Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2015

tư duy chiều ngang hay cách nghĩ là là mặt đất?

PH.PH.


( Bài của "triết gia vô đối ở An-nam, số 1 châu Á và thứ 3 hoàn cầu Paul Nguyễn Hoàng Đức:)). Tít như thường lệ, tôi lại rút lại)

Nhiều người đã bàn về tượng Người Mẹ ở Quảng Nam, chẳng hạn nhà thơ Trần Mạnh Hảo có bàn: tượng giống mẹ Mỹ hơn mẹ Việt.

Theo tôi điều này không quan trọng, vì vẻ đẹp của mỹ học hoàn toàn cho phép người ta được cách điệu từ mũi tẹt lên mũi cao cho đẹp, đó là nghệ thuật tự do mà, thậm chí người ta có thể nâng chiều cao cho bức tượng đối với người thấp…

Công bằng mà nói, phần đầu và mặt bức tượng khá đẹp và kiêu hãnh có nét giống tượng nhân sư như ai đó đã phát hiện trước. Nhưng tổng thể chung tượng có phần nền quá xấu – chẳng khác gì đê con trạch đập vào mắt người ta.

Về điêu khắc, chúng ta biết nó căn bản khác hội họa ở không gian Ba chiều. Chẳng hạn ngắm hội họa là bức tranh thì chỉ có chiều dài và chiều rộng, nên người ta chỉ ngắm hai chiều, theo lối mặt dẹt, đẹp phía trước là đẹp tất.

Nhưng điêu khắc được coi là khó hơn nhiều, nó bao gồm thêm cả chiều sâu, tức cả ba hướng nhìn, vì thế một bức tượng đẹp phải đảm bảo nhìn từ bất kể hướng nào cũng đẹp, cả trước lẫn sau, cả phải lẫn trái.

Một bức tượng luôn phải đảm bảo không gian được ngắm của nó. Nó không thể tùy tiện đứng một mình, mà phải được xứng hợp với xung quanh, về thuật ngữ trong nghệ thuật người ta thường dùng từ “ensemble”.

Nghệ thuật luôn phải đảm bảo cho con mắt người ta được thỏa mãn tràn trề như một bữa tiệc mỹ học, nhưng cùng lúc phải giải phóng đôi mắt được tung cánh tự do. Vì vậy bức tượng Người Mẹ quá xấu, vì nó dài như con đê đồ sộ chắn mất tầm mắt của người ta, gây bức bối đến mức như bức tường của nhà giam – nó phải vươn lên cao đề đe dọa những kẻ muốn đào tẩu, giải phóng. Tượng Nhân Sư rất lớn nhưng không chắn tầm nhìn, bởi lẽ hai bên phải trái có không gian cho đôi mắt chạy thoát thả bổng hướng nhìn.

Về nguyên tắc nghệ thuật thị giác không được phép xấu. Bởi vì theo mỹ học Hegel, văn chương là nghệ thuật thời gian, có thể đưa cái xấu ra để rồi cái đẹp sẽ xuất hiện sửa chữa cái xấu. Nhưng nghệ thuật thị giác như hội họa, điêu khắc hay kiến trúc dứt khoát không được trình bày cái xấu dù nhỏ nhất, bởi vì thị giác là rụp một cái đôi mắt đã chụp bắt cái tổng thể.

Bức tượng đài luôn luôn là để kỷ niệm hay ghi dấu một giá trị tinh thần. Tinh thần thì phải bay lên cao. Và chỉ có bay lên cao tinh thần mới vươn đến tự do.

Trong khi tượng Người Mẹ Việt Nam thì sao? Trời ơi mẹ ôm đồm quá, mẹ giang tay che chở cho tất cả, thế có nghĩa là con của mẹ không bao giờ lớn, và mẹ cứ mãi cúi xuống để nuôi nấng con trong bầu sữa giá áo túi cơm. Vậy thì mẹ làm sao cất cánh bay lên cùng thời đại?

Tư duy của người Trung Quốc và Việt Nam là tư duy chiều ngang. Công trình tín ngưỡng đồ sộ của Việt Nam là chùa trăm gian, một công trình mà ông thợ mộc kém nhất có nguyên liệu là làm được, vì ông cứ nối mộng thêm vào từ gian thứ nhất đến gian thứ hai. Trung Quốc với Vạn Lý Trường Thành cũng chỉ là thứ chùa trăm gian không mái cứ chạy dài trên núi, mà chẳng cần tài cán gì mấy anh nông dân đi lính có thể chỉ đạo đắp nối tiếp. Vào thăm các nhà trẻ chúng ta sẽ thấy, con nít xếp hình dài, thì chúng xếp rồng rắn vòng quanh nền nhà. Nhưng nếu chúng xếp cao lên, khéo léo lắm mới xếp được vài khối hình chồng lên nhau. Qua đó chúng ta sẽ thấy cái khác nhau giữa chiều ngang và chiều cao. Người châu Á rất khó tiếp cận với những gì vĩ đại bởi tư duy chiều ngang.

Một xúc vải, nếu mở rộng chiều ngang khổ vải có thể lên đến 2m, rồi 5m là kịch. Nhưng để chạy dài nó có thể chạy vô tận từ bắc chí nam đến vòng quanh trái đất. Người Việt có ngàn vạn người làm thơ, nhưng theo tư duy chiều ngang, nghĩa là một tư duy không cần cấu trúc, mở rộng hết khổ vải thì được dăm câu ba điều, bày đặt học đòi viết trường ca, thì cả ngàn trường ca không có nhân vật, tức là làm lều lá chuối úp đậy thức ăn không cần cột kèo.

Và cái tư duy chiều ngang đó cũng được thể hiện trong bức tượng đài Người Mẹ. Người đàn bà Việt Nam suốt dòng lịch sử khổ lắm vì gánh nặng đòn gánh ngang hai vai, đó cũng là tư duy chiều ngang, giờ đây đàn bà nông thôn còn phóng xe máy vèo vèo đội mũ bảo hiểm trông như phi công tầu vũ trụ, sao không cất đi cho mẹ hai vai chiều ngang. Lẽ ra hai vai mẹ phải hóa đôi cánh để mẹ bay lên trời, để mẹ được nhắm vào bầu trời lồng lộng tự do, để sánh bước cùng năm châu thế giới. ai lại buộc chặt hai tay mẹ vào đất như tầu hỏa Việt Nam như vậy (tầu Việt Nam ôm chặt đất anh hùng), thế thì mẹ còn đi đâu được.

Bức tượng đã giam cầm chính mẹ, con chim bay lên được bầu trời vì trọng lượng nó bé. Con voi làm sao bay được lên bầu trời?! Người mẹ văn minh là người mẹ phải say khát tự do muốn hòa đồng cùng thế giới và vũ trụ, vậy mà mẹ bị gắn chặt vào mặt đất, vào con cái không chịu lớn, học rất nhiều nhưng vẫn chỉ có tư duy chiều ngang, thì mẹ vươn lên, bay lên làm sao được.

Có thể hình như mẹ bảo “ôi dào bàn về mỹ học nhiều làm gì cho khổ, chẳng qua là họ muốn đắp rộng ra để giải ngân nhiều!”


“Vậy tại sao không nối dài phía sau của mẹ, thì có phải vẫn giải ngân được nhiều mà tượng vẫn đẹp không? Như vậy tầm mắt người tham quan không bị chắn”

“Biết rồi, nhưng quĩ đất đằng sau vì quá tế nhị nên không giải phóng được mặt bằng”

“Vậy thì làm cao lên!”

“Làm cao thì phải có trình độ kỹ thuật, vả lại như vậy tốn rất nhiều thép, sẽ bị đội giá thành, không giải ngân được.”

“Thế này thì chịu!”

“Không chịu thì làm sao, cái trình độ của ta mới chỉ ở tư duy chiều ngang, chỉ giỏi khôn vặt và ăn vặt, thì tượng đài dù to mấy cũng chỉ là thứ trẻ con chơi đồ hàng bày la liệt vặt vãnh mà thôi…”
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Từ hải chiến Hoàng Sa (1974), Trường Sa (1988) đến căng thẳng ở Biển Đông hiện nay - Đôi điều về chiến lược biển của Trung Quốc và ứng phó của Việt Nam


  •   Hồ Khang

Hải chiến Hoàng Sa 1974 Hải chiến Hoàng Sa 1974

Nhìn từ lịch sử tới hiện tại, một điều dễ nhận thấy rằng, Trung Quốc luôn theo đuổi một chính sách nhất quán: Trỗi dậy, vươn lên trở thành một nước có địa vị thống trị thế giới. Trên con đường tiến tới tới “giấc mơ hoang”, Biển Đôngluôn chiếm giữ một vị trí quan trọng,không đơn thuần là công cụ, mà còn là yếu tố khẳng định giá trị, sức mạnh Trung Quốc – yếu tố nhận dạng quốc gia.Trung Quốc đặt mục tiêu sở hữu bằng được các quyền lợi sống còn của Biển Đông, nhằm mở rộng"không gian sinh tồn", cương vực hoạt động, tạo thêm sức mạnh trong cán cân quyền lực ở châu Á - Thái Bình Dương và giải quyết các vấn đề liên quan đến nguồn lực trước sức ép phát triển.
1-Nhìn lại lịch sử
Việc tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc đối với Việt Nam có lịch sử từ trước khi Việt Nam - Trung Quốc đặt quan hệ ngoại giao chính thức. Năm 1909, Trung Quốc bắt đầu có tranh chấp quần đảo Hoàng Sa; năm 1930 tiến đến tranh chấp quần đảo Trường Sa.
Từ thế kỷ XVII, Triều đình phong kiến Việt Nam đã làm chủ hai quần đảo đó và cho đến đầu thế kỷ XX, không có bất kỳ nước nào tranh chấp chủ quyền tại đây. Đầu năm 1907, Nhật Bản chiếm Đông Sa (Pratas) khiến cho các nhà cầm quyền miền Nam Trung Quốc quan tâm đến các đảo trên biển Đông. Năm 1921, Chính quyền miền Nam Trung Quốc ra quyết định sát nhập quần đảo Hoàng Sa (mà họ gọi là Tây Sa) vào đảo Hải Nam. Từ đó có sự tranh chấp giữa Trung Quốc và Pháp về chủ quyền trên quần đảo Trường Sa. Năm 1935, lần đầu tiên Trung Quốc chính thức công bố một bản đồ coi cả 4 quần đảo trên biển Đông của là của Trung Quốc.
Đến năm 1939, Hoàng Sa và Trường Sa bị biến thành căn cứ hải quân của Nhật trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Lợi dụng tình hình thực dân Pháp rút khỏi Đông Dương và Việt Nam chưa tiếp quản hai quần đảo, năm 1956, CHND Trung Hoa cho quân đội ra chiếm đóng nhóm phía Đông quần đảo Hoàng Sa; Đài Loan cho quân đội ra chiếm đảo Ba Bình trên quần đảo Trường Sa.
Sau Hiệp định Geneva 1954, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền, vĩ tuyến 17 là ranh giới quân sự tạm thời. Theo vị trí địa lý, các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều nằm dưới vĩ tuyến 17, do đó, các đảo này thuộc chủ quyền và sự quản lý hành chính của Chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ngày 13-7-1961, Chính quyền Nam Việt Nam ký Sắc lệnh số 174-NV, đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc quản hạt hành chính tỉnh Quảng Nam (thay tỉnh Thừa Thiên). Ngày 13-7-1971, Ngoại trưởng Chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố rằng, từ lâu đời, quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam. Ngày 15-7-1971, Bộ Ngoại giao Chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra thông cáo tái xác nhận chủ quyền chính đáng trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 6-9-1973, Tổng trưởng Nội vụ Chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam ký Nghị định số 420/BNV/HCĐP/26 sáp nhập một số đảo của quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy (Đồng Nai).
Từ năm 1973, Philippines tăng cường sự hiện diện ở khu vực Trường Sa, cònChính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũngcó những động thái tích cực trong xác định chủ quyền và khai thác tài nguyên. Trong khi đó, tháng 1-1973, Hiệp định Paris lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, Mỹ rút quân khỏimiền NamViệt Nam để lại một “khoảng trống quyền lực. Chớp thời cơ, tháng 1-1974, Trung Quốc cho lực lượng ra chiếm đóng và cắm cờ tại các đảo. Để bảo vệ chủ quyền, Chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã có những động thái kiên quyết (yêu cầu Trung Quốc dừng các hoạt động phi pháp, họp báo phản đối, điều quân nhổ bỏ cờ Trung Quốc trên các đảo của Việt Nam, cho quân đội chiếm lại các đảo….). Cuộc chiến Hoàng sa đã diễn ra hết sức quyết liệt, Trung Quốc quyết tâm tận dụng cơ hội nhằm tạo chỗ đứng vững chắc hơn ở Biển Đông, cuộc chiến này như mô tả của Tân Hoa Xã (2009), do đích thân Mao Trạch Đông phê chuẩn, còn Chu Ân Lai và Diệp Kiếm Anh trực tiếp chỉ đạo. Huy động lực lượng áp đảo, kích động tinh thần tử chiến, cuối cùng Trung Quốc đã chiếm nốt phần còn lại quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, đặt chân vào bờ cõi của Việt Nam.
Sau đó một thời gian ngắn (từ tháng 6-1974), Bắc Kinh tiếp tục lấn tới trong những yêu sách về Biển Đông: Đòi phần lãnh thổ kéo dài trong vòng 20 dặm dọc theo hầu hết toàn bộ bờ biển Việt Nam cho tới bờ biển Xa-oắc của Malaixia.  Tháng 4-1983, Trung Quốc đặt lại tên cho các đảo, đá, bãi cạn thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và sát nhập hai quần đảo vào địa phận Hải Nam (Trung Quốc).
Tháng 3-1988, Trung Quốc có hành động quyết liệt hơn, gây ra cuộc hải chiến đẫm máugần cụm đảo Sinh Tồn (quần đảo Trường Sa), tấn công các đảo Gạc Ma, đá ngầm Cô Lin, Len Đao. Trung Quốc hạ lệnh bắn thẳng vào những chiến sĩ Việt Nam đang hòa bình xây dựng đảoGạc Ma. Từ ngày 14 đến ngày 16-3-1988, lực lượng Hải quân Việt Nam anh dũng trụ bám, quyết bảo vệ lãnh hải, chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Với lực lượng hùng hậu hơn hẳn, ngày 16-3-1988, Trung Quốc cưỡng chiếm Gạc Ma và chiếm đóng đến tận ngày hôm nay. Việt Nam giữ vững bãi đá ngầm Cô Lin. Trung Quốc đã bắn cháy, đánh chìm ba tàu của Việt Nam, 64chiến sĩ hy sinh, 11chiến sĩkhác bị thương, bắt giữ9 chiến sĩ khác (sau đã trao trả cho Việt Nam).
Ngay trong ngày 14-3-1988, Bộ Ngoại giao Việt Nam ra Tuyên bố, nêu rõ: “Sáng ngày 14-3-1988, các tàu chiến của Trung Quốc đang hoạt động trái phép ở vùng biển quần đảo Hoàng Sa đã ngang nhiên nổ súng vào hai tàu vận tải của Việt Nam đang hoạt động bình thường ở bãi đá ngầm Gạc Ma thuộc khu đảo Sinh Tồn. Tàu của ta đã buộc phải nổ súng để tự vệ. Trong khi đó họ lại đổi trắng thay đen vu cáo tàu của Việt Nam khiêu khích vũ trang tàu chiến của Trung Quốc”[1]. Thay mặt nhân dân và Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ Ngoại giao “kiên quyết lên án hành động khiêu khích quân sự của nhà cầm quyền Trung Quốc. Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam một lần nữa khẳng định chủ quyển của mình đối với quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa”[2]; đồng thời yêu cầu “nhà cầm quyền Trung Quốc phải chấm dứt ngay các hành động khiêu khích quân sự, rút ngay các tàu chiến của họ ra khỏi vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam”[3].Ngày 15-3-1988, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi công hàm phản đối Trung Quốc, “nghiêm khắc lên án những hành động sai trái của phía Trung Quốc…”. Các tờ báo của Việt Nam như Nhân dân, Quân đội nhân dân, Lao động, Tuần tin Thanh niên… đồng loạt lên tiếng. Quốc tế lập tức có phản ứng đối với việc Trung Quốc đánh chiếm và chiếm đóng trái phép biển đảo của Việt Nam. Hãng tin Pháp AFP, áo Thụy Điển Xvenxca Đac-blađet, hời báo Ấn Độ, đài tiếng nói Hoa Kỳ…đều có bài, tin tức về vụ việc.
Tuy nhiên, bất chấp dư luận, Trung Quốc tiếp tục hành động. Tháng 4-1988, khi quân đội Việt Nam đang tiến hành xây dựng trên bãi đá Len Đao, với ý đồ lặp lại kịch bản Gạc Ma, Trung Quốc đưa bảy tàu chiến và nhiều xuồng nhỏ bao vây uy hiếp, hòng cưỡng chiếm thêm bãi đá này. Được chuẩn bị kỹ để đối phó với tình huống, 7 máy bay chiến đấu của Việt Nam lập tức cất cánh, hỗ trợ các chiến sĩ hoàn thành nhiệm vụ xây dựng đánh dấu chủ quyền trên bãi đá. Tàu chiến của Trung Quốc hoảng sợ tản ra và không dám nổ súng, Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ, kết thúc xây dựng trên  bãi đá Len Đao.
Sau sự kiện 14-3-1988, Chính phủ Việt Nam đã nhiều lần gửi công hàm phản đối đến Bắc Kinh (Công hàm ngày 17 và 23, 26 tháng 3-1988), đề nghị Trung Quốc cử đại diện đàm phán, thương lượng để giải quyết những bất đồng liên quan đến quần đảo Trường Sa, cũng như những vấn đề tranh chấp khác về biên giới và quần đảo Hoàng Sa; đề nghị Trung Quốc trong khi chờ giải quyết tranh chấp, hai bên không dùng vũ lực và tránh mọi đụng độ để tình hình không phát triển xấu thêm. Việt Nam cũng thông báo cho Liên Hợp Quốc về tình hình này, tuy nhiên, phía Trung Quốc khước từ thương lượng, giữ quan điểm về "chủ quyền không thể tranh cãi" của mình đối với quần đảo Trường Sa (Nam Sa).
Nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải, Ngày 17- 10 -1988, Đảng cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết 19/NQ-TƯ Về việc bảo vệ khu vực bãi ngầm trong thềm lục địa phía Nam; ngày 5-7-1989, Thủ tướng chính phủ ra chỉ thị số 180UT về việc xây dựng cụm dịch vụ kinh tế - khoa học - kỹ thuật thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xác định lại chủ quyền Việt Nam đối với khu vực thềm lục địa khu vực này. Từ năm 1989, Hải quân Việt Nam củng cố lực lượng, tuần tra, canh gác, xây dựng đánh dấu chủ quyền trên các đảo, bãi đá Trường sa.
2-Trung Quốc leo thang ở Biển Đông và hệ lụy
Chiếm một số đảo và bãi đá của Việt Nam năm 1988, Trung Quốc  chính thức đặt chân vào Trường sa – điều mà trước đó Trung Quốc luôn nhắm tới và quyết tâm thực hiện bằng được. Tuy nhiên, bấy nhiêu đó chưa là đủ với Trung Quốc,vị trí địa- kinh tế, địa quân sự và địa- chính trị vô cùng quan trọng của Hoàng Sa, Trường Sa và quá khứ 7 lần bị xâm lăng từ biển cũng như tham vọng lãnh thổ lãnh hải vốn ăn sâu trong máu thịt Trung Hoa khiến Trung Quốc không ngừng gia tăng leo thang trên Biển Đông.
Để thực hiện mục tiêu, Trung Quốc sử dụng nhiều chiến thuật khác nhau như "vết dầu loang", “tằm thực”, “cắt lát salami”, “bóc cải”…, lấn dần từng bước theo kiểu “gặm nhấm Biển Đông”, tránh tạo ra các bất ổn phá vỡ mối quan hệ với ASEAN và tránh thúc đẩy Mỹ quay trở lại khu vực. Cùng với thời gian, các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông ngày càng quyết liệt hơn, nhất là từ thập niên 90 (XX) đến thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI – thời kỳ Trung Quốc coi là then chốt, dịp may lịch sử để giải quyết “cơn khát” lãnh hải. Cùng với sức mạnh tổng hợp tăng lên nhanh chóng khiến khoảng cách về kinh tế, quân sự, quốc phòng trong tương quan với Mỹ dần thu hẹp, Trung Quốc ngày càng “tự tin” hơn trong các động thái leo thang có tính toán ở Biển Đông, chuyển từ “giấu mình chờ thời” sang cạnh tranh trực diện, lợi dụng mọi cơ hội để thay đổi luật chơi. Từ năm 2009, Trung Quốc khẳng định yêu sách đường lưỡi bò, tăng cường các hoạt động trấn áp các quốc gia khác, khảo sát địa chấn, khoan tìm dầu khí trong các khu vực nước sâu ở lãnh hải và thềm lục địa của các quốc gia láng giềng. Nguy hiểm hơn, Trung Quốc cắt cáp tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam, buộc tàu thăm dò của Philipin phải rút ra khỏi Bãi Cỏ rong (Reed Bank), công khai mời thầu các lô dầu khí nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, áp đặt các lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông vào mùa đánh bắt cao điểm, kéo dài lệnh cấm đánh bắt. Trung Quốc nã súng vào một số thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam trong vùng biển gần Trường Sa, dùng  tàu ngư chính và tuần duyên đánh chìm các tàu cá, bắt giữ, đòi tiền chuộc nhiều tầu cá của Việt Nam, buộc các ngư dân ký vào các biên bản thừa nhận vi phạm chủ quyền của Trung Quốc… Trung Quốc không lớn tiếng xác định chủ quyền lãnh hải, lãnh thổ như trước đây mà ra tay trước để tạo nên thực tế không thể đảo ngược về lãnh thổ, lãnh hải; đồng thời, đẩy mạnh các biện pháp nhằm kiểm soát thực tế các vùng biển mà Trung Quốc yếu sách chủ quyền theo hướng chính thức. Bước đi “kịch tính” gần đây nhất là Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoanHYSY 981 trong vùng đặc quyền kinh tế, vùng thềm lục địa của Việt Nam, xây cất đảo nhân tạo, mở rộng phạm vi hoạt động.
Hành động hạ đặt giàn khoan của Trung Quốc không đơn giản như Trung Quốc tuyên bố mà nằm trong tính toán, lộ trình chiến lược lâu dài trong kế hoạch độc chiếm Biển Đông. Trung Quốc luôn nhất quán trong mục đích kiểm soát khai thác dầu mỏ, quản lý giao thương hàng hải, tàu thuyền qua lại và chiếm ưu thế địa chính trị trong khu vực. Việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan tại khu vực này sẽ là tiền đề để mở rộng hạ đặt giàn khoan ở các khu vực khác trong phạm vi “đường lưỡi bò”, tiến tới hiện thực hóa yêu sách chủ quyền đối với Biển Đông, tạo căn cứ “pháp lý” và “quản lý thực tế” đối với Hoàng Sa, củng cố lập luận “Hoàng Sa không có tranh chấp”, phá vỡ nguyên trạng Biển Đông”, tạo đột phá trong việc thăm dò, khai thác dầu khí tại các vùng biển có tranh chấp.
Bên cạnh đó, “sự kiện giàn khoan HYSY-981” còn mang đậm động cơ chính trị, một mặt, nhắn nhủ, đe dọa các nước có tranh chấp, vướng mắc với Trung Quốc ở biển Đông (đặc biệt là Philippinesvà Việt Nam) không ngả sang và thắt chặt quan hệ với Mỹ; mặt khác, thử phản ứng của Barack Obama, thách thức chiến lược “xoay trục” sang châu Á của Washington (biểu hiện tập trung qua Thỏa thuậnquân sự ký kết ngày 28-4-2014 với Philippines).
Đưa giàn khoan vào vùng thềm lục địa của Việt Nam, Trung Quốc đồng thời thực hiện chiến thuật “giương Đông, kích Tây”. Hạ đặt giàn khoan giá trị hơn 1 tỷ USD cùng hơn một trăm tàu các loại bảo vệ và hộ tống với chi phí lên đến gần 1.5 tỷ USD/ngày, tập trung sự chú ý ồn ã của dư luận vào sự kiện chính, ở đằng sau, Trung Quốc tiến hành một chiến dịch xây dựng quy mô lớn trên 6 đảo nhân tạo trong vùng quần đảo Trường Sa, mở rộng diện tích, phát triển các cơ sở hậu cần, đường băng dã chiến. Đến khi dư luận hiểu ra và thức tỉnh thì Trung Quốc một việc đã rồi, tiếp tục xúc tiến nốt những việc bên rìa còn lại và hoàn thành mục tiêu chính.
Hệ lụy những bước leo thang của Trung Quốc trên Biển Đông là vô cùng to lớn không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với nhiều nước khác trong khu vực cũng như hòa bình, ổn định ở Đông Nam Á và châu Á – Thái Bình Dương.Sau xung đột ngày 14-3-1988, khu vực hoạt động của tàu thuyền Hải quân Trung Quốc được mở rộng, thậm chí có thể phủ khắp các đảo đá ngầm lân cận củaViệt Nam. Tháng 5-1988, tờ Nhật báoQuân đội nhân dân - tiếng nói chính thức của quân đội Trung Quốc đã có bài viết, trong đó tuyên bố: "Hiện nay Hải quân Trung Quốc có thể bảo vệ lãnh hải gần bờ Trung Quốc, cả chủ quyền trên quần đảo Trường Sa và biển khơi xa lục địa hàng trăm hải lý”. Trung Quốc ngầm tuyên bố lực lượng Hải quân có thực lực bảo vệ biên giới trên biển và hải đảo, cho dù quần đảo Nam Sa cách đại lục Trung Quốc tương đối xa.
Các lấn chiếm của Trung Quốc trên biển Đông không những sẽ hạn chế khả năng, triển vọng kinh tế của Việt Nam, mà còn làm cho Việt Nam rất dễ bị sức ép của Trung Quốc về phương diện quân sự. Xây dựng các đảo nhân tạo và căn cứ quân sự ở Trường Sa (Gạc Ma và Chữ Thập), Trung Quốc nhằm kết nối với căn cứ hải quân Du Lâm (Hải Nam) và Tam Sa (Hoàng Sa) mà tính theo đường chim bay căn cứ Du Lâm chỉ cách đặc khu kinh tế Vũng Áng hơn 350km (nơi có hơn 7.000 công nhân Trung Quốc làm việc); đồng thời chiếu đến dự án Đèo Hải Vân tạo ra một gọng kìm chiến lược khống chế và chia cắt 2 miền Bắc, hình thành một tam giác quân sự cả từ hướng biển và đất liền hết sức nguy hiểm.
Nhìn chung, Trung Quốc đang tiến tới áp đặt một vùng chiến lược độc quyền, kiểm soát khu vực, đặt toàn bộ vùng biển Đông và tất cả các đảo ở đó dưới tầm mắt của mình, mở rộng tuyến phòng thủ chiến lược tới cực Nam biển Đông, lách lưỡi dao vào bên sườn Việt Nam, khống chế Việt Nam từ hướng biển.
3- Chính sách “xoay trục” của Mỹ và tác động đối với Việt Nam
Sự trỗi dậy hung hăng của Trung Quốc đang đe dọa đến hòa bình, ổn định của khu vực,thế giới, đe dọa trực tiếp đến an ninh các đồng minh của Mỹ và tự do hàng hải cũng như việc sử dụng hợp pháp các vùng biển và vùng trời ở Châu Á – Thái Bình Dương. Mặc dù, Mỹkhông có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông nhưng có lợi ích trong tự do hàng hải và sử dụng hợp pháp vùng biển, vùng trời ở Châu Á – Thái Bình Dương. Mỹ quan niệm rằng, tự do hàng hải và sử dụng hợp pháp vùng biển, vùng trời không phải là thứ mà quốc gia này có thể ban phát hoặc không ban phát cho quốc gia khác và nỗ lực đơn phương nhằm làm thay đổi nguyên trạng bằng vũ lực cũng như vi phạm Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) là thách thức trực tiếp đối với uy tín của Mỹ với tư cách là chiếc neo an ninh hoặc vị thế người đảm bảo an ninh khu vực. Vì thế, hiện Mỹ đã quyết định tái cân bằng lực lượng toàn cầu theo hướng ưu tiên khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, sử dụng tranh chấp Biển Đông như một công cụ để ngăn chặn sự trỗi dậy “không hòa bình” của Trung Quốc.
Trong thời gian tới, thay vì cân bằng tỉ lệ lực lượng hải quân 50-50 giữa Đại Tây Dương và Thái Bình Dương như hiện nay, Mỹ sẽ điều chuyển tới khu vực Thái Bình Dương 60% năng lực hải quân của mình. Mỹ đang tích cực củng cố quan hệ với các đồng minh trong khu vực, chuyển từ chính sách trung lập” sang “điều phối và can dự” trong các vấn đề liên quan đến Biển Đông. Mỹ đã lần lượt thông qua Nghị quyết 412 (7-2014), Nghị quyết H.Res-714 (12-2014) về Biển Đông và Biển Hoa Đông, trong đó có nêu đích danh vụ việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HYSY 981 - đó làsự ủng hộ mạnh mẽ đối với Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Trung Quốc xâm lấn trên biển.
Bên cạnh đó, một số nước lớn khác cũng quan tâm đến việc giải quyết vấn đề Biển Đông, điều này tạo ra một tập hợp lực lượng mới khiến Trung Quốc e ngại và không thể không quan tâm và suy tính để điều chỉnh hành động, thái độ cho thích hợp. Cần nói thêm rằng, can dự vào Châu Á - Thái Bình Dương, Đông và Đông Nam Á, Mỹ và các nước lớn khác không hình thành nên thế kiểm soát các vùng biển bằng biện pháp quân sự. Trong bối cảnh các siêu cường không quan niệm tăng ngân sách quốc phòng là tối ưu và tính toán kiểm soát Biển Đông, kiềm chế Trung Quốc sao cho“ít tốn kém” nhất; đồng thời vẫn đảm bảo ổn định của khu vực, Mỹ  nhắm tới mục tiêu quản lý các vụ việc bằng pháp luật, thúc đẩy quá trình đấu tranh hoặc thực thi pháp lý giữa các nước liên quan đến tranh chấp. Nhìn chung, Mỹ ủng hộ việc sử dụng các công cụ pháp lý quốc tế và luôn nhấn mạnh các yêu sách trên biển cần xuất phát từ các thực thể trên đất liền theo UNCLOS.
Sự can dự ngày càng tăng của Mỹ vào tranh chấp Biển Đông ở một chừng mực nhất định phù hợp với lợi ích chiến lược của Việt Nam trong đối phó với Trung Quốc. Là một nước nhỏ, tiềm lực hạn chế hơn Trung Quốc về mọi mặt, Việt Nam có lợi ích trong việc quốc tế hóa giải quyết các tranh chấp, lôi kéo càng nhiều càng tốt sự chú ý quốc tế đối với những leo thang của Trung Quốc trên Biển Đông. Vị trí địa – chính trị, địa – quân sự của Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc và khu vực khiến cho vai trò, vị thế của Việt Nam được nâng lên trong các tính toán chiến lược của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương và Đông Nam Á.Sự quan tâm lớn hơn của Mỹ đối với Việt Nam cũng như sự phát triển ấn tượng của quan hệ Việt – Mỹ thời gian qua chính là kết quả những chuyển biến trong chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc và khu vực.
Bên cạnh đó, sự điều chỉnh chiến lược toàn cầu của Mỹ, việc Mỹ gia tăng can dự vào tranh chấp Biển Đông cũng mang lại cho Việt Nam một số rủi ro nhất định. Với tư cách là một nước láng giềng của Trung Quốc và là một bên tham gia tranh chấp Biển Đông, Việt Nam buộc phải xem xét lại chính sách đối ngoại cân bằng quan hệ và chính sách ngoại giao “ba không” trong điều kiện ràng buộc ý thức hệ vẫn còn đang khá chặt chẽ và những ân oán quá khứ chưa hoàn toàn nguôi ngoai. Ngoài ra, Trung Quốc chắc chắn sẽ không ngồi yên khi Mỹ tìm cách củng cố quan hệ với các nước nhắm vào việc bao vây, kiềm chế Trung Quốc. Với đặc điểm núi biển liền nhau như môi với răng, có mối quan hệ không thể chia cắt về địa dư, khi muốn răn đe,gây sức ép, Trung Quốc không thiếu lý do và điều kiện thực hiện: Chống phá Việt Nam từ bên trong, bao vây Việt Nam từ nhiều hướng (từ Trung Quốc, từ Lào, từ Campuchia...).Rất có thể Việt Nam sẽ rơi vào thế kẹt giữa hai nước lớn và bị luôn cuốn vào một hình thái chiến tranh không mong muốn, bị vạ lây bởi sự đối đầu giữa hai cường quốc. Tóm lại, sự can dự của Mỹ và các nước lớn mang lại cho Việt Nam những thuận lợi lẫn thách thức mới trong việc xử lý tranh chấp Biển Đông cũng như giải quyết quan hệ với các nước lớn, các nước láng giềng và khu vực. Tuy nhiên, phải khẳng định rằng, thuận lợi lớn hơn thách thức.
4- Một vài khuyến nghị
Từ khi CHND Trung Hoa ra đời (1949), đã có ba lần Trung Quốc ra quân lớn đánh Việt Nam: Chiếm quần đảo Hoàng Sa (1974), tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc (1979) và Trường Sa 1988. Nhìn lại lịch sử những lần Trung Quốc tấn công, xâm lược hoặc gây hấn đối với Việt Nam (và không loại trừ đối với cả những quốc gia khác), có thể nhận thấy rằng, Trung Quốc thường hành động khi ít nhất hội tụ đủ những yếu tố sau đây:
Thứ nhất, chọn khiquốc gia - đối tượng trong tình thế có những khó khăn bên trong,  gặp rắc rối hoặc có vị thế yếu trên trường quốc tế, “trong không ấm, ngoài không êm”. Do đó, quốc gia bị Trung Quốc “nhòm ngó” khó có thể chống đỡ, đáp trả hoặc nếu có những quyết định đương đầu mạnh mẽ, dứt khoát, thì tác dụng, hiệu quả cũng bị hạn chế đáng kể - trong điều kiện đó, Trung Quốc đã kịp thời và nhanh chóng chớp lấy thời cơ thực hiện mục tiêu định sẵn.
Thứ hai,các phản ứng và dư luận quốc tế trước hành động của Trung Quốc chỉ có thể ở mức thấp nhất hoặc xuất hiện khoảng trống quyền lực trong khu vực. Trung Quốc đã phân hóa được quốc gia - đối tượng với các nước khác, trung lập hóa những nước lớn hoặc khối nước - đó là lúc tương quan lực lượng thay đổi theo hướng có lợi nhất cho Trung Quốc, khiến Trung Quốc có thể hành động mà chịu ít rủi ro, thiệt hại nhất song vẫn có thể đạt mục tiêu đã định và đạt ở mức cao nhất.
Thứ ba, Trung Quốc đang gặp những bất ổn nội bộ (về phát triển kinh tế, về mâu thuẫn quyền lực, về giải quyết vấn đề xã hội…). Trong tình hình đó,  lãnh đạo Trung Quốc muốn hướng sự chú ý trong nước ra bên ngoài, đánh lạc hướng dư luận hoặc khơi dậy tinh thần dân tộc, sử dụng nó như một chất kết dính xã hội, như một phương thức xoa dịu, giải quyết một cách hình thực những vấn đề nội tại.
Như vậy, nhìn vào những yếu tố nêu trên cộng với phân tích yếu tố mở nước truyền thống, tham vọng mở rộng ảnh hưởng, mở rộng địa bàn hoạt động, mở rộng cương vực sinh tồn, lãnh thổ, đất đai vốn là một nét đặc trưng có tính xuyên suốt, nhất quán của Trung Quốc từ lịch sử tới hiện tại, có thể kết luận rằng, chiến lược “lấn dần”, “chèn ép”, tranh đoạt đất đai, sông biển của láng giềng, nhất là của các nước láng giềng nhỏ và yếu hơn là bất biến. Đặc biệt, khi tuyên bố về “giấc mộng Trung Hoa”, Tập Cận Bình cũng đồng thời kêu gọi xây dựng một quốc gia hùng mạnh với một quân đội hùng mạnh khiến người ta không khỏi không hình dung về sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, sô vanh nước lớn.
Tồn tại bên cạnh một láng giềng khổng lồ, có sức mạnh thống trị trong lịch sử thực sự là một áp lực cho Việt Nam. Đối với Việt Nam, Trung Quốc là một thực tế, là một câu chuyện "không bao giờ kết thúc".Có tham vọng lãnh thổ, lãnh hải, song trong tình hình hiện nay, Trung Quốc cố gắng tránh những cuộc chiến tranh hay xung đột “hao người, tốn của” có thể lôi kéo sự tham dự của nhiều nước, nhất là những nước đối thủ mạnh của Trung Quốc. Để nuốt dần đất đai, sông biển Việt Nam, Trung Quốc tích cực sử dụng “quyền lực mềm” bào mòn sức mạnh bên trong và bên ngoài giống như hút dần dinh dưỡng, làm cho Việt Nam rối loạn, chia rẽ và yếu dần. Trong khi luôn cảnh giác với những khả năng gây va chạm, xung đột vũ trang, Việt Nam còn cần phải cẩn trọng gấp nhiều lần trước sự phụ thuộc quá sâu về kinh tế vào Trung Quốc, trước việc Trung Quốc trúng thầu tới 90% các công trình điện, khai khoáng, dầu khí, luyện kim, hóa chất… củacác dự án kinh tế Việt Nam trọng điểm, hoặc dự án thượng nguồn, liên quan mật thiết tới tài nguyên quốc gia và an ninh năng lượng (90% các công trình trúng thầu, tạicác địa bàn xung yếu về quốc phòng – an ninh  như Quảng Ninh, Vũng Áng, Cửa Việt,Tây Nguyên…),trước việcngười lao động Trung Quốc sang Việt Nam lập làng, thâm nhập sâu, thậm chí lấy vợ, sinh con, đồng hóa dân tộc… Trong tương quan giữa Việt Nam và Trung Quốc với các chỉ số so sánh quá cách biệt, mà sức nặng nghiêng về phía Trung Quốc, nếu cú đấm đằng trước đã là hết sức khó khăn để chống đỡ, thì cú đánh đằng sau lưng hoặc thọc ngang mạng sườn còn khủng khiếp hơn nhiều.
Hoạt động của Trung Quốc thời gian qua cho thấy áp lực dân số và “ước mơ Trung Hoa” – “ước mơ” trỗi dậy một cách nhanh chóng, trở thành siêu cường có khả năng chi phối thế giới đang thúc đẩy Trung Quốc thực hiện chiến lược lấn át láng giềng, chiếm trọn Biển Đông. Nhìn tổng quá, đối với Việt Nam, Trung Quốc đang sử dụng “chiến lược hai gọng kìm”- khống chế Việt Nam cả từ trên bộ, cả từ hướng biển.
Trong điều kiện bất ổn ở Biển Đông không ngừng leo thang dưới bàn tay đạo diễn của Trung Quốc, Việt Nam đang phải đối diện với những thách thức to lớn,đầy nguy cơ kể từ sau khi kết thúc chiến tranh (1975). Một lần nữa, dân tộc Việt Nam lại phải đối diện với ý đồ xâm lăng rõ rệt, trắng trợn của Trung Quốc trong một cuộc chiến không cân sức trong tình thế khá đơn độc. Việt Nam đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng kép không chỉ trên những thách thức kinh tế (khi nền kinh tế bị lệ thuộc quá nhiều và quá sâu vào Trung Quốc), mà còn ở vị thế tại khu vực (khi Trung Quốc thò bàn tay vào công việc các nước láng giềng của Việt Nam, vào quan hệ Việt Nam với láng giềng) và trong những đe dọa chủ quyền, lãnh thổ, lãnh hải. Đây là một giai đoạn lịch sử hết sức nhạy cảm, nếu Việt Nam không có chiến lược, đối sách phù hợp, rất có thể sẽ để lại những tác động bất lợi đối với tiền đồ dân tộc.
Để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải, bảo vệ từng tấc đất thấm máu cha ông, thấm máu những anh hùng liệt sĩ, Việt Nam quyết không lùi bước, lùi bước, đớn hèn là có tội với tiền nhân, có tội với lịch sử.Để có thể vượt qua khúc quanh của lịch sử, việc giải quyết tốt hai mặt đối nội, đối ngoại là yêu cầu sống còn nhằm quy tụ tối đa sức mạnh nội lực, quốc tế, tạo ra sức mạnh tổng hợp cần và đủ để Trung Quốc hiểu rằng không thể dễ dàng hành xử theo lối bất chấp và tự viết nên luật lệ của mình.
Về đối nội, cần ra sức xây dựng, củng cố đồng thuận xã hội,không ngừng xây dựng thực lực đất nước. Lợi ích quốc gia dân tộc được đảm bảo ở mức độ nào, tùythuộc vào đất nước mạnh hay yếu; thành công hay hạn chế trong quan hệ giữa các quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào thực lực mỗi nước. Thực lực của một quốc gia tất nhiên phải được hiểu là sức mạnh tổng hợp cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật và công nghệ, địa vị, ảnh hưởng quốc tế…. Câu chuyện đầu tiên, trước mắt cấp thiết cần phải làm ngay là thực hiện đoàn kết dân tộc một cách chân thành ở cả trong và ngoài nước không phân biệt chính kiến, ý thức hệ, địa vị, thành phần, giai cấp… - Đó là yếu tố cốt lõi làm nên sức mạnh cất cánh của đất nước. Sự gắn kết bền chặt giữa người Việt với người Việt tạo ra sức mạnh bất khả chiến bại - sức mạnh của tinh thần dân tộc, ý chí dân tộc. Đây cũng là cơ hội để hòa hợp, hòa giải dân tộc, khép lại quá khứ, gạt bỏ hận thù, thành kiến, xóa đi vết sẹo chiến tranh 40 năm nay chưa kịp lên da non. Không có lý gì khi hai cựu thù Việt – Mỹ đã có thể ngồi cùng bàn đối thoại mà đồng bào “máu đỏ, da vàng” cùng chung một đất nước lại không thể nối vòng tay lớn để cùng chấn hưng quốc gia? Cũng muốn nói thêm rằng, điều đó phụ thuộc một phần không nhỏ vào chính sách hòa giải dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Về đối ngoại, Việt Nam phải thay đổi căn bản tư duy về quan hệ quốc tế, xem lại chính sách đối ngoại “ba không”. Chính sách “xoay trục” của Mỹ và sự quan tâm của nhiều nước trên thế giới đối với vấn đề Biển Đông đang tạo ra những thuận lợi nhất định cho Việt Nam. Việt Nam nhất định phải nắm lấy cơ hội, chuyển hóa tranh chấp của mình với Trung Quốc theo chiều hướng có lợi nhất, hóa giải các tác động tiêu cực.Việt Nam cần có cách tiếp cận mới trong việc thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ mọi mặt, kể cả quan hệ quân sự với Mỹ để đối phó với sự đe dọa từ phương Bắc. Cần bước qua những mắc mớ quá khứ và gạt bỏ cơn ám ảnh “diễn biến hòa bình” để nhìn thấy ở Mỹ một đối tác có chung lợi ích cùng ngăn cản một Trung Quốc đang trong“cơn khát” đất, khát lãnh hải và mê sảng quyền lực. Không chỉ có vậy, Việt Nam cũng cần có tư duy mới về bạn – thù, cần nhận thức rõ rằng, nền tảng của mọi mối quan hệ quốc tế đương đại là lợi ích, chỉ có lợi ích là vĩnh viễn,vì thế, Việt Nam cần nhìn nhận chính xác các mục tiêu, hoạt động của các nước Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Nga, Mỹ trong khu vực và trong giải quyết vấn đề Biển Đông, không để tư duy bạn – thù cứng nhắc, nỗi lo sợ “diễn biến hòa bình” cản trở những quyết định tỉnh táo.
Việt Nam cần chủ động tạo nên cục diện các nước lớncó lợi ích kinh tế và an ninh ngày càng gia tăng, quấn bện trong quan hệ với Việt Nam,gắn lợi ích, gắn các chính sách của Việt Nam vào các hoạt động kinh tế và chính trị của mạng lưới khu vực rộng lớn. Việc việc đan xen lợi ích và chính sách như thế, một cuộc tấn công Việt Nam cũng sẽ bị coi như sự xâm phạm lợi ích của các nước khác. Ứng phó với Trung Quốc là cả một nghệ thuật, trong cương có nhu, trong nhu có cương, uyển chuyển giữa đối đầu - đối thoại và không loại trừ chính sách liên minh, tuyệt đối không đồng nghĩa liên minh với bè phái, với mất tự chủ hoặc mất độc lập; đồng thời, ghi nhớ rằng, liên minh không phải để tạo ra một tập hợp lực lượng chống Trung Quốc, mà để tự bảo vệ mình, ngăn ngừa Trung Quốc một cách chính đáng và hiệu quả.
Một cách tổng quát, một Việt Nam lớn mạnh, dân chủ, phát triển, coi tham nhũng và thiếu nhân quyền là kẻ thù, có sự ủng hộ, hậu thuẫn to lớn của quốc tế chắc chắn sẽ trở thành một pháo đài vững chắc kháng cự mọi thách thức, chép ép, đe dọa từ Trung Quốc.
 

[1]Tuyên bố của Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam, Báo Nhân dân, 15-3-1988.
[2]Như trên.
[3]Như trên.
( Nguồn; vanhoangheAN...)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bài phát biểu của giáo sư Tương Lai tại lễ tưởng niệm Gạc Ma

« Trước | Sau»

GS Tương Lai

Bài phát biểu của giáo sư Tương Lai tại lễ tưởng niệm Gạc Ma 14.3.15 

Thưa các anh chị, các bạn,
 Tôi vốn không định phát biểu mà nhường vinh dự thực hiện nghĩa vụ công dân hôm nay cho một anh chị khác. Nhưng, các bạn đã quyết định trao cho tôi vinh dự thực hiện nghĩa vụ công dân trong lễ tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh tại Gạc Ma ngày 14.3.1988 tôi xin mạo muội thay mặt cho những người yêu nước có mặt hôm nay nói lên lòng biết ơn vô hạn với 64 liệt sĩ đã anh dũng hy sinh tại Gạc Ma, chống lại bọn Trung Quốc xâm lược.
  Máu của các anh đã nhuộm đỏ nước Biển Đông, dù ai đó có muốn làm mờ nhạt đi cũng không sao che được hình ảnh liệt sĩ Trần Văn Phương quyết giữ chặt cờ Tổ quốc, đã tự quấn lá cờ quanh thân mình, ưỡn ngực ra trước họng súng của kẻ thù đang nã đạn vào mình và đồng đội. Hình ảnh của chỉ huy tàu HQ 604 Vũ Huy Trừ, Lữ đoàn phó Trần Văn Thông, chỉ huy tàu Vũ Huy Lễ, người ra lệnh cho đồng đội lao thẳng lên bãi cát đảo Colin quyết hy sinh giữ đảo. Máu các anh đã loang trên Biển Đông. Máu người đâu phải là nước lã, máu các anh đã hòa vào nước biển, vỗ vào bờ biển Việt Nam, vỗ vào trái tim của mỗi người Việt Nam yêu nước.
Ai dám ngăn cản nhịp đập của trái tim yêu nước của các liệt sĩ đang hòa cùng nhịp đập của những trái tim Việt Nam? Vì thế chúng ta có mặt ở đây hôm nay. Cũng dịp này, hôm qua tại Khánh Hòa đã tổ chức lễ đặt viên đá đầu tiên xây đài tưởng niệm "Những người đã ngã xuống phía chân trời" để đời đời ghi nhớ những người con thân yêu của Tổ quốc đã hy sinh vì chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc.
"Những người đứng lại ở phía chân trời" đang nhắn nhủ, nhắc nhở chúng ta: kẻ thù đang thực hiện "chiến lược đảo nhân tạo" với lời tuyên bố ngạo ngược và trắng trợn của Vương Nghị, bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc: những công trình xây dựng của chúng là xây trên sân nhà chúng, không ai có quyền can thiệp. Đây là một thách thức mới đối với ‎ý chí Việt Nam, với truyền thống tự tôn dân tộc, phẫn nộ với chiến lược Biển Đông của Trung Quốc.
Xin nhắc ngài ngoại trưởng họ Vương, không hiểu ngài có phải là hậu duệ của Vương Thông, viên tướng chỉ huy quân xâm lược nhà Minh thế kỷ XV đã bị đánh cho tan tác kinh hồn bạc vía không? Dù có hay không cũng xin mời ngài nghe những lời Nguyễn Trãi trong "Đại Cáo Bình Ngô": "Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển chưa thôi trống ngực. Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến Tàu còn đổ mồ hôi. Nó đã sợ chết cầu hòa, ngỏ lòng thu phục; ta muốn toàn quân là cốt, cả nước nghỉ ngơi". Điều ấy nói lên rằng, hòa hiếu, hòa bình luôn là mong muốn của ông cha ta suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước.
Nhưng ngoại giao hòa hiếu không thể thực hiện nếu không có khí phách của tinh thần bất khuất như sứ thần Đỗ Khắc Chung đã trả lời viên tướng Ô Mã Nhi khi y hạch sách về hai chữ "Sát Thát" được khắc trên cánh tay tướng sĩ Việt Nam: "vì lòng trung phẫn mà họ tự thích chữ lên cánh tay, vua của tôi không biết việc đó. Tôi là trung thần, sao không có" nói đoạn, vén áo chìa cánh tay có hai chữ Sát Thát cho Ô Mã Nhi xem. Viên tướng xâm lược sau đó nói với tả hữu rằng "không nhục mệnh vua, chúng nó còn người giỏi, người tài, ta chưa dễ mưu tính được", rồi sai người đuổi theo bắt để giết đi nhưng không kịp.
Để thấy rằng suốt mấy nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, ông cha ta có thừa kinh nghiệm đối phó với kẻ thù vì hiểu rất rõ chúng. Rõ ràng là một quá khứ gần và một quá khứ xa đang dồn dập tái hiện và hòa quyện vào trong thời điểm hiện tại của chúng ta. Quá khứ xa là tôi nói về cuộc chiến đấu của ông cha ta ở thế kỷ XIII, XV. Quá khứ gần là trận chiến ở Gạc Ma ở Trường Sa năm 1988 và trước đó là hải chiến Hoàng Sa năm 1974, tiếp theo là các cuộc chiến đấu đẫm máu chống quân xâm lược Trung Quốc trên nhiều trận tuyến.
Biển Đông đang dậy sóng. Chúng ta không thể nào ngồi yên, vì thế hôm nay chúng ta quy tụ lại ở đây. Để làm gì? Chỉ có một mục tiêu: Giương cao ngọn cờ yêu nước chống kẻ thù xâm lược, hỗ trợ cho những ai đang cùng chúng ta kiên quyết đấu tranh vạch trần mọi thủ đoạn của kẻ thù xâm lược.
Tôi nghĩ rằng, lòng yêu nước có nhiều cách biểu hiện, tuy nhiên, bao giờ chúng ta cũng lựa chọn con đường ôn hòa, con đường thuyết phục. Chính nghĩa nhất định thắng phi nghĩa, vì thế, thuyết phục để làm chuyển biến những đầu óc đang còn lú lẫn, ngu muội cả tin vào những lời đường mật của kẻ thù. Chỉ ra rằng không thể mơ hồ khi mà những toan tính của kẻ thù xâm lược đang rất trắng trợn chẳng hạn như "chiến lược đảo nhân tạo" của chúng. Không chỉ đe dọa chủ quyền lãnh thổ mà trước hết là buộc Việt Nam phải khuất phục để chúng thực hiện mưu đồ độc chiếm Biển Đông. Vì vậy, chúng ta ở đây phải hết sức cảnh giác và chúng ta kêu gọi mọi người phải cảnh giác với hành động mới của Trung Quốc ở Biển Đông.
Chính vì thế, Đài "Tưởng niệm những người đứng lại phía chân trời" phải thực hiện sứ mệnh cảnh giác đó. Cũng vì vậy, chúng hoan nghênh phát biểu của Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao Động Việt Nam tại buổi lễ nói trên: "Đây là công trình tưởng niệm của toàn dân tộc". Cả dân tộc nhớ đến những người đã ngã xuống ở Gạc Ma tại Trường Sa, đã hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa và trên Biển Đông để rồi đây còn phải đối phó với những âm mưu, thủ đoạn mới của kẻ thù. Tất cả những điều đó đòi hỏi chúng ta phải kết làm một, gắn bó với nhau vì một tiêu chống kẻ thù xâm lược. Đó là mục tiêu cao cả nhất vào lúc này, phải biết gạt bỏ những khác biệt đẻ hướng vào mục tiêu chung đó.
Nhân hôm nay, tôi kêu gọi mỗi chúng ta sẽ tham gia vào việc góp đá xây dựng tượng đài tưởng niệm ấy, và tôi xin thực hiện ngay phần đóng góp nhỏ nhoi của mình thêm một viên đá ấy.
Đề nghị bà con, anh chị em chúng ta để một phút mặc niệm những chiến sĩ đã hy sinh ở Trường Sa, ở Hoàng Sa, những người đã ngã xuống ở phía chân trời, máu của họ đã nhuộm đỏ Biện Đông. Phút mặc niệm bắt đầu.
Xin cám ơn.


Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=473512

Phần nhận xét hiển thị trên trang

VĂN CAO VÀ CON ĐÒ HUẾ



VĂN CAO VÀ CON ĐÒ HUẾ

 Ngô Minh
  Huế là người đẹp muôn thuở của thi ca. Chỉ riêng hình ảnh cô ca sĩ  ca Huế trên sông Hương cũng đã có không biết bao nhiêu bài thơ hay. Tố Hữu có bài thơ “Tiếng hát sông Hương”, Xuân Diệu có “Nguyệt Cầm”, “Lời kỹ nữ”, Thế Lữ có “ Nghe đàn nguyệt”,v.v.. Bài thơ “ Một đêm đàn lạnh trên sông Huế” của nhạc sĩ - nhà thơ - họa sĩ tài danh Văn Cao là một trong những bài thơ đặc sắc viết về Huế và ca Huế trên sông Hương.
   Bài thơ đưa ta lạc vào thế giới của vẻ đẹp thanh tao nơi bồng lai tiên cảnh.Trên con đò như tình yêu bồng bềnh trôi trên dòng sông thời gian vĩnh hằng, có đôi trai gái say sưa đàn hát bên nhau. Chàng trai dạo đàn cô gái hát , tiếng đàn hát như tiếng tơ đồng tri âm tri kỷ của Bá Nha Tử Kỳ. Nẩy nẩy tơ đồng nhịp nhịp đôi / Lòng nâng ngòn ngọt lại đầu môi / Này em hát khúc tương tư nhé / ngân khẽ em ơi nhẹ nhẹ lời . Đây là lúc cảm xúc đang ngập hồn chàng chàng nhạc sĩ. Anh nghe hồn mình cũng đang “nẩy nẩy .. nhịp đôi” . Một tình cảm mới đang nẩy chồi,bén lửa, đang âm ỉ Này em hát khúc tương tư nhé!. Đề nghị hát nhưng lại sợ tiếng hát làm xao động, làm bay mất, tan biến mất cái cảm giác tình yêu ngọt ngào đang dâng lên ngòn ngọt đầu môi, nên chàng phải vội vàng đề nghị “ ngâm khẽ em ơi nhẹ nhẹ lời..”. Đoạn thơ đã nói rất tinh tế, rất hay tâm trạng của chàng nhạc sĩ si tình xứ Bắc trước người ca nữ xinh đẹp và phong cảnh nên thơ xứ Huế.
            Nhạc sỹ Văn Cao sinh năm 1923 ở Hải Phòng, mất ngày 10/7/1995 .Tuổi trẻ của ông theo học Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương, tự học âm nhạc, sáng tác nhạc và viết văn làm thơ từ rất sớm. Năm 1940, lúc chưa tới tuổi hai mươi ông  có chuyến đi vào Huế. Chuyến đi đã để lại dấu vết sâu đậm trong các sáng tác quan trọng của đời ông .Bài thơ “ Một đêm đàn lạnh trên sông Huế” ông sáng tác vào dịp này. Ngoài bài thơ ông viết bản nhạc “ Sông Hương”.Cả những bài hát nổi tiếng, đỉnh cao trong dòng nhạc lãng mạn Việt Nam như Thiên Thai Suối mơ, Trương Chi.. viết trong những năm từ 1941 đến 1943 của ông có nguồn gốc cảm hứng từ thành quách,sông nước con người Huế trong đợt đi quan trọng ấy.Sinh thời vào năm 1986, trong một lá thư gửi cho Tạp chí Sông Hương ở Huế ông tâm sự:” Huế là nguồn sáng tạo của tôi trong những năm 40. Thơ và nhạc là điều tôi tìm nguồn từ ấy. Có lẽ lịch sử và cảnh vật của Cố Đô có những điều gây cảm xúc cho sáng tạo. Đối với nơi đó người ta phải suy nghĩ nhiều không về lịch sử mà về một nền văn hóa. Những người Huế sống tự hào và đầy sáng tạo. Có lẽ sự sáng tạo của người dân Huế đã giúp tôi làm được âm nhạc và thơ”.Mùa xuân1987, Huế lại được đón Văn Cao. Ông được các nhà thơ Huế mời xuống đò nghe lại “ Một đêm đàn lạnh trên sông Huế”, xuống làng Chuồn uống rượu đêm trên thuyền đánh cá với ngư dân Phá Tam Giang . Và ông đã có thơ, vẫn một thứ thi pháp Văn Cao ám ảnh, diệu nghệ :
                                      Tôi níu lấy mảnh lưới

                                                 Lưới là cái cuối cùng

                                                  Đang hắt tôi xuống biển

          Thơ Văn Cao xuất hiện sau nhạc, nhưng thơ cũng mang lại cho ông những thành công không kém nhạc và họa. Thơ Văn Cao, cũng như lời ca trong các bản nhạc của ông thường rất lạ về chữ, về tứ. Cảm về Quy Nhơn, ông viết :” Trời xanh rơi vài giọt Tháp Chàm”! Viết về cái còn lại của Thời gian, ông kết rất ấn tượng bằng chất liệu của hội họa :” Riêng những câu thơ / còn xanh / Riêng những bài hát / còn xanh / Và đôi mắt em / như hai giếng nước.”. Trong bài thơ “Một đêm đàn lạnh trên sông Huế ”, ngay cả cách chọn vị trí chủ thể thẩm mỹ trong bài thơ của ông cũng khác các nhà thơ  đương thời. Tất cả các bài thơ viết con đò trên sông Hương về ca Huế, đàn Huế, tác giả đều ở vị trí người quan sát, nhìn và cảm về Huế như Người kỹ nữ, Nguyệt cầm của Xuân Diệu, Tiếng hát Sông Hương của Tố Hữu.v.v... Với Đêm đàn lạnh trên sông Huế , vị trí chủ thể thẩm mỹ là nhà thơ chính là người trong cuộc, người tham gia làm nên tiếng đàn Huế, cái đẹp Huế: Như Tử Kỳ nghe nhạc Bá Nha / Em nghe anh dạo khúc thu xa .. cùng với Giọng hát sầu chi phấn nữ ơi / Từng canh trời điểm một sao rơi / Trăng tà trăng lặn hiu hiu gió / Ánh lửa chài xa thấp thoáng trôi..  Cuộc đàn hát quên thời gian cho đến lúcTay nhấn tơ chùng đã ngấm sương.. Dòng Tiêu Kim thủy gà xao xác..(Tiêu Kim thủy là một tên gọi khác của Sông Hương ).Tức là đàn hát cho đến khi trời sắp sáng, cho đến lúc Em cạn lời thôi anh dứt nhạc . Là người trong cuộc mới thốt lên một nhịp thơ lạ với câu thơ gợi hỏi hai lần :Sao đàn u hoài gì mùa thu? Sao đàn u hoài gì mùa thu. Ở đây chính tác giả đã nhận ra tiếng đàn của mình đã khác đi, mềm đi nhưng không lý giải được điều sâu kín gì đã biến tiếng đàn thành nỗi u hoài mùa thu day dứt!
            Khi lòng đã mềm đi, tiếng đàn đã mềm đi, khi hai tâm hồn đã tri âm ,đồng vọng thì đêm vàng cũng trở nên lạc lõng. Để đến lúc chia tay, mới biết đau nhói nỗi biệt ly: Em cạn lời thôi anh dứt nhạc / Biệt ly đôi phách ngó đàn tranh / Một đêm đàn lạnh trên sông Huế / Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh. Đây là cao trào của bài thơ. Thì ra bài thơ không chủ ý tả tiếng đàn, đêm đàn mà sâu xa hơn nói về một tình yêungấm sương với đủ các cung bậc của nó, mà cuối cùng là nỗi nhớ mang theo suốt đời: Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh
            Tại sao lại là “một đêm đàn lạnh” mà không phải là” một đêm đàn “trên sông Huế? Chữ “ lạnh” nói lên điều gì ? Chữ lạnh là tâm trạng của nhà thơ sau đêm đàn. Một đêm đàn đầy xúc động và giao cảm, đầy tri âm và đồng vọng. Đêm đàn đã thấm vào nhau. Nhưng rồi phải chia ly, mỗi người đều mang lạnh trong lòng.” Lạnh” đây là sự trống trải của nhớ nhung cao độ , là cái lạnh của tình yêu nồng cháy. Đó cũng chính là cái tứ mạnh và bền vững của bài thơ. Văn Cao là người Hải Phòng mới vào Huế lần đầu, nhưng thơ ông đã nồng nàn từ ngữ, âm điệu Huế, hồn Huế  !
            Đã gần 60 năm kể từ khi ra được viết ra, bài thơ “Một đêm đàn lạnh trên sông Huế” vẫn mang hơi ấm của cuộc sống hôm nay. Bài thơ gợi lên nhiều điều trong cảm xúc, cấu tứ và kỹ thuật ngôn từ. Con đò Huế,cô gái Huế ,ngón đàn ca Huế vẫn còn đó, đêm đêm lại cất lên bồng bềnh luyến láy  làm say lòng du khách.  Những đêm thấm đẫm văn hóa Huế ấy người yêu thơ lại nhớ đến nhà thơ tài, nhạc sĩ tài danh Văn Cao, trong hồn lại vang lên những câu thơ tha thiết :
                                Em cạn lời thôi anh dứt nhạc
                              Biệt ly đôi phách ngó đàn tranh
                             Một đêm đàn lạnh trên sông Huế
                             Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh...
                  
                                            


Phần nhận xét hiển thị trên trang

3 ĐẠI GIA GIÀU NHẤT SÀN CHỨNG KHOÁN ĐI LÀM NÔNG NGHIỆP

3 đại gia giàu nhất sàn chứng khoán đi làm nông nghiệp

 Ảnh minh họa: ST Like TCCL.info Blog để cập nhật thông tin mới nhất từ Việt Nam và toàn Thế giới! TCCL | Đăng ngày 16/3/2015 
Bầu Đức, ông chủ thép Hòa Phát và giờ là tỷ phú Phạm Nhật Vượng đều đã đặt chân vào lĩnh vực nông nghiệp. Chia sẻ với VnExpress, một lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh cho biết Tập đoàn Vingroup của ông Phạm Nhật Vượng vừa đề xuất được sản xuất rau, quả sạch cũng như các sản phẩm nông nghiệp khác tại tỉnh. Thực tế, việc ông lớn ngành bất động sản, bán lẻ này lấn sân sang nông nghiệp đã được thai nghén từ lâu. Đề xuất của Vingroup được lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng phía tỉnh hoan nghênh và tạo điều kiện đầu tư. Chủ tịch tỉnh Nguyễn Văn Đọc cũng nhận định sản phẩm nông nghiệp sẽ luôn có đầu ra, bởi khách hàng tiềm năng là 1,2 triệu dân trên địa bàn và hơn 7 triệu du khách mỗi năm, hàng chục nghìn công nhân tại các khu công nghiệp. Vingroup thành danh với tư cách nhà đầu tư, phát triển bất động sản, du lịch nghỉ dưỡng và sau này lấn sân sang giáo dục, y tế, bán lẻ… Lĩnh vực nông nghiệp được 3 doanh nhân giàu nhất sàn chứng khoán đánh giá là nhiều tiềm năng - Ảnh: ST Trong một cuộc gặp báo chí đầu năm Ất Mùi, ông Phạm Nhật Vượng - Chủ tịch Vingroup cho biết sau khi làm việc với chuyên gia nông nghiệp của Isarel, ông nhận thấy đây là lĩnh vực đáng đầu tư và đã “gom” được vài chục hécta đất nông nghiệp để thực hiện ước mơ này. Vị tỷ phú đôla đầu tiên của Việt Nam cũng không giấu tham vọng dự án sẽ giúp ngành nông nghiệp Việt Nam phát triển, người tiêu dùng sẽ được sử dụng những sản phẩm nông nghiệp sạch với giá không đắt đỏ như bây giờ. Đến ngày 15/3, ông Phạm Nhật Vương có tổng tài sản trên sàn chứng khoán đạt 20.990 tỷ đồng. Ở vị trí thứ hai là ông Đoàn Nguyên Đức với hơn 7.600 tỷ đồng và đứng thứ 3 là ông Trần Đình Long với hơn 5.400 tỷ đồng. Hòa Phát, một ông lớn khác trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh thép, bất động sản cũng vừa thông tin nông nghiệp là chiến lược đầu tư dài hạn và sẽ ưu tiên nhân sự, tài chính cho ngành nghề kinh doanh mới này trong tương lai. Trước mắt, tập đoàn chi 300 tỷ đồng để thành lập công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Hưng Yên, công suất 300.000 tấn một năm, dự kiến sẽ cho ra thị trường lô hàng thương mại đầu tiên vào tháng 6/2015, hướng tới doanh thu 3.000 tỷ đồng trong 3 năm. Thị trường thức ăn chăn nuôi Việt Nam được đánh giá là tiềm năng với doanh số 6 tỷ USD. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2014, cả nước sản xuất được 14,7 triệu tấn thức ăn chăn nuôi công nghiệp và dự kiến tăng lên 15,6 triệu tấn trong năm nay. Tuy nhiên, con số này chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu thị trường bởi chiến lược phát triển ngành chăn nuôi cho hay đến năm 2015, Việt Nam cần 18- 20 triệu tấn thức ăn công nghiệp và tăng lên 25-26 triệu tấn vào năm 2020. Để đáp ứng đủ nhu cầu thị trường, những năm qua Việt Nam đã phải chi hàng tỷ đôla Mỹ để nhập khẩu thức ăn gia súc, chẳng hạn năm 2014 lên tới 3,3 tỷ đôla. Song, "miếng bánh ngon" này đến nay gần như vẫn do doanh nghiệp ngoại nắm giữ. Báo cáo từ Hiệp hội Chăn nuôi cho thấy, các doanh nghiệp liên doanh và 100% vốn đầu tư nước ngoài chiếm hơn 60% tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi sản xuất ra, còn các doanh nghiệp trong nước dù đông quân số nhưng chỉ chiếm khoảng 40% thị phần. Do đó, với quan điểm thận trọng của người “lính mới”, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hòa Phát - ông Trần Đình Long nhận định áp lực cạnh tranh trong ngành thương mại và sản xuất thức ăn chăn nuôi rất lớn, thậm chí lớn hơn ngành thép nhưng tập đoàn sẽ quyết tâm vượt qua các khó khăn, trở ngại để thành công. Ngoài ra, nhắc đến những đại gia tay ngang sang nông nghiệp, không thể không kể đến Chủ tịch Hoàng Anh Gia Lai - ông Đoàn Nguyên Đức. Năm 2008, nhận thấy lĩnh vực bất động sản tuy có khả năng mang lại lợi nhuận đột biến nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro và mang tính chu kỳ, Bầu Đức đã quyết định sang Lào, Campuchia tìm đất trồng cao su, sau đó là mía, cọ dầu và ngô. Với phương châm đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh để phân tán rủi ro, “lấy ngắn nuôi dài” từ những cây trồng ngắn ngày, đến giữa năm 2014, Hoàng Anh Gia Lai có khoảng 44.500 hécta cao su, 8000 hécta mía đường, cọ dầu đã trồng được 17.300 hécta và bắp có khoảng 5.000 hécta. Biết tận dụng các cây trồng làm thức ăn gia sức, năm vừa qua vị doanh nhân này lại bắt tay vào kế hoạch phát triển đàn bò 100.000 con.   "Nhiều cổ đông tâm sự với tôi rằng các dự án phát triển rất thuận lợi nhưng chờ lợi nhuận quá lâu, sốt ruột vô cùng. Vì vậy, tôi phải nghĩ đến cây bắp, con bò để bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư", Bầu Đức bộc bạch. Tại kỳ đại hội cổ đông thường niên năm 2014, ông chia sẻ Hoàng Anh Gia Lai đã đầu tư 18.000 tỷ đồng vào nông nghiệp công nghệ cao và bước đầu thu được thành công. Riêng năm 2014, doanh thu từ bán mủ cao su, bán đường của tập đoàn đạt gần 1.270 tỷ đồng, tăng 18% so với năm trước và chiếm hơn 40% tổng doanh thu. Bầu Đức làm nông nghiệp - Ảnh: ST Nói về xu hướng các doanh nghiệp tư nhân ngày càng đổ nhiều tiền vào nông nghiệp, Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Lân Hùng nhận định đây là thành công lớn của Chính phủ khi đã kêu gọi được các nhà đầu tư lớn. “Không có doanh nghiệp thì nông dân không phát triển được, muốn tiến dài thì vốn là điều rất quan trọng”, ông phát biểu. Đồng quan điểm, nguyên Cục trưởng Cục Trồng trọt Nguyễn Trí Ngọc “rất mừng” khi các doanh nghiệp đang dành sự quan tâm lớn cho nông nghiệp, bởi trước đây lĩnh vực này thường bị cho là rủi ro và hiệu quả trước mắt không cao, trong khi có nhiều ngành khác sinh lợi lớn ngay từ ban đầu đầu. “Nếu không có những ông lớn vào cuộc, ngành nông nghiệp còn phải bươn chải nhiều”, ông nói. Đang hợp tác với Tập đoàn Him Lam đầu tư trồng mắc ca ở Tây Nguyên, ông Nguyễn Đức Hưởng - Phó Chủ tịch Ngân hàng Bưu điện Liên Việt cũng thừa nhận vườn của nông dân, doanh nghiệp trồng sẽ khác rất nhiều so với vườn Nhà nước. “Vườn của Nhà nước chủ yếu làm thí nghiệm, chắc chắn không bằng những người bỏ công sức, sống chết vì nó”, ông nhấn mạnh. Thậm chí, Giáo sư Hoàng Hòe, người có hàng chục năm theo đuổi nghề nông cũng phải thốt lên: “Toàn những ông nhiều tiền đổ vào, những ông này thì khôn lắm”. Tuy nhiên, những người trong cuộc đều chung cảm nhận để ngành nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững thì cần có những định hướng đúng đắn từ cơ quan quản lý và hỗ trợ cần thiết về vốn, kỹ thuật. Hiện nay, cơ chế hỗ trợ cho doanh nghiệp đã có khi Nghị định 210 về chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn đã được ban hành năm 2013 và Thông tư hướng dẫn thanh toán, quyết toán các khoản hỗ trợ sẽ chính thức có hiệu lực từ 27/4/2015. Tuy vậy, các chuyên gia cho rằng việc triển khai các văn bản này phải thực hiện nhanh chóng và mỗi tỉnh cần có chính sách đặc thù để áp dụng vào thực tế, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động và liên kết với nông dân. Phương Linh Theo VNExpress
Đọc thêm tại: http://tccl.info/vn/kinh-doanh/25617/3-dai-gia-giau-nhat-san-chung-khoan-di-lam-nong-nghiep.html | TCCL.info
Phần nhận xét hiển thị trên trang

TỪ TÀI HẬU CHẾT TRONG TÙ TRƯỚC KHI PHẢI 'ĐỀN TỘI'

 tham nhũng, trung quốc, tử hình, ung thư
Tướng Từ Tài Hậu - Ảnh: ST Like 
TCCL.info Blog để cập nhật thông tin mới nhất từ Việt Nam và toàn Thế giới!   TCCL | Đăng ngày 16/3/2015 
Từ Tài Hậu đã đã chết vì bệnh ung thư bàng quang vào ngày 15.3.  Từ Tài Hậu là con "hổ" lớn thứ hai bị bắt trong chiến dịch "đả hổ đập ruồi" để phòng chống tham nhũng của chính quyền Trung Quốc đã chết vì bệnh ung thư bàng quang vào ngày 15.3. Tướng Từ Tài Hậu - Ảnh: ST Theo luật hình sự Trung Quốc, các công tố viên sẽ không làm việc để đưa Từ Tài Hậu ra tòa án xét xử tội trạng nữa, nhưng sẽ phải đối mặt với những hành động bất hợp pháp của mình theo đúng quy định pháp luật, một tuyên bố được Viện kiểm sát quân sự Trung Quốc đưa ra hôm qua. Ngày 27.10.2014, Viện Kiểm sát quân sự Trung Quốc đã kết thúc hồ sơ điều tra vụ án của nguyên Phó chủ tịch Quân ủy trung ương Trung Quốc, thượng tướng Từ Tài Hậu và chính thức buộc tội Từ Tài Hậu lợi dụng chức vụ để giúp người khác thăng chức, trực tiếp và thông qua người thân để nhận hối lộ số tiền cực lớn. Hãng tin Tân Hoa Xã cho biết Từ Tài Hậu đã nhận tội và không kháng cáo. Trước đó, Trung ương Ðảng Cộng sản Trung Quốc cũng đã tước đảng tịch và tước quân hàm thượng tướng của Từ Tài Hậu. Tài sản tham nhũng khổng lồ bị tịch thu Mạng quân sự Tây Lục cũng nhắc lại rằng trong quá trình điều tra, các kiểm sát viên đã tịch thu từ nhà tướng Từ số tài sản trị giá 1,6 tỉ nhân dân tệ (khoảng 261,8 triệu USD).   Cụ thể là gia đình Từ Tài Hậu có đến 17 tài khoản trong năm ngân hàng cấp quốc gia với tổng số tiền lên đến 335 triệu nhân dân tệ (54,8 triệu USD), trong đó có 14 tài khoản dưới tên giả. Tại sáu ngân hàng địa phương, gia tộc họ Từ cũng dùng tên giả tạo 12 tài khoản để gửi 430 triệu nhân dân tệ (hơn 65,9 triệu USD) và khoảng 10 tài khoản ở năm ngân hàng nước ngoài với số tiền khoảng 220 triệu nhân dân tệ. Tại biệt thự của gia đình Từ Tài Hậu ở khu nhà cao cấp tại Tế Nam, các nhà điều tra tịch thu hàng triệu USD, euro và bảng Anh. Còn tại khu biệt thự ở thành phố Chu Hải, họ phát hiện khoảng 8,65kg vàng. Vợ của Từ Tài Hậu sở hữu khoảng 20 bất động sản, trong khi con gái đứng tên khoảng 15 khu bất động sản, trong đó có tòa chung cư hơn 10 tầng cho thuê ở đường vành đai số 2 Bắc Kinh, nơi Cốc Tuấn Sơn cũng có hàng loạt bất động sản trước khi bị bắt. Thiên Hà (theo China Daily)
Đọc thêm tại: http://tccl.info/vn/nong/the-gioi/25581/tu-tai-hau-chet-trong-tu-truoc-khi-phai-den-toi-.html | TCCL.info
Một Thế Giới


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Gần 70 tấn vàng vào Việt Nam đi đâu?


(Doanh nghiệp) - 69,1 tấn là số vàng tiêu thụ trong 2014 của VN. Đây là con số báo cáo về nhu cầu tiêu thụ vàng 2014 Hội đồng Vàng Thế giới vừa công bố.

Chuyên gia bác số liệu
Theo Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), trong số 69,1 tấn vàng được nhập vào Việt Nam có 56,4 tấn vàng miếng, còn vàng nữ trang là 12,7 tấn.
Tuy nhiên ông Nguyễn Ngọc Trọng, Giám đốc Công ty kinh doanh nữ trang New Partners Jewelry cho rằng con số này rất huyễn hoặc.
Theo ông Trọng, một tháng, nhu cầu nguyên liệu của mỗi doanh nghiệp nữ trang lớn vào khoảng 200 kg, và vì số lượng doanh nghiệp nữ trang lớn chỉ đếm trên đầu ngón tay nên thực chất lượng vàng dùng để chế tác nữ trang không nhiều. Còn ở các tiệm vàng việc chế tác chủ yếu là mua lại sản phẩm đã bán ra trước đó, rồi nấu lại, không mua vàng nguyên liệu nhiều.
“Con số 12,7 tấn vàng nữ trang tiêu thụ trong năm 2014 có thể là hợp lý, nếu tính cả sản phẩm nữ trang vàng đã chế tác ở Trung Quốc nhập lậu về. Vì thị trường nữ trang năm qua rất trầm lắng. Số còn lại lên đến 56,4 tấn vàng được xem là vàng đầu tư, lại được thống kê riêng biệt với nữ trang thì không hiểu về Việt Nam rồi, lượng vàng này đã trở thành gì”.
Tuy vậy, theo một thành viên Hội đồng Vàng Thế giới, cho dù không nhập chính thức thì khả năng vàng được nhập lậu qua biên giới Việt Nam là vẫn có. “Cho dù nhập chính thức hay không thì nhiều năm gần đây, mỗi năm Việt Nam vẫn tiêu thụ trên 50 tấn vàng”, vị này nói thêm.
Giới chuyên môn không đồng tình với con số gần 70 tấn vàng được tiêu thụ trong năm 2014 tại Việt Nam
Giới chuyên môn không đồng tình với con số gần 70 tấn vàng được tiêu thụ trong năm 2014 tại Việt Nam
Đường đi của vàng
Chỉ ra lối đi của vàng, ông Trọng cho biết chỉ có 3 con đường chính thức.
Đầu tiên là làm nguyên liệu cho vàng nữ trang, nhẫn tròn trơn, nhưng như đã thống kê, vàng nữ trang đã nằm trong con số 12,7 tấn nói trên.
Hai là làm nguyên liệu để chế tác vàng mỹ nghệ, thường làm lớp áo bên ngoài sản phẩm nên cũng không cần quá nhiều vàng cho hoạt động này.
Ba là phục vụ công nghiệp sản xuất hàng công nghệ, nhưng lượng vàng cần cho hoạt động này cũng rất ít.
"Còn lối đi lớn nhất của vàng lậu trong nhiều năm trước là để dập thành vàng miếng bán ra thị trường giờ đã bị chặn.
Với nhu cầu nguyên liệu cho vàng nữ trang cùng lắm chỉ bằng con số nói trên, vàng miếng mới dập lại cũng không có thì khả năng sai sót của con số này rất cao”, ông Trọng tiếp tục khẳng định.
Một đại diện của SJC cũng cho biết ông ngạc nhiên về con số thống kê nói trên. Vì chuyện vàng lậu thì xưa nay vẫn có, ở miền Nam chủ yếu nhập qua biên giới các tỉnh như An Giang, Kiên Giang... do chênh lệch giá trong nước và thế giới, nhưng với mãi lực hiện tại thì không có lý do gì để Việt Nam nhập đến 69,1 tấn vàng trong năm 2014.
Không chỉ có vậy, suốt thời gian năm 2013 trở về trước đó, Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức 74 phiên đấu thầu vàng được tổ chức với gần 80 tấn vàng được cung ứng cho nhu cầu thị trường.
Không chỉ có vậy việc tổ chức quản lý sản xuất vàng miếng cũng đã được sắp xếp lại từ năm 2012. Cụ thể, NHNN đã ban hành Quyết định số 1623/QĐ-NHNN về tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng. Theo đó, thay vì có nhiều thương hiệu vàng miếng như trước, toàn thị trường chỉ có một thương hiệu duy nhất do NHNN ủy quyền cho Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn - SJC gia công.
Hạn mức, khối lượng, thời điểm sản xuất và nguồn vàng nguyên liệu cũng do NHNN quyết định, trên cơ sở mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ và cung cầu vàng miếng trên thi trường.
Như vậy nhu cầu và khả năng tiêu thụ, cung ứng gần như được thu về một mối nên giới chuyên môn cho rằng không thể có chuyện lượng tiêu thụ vàng quá lớn như Hội đồng Vàng thế giới đã công bố.
Mặc dù vậy vẫn còn nhiều câu hỏi bỏ ngỏ, băn khoăn vì không biết vì sao lại có con số đó. Và nếu đó là số đúng vậy vàng vào Việt Nam rồi đi đâu?
Phương Nguyên (Tổng hợp)

Phần nhận xét hiển thị trên trang