Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2015

Thế có khác nào làm nhục các báo đã bênh vực không?


Nghe tin là HN có chỉ đạo các báo trực thuộc phải bênh vực việc chặt cây. Khổ nỗi, các báo vừa in ra chưa ráo mực, thì HN lại cho dừng chặt cây. Thế có khác nào làm nhục các báo đã bênh vực không?
Vì những bài báo này lan truyền trên mạng với tốc độ ghê gớm kèm những lời chửi rủa không tiếc lời.
Quả là một bài học cho báo chí, mà học phí thì hơi ...cao!
Ảnh rất liên quan mà chả liên quan: bài trên báo Văn hoá thuộc Bộ VHTTDL.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Iem chịu các pác lun.Còn cả đống vấn đề nhức nhối, đâu chỉ riêng cây xanh Hà Nội? Giá điện giá xăng tăng, nguy cơ ngoài cửa biển, chả thấy pác nào có ý kiến gì. Không cẩn thận lạc đường về quê mẹ. . Quan tâm là cái tốt, nhưng chỉ nên đủ, đúng và lun nhớ những chuyện khác! Âm hô các pác!

Số phận hàng ngàn cây Sưa tại Hà nội ra sao ?

Bài viết của nhà văn Phạm Viết Đào từ Hà Nội :
Hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội theo số liệu của cơ quan chức năng có khoảng 120.000 cây xanh bóng mát được trồng trên gần 3000km đường đô thị, tỉnh lộ, quốc lộ.
Các nhà hoạt động xã hội hôm qua đã biểu tình tại Hà nội, phản đối chính quyền cho chặt phá hàng ngàn cây xanh.


Hiện trạng cây xanh đa dạng với khoảng 70 loài, trong đó có các cây cổ thụ được trồng từ thời Pháp, có những cây có khả năng lên tới hàng trăm năm tuổi.
Đặc biệt trên hè phố Hà Nội có nhiều tuyến phố có những cây gỗ sưa cổ thụ có giá từ hàng chục tới hàng trăm tỷ đồng đang là mục tiêu nhóm ngó của bọn “tặc sưa”.
UBND Hà Nội cho biết, trên địa bàn có 3.781 cây sưa được trồng chủ yếu trên các hè phố và nằm rải rác tại 24 quận, huyện. Những cây sưa lớn có giá trị kinh tế cao.
Từ đầu năm 2014 đến nay, trên địa bàn TP Hà Nội xảy ra 19 vụ đối tượng cưa trộm cây gỗ sưa đỏ, trong đó quận Đống Đa 4 vụ, Cầu Giấy 4 vụ, Ba Đình 2 vụ, Hoàng Mai 2 vụ, Hoàn Kiếm 1 vụ, Hai Bà Trưng 1 vụ, Tây Hồ 1 vụ, Quốc Oai 4 vụ.
Gỗ sưa đột nhiên có giá từ vài chục năm nay do nhu cầu của người Trung Quốc tăng; giá của gỗ sưa được mua bằng kg, thậm chí những đồ đạc giường ghế đã đóng bằng gỗ sưa đều được người Trung Quốc thu mua tính bằng kg.
Trong thời gian bị tù vừa qua, tôi có dịp sống chung cùng buồng giam với một bạn tù là thợ mộc, quê ở Chàng Sơn, Hà Tây cũ; anh này làm nghề thợ mộc và buôn lậu gỗ sang Trung Quốc.
Anh ta bị tù vì tội đánh bạc nên được xếp ở chung buồng giam với tôi. Anh cho biết: Sỡ dĩ gỗ sưa có giá do nhu cầu của người Trung Quốc tăng đột biến.
Người Trung Quốc bắt đầu chú ý tới gỗ sưa từ những năm 90 thế kỷ trước khi Bắc Kinh cho tu bổ Di Hoà Viên, một công trình văn hoá tiêu biểu tại Bắc Kinh phần lớn được kiến trúc bằng gỗ theo ý chỉ của Từ Hy Thái Hậu.
Khi những người thợ Bắc Kinh dỡ những dãy trường lang dài thì phát hiện loại gỗ sử dụng để xây dựng Phật Hương Các, một toà kiến trúc trong Di Hoà Viên và trường lang đều được lắp dựng bằng gỗ sưa. Đặc điểm gỗ sưa là tuy đã trải hàng trăm năm nhưng màu sắc, chất lượng, hương thơm của nó không thay đổi.
Sau phát hiện này, cây gỗ sưa lên đời tại Trung Quốc và lan sang đến Việt Nam.
Anh bạn tù đã chỉ cho tôi biết những góc đường nào của Hà Nội có những cây gỗ sưa có giá mà anh ta đã từng đến ngắm nghía để chờ cơ hội. Có một số cây rất có giá theo anh cho biết nằm ở góc đường Hoàng Hoa Thám, trong công viên Bách Thảo gần Phủ Thủ tướng. Mấy cây sưa này theo tính toán của đám sưa tặc thì có giá mỗi cây phải trên 300 tỷ VNĐ.
Nếu đám sưa này nằm trong “quy hoạch” của đám gian thương Trung Quốc thì rất dễ trong chiến dịch “cắt tỉa 6700 cây”, nhân thể “đắm đò giặt mẹt”, trong số cây đã cỗi, đã già, sâu mọt, cong nghiêng, không đúng chủng loại sẽ có nhiều cây sưa sẽ bị cưa để xuất sang Trung Quốc.
Chính quyền Hà Nội cần tìm biện pháp bảo vệ những cây sưa quý hiếm, cổ thụ trên đường phố Hà Nội không bị triệt hạ trong chiến dịch thảm sát cây xanh vô tiền khoáng hậu này.
http://www.bbc.co.uk/…/forum/2015/03/150320_cayxanh_pham_vi…

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2015

Loại thực vật thần kì có thể phá hủy các tế bào ung thư chỉ trong vòng 48 giờ!

SƯU TẦM 


Các nhà khoa học tại Đại học Windsor đã tiến hành một nghiên cứu ban đầu tại Khoa Hóa học và Sinh hóa. Và kết quả từ những nỗ lực của họ đã đem tới hy vọng cho tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh ung thư.
Họ phát hiện ra rằng rễ bồ công anh phá hủy các tế bào ung thư mà không làm hại các tế bào khỏe mạnh, và kết quả đã được công bố trên trang web ‘Natural News’.

Theo các nghiên cứu, trà bồ công anh làm cho tế bào ung thư phân hủy trong vòng 48 giờ, và nó không ảnh hưởng đến các tế bào khỏe mạnh. Các nhà khoa học kết luận rằng tiêu thụ thường xuyên của rễ bồ công anh phá hủy hầu hết các tế bào ung thư ở bệnh nhân.
Trà rễ bồ công anh phá hủy các tế bào ung thư bằng cách làm cho chúng tan rã trong vòng 48 giờ, mà không ảnh hưởng đến các tế bào khỏe mạnh. Thế giới vẫn còn hạn chế trong việc nhận thức về sức mạnh của nó, nhưng các nhà khoa học đã xác nhận phạm vi rộng lớn của các thuộc tính sức khỏe trong rễ cây bồ công anh.
Nhưng, tất nhiên, bạn phải chắc chắn rằng nó được thu thập từ các khu vườn sạch, cách xa khu vực giao thông.
Bạn cũng có thể biết rễ cây bồ công anh hoa dùng làm xi-rô tự nhiên, nhưng những gì bạn không biết là rễ bồ công anh có thể giúp bệnh nhân được chẩn đoán bị ung thư giành chiến thắng trong cuộc chiến chống lại căn bệnh chết người này.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng rễ bồ công anh là tốt hơn rất nhiều so với hóa trị, vì nó chỉ phá hủy hoàn toàn tế bào ung thư.

Ngoài tính chất lợi tiểu của nó, rễ bồ công anh kích thích sự tiết mật, làm sạch gan, giúp trong việc điều trị các bệnh dị ứng và làm giảm nồng độ cholesterol. Nó rất giàu vitamins thiết yếu và khoáng chất, bao gồm vitamin B6, thiamin, Rễ cây Bồ Công Anh có thể phá hủy các tế bào ung thư chỉ trong vòng 48 giờ!riboflavin, vitamin C, sắt, canxi, kali, acid folic và magiê.

Nguồn: http://chuabuuminh.vn/y-hoc/dong-y/576403_re_cay_bo_cong_anh_co_the_pha_huy_cac_te_bao_ung_thu_chi_trong_vong_48_gio.aspx

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Quá bèo..nhèo..chắc chắn tèo!

Binh đoàn "Ngũ Mao Đảng"


FB Manh Kim
Lực lượng gọi là “dư luận viên” đang được sử dụng là một phiên bản copy từ Trung Quốc. Cách đây bốn năm, tôi có làm bài này, xin post lại.

Đâu chỉ sử dụng lực lượng tin tặc đánh phá Gmail hay đột nhập các tập đoàn quốc phòng Mỹ để thò tay ăn cắp thông tin, Trung Quốc còn sử dụng một lực lượng trên mạng chuyên “ném đá” đả kích các mục tiêu liên quan chính trị hoặc nhằm bênh vực chính sách chính phủ theo từng đơn đặt hàng cụ thể. Loạt “đá” ném tới tấp mịt mù trên mạng vài ngày qua nhằm vào Việt Nam lẫn Philippines trong vụ xung đột biển Đông đang diễn ra là trò khẩu chiến mới nhất liên quan lực lượng này, được biết dưới những cái tên như “Ngũ Mao đảng” (五毛党), Võng lạc bình luận viên (网络评论员), Võng bình viên (网评猿), Hồng mã giáp (红马甲), hay Võng lạc duyệt bình viên (网络阅评员)...

Những tay bút chiến chuyên nghiệp

Bằng thủ thuật viết blog và lập diễn đàn trực tuyến, “Ngũ Mao đảng” đang là thành phần đắc dụng cho các cuộc khẩu chiến bênh vực đường lối của Trung Quốc, từ trung ương xuống địa phương. “Ngũ Mao đảng” hiện qui tụ “ít nhất hàng chục ngàn người” – theo blogger nổi tiếng Trung Quốc Lê Minh (1), hoặc thậm chí khoảng 300.000 người (2). Hầu hết bọn chúng là sinh viên học sinh, thành thục kỹ năng lướt web cũng như kỹ thuật sử dụng ngôn từ “chửi bới” và kích động tuyên truyền một chiều. Chuyên gia về Internet Trung Quốc, Renaud de Spens, cho biết lực lượng này đa dạng đến mức hiện có cả sự tham gia của viên chức nghỉ hưu, giới chức chính quyền địa phương, nhân viên công ty nhà nước hoặc thậm chí các bà nội trợ! Từ các đơn vị nhỏ tại những công ty nhà nước đến cấp quận, cấp tỉnh và cấp thành đều có bóng dáng “Ngũ Mao đảng”, kể từ khi làn sóng viết blog bùng nổ tại Trung Quốc cách đây độ 5 năm, đóng góp vào làn sóng nhộn nhịp “sinh hoạt dân chủ” trên cộng đồng mạng với tinh thần quyết liệt ủng hộ chính sách nhà nước, đặc biệt các chính sách gây tranh cãi như giải tỏa đền bù (đối nội) hay các vấn đề khoác áo chủ quyền quốc gia (đối ngoại). Danh tiếng lực lượng tuyên truyền “Ngũ Mao đảng” ngày càng lan truyền rộng rãi. Tháng 3-2011, tổng thư ký tổ chức Ân xá Quốc tế Salil Shetty nói rằng, Trung Quốc (cùng Iran) đang đầu tư “nguồn lực đáng kể cho các trang blog ủng hộ chính phủ nước họ”.

Tại sao gọi là “Ngũ Mao đảng”? Thuật từ này xuất phát từ việc chúng (thoạt đầu) được trả “ngũ mao” (0,5 nhân dân tệ) cho một bài blog giúp tuyên truyền ủng hộ nghị sự chính phủ trung ương hay chính quyền địa phương. Thật ra người ta có thể thấy quan điểm thật sự chính phủ Trung Quốc như thế nào trong các vấn đề chính trị thế giới qua “chính kiến” được “Ngũ Mao đảng” bày tỏ (dùm), như trong vụ NATO xử rắn Libya, vụ Mỹ khử trùm khủng bố Bin Laden, vụ Trung Quốc ngang ngược lấn chiếm biển Đông, hoặc việc bốc thơm tận mây xanh sức mạnh quân sự Trung Quốc… Lực lượng hùng hậu “Ngũ Mao đảng” đã “được trả tiền dựa vào số bài bình luận đưa lên mạng và có thể được thưởng thêm nếu bài viết được xếp hạng cao với tỉ lệ nhiều người đọc” – theo blogger Lê Minh.

Trung Quốc chẳng hề thấy có gì xấu hổ khi đề cập thẳng lực lượng “Ngũ Mao đảng”. Trong bài viết trên tờ báo Trung Quốc Global Times (3), tác giả Trương Lỗi (Zhang Lei) đã cung cấp nhiều chi tiết về thành phần “khua môi, múa… bút” này. Theo họ Trương, chính quyền tỉnh Cam Túc từng tuyển mộ một nhóm gồm 650 “bình luận viên Internet” để định hướng dư luận. Dẫn lời một chuyên gia truyền thông tên tuổi với 20 năm kinh nghiệm, tác giả Trương cho biết, các website chính phủ cũng sử dụng lực lượng “võng bình viên” (bình luận viên trên mạng) để thực hiện cuộc chiến làm nhiễu thông tin đối với nhiều vấn đề đụng chạm đến “lợi ích cốt lõi” chẳng hạn việc Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan. Thậm chí một số trường chẳng hạn Đại học sư phạm Sơn Tây cũng sử dụng lực lượng “Ngũ Mao đảng”, để không chỉ viết bài ủng hộ quan điểm nhà nước mà còn lập báo cáo “theo dõi hoạt động mạng” gửi về chính quyền địa phương (4).

Tiếng nói Internet rõ ràng là có trọng lượng nhất định và giới lãnh đạo Trung Quốc đã nhìn thấy lợi ích của việc sử dụng diễn đàn trực tuyến như một kênh thông tin bán chính thống. Năm 2005, Lưu Chính Vinh, giám đốc Cơ quan quản lý Internet thuộc Phòng thông tin Quốc vụ viện, nói rằng các cuộc tranh luận trực tuyến ngày càng có ảnh hưởng sâu mạnh đối với quan điểm công chúng, với sức lan tỏa hơn hẳn báo chí truyền thống lẫn radio và truyền hình. Thế là người ta tận dụng tối đa sức mạnh của thế giới ảo, theo tinh thần của chủ trương từng được lãnh đạo Đảng đề ra: “Kiện khang hướng thượng, phong phú sinh động đích chủ lưu dư luận” (健康向上、丰富生动的主流舆论 - Tạo ra dư luận công chúng một cách sống động và lành mạnh).

Nhiều địa phương Trung Quốc bắt đầu triển khai công tác xây dựng lực lượng “Ngũ Mao đảng”. Tháng 4-2005, chính quyền thị trấn Tú Thiên (Giang Tô) đã mướn 26 tay bút chiến chuyên nghiệp (ứng cử viên hợp lệ được yêu cầu phải có “Đảng tính” cao và khả năng diễn đạt sắc bén). Năm 2004, đảng ủy thành phố Trường Sa (tỉnh Hồ Nam) cũng thuê một nhóm “võng lạc bình luận viên” với lương cơ bản 600 tệ/tháng, cộng thêm nửa đồng nhân dân tệ (khoảng 7 xu USD) cho mỗi bài được đưa lên mạng. Mức “nhuận bút” chẳng phải quá cao nhưng không hề bèo bọt đã khiến bà con rủ nhau đăng ký tham gia nhiệt tình vào binh đoàn “Ngũ Mao đảng”. Cho nên, gần đây, một số “ban biên tập” đã phải hạ giá: trên website Hành Dương đảng kiến (Hengyang Dangjian), một “cáo thị” mới cho biết một bài viết bây giờ chỉ còn được trả 0,1 tệ và không hơn 100 tệ/tháng cho lương cơ bản…

“Dư luận dẫn đạo công tác” (舆论引导工作)

Cũng theo Trương Lỗi (Global Times), một tay cựu “võng bình viên” tên Bắc Phong cho biết, thành phần “Ngũ Mao đảng” hoặc làm việc toàn thời gian cho các website nhà nước chẳng hạn xinhuanet.com,people.com.cn hay southcn.com; hoặc làm bán thời gian cho các cơ quan-tổ chức nhà nước trong đó có các bộ và viện nghiên cứu… “Hiện có khoảng 20 “võng bình viên” làm việc toàn thời gian cho chính quyền Quảng Đông. Chúng thường viết 2-4 bài/tuần” – Bắc Phong nói. Nếu các cơ quan thông tin địa phương đăng bài của chúng, chúng được trả 40 tệ/bài (độ dài trung bình 500 từ). Giá “nhuận bút” có thể lên đến 200 tệ nếu được đăng trên các website thuộc chính phủ trung ương. Trương Lỗi nói rõ rằng, bọn “võng bình viên” chuyên nghiệp tại Trường Sa đã được đào tạo chính qui hẳn hòi, bởi rednet.cn (diễn đàn thuộc quản lý của Cơ quan tuyên truyền đảng ủy Hồ Nam).

Chúng được dạy cách thể hiện ý tưởng bài viết, cách liên lạc với nhau để tổ chức chiến dịch đánh “bề hội đồng” và cách cùng nhau vỗ… bàn phím rào rào cổ súy một nghị sự nhà nước. Vài ngày trước Quốc khánh Trung Quốc 2008 chẳng hạn, 20 “võng bình viên” tại Hành Dương (Hồ Nam) đã nhận được chỉ thị khẩn cấp viết 1.000 bài ca ngợi ân đức như trời cao biển rộng của các vị “nô bộc” nhân dân tại địa phương cũng như những thành tích sáng láng mang lại cơm no áo ấm cho đồng bào. Chỉ thị cũng nêu rõ “anh em” phải chuẩn bị tinh thần sẵn sàng “ném đá” thẳng tay vào những ý kiến tiêu cực xuất hiện thời điểm trên. Chúng được khuyến khích viết càng nhiều càng tốt và ký càng nhiều tên khác nhau càng hay, để làn sóng “sinh hoạt dân chủ” có thêm không khí xôm tụ và hào hứng. Chúng thậm chí được cấp một cẩm nang hướng dẫn những gì cần và những gì không nên trong việc viết bài định hướng hoặc lèo lái dư luận.

Trong nhiều vụ, binh đoàn “Ngũ Mao đảng” thường được trưng dụng để kích dư luận mạnh lên hay làm dịu xuống, tùy trường hợp cụ thể. Vấn đề tích cực thì “nâng” trong khi vụ việc tiêu cực thì “dìm”, chẳng hạn trường hợp “võng bình viên” được triệu tập khẩn cấp viết bài làm dịu bớt sự phẫn nộ công chúng liên quan những vụ lạm quyền của công an thị trấn Tiêu Tác thuộc tỉnh Hà Nam (5). Sức mạnh “Ngũ Mao đảng” rõ ràng không thể xem thường. Và lực lượng “võng bình viên” hiện vẫn là công cụ đắc dụng trong cuộc chiến “PR” cho chính quyền Trung Quốc đối với các vấn đề đường lối chính sách. Ngày 16-3-2011, Cơ quan quản lý-giám sát nguồn vốn nhà nước Sơn Tây ra thông cáo (6), cho biết họ sẽ thực hiện một chiến dịch gọi là “Võng lạc Hồng thiếu sinh” (Internet Red Scout) nhằm bảo vệ uy tín chính quyền, với hỗ trợ của Đoàn thanh niên. “Chiến dịch sẽ bắt đầu từ ngày 31-3-2011” – thông báo cho biết, và mỗi tình nguyện viên tham gia phải tung lên mạng tối thiểu một bài mỗi tuần…

Tuy nhiên, có lẽ thấy… mắc cỡ trước việc phải cậy đến lực lượng “lính đánh thuê trên mạng” để “đấm đá” trợ lực cho các chính sách Trung Quốc, cây bút “chính luận sắc sảo” với kỹ năng “mồm loa, mép giải” tên tuổi vang lừng Lý Hồng Mai, người từng “thành thật khuyên Việt Nam” không nên “chơi với lửa” khi “quốc tế hóa vấn đề biển Đông” và Việt Nam “nên cần được dạy một bài học” (trên Nhân Dân nhật báo 17-8-2010), đã phải thừa nhận rằng, việc sử dụng “Ngũ Mao đảng” chỉ làm ảnh hưởng hình ảnh Trung Quốc, trong khi nước này bây giờ “có đủ can đảm để thể hiện chính mình như vốn có của nó”. Với “sự tự tin và sức mạnh tăng dần” như hiện nay của Trung Quốc, “bình luận gia” Lý cho rằng người dân Trung Quốc sẽ cứng cáp hơn để khỏi phải được nuốt những “viên đạn bọc đường” và rồi “Ngũ Mao đảng” cuối cùng sẽ tự thân rã đám (7). Chính xác là như vậy! Một siêu cường với tư cách chững chạc sắp qua mặt Nhật về kinh tế và gần ngang ngửa Mỹ về quân sự như Trung Quốc đâu cần phải dùng đến bọn bồi bút rẻ rúng 50 xu như thế!
***

(1) China pays internet users to flood web forums with pro-government propaganda, AFP (16-5-2011)
(2) China's Fifty Cent Party for Internet Propaganda, Usha Haley, Huffingtonpost.com (4-10-2010)
(3) Invisible footprints of online commentators, Zhang Lei, Global Times (4-2-2010)
(4) China’s Guerrilla War for the Web, David Bandurski, Far Eastern Economic Review (7-2008)
(5) Chinese Bloggers on the History and Influence of the “Fifty Cent Party”, China Digital Times (15-5-2008)
(6) Shanxi Government to Launch "Internet Red Scout" Campaign to Rebut Criticism of the Party, China News Service (16-3-2011)
(7) Let go of "WuMaoDang" and "50-cent Party", Li Hongmei, English.people.com.cn (23-5-2011)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thực ra đồng bào miền núi gọi là cây gỗ mỡ. Gỗ của nó thuộc loại tốt nhưng nếu trồng làm cảnh quan đô thị không phù hợp vì cành mọc ngang, tán hình kim . Cành luôn thay lớp mới nên khô và dễ gẫy. Đặ biệt rất chậm lớn, cây trưởng thành, ít nhất hai chục năm. Một cây để có bóng mát phải mất chừng mười năm. Nếu trồng ở HN, mười năm này cảnh quan và tiểu khí hậu HN sẽ ra sao?

vàng tâm, cây trồng, chặt cây, Hà Nội

vàng tâm, cây trồng, chặt cây, Hà Nội

Cùng hiểu hơn về loài cây vàng tâm được trồng thay thế cây xanh cũ trên khắp các tuyến phố Hà Nội.  Như đã đưa tin, mới đây, dư luận đang xôn xao trước dự án đốn hạ 6.700 cây xanh, trong đó có những cây hơn 100 tuổi trên 190 tuyến phố nội thành Hà Nội và thay vào đó là 6.700 cây vàng tâm.   Ảnh: Kênh 14 Tuy nhiên, nhiều người băn khoăn rằng, liệu cây vàng tâm đó như thế nào, có gì đặc biệt mà UBND thành phố Hà Nội đã thông qua dự án này. 
Chùm ảnh dưới đây sẽ giúp bạn hiểu hơn về hình ảnh cây vàng tâm đang được trồng trên con đường đẹp nhất Việt Nam. 

vàng tâm, cây trồng, chặt cây, Hà Nội

Vàng tâm (danh pháp khoa học Magnolia fordiana) là một loài cây gỗ thuộc họ Mộc lan. Cây xanh thường cao trung bình 25 - 30m, đường kính thân cây 70 - 80cm. Ảnh: ST   Vỏ cây có màu xám trắng, dày khoảng 1cm. Cành non, lá non có lông tơ màu nâu. 

vàng tâm, cây trồng, chặt cây, Hà Nội

Lá vàng tâm là chất da, dày, hình bầu dục dài, dày 5 - 17cm, rộng 1,5 - 6,5 cm, đầu nhọn, cuống lá dài 1,4cm, màu nâu đỏ.

vàng tâm, cây trồng, chặt cây, Hà Nội

Ảnh: ST   Hoa vàng tâm thuộc loại lưỡng tính, mọc đơn độc ở đầu cành. Cuống hoa dài 1 - 2cm, cánh hoa màu trắng, nhị nhiều, lá noãn nhiều, xếp như hình xoắn ốc. Đôi khi hoa vàng tâm cũng có màu hồng nhạt ở phần đầu cánh. 

vàng tâm, cây trồng, chặt cây, Hà Nội
Ảnh: ST Mỗi lá noãn chứa 5 noãn. Mùa hoa vàng tâm nở thường rơi vào khoảng thời gian từ tháng 3 - tháng 5, mùa quả là khoảng tháng 9, tháng 10. 
Ảnh: ST   Quả của cây vàng tâm có hình trứng hay tròn trứng, dài 4 - 5,5cm. Phân quả đại chất thịt, màu đỏ thẫm; lúc chín hóa gỗ, màu tím, ngoài có nhiều mụn lồi, đầu tròn hay có mũi nhọn nhỏ rất ngắn. Cây vàng tâm được tái sinh bằng hạt.
 Ảnh: ST   Nguồn: Wikipedia, BaikeDaibu

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nguyễn V. T - Chân dung Sự Thật

Tôi cố gắng chụp một bức ảnh chân dung Sự Thật, nhưng chụp đi chụp lại hàng trăm lần cũng chỉ có một nửa Sự Thật thôi, còn một nửa luôn luôn bị che khuất. Khi bức ảnh được công bố, nhiều người xem và ồ lên thích thú, ngạc nhiên, hy vọng và căm phẫn. Họ tưởng đang đối mặt với Sự Thật. Tôi khuyến cáo: Đó mới chỉ là một nửa Sự Thật thôi, còn một nửa đang nằm xa phía sau kia. Họ không tin, và bỏ đi, xem tiếp những bức ảnh khác...
Bạn biết Sự Thật có giá bao nhiêu không? Tôi cũng không biết chắc, nhưng đoán chừng đắt lắm, có khi đổi cả mạng sống. Vì thế mà Sự Thật luôn luôn đổ bóng lên mọi diễn biến của đời sống. Bóng đen của nó kéo dài như bóng ma hắc ám, như một áo choàng của quỷ phấp phới bay. Từ trong đó vọng ra những âm thanh khóc cười, những thi vị ướt át, những hân hoan mùi mẫn, những cưỡng hiếp ngọt ngào…
Ở xứ nhiệt đới, mặt trời luôn hiện diện chói loà, vì vậy, bóng của Sự Thật cũng theo đó mà in rõ ràng lên mặt đất. Chúng tôi sống lâu trong đó, lâu lâu ngó ra ngoài, như những đứa trẻ thiểu năng chơi trò chơi trốn tìm với chính nó trong gương...
Vì vậy, để nhìn được một chút Sự Thật nào đó, chúng ta cần một chút liên tưởng, một chút phán đoán và một chút hoài nghi.
Tôi chụp ảnh một hòn đảo. Từ trên cao nhìn xuống, nó xanh như một cơn mưa, xanh như một cánh đồng, nằm thanh bình trên biển lặng. Bạn thấy chưa? Màu sắc hài hoà, ánh sáng long lanh, rạng rỡ, đẹp lắm! Nhưng nó mới chỉ là bóng dáng của Sự Thật thôi. Đúng ra đó chỉ là một ảo ảnh. Trên vùng biển tôi vừa bay qua, không hề có hòn đảo nào hết. Tôi nghĩ đến nó và nó có mặt. Những người khác, biết nó không còn là chính nó, nhưng vẫn khen: đẹp quá, yêu quá, gắn bó quá, ruột thịt quá! Họ đang tránh né Sự Thật để vỗ về một ảo ảnh.
Siêu hình quá, phải không?
Công việc viết lách bắt tôi nghi ngờ và tưởng tượng. Không ai muốn thế cả. Một người thì được, một trăm người vẫn còn được. Nhưng nếu cả một cộng đồng hoài nghi và tưởng tượng, thì có hai khả năng: một là cộng đồng đó vĩ đại, hai là cộng đồng đó sắp lao xuống vực thẳm.
Vì sao ư?
Đơn giản thôi: họ sẽ mất hết niềm tin, trước khi có một niềm tin khác thay thế.
Nhìn vào một gương mặt tươi cười đang nói về những chiến công, thành quả vân vân... trong một tấm ảnh, tất cả mọi người đều không nghĩ tấm ảnh đó là Sự Thật.
Cảm giác hoài nghi có tính lây lan. Diễn, làm gì có chuyện đó, phét lác, lừa lọc... Tôi đã nghe tận tai những từ ấy, tại một cuộc triển lãm ảnh về cuộc sống đương đại tổ chức trong bảo tàng thành phố, hôm qua.
Sự hoài nghi sẽ đến lúc ám ảnh mạnh mẽ khiến tôi và bạn hoài nghi chính mình. Hoài nghi nỗi hoài nghi. Và không sớm thì muộn, tôi và bạn phải truy đến cùng: Cái ấy, bắt đầu từ đâu? Ai, thế lực nào đã tạo ra nó? Hay đơn giản, nó chỉ là một minh chứng cho thuyết ý niệm tuyệt đối của Hegel?
Muốn ăn một khúc mía, bạn phải bóc vỏ nó. Muốn vứt bỏ hoài nghi, bạn hãy tắt ánh sáng đi, tắt mặt trời đi. Khi đó, đêm đen sẽ bao trùm, bạn bước đi. Bàn tay nếu nắm được bàn tay, sẽ là bàn tay thật sự, chứ không phải là một công cụ đeo bám bên cạnh con người. Khuôn mặt nếu nhìn thấy khuôn mặt, thì đó sẽ là khuôn mặt thật, chứa chan hơi ấm của sự sống, chứ không phải là một vật trang trí phía trên thân xác con người...
No´i như vây cu~ng co´ nghi~a la` ba?n se~ hiêm khi găp đươc môt gương măt xưng đa´ng vơi ca´i tên go?i cu?a no´ giưa thanh thiên ba?ch nhât. Điêu đo´ co´ pha?i la` bi ki?ch không? Tu`y ba?n nghi~. Chi? co´ điêu na`y: cuôc sông ma` chu´ng ta đang sông, thưc sư chưa bao giơ châm dưt ca´c bi ki?ch vui ve?. Vi` vây, tôi thường nôc rươu rât hăng ha´i va`o môi đêm, va` trong mơ, thi?nh thoa?ng tôi co´ găp môt sô măt ngươi...
Chúng ta luôn luôn phải chiêm ngưỡng cái bóng của Sự Thật, mệt mỏi quá phải không? Bạn hãy tìm cách thư giãn đi. Xem một cuộc thi hoa hậu, chẳng hạn. Ở đó có rất nhiều chi tiết cấu thành cái đẹp: những mắt, những môi, phong nhũ phì đồn, những khóc, những cười, phỉ nhổ, hoài nghi, đánh đổi, vân vân. Và sau đó thì đừng thủ dâm, mà hãy trùm chăn nằm ngủ. Trước khi ngủ, bạn tưởng tượng lại gương mặt tròn xoe của một nhà văn vừa bị bắt chiều qua. Có một cái gì đó gần gần giống gương mặt thật. Chừng đó thôi, sau đó, bạn sẽ ngủ một giấc thật dài...
Tôi vừa phóng xe một vòng quanh thành phố, để làm gì, bạn biết không? Tôi đi xem bộ mặt thật của tôi. Mặt tôi không ở trong nhà, không ở trên người tôi, từ lâu lắm rồi. Nó đã rơi đâu đó trong cỏ, trong bùn, dọc ven đường của phố núi bé tẹo này. Thỉnh thoảng tôi có đưa máy lên ngắm mặt tôi và chụp, xong rồi lại xoá đi, vì tôi biết, đó không phải là tôi.
Có một bí mật nho nhỏ: dưới cằm tôi có sẹo. Nói một cách ẩn dụ bóng bẩy thì đấy là dấu vết tổn thương của một tuổi thơ dữ dội và rách nát. Nhưng chẳng có ai biết đâu. Tôi dừng xe lại trên một cây cầu, dưới cầu nước chảy trong veo, chả biết ai từng nói thế. Tôi ngó xuống, và vết sẹo nổi lên, in ngay mặt nước, đỏ chót như một dấu môi hôn...
Đau đớn và đầy tội lỗi, mặt tôi đấy...
Đó cũng mới chỉ là một phần bé tí tẹo của Sự Thật mà thôi!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2015

BÀI PHÁT BIỂU TẠI HỌC VIỆN NGOẠI GIAO VIỆT NAM

Đại sứ Charlene Barshefsky Thành viên Hợp danh Quốc tế Cao cấp 

Hãng Luật WilmerHale, Washington, D.C.

Nhà khách Chính phủ Hà Nội, Việt Nam

Ngày 6 tháng 3 năm 2015

Cám ơn các quý vị rất nhiều. Thưa Tiến sĩ Nguyễn Hùng Sơn và quý vị, thật là một vinh hạnh lớn lao đối với tôi khi có mặt ở đây, và được hòa mình cùng rất nhiều con người được giao trọng trách về những quyết định cực kỳ quan trọng đối với tương lai của Việt Nam và tương lai mối quan hệ Việt-Mỹ. Tôi chân thành cảm ơn Học viện đã cho tôi cơ hội quý báu này.

Tôi cảm thấy thực sự vui mừng được có mặt ở đây vào một thời điểm cực kỳ trọng đại về chính sách thương mại - khi mà Việt Nam, Hoa Kỳ, và 10 quốc gia đối tác thương lượng khác đang chuẩn bị hoàn tất Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP). Đây là một nhiệm vụ đặc biệt khó khăn: 29 chương có nội dung pháp lý và chính sách về thuế quan, quy tắc xuất xứ, quản lý hạn ngạch, kiểm tra hải quan và nông nghiệp, một số khía cạnh về viễn thông và quản lý tài chính, buôn bán động vật hoang dã và quản lý thủy hải sản, cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước, Internet và dòng dữ liệu, quan hệ lao động liên quan đến thương mại, các quy định về đầu tư nước ngoài, và nhiều nội dung khác - tất cả đều được cùng lúc thương lượng giữa 12 quốc gia.

Có lẽ đây là hiệp định kỹ thuật phức tạp nhất mà Hoa Kỳ từng tham gia, và được thực hiện bên ngoài khuôn khổ Vòng Đàm phán Uruguay là cơ sở thành lập của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Hoặc, nói cách khác, Hiệp định Thương mại Song phương Việt-Mỹ năm 2000 dài 57 trang (không bao gồm các biểu thuế). Bản in của các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) gần đây của Hoa Kỳ dài hàng trăm trang, dày hơn 15cm và nặng đến vài ki-lô-gam. Do nhiều hơn tới bảy chương, bản in của hiệp định TPP có lẽ sẽ còn dày hơn nhiều và nặng hơn nhiều nữa. Do vậy, nếu TPP được hoàn tất và phê chuẩn, TPP sẽ là một chiến tích lớn về thương thuyết. Và vì TPP có rất nhiều chủ điểm mới - như Internet và dòng dữ liệu, cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước, quản lý thủy hải sản - nên TPP có thể là mốc tham chiếu cho hệ thống thương mại toàn cầu trong tương lai.

Một điều rất tự nhiên là nhiều cán bộ, doanh nghiệp, học giả và công chúng Việt Nam sẽ suy nghĩ nhiều về TPP, và băn khoăn bằng cách nào TPP có thể phù hợp với các kế hoạch của các quốc gia đối tác khác, và đặc biệt là trường hợp của Hoa Kỳ. Rõ ràng là bản thân tôi không phải là thành viên của Chính phủ và cũng không được biết về những gì Chính phủ đang dự tính, và tôi cũng không mong muốn lên tiếng nhân danh Chính phủ. Tuy nhiên, tôi đã theo dõi các vấn đề

này rất sát sao, trao đổi thường xuyên với các quan chức Chính phủ và những nhân vật trong Quốc hội, và tôi có thể phát biểu dựa trên cơ sở này.

I. QUAN HỆ VIỆT - MỸ: GIAI ĐOẠN 2000-2015

Chúng ta hãy bắt đầu bằng góc nhìn này: năm nay, chúng ta sẽ có hai lễ kỷ niệm lớn. Đó là kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao Việt - Mỹ năm 1995, và kỷ niệm 15 năm ký kết Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ vào mùa hè năm 2000. Chúng ta đang nói về một khoảng thời gian ngắn - tuy nhiên, lại là một khoảng thời gian đầy ắp những sự kiện đáng ghi nhớ, và khoảng thời gian đã chứng kiến một số hy vọng trong kỷ nguyên bình thường hóa quan hệ ngoại giao đã thành hiện thực.

Tôi xin được bắt đầu với một số ý kiến nhận xét mà Tổng thống Clinton đã đưa ra trong bài phát biểu của ngài tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Tổng thống Clinton đã nói về việc ký kết Hiệp định Thương mại Song phương như sau:

“Tôi cho rằng mùa hè năm nay sẽ được coi là một bước tiến quan trọng hướng đến một tương lai thịnh vượng cho các bạn, khi Việt Nam và Hoa Kỳ đã ký kết hiệp định thương mại song phương mang tính lịch sử, tạo nền móng để Việt Nam sau này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới. Theo hiệp định này, Việt Nam sẽ trao cho công dân của mình, vào theo thời gian, cho công dân của các quốc gia khác, quyền xuất nhập khẩu và phân phối hàng hóa…, quy định rằng các quyết định quan trọng phải được đưa ra dựa trên quy tắc pháp quyền và hệ thống thương mại quốc tế, tăng cường dòng thông tin cho người dân, và thúc đẩy phát triển nền kinh tế mở và đẩy mạnh tăng trưởng của khu vực tư nhân. Tất nhiên, điều này sẽ tốt cho các đối tác nước ngoài của Việt Nam, ví dụ cho Hoa Kỳ. Tuy vậy, điều này cũng sẽ đem lại nhiều điều tốt đẹp hơn cho các nhà doanh nghiệp của Việt Nam, những người đang hết sức nỗ lực để xây dựng doanh nghiệp của chính họ. Theo tính toán của Ngân hàng Thế giới, nhờ có hiệp định này, Việt Nam sẽ có thêm 1,5 tỷ đô la mỗi năm chỉ tính riêng từ xuất khẩu”.

Sau đó, ngài Tổng thống nhận xét rằng những sinh viên như những người đang có mặt tại đó sẽ trở thành “động cơ cho sự thịnh vượng trong tương lai của Việt Nam”, và công bố chương trình học bổng có tên Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF), theo đó mỗi năm sẽ đưa 100 sinh viên sang Hoa Kỳ học tập trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và y học”.

Những sinh viên tham dự hôm đó, giờ đây đã ở tuổi vừa ngoài ba mươi. Có thể cho rằng, đúng như Tổng thống Clinton đã dự đoán, một số đã lập nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh, học giả, đầu tư và thương mại quốc tế. Khi trưởng thành, họ đã tham gia trong một trong những câu chuyện đáng ghi nhớ nhất trên toàn cầu về tăng trưởng, giảm nghèo đói, và phát triển kinh tế: một sự thay đổi mà khiến cho một số dự đoán trong thời kỳ này– đặc biệt là dự đoán của Ngân hàng Thế giới về tăng trưởng xuất khẩu ở mức 1,5 tỷ đô la Mỹ - dường như trở nên khiêm tốn.

Thương mại đã phát triển với một tốc độ ngoạn mục. Trên thực tế, kể từ năm 2000, Việt Nam đã trở thành đối tác có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong số 50 quốc gia đối tác quan hệ thương mại lớn nhất của Hoa Kỳ. Đa số tăng trưởng là tăng trưởng nhập khẩu, từ 800 triệu đô la Mỹ nhập khẩu cà phê và tôm năm 2000 lên 30 tỷ đô la Mỹ nhập khẩu quần áo, đồ gỗ, điện tử dân dụng, giầy dép, cá, gạo và thực phẩm chế biến năm 2014. Năm ngoái, người Mỹ đã nhập khẩu từ Việt Nam nhiều hơn so với từ rất nhiều các quốc gia lớn khác như Nga và Brazil. Và trong năm 2014, Việt Nam đã vượt xa Malaysia và Thái Lan để trở thành nước xuất khẩu hàng hóa lớn nhất trong khối ASEAN vào thị trường Hoa Kỳ. Tôi xin lấy một vài ví dụ đáng kinh ngạc là Việt Nam:

- đứng thứ ba trên thế giới, sau Trung Quốc và Hàn Quốc, về số lượng công-ten-nơ xuất khẩu sang Hoa Kỳ, trung bình có 1.700 công-ten-nơ xuất khẩu sang Hoa Kỳ mỗi ngày.

- đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu giày dép và quần áo sang Hoa Kỳ. Mỗi buổi sáng, có khoảng 40 triệu người dân Mỹ xỏ chân vào giày được may và dán keo tại thành phố Hồ Chí Minh, và con số người dân Mỹ mặc quần áo sản xuất tại Việt Nam thậm chí còn cao hơn.

- là nước xuất khẩu lớn thứ tư về đồ gỗ và lớn thứ bảy về điện thoại di động;

- là nước xuất khẩu lớn thứ sáu về cá và hải sản, và đứng thứ mười hai về thực phẩm và nông sản nói chung.

Một điều thú vị về thương mại nông nghiệp và hải sản là trong khi rất nhiều trong số hàng nhập khẩu này sẽ tìm đến các cửa hàng thực phẩm lớn, thì Việt Nam cũng có bán thẳng đến một nhóm các nhà hàng và cửa hàng thực phẩm chuyên phục vụ đồ ăn Việt - Mỹ. Một điều tra mới đây cho thấy có 3.200 nhà hàng phở trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ - trong đó có hàng chục nhà hàng tại Washington - và mỗi thành phố của California có ít nhất một chợ Việt Nam. Đây là những mối ưa thích mua hàng hóa Việt Nam một cách tự nhiên, và là bằng chứng cho thấy sức mạnh ngày càng tăng của Internet trong việc kết nối các doanh nghiệp nhỏ và các cộng đồng thiểu số xuyên biên giới và xuyên đại dương. Kết nối này giúp cho Việt Nam cân bằng được sự phụ thuộc vào các nhà bán lẻ lớn và các chuỗi chuyên mua hàng hóa do khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) sản xuất, bằng một mạng lưới lâu dài các mối mua hàng quy mô nhỏ, chuyên dụng và trung thành của nông sản Việt Nam.

Ở chiều nhập khẩu, Việt Nam vẫn là một thị trường tương đối nhỏ đối với Hoa Kỳ, với trị giá chỉ dưới 6 tỷ đô la Mỹ trong năm 2014. Con số này tương đương với Thụy Điển hoặc Nam Phi, và so với năm 2009, đã tăng lên gần gấp đôi: ô tô và chất bán dẫn cho các nhà máy và doanh nghiệp, sữa đặc cho các cửa hàng cà phê tại Việt Nam, bông và đậu nành, v.v. Tổng giá trị FDI vẫn ở mức khiêm tốn, nhưng cũng đã đạt gấp đôi lên mức 1,4 tỷ đô la Mỹ kể từ năm 2010.

Những dữ liệu trên phù hợp với sự thay đổi trên thực tế với quy mô lớn. Một điều đáng kinh ngạc là kể từ khi ký kết Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ, và gia nhập WTO vài năm sau đó, , Việt Nam đã trở thành một trong các nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới, và là một trong các

quốc gia thành công nhất về xóa đói giảm nghèo. Trên thực tế, nền kinh tế Việt Nam đã tăng gấp ba lần về quy mô và thu nhập tính theo đầu người đã tăng hơn gấp đôi. Tính từnăm 2000, tỷlệ nghèo cùng cực trên cả nước đã giảm từ 45% vào năm 2000 xuống còn 2,4%. Đây là một thành tựu đáng khâm phục, mà ít có quốc gia nào trên thế giới đạt được.

Để hướng tới việc hoàn tất TPP, các chính phủ phải dựa trên những thành công đã đạt được. Rất ít quốc gia đã tích cực hành động về chính sách thương mại trong thập kỷ qua nhưViệt Nam; rất ít quốc gia đã đạt được nhiều thay đổi lớn về chính sách như Việt Nam; và dường như cũng rất ít quốc gia đã có được nhiều thành tựu như Việt Nam. Những nhà thương thuyết và hoạch định chính sách thương mại Việt Nam có uy tín cao trên thế giới, và những thành quả này cũng là những gì xứng đáng nhận được.

II. TPP VÀ GIAI ĐOẠN TIẾP THEO: QUAN SÁT

Vậy thì từ đây, chúng ta sẽ đi tới đâu? Một điều rõ ràng là có nhiều quyết định lớn vẫn chưa được đưa ra nhưng sẽ phải đưa ra khi TPP dần đi đến hồi kết: về chính sách nông nghiệp, sở hữu trí tuệ, dệt may, doanh nghiệp nhà nước, Internet và dòng dữ liệu, và nhiều vấn đề khác.

Mỗi trong số các vấn đề này là một chủ đề riêng và sẽ được tìm hiểu sâu. Người ta cũng có thể nghiên cứu vềtác động chung của Hiệp định này – một nghiên cứu của Học viện Kinh tế Quốc tế Peterson tại Washington đã ước tính rằng TPP sẽ đem lại tăng trưởng thu nhập trịgiá 375 tỷ đô la Mỹ cho các quốc gia thành viên tính đến năm 2025 – trong đó Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ việc tăng trưởng thu nhập trị giá 46 tỷ đô là Mỹ tính đến năm 2025, tăng 14% và là mức tăng cao nhất trong số các quốc gia thành viên TPP.

Tuy nhiên, tôi muốn trình bày với các bạn về tác động của TPP đối với Hoa Kỳ với nghĩa rộng hơn; lý do tại sao chính quyền Hoa Kỳcoi TPP (cùng Hiệp định Thương mại Tự do Xuyên Đại Tây Dương, gọi tắt là T-TIP, với Châu Âu) là điểm nhấn của chính sách thương mại trong thập kỷ này; và cách thức mà Quốc Hội Mỹ thường áp dụng để xử lý các dự luật thương mại. Bằng cách này, các bạn có thểnhìn nhận chính sách của Hoa Kỳ theo từng vấn đề cụ thể cho từng bối cảnh phù hợp.

Tôi tin tưởng rằng từ góc độ của chính phủ Hoa Kỳ, theo một cách nào đó, TPP là câu trả lời cho ba câu hỏi khác nhau: một câu hỏi về địa chính trị và chiến lược ở Thái Bình Dương; một câu hỏi về chiến lược thương lượng thương mại; và một câu hỏi về sự cần thiết của việc hưởng ứng một thay đổi toàn diện vềbản chất thương mại.

1. Địa chính trị: TPP như là một Yếu tố về An ninh Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

Thứ nhất: Quyết định của Hoa Kỳtrong việc gia nhập TPP một phần là cách thể hiện tức thì quan điểm lâu dài của Hoa Kỳ về chiến lược Châu Á-Thái Bình Dương - với một niềm tin rằng Hoa Kỳ là một quốc gia Thái Bình Dương, với những lợi ích sống còn trong sự ổn định tại Thái Bình Dương và tham gia vào sựphát triển của khu vực.Về nét nghĩa này, TPP là mỏ neo kinh tếcho mục tiêu của chính quyền Hoa Kỳ trong việc ‘tái cân bằng’ chính sách đối ngoại để tập trung mạnh mẽ hơn vào khu vực châu Á và Thái Bình Dương.

Có lẽ ít người ởHoa Kỳ có thể thấy được rằng những lợi ích này đang bị đe dọa nghiêm trọng. Trên thực tế, hầu hết các nhà ngoại giao và học giả Hoa Kỳ sẽ cho rằng 20 năm vừa qua là một khoảng thời gian thật sự tốt đẹp tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.

- Kinh tế khu vực này đã bùng nổ, đạt được mức tăng trưởng từ 26% lên 37% trong GDP toàn cầu, và tỷ lệ nghèo đói đã giảm nhanh chóng - có lẽ giảm mạnh nhất là ởViệt Nam, tuy nhiên, đói nghèo cũng đồng thời giảm tại các nước như Campuchia, Lào, Indonesia, và các nước khác.

- Tăng trưởng bền vững của khu vực, đặc biệt của Trung Quốc, đã dẫn đến một số điều chỉnh và căng thẳng đáng kể, tuy vậy, cũng giúp giảm nhẹ tác động của cuộc khủng hoảng tài chính những năm 2008-2009 và đã giúp đẩy lùi được cuộc khủng hoảng này nhanh chóng hơn.

- Các xu hướng về việc hợp nhất ASEAN thông qua Cộng đồng Kinh tế ASEAN là bằng chứng thuyết phục về niềm tin và sựgắn kết liên tục của khu vực Đông Nam Á.

- Mặc dù quan hệcủa Hoa Kỳ với Trung Quốc có nhiều điểm căng thẳng, nhưng Chính phủ Hoa Kỳqua nhiều nhiệm kỳ tổng thống kể từ thập niên 1970 đều cho rằng những căng thẳng này là ở mức có thể xử lý, kiểm soát được, và đều nhìn nhận rằng cả Hoa Kỳ và Trung Quốc đều có chung lợi ích trong việc gìn giữ ổn định và an ninh, và đều được hưởng lợi lớn từ mối quan hệ kinh tế suôn sẻ.

Tuy nhiên, ngày nay cũng đã xuất hiện nhiều dấu hiệu và nguyên nhân gây lo ngại. Châu Á tiếp tục phải hứng chịu những cuộc xung đột lịch sử và tranh chấp lãnh thổ. Căng thẳng ởvùng biển phía Nam Trung Quốc rõ ràng là một thách thức cực kỳ nguy hiểm. Về vấn đề này, do những thay đổi về tác động và quyền lực chính trị từ sức mạnh kinh tế của Trung Quốc, chúng tôi đã phải nghiên cứu kỹlưỡng cơ cấu liên minh hiện nay của Hoa Kỳ và phải hiện đại hóa các cơ cấu này.

Tương tự, sự khác biệt giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc cũng đã không mất đi hay thay đổi quá lớn trong vòng một thập kỷ vừa qua, và phần lớn những nhà hoạch định chính sách trong ngành ngoại giao và quân sự Hoa Kỳ, thuộc cả hai đảng ở Hoa Kỳ, đều cho rằng một điều cực kỳquan trọng là Hoa Kỳ phải giữ vững cam kết và sự hiện diện của Hoa Kỳ tại khu vực này.

Vì tất cả những lý do này, các nhà ngoại giao Hoa Kỳtiếp tục tin tưởng rằng - trên cơ sở có được sự ủng hộ rộng rãi từ giới học giả, doanh nghiệp và Quốc hội Hoa Kỳ- liên minh lịch sử của Hoa Kỳ tại khu vực Thái Bình Dương vẫn luôn là trụ cột cho an ninh toàn cầu và của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ; rằng Hoa Kỳ nên mở rộng các liên minh này đểcó thêm những mối quan hệ mới, ví dụ như mối quan hệ đang được xây dựng với Việt Nam và ở một chừng mực nào đó, với Myanmar; và rằng một điều cơ bản nhất là Hoa Kỳcó lợi ích quốc gia sống còn trong việc tham gia vào việc hoạch định chính sách tại Châu Á-Thái Bình Dương về thương mại cũng như về các lĩnh vực khác.

Theo quan điểm của chính phủ Hoa Kỳ, TPP là một phần quan trọng để đạt được mục đích này. Tôi xin trích lời của cựu Cố vấn An ninh Quốc gia Thomas Donilon nhưsau:

“Hoa Kỳsẽ đặt mục tiêu xây dựng một mạng lưới đối tác kinh tế hùng mạnh giống như mạng lưới liên minh ngoại giao và an ninh của Hoa Kỳ- đồng thời với việc đẩy mạnh hệ thống thương mại đa phương. TPP cũng là lời tuyên bố tuyệt đối về cam kết chiến lược của Hoa Kỳvề hiện diện của Hoa Kỳ ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương lâu dài. Và sự tăng trưởng có được từ hiệp định Hoa Kỳ-Châu Âu sẽ giúp bảo đảm cho NATO, liên minh mạnh nhất trong lịch sử”.

Về khía cạnh này, TPP là một mỏ neo kinh tế, bảo đảm rằng Hoa Kỳtiếp tục là quốc gia đi đầu trong hoạch định chính sách kinh tế khu vực Thái Bình Dương và không đơn thuần là một quốc gia quyền lực đứng bên ngoài trên cơ sở có hiện diện quân sự. Nhận xét của Tổng thống Obama trong bài phát biểu thường niên trước Quốc hội Hoa Kỳ vào tháng Giêng năm ngoái rằng TPP là một cách thức để bảo đảm - rằng Hoa Kỳ không đơn giản nhường lại “quyền đặt ra quy tắc” cho Trung Quốc - là một ví dụ gần đây nhất đểmột lần nữa nhấn mạnh quan điểm này.

2. Chiến lược Thương mại: TPP như là một cách đối phó với trải nghiệm vòng đàm phán Doha

Thứ hai: TPP và “T-TIP” là cách mà các nhà hoạch định chính sách thương mại Hoa Kỳ đối phó với trải nghiệm về thương lượng đa phương tại WTO và các cuộc đàm phán khác. Một hy vọng tương tự là sẽ tìm kiếm được một cách thức để phá vỡ thế bết ắc kéo dài và không hiệu quả giữa Hoa Kỳ và rất nhiều quốc gia khác với bên kia là các nền kinh tế lớn mới nổi.

WTO bắt đầu Vòng đàm phán Doha năm 2001, với hy vọng ký kết được một hiệp định thương mại đa phương thứ13 với hàng loạt các vòng đàm phán bắt đầu từ những năm 1940. Tuy nhiên, các thành viên WTO đã không thể hoàn tất thương lượng. Đây là thất bại lần đầu tiên trong việc hoàn tất một Vòng đàm phán trong lịch sử70 năm kể từ khi bắt đầu các cuộc thương lượng đa phương vào năm 1945. Trên cơ sở không đưa ra bất kỳ lời đổ lỗi cụ thể nào, sự thất bại này dường như bắt nguồn từ sự khác biệt sâu sắc về các điều khoản của hiệp định cuối cùng. Điều này lại thể hiện sự bất đồng trong quan điểm về đa phương nói chung.

Để đưa ra một tổng quan ngắn gọn và đơn giản, Hoa Kỳ đã hi vọng rằng Vòng dàm phán Doha sẽ là một dạng mở rộng hơn hệ thống hiện tại, theo đó tất cả các nền kinh tế lớn sẽ đảm nhận các nghĩa vụ mới, thương mại nông nghiệp sẽ được giải phóng, và WTO sẽ bắt đầu quá trình giải quyết về thương mại dịch vụ theo chiều sâu. Mặt khác, nhóm các nền kinh tế mới nổi, với trung tâm xoay quanh Ấn Độ và Brazil với Trung Quốc với tư cách là quốc gia ủng hộ có ảnh hưởng lớn, đã chủ trương “tái cân bằng” hệ thống hiện tại.

Theo cách này, những sự bất cân bằng đã được ghi nhận cho các nền kinh tế đang phát triển có thể được rút lại, và các nghĩa vụ mới có thể sẽ bị hạn chế theo khái niệm “chế độ đối xử đặc biệt và khác biệt”. Các nền kinh tế tiên tiến hơn sẽ đảm đương nhiều nghĩa vụ hơn.

Đây là một sự khác biệt cơ bản về quan điểm. Khác biệt này đã cản trở các cuộc đàm phán WTO cho đến khi hoàn tất Hiệp định Hỗ trợ thương mại vào năm ngoái, và đã xuất hiện ở các diễn đàn khác cũng như tại WTO: Hiệp định Khu vực Thương mại Tự do châu Mỹ, các cuộc thương lượng về biến đổi khí hậu, Hội nghị Thế giới về Công nghệ thông tin, v.v.

Căn cứ, lý lẽ của những quan điểm khác nhau này tất nhiên là một vấn đề đáng đ ểbàn luận. Tuy nhiên, cho mục đích hoạch định chính sách thương mại, một điều nhận được sự đồng thuận mạnh mẽ của các nhà thương thuyết và chuyên gia thương mại Hoa Kỳ, và bao gồm cảchính phủ, Quốc hội, và giới doanh nghiệp - là sẽ nhất định không ủng hộ khái niệm rộng về đối xử đặc biệt và khác biệt đối với Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, hay các quốc gia có mức thu nhập trung bình nhỏ hơn khác.

Các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ do vậy đã trở nên bi quan ởmột mức độ nào đó về WTO với tư cách là diễn đàn thương lượng trong tương lai gần. Trên thực tế, họ có thể lo ngại rằng việc tiếp tục đóng vai ‘quốc gia đưa ra yêu cầu’ chống lại bên kia là nhóm các nền kinh tế mới nổi sẽ làm giảm sút quyền lực của Hoa Kỳ, ngăn Hoa Kỳ không hành động cùng các quốc gia đối tác khác và giải quyết các vấn đề có tầm quan trọng ngày càng gia tăng.

Do vậy, họ đã quyết định chuyển hướng thương lượng với nhóm kinh tế mới nổi sang các hướng song phương và thực thi các hiệp định hiện có, và nâng mức độ ưu tiên cho các đối tác khác. TPP và T-TIP đều là cách thể hiện sự hồi đáp lại với trải nghiệm Doha, theo đó Trung Quốc, Ấn Độ, và Brazil được

đưa ra khỏi trung tâm thương lượng, và được thay thế bằng Liên minh Châu Âu trong T-TIP, và

Canada, Mexico, Nhật Bản, Việt Nam, và các nước khác trong TPP.

3. Các Vấn đềMới: Internet và Bản chất Thương mại Đang Thay đổi

Thứba: Việc tái xác định mức độ ưu tiên này còn trở nên cấp bách hơn do sự thay đổi nhanh chóng của bản chất thương mại - một sựthay đổi mà dường như vừa đòi hỏi phải hoàn tất thương lượng nhanh chóng hơn, vừa đòi hỏi các cuộc thương lượng này phải bao gồm những vấn đề mới một cách cơ bản.

Một lần nữa, nếu chúng ta đơn giản hóa thật sâu, thì sự kiện thương mại lớn của thế kỷ 20 là việc đồng thời phát minh ra công-ten-nơ đểvận chuyển hàng hóa và các cuộc thương lượng thuế quan đa phương. Điều này có nghĩa là từnhững năm 1950 đến đầu thế kỷ này, các rào cản đối với thương mại sản xuất hàng hóa đã liên tục giảm, trong khi năng lực vận chuyển hàng hóa trên toàn cầu liên tục tăng.

Lẽ đương nhiên là điều này dẫn đến một sự tăng trưởng mạnh mẽ về thương mại, và ngành sản xuất nổi lên như là ngành thương mại chủ chốt. Sự bùng nổ và phát triển vũ bão của Internet kể từ năm 2000, dường như cũng là một sự kiện tương tự cho các doanh nghiệp dịch vụ cỡ nhỏ. Chúng ta có thể nhớ rằng mạng World Wide Web (mạng www.) được khai sinh năm 1993. Kểtừ đó, sự phát triển, cải thiện đều đặn của mạng này đã giúp chúng ta giảm một cách thần kỳ chi phí viễn thông quốc tế- đối với dịch vụ điện thoại từ Hoa Kỳ, từ mức trung bình là 1 đô la Mỹ mỗi phút vào năm 1993, xuống chỉ còn 4 xu mỗi phút ngày nay. Và nó đã giúp kết nối một số lượng người khổng lồ với nhau.

Khi Tổng thống Clinton phát biểu tại Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2000, có 20.000 người Việt Nam đang sử dụng Internet; và con số này bây giờ là 41 triệu. Trên toàn cầu, mức tăng trưởng tương ứng là 360 triệu người sử dụng thời điểm đó nay đã tăng thành 3 tỷ. Khi chi phí giảm và khả năng tiếp cận gia tăng, chúng ta có thể thấy hai tác động của Internet đối với thương mại như sau:

- Việc tạo thành một ngành dịch vụ toàn cầu, tương đương với việc phát triển các chuỗi cung ứng toàn cầu về thực phẩm và hàng hóa chế tác. Với điều kiện được tiếp cận thị trường và nếu các chính phủ có thể bảo đảm tránh được các thách thức vềan ninh mạng, chúng ta có thể trông đợi việc hình thành một thếgiới toàn cầu hóa về giải trí, tài chính, phân tích dữliệu, giáo dục, chăm sóc sức khỏe chuyên ngành, và các dịch vụ khác sẽ phát triển nhưvũbão trong thập kỷtới. Đây rất có thểsẽlà một trong những ngành đi đầu trong việc tạo ra của cải và cải thiện cuộc sống trong lịch sửnhân loại.

- Và việc “dân chủ hóa” thương mại, với việc các doanh nghiệp nhỏ và cá nhân ngày nay đã có thể tìm kiếm khách hàng, quản lý công việc giấy tờ, và sử dụng các hệ thống vận chuyển hàng hóa hàng không và chuyển phát nhanh để bỏ qua những chuỗi lớn và để tham gia trực tiếp vào thương mại. Theo số liệu thống kê của chúng tôi, chúng tôi thấy đã có bước nhảy vọt về con số doanh nghiệp xuất khẩu từ khoảng 225.000 doanh nghiệp lên tới 305.000 doanh nghiệp trong một thập kỷvừa qua.

Đối với Việt Nam cũng nhưcác quốc gia đang phát triển khác, dịch vụInternet toàn cầu và chất lượng cao hứa hẹn đem lại nhiều lợi ích quan trọng. Một lợi ích là giúp tăng hiệu quả thương mại và mức độ hấp dẫn của Việt Nam đối với các nhà đầu tư về chế tác, sản xuất. Một lợi ích khác là kéo theo sự xuất hiện của các sản phẩm và dịch vụ mới cho thịtrường trong nước; và tạo ra năng lực mới cho các nhà sản xuất trang trại, ngành giải trí và phim ảnh tiếng Việt, các doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp ở tỉnh, trong việc vươn ra các thịtrường trên thế giới.
Tuy nhiên, điều quan trọng đối với vấn đề này là Internet và các dịch vụ toàn cầu mà Internet hỗ trợ phải đáng tin cậy đối với người sử dụng về biểu thuế và cảng cũng như đối với các nhà sản xuất. Điều này nghĩa là chính sách thương mại phải bắt kịp với công nghệ- và những nhà hoạch định chính sách cần cân nhắc những vấn đề kỹ thuật phức tạp mà luôn là những vấn đề thách thức về trí tuệ và thường cũng rất thách thức về chính trị:

- Các dòng dữ liệu xuyên biên giới;

- Đàm phán phù hợp về tiếp cận thị trường cho thương mại dịch vụ;

- Phát triển hệ thống thanh toán trực tuyến an toàn;

- Tạo lập các mạng lưới vận chuyển hàng không và chuyển phát nhanh hiệu quả;

- Dịch vụInternet giá rẻ và có sẵn để truy cập trên toàn cầu;

Những vấn đề này chỉ được đề cập rất sơ khai trong Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ. Không tính đến Hiệp định Hỗ trợ Thương mại mới đây, các hiệp định WTO thậm chí còn đề cập ở mức độsơkhai hơn - và một WTO với cải cách nông nghiệp và các lập luận mang tính triết học về chế độ đối xử đặc biệt và khác biệt có lẽ sẽ không thể kiểm soát nổi các vấn đề này.

Các hiệp định TPP và T-TIP, do bao gồm hầu hết các nền kinh tế tiên tiến trên toàn cầu, có thể có khả năng tiến xa hơn. Đây có lẽ sẽ là những hiệp định đầu tiên thực hiện những việc này, và nếu thành công - nhờ vào quy mô siêu lớn của các hiệp định này - có lẽ sẽ trở thành kim chỉ nam cho nền kinh tế toàn cầu tiếp theo.

VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI HOA KỲ

Chính phủ sẽ thường nhìn nhận các hiệp định theo các nhóm chủ đề lớn: Lợi ích của Hoa Kỳtại khu vực Thái Bình Dương, cách thức tốt nhất để đối phó với sự thất vọng về WTO, và hưởng ứng đối với các công nghệ mới. Chính phủ cũng có các liên minh của mình để quản lý, tất nhiên là vậy - chính phủ của đảng Dân chủ sẽ dựa nhiều hơn một chút vào các vấn đề lao động và môi trường, trong khi những người theo đảng Cộng hòa có lẽ sẽ dựa nhiều hơn vào một số khía cạnh của sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, ở cấp độc hiến lược, quan điểm ‘của tổng thống’ về chính sách thương mại luôn nhất quán kể từ thập kỷ1930, và rất có thể vẫn nhất quán trong nhiệm kỳ tới.

Cách thức của Quốc hội đối với hoạch định chính sách lại rất khác biệt. Ở mức lý tưởng, Chính phủ là nhất thể. Ngược lại, Quốc hội là một tổ chức có tính “đấu tranh” nơi 535 thành viên khác nhau sẽ cố đưa những ưu tiên của riêng họ vào chính sách, và nơi có đến hàng chục các nhà lãnh đạo chính trị và Ủy ban cốgắng đưa những ưu tiên này vào một khuôn khổ mà có thể thỏa mãn yêu cầu của đại đa số thành viên. Các mối quan tâm này có thể được phân chia thành nhiều loại như sau:

- Một số Thành viên quan tâm đặc biệt về thương mại như là một chủ đề và có kinh nghiệm chiều sâu về pháp luật và thương lượng thương mại. Đây thường là các nhà lãnh đạo của các Ủy ban có nhiệm vụ biên soạn và quản lýcác dự luật - mà hiện nay là hai Thượng nghị sĩ Hatch và Wyden, và hai Hạ nghị sĩ Ryan và Levin. Tuy nhiên, họ không đơn độc; những người khác thường có kinh nghiệm được mài rũa từ thời gian làm việc trong chính phủ, doanh nghiệp, giới học giả, và các lĩnh vực liên quan khác. Trên thực tế, một trong những người kế nhiệm của tôi tại Đại diện Thương mại Hoa Kỳ USTR - Rob Portman - hiện là Thượng nghị sĩ của bang Ohio.

- Các Thành viên khác ít quan tâm hơn đến chính sách thương mại ởgóc độlà một vấn đề chung. Các câu hỏi chủchốt của họ mang tính địa phương cao và liên quan đến sự thành công của các doanh nghiệp trong hạt, hoặc các ngành nghềtrong bang. Một Thành viên cụ thể, khi xem xét TPP, có thể lật nhanh cảhiệp định để tìm kiếm những cam kết liên quan đến hạt hạnh nhân, hay dịch vụ tài chính, hay ô tô, và coi đây là những ưu tiên hàng đầu cao nhất của họ. Có một nhóm các Thành viên miền Nam, thường là những người theo đảng Cộng hòa, dành trọn sự quan tâm cho các quy tắc xuất xứ dệt may; một nhóm

khác lại đặc biệt quan tâm đến dòng dữ liệu; v.v.

- Ngoài ra, những người khác lại có thểcó mối quan hệkhăng khít với các nhóm lợi ích cụ thể, ví dụcác nghiệp đoàn lao động, các tổ chức phi chính phủ (NGO) về môi trường và nhân quyền, hay các hiệp hội dân tộc. Họ dựa vào các nhóm này để lấy tư vấn và ý tưởng, và sự quan tâm của họ thường bổ sung hữu ích cho chính sách, hoặc mệnh lệnh chính trị để giải quyết các vấn đề đó, hoặc đồng thời cả hai. Do có một phạm vi quan tâm rộng như vậy, nên những điểm mà Quốc hội quan tâm thường nằm ngoài phạm vi cân nhắc thông thường của một chuyên gia về chính sách “thương mại”. Nhiều người trong Quốc hội thường coi các hiệp định thương mại tự do (FTA) là cơ hội để đánh giá tổng thể về mối quan hệvới một quốc gia đối tác. Các hiệp định với Trung Mỹ và Colombia trong thập kỷ qua gây nhiều tranh cãi, không phải do các vấn đề kinh tế hay do chất lượng của từng chương cụ thể, mà phần nhiều là do những lo ngại lớn về dòng ma túy bất hợp pháp, bạo lực, quyền của người lao động, v.v.

- Và một số thành viên, cho dù chỉ là thiểu số, không quan tâm cụ thể đến nội dung của các hiệp định, mà chỉ xem xét các hiệp định này ở góc độ ảnh hưởng như thế nào đến lợi ích của cá nhân hay của đảng chính trịcủa mình.

Các lãnh đạo Quốc hội, chủ tịch các ủy ban - và chính phủ- phải chắt lọc từrất nhiều những ý kiến và vấn đề ưu tiên này đểcó được một công thức chung theo đó thểhiện được điều giống với “ý muốn của Quốc hội” nói chung. Thông thường từ trước đến nay, phương tiện để thực hiện điều này là ‘Thẩm quyền thúc đẩy Thương mại”, còn được biết đến như là “quy trình rút gọn”, một đạo luật chính thức theo đó quy định các mục tiêu thương lượng và sau đó lập ra những thủ tục để biểu quyết đối với hiệp định cuối cùng. Thông thường, người ta thường nghĩ rằng đây là một quy trình “không cho phép sửa đổi”, cho dù trên thực tế, Quốc hội thường đề nghị một số thay đổi cuối cùng cho hầu hết mọi hiệp định thương mại tự do mà Hoa Kỳ đã ký kết trong 20 năm trở lại đây.

Tình thế của chúng tôi hiện nay, khi mà rất nhiều nội dung quy định của TPP đã được hoàn tất nhưng Quốc hội chưa thông qua đạo luật TPA, có thể nói là có đôi chút khác thường, nhưng không phải quá bất thường. Hai chủ tịch ủy ban quan trọng của Quốc hội là Thượng nghị sĩ Hatch và Hạ nghị sĩ Ryan, đều nhấn mạnh rằng chính quyền không nên hoàn tất hiệp định TPP cho đến khi Quốc hội đã bỏ phiếu về TPA. Đây là một cảnh báo phải được tuân thủ một cách nghiêm túc, đặc biệt là vì tiếng nói của Quốc hội có ý nghĩa quan trọng nhất đối với các vấn đề vẫn còn là các vấn đề mở, mà về bản chất, đó là những vấn đề khó khăn nhất vềchính trị, là thách thức mới nhất và khó nhất về kỹ thuật, hoặc cùng lúc là cả hai.

Vềviệc lựa chọn thời điểm thích hợp, kinh nghiệm từ trước đến nay cho thấy rằng thời điểm thuận lợi nhất để xử lý các dự luật thương mại là vào mùa xuân hoặc đầu mùa thu. Thông thường trong năm, đây là những giai đoạn trước khi Quốc hội bận với việc lập ngân sách và phân bổ ngân sách, và cũng tránh các thời điểm bầu cử sơ bộ và cuối cùng khi tính nhạy cảm lên đến cao điểm.

Một điều quan trọng là Quốc hội rất nghiêm túc vềvai trò hiến định của mình đối với chính sách thương mại; cần phải có sự nhất trí của Quốc hội để thông qua các hiệp định; và Chính phủ phải tôn trọng và luôn tôn trọng vai trò này. Và theo thời gian, khi Chính phủ đưa ra những lý lẽ kinh tếvà đặc biệt là những lợi ích quốc gia đầy tính thuyết phục - như đã từng diễn ra trong các cuộc tranh luận về Hiệp định Tựdo thương mại Bắc Mỹ, Hiệp định Thương mại song phương, hay việc Trung Quốc gia nhập WTO - Quốc hội thông thường luôn sẵn sàng phê duyệt. VềTPP, kinh tế là vấn đề quan trọng hàng đầu - tuy nhiên, chính những lý lẽ về an ninh quốc gia sẽ làm cho TPP trở nên thuyết phục hơn trong mắt các thành viên Quốc hội.

THAY CHO LỜI KẾT

VÀ Ý NGHĨ VỀ CHÍNH SÁCH CHO GIAI ĐOẠN THƯƠNG THẢO CUỐI CÙNG

Hai ý nghĩ cuối cùng về chính sách.

Thứ nhất, tương lai rất lạc quan. Những sinh viên đại học đã tham dự buổi nói chuyện của Tổng thống Clinton năm 2000 hiện nay đã rất trưởng thành trong nghề nghiệp. Trong khi đó, những đứa trẻ mà năm đó đang học mẫu giáo nay đã đang chuẩn bị tốt nghiệp trung học cơ sở, và sẽ trở thành động cơ cho sự thịnh vượng và tăng trưởng của thế hệ tiếp theo.
Thật may mắn cho chúng ta rằng một số sinh viên sẽ theo học đại học tại Hoa Kỳ. Chúng ta đã vượt xa con số100 học bổng bổ sung được công bố vào thời điểm đó - và Việt Nam hiện đứng thứ 8 trên thếgiới về du học tại Hoa Kỳ, với gần 17.000 nam nữ thanh niên theo học tại các trường đại học Hoa Kỳ. Con số này còn cao hơn số du học sinh đến Hoa Kỳ từ Mexico - quốc gia cùng chung đường biên giới với Hoa Kỳ, nhiều hơn con số du học sinh đến từVương quốc Anh, và gần bằng Canada, quốc gia cũng có chung đường biên giới với Hoa Kỳ. Có mọi lý do để tin rằng họ sẽ giúp Việt Nam thay đổi một cách nhanh chóng, và tiến về phía trước nhanh chóng như là thế hệ trước đã làm trong 15 năm qua; và rằng khi họ tiếp tục sống và theo đuổi sự nghiệp, họ sẽ tiếp tục xây dựng nên một mối quan hệ gần gũi hơn và liên quan chặt chẽ với nhau giữa hai quốc gia.

Thứ hai, và điều khó khăn nhất là sửdụng TPP như một cơ hội để nhìn lên phía trước. Trong trường hợp của chúng tôi, chúng tôi có thể nhìn lại phía sau và và thấy những vấn đề lớn ngày nay đang che khuất những vấn đề có thể định hình ngày mai. Trong những năm 1950, các nhà thương thuyết Hoa Kỳ đã dành nhiều thời gian để thảo luận về biểu thuế cho ngành đường sắt; và trong những năm 1980, tương tự với các mức thuế và trợ cấp nước ngoài cho sản xuất máy chữ. Vào thời điểm này, các chủ đề mà rõ ràng người ta có nhiều cảm xúc và quan tâm; khi hồi tưởng lại, là không hiệu quả.

Trong một hiệp định thực sự tốt, các nhà thương thuyết sẽ nhìn về tương lai, và tìm kiếm các chính sách sẽ giúp hỗ trợ phát triển và tăng trưởng mười năm sau. Ví dụ, khi chúng tôi dự tính về Hiệp định hương mại Việt - Mỹ, chúng tôi đã cùng nhìn nhận về tự do hóa kinh tế- không chỉ để hoàn tất Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ, mà còn nhìn ra phía trước cho tương lai và WTO. Sau đó, khi chúng tôi hoàn tất Hiệp định Thương mại Việt - Mỹvà việc gia nhập WTO, Việt Nam vẫn đang là một nước có thu nhập thấp với một danh mục xuất khẩu nghèo nàn tập trung chủ yếu vào cá và cà phê. Ngày nay, Việt Nam là một quốc gia xuất khẩu lớn về các sản phẩm chế tác công nghiệp nhẹ. Sự quan tâm của các nhà thương thuyết Việt Nam trong việc tham gia Hiệp định Công nghệ thông tin (ITA) của WTO, và trong việc giải quyết các câu hỏi phức tạp và nhạy cảm chính trị về quyền thương mại mà tổng thống Clinton đã đềcập, là ví dụ về các chính sách mà có thể đã không giải quyết những lợi ích ngay lập tức.

Tuy nhiên, như được thể hiện qua những cam kết của Samsung, LG, và Nokia về sản xuất điện thoại di động thông minh tại Việt Nam, các chính sách này đã phục vụViệt Nam rất nhiều sau 2 thập kỷ.

Ví dụ, khi chúng ta đánh giá vềTPP, chúng ta có thể đặt câu hỏi rằng: Việt Nam sẽ chuyển tiếp Như thế nào từ vai trò hiện tại là một nước xuất khẩu hàng hóa cho thị trường đại chúng để trở thành một nền kinh tế sáng tạo là trung tâm nghiên cứu và phát triển các sản phẩm mới? Vềvấn đề này, sở hữu trí tuệ sẽ có vai trò như thế nào? Đâu là những chương trình xây dựng năng lực quan trọng nhất? Sau một thập kỷ nữa, Việt Nam sẽ có những nhu cầu gì khi ngành sản xuất của Việt Nam chuyển đổi từ quần áo, giày dép và đồ gỗ sang ô tô và các công nghệ cao cấp? Về khía cạnh này, nghĩa vụ về dịch vụ đóng vai trò như thế nào?

Một điều rõ ràng là một người nước ngoài không thể trả lời được những câu hỏi này cho Việt Nam. Nhưng chúng có thể là những vấn đề quan trọng nhất trong những tuần, những tháng thương thảo cuối cùng này. Và những gì được ghi nhận trong 15 năm qua cho thấy có cơ sở chắc chắn để tin tưởng rằng Việt Nam sẽ tìm ra câu trả lời.

Cám ơn các bạn rất nhiều. Và một lần nữa, tôi xin được gửi lời cám ơn đến Học viện vì đã cho

tôi cơ hội quý báu để được gặp gỡ các quý vị hôm nay.

C.B.
Phần nhận xét hiển thị trên trang