Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2015

THỜI KỲ CHIẾN TRANH TIỀN TỆ MỸ TRUNG THỰC SỰ BẮT ĐẦU?





Năm 2013 tại Johanesburg Nam Phi, Trung Hoa đã đưa ra sáng kiến thành lập ngân hàng BRICS. Năm quốc gia hàng đầu mới nổi thành lập ngân hàng BRICS - gồm Brasil, Rusia, India, China và South Africa - do Trung Hoa cầm đầu. Đến đầu năm 2014 thì ký kết thành lập. Không biết cái BRICS Bank này đã làm được gì chưa, nhưng Nga thì bị trừng phạt và suy sụp kinh tế, Trung Hoa đang khủng hoảng kinh tế, Brasil cũng đang khốn khổ vì kinh tế.

Ngoài ra, khối BRICS có những rạn nứt về văn hóa và chính trị, nên khó thành. Nhưng một số tiến triển hợp tác kinh tế của Trung Hoa với Nam Mỹ gần đây cho thấy ngân hàng BRICS có hiệu quả của nó.

Năm nguyên thủ quốc gia mới nổi thành lập Ngân hàng BRICS vào năm 2014 tại Brasil.

Giờ Trung Hoa lại nghĩ ra "sáng kiến" thành lập Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Á châu (AIIB: Asian Infrastructure Investment Bank) gồm hơn 21 quốc gia thành viên châu Á tham gia, trong đó có Việt Nam. Ngày 24/10/2014, tại Bắc Kinh cuộc họp và ký kết thành lập AIIB đã được tổ chức.

21 bộ trưởng tài chính của 20 quốc gia châu Á ký kết thành lập AIIB tại Bắc Kinh.

Hôm thứ Năm tuần trước ngày 13/3/2015,Geoerge Osborne, bộ trưởng tài chính Anh tuyên bố sẽ tham gia AIIB; tiếp theo sau là Đức, Pháp và Ý cùng tham gia. Bộ trưởng Tài chính Anh George Osborne nói việc tham gia AIIB là một cơ hội đặc biệt cho Anh và cho châu Á để đầu tư và cùng phát triển.

George Osborne hân hoan đồng ý gia nhập AIIB.

Trong chuyến đi thăm Úc cuối năm 2014, ông Tập Cận Bình đã ngỏ lời mới Úc tham gia góp vốn vào AIIB, và thủ tướng Tony Abbott đã rất hoan nghênh ý tưởng này.

Tập Cận Bình đã ngỏ lời với Tony Abbott tham gia AIIB sớm trước thời hạn đóng cửa tham gia vào ngày 31/3/2015 này. Nhưng phía Úc chưa chính thức đồng ý.

Đây sẽ là một ngân hàng đối đầu với World Bank, IMF, kể cả ADB. Mấy hôm nay Hoa Kỳ lo sốt vó vì tại sao Trung Hoa không tham gia vào 3 ngân hàng trên mà lại đi mở ngân hàng mới để làm chủ soái với trị giá 50 tỷ đô la, mặc dù với số vốn này AIIB là ngân hàng nhỏ hơn cả ADB, và không thể sánh với IMF hay World Bank.

Một cuộc chiến tranh tiền tệ giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa đang mở ra. Rất nhiều thông tin và bàn luận của các chuyên gia hàng đầu vạch chính sách cho Hoa Kỳ và khắp thế giới đã viết ra trong mấy ngày qua, nào là AIIB sẽ là thảm họa cho Hoa Kỳ, nào là đồng minh của Hoa Kỳ đang đổ xô đến ngân hàng mới của Trung Hoa. Hôm 13/3/2015, tờ The Guardian chạy tít: Mỹ tức giận Anh chịu sự dẫn đầu của Trung Hoa tại AIIB.

Tất cả các điều trên cho thấy phương Tây đang đi tìm sự liên kết mới để cứu cơn khủng hoảng kinh tế đang đổ ập lên đầu họ. Nhưng cũng không loại trừ phương Tây đang tìm liên minh mới để làm đối trọng với đồng đô la. Chúng ta cũng không loại trừ phương Tây muốn nắm thông tin tình hình tài chính châu Á. 

Ông Obama sẽ thăm Úc vào tháng 5 tới trong chuyến công du 3 quốc gia Đông Á.

Đồng Yuan Trung Hoa cho đến nay vẫn neo đậu tỷ giá ổn định ở mức xung quanh 6.2 Yuan ăn 1 đô la Mỹ. 

Cho đến nay, đồng đô la Mỹ vẫn chiếm 65% dự trữ cho các ngân hàng trung ương trên toàn cầu để bảo hộ mậu dịch và giá trị đồng tiền của quốc gia mình. 15 dự trữ của các ngân hàng trung ương là đồng Euro. Số còn lại là vàng.
Hãy nghe một bài phát biểu của F. William Engdahl về Mầm móng của sự hủy hoại.

Chỉ một lệnh trừng phạt của Hoa Kỳ về vấn đề Ukraina trong 6 tháng cũng đủ làm cho cường quốc Nga nay nghèo đói và có nguy cơ bạo loạn chính trị.

Thế giới này, Hoa Kỳ là con ong chúa, và Trung Hoa là con ong thợ. Ong chúa muốn sống vương giả thì, cần phải có ong thợ cần mẫn và hy sinh. Ngược lại, ong thợ luôn cam phận làm kẻ sai nha cho ong chúa, để tổ ong là một tập thể đoàn kết và vững bền. Khi ong thợ ra đi, liệu ong chúa có còn là chủ sói của tổ ong?

Thế nhưng, Hoa Kỳ sẽ chuyển trục sang Thái Bình Dương sau 40 năm bỏ nó và sang Trung Đông. Liệu có một bán đảo Crimea như thế ở Đông Á trong tương lai? Liệu có một lệnh trừng phạt như Nga ở Trung Hoa?

Liệu bao lâu nữa đồng Yuan sẽ soán ngôi đồng đô la Mỹ, hay phải khốn đốn như đồng Yên Nhật hồi 1990, và đồng Euro hiện nay? Nhưng chắc chắn một điều là trong vòng 10 năm tới thế giới sẽ có những thay đổi lớn về kinh tế chính trị toàn cầu.

Asia Clinic, 18h23' ngày thứ Tư, 18/3/2015
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhớ chị Bội Trâm- Đám cưới và đêm tân hôn


Bữa trước mình ra Huế, anh Ngô Minh nhắc mình, nói mi mần chi thì mần, cố sắp xếp thời gian viếng mộ anh Quán chị Trâm. Anh Ngô Minh nhắc hơi thừa, mình đã viếng mộ anh Quán chị Trâm cách đó mấy ngày, trước khi bù khú với anh em văn nghệ Huế.
Nhờ sáng kiến của Ngô Minh, những người yêu mến Phùng Quán đã nhiệt tình hưởng ứng, khu mộ vợ chồng nhà thơ Phùng Quán đã được cất lên phía tây làng Thủy Dương (quê Phùng Quán) phía Nam thành phố Huế, đã trở thành một địa chỉ văn hóa của thành phố Huế cho khách thập phương, thật tuyệt vời.
Mình nhớ năm 1995, ngày đưa anh Quán về trời, an táng ở quê chị Trâm thuộc Nhổn huyện Từ Liêm. Đám tang giữa mưa xuân.Từ khi đầu đám cho đến khi hạ huyệt mình không khóc. Nhưng khi hạ quan tài, thấy cái huyệt ngập nước, quan tài lún dần trong nước mình đã bật khóc. Chị Bội Trâm cũng xỉu đi, có lẽ chị không chịu nổi khi thấy anh Quán phải nằm trong nước. Liền mấy năm sau đó, ngày giỗ anh Quán nào chị Trâm cũng nói chuyện với mọi người ước nguyện của chị là đưa anh Quán về Thủy Dương quê anh.
Chị nhắc đi nhắc lại hoài nghe thật sốt ruột. Từ khi anh Quán mất, chị mỗi ngày mỗi héo đi. Gặp mình lần nào cũng nói chuyện anh Quán, chỉ nói chuyện anh Quán không nói chuyện nào khác. Chị nói anh Quán đã cho chị sống như chị muốn, giờ anh mất rồi, chỉ một ước nguyện cuối cùng là đưa anh về Thủy Dương, mai mốt chị về trời, chị cũng muốn về Thủy Dương với anh Quán. Rồi ngước lên bàn thờ rưng rưng nhìn anh Quán, chị chép miệng nói biết hoàn cảnh mình không nhờ con được, chị đành trông cậy hết vào bạn bè.
Hai chục năm sau ước nguyện của chị Bội Trâm mới thành. Thực ra việc đưa anh Quán về quê không khó. Họ hàng nhà anh Quán đã xin làng Thủy Dương một mảnh đất làm khu mộ, bất kì khi nào chị Trâm muốn anh Quán về quê họ cũng sẵn sàng. Nhưng khi chị Trâm còn sống không ai nỡ đưa anh Quán về quê, chị ở Hà Nội anh nằm ở Huế sao đành. Ngày giỗ tết chị phải về Huế thắp hương, đường xá xa xôi rất vất vả cho chị. Hơn nữa khi chị Trâm còn sống, nếu đưa anh Quán về quê thế nào chính quyền cũng ra tay giúp đỡ, điều mà anh Quán không muốn. Cho nên hai năm sau ngày chị Bội Trâm về trời anh Ngô Minh mới bàn với họ hàng anh Quán đưa anh chị về Huế.
Anh Ngô Minh là người có công rất lớn trong việc đưa chị Trâm anh Quán về Huế, tạo nên khu mộ vợ chồng nhà thơ đầu tiên của cả nước. Vợ chồng về trời được xây mộ bên nhau thì nhiều nhưng đó là do con cái dựng nên, việc vợ một nhà nhà thơ được bạn bè và họ hàng nhà thơ kính cẩn rước về quê ở trong khu mộ của nhà thơ là chuyện xưa nay hiếm. Có lẽ chị Bội Trâm là người duy nhất được hưởng cái phúc này, bởi vì chị là vợ nhà thơ xưa nay hiếm.
Gia đình Phùng Quán
Gia đình Phùng Quán
Chị Trâm bằng tuổi anh Quán, năm 23 tuổi chị là cô gái xinh đẹp phố Hàng Cân, là giáo viên văn trường Chu Văn An, trường học danh giá ở Hà Thành. Năm 1955 chị gặp và yêu anh Quán ngay trong năm đó, năm mà anh Quán vừa mang cái án Nhân văn giai phẩm. Anh Quán bị đuổi ra khỏi quân đội, năm trước vừa về Văn nghệ quân đội ở 4 Lý Nam Đế năm sau đã bị buộc phải rời khỏi 4 Lý Nam Đế. Cuốn sách Vượt Côn Đảo được giải thưởng, nổi tiếng như cồn khắp cả nước cũng không cứu được anh, Hội nhà văn khai trừ anh khỏi hội. Từ nhà văn quân đội danh giá Phùng Quán bỗng trở thành kẻ vô gia cư, một homeless hưởng trợ cấp của Hội nhà văn mỗi tháng 25 đồng, tiền cơm bụi cho loại nhà văn bị treo bút. Thế cũng gọi là may, nhiều người bị tù đày, bị đuổi ra khỏi thành phố và không một xu trợ cấp.
Chuyện chị Bội Trâm yêu Phùng Quán gian nan thế nào có thể viết cả một cuốn sách. Chị Trâm không kể cho ai nghe, lần nào mình hỏi chị cũng chép miệng nói cực lắm em à, nhắc lại thêm buồn. Nhưng anh Quán thì kể, kể rất nhiều, cứ mỗi lần hai người cãi nhau, giận nhau vì chuyện gì đó anh Quán thường đem chuyện chị Trâm quyết lấy anh kể cho mọi người như là lý do vì sao họ không thể chia tay nhau được.
Thời đó nghe mấy tiếng “bọn nhân văn” ai nấy đã dựng tóc gáy nổi da gà, việc chị Trâm quyết yêu anh Quán đúng là chuyện lạ. Nhà trường kiểm điểm, gia đình ruồng bỏ, họ hàng bà con ai ai cũng phản đối. Mẹ chị uất quá, vừa khóc vừa mắng chị, nói lấy chồng như thế thì thà nhảy nhảy xuống giếng cho xong. Chị Trâm vẫn không nao núng, nói con đã yêu anh Quán nên con không thể yêu người khác. Nếu bố mẹ không cho con lấy, con xin vâng lời, nhưng con sẽ không lấy người đàn ông nào khác nữa. Cuối cùng bố mẹ chị cũng phải xuống thang cho cưới.
Thực ra anh Quán chị Trâm được đăng kí kết hôn thôi còn lễ cưới đã không xảy ra. Trăm sự vì cái tên Phùng Quán. Họ sợ cái tên Phùng Quán có trong thiệp cưới liệu có mấy ai dám đến dự? Bạn bè anh Quán hầu hết đã cắt đứt quan hệ, lặn một hơi không sủi tăm, anh này chê anh kia hèn nhưng hễ gặp anh Quán anh nào cũng mắt trước mắt sau chuồn lẹ. Bạn bè văn nghệ vẫn gần gũi với anh Quán trong những ngày hoạn nạn như nhà thơ Tạ Vũ, nhà báo Xuân Đài, họa sĩ Lê Huy Quang, nhà báo Xuân Trung… thật là hiếm.
Phông chính đám cưới thời đó thường có đôi bồ câu cắp mỏ nhau, tên cô dâu chú rể được treo lên đấy. Nếu đám cưới xảy ra, bà con hai họ thấy cái tên Phùng Quán, “phần tử chống Đảng”, liệu có ai dám bước vào hôn trường nữa không? Hơn nữa đang khi chính quyền đang phê phán bọn nhân văn mà một phân tử nhân văn lại tổ chức đám cưới ngay trước mũi chính quyền, khác nào thách đố nhau.
Nghĩ vậy nên họ không làm đám cưới, chỉ gửi cầu trau báo hỉ, cũng chỉ báo hỉ tên chi Trâm: “Trầu cau chạm ngõ của cô Trâm”, ngay cái từ cưới cũng không dám dung, chỉ dám nói “ra riêng”. Anh Ngô Minh tìm được cái thiệp báo hỉ do họa sĩ Lê Huy Quang vẽ, “mặt trước là hai bông hoa do bạn thân, họa sĩ Lê Huy Quang vẽ, mặt sau có đôi chim bồ câu và mấy chữ của Phùng Quán viết tay . Đây là thiếp báo tin gửi cho cô giáo Mai Thị Từ của chị Trâm :” Chúng em đã ra ở riêng ngày 12-1-1962. Chúng em nhờ những bông hoa này mang tin vui đến với cô. Mong cô chia vui và mừng cho hạnh phúc của chúng em”.
Anh Ngô Minh đã nói về đám cưới anh Quán chị Trâm thế này: “Chị Vũ Bội Trâm có lẽ là người con gái Việt Nam duy nhất lấy chồng không có lễ tơ hồng, không đám cưới, không được mặc áo cưới, không lên xe hoa, không có đưa dâu, không có phòng tân hôn sang trọng, không chụp ảnh, quay phim…như các đám cưới bình thường khác…” Nghe mà ứa nước mắt. Vợ chồng Phùng Quán tổ chức tiệc cưới tại nhà bà Tưởng Dơi, mẹ nuôi của Phùng quán. Bữa tiệc có vợ chồng Tạ Vũ và hai nhà báo Xuân Đài, Xuân Trung. Anh Ngô Minh kể Phùng Quán ra chợ mua hai con gà, ra Hồ Tây câu trộm ít cá, cùng với mấy lít rượu kí nợ nhà bà Hai Hạnh…thế là thành bữa tiệc. Mình hỏi anh Quán, anh cười, nói đâu có, mọi việc do bà mẹ nuôi lo cả. Sau này mới cá trộm rượu chịu văn chui chứ khi đó chẳng dám làm gì, chỉ biết trông vào 25 đồng trợ cấp của Hội nhà văn, cực lắm.
Sau bữa tiệc là đêm tân hôn. Nhà bà Tưởng Dơi nhỏ hẹp, chỉ hơn chục mét vuông chỉ có hai cái giường đơn, loại giường tập thể hồi đó rộng chừng một mét, dài chừng mét sáu, anh Quán một giường, bà Tưởng Dơi một giường. Bữa đó Tạ Vũ say, phải ngủ lại không về được, bà Tưởng Dơi phải nhường giường cho họ, bà nằm võng. Vì nhà chỉ hơn chục mét vuông, để có khoảng không mắc võng, hai cái giường phải xếp lại gần nhau. Đêm tân hôn vợ chồng Phùng Quán nằm sát giường vợ chồng Tạ Vũ.
Họ nằm im bên nhau, không dám ôm nhau, không dám hôn nhau dù là cái hôn rất khẽ. Họ nằm ngửa, tay nắm chặt tay thở đều cố làm như mình đang ngủ ngon, kì thực trắng đêm không ai chợp mắt.
Đó là đêm tân hôn có một không hai khắp thế gian này.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

"những kẻ không biết đâu là tổ quốc, dân tộc đâu là nối giáo cho giặc như vậy?"

Hành động của những kẻ vong ân bội nghĩa

)
(GDVN) - Lễ dâng hương tưởng nhớ các chiến sỹ Gạc Ma đã bị một số thanh niên tự xưng là dư luận viên ngăn cản.
Ngày 14/3/2015, kỷ niệm 27 năm lính Trung Quốc xả súng sát hại 64 chiến sĩ công binh hải quân nhân dân của chúng ta, chiếm đoạt đá Gạc Ma.
Một số người dân Thủ đô Hà Nội đã tập trung trước khu vực tượng đài Vua Lý Thái Tổ và tượng đài Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh (bên Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội) để dâng hương tưởng nhớ các chiến sỹ đã hy sinh anh dũng trong trận chiến không cân sức chống giặc ngoại xâm ngày 14/3/1988. Trong trận chiến này, 64 chiến sĩ công binh hải quân đã anh dũng hy sinh bảo về biển đảo thân yêu của tổ quốc.
Không khó để tìm thấy các hình ảnh dã man của binh lính Trung Quốc khi chúng nã pháo vào các chiến sĩ hải quân Việt Nam tay không kết vòng tròn bảo vệ lá cờ tổ quốc trên đá Gạc Ma.
Hoạt động tưởng niệm này đã bị một số thanh niên ngăn cản. Nhóm thanh niên này tự xưng là “dư luận viên”, trên áo của họ có logo với dòng chữ “Đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc”?
Sự kiện này ngay lập tức được báo chí nước ngoài đăng tải với những bình luận không chính xác, thiếu khách quan và đầy toan tính như đổ lỗi cho cơ quan chức năng của chúng ta đứng sau nhóm thanh niên này.
Để làm rõ vấn đề, Giám đốc Công an Hà Nội, Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung đã có ý kiến trao đổi cùng báo chí. Theo tướng Chung “Chúng tôi luôn tôn trọng hành vi, hoạt động của người dân có lòng yêu nước với tất cả các sự kiện, đặc biệt liên quan đến chủ quyền lãnh thổ và tưởng nhớ những anh hùng liệt sĩ, những người đã tham gia bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của đất nước...”, “nhóm người trên không thuộc quản lý của Công an thành phố và Ban tuyên giáo”.  [1]
Những kẻ tự xưng là “dư luận viên” còn trưng cả logo tự tạo trên áo. Ảnh Internet
Dâng hương tưởng nhớ anh linh các liệt sĩ hy sinh vì tổ quốc là việc làm truyền thống của người Việt, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn.
Những ngày này, bên kia biên giới, bộ máy tuyên truyền khổng lồ của Trung Quốc không ngớt khoe khoang “chiến công” đánh chiếm Gạc Ma, không ngớt xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ hình ảnh người chiến sĩ hải quân nhân dân Việt Nam. Dùng pháo và đại liên bắn vào các chiến sĩ công binh hải quân tay không đứng bảo vệ đảo đá là hành động hèn nhát mà chỉ những kẻ dã man mới làm như vậy.
Tri ân các liệt sĩ không phải chỉ là bằng lời nói mà còn phải bằng những việc làm cụ thể: dâng hương tưởng niệm các liệt sĩ ở Hà Nội, xây khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma ở Nha Trang - Khánh Hòa; hay như gần đây, Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đã chỉ đạo tỉnh ngành Y tế Nghệ An bố trí công việc cho con một liệt sĩ hy sinh trong trận chiến Gạc Ma 1988 là những việc làm được Đảng và Nhà nước tôn trọng, khuyến khích, được nhân dân hết lòng ủng hộ.
Pháo từ tàu chiến Trung Quốc bắn vào các chiến sĩ hải quân Việt Nam trên đá gạc Ma ngày 14/3/1988.
Vậy thì những kẻ tự xưng là “dư luận viên” ấy, chúng là ai và nhân danh cái gì? 
Chỉ từ hôm qua đến nay, trên Internet tràn ngập hình ảnh rất phản cảm ghi lại một đám thanh niên, cả nam cả nữ ăn nói hùng hổ, chỉ tay giơ biểu ngữ ngăn cản một số người được nói là đi thắp hương tưởng niệm. Trong số ấy, có hình ảnh người con gái vênh váo ở nhiều góc chụp, từ bàn tay chĩa lên và cái miệng chua ngoa đang lý sự ấy để thấy đó không phải là những kẻ vô học, không phải là những kẻ ăn đói mặc rách.
Sự khẳng định của Tướng Chung là rất rõ ràng, chúng “không thuộc quản lý của Công an và Ban tuyên giáo thành ủy”. 
Vậy phải chăng chúng được sự hậu thuẫn từ các tổ chức phản động, từ bộ máy tuyên truyền bên kia biên giới để cố tình bóp méo lịch sử?
Không khó để tìm trong tàng thư của công an những người này là ai, sống ở đâu bởi vì hình ảnh của chúng là rất rõ ràng.
Gia đình, người thân, bạn bè của những kẻ ngăn cản buổi lễ dâng hương tưởng niệm này sẽ nghĩ gì? Họ có cảm thấy xấu hổ vì đã sinh ra những đứa con không hiểu đạo lý như vậy? Ngôi trường mà chúng đang theo học nghĩ gì khi đào tạo nên những kẻ không biết đâu là tổ quốc, dân tộc đâu là nối giáo cho giặc như vậy?
Nên nhớ, dâng hương tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh vì tổ quốc hoàn toàn khác với những hành động bạo loạn, đập phá như đã từng xảy ra khi Trung Quốc đưa giàn khoan thăm dò dầu khí vào vùng đặc quyền kinh tế của nước ta. Đảng, nhà nước và đặc biệt là lực lượng thực thi pháp luật như công an, kiểm sát, tòa án đã có hành động kịp thời, trừng trị thích đáng những kẻ gây bạo loạn, giữ gìn kỷ cương, phép nước. 
Thiết nghĩ Công an thành phố Hà Nội cần phải huy động lực lượng, cần phải tìm ngay những kẻ gây rối tại buổi lễ tưởng niệm, dù là hành động tự phát song không thể không có kẻ tổ chức, nhất là có thể còn có những thế lực đứng sau nhóm người này. Cần phải đưa chúng, ít nhất là ra trước tòa án dư luận để những kẻ ngông cuồng đang đi ngược lại quyền lợi quốc gia, dân tộc, đi ngược lại đạo lý làm người nhận thức được hành động của chúng cũng là tội lỗi.
Việc nhanh chóng tìm ra nhóm người này không phải là để an ủi vong linh các liệt sĩ đã ngã xuống cho nước Việt, cho người Việt có cuộc sống hôm nay mà là lời xin lỗi của những người đang sống gửi tới vong linh các liệt sĩ vì đã không dạy bảo lớp người trẻ tuổi đến nơi đến chốn, để có những kẻ dám xúc phạm đến cả những điều thiêng liêng nhất trong đạo lý dân tộc.
Nhóm người này không phải là hình ảnh đại diện cho thế hệ trẻ của đất nước, nhưng không thể để “con sâu làm rầu nồi canh”, không thể để dư luận xã hội bức xúc vì việc làm của một nhóm người như vậy.
Người viết có một tâm nguyện, rằng bất kỳ ai đã ngã xuống trong cuộc chiến chống ngoại xâm, bảo vệ từng tấc đất cha ông để lại đều phải được tôn trọng, nên có nơi thờ cúng để mọi người có thể dâng hương tưởng niệm. 
Như ý kiến của Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung “Công an thành phố đang tổ chức xác minh và khi có kết quả sẽ thông tin tới báo chí” [1].  Người viết mong muốn bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ tại Hà Nội góp phần giúp Công an sớm vạch mặt, chỉ tên những kẻ đã tổ chức gây rối tại buổi lễ tượng niệm liệt sĩ Gạc Ma vừa qua bằng cách tìm hiểu tên tuổi, nơi cư trú của nhóm người này.
Xin mượn bài viết thay một nén nhang tạ lỗi trước anh linh các liệt sĩ vì hành động vô lễ mà những kẻ thiếu hiểu biết đã gây nên.
Tài liệu tham khảo:



























































































































































































Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bác ấy đi HT có mấy ngày mà giọng văn khác hẳn, cứ y như không phải của NQL hồi nào, mọi người có thấy như vậy không?

11/03/2015 22:36


Nhà văn Nguyễn Quang Lập vừa gửi cho baodansinh.vn một tác phẩm tùy bút mới viết về "màu tuổi thơ" mà ông đã được hưởng trên quê hương mình. Sau đây chúng tôi xin chia sẻ đến bạn đọc bài viết tái hiện tuổi thơ rất giản dị ấy của tác giả.


Tôi chỉ có một cánh đồng để nhớ, đó là cánh đồng làng Đông. Quê tôi không có đồng, chỉ có dăm ba thửa ruộng, còn lại là sông và cát. Chỉ đến khi nhà tôi sơ tán lên làng Đông năm 1965, tôi mới thực sự biết đến cánh đồng.
Cánh đồng làng Đông rất lạ. Ở cái nơi bán sơn địa của miền Trung, đầu kê núi chân gác cát, lại có một cánh đồng màu mỡ, giống như một cánh đồng của Nam Bộ còn lưu lại sau cuộc di dời đất và nước vô tận của Tạo Hóa, có bãi tràm và rặng trâm bầu, có  mai vàng và lúa trời. Và cá ngập nước và chim đầy trời...
Tùy bút Nguyễn Quang Lập: Nhớ Đồng - Ảnh 1Ảnh minh họa
Đến khi lớn lên, đọc đi đọc lại Đất rừng phương Nam, gặp được cụ Đoàn Giỏi, ngồi nói chuyện với cụ trong quán cóc đường Bà Triệu, tôi kể cho cụ nghe về cánh đồng quê tôi, cụ trố mắt ngạc nhiên, chép miệng nói đi nói lại lạ vậy ha, lạ vậy ha.
 Đồng làng Đông chỉ là một phần của cánh đồng mênh mông của bốn làng Phù Lưu, Trung Thuần, làng Đông và làng Xá. Nó rộng đến nỗi  đi một vòng quanh đồng phải mất trọn một ngày. Ấy là đi nhanh, nếu thong thả rông chơi cũng phải hết  ba ngày. Mặt trời mọc từ sau rặng trâm bầu kéo dài từ làng Đông đến làng Pháp Kệ và lặn ở cuối cánh đồng, sau dãy đồi đầy sim và ổi làng Trung Thuần. Thế giới tuổi thơ tôi là vậy. Giống như mọi đứa trẻ làng Đông, thế giới của tôi chỉ có ngôi làng và cánh đồng, chỉ có vậy thôi mà đi hoài không hết, sống hoài không chán.
Tôi đã sống trọn vẹn cả tuổi thơ với cánh đồng làng Đông, từ tuổi lên mười đến tuổi hai mươi, từ thuở con gái con trai cởi truồng nhảy xuống bờ mương bơi lội tung tăng,  đến khi ngắt một bông hoa rau muống  đặt vào tay bạn gái đêm trăng non vàng ửng. Mới đó đã gần bốn mươi năm. Gần bốn chục năm xa đồng, mải mốt làm ăn không mấy khi nhớ, đến khi già rồi chẳng còn đi đâu được, lắm khi ngồi một mình ngoảnh mặt về quê, lúc ấy mới da diết nhớ đồng.
Tùy bút Nguyễn Quang Lập: Nhớ Đồng - Ảnh 2Ảnh minh họa
Tôi  nhớ màu lúa non xanh mướt, màu lúa chín vàng rộm, màu rơm rạ vàng hươm và màu trắng phau những đàn cò trên những bờ mương, những cồn đất. Trong hầu hết các giấc chiêm bao của tôi, dù là xảy ra ở đâu tôi cũng thấy trời cao xanh ngắt, bình mình rựng hồng, hoàng hôn chín đỏ, trăng vàng chanh rải khắp cánh đồng, ấy là màu tuổi thơ tôi được hưởng.
Tùy bút Nguyễn Quang Lập: Nhớ Đồng - Ảnh 3Ảnh minh họa
Và mùi nữa, trong các giấc chiêm bao tôi cũng có mùi. Mùi ngọt thanh sáng sớm, mùi khê cháy buổi trưa, mùi hoi nồng chiều tối. Đến khi đêm về, hầu như các mùi đều kết tủa hoặc bay tỏa đi đâu mất, chỉ còn mùi vỏ chanh, mùi hoa bưởi ngây ngất chim nổi dưới ánh trăng và bóng cây tình tứ.
Tất nhiên không thể thiếu những âm thanh. Tiếng chim không bao giờ ngưng nghỉ, rộn lên suốt ngày đêm, cho đến khi cả cánh đồng đã chìm trong giấc ngủ thì tiếng bìm bịp gọi bầy, tiếng cuốc cuốc gọi bạn vẫn không hề tắt.
Có một âm thanh rất lạ, có lẽ khắp miền Trung không nơi nào có, ấy là tiếng cá quẫy. Mùa nước rặc, trong các ruộng lúa đều đầy ắp cá, mỗi một dấu chân người đều có cá, chúng thi nhau đánh mình lóc bóc. Vào những buổi chiều yên ắng, khắp cánh đồng nổi lên thứ âm thanh của bộ gõ bị nhúng nước, ai không quen không thể tin nổi đó là bản nhạc cá của cánh đồng. Lóc bóc lóc bóc khi thưa thớt gần gần xa xa, lời thì thầm bí mật của đồng quê. Lóc bóc lóc bóc khi dậy lên những sóng âm trầm kéo dài miên man, khúc xô nát đồng quê hạnh phúc râm ran mùa lúa chín.
Hễ nhớ đồng là nhớ tiếng cá quẫy. Cá làng Đông nhiều lắm, người ta bảo cơm làng Xá cá làng Đông. Nhiều nhất là cá rô, cá lóc. Đứng trên cống đầu làng thấy chúng nó đi từng đàn đen đặc. Mùa khô làm hố nhảy, tát bờ mương, một ngày có thể thu về cả tạ cá. Mùa nước nổi người lớn cất vó, không một lần cất vó nào không có cả. Chỉ cần cất vó một giờ có cả một rổ cá. Trẻ con vớt ốc, câu tôm. Ốc bươu làng Đông thơm ngon như ốc bươu Hồ Tây, khi nước về trắng đồng cũng là khi ốc bươu không rõ từ đâu kéo về nổi lênh phênh từng đám dọc rìa làng. Trẻ con tung tăng cầm cái rổ đi vớt ốc, chỉ trong chốc lát là đầy rổ. Vớt cho vui thôi chứ chẳng mấy ai ăn, tôm cá làng Đông thiếu gì, rồi còn ếch, lươn, cua đồng nữa, nhiều lắm.
Chim chóc làng Đông cũng rất nhiều, rừng trâm bầu sau làng giống như sân chim Cà Mau, có vài chục loại chim thường xuyên trú ngụ nơi đây. Vào mùa trái Trâm bầu chín, chim bay về rợp trời, đậu kín trong các vòm cây trâm bầu. Nếu quăng một mẻ lưới trùm một khóm cây  thể nào cũng bắt được vài trăm con chim sẻ. Chim đậu đầy rừng trâm bầu, tràn ra cả cánh đồng, chen nhau trong những cây rưới, cây cừa. Nhớ những buổi trưa chui vào dưới cây nằm nghe chim rủ rỉ nói những gì rồi thiếp đi, khi tỉnh dậy thấy toàn thân dính đầy phân chim, vừa tức vừa tức cười. Chuyện có vậy thôi, thế mà bây giờ nhớ lại chuyện ấy lắm khi không cầm được nước mắt.
Tùy bút Nguyễn Quang Lập: Nhớ Đồng - Ảnh 4Ảnh minh họa
Chỉ vậy thôi làm sao khóc? 
Bởi vì tất cả đã không còn. Tết năm ngoái tôi trở về làng Đông sau 38 năm phiêu bạt, náo nức được gặp cánh đồng tuổi thơ bao nhiêu càng sững sờ bấy nhiêu khi trước mắt tôi tất cả đã không còn. Không còn những đàn cò rợp trắng trời chiều, chỉ một con thôi cũng không thấy. Không còn những con sáo ngủ trên lưng trâu, những con quạ ngủ giữa lưng chừng trời, đàn chim sẻ ngủ trong gốc rưới, cả những còn chuồn chuồn vẫn ngủ yên trên bờ rào cũng không. Rừng trâm bầu sau làng biến đâu mất, những rặng mai vàng cũng không còn, cả bãi tràm cũng biến mất. Cánh đồng tàn tạ bạc phếch một màu, cánh đồng thiếu nước khô nứt nẻ, không còn tiếng lóc bóc cá quẫy mình, hình như tất cả đã về trời, tuyệt không ai có thể bắt được một con cá chép, những con cá rô cũng rất khó kiếm. Ngay cả những con ốc cũng đã biến đi đường nào, đến cóc nhái cũng không nốt. Kì lạ thay.
Buổi chiều đứng với Diệp, người bạn học thuở ấu thơ, rưng rưng nhìn ra cánh đồng vắng hoe, tôi hỏi vì sao lại thế. Diệp bỗng giật mình rơi phịch xuống đất, ôm ngực ho rũ rượi, nói  đồng làng mình già rồi, sắp chết rồi....
 Diệp ngồi bó gối ngước lên nhìn tôi, đôi mắt trũng sâu đờ dại, nói thôi đừng nhắc chuyện ngày xưa Lập ạ, cũng đừng hỏi vì sao Lập ơi, nếu không lũ trẻ  bỏ làng mà đi hết.
Nhà văn Nguyễn Quang Lập

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hóa ra các bác ấy chủ quan quá nhẩy?

“cộng tác viên dư luận” và việc "ngồi nắm bắt dư luận"

Thông tin chính thống, đăng trên báo chính thống. 

Tóm tắt như sau:


"Chủ trì giao ban, ông Phan Đăng Long, Phó trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội cho hay Hà Nội có khoảng 900 cộng tác viên dư luận. Ông Long cho biết thông tin này đã được ông Hồ Quang Lợi, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy cho biết tại một hội nghị tổng kết của ngành Tuyên giáo năm 2013.

Giải thích thêm về lực lượng “cộng tác viên dư luận”, ông Long cho biết đây là lực lượng cộng tác viên gồm nhiều tầng lớp, thành phần, như cựu chiến binh, phụ nữ, thanh niên, học sinh... tại các địa bàn quận, huyện nắm bắt các thông tin “người dân bàn cái gì, quan tâm cái gì” rồi tập hợp, thông tin lại cho hệ thống tuyên giáo.
Các thông tin này sau đó sẽ được ngành Tuyên giáo tổng hợp báo cáo lãnh đạo thành phố để nghiên cứu bổ sung, điều chỉnh các chính sách xã hội.
"Hôm nay các đồng chí nói chúng tôi mới biết có việc mặc áo logo như vậy. Tôi xin khẳng định lực lượng cộng tác viên dư luận chỉ ngồi nghe nắm bắt dư luận thông tin chứ hoàn toàn không xuống đường”, ông Long khẳng định."
Ở dưới là tin toàn văn.
Giao blog
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2015

Quốc hội cần có tiểu ban đặc biệt để giám sát những cái gọi là bí "mật này". Tiểu ban chỉ cần báo cáo về đường hướng, hiệu quả, sự cần thiết của phạm vi ấy, không cần chi tiết với các đại biểu. Gianh giới giữa bảo vệ bí mật quốc gia với sự che giấu là rất khó phân biệt. Coi chừng sẽ có nhiều thứ nhân danh BVBMQG để bưng mắt đại biểu và QH.

Thận trọng với quyền giám sát liên quan bí mật quốc gia


Lan Hạ

VNExp - GS Đào Trọng Thi đề nghị thận trọng khi quy định việc giám sát của Quốc hội ở những nội dung liên quan đến bí mật quốc gia, bởi nếu cung cấp tất cả bí mật nhà nước cho đại biểu sẽ rất nguy hiểm.

Chiều 16/3, trong buổi làm việc cuối cùng của phiên họp thứ 36, thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Vấn đề được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nêu ra là tính pháp lý của các đoàn giám sát, có quyền đưa ra kết luận, ban hành nghị quyết sau giám sát, hoặc có quyền buộc tổ chức, cá nhân bị giám sát phải thi hành không?

Khẳng định khái niệm giám sát và giám sát tối cao của Quốc hội không có gì mâu thuẫn, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội Đào Trọng Thi phân tích, đã giám sát tối cao thì chỉ Quốc hội mới có quyền thực hiện và giám sát của đại biểu quốc hội không thể gọi là giám sát tối cao, vì đại biểu không thể thay cho Quốc hội.

Ông Thi lưu ý, phải thận trọng khi quy định quyền giám sát của Quốc hội đối với những nội dung liên quan đến bí mật quốc gia. Bởi nếu cung cấp tất cả bí mật nhà nước cho đại biểu thì sẽ rất nguy hiểm.

"Ngay cả cán bộ cấp cao cũng chỉ được tiếp cận ở mức nào đó, nếu đại biểu quốc hội mà đòi tiếp cận hết thì còn gì là bí mật quốc gia nữa. Quốc hội do dân bầu lên nhưng không nhất thiết phải giao quyền lực lớn như vậy. Chỉ nên cân nhắc giao ở một mức nào đó", ông Thi góp ý.

Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội Ksor Phước cũng nhận định, quá trình giám sát, chất vấn giám sát thường động chạm đến bí mật quốc gia. Ví dụ như sân bay Long Thành, khi nói đến mối quan hệ giữa sây bay A với sân bay B, thì điều này cũng là bí mật của Bộ Quốc phòng.

"Liên quan đến bí mật nhà nước không hề đơn giản, do vậy tôi đề nghị luật quy định các cơ quan chỉ được cung cấp những thông tin được phép cung cấp theo quy định của pháp luật", ông Ksor Phước góp ý.

Về tính pháp lý của hoạt động giám sát, GS Đào Trọng Thi cho rằng, sau khi hoàn thành giám sát, các Ủy ban của Quốc hội chỉ nên ra kiến nghị và các cơ quan hữu quan phải có trách nhiệm trả lời. Không nên giao quá nhiều quyền cho đại biểu Quốc hội vì có thể dẫn đến việc đại biểu cũng được quyền “ra lệnh” cho các cơ quan nhà nước, tác hại khôn lường.

Kết luận phiên làm việc, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đề nghị dự án luật cần quy định sau giám sát, đoàn đại biểu quốc hội phải có kết luận, ra yêu cầu kiến nghị với cấp có thẩm quyền và chịu trách nhiệm về kết luận đó.

"Nhân dân quan tâm nhất là hiệu lực giám sát. Giám sát cái gì, ở đâu, hiệu quả như thế nào. Sức đến đâu làm đến đấy nhưng phải mang lại lợi ích cho dân", Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lương người Việt so với các nước trên thế giới.

Theo thống kê từ CNN, lương trung bình năm của người lao động Việt Nam gấp đôi lương giáo viên tại châu Phi, song chỉ bằng 78% thu nhập của một lao công tại Thái Lan. 

Trên bình diện toàn thế giới, mức lương trung bình mà một người lao động nhận được là khoảng 19.188 USD/năm. Ở Việt Nam, lương bình quân của người lao động là hơn 45 triệu đồng/năm, tương đương 2.112 USD, bằng khoảng 27% mức trung bình của thế giới. 

Báo cáo cũng chỉ ra rằng người lao động tại một số quốc gia có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Hàn Quốc hay Đức được hưởng đãi ngộ cao hơn hẳn so với phần còn lại của thế giới. Cụ thể, mức lương trung bình tại Mỹ là 42.966 USD/năm, tức khoảng 920 triệu đồng. Tại Hàn Quốc và Đức, con số này lần lượt là 40.791 USD và 38.910 USD. 

Nếu biết rằng số tiền đủ để đảm bảo cuộc sống tại Mỹ rơi vào 12.000 USD/năm thì việc mức lương trung bình chênh lệch lớn so với mức sống phần nào lý giải cho việc vì sao người ta vẫn thường nghĩ về quốc gia này như một nơi lý tưởng để tới sinh sống và làm việc. 


Lương trung bình tại Việt Nam là 45,084 triệu đồng/năm, tương đương 27% trung bình của thế giới. Ảnh: Anh Tuấn. 

So với các quốc gia nằm trong khối ASEAN, mức lương trung bình của Việt Nam đứng thứ 6, sau Singapore, Brunei, Malaysia, Thái Lan và Philippines. Singapore dẫn đầu khu vực khi trung bình 1 người lao động Singapore nhận 44.352,55 USD/năm tiền lương. Mức này rơi vào top đầu của thế giới, và cao hơn tổng lương trung bình năm của 10 nước còn lại trong khu vực. 

Với mức lương 2.112 USD/năm, trung bình một người lao động tại Việt Nam hàng năm có thu nhập bằng 3% lương của CEO tại Mỹ, quốc gia có nền kinh tế hàng đầu thế giới. Con số này cũng gấp đôi thu nhập của một giáo viên Ethiopia, song chỉ tương đương 78% số tiền mà 1 lao công Thái Lan nhận được. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng lương trung bình của lao động Thái Lan là 4.421 USD/năm, gấp đôi Việt Nam.
Lê Tiến Hoàn
Phần nhận xét hiển thị trên trang