá chán cái anh thợ đốt lò này.”

“Nhưng điều đó thì đâu có gì liên quan đến một vấn đề công lý,” Karl nói. Anh đứng giữa ông cậu và ông Thuyền trưởng và nghĩ, có lẽ là dưới ảnh hưởng của vị trí này, rằng quyết định đang nằm trong tay anh.

Và thế nhưng người thợ đốt lò tỏ ra chẳng còn hy vọng điều gì cho mình nữa. Ông ta thọc nửa hai bàn tay vào thắt lưng quần, dưới tác động của những động tác của ông ta nó lộ ra cùng với một khoảng áo sơ mi in họa tiết. Điều này chẳng hề làm ông ta thấy lo lắng chút nào; ông ta đã nói lên toàn bộ nỗi khốn khổ của mình, giờ đây người ta có thể thấy rõ những thứ quần áo khốn khổ mà ông ta mặc, sau đó chỉ còn một việc phải làm là dẫn ông ta đi. Ông ta nghĩ rằng Schubal và anh hầu, những người ở cấp thấp nhất, sẽ phải làm cho ông ta việc cuối cùng này. Khi ấy Schubal sẽ được yên ổn, sẽ chẳng còn ai đẩy ông ta đến bờ vực của sự tuyệt vọng, như ông Thủ quỹ đã nói. Ông Thuyền trưởng sẽ có thể chỉ cần thuê toàn người Rumani, người ta sẽ nói tiếng Rumani khắp mọi nơi và có lẽ khi ấy mọi chuyện sẽ thực sự khá hơn. Sẽ chẳng còn người thợ đốt lò nữa để mà cằn nhằn ở văn phòng, nhưng có lẽ người ta sẽ lưu giữ một kỷ niệm khá là tốt đẹp về những lời lẽ cuối cùng của ông, bởi vì một cách gián tiếp ông ta đã mang tới cho ông Nghị sĩ, như ông đã nói thật rõ ràng, cơ hội để nhận ra cháu ông. Trước đó người cháu này đã nhiều lần tìm cách giúp đỡ ông ta và, bởi thế, không hề còn nợ ông ta về việc giúp mình được nhận ra; trong đầu người thợ đốt lò không hề nảy ra ý định nhờ vả thêm gì nữa. Vả lại, mặc dù là cháu của ông Nghị sĩ, anh ta cũng đâu phải Thuyền trưởng, và Thuyền trưởng sẽ là người nói lời cuối cùng khép lại vụ này. Thế nên, người thợ đốt lò không hề tìm cách nhìn sang phía Karl, thật không may, trong căn phòng đầy kẻ thù này, ông ta chẳng còn ai khác để có thể nhìn.

“Đừng hiểu nhầm tình hình như thế,” ông Nghị sĩ nói với Karl, “có lẽ đây là một vấn đề công lý, nhưng cùng lúc cũng là vấn đề kỷ luật nữa. Cả hai, và nhất là kỷ luật, ở đây thuộc quyền hạn phân xử của ông Thuyền trưởng.”

“Chính là thế đấy,” người thợ đốt lò lẩm bẩm. Những ai nghe thấy và hiểu câu nói đó đều ngạc nhiên mỉm cười.

“Thêm nữa, chúng ta đã quấy quả ông Thuyền trưởng quá mức trong khi ông ấy phải lo việc của mình rồi, mà khi tàu cập bến New York thì nhiều việc lắm, cho nên đã đến lúc chúng ta rời tàu, ta hoàn toàn không được can thiệp để biến cuộc cãi cọ nhỏ tí xíu giữa hai thợ máy này trở thành một vụ việc lớn. Vả lại cậu hoàn toàn hiểu cách hành động của cháu, cháu thân yêu ạ, nhưng chính đó cũng là điều khiến cậu có quyền đưa cháu đi ngay lập tức đấy.”

“Tôi sẽ sai người thả xuồng xuống biển ngay đây,” ông Thuyền trưởng nói mà không hề, trước sự kinh ngạc to lớn của Karl, có chút phản đối nào trước những lời của ông cậu, những lời mà dẫu vậy chắc hẳn vẫn có thể coi là một cách thức tự hạ thấp bản thân. Ông Thủ quỹ vội vã lao tới chỗ bàn làm việc để gọi điện thoại truyền lệnh của ông Thuyền trưởng cho người phụ trách xuồng.

“Chắc là thời gian gấp rút lắm rồi,” Karl tự nhủ, “nhưng mình không thể làm gì mà không gây tổn thương cho tất cả mọi người. Dẫu sao thì mình cũng không thể bỏ rơi ông cậu vừa mới tìm thấy của mình. Ông Thuyền trưởng thì lịch sự, chắc rồi, nhưng chỉ vậy mà thôi. Khi vấn đề là kỷ luật thì ông ấy sẽ ngừng tỏ ra lịch sự ngay, chắc chắn cậu đã nói rất đúng ý nghĩ của ông ta. Schubal thì mình không muốn nói chuyện, thậm chí mình còn giận vì đã chìa tay cho ông ta. Còn những người khác thì chẳng quan trọng gì.”

Và mải mê suy nghĩ, anh đi đến chỗ người thợ đốt lò, rút bàn tay phải mà ông ta đang nhét vào thắt lưng, rồi giữ lấy nó, nắn nắn trong bàn tay mình.

“Tại sao ông không nói gì thế?” anh hỏi. “Tại sao lúc nào ông cũng để mặc mọi sự thế?”

Người thợ đốt lò chỉ nhăn trán lại, như muốn tìm từ để nói, rồi hạ mắt nhìn xuống bàn tay của mình cùng bàn tay của Karl.

“Ông bị đối xử tệ hại hơn tất thảy mọi người khác trên tàu, tôi hoàn toàn biết thế.” Rồi Karl để những ngón tay mình chạy đi chạy lại trên những ngón tay của người thợ đốt lò, ông ta nhìn ra xung quanh, cặp mắt long lanh, như thể một ân sủng đã đến với ông ta mà chẳng một ai có thể cướp đi được.

“Ông phải tự vệ, phải nói có hoặc không, bằng không người khác sẽ chẳng thể nào biết được sự thật. Ông phải thề với tôi là ông sẽ nghe lời tôi, bởi vì tôi không sợ hãi vu vơ đâu, tôi sẽ không thể nào giúp gì được cho ông.” Và Karl òa khóc, hôn tay người thợ đốt lò; anh nhấc bàn tay sần sùi, gần như trơ lì ấy lên, áp nó lên hai má mình như một thứ châu báu giờ đây anh phải từ bỏ. Nhưng ông cậu Nghị sĩ đã đứng bên cạnh anh và, mặc dù chỉ thúc ép anh một cách hết sức dịu dàng, kéo anh rời khỏi đó. “Hình như anh thợ lò kia đã bỏ bùa cháu rồi,” ông nói, đồng thời hướng sang ông Thuyền trưởng một ánh mắt đầy ẩn ý phía trên đầu Karl. “Cháu đã cảm thấy bị bỏ rơi, cháu đã gặp anh ta, và rồi cháu cảm thấy biết ơn anh ta, tất cả những chuyện ấy đều tốt cho cháu thôi. Nhưng đừng đẩy chuyện đi quá xa, dẫu làm thế chỉ là vì cậu, và học cách giữ vững vị trí của mình đi.”

Ngoài cửa, có tiếng ồn ào vang lên, người ta nghe thấy những tiếng hét, thậm chí dường như còn có ai đó bị đẩy thật mạnh vào cánh cửa. Một thủy thủ bước vào trong bộ trang phục có chút xộc xệch, với một chiếc tạp dề phụ nữ ở thắt lưng. “Đằng sau cửa có nhiều người,” anh ta kêu lên, hai cùi chỏ huých huých như thể vẫn còn đang ở giữa đám người hỗn độn kia. Rốt cuộc anh ta cũng lại hồn và bước tới chào ông Thuyền trưởng, đúng lúc ấy anh ta nhận ra cái tạp dề phụ nữ; anh ta giật nó ra, ném nó xuống đất và kêu lên: “Thật là gớm quá; bọn họ đã buộc một cái tạp dề phụ nữ vào người tôi.” Rồi anh ta rập gót chào. Ai đó cố mỉm cười, nhưng ông Thuyền trưởng nghiêm khắc nói: “Đấy là cái mà tôi gọi là tâm trạng hưng phấn đấy hả? Ai đang đợi ở kia?”

“Đó là các nhân chứng của tôi,” Schubal đáp, bước tiến lên, “tôi xin được phép cầu xin ngài thứ lỗi cho lối cư xử lầm lạc của họ. Khi chuyến đi kết thúc mọi người đều như thể phát điên.”

“Bảo họ vào đây ngay lập tức,” ông Thuyền trưởng ra lệnh. Và, quay sang ông Nghị sĩ, ông ta nói thêm đầy lịch thiệp nhưng rất liến thoắng: “Thưa ngài Nghị sĩ, ông có vui lòng đi theo người thủy thủ này không, anh ta sẽ dẫn ông và cháu ông ra chỗ cái xuồng? Tôi không cần phải nói với ông là tôi vui sướng và vinh hạnh đến thế nào khi được quen biết trực tiếp với ông. Thưa ông Nghị sĩ, tôi rất mong muốn ta sẽ sớm tìm được dịp để tiếp tục câu chuyện còn dang dở giữa chúng ta về hải quân Mỹ và để xem nó - ai mà biết? - lại bị cắt ngang một lần nữa theo một cách thức cũng dễ chịu như vậy.”

“Tạm thời đứa cháu duy nhất này là đủ với tôi rồi,” ông cậu nói, cười phá lên. “Còn bây giờ, tôi xin chân thành cảm ơn ông vì đã hết sức dễ mến; tạm biệt. Vả lại hẳn sẽ không phải là không thể có chuyện chúng tôi - ông trìu mến siết chặt Karl vào người mình - chúng tôi sẽ được ở cùng ông một thời gian trong chuyến sang châu Âu sắp tới của chúng tôi.”

“Tôi sẽ rất lấy làm vui mừng,” ông Thuyền trưởng nói. Hai ông bắt tay nhau, nhưng Karl không kịp nói gì khi chìa tay ra bắt, vì ông Thuyền trưởng đã bị bận rộn với chừng mười lăm người lúc ấy đang tiến vào theo một cách thức hơi nặng nề nhưng ầm ĩ kinh khủng. Viên thủy thủ xin phép ông Nghị sĩ được đi trước dẫn đường, rẽ lối cho ông và cháu ông, một lối đi rất dễ chịu, giữa hai hàng người đang cúi rạp trước họ. Có vẻ như là những người này, thật ra là những người rất ngoan ngoãn, coi xích mích giữa Schubal và người thợ đốt lò là một sự đùa cợt quá mức lố bịch, chẳng hề xứng được phân xử bởi ông Thuyền trưởng. Trong số họ, Karl nhận ra Line, cô gái ở bếp, cô ta vui vẻ ra hiệu với anh trong lúc buộc lại lên người cái tạp dề bị tay thủy thủ ném xuống đất, bởi vì đó là tạp dề của cô ta.

Đi theo người dẫn đường, Karl và ông cậu rời khỏi văn phòng và bước vào một cầu thang hẹp; nó dẫn họ đến một cánh cửa nhỏ đưa tới chân một cầu thang, đi hết cầu thang này họ bước xuống trước cái xuồng đã được chuẩn bị sẵn. Các thủy thủ trên xuồng, mà người dẫn đường nhảy ngay xuống, đứng dậy chào họ. Đúng lúc ông Nghị sĩ đang bảo Karl phải cẩn thận bước xuống thì chàng trai, vẫn đứng ở bậc cầu thang cao nhất, òa lên khóc nức nở. Ông Nghị sĩ bèn đưa bàn tay phải đặt dưới cằm Karl, ôm chặt lấy đứa cháu và dùng tay trái vuốt ve anh. Cứ như thế họ bước xuống từng bậc thang và không rời nhau họ xuống cái xuồng, ở đó ông Nghị sĩ tìm lấy một chỗ tốt cho chàng trai, ngay đối diện với ông. Rồi, theo một hiệu lệnh của ông, các thủy thủ khởi hành và bắt đầu chèo thật lực. Nhưng họ vừa mới rời đi được vài mét thì đột nhiên Karl phát hiện anh đang ở đúng bên mạn tàu mà các cửa sổ văn phòng nhìn ra. Cả ba cửa sổ đều đông đặc những nhân chứng của Schubal, họ chào và làm những dấu hiệu thân thiện nhất trên đời; bản thân ông cậu cũng cảm ơn những người kia, và một thủy thủ làm thủ tục không thể bỏ qua là dùng bàn tay gửi tới họ một nụ hôn, mà vẫn không ngừng tay chèo. Thực sự là như thể không còn có người thợ đốt lò nữa. Karl quan sát ông cậu chăm chú hơn, hai đầu gối ông chạm vào đầu gối anh, và anh tự hỏi không biết có bao giờ người đàn ông này thay thế được người thợ đốt lò của anh không. Ông cậu tìm mọi cách tránh ánh mắt của anh, nhìn dõi xuống những đợt sóng.


Một vụ án khác nữa
Kafka: Amerika

Phần nhận xét hiển thị trên trang

(tài liệu tham khảo)


Chương XXI

Việt Nam Chia Hai
Chủ ý tôi là viết về gía đình và đời viết văn của tôi, nhưng không thề bỏ qua thời đại được, cho nên phải xen vài chương ngắn về chiến tranh độc lập và tình hình xã hội. Trong chương này và chương sau tôi sẽ ghi vài nét chính về chiến tranh thứ nhì của dân tộc mình, tức chiến tranh Việt-Mĩ. Về chiến tranh Việt-Pháp tôi có được tạm đủ tài liệu (đã kê ở cuối chương XIX), về chiến tranh Việt-Mĩ, trái lại tôi chỉ có ba cuốn:

Les deux Viêt nam của Bernard Fall (Payot - 1967)

Indochine - dix ans d'indépendance của G. Chaffard (Calman Lévy - 1964)

La seconde resistance - Viêt nam 1965 của W. Burchett (Gallimard - 1965)

Cuốn sau cùng chỉ là một tập phỏng vấn chiến sĩ trong bưng, dùng được rất ít. Cả ba cuốn đều chép đến 1965, giai đoạn 1965-1975 quan trọng nhất, tôi chưa thấy tác giả nào viết, ngay ở Pháp năm 1979 cũng chưa có.
A- Miền Nam


Gia đình Ngô Đình Diệm
Từ 1950, sau khi Mao Trạch Đông nhìn nhận chính phủ Kháng chiến Việt nam và ra mặt giúp đỡ về quân sự, sau khi buộc Hồ Chí Minh phải tái lập đảng Cộng sản - đổi tên là đảng Lao động - thì Pháp cho rằng quân đội viễn chinh của họ có một nhiệm vụ mới: ngăn chặn làn sóng Cộng sản lan xuống Đông Nam Á để bảo vệ thế giới tự do. Mĩ cũng thay đổi đường lối, không còn cảm tình với Việt Minh như hồi 1945 mà tích cực giúp tiền bạc, khí giới cho Pháp (600 tỉ đồng quan cũ như chương trên tôi đã nói).

Sau hiệp ước Genève thì trên danh nghĩa, miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào vẫn ở trong liên hiệp Pháp, nhưng Mĩ tự lãnh nhiệm vụ thay Pháp để ngăn làn sóng Cộng sản ở Đông dương, cho nên viện trợ cho Pháp và Bảo Đại rất nhiều. Công việc chở bằng phi cơ, tàu biển 850.000 người di cư, trợ cấp, giúp đỡ họ định cư đều do đô la của Mĩ cả. Mà bao giờ cũng vậy, kẻ nào bỏ tiền ra thì kẻ ấy làm chủ. Ngay trước khi kí hiệp định Genève, Mĩ đã ép Pháp và Bảo Đại phải thay thế Bửu Lộc mà dùng Ngô Đình Diệm làm thủ tướng.

Ngô Đình Diệm là một quan lại cũ của triều đình Huế, làm tuần vũ Phan thiết, có tiếng là liêm khiết, cương quyết, dám chống với Pháp. Năm 1932, Bảo Đại về nước, có nhiều thiện chí, mời ông ta về Huế giữ chức thượng thư bộ Lại (cũng như tổng trưởng nội vụ ngày nay); sáu tháng sau ông ta từ chức vì thấy Pháp vẫn nắm hết quyền, triều đình Huế chỉ là bù nhìn. Năm 1945, sau khi Nhật đảo chánh, hình như ông ta tử chối không giúp Bảo Đại đứng ra lập nội các; rồi theo G. Chaffard, tháng 2-1946, Hồ Chí Minh có mời ông ta hợp tác để lập chính phủ thống nhất quốc gia, ông ta cũng từ chối. Ông có một người anh, Ngô Đình Khôi bị Việt Minh giết. Sau đó ông qua Hương cảng, Mĩ, Pháp, rồi lại qua Mĩ ở khá lâu, được một số chính khách Mĩ để ý, tin cậy (một phần vì họ Ngô theo công giáo). Rốt cuộc Mĩ ép Pháp và Bảo Đại phải dùng Diệm thay Bửu Lộc. Ông có một người anh nữa là Ngô Đình Thục, giám mục ở Vĩnh long, ba người em: Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Luyện đều có bằng cấp cao của Pháp (Nhu ở trường Chartre ra, Luyện ở trường Centrale ra), còn Ngô Đình Cẩn vô học, rất hách và dữ. Chính Diệm thì đã hách lại phong kiến, tin rằng được Chúa giao phó sứ mạng trị dân, diệt Cộng.

Nhưng ở Nam rất ít người nghe nói đến Ngô Đình Diệm, nên Ngô Đình Nhu và Trần Chánh Thành (một người có cử nhân luật theo kháng chiến ít năm rồi về thành) phải họp báo, quảng cáo mạnh cho ông ta, bảo ông là "một người mới", sẽ thành lập một “chính phủ thực sự quốc gia”, để thực hiện một cuộc “cách mạng thực sự". Mặc dầu vậy, ngày ông về Sài gòn với chức thủ tướng, dân chúng thờ ơ, chỉ có khoảng 500 “bạn” ông đón ông ở sân bay, và khi ông đọc lời hiệu triệu của quốc trưởng Bảo Đại, lời ra mắt của ông với quốc dân ở trước dinh Độc Lập thì chỉ độ một ngàn người tới nghe và đa số thất vọng: ông ta ngượng nghịu, lúng túng giọng đều đều như giọng học sinh đọc bài, mà bộ tịch thì là bộ tịch một đại thần nghiêm nghị.

Ông lập một nội các phần lớn gồm anh em, bà con, bạn bè của anh em ông: Trần Trung Dung, Nguyễn Hữu Châu, Trần Chánh Thành... Nhu, em ông, làm cố vấn, quyền rất lớn, lí thuyết gia của chế độ, Cẩn làm cố vấn ở Trung, gần như ông vua một miền. Tôi đã thấy ló cái mòi gia đình trị của họ Ngô, hỏi một ông bạn trong chính quuyền vào hàng bộ trưởng, ông ta đáp:

- Ông ấy mới về, không biết ai, nên phải dùng những người tin cậy, mà tin cậy thì ai bằng em, cháu trong nhà, vả lại em cháu ông ấy “đâu phải là hạng cùi”.

Bạn tôi muốn nói: bọn đó có bằng cấp cao, thông minh, tài giỏi, chứ kém gì ai. Chính ông ấy sau thành nạn nhân của chế độ gia đình trị của họ Ngô.

Diệm về được một hai tháng thì Bắc Việt phải lo việc tập kết 140.000 người ra Bắc trong hạn 100 ngày từ ngày kí hìệp ước Geneve; Nam phải lo vụ định cư cho trên 850.000 người Bắc vào. Hết một năm, chính phủ Diệm vẫn chưa gây được sự ủng hộ của nhân dân, tráí lại nhiều giới còn bất bình nữa. Giới trí thức cho ông là độc tài, quan liêu; giới công chức bảo ông thiên vị người Trung và người Bắc di cư; các giáo phái không ưa ông vì ông theo công giáo; còn dân chúng thì không biết ông vì ông là người Trung chưa có công lao gì với nước cả.

Dẹp giáo phái - Truất Bảo Đại

Sự chống đối mạnh nhất về phía giáo phái. Cao đài, Hòa hảo, cả Bình xuyên nữa, đều bất mãn. Lẽ thứ nhất: hết chiến tranh rồi, Pháp không trợ cấp hằng tháng cho họ nữa, mà trước kia họ có công chống Việt Minh. Họ lại mất lần quyền chúa tể trong vùng của họ, không còn được tự do “làm ăn", hoành hành, như vậy lấy gì để nuôi quân đội. Họ xin cho quân đội của họ được sát nhập vào quân đội quốc gia, còn chính họ thì phải được một ghế gì trong chính phủ. Diệm đưa ra những điều kiện họ không thể nhận được: bắt họ phải bỏ hết quyền lợi lãnh chúa của họ đi (chẳng hạn Bảy Viễn - Bình xuyên - không thu thuế cờ bạc ớ khu Sài gòn - Chợ lớn nữa, không nắm công an Sài gòn - Chợ lớn nữa...), còn quân đội của họ thì phải xé lẻ, mỗi nhóm sát nhập vào quân đội quốc gia ở một miền.

Họ bất bình, liên kết với nhau, đòi lật đổ Diệm, phái người qua Cannes yêu cầu Bảo Đại cử người thay Diệm. Bảo Đại lúc đó tuy làm quốc trưởng mà không về nước là do sự thỏa tbuận ngầm giửa Mĩ và Pháp chăng? Ông ta chịu làm bù nhìn để lãnh một số tiền viện trợ vì biết vai trò của mình chấm dứt rồi chăng?

Chính tướng Nguyễn văn Hinh, quốc tịch Pháp, con Nguyễn văn Tâm, làm tổng tư lệnh quân đội quốc gia cũng ghét Diệm, đứng về phe giáo phái, và có lúc thế của Diệm lung lay, ngay người thân tín của ông ta - như giám mục Ngô Đình Thục - cũng khuyên ông từ chức. Nhưng ông tin ở sứ mạng Chúa trao cho mình, cương quyết chống các giáo phái, chống cả Bảo Đại lẫn Pháp. Nhờ Mĩ tung Mĩ kim ra, ông ta mua chuộc, chia rẽ các tướng Cao đài, lôi kéo được Trịnh Minh Thế về với mình, cách chức tướng Hinh, rồi dẹp được Bình xuyên (5-1955), Bảy Viễn phải bay qua Pháp; đánh tan phe Cao đài chống đối, Phạm Công Tắc phải trốn qua Miên (1956). Trong giáo phái Hòa hảo, Trần văn Soái (Năm Lửa), Lê Thành Nguyên, Nguyễn Giác Ngộ thấy thế yếu, phải đầu hàng, chỉ còn Lê Quang Vinh (Ba Cụt) ngang ngạnh, nổi tiếng tráo trở, sớm đầu tối đánh, nên Diệm phải dùng mưu, mời Ba Cụt tới một nơi ở Long xuyên để điều đình, rồi phục kích, bắt sống được Ba Cụt, xử tử.

Thế là trật tự lập lại, Nam việt được thống nhất. Tướng Lê văn Tị thay Nguyễn văn Hinh. Dương văn Minh được lên chức, trọng dụng. Trịnh Minh Thế tử trận, Diệm tiếc lắm. Hồ Hữu Tường, quân sư của Bảy Viễn bị đày ra Côn đảo.

Bảo Đại, Pháp đều không cứu được các giáo phái vì Mĩ chi tiền, bảo sao mà họ chẳng phải nghe? Rồi sẽ tới lúc chính họ cũng bị Mĩ gạt ra ngoài nữa.

Việc dẹp giáo phái đáng kể là một thành công của Ngô Đình Diệm.

*

Dẹp xong các giáo phái, chặt hết tay chân của Bảo Đại rồi, Diệm hạ luôn Bảo Đại. Bảo Đại biết vậy và cũng biết thế mình yếu, chỉ phản kháng một cách yếu ớt: tới phút chót, ngày 18-10-55, tuyên bố chấm dứt sứ mệnh của Diệm thì hai ngày sau có cuộc trưng cầu dân ý của Diệm: dân muốn truất phế Bảo Đại mà nhìn nhận Ngô Đình Diệm hay ngược lại? Ngày 23-10 Diệm thắng vớì 98% số phiếu, (Mĩ khuyên ông ta độ 60% cũng được rồí, ông ta không nghe) và tuyên bố thành lập chính phủ Cộng hòa.

Vậy là Mĩ đã thắng Pháp, người của Mĩ đã nắm hết quyền ở Nam. Ngày 20-7-56, hết hạn đóng quân ở miền Nam, Pháp rút 30.000 quân viễn chinh để đưa qua Algérie dẹp nghĩa quân Algérie; lúc đó Mĩ mới hoàn toàn mãn nguyện, ồ ạt đưa cố vấn quân sự qua giúp Diệm.


Chính sách nhà Ngô

Đối với miền Bắc, chính sách của Ngô Đình Diệm là

• từ chối cuộc bàu cử 1956 để thống nhất hai miền, lấy lẽ rằng ngoại trưởng miền Nam là Trần văn Đỗ không kí vào hiệp ước Geneve, nên chính phủ miền Nam không phải thi hành hiệp ước dó. Mĩ ủng hộ Diệm, cho rằng “ở Bắc chưa có những điều kiện thuận tiện cho một bầu cử tự do ở toàn cõi Việt nam”. Sự thực thì Mĩ không kí vào hiệp ước Geneve là đã có ý đó từ 1954 rồi.

• diệt tất cả những cán bộ Việt Minh nằm vùng ở miền Nam, dò xét, đàn áp những người trước có cảm tình với Việt Minh, tuy không thco kháng chiến, nhưng cũng không bợp tác với Pháp.

Công việc này, người của Diệm làm mạnh tay quá. Ở các thành phố còn khá: như trên tôi đã nói, tôi chỉ bị mật vụ dò xét, không được phép mở lớp mẫu giáo, chứ không bị tra hỏi gì hết; một anh bạn tôi ở Long xuyên mặc dầu đã dạy ở trường Trung học Thoại Ngọc Hầu lại có hồi làm quyền hiệu trưởng trường đó nữa, mà xin thôi để mở một lớp luyện thi Trung học đệ nhất cấp tại nhà, người ta cũng không cho. Ở thôn quê, tại những miền Kháng chiến như Cà mau, Đồng Tháp, không khí nghẹt thở hơn nhiều, nhiều người không thể ở được, phải bỏ nhà cửa ruộng nương ra tỉnh, ra quận sống. Nhất là ờ các tỉnh Quảng nam, Quảng ngãi, nơi mà thời chiến tranh Việt-Pháp hoàn toàn là khu giải phóng, bây giờ thuộc quyền của Ngô Đình Cẩn thì dân chúng bị đàn áp tàn khốc: người ta bắt dân phải làm xâu có nơi tám tháng một năm, người ta tịch thu tài sản những gia đình có người tập kết, người ta bắt vợ những người tập kết phải li dị chồng. Có chỗ nhà nào có người tập kết thì tối phải thắp một ngọn đèn đỏ ở trước cửa, y như các nhà thổ (nhà chứa gái mãi dâm) thời Pháp thuộc trước thế chiến. Đâu đâu cũng có phong trào tố cộng, buộc người dân phải tố cáo những người đã hoạt động cho kháng chiến. Đại đa số những người này theo kháng chiến vì tinh thần quốc gia, muốn đuổi Pháp ra khỏi nước, chứ không vì theo chủ nghĩa cộng sản; ngay các kí giả ngoại quốc cũng nhận như vậy, mà chính quyền họ Ngô thì cho rằng cứ chống Pháp là theo cộng. Do đó từ trí thức tới nông dân, ai cũng bất bình; chính phủ Diệm bất chấp Ủy ban kiểm soát Quốc tế gồm Ấn độ, Gia nã đại, Ba lan) và ủy ban không làm được gì cả.

Năm 1958 là năm thịnh nhất của nhà Ngô: bốn phần năm miền Nam đã được bình định, kinh tế cũng hơi thịnh lên nhờ viện trợ của Mĩ; nhưng đáng lẽ thành công rồi phải cởi mở lần lần cho dân dễ thở thì họ lại càng độc tài, càng có tinh thần gia đình trị, ưu đãi công giáo, đè nén Phật giáo: nhiều nơi Phật giáo không được cất thêm chùa, mà linh mục có quyền hơn tỉnh truởng.

Báo chí, sách bị kiểm duyệt gắt, lại thêm việc phát hành do một cơ quan của chính phủ (nhà Thống nhất) giữ độc quyền; mặc dầu vậy, ngôn luận vẫn còn tự do hơn Bắc nhiều.

Ngô Đình Nhu lập đảng Dân chủ và đảng Cần lao, công chức cao cấp nào cũng phải vô một trong hai đảng ấy; rồi lại lập thêm đảng Thanh niên Cộng hòa, đồng phục màu xanh dương. Vợ Nhu, Trần Lệ Xuân (con Trần văn Chương đại sứ ở Mĩ) lập hội Phụ nữ liên đới, "bà lớn" nào cũng phải vô; lại nắm đầu Quốc hội, hống hách sỉ vả bất kì ai dám trái ý mụ. Cẩn làm Chúa miền Trung, bộ trưởng nào ở Sài gòn ra Huế cũng phải vào yết kiến hắn; còn Ngô Đình Thục ở Vĩnh long thì tạo ra thuyết Duy linh chống với thuyết Duy vật của Cộng sản, bắt công chức nào cũng phải học. Họ chẳng được học điều gì mới cả, chỉ phảỉ nghe mạt sát đạo Phật và đạo Khổng. (1)

Những ngườí theo học đại đa số thờ Phật, đau lòng mà không dám cãi. (2)

Diệm-Nhu theo chính sách "ba Đ": Đảng (Cần lao), Đạo (Công giáo) và Địa phương (miền Trung). Chỉ công chức nào có đủ ba Đ đó mới được tin dùng, cho nên số tín đồ Công gỉáo tăng vọt lên, nhất là ở miền Trung; có giáo đường làm lễ rửa tội hằng trăm người một lúc.

Kinh tế bị họ Ngô và tay chân lũng đoạn: hầu hết các xí nghiệp lớn, công ti lớn bị họ nắm: ở Trung thuộc về Cẩn và bà Cả Lễ, chị của Diệm; ở Nam thuộc về vợ Nhu. Vụ bà Cả Lễ năm 1956 không chịu bán 5.000 tấn gạo theo giá chính thức là 656đ một tấn cho dân miền Trung lúc đó đương đói, mà cho chở lén ra Bắc bán lấy 1.700đ một tạ, làm sôi nổi dư luận, rồi cũng êm.

Rồi những vụ chuyển ngân, những vụ hối lộ, cấp giấy phép xuất nhập cảng nữa.

Người dân ghét nhất là vợ chồng Nhu lên mặt đạo đức, ra lệnh cấm hút thuốc phiện (mà có ai không biết là Nhu nghiện?), cấm đánh bài, uống rượu, cấm có nhiều vợ, cấm khiêu vũ cả trong tư gia.

Lại thêm cuộc cải cách ruộng đất thí nghiệm năm 1956-1957 không làm vừa lòng cả điền chủ lẫn nông dân.

Trong chiến tranh chống Pháp, các điền chủ bỏ ra thành thị hết, Việt minh chia đất của họ cho nông dân. Bây giờ Diệm bắt nông dân phải trả lại cho chủ cũ, nông dân bất bình. Còn điền chủ, tuy lấy lại được đất, nhưng mỗi người tối đa chỉ được giữ 100 héc ta, và chỉ đuợc thu của tá điền 25% số lúa gặt được (trước kia họ được thu 40%) nên cũng bất bình. Do đó, chính sách tuy công bằng, tiến bộ, mà thường có xung đột giữa chủ điền và tá điền, chủ điền nhờ cảnh sát quận can thiệp, nông dân càng phẫn uất, và Việt minh lợi dụng tình thế đó.

Dân nổi dậy chống đối
Hai vụ 11-11-60 và 26-2-62


Kết quả là từ thành thị đến thôn quê, mười người thì có tới chín người ghét gia đình họ Ngô.

- Ở thôn quê, những cán bộ Việt minh nằm vùng không sống nổi trong làng xóm, phải trốn vào bưng, lôi cuốn theo một số thanh niên. Mới đầu là ở miền Cà mau, Đồng tháp, từng nhóm nhỏ một không liên lạc với nhau. Họ đào vũ khí đã chôn giấu lên, chống lại với cảnh sát và quân đội của Diệm. Họ liên kết với tàn quân của Hòa hảo, nhất là của Ba Cụt, còn sót lại. Một số thanh niên, trí thức ờ Sài gòn cũng theo họ. Lần lần các nơi khác ở Nam, ở Trung cũng có những tổ chức như vậy, đó là nguồn gốc của Mặt trận Giải phóng miền Nam.

- Ở thành thị thì giới trí thức và chính quân đội của Diệm nổi lên chống. Năm 1960, một nhóm 18 nhà trí thức (trong số đó có 10 cựu bộ trưởng của Diệm) kí một tuyên ngôn tố cáo chế độ gia đình trị, độc tài của họ Ngô.

Họ bị bắt giam một thời gian; sau đó có mấy trăm công chức, quân nhân bị thanh trừng (tháng 9-10-1960). Ngày 11-11-60 bọn nhảy dù Vương văn Đông và Nguyễn Chánh Thi, ba giờ sáng đem quân chiếm các điểm quân sự ở Sài gòn, bao vây dinh Độc lập. Cảnh sát theo họ, sinh viên biểu tình ủng hộ họ. Đông muốn tấn công, Thi muốn điều đình với Diệm, chỉ buộc Diệm đưa vợ chồng Nhu đi xa, rồi sửa đổi chính sách. Một số cơ quan đã hạ hình Tổng thống Diệm. Diệm dùng kế hoãn binh, hứa láo, đợi quân của đại tá Khiêm ở Mĩ tho lên cứu. Rốt cuộc Khiêm giải vây được cho Diệm; Thi và Đông phải lên phi cơ trốn ra nước ngoài. Sau đó là một vụ thanh trừng lớn lao trong các công sở và trong quân đội.

Ngày 26-2-62, một cuộc nổi dậy nữa cũng thất bại. Sáng sớm, hai phi cơ dội bom dinh Độc lập. Vợ Nhu bị thương nhẹ. Diệm kịp xuống hầm núp. Dinh bị sập một nửa. Một phi cơ bị súng cao xạ ở dinh hạ, chiếc kia bay thoát được qua Cao miên. Diệm phải dọn qua dinh Gia long. Người Mĩ được báo tin trước vụ đó, không giúp mà cũng không cản. Họ mong rằng vợ chồng Nhu bị giết, nhưng vẫn muốn Diệm sống, và hình như kịp báo cho Diệm để Diệm xuống hầm núp.

Ấp Chiến lược - Trận Ấp Bắc

Năm 1962, Mĩ và Diệm thực hiện chương trình ấp Chiến lược, họ tính lập trên 11.000 ấp để gom 80% dân chúng vào trong những khu họ chỉ định, chung quanh có hàng rào dây kẽm gai. Nông dân phải bỏ ruộng nương, dời nhà cửa vào những ấp đó để họ dễ kiểm soát mà không tiếp tế, che chở cho quân giải phóng được nữa. Mĩ đốt phá, rắc thuốc khai quang những làng, xóm mà nông dân đã phải rời bỏ. Vào ấp chiến lược rồi, nông dân được chia ruộng cho làm, nhưng tối phải về ấp. Họ được phát súng để tự vệ. Nhưng dân càng ghét Mĩ, Diệm và trong nhiều ấp, Việt cộng vẫn len lỏi vào được.

Tinh thần phản kháng của dân càng tăng thì tinh thần quân đội càng xuống, đầu năm 1963 thua Việt cộng một trận lớn ở Ấp Bắc (Mĩ tho). Ngày 2-1 Mĩ-Diệm thấy 2 trung đội Việt cộng xuất hiện thình lình ở Ấp Bắc, tức tốc đem một lực lượng hùng hậu mạnh gấp 5-6 lần gồm 3 đại đội, sáu trung đội, với súng đại bác, nhiều xe tăng lội nước, nhiều trực thăng với lính nhảy dù, phi cơ phóng pháo... để tấn công, mà kết quả là thiệt hại 400 người, còn Việt cộng vừa chết vừa bị thương chỉ độ 30 người.

Washington uất ức về trận đó lắm, thấy rõ tinh thần kém cỏi của quân đội Diệm, bắt đầu chán Diệm, muốn thay đổi Diệm.

Phật nạn - Đảo chánh 1-11-63

Tháng 5 năm đó xảy ra vụ đàn áp Phật giáo. Hai ngày trước ngày Phật đản, Ngô Đình Cẩn ra lệnh cấm treo cờ Phật giáo ở Huế, lại cấm đài phát thanh thông tin về lễ Phật đản. Dân chúng Huế bất bình, biểu tình trước đài phát thanh Huế. Chính quyền đem xe thiết giáp và lính lại giải tán. Có vài tiếng súng, tiếng lựu đạn nổ. Có 8-9 người chết, khoảng 20 người bị thương.

Phật giáo miền Trung và miền Nam đòi chính phủ phải cấm ngay những sự kì thị, ngược đãi Phật giáo, bảo đảm cho Phật giáo được hưởng những giáo qui như Ki Tô giáo, phải bồi thường cho gia đình nạn nhân, trừng trị những kẻ chịu trách nhiệm.

Diệm do dự không chịu giải quyết. Chín giờ sáng ngày 11-6 thượng tọa Thích Quảng Đức 84 tuổi, tự thiêu ở góc đường Phan Đình Phùng và Lê văn Duyệt (Sài gòn) giữa một đám 800 nhà sư và tín đồ, làm xúc động cả thế giới. Người Việt nào cũng nguyền rủa anh em nhà Ngô. Sau vụ đó còn cả chục vụ tự thiêu nữa của các thượng tọa, đại đức ở nhiều nơi, từ Nam ra Trung.

Diệm chịu nhượng bộ một chút, hứa tôn trọng tự do tín ngưỡng, thả các tu sĩ bị giam, nhưng vẫn bảo ở Huế do Việt cộng gây ra chứ không phải nhân viên, quân đội của chính quyền. Vụ đó có nhiều bí mật, sự thực ra sao, không thể biết được.

Sáng sớm ngày 21-8 Nhu phái quân lính tới chùa Xá lợi, Sài gòn, bắt các thượng tọa. Thượng tọa Trí Quang trốn kịp vào tòa Đại sứ Mĩ. Ở Huế chùa Từ đàm bị phá. Nhiều giáo sư Đại học Huế, vài người ở chung quanh Diệm từ chức.

Cuối tháng 9, không khí Sài gòn gần như không khí ở Paris trong hồi Terreur (khủng bố) năm 1793-94. Mười gia đình thì chín gia đình theo Phật giáo mà Phật tử nào cũng có thể bị bắt giam nếu có kẻ tố cáo bậy bạ. Nửa đêm mà có xe cam nhông bít bùng tới đậu trước cửa nhà thì cả nhà run lên: hung thần đã tới. Nhà văn kiêm giáo sư Hư Chu bị bắt, vợ con không được thăm. Ông Paulus Hiếu lúc đó đã đổi tên là Ngô Trọng Hiếu làm bộ trưởng Công dân vụ, đuợc Diệm Nhu rất tin dùng, là bạn của Hư Chu khi ông ta từ Long xuyên mới lên Sài gòn, làm tổng giám đốc Ngân khố. Tôi viết thư cho ông ta nhờ ông xét xem Hư Chu có bị oan hay không. Ông ta không trả lời.

Tổng thống Kennedy không thể dùng Diệm được nữa, phái đại sứ Cabot Lodge qua thay Nolting và 13 giờ ngày 1-11-63, quân đội do Dương văn Minh, Trần văn Đôn, Tôn thất Đính cầm đầu, bao vây dinh Độc lập. Sáng hôm sau, quân lính xông vào thì Diệm và Nhu đã do một đường hầm trốn thoát, nhưng rồi quân lính tìm được họ trong một giáo đường ở Chợ lớn, bắt họ nhốt vào xe thiết giáp, đưa về Tổng hành dinh. Giữa đường họ bị giết.

Lúc đó Ngô Đình Thục ở Rome, vợ và con gái Nhu ở Mĩ. Cẩn ở Huế bị bắt đưa vào Sài gòn, sau bỉ xử tử. Nhà Ngô chấm dứt sau chín năm cầm quyền. Toàn dân thở phào ăn mừng.

Tướng Duơng văn Minh lên làm quốc trưởng, Nguyễn Ngọc Thơ, phó tổng thống thời Diệm, làm thủ tướng. Bọn thân tín của Ngô bị nhốt khám hết, gia sản bị tịch thu. Tượng hai bà Trưng ở đầu đuờng Hai Bà Trưng, phía sông Sài gòn, bị đập phá.

Thời Pháp thuộc, chỗ đó do tượng Rigault de Genouilly, một trung tướng hải quân Pháp đã đánh phá cửa Đà nẵng, dân chúng gọi là tượng Một hình. Sau cách mạng 1945, tượng đó bị hạ. Gần cuối đời, Ngô Đình Diệm cho dựng tượng Hai Bà Trưng thay vào, kẻ điêu khắc, nghe đâu được giải thưởng điêu khắc La mã (Prix de Rome) muốn nịnh vợ chồng Nhu, cho tượng có những nét của vợ và con gái Nhu, dân chúng thấy vậy, ghét lắm, gọi tượng đó là tượng Hai hình.

Thi sĩ Đông Hồ rất ít khi làm thơ thời sự, vậy mà sau khi tượng Hai hình bị đập phá, làm hai bài thơ Đường luật đăng báo Bút Hoa số 3 năm 1964,

Bài thứ nhất:

Tượng ai đâu phải tượng Bà Trưng
Tóc uốn lưng eo kiểu lố lăng
Đón gió lại qua người ưỡn ẹo
Chờ chim Nam Bắc dáng tung tăng
Khuynh thành mặt đó y con ả
Điêu khắc tay ai khéo cái thằng!
Chót vót đứng cao càng ngã nặng
Có ngày gẫy cổ đứt ngang lưng.


Bài thứ nhì:

Đây Một hình xưa nhục nước non,
Thay Hai hình mới đứng thon von.
Mình ni-lông xát lưng eo thắt,
Ngực xú-chiên nâng ngực nở tròn.
Tường đúc hiên ngang em với chị,
Hóa ra dìu dắt mẹ cùng con.
Dòng sông Bến Ngé dòng sông Hát,
Lưu xú lưu phương tiếng để còn.


Lòng thi sĩ oán mụ Nhu thâm thật. Hai bài đó là những bài Đuờng luật hay nhất về vụ đảo chánh 1-11-63. Xét chung thì bài dưới hay hơn bài trên, nhưng bài trên có hai câu tôi rất thú:

Khuynh thành mặt đó y con ả
Điêu khắc tay ai khéo cái thằng!


Bảo Đại bù nhìn của Pháp thì bị dân chúng khinh; tay sai của Mĩ, Ngô Đình Diệm thì bị toàn dân ghét; những “người hùng” (tướng) do Mĩ đưa lên sau này vừa bị khinh vừa bị ghét. Sự thất bại của Tây phương ai cũng thấy rõ.

B- Miền Bắc

Pháp mất hết quyền lợi

Chiều ngày 10-10-54 ở Hà nội không còn một lính Pháp, một ngọn cờ Pháp. Đạo quân viễn chinh của họ đã rút hết qua cầu Long biên để xuống Hải phòng.

Ngay từ khi kí hiệp ước Genève, Phạm văn Đồng, ngoại trưởng của chính phủ Cộng hòa nhân dân Việt nam đã gởi cho thủ tướng Pháp Pierre Mendès France một bức thư xác nhận những liên quan kinh tế và văn hóa giữa hai quốc gia: các xí nghiệp kĩ nghệ, thương mãi của Pháp vẫn tiếp tục hoạt động, không bị ngăn cản chút gì, tài sản của Pháp được tôn trọng, trường học của Pháp vẫn được mở cửa, các cơ quan văn hóa vẫn hoạt động.

Pháp phái Sainteny, người rất được cảm tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trở qua Hà nội, để nối lại tình giao hảo với Bắc việt, cứu vãn những quyền lợi kinh tế và văn hóa ở Bắc, như các hoạt động ở mỏ Hồng Gai, nhà máy xi măng Hải phòng, nhà máy dệt Nam định, xưởng lắp xe hơi Renault...; viện Pasteur, viện ung thư, trường Viễn Đông bác cổ, trường trung học Albert Sarraut...

Sainteny được Hồ Chủ tịch tiếp đón niềm nở. Nhưng lần lần tình Việt-Pháp mỗi ngày một nhạt, vì ba nguyên do:

• Chính phủ Mĩ cho rằng Pháp đi nước đôi, chỉ lo bảo vệ ít quyền lợi của họ mà lơ là với việc chống cộng của phương Tây. Anh cũng đứng về phía Mĩ.

• Các nhà kinh doanh Pháp ở Bắc rất nghi ngờ cộng sản, sợ cộng sản quốc hữu hóa các xí nghiệp, đuổi họ về, nên đòi hỏi nhiều bảo đảm làm cho cộng sản bực mình. Rốt cuộc, công ti lớn nhất của Pháp là công ti than Bắc việt phải bán hết xưởng, bàn giấy, máy móc, đường rầy cho chính phủ Bắc việt.

• Chính phủ Pháp không chịu để cho Bắc việt có đại biểu ngoại giao ở Paris (như Sainteny ở Bắc), và cũng không can thiệp để buộc miền Nam phải tổng tuyển cử vào tháng 7-1956 như đã ghi trong hiệp ước Genève. Pháp không thể vừa lấy lòng Bắc vừa lấy lòng Nam được, mà càng không thể không nhờ Mĩ viện trợ trong những năm 1954-56.

Ngày 13-5-55, hết kì hạn 300 ngày, quân đội Pháp rút khỏi Hải phòng, ảnh hưởng, quyền lợi của Pháp ở Bắc gần như không còn gì.

Trong 5 năm sau (1956-60) Bắc nhờ Trung hoa và Nga viện trợ để kiến thiết. Trung hoa cho vay 120 tỉ quan (cũ) Pháp, Nga cho không 34 tỉ. Bắc thiếu rất nhiều kĩ thuật gia, phải đào tạo gấp quá, kết quả tất nhiên là kém. Lại thêm, quá theo Trung hoa, trọng hồng hơn chuyên, nghĩa là cho những người có công trong kháng chiến, trung thành với tư tưởng cách mạng (hồng) giữ những chức vụ chỉ huy, mặc dầu về kĩ thuật (chuyên) họ không biết chút gì, vì chưa bao giờ được học. (3)

Kinh tế suy - Đời sống khắc khổ

Mấy tháng đầu, mức sống không xuống thấp lắm nhờ có hàng hóa nhập cảng các công ti Pháp, các nhà buôn Trung hoa, Việt nam để lại. Từ giữa năm 1955, hết những dự trử đó rồi, lại thiếu ngoại tệ để nhập cảng những hàng để tiêu thụ - phảỉ lo mua máy móc trước hết - cho nên toàn dân phải sống khắc khổ.

Vì chính sách “hồng hơn chuyên", sự quản lí xí nghiệp rất kém: không làm kế toán đàng hoàng, cuối năm không tính lời lỗ, nhiều xí nghiệp không biết thu được bao nhiêu, tiêu mất bao nhiêu, mất mát bao nhiêu.

Khi thấy công việc không chạy, người ta không nghĩ cách cải thiện phương pháp làm việc, cứ tuyển thêm người, tuyển thật nhiều mà hầu hết không biết việc, rốt cuộc số tiền trả lương thợ tăng hơn sức sản xuất nhiều. Theo G. Chaffard (sách đã dẫn) thì nhà máy xi măng Hải phòng trong một năm, số thợ tăng 34%, số lương trung bình tăng 24%, như vậy là số tiền trả lương tăng gần 70%, mà sức sản xuất chỉ tăng có 3,5%.

Về canh nông cũng vậy. Hợp tác xã quốc gia (coopérative nationale) có nhiệm vụ tập trung sự sản xuất thực phầm, quản lí dở quá, cũng lỗ, hụt.

Phải mua dược phẩm, vải, xe đạp, nhất là xăng của nước ngoài, mà các nhà máy phốt-phát, trà… chưa sản xuất để bán ra ngoài được, rốt cuộc chỉ trông cậy vào than Hồng gai và xi măng Hải phòng mà hãng xi măng Hải phòng thì như chúng ta đã thấy, quản lí dở quá, còn than Hồng gai thì trong mười lăm năm đầu, bán được bao nhiêu phải trả nợ cho Pháp hết (coi hai trang trên).

Dân chúng bắt đầu thất vọng. Nhất là những ngườỉ Nam tập kết chỉ mơ tưởng tới lúc được về Nam, lúa gạo đầy đồng, cá tôm đầy rạch. Một người đại diện của họ dám nói với Phạm Ngọc Thạch lúc đó làm bộ trưởng Y tế “Chúng tôi tập kết ra đây không phải để làm cu li trong các doanh nghiệp của chính phủ." Nhiều người đòi trở về Nam khi thấy năm 1956 không có tổng tuyển cử để thống nhất quốc gia như chính phủ đã hứa.

Cải cách điền địa - Vụ Quỳnh lưu

Cũng trong năm 1956 chính phủ còn bị một sự phản kháng nghiêm trọng của dân chúng vì việc cải cách điền địa. Chính phủ muốn tiến mau đến xã hội chủ nghĩa mà không hiểu hoàn cảnh nước mình, tâm lí nông dân - hoặc hiểu nhưng bất chấp - cho nên áp dụng đúng đường lối và kĩ thuật của Mao Trạch Đông.

• Mới đầu gây cho nông dân căm thù địa chủ. Người ta phái cán bộ trẻ về làng cùng làm, cùng ăn, cùng ở (tam cùng) với những bần cố nông trong làng, gây lòng tin của họ rồi vạch cho họ thấy họ bị điền chủ bóc lột ra sao, phải căm thù, diệt bọn đó, chính quyền sẽ ủng hộ, đừng ngại.

• Bước thứ nhì là chia dân làng thành nhiều thành phần: đại điền chủ, phú nông, bán nông, người làm nghề tự do...

• Qua bước thứ ba, cho hạng bần cố nông đã được học tập như trên, tố cáo rồi xử tội những kẻ thuộc thành phần địa chủ, tư bản.

Trong chương VII tôi đã nói đa số những người giầu nhất ở thôn quê Bắc việt chỉ có năm sáu mẫu ruộng (khoảng 1 héc-ta rưỡi tới hai héc-ta), cả vợ chồng con cái lảm mới đủ sống, không thể coi như các điền chủ, các lãnh chúa ở Trung hoa, Nga, Mĩ châu được. Một số rất ít có vài chục mẫu ruộng, dăm bảy chục mẫu đồi, chỉ bằng hạng điền chủ trung bình trong Nam thôi.

Việt Minh sở dĩ thắng được Pháp là nhờ sự góp sức của toàn dân: không gia đình nào ở nông thôn không có con cháu, anh em đi bộ đội, làm dân công, không giúp lúa gạo cho bộ đội. Chính quyền biết như vậy, nên ban hành một đạo luật riêng bồi thường cho những điền chủ nào không bóc lột, không tàn bạo với dân, hoặc đã có công giúp kháng chiến, mà chỉ trừng trị bọn cho vay nặng lãi thôi.

Nhưng nếu thi hành đúng thì mỗi làng chưa chắc đã có một người bị truất hữu, làm sao có một tỉ số dân bị xử tội cao bằng hay hơn Trung cộng được? Cho nên nhiều cán bộ muốn lập công, xử với dân thật tàn nhẫn; lại thêm nhửng vụ oan vì thù cá nhân, vì hống hách, những bất công khi chia đất, khiến dân chúng bất bình, nổi loạn. Theo Bernard Fall (sách đã dẫn - trang 184) thì trong vụ cải cách điền địa đó có 50.000 người bị giết và100.000 người bị đưa vào các trại cải tạo.

Trường Chinh, một đảng viên thân Trung cộng, tổ chức vụ cải cách điền địa đó, bị dân chúng oán nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh phải cách chức ông ta, bắt ông ta tự kiểm thảo, nhưng rồi lại giao cho một chức vụ quan trọng khác. (4)

Chính phủ sửa sai: những người nào bị xử oan thì được trả lại tự do, phục hồi quyền công dân... Tự do tín ngưỡng được tôn trọng. Tài sản của các chùa, giáo đường được trả lại; bỏ cái lệ giam bắt người một cách độc đoán...

Sự sửa sai đó xảy ra khoảng đầu tháng 11, ảnh hưởng chưa kịp lan khắp nước thì từ 10 đến 20-11, hằng ngàn nông dân ở Quỳnh lưu, Nghệ an (quê hương Hồ Chủ tịch) nổi loạn lên chống sự kì thị công giáo và những sự bất công trong vụ cải cách điền địa. Quân đội tới dẹp, hơn một ngàn người chết hoặc bị thương, theo G. Chaffard. Nhưng theo B. Fall trong Les deux Việt nam (Payot 1967) thì có tin rằng gần 6.000 người bị đày đi xa hoặc bị giết.

Sau đó, Võ Nguyên Giáp, đại diện chính phủ, trong một buổi họp trước nhân dân Hà nội, tự thú tất cả những “lỗi lầm nặng” của chính quyền: cán bộ đã hành động một cách máy móc, coi tất cả các địa chủ là kẻ thù, cả nbững người đã theo kháng chiến... Lòng dân lúc đó mới dịu xuống.

Vụ Nhân văn - Giai phẩm

Nhưng ngay tháng sau (12-56) lại xảy ra vụ Nhân văn - Giai phẩm làm cho giới trí thức bất bình.

Cũng lại bắt chước Mao Trạch Đông nữa. Nguyên do là ở Nga, sau khi Staline chết năm 1953, Kroutchev trong đại hội 20 của đảng, cởi mở một chút cho văn nghệ sĩ - người ta gọi là thời “băng rã” (dégel) - và ra chỉ thị cho các nước đàn em làm theo. Mao nghe Kroutchev, tháng 5 năm 1956 đưa ra khẩu hiệu "Trăm hoa đua nở, trăm nhà lên tiếng" (5), cho các văn nghệ sĩ tự do hơn trong việc sáng tác, miễn là theo đường lối xã hội của đảng. Bọn văn nghệ sĩ mới đầu rụt rè phê bình, sau đả đảo mạnh tác phong “công thức”, sáng tác theo một chiều trong mấy năm trước, sau cùng họ được thể, chống lại đảng. Tới mức đó thì Mao đâm hoảng, lật ngược chính sách, thắt chặt lại hơn trước, tấn công bọn "xét lại" đó và thẳng tay trừng trị Đinh Linh, Phùng Tuyết Phong v.v...

Nhà cầm quyền Bắc việt lúc đó đương kẹt về vụ Quỳnh lưu. nên bảy tháng sau mới cho "trăm hoa đua nở". Một nhóm giáo sư và trí thức trong hai tạp chí Nhân văn và Giai phẩm mùa xuân liền viết bài tấn công tác phong công thức trong văn nghệ. Tờ Đất Mới của sinh viên hùa theo, chống đường lối chỉ huy trong đại học. Ngay tờ Nhân Dân nhật báo, cơ quan của Đảng, cũng đăng một loạt bài về nguyên tắc chuyên chính và vai trò của đảng chính trị trong một chế độ dân chủ nhân dân (démocratie populaire).

Một số lớn trí thức: học giả, văn sĩ, nghệ sĩ, cựu học, tân học, gặp cơ hội đó, cho phát ra tất cả những uất ức, dồn ép của họ, người thì khách quan, bình tĩnh phân tích những sai lầm như Đào Duy Anh, người thì đả phá với những lí luận sắc bén như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, người thì dùng giọng mỉa mai kín đáo mà cay độc như Phan Khôi; bừng bừng nhất là bọn thanh niên Trần Dần, Phùng Quán, Hoàng Cầm...

Đầu năm 1957, chính phủ thấy họ hăng quá, ra lệnh phá ngầm: Mậu dịch không bán giấy in cho những tờ báo chống đối (họ không sợ, mua chợ đen); khủng bố người phát hành báo (họ cho sinh viên đi bán); Bưu điện không phân phát báo, cán bộ đi từng nhà khủng bố người đọc... Những biện pháp đó đều vô hiệu, cuối cùng chính phủ phải đóng cửa tờ Nhân văn, ông Hồ Chí Minh kí một sắc lệnh tước quyền tự do ngôn luận của báo chí, phạt từ 5 năm đến khổ sai chung thân những kẻ phạm cấm. Những tờ báo Trăm hoa, Đất mới, Giaì phẩm đều tự đình bản.

Năm 1958, ba trăm lẻ bốn văn nghệ sĩ phải đi chỉnh huấn, tự kiểm thảo rồi "học tập lao động", trong số đó có thạc sĩ Trần Đức Thảo (bạn của Sartre, Camus, ở Pháp về phục vụ quốc gia năm 1951, người buộc tội ông là thạc sĩ sử học Phạm Huy Thông), Nguyễn Hữu Đang, Trương Tửu, nữ sỉ Thụy An. Phan Khôi vì đã bảy mươi ba tuổi, có công chống Pháp, bị tù hồi trẻ, theo kháng chiến từ đầu, một phần cũng nhờ con là Phan Thao, một cán bộ cao cấp, nên được yên, nhưng gần như bị giam lỏng, không được giao thiệp với ai.

Đào Duy Anh, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường (có một bài diễn văn vạch những sai lầm trong cải cách ruộng đất, rất hay, lọt ra ngoại quốc, dịch ra tiếng Pháp) đều mất chức giáo sư đại học. Gia đình Trương Tửu bị bao vây kinh tế, mãi sau này mới được làm nghề châm cứu. Đào Duy Anh, người ôn hòa nhất trong nhóm học giả viết bài “Muốn phát triển học thuật", chỉ đưa ra ý kiến này: “Tư tưởng không tự do thì không tự do thảo luận được. Mặc dầu không ai cấm tranh luận (...) nhưng trong thực tế thì sự thảo luận đã bị thủ tiêu từ gốc rồi. Nghiên cứu hay nghị luận một vấn đề gì, nhiều người chỉ nơm nớp sợ không khéo thì chệch ra ngoài đường lối tư tưởng chính thống độc tôn. Đối với nhừng người ấy, công tác học thuật trở thành những trò xiếc leo dây. Con đường học thuật phải là đường cái, thênh thang mọi người tự do đi lại, chứ không phải sợỉ dây căng của người làm xiếc. Phải từ bỏ những bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân để trả lại tự do cho học thuật".

Ông chỉ viết có vậy mà bị treo giò mười lăm năm: bản thảo Tự điển chuyện Kiều bị gìm trên mười năm, sau nhờ Phạm văn Đồng can thiệp, nó mới được in và phát hành năm 1975. Học trò cũ của ông không ai dám lại thăm ông. Ông buồn rầu viết một tập Hồi kí kể những hoạt động chính trị và văn hóa của mình tử hồi hai mươi lăm tuổi để tỏ nỗi lòng ân hận đã lỡ nhúng bút vào vụ Trăm hoa đua nở và để phân trần rằng trước sau ông vẫn trung thành. Tập đó không in, chỉ đưa cho bạn thân đọc. Nhưng từ khi Việt-Hoa xung đột nhau, Mao bị chỉ trích, ông đã thành con người khác.

Năm 1956 thực là năm có nhiều biến cố trong chủ nghĩa xã hội: ở Đông âu là vụ Poznan ở Ba lan, vụ Budapest ở Hung gia lợi; ở Đông Á là Trung hoa, Việt nam.

Kinh tế phát triển rất chậm

Mới chia đất cho dân nghèo năm 1956, dân làm chủ chưa đuợc hai năm thì năm 1958, Phạm văn Đồng đã đưa ra chính sách tập sản (collectivisation) để mau tiến lên xã hội chủ nghĩa, rồi cộng sản chủ nghĩa. Đâu đâu cũng thành lập Hợp tác xã nông nghiệp: mỗi gia đình chỉ đuợc giữ một khoảnh nhỏ để cất nhà, làm vườn. Còn bao nhiêu ruộng đều là của chung hết: cầy bừa, cấy gặt chung, hoa lợi chia theo số ngày làm lụng của mỗi người, sau khi nộp cho nhà nuớc một số, bán cho nhà nước một số khác với giá chính phủ ấn định (rất rẻ). Nông dân bắt buộc phải vô hợp tác xã nhưng không hăng hái làm cho hợp tác xã, chỉ lo săn sóc việc nuôi gà, nuôỉ heo, trồng rau ờ nhà. Cho nên mặc dầu phương pháp canh tác có cải thiện, công trình thủy lợi có phát triển, chỗ nào cũng làm được hai mùa, có nơi ba mùa, còn thêm miền thượng du được khai phá, số lúa và hoa màu có tăng hơn năm đầu chế độ (1955) kha khá đấy, nhưng mức sống của dân năm 1960 vẫn rất thấp, vì dân đã quá đông mà lại tăng lên mau: 3% mỗi năm. Đã vậy, dân còn phải bớt ăn để chính phủ xuất cảng gạo mà trả nợ hoặc thu ngoại tệ!

Về kĩ nghệ, thiếu vốn, thiếu viện trợ, Bắc việt chỉ xây được những lò đúc thép ở Thái nguyên, một xưởng đóng tàu ở Hải phòng, vài nhà máy trà, còn hầu hết là những nhà máy cũ: nhà máy điện, nhà máy diêm, nhà máy dệt, nhà máy xi măng, mỏ than... Sự quản lí kém quá, nên không sản xuất được nhiều.

Dân chỉ đuợc bảo đảm hai bửa ăn mỗi ngày thôi, mà không có thực phẩm dự trữ. Vì vậy nhà cầm quyền tính trao đổi thương mãi với miền Nam; miễn miền Nam tách ra khỏi Mĩ, là Nam Bắc có thể đoàn kết với nhau được, giúp đỡ lẫn nhau.

Bắc giúp Mặt trận Giải phóng miền Nam

Ở trên tôi đã nói cán bộ cộng sản và nông dân miền Nam không chịu nổi sự đàn áp của Diệm, bỏ vô bưng từ năm 1957, tự tổ chức lấy chiến khu. Hai năm đầu, họ không được Bắc việt giúp đỡ gì cả, mà lực lượng cũng mỗi ngày một tăng, thắng quân chính phủ Diệm được vài trận nhỏ. Năm 1960 họ mới thành lập Mặt trận Giải phóng Miền Nam do một ủy ban lâm thời lãnh đạo.

Cuối năm 1961, một luật sư ớ Sài gòn, Nguyễn Hữu Thọ được mặt trận đón ra bưng và bầu làm chủ tịch. Đầu năm sau, Mặt trận đưa ra chương trình hành động mà những điểm chính như sau:

• tôn trọng hiệp ước Geneve. Mĩ rút các cố vấn về, không gửi vủ khí qua miền Nam nữa,

• thực hiện hòa bình ngay ở miền Nam, không bắt bớ, tra hỏi, khủng bố, đàn áp dân nữa,

• thi hành tự do dân chủ,

• thả tất cả tù nhân chính trị,

• bỏ chính sách độc quyền kinh tế; nhận viện trợ kinh tế của bất kì nước nào, miễn nước viện trợ không đặt điều kiện chính trị,

• theo chính sách trung lập; lập một khu trung lập ờ Đông dương, gồm Nam việt, Cao miên và Lào, ba nước này được hoàn toàn độc lập.

Mỹ không chịu mà còn tăng viện trợ cho miền Nam về quân sự và kinh tế hơn nữa.

Bắc việt mới đầu không giúp đỡ gì cả ngoài một số nhỏ khí giới chuyển vô qua đường Lào. Hồ Chí Minh do dự: Nga muốn sống chung hòa bình với Mĩ, không khuyến khích Bắc đem quân vô Nam, vả lại, Bắc cũng muốn yên ổn dể kiến thiết trong một thời gian; nhưng Trung hoa thúc Bắc việt giúp Mặt trận Giải phóng vì ghét Mĩ, lại thêm các cán bộ tập kết cũng hăng hái đòi trở vô Nam giúp bạn chiến đấu của họ. Rốt cuộc Bắc phải lén đưa quân vô. Theo Bernard Fall (sách đã dẫn tr. 408) thì trước 1960, trong ba bốn năm chỉ đưa vô từ 1.800 đến 2.700 người, năm 1963 khoảng 4.000 người.

Cũng theo Bernard Fall (tr. 466) thì năm 1962 Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đều nhận rằng thống nhất ngay Việt Nam lúc đó không có lợi gì vì Nam đã tan rã (các giáo phái, phe công giáo di cư, cả trăm ngàn người mang vũ khí. các châu thành lớn quá..., những cái đó gây ra rất nhiều vấn đề khó khăn), như vậy chỉ tạo thêm một gánh nặng cho Bắc, thà cứ để Nam làm một nước trung lập thịnh vượng như Finlande hoặc Autriche, một "cái cửa sổ ngó ra thế giới bên ngoài" mà lại có lợi hơn.

Nếu quả thực như vậy thì trước sau Hồ Chí Minh không muốn chiến tranh, sẵn sàng muốn thương thuyết, nhưng Mĩ thay Pháp ở Đông dương đâu có chịu giải pháp đó mà Diệm lại càng không chịu. Khi Diệm bị giết, quân nhân lên cầm quyền, Mĩ ồ ạt đổ quân lên Nam việt thì chiến tranh qua giai đoạn khốc liệt.
Chú thích
[1] Một linh mục đăng báo bảo Trung Hoa sở dĩ thành Cộng sản vì theo đạo Nho vì Nho trọng dân mà khinh vua, xúi dân nghèo lật đổ chính quyền.

[2] Theo G. Chaffard trong Indochine, dix ans d’indépendance, thì bộ Thông tin của Trần Chánh Thành in một tài liệu cho biết kết quả từ 1954 đến 1960 như sau:
- có 893.291 buổi dậy thuyết Duy Linh, 18.759.111 người theo học, nhờ vậy mà bắt được 516 cán bộ cộng sản nguy hiểm, thu phục được 3.250 cán bộ khác.
- Công an, cảnh sát bắt được 25.700 cán bộ cộng sản, Bảo an đoàn bắt được 22.500 cán bộ khác.

[3] Năm 1980 Trung Hoa thấy chính sách đó sai, đổi khẩu hiệu là “Hồng thì nhất định phải chuyên”, dù là đảng viên mà không có khả năng kỹ thuật thì cũng không dùng. Nhưng họ thực hiện nổi chính sách mới đó không, lại là một chuyện.

[4] Năm 1981, ông được bầu làm chủ tịch nhà nước.

[5] Chữ Hán là “Bách hoa tề phóng, bách gia tranh minh”, một câu mà học giả đời Hán đặt ra để ca tụng cổ học thời Đông Chu.


Theo: Hungcs.files  


Phần nhận xét hiển thị trên trang

3o/4 Đọc thêm hồ sơ về tướng Dương Văn Minh:



Hình ảnh của Hồ sơ về tướng Dương Văn Minh
Phạm Văn Hùng
L.T.S: Hồn Việt số 11 (tháng 5/2008) đã đăng một số ý kiến về Tướng Dương Văn Minh. Đó là một số ý kiến bước đầu quan trọng, giúp ta tìm hiểu sâu hơn một sự kiện lịch sử, một con người. Kỳ này, Hồn Việt xin công bố bản tóm tắt của một công trình nghiên cứu công phu, nhiều tư liệu mới với độ tin cậy cao của ông Phạm Văn Hùng. Hi vọng rằng, với công trình nghiên cứu này, sự kiện về Tướng Dương Văn Minh sẽ được sáng tỏ thêm. Nó chứng minh thêm tầm vóc của ngày 30/4 lịch sử dưới sự lãnh đạo toàn diện, sâu sát, kiên trì… của Bộ Chỉ huy tối cao đứng đầu là Lê Duẩn và của những người trực tiếp tham gia ở chiến trường miền Nam, của Trung Ương Cục miền Nam. Nó cũng chứng tỏ sự phối hợp tuyệt đẹp giữa quân sự - chính trị - địch vận… trong cuộc chiến tranh giải phóng. Nó nói lên sự phong phú vô tận của cuộc sống, của cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc của lòng yêu nước Việt Nam…
Chúng tôi mong nhận được thêm nhiều ý kiến.
THÂN THẾ VÀ GIA ĐÌNH
- Ông Dương Văn Minh sinh năm 1916 ở tỉnh Mỹ Tho. Cha là ông Dương Văn Huề, khi đi học mướn lấy tên là Dương Văn Mau (tên của người bà con), làm thầy giáo, sau làm tri phủ, rồi đốc phủ sứ (hàm).
Ông Dương Văn Huề và bà Nguyễn Thị Kỹ có bảy người con: bốn trai, ba gái. Ông Minh là con cả. Dương Thanh Nhựt là con trai kế, có tham gia hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng tháng Tám (năm 1944) và suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, là đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam. Dương Thanh Sơn, em trai thứ năm, là sĩ quan chế độ cũ.
Gia đình ông Minh theo đạo Phật, lễ giáo, nề nếp.
- Năm 1940, Dương Văn Minh học trường đào tạo hạ sĩ quan và sĩ quan dự bị của Pháp. Năm 1942 vào quân đội Pháp.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Dương Văn Minh tham gia lực lượng vũ trang cách mạng chống Pháp xâm lược. Pháp trở lại, gia đình ông Minh tản cư về Chợ Đệm (Tân An). Lần đó, ông về thăm nhà, đơn vị rút đi, ông bị kẹt lại chưa tìm được đơn vị thì bị Tây bắt, buộc ông trở lại làm việc cho quân đội Pháp. Năm 1946, Dương Văn Minh là thiếu úy, đại đội phó quân đội Pháp. Lần lượt lên đến cấp tá, rồi qua Pháp học trường võ bị, là một trong những sĩ quan đầu tiên của quân đội “Việt Nam Cộng Hoà”.
Ông Minh cũng theo đạo Phật, nhân từ, thương người. Sợ sát sinh, sợ phải giết người. Thấy ai bị nạn thì ra tay cứu như can thiệp cho em trai bà Bùi Thị Mè (1) là thiếu tá chế độ cũ bị tình nghi hoạt động cho “Việt Cộng” được thả ra; giúp ông Nguyễn Minh Triết (Bảy Trung), cán bộ của ta và là em bạn dì ruột bị địch bắt giam ở nhà lao Phú Lợi, được ra tù…
- Ông Minh là người rất tự trọng. Sau ngày 30/4/1975, ông được về nhà (98 đường Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3) sống với tư cách một “công dân của một nước độc lập” (2). Đời sống khó khăn, ông lại bị bệnh tiểu đường, bị đau dạ dày. Có lúc lãnh đạo Thành phố (đồng chí Võ Văn Kiệt) nhờ bà Bùi Thị Mè gợi ý khéo là Đảng và chính quyền thành phố muốn hỗ trợ ông trong cuộc sống. Nhưng ông Minh từ chối với lý do: “Các anh các chị sống được thì tôi cũng sống được nếu chưa quen thì phải tập lại cho quen”.
Năm 1983, ông Minh được Chính phủ ta chấp thuận để ông sang Pháp trị bệnh và thăm con. Toà Tổng Lãnh sự Pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Bộ Ngoại giao Pháp giúp ông Minh vé máy bay và tiền gửi hành lý nhưng ông Minh từ chối, nói rằng “đã có Chính phủ Việt Nam lo rồi”.
Khi đi, ông Minh chỉ xin mang theo một ít đồ cổ trong nhà. Sang Pháp, ông không nhờ vả gì Chính phủ Pháp, không xin trợ cấp xã hội Pháp.

QUÁ TRÌNH BINH ĐỊCH VẬN ĐỐI VỚI TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH
Công tác binh địch vận đối với tướng Dương Văn Minh bắt đầu từ năm 1962, với nhiều lực lượng, nhiều ban ngành tham gia: Binh vận Trung Ương Cục, Tình báo, An ninh T4 (Sài Gòn - Gia Định), Trí vận…
1/ Ban binh vận Trung Ương Cục miền Nam
Năm 1960, theo yêu cầu của Ban binh vận Xứ ủy Nam bộ (sau này là Trung Ương Cục miền Nam), đồng chí Võ Văn Thời, Cục trưởng Cục địch vận Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam đề nghị và được cấp trên đồng ý điều động đồng chí Dương Thanh Nhựt (3) về Cục để giao nhiệm vụ về miền Nam vận động Dương Văn Minh. Đồng chí Nhựt được đặt bí danh là Mười Ty. Cuối tháng 12/1960, đồng chí Mười Ty lên đường.
Tháng 8/1962, đồng chí Mười Ty móc được với gia đình, trước hết là với ông Nguyễn Văn Di, cậu ruột; qua cậu, móc vợ là Sử Thị Hương, nhắn vợ về thăm mẹ và tìm hiểu thái độ của anh hai Dương Văn Minh. Sau đó Mười Ty thăm em trai là Dương Thanh Sơn, sĩ quan quân đội Sài Gòn và em thứ tám là Dương Thu Vân.
Thấy tình hình thuận lợi, đồng chí Mười Ty hướng dẫn cán bộ mật đem ý kiến của lãnh đạo trao đổi với Dương Văn Minh về việc đảo chính Chính phủ Ngô Đình Diệm. Trong lúc Tướng Minh đang bực tức Ngô Đình Diệm độc tài, gia đình trị, phủ nhận công lao của mình (tảo thanh Bình Xuyên và các giáo phái Hoà Hảo). Tướng Minh hứa sẽ tìm cách làm.
Ngày 01/11/1963, Trung tướng Dương Văn Minh nhân danh Chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng phát lệnh đảo chính Chính phủ Ngô Đình Diệm và lên làm Quốc trưởng Việt Nam Cộng Hòa lần thứ nhất. Đồng chí Mười Ty nắm được ý định Tướng Minh chuẩn bị đảo chính Diệm và có báo cáo về Ban binh vận Trung Ương Cục.
Sau cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm một thời gian, đồng chí Mười Ty có vào nhà Dương Văn Minh (98 Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai), sau đó qua nhà em là Dương Thanh Sơn ở mười ngày. Qua nhiều lần gặp và trao đổi với Dương Văn Minh, đồng chí Mười Ty cho rằng Tướng Minh trước đây mơ hồ về Mỹ là tên xâm lược, nay thì hết tranh cãi về điều này, nhưng vẫn còn cho là Mỹ có giúp đỡ miền Nam. Tướng Minh hứa hủy bỏ ấp chiến lược, cho nhân dân về nhà cũ với ruộng vườn, mồ mả ông bà.
Trong thời gian làm Quốc trưởng lần thứ nhất. Dương Văn Minh có một số hành động tiến bộ có lợi cho cách mạng:
+ Quyết định hủy bỏ 16.000 ấp chiến lược. Đại sứ Mỹ Cabot Lodge hỏi Dương Văn Minh vì sao làm thế? Ông trả lời, đại ý: Người Việt Nam có phong tục tập quán riêng, không người nào muốn xa rời mảnh đất đã gắn bó đời mình và mồ mả ông cha. Dồn dân vào ấp chiến lược là chủ trương sai, vì lẽ đó tôi giải tán ấp chiến lược để người dân trở về quê cũ của mình.
+ Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mc Namara và Tướng Harkin yêu cầu Quốc trưởng Dương Văn Minh để cho Hoa Kỳ ném bom ra miền Bắc, không ném ồ ạt mà ném bom nổ chậm trên đê sông Hồng. Miền Bắc sẽ bị lũ lụt mất mùa, người dân sẽ đói… Dương Văn Minh lắc đầu từ chối.
+ Tháng 1/1964, Đại sứ Cabot Lodge yêu cầu Quốc trưởng Dương Văn Minh nghiên cứu, chuẩn y và thực hiện kế hoạch 34A (hoạt động gián điệp, biệt kích chống miền Bắc). Dương Văn Minh không trả lời.
+ Theo lời kêu gọi của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam (4) Dương Văn Minh tỏ ý muốn thương lượng để tuyển cử tự do, thực hiện một chế độ trung lập, lập Chính phủ liên hiệp. Nhưng Mỹ cự tuyệt hòa đàm, chống mọi xu hướng trung lập.
- Do những chủ trương và hành động của Dương Văn Minh không theo đúng ý đồ “Bắc tiến” của Mỹ, theo chỉ thị của Tổng thống Mỹ Johnson, cuối tháng 01/1964, chính quyền Mỹ đã đưa Nguyễn Khánh lên làm Chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng kiêm Thủ tướng Chính phủ Cộng Hòa Việt Nam bằng một cuộc đảo chính. Nguyễn Khánh tuyên bố: “Tôi đảo chánh Dương Văn Minh để cứu đất nước này khỏi rơi vào tay Cộng sản”.
Mỹ thấy Dương Văn Minh có hậu thuẫn ở miền Nam, nhưng khó điều khiển nên chỉ thị cho Chính quyền Sài Gòn phong Dương Văn Minh làm đại tướng và cử làm đại sứ lưu động ở Đài Loan. Mỹ mời ông Minh qua Mỹ một thời gian rồi cho lưu vong ở Thái Lan (từ đầu năm 1965) có sự giám sát của CIA, làm con bài dự trữ.
Cuối năm 1967, theo chỉ đạo của đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư Trung Ương Cục miền Nam) và Ban binh vận Trung Ương Cục, đồng chí Mười Ty có chuyến qua Pháp, ở nhà em rể là Charlot để móc người em gái thứ 8 là Dương Thu Vân qua Pháp. Có thời gian Mười Ty ở nhà Dương Minh Đức (con trai Dương Văn Minh). Được biết, khi người em gái thứ 6 Dương Thu Hà bị ung thư chết, Dương Văn Minh có qua Pháp dự đám tang em gái, sau đó ở lại Pháp hơi lâu, có ý chờ tin của Mười Ty. Nhưng vì bọn CIA bảo trung tá Đẩu (sĩ quan tùy viên của Tướng Minh) kêu ông Minh về Thái Lan, nên không ở lâu hơn được nữa.
Khi chị Dương Thu Vân qua Paris gặp Mười Ty cho hay là ông Minh không thể qua Pháp được nữa, thì Mười Ty mới chuyển kế hoạch qua em (Dương Thu Vân) và cháu (Dương Minh Đức) truyền đạt ý kiến của cấp trên cho Dương Văn Minh. Sau đó Đức báo lại ý kiến của cha anh với Mười Ty như sau: “Lập Chính phủ ba thành phần là khó lắm, cần đánh cho văng Thiệu, Mỹ phải rút đi là hết chiến tranh. Tôi có ra làm chính phủ ba thành phần khi bầu cử thì ông Thọ (Luật sư Nguyễn Hữu Thọ) cũng thắng cử, tôi có thất cử cũng không nghĩa lý gì, miễn có lợi cho đất nước là hơn”. Dương Minh Đức nói thêm: Ba cháu không còn lực lượng, không biết làm chính trị, không giỏi bằng ông Thọ; ra ngoài (ra khu) lúc này là không có lợi, ở trong này khi cần có lợi hơn…
Sau đó, đồng chí Mười Ty về Hà Nội, được đồng chí Lê Duẩn gặp và mời cơm (với đồng chí Võ Văn Thời). Sau khi nghe đồng chí Mười Ty báo cáo đầy đủ chuyến đi công tác ở Pháp, đồng chí Lê Duẩn khen và nói: “Dương Văn Minh trả lời như vậy là thành thật, nói như vậy là làm được, chứ hứa hết có khi không làm được…
Cuối năm 1970,… theo chỉ đạo của Trung Ương và Trung Ương Cục miền Nam, Ban binh vận Trung Ương Cục tìm một người khác, để tiếp cận vận động Dương Văn Minh. Đó là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, cơ sở của ta trong sĩ quan là bạn bè và thầy trò có thể tiếp cận được với Dương Văn Minh. Đồng chí Nguyễn Tấn Thành (tức Tám Vô Tư), bác của Nguyễn Hữu Hạnh, được Ban binh vận Trung Ương Cục giao nhiệm vụ trực tiếp nắm và bồi dưỡng cho Nguyễn Hữu Hạnh.
Tháng 3 và 4/1975, đồng chí Tám Vô Tư thường gặp ông Nguyễn Hữu Hạnh. Sau khi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đồng chí Tám Vô Tư gợi ý ông Hạnh nên tiếp cận và vận động Dương Văn Minh nếu lên làm Tổng thống thì tìm cách kết thúc cuộc chiến có lợi cho nhân dân.
Khi được tin ông Dương Văn Minh lên làm Tổng thống, ngày 28/4/1975, từ Cần Thơ, ông Nguyễn Hữu Hạnh bằng mọi cách, vượt mọi khó khăn lên Sài Gòn gặp Dương Văn Minh và được ông giao làm phụ tá Tổng tham mưu trưởng, thay Tổng tham mưu trưởng ở bên cạnh ông, sau đó là Quyền Tổng tham mưu trưởng. Với các cương vị này, ông Hạnh đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh làm cho quân đội Sài Gòn “án binh bất động”, tan rã tại chỗ, không nổ súng và thúc đẩy Chính phủ Dương Văn Minh sớm bàn giao chính quyền cho cách mạng.
2/ Thâm nhập vào “nhóm Dương Văn Minh”
Tháng 9/1972, Ban An ninh T4 (Thành phố Sài Gòn - Gia Định) thành lập Cụm điệp báo mới, bí số là A10, với nhiệm vụ xây dựng lực lượng điệp báo bí mật trong một số đối tượng, trong đó có lực lượng thứ ba, đặc biệt là “nhóm Dương Văn Minh”… (các thành viên bộ tham mưu nhóm Dương Văn Minh, ban biên tập bản tin nội bộ nhóm Dương Văn Minh, thư ký tòa soạn báo Điện Tín, báo Đại dân tộc…).
Đầu năm 1975, đồng chí Trần Quốc Hương (Mười Hương), Trưởng Ban An ninh T4, chỉ đạo A10 tìm cách thâm nhập vào lực lượng thứ ba và nhóm Dương Văn Minh để tác động, vận động lực lượng này chống đối, cô lập, chia rẽ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu.
Thời gian này, Cụm điệp báo A10 tiếp cận, bám sát “nhóm Dương Văn Minh”, có lúc họa sĩ Ớt (Huỳnh Bá Thành) ở luôn trong nhà Dương Văn Minh; tham gia viết và in tuyên cáo “chống Chính phủ Thiệu không có Thiệu”, đòi Trần Văn Hương từ chức (Tổng thống).
Ngày 01/3 và cuối tháng 3/1975, đồng chí Huỳnh Bá Thành (lần sau có thêm các đồng chí Trần Thiếu Bảo, Huỳnh Huề…) vào căn cứ báo cáo với đồng chí Mai Chí Thọ (Bí thư thành ủy), Trần Thanh Vân (Phó trưởng Ban An ninh T4). Đồng chí Mai Chí Thọ chỉ đạo: “…Phải bằng mọi cách để Dương Văn Minh thay Nguyễn Văn Thiệu, rồi giao chính quyền cho cách mạng. Đó là chủ trương của Đảng nhằm tránh đổ máu, tránh tổn thất cho nhân dân”.
3/ Tác động vào Chính phủ Dương Văn Minh
Cụm điệp báo VĐ2 thuộc phòng tình báo chiến lược M22, cục tham mưu Miền cũng có chỉ đạo vận động tác động nội các Dương Văn Minh đầu hàng thông qua kỹ sư Tô Văn Cang trong những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Theo ông Tô Văn Cang, sáng ngày 28/4/1975, ông Cang đến gặp Đại tá Nguyễn Văn Khiêm (Sáu Trí) ở nhà ông Ba Lễ (cơ sở tình báo) hẻm đường Triệu Đà, Sài Gòn, để báo ý kiến của ông Nguyễn Văn Diệp (trong Chính phủ Dương Văn Minh) muốn tìm gặp đại diện Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam để xin ý kiến xử trí tình hình Sài Gòn. Đồng chí Sáu Trí phân tích tình hình và “khuyên Chính phủ Dương Văn Minh chấp nhận đầu hàng vô điều kiện”. Ý kiến này được ông Cang phản ánh lại cho ông Diệp và sau đó ông Diệp có báo cáo lại cho bộ ba Dương Văn Minh – Nguyễn Văn Huyền – Vũ Văn Mẫu.
4/ Xây dựng lực lượng thứ ba ở đô thị
Sau hiệp định Paris (1973), Hội nghị lần thứ 21 Ban chấp hành Trung Ương (tháng 7/1973) đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng lực lượng thứ ba ở đô thị”; “mở rộng hơn nữa Mặt trận dân tộc Giải phóng gồm mọi giai cấp, tôn giáo, lực lượng hòa bình, độc lập, dân chủ ở miền Nam và Việt kiều ở nước ngoài”.
Năm 1974, theo chỉ đạo của đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh), Phó Bí thư Trung Ương Cục miền Nam, đồng chí Quốc Hương (Mười Hương), Ủy viên Thường vụ, Trưởng Ban An ninh T4 đã chọn một số thanh niên, sinh viên cài vào hoạt động trong lực lượng thứ ba.
Trên thực tế thì lực lượng ta đã hình thành trước khi có hiệp định Paris qua tổ chức “Lực lượng quốc gia tiến bộ” do luật sư Trần Ngọc Liễng và nhà tư sản dân tộc (ngành vật liệu xây dựng) Phan Văn Mỹ thành lập tháng 6/1969 với mục tiêu là: đòi các lực lượng ngoại nhập (Mỹ và đồng minh) phải rút khỏi miền Nam, thành lập chính phủ hòa giải dân tộc. Sau đó, lợi dụng lúc Thiệu đi nước ngoài, luật sư Trần Ngọc Liễng lập “Lực lượng hoà giải dân tộc”. Sau hiệp định Paris, tháng 02/1974, nhóm luật sư Trần Ngọc Liễng lập “Tổ chức nhân dân đòi thi hành hiệp định Paris”, xác định mình là lực lượng thứ ba, mục tiêu chính là đòi thi hành hiệp định ParisMỹ rút quân, thành lập Chính phủ hoà giải dân tộc.
Thành viên của “nhóm Dương Văn Minh” gồm một số trí thức, dân biểu đối lập, ký giả, tướng lĩnh . Hằng tuần, nhóm họp bàn về tình hình thời sự chính trị (lúc tình hình sôi động mỗi tuần họp hai lần). Cạnh tướng Dương Văn Minh có Văn phòng báo chí. Lúc báo Điện tín bị đóng cửa, “nhóm Dương Văn Minh” ra bản tin bán công khai để phát cho các tổ chức, đoàn thể, báo chí trong và ngoài nước.
- Theo ông Lý Quý Chung (Hồi ký), tuần lễ đầu tháng 4/1975, tướng Dương Văn Minh và “nhóm Dương Văn Minh” đã họp tại Dinh Hoa Lan (nhà ông Minh) bàn và quyết định công bố ý định thay thế Nguyễn Văn Thiệu để góp phần chấm dứt chiến tranh.
5/ Phối hợp phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân Sài Gòn
Với các khẩu hiệu “đuổi Mỹ, lật Thiệu”, đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đòi thi hình hiệp định Paris, hòa bình, chấm dứt chiến tranh, đòi dân chủ, cải thiện dân sinh… các cuộc xuống đường diễn ra liên tục, mạnh mẽ thu hút hàng ngàn, hàng vạn người. Như cuộc xuống đường của 200 ký giả Sài Gòn ngày 10/10/1974, ngày “ký giả đi ăn mày” lôi cuốn gần hai vạn quần chúng tham gia đã có tiếng vang lớn cả trong và ngoài nước. Cuộc tuần hành ngày 20/4/1974 của hàng vạn công nhân lao động, sinh viên, học sinh, trí thức, thương phế binh… đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đòi thi hành hiệp định Paris, đòi hòa bình, cơm áo, chống sa thải, chống thuế VAT…, là cuộc đấu tranh lớn nhất từ sau hiệp định Paris.
MỸ, PHÁP VỚI TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH
* Mỹ: Năm 1971, Mỹ yêu cầu Dương Văn Minh ra tranh cử Tổng thống với Nguyễn Văn Thiệu để tỏ ra chế độ Cộng hòa miền Nam có dân chủ, nhưng phải thất cử để trở thành lãnh tụ của phe đối lập trong nghị viện. Tướng Dương Văn Minh từ chối. Đại sứ Mỹ Bunker còn trắng trợn hỏi ông Minh cần bao nhiêu đô-la cho cuộc tranh cử. Ông Minh cố nén giận, nhưng giữ lịch sự, đưa tay chỉ đại sứ Mỹ về phía của phòng (không tiếp đại sứ Mỹ nữa). Cuộc bầu cử đó, Tướng Dương Văn Minh có ra ứng cử, nhưng đến giờ chót quyết định rút lui, chỉ còn Nguyễn Văn Thiệu trở thành ứng cử viên Tổng thống “độc diễn”, làm bẽ mặt Mỹ – Thiệu.
Sau khi Thiệu từ chức, Phó tổng thống Trần Văn Hương lên thay tổng thống, tuyên bố “cương quyết tử thủ dù phải hi sinh đến nắm xương tàn”, đã bị nhân dân và báo chí Sài Gòn đấu tranh đòi Chính phủ Trần Văn Hương từ chức ngay lập tức. Trần Văn Hương trì hoãn việc giao quyền cho Dương Văn Minh, mãi đến ngày 26/4/1975, lưỡng viện Sài Gòn đã bầu Dương Văn Minh làm Tổng thống Việt Nam Cộng hòa với 147/151 phiếu.
* Pháp: Theo đồng chí Phan Nhẫn, ngày 27 (hoặc 28/4/1975), Bộ Ngoại giao Pháp gặp đồng chí Phạm Văn Ba (Giám đốc Trung tâm thông tin Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam) gợi ý Chính phủ Cách mạng lâm thời nên đi vào đàm phán. Lúc đó, Pháp hi vọng “giải pháp Dương Văn Minh” và khả năng thương lượng với Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam.
Theo chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và ông Lý Quý Chung, sáng ngày 30/4/1975, tướng tình báo Pháp Vanuxem đến Phủ thủ tướng (số 7 Thống Nhất, nay là đường Lê Duẩn) gặp Tổng thống Dương Văn Minh, gợi ý ông Minh nên kêu gọi Trung Quốc can thiệp để cứu miền Nam không rơi vào tay Cộng sản Bắc Việt. Ông Minh từ chối, nói rằng: “Tôi đã từng làm tay sai cho Pháp rồi cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Trung Quốc”.
TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH VỚI 3 NGÀY LÀM TỔNG THỐNG
15 giờ chiều ngày 28/4/1975, Tướng Minh làm lễ nhậm chức Tổng thống, cử Nguyễn Văn Huyền làm Phó tổng thống, Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng.
Tổng thống Dương Văn Minh cử một số Bộ trưởng và người phụ trách quân đội, cảnh sát, trong đó có đảng viên và cơ sở của ta là: Luật sư Triệu Quốc Mạnh, Giám đốc Nha cảnh sát đô thành, và chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá Tổng tham mưu trưởng sau là quyền Tổng tham mưu trưởng.
Về Bộ quốc phòng, Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định Giáo sư Bùi Tường Huân, Giáo sư Đại học Huế (không phải tướng tá) làm Bộ Trưởng. (Theo ông Lý Quý Chung, việc Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định ông Bùi Tường Huân làm Bộ trưởng quốc phòng để chứng tỏ chính phủ này không muốn chiến tranh).
17 giờ ngày 28/4/1975, phi đội 5 chiếc A37 của Nguyễn Thành Trung ném bom sân bay Tân Sơn Nhất.
Theo ông Hồ Ngọc Nhuận (Hồi ký), tối hôm đó, Tướng Minh giao cho ông chuẩn bị chiếm đài phát thanh (đề phòng Nguyễn Cao Kỳ làm đảo chính).
Đêm 28/4, Tướng Dương Văn Minh và gia đình dời đến ở nhà một người bạn của tướng Mai Hữu Xuân ở đường Phùng Khắc Khoan do sợ Nguyễn Cao Kỳ ném bom dinh Hoa Lan (nhà ông Minh).
Theo cựu dân biểu Dương Văn Ba (Hồi ký), đêm 28/4/1975, hai đại tá phi công lái hai máy bay trực thăng phục vụ tổng thống đậu trên nóc dinh Độc Lập, gặp Tổng thống Dương Văn Minh đề nghị đưa Tổng thống và tất cả những người trong bộ tham mưu tổng thống và gia đình bay ra Đệ Thất Hạm Đội. Ông Minh trả lời: “Hai em có thể yên lòng lái máy bay ra Đệ Thất Hạm Đội, bất cứ ai có mặt ở đây muốn đi theo thì có thể ra đi. Phần tôi, tôi nhất quyết không đào ngũ bỏ chạy; không thể nào bỏ dân chúng Sài Gòn, không thể nào bỏ miền Nam như con rắn mất đầu”.
Ngày 29/4/1975
Tổng thống Dương Văn Minh, Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu bàn và ra lệnh cho Giám đốc Nha cảnh sát đô thành Triệu Quốc Mạnh thả tù binh chính trị; gửi công văn yêu cầu Đại sứ Mỹ Martin cho cơ quan Viện trợ quân sự Mỹ (DAO) rời khỏi Việt Nam trong vòng 24 giờ để giải quyết hòa bình ở Việt Nam.
Đến 16 giờ chiều ngày 29/4, đã thực hiện xong việc trả tù binh chính trị (trong đó có Huỳnh Tấn Mẫm). Chỉ huy các ban và cảnh sát 18 quận, huyện đã tan rã (trừ bộ phận biệt phái).
Tổng thống Dương Văn Minh chỉ thị không được di chuyển quân, không được phá cầu. Dựa vào chỉ thị trên, chiều ngày 29/4/1975, phụ tá Tổng tham mưu trưởng Nguyễn Hữu Hạnh đã ra lệnh cho các đơn vị không được phá cầu. Đơn vị nào muốn phá cầu phải có lệnh của Bộ Tổng tham mưu.
Sau đó, khoảng 15 giờ, phái đoàn do Luật sư Trần Ngọc Liễng cầm đầu có Linh mục Chân Tín, Giáo sư Châu Tâm Luân vào Trại David, được đồng chí Võ Đông Giang, Phó trưởng phái đoàn ta tiếp. Ông Liễng đã thông báo với phái đoàn ta về chủ trương “không chống cự” của Tổng thống Dương Văn Minh, mà ông coi là niềm vui sướng nhất trong đời ông, vì đã thông báo cho bên trong biết “Sài Gòn không chống cự” vào giờ chót của cuộc chiến tranh. Theo Luật sư Liễng, Tổng thống Dương Văn Minh đã chấp nhận đầu hàng từ buổi trưa hôm đó (ngày 29/4/1975).
Từ chiều và tối ngày 29/4, cũng có một số người tác động Tổng thống Dương Văn Minh hướng “Thành phố để ngõ”, đầu hàng. Như ông Lý Quý Chung, họa sĩ Ớt (Huỳnh Bá Thành). Thông qua ông Phan Xuân Huy và ông Đoàn Mai, thượng tọa Thích Trí Quang nói điện thoại trực tiếp với Tổng thống Dương Văn Minh: “còn chờ gì nữa mà không đầu hàng”.
Ngày 30/4/1975
- 6 giờ, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh quyền Tổng tham mưu trưởng (tướng Vĩnh Lộc, Tổng tham mưu trưởng đã chuồn) và tướng Nguyễn Hữu Có đến báo cáo với Tổng thống Dương Văn Minh về toàn bộ tình hình quân sự. Sau đó, ông Minh (cùng các ông Hạnh và Có) đến Phủ Thủ tướng (số 7 Thống nhất, nay là đường Lê Duẩn).
Tổng thống Dương Văn Minh họp với Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu và một số người trong nội các “nhóm Dương Văn Minh”, bàn và quyết định không nổ súng và giao chính quyền cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam. Thủ tướng Vũ Văn Mẫu soạn bản thảo tuyên bố này.
9 giờ, Tổng thống Dương Văn Minh đọc vào máy ghi âm.
Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh đề nghị và được Tổng thống Dương Văn Minh đồng ý có nhật lệnh cho quân đội. Ông Hạnh soạn thảo nhật lệnh này. Đồng thời tướng Nguyễn Hữu Hạnh gọi điện thoại cho tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân khu 4 yêu cầu cố gắng thi hành lệnh của Tổng thống trên đài phát thanh.
9 giờ 30: Đài phát thanh phát tuyên bố của Tổng thống Dương Văn Minh: “Đường lối của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc”; “yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ Cộng Hòa ngưng nổ súng, và ở đâu thì ở đó”; “Chúng tôi chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam để thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào”.
Sau đó, cả các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu cùng nội các đến Dinh Độc Lập để chờ bàn giao chính quyền cho cách mạng.
Sau khi đọc tuyên bố “đầu hàng” xong, Tướng Dương Văn Minh nói với mọi người (trong Chính phủ): “Mọi việc coi như đã xong. Bây giờ ai muốn đi hay ở thì tùy”.
11 giờ 30, xe tăng quân giải phóng vào Đinh Độc Lập. Xe quân giải phóng đưa ông Dương Văn Minh và ông Vũ Văn Mẫu đến đài phát thanh để đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.
KẾT LUẬN
1/ Tướng Dương Văn Minh là người có tinh thần dân tộc, yêu nước. Từ chỗ lúc đầu còn mơ hồ về việc Mỹ xâm lược miền Nam, cho rằng Mỹ có giúp đỡ miền Nam, dần dần tỏ thái độ chống Mỹ: chống Mỹ đưa quân viễn chinh Mỹ và đồng minh vào miền Nam, kéo dài và mở rộng chiến tranh, muốn có hòa bình, độc lập và hòa hợp dân tộc.
2/ Theo ông Nguyễn Hữu Hạnh và ông Lý Quý Chung, Tướng Dương Văn Minh lên làm Tổng thống không có ý để thương thuyết với cách mạng vì đã thấy không còn khả năng thương thuyết; cũng không có ý để tiếp tục chiến tranh vì lâu nay ông Minh chủ trương hoà bình, chấm dứt chiến tranh. Điều này thể hiện rõ ở Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định hai cơ sở của ta (chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và luật sư Triệu Quốc Mạnh) nắm hai lực lượng vũ trang: quân đội và cảnh sát; cử một người dân sự (giáo sư Bùi Tường Huân) làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; chưa đầy một ngày sau khi nhậm chức thì ngày 29/4/1975, đã ra lệnh thả tù chính trị, đuổi phái đoàn DAO của Mỹ; không di chuyển quân, không phá cầu v.v..
3/- Trong điều kiện cuộc tổng tiến công quân sự của các binh đoàn chủ lực kết hợp với cuộc tiến công và nổi dậy của các lực lượng vũ trang và quần chúng ở thành phố Sài Gòn – Gia Định đã tạo sức ép quân sự lớn; công tác vận động, binh địch vận của nhiều lực lượng ta với Tướng Dương Văn Minh; được sự đồng tình, tác động tích cực của những người chủ yếu trong nội các, lực lượng thứ ba và “nhóm Dương Văn Minh”; Tổng thống Dương Văn Minh đã quyết định “không chống cự”, tuyên bố “ngưng nổ súng và ở đâu ở đó vào 9g30 (sau đó tuyên bố “đầu hàng vô điều kiện” vào 11g30) ngày 30/4/1975 là hành động thức thời, làm giảm ý chí đề kháng của đại bộ phận quân đội Sài Gòn vào những giờ chót của cuộc chiến tranh, tạo thuận lợi cho quân giải phóng tiến nhanh vào giải phóng hoàn toàn thành phố Sài Gòn còn nguyên vẹn và không đổ máu. Nhiều thành phố và thị xã khác cũng được giải phóng nguyên vẹn, ít tổn thất. Chúng ta biết rõ giành được thắng lợi to lớn này, cuộc tổng tiến công của các quân đoàn kết hợp với các cuộc tiến công và nổi dậy của lực lượng vũ trang và quần chúng địa phương đóng vai trò quyết định. Tuy nhiên, công bằng mà nói, hành động thức thời của Tổng thống Dương Văn Minh và nội các của ông đã góp phần làm cuộc chiến kết thúc sớm, tránh đổ nhiều xương máu của binh sĩ và nhân dân, thành phố Sài Gòn và nhiều đô thị còn nguyên vẹn. Đó là nghĩa cử yêu nước, thương dân của ông Dương Văn Minh.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 30/10/2004
____________
(1)
Nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế – xã hội – thương binh Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam.
(2)
Phát biểu của ông Dương Văn Minh trong cuộc Thượng tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch Ủy ban quân quản TP. Hồ Chí Minh tuyên bố trả quyền công dân cho toàn bộ viên chức Chính phủ “Việt Nam Cộng Hoà”.
(3)
Bộ đội Nam bộ tập kết ra Bắc, ở Sư đoàn 330. Sau đó chuyển ra nông trường quân đội.
(4)
Sách “Gởi người đang sống” (tr 334-335) của Thượng tướng Trần Văn Trà.
Xem thêm:

Phần nhận xét hiển thị trên trang