Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2015

Khốn nạn quá nhờ!

Văn chương và ăn mày


Tịnh Sơn
TP - “Không khéo ăn mày lại gặp ăn mày”, nhà văn Đỗ Chu bình về sự kiện quảng bá văn học Việt Nam vừa rộn ràng diễn ra tại Hà Nội và nhiều tỉnh thành phía Bắc dịp nguyên tiêu mới đây.

Khi khách và chủ kéo nhau đi thưởng ngoạn, thù tạc là chính, ít tập trung vào câu chuyện văn học và cơ chế xuất nhập khẩu văn chương, khi tên tuổi, sự nghiệp văn chương của các khách mời quốc tế cũng chẳng giàu có ấn tượng hơn chủ nhà bao nhiêu, vậy nên “ăn mày lại gặp ăn mày”?! 

Năng gắn văn chương với ăn mày, có vẻ Đỗ Chu thấm Nguyên Hồng hơi kỹ. Bởi tác giả Bỉ Vỏ từng so cái mả thằng ăn mày “chính là đời thằng nhà văn chúng ta đấy”.

Đỗ Chu từng kể về một đống đất cao lù lù ven đường mà người ta gọi là mả ông Đống hay là mả thằng ăn mày. Để đảm bảo cho việc đi lại, công nhân bảo dưỡng đường lâu lâu lại gạt xúc đổ xuống ruộng. Nhưng ngay sau đó nó lại cao vụt lên. Bởi người đi chợ Phủ (Từ Sơn) gần đấy ai cũng ném vào một cục đất, mong không bị lừa lọc, ế ẩm thua lỗ. Ai cũng “đặt lòng tin vào sự phù hộ của thằng ăn mày chết thiêng tự bao giờ”. 

Một lần nhà văn Nguyên Hồng trên đường về Bắc Giang đã dừng xe đạp, hỏi Đỗ Chu xem cái mả này giống cái gì trên đời. Rồi tự kết luận giống như cái đời thằng nhà văn, là “do quê hương xứ sở bồi đắp nên, là do ông trời phù chú mà thành, cho nên nó suốt đời phải mang nợ…”.

Hai cái sự “ăn mày” kể trên rõ là khác nhau. Tự coi mình “ăn mày” mồ hôi nước mắt, cơm gạo của nhân dân, để suốt đời phấn đấu trả nợ bằng tác phẩm xứng đáng với nhân dân. Hay là chỉ véo von đàn ca sáo thổi. Từ thân phận buồn của nền văn chương học thuật nước nhà hiện giờ, giữa hiện thực đời sống đầy những khóc cười, thấy món nợ của nhà văn càng chồng chất. Một thứ “nợ xấu” đầy chua chát. Nhà văn chọn lựa cô đơn cô độc đối diện với máy chữ, trang giấy trắng, hay vui thú hội hè?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Không mạnh lên được vì nội lực quá yếu nên bị bắt nạt hoài!

Sao không đặt câu hỏi, vì sao ta hay bị ngoại xâm đe dọa?’


An Yên (thực hiện)
(VTC News) – Cho rằng sự mạnh hay yếu, đằng sau nó là sự bảo lãnh văn hóa khủng khiếp, Giáo sư Trần Ngọc Vương nói đã bao giờ ta đặt câu hỏi vì sao chúng ta hay bị ngoại xâm đe dọa.

Tiếp nối câu chuyện về suy thoái văn hóa của sử gia Dương Trung Quốc qua bài: “Suy thoái văn hóa chạm ngưỡng, đẩy dân tộc đến thảm họa khôn lường”, nhà nghiên cứu văn hóa - Giáo sư Trần Ngọc Vương có những chia sẻ về sức mạnh văn hóa trong bảo vệ và phát triển đất nước.

Là người từng có nhiều năm nghiên cứu, gắn chặt với đời sống văn hóa dân tộc, nhìn nhận thẳng thắn, ông có thấy một sự thật đau lòng, rằng thực trạng nền văn hóa của chúng ta đang ‘có vấn đề’ rất lớn?

Hơn 70 năm trước đây, Tản Đà có những câu thơ mà đến giờ vẫn còn nguyên tính thời sự:

Dân 25 triệu ai người lớn
Nước 4000 năm vẫn trẻ con.

Có ai hỏi tại sao một dân tộc có bề dày lịch sử 4000 năm vẫn được bậc thi bá một thời ví như trẻ con? Trong khi chúng ta không phải nước bé, rất nhiều chỉ tiêu về dân số, quy mô nền kinh tế,…của chúng ta đều ở thứ hạng cao trên thế giới. Đó là bởi cái chúng ta thiếu, là một cấu trúc văn hóa ổn định.

Tôi phải khẩn thiết lưu ý rằng, nền văn hóa của chúng ta đang thực sự rơi vào tình trạng nguy hiểm, một sự suy thoái đáng báo động chứ không đơn thuần là có vấn đề nữa.

Ở thời điểm này, câu chuyện văn hóa còn đáng báo động hơn, nặng nề hơn cả vấn đề kinh tế, bởi yếu tố văn hóa – là nền móng đảm bảo cho sự phát triển bền vững và lâu dài.

Nguyên nhân của tình trạng này đến từ đâu thưa ông?

Đi tìm nguyên nhân sâu xa nhất của tình trạng này, như tôi vừa nói, nằm ở chỗ là chúng ta không có được một cấu trúc vĩ mô của một nền văn hóa cố định, ổn định và duy trì liên tục để trở thành truyền thống.

Đừng nhầm giữa câu chuyện bề dày lịch sử và văn hóa. Lịch sử là câu chuyện khác, văn hóa là câu chuyện khác. 

Một nền văn hóa bất kì nào chuyển tải những giá trị đặc trưng, có bản sắc, dấu hiệu nhận biết quan trọng ở người quan sát từ bên ngoài là người ta cảm thấy bị hấp dẫn, cảm thấy yêu mến, mong muốn thưởng thức, chia sẻ, và vận dụng những thành tựu của nền văn hóa ấy trong đời sống.

Ví dụ đơn giản, quần bò là một giá trị văn hóa, người ta biến nó thành một mốt quần áo thông dụng. Từ những chiếc quần bò dành cho anh cao bồi chăn ngựa miền tây nước Mỹ, nó trở thành thời trang đi vào đời sống mọi nơi trên thế giới bởi người ta cảm nhận thấy nét đẹp của nó, sự hấp dẫn của nó. Và nó trở thành một sự chia sẻ, cộng hưởng giá trị. 

Thường những giá trị văn hóa khi được đại chúng hóa, nó phải có lý do nào đó, nói như triết gia Hêghen: Tồn tại là hợp lý, hay Ăngghen nói: Cái hợp lý sẽ tồn tại. 

Vì thế nên từ xưa đến nay, có một nguyên tắc đi kèm: Người ta không thể chỉ quản lý văn hóa bằng các mệnh lệnh hành chính, mệnh lệnh hành chính không cưỡng bức văn hóa được, đôi khi nó gây hiệu ứng ngược lại.

Thế cái cấu trúc văn hóa ổn định đó cụ thể là gì, thưa Giáo sư?

Trước hết anh phải nhìn lại anh là ai, anh có cái gì, để đứng một cách vững vàng trước thế giới này, và làm nên giá trị của riêng anh.

Thứ hai, không những anh đứng được, mà anh phải dùng nó như một thứ nội lực thúc đẩy sự phát triển của cộng động người, và làm nên những giá trị được thế giới thừa nhận.

Chúng ta thích nói về những giá trị tốt đẹp, mà không biết cần phải nói về mặt trái để thay đổi mặt trái đó theo chiều hướng tích cực. 

Cho nên, tôi cho rằng những giá trị lớn mà chúng ta cố công tuyên truyền, mà cứ nhấn mạnh mãi như thế, một ngày nào đó, giống như bộ xương không được nuôi dưỡng bằng các hệ sinh học thiết yếu như hệ hô hấp, tuần hoàn hay cả hệ bài tiết, nó khiến nhiều độc tố văn hóa tồn tại lưu cữu trong cơ thể một cộng đồng, làm ra ung nhọt văn hóa.

Cái gì tốt không hẳn cứ tốt mãi, “vô điều kiện”, cái xấu không vĩnh viễn chỉ có tác dụng xấu, điều này dễ hiểu từ góc độ triết học, nhưng khi vận dụng vào nghiên cứu thực tế thì người ta lại quên.

Chúng ta không chịu nghiên cứu tử tế, cẩn thận, sâu sắc để xem chúng ta có gì, thiếu gì và cần làm gì cho văn hóa.

Chúng ta vẫn nhắc đến truyền thống chống giặc ngoại xâm. Truyền thống ấy có phải là bản sắc, là giá trị của riêng chúng ta không, thưa ông?

Người ta nói niềm tự hào của dân tộc ta là truyền thống 4000 năm chống ngoại xâm trong suốt 4000 năm lịch sử. Tại sao không thử một lần đặt ra câu hỏi, anh tồn tại thế nào mà luôn bị ngoại xâm đe dọa? 

Ăngghen nói trong các chế độ xã hội có giai cấp, yếu thì bị xâm lược, yếu nữa bị phụ thuộc, yếu nữa bị đồng hóa và giải thể cái tồn tại đó. 

Khi sự tồn tại luôn chơi vơi và yếu, anh phải xem lại cách thế tồn tại của anh chứ. Phải nhớ một nguyên tắc căn cốt, rằng sự mạnh hay yếu, đằng sau nó là sự bảo lãnh văn hóa khủng khiếp. 

Những di họa của một thế kỷ chiến tranh hay rộng hơn, một lịch sử đầy ắp chiến tranh còn kéo dài cho đến tận bây giờ và lâu nữa. Càng ý thức sớm về nó càng khắc phục mặt trái của nó rõ ràng hơn, rành mạch hơn, có chiều sâu hơn. Trong mọi cuộc chiến tranh, tổn thất lớn nhất của cộng đồng là mất đi những lớp, những thành phần tinh hoa nhất của cộng đồng, của xã hội.

Bất kỳ một cộng đồng nào cũng có những yếu tố hợp thành tạo nên sắc thái văn hóa, trong đó có truyền thống, hiện đại, nội sinh, ngoại nhập, nhưng phải nhắc đi nhắc lại nếu muốn có cốt cách văn hóa, yếu tố nội sinh phải được đặt lên hàng đầu.

Anh nhìn xem nội sinh văn hóa Việt Nam có gì? Chúng ta  nói về giá trị truyền thống, nhưng quay qua quay lại, lại về văn hóa làng xã, văn hóa nông thôn. 

Văn hóa làng xã về cơ bản, đối với sự phát triển của xã hội hiện đại nó sẽ là sự kìm hãm. Văn hóa có những yếu tố cũ, nhưng càng cần phải có những cái tươi rói, mới tinh.

Có nhà lý luận văn hóa học đã đưa ra một định nghĩa: văn hóa là cái gì còn đọng lại sau khi những cái khác đã qua đi trong đời sống của một cá thể hay một cộng đồng. Trong ý nghĩa đó thì không phải mọi lớp văn hóa đều là “di sản”, đều là đáng quý. 

Thế cho nên, trong quá trình mở cửa và hội nhập, sự tiếp nhận văn hóa đã dẫn đến sự lai căng méo mó?

Có vô số chuyện cần nói trên đường hướng này, chỉ lấy một ví dụ đời thường nhất, muôn thuở nhất. Đó yêu phải có văn hóa, nhưng văn hóa nào cho tình yêu Việt bây giờ, đó có phải là vấn đề không? 

Một điều thiếu khủng khiếp ở Việt Nam là văn hóa tình dục, văn hóa sex. Việt Nam làm gì có văn hóa tình dục, tất cả ứng xử về phương diện dục tính con người Việt Nam đều không vượt qua phương diện ứng xử bản năng bao nhiêu.
Chính sự thiếu hụt trong việc giáo dục tình dục đó, khiến cho việc xây dựng những hình ảnh sex trong phim, trong nghệ thuật trở nên lệch lạc, méo mó.

Trước đây, có hội thảo nhằm cấm truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, các vị đưa ra một tiêu chuẩn là cái gì dâm thì cấm. Tôi mới hỏi các vị một câu dâm là gì? Các vị nói dâm là những cái gợi lên hành vi tính giao. Nhưng thật ra hiểu như vậy là nhầm, dâm xét theo nghĩa gốc, dâm nghĩa là “quá mức”, các nhà Trung Quốc học nổi tiếng đều hiểu “dâm” là démesure. Từ những hiểu sai sẽ dẫn đến chỉ đạo sai.

Nhắc đến câu chuyện văn hóa gần gũi như cái váy, cái áo, như việc khoe thân, ảnh nude…tràn lan, ông nhận xét như thế nào về vấn nạn này?

Đó là loại hành vi vô văn hóa của những người khoác lên mình chiếc áo nghệ sỹ, của những người khoác lên mình chiếc áo người làm văn hóa.

Nhưng cũng phải nói thêm, hành vi vô văn hóa đó chỉ phục vụ, chỉ kêu gọi sự cộng hưởng từ bộ phận công chúng thiếu văn hóa.

Khoan nói đến việc giáo dục công chúng vì nó sẽ là câu chuyện rất dài và cần lộ trình. Có cách nào để chặn đứng đà suy thoái, trong khi tình trạng đã ở mức báo động khẩn thiết? 

Trước hết phải có những nhà văn hóa làm khuôn mẫu, đồng thời trước hết là những người cầm quyền, ứng xử một cách văn hóa đích thực, chắc chắn nền văn hóa sẽ thay đổi. Phải tạo ra cho bằng được những khuôn mẫu văn hóa của thời đại mới qua chính những mẫu người văn hóa.

Xin cảm ơn ông!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Không bình thường hay phát ngôn bất thường mờ!

Tìm nguyên nhân quan chức phát ngôn... bất thường


Lâm Minh Chánh
VNN - Một ví dụ khác về lối ứng xử khác lạ với thông thường, đó là, quan chức phụ trách ngành giáo dục trả lời trên báo chí rằng “Chuyện bỏ thuốc cho học sinh ngủ trường mầm non có hoài, không có vấn đề gì lớn”.

Trong tiếng Anh có một từ là “common sense”, được dùng nhiều, nhưng lại rất khó dịch cho sát nghĩa ra tiếng Việt.

Có từ điển dịch là: “lẽ thường tình, trí khôn, lương tri, thường thức”. Có sách định nghĩa “common sense” là năng lực cơ bản để cảm nhận, hiểu, đánh giá, hành động theo cách phổ biến. Còn nói theo nghĩa dễ hiểu nhất, “common sense” là những trí khôn, những suy nghĩ cơ bản, thông thường cần thiết trong cuộc sống.

Các cụ xưa cũng để lại không ít “giai thoại” nhằm chế giễu những người khờ -  thiếu “common sense” trầm trọng.

Dưới đây là một giai thoại điển hình: Ông chủ đưa cho anh người ở hai cái bát, dặn bát này đựng bún, bát kia đựng mắm… Anh ta chạy te tái đi mua, rồi quay lại hỏi đồng nào mua mắm, đồng nào mua bún?

Còn đây là một số ví dụ thời hiện đại về thiếu common sense: sếp dặn mua bánh mì rồi mua bánh bao (vì tiệm bánh mì đóng cửa lúc 9.00, tiệm bánh bao đóng cửa lúc 9.30). Hôm ấy tiệm bánh mì đóng cửa đột xuất, thay vì mua bánh bao trước rồi kiếm tiệm khác bán bánh mì,  anh nhân viên mẫn cán lại chạy thật xa để kiếm tiệm bánh mì, đến khi về lại thì tiệm bánh bao đã đóng cửa...

Rồi hàng loạt biểu hiện khác ta vẫn gặp hàng ngày. Như, đi đám tang mà vẫn alô cười nói, vui vẻ như không. Gặp người bạn đang lo lắng về độ béo phì, thì lại tô hô hỏi rằng sao bạn càng ngày càng mập? Hay một hành vi khác, là thản nhiên ngồi yên vị trên ghế giơ tay ra bắt tay vị sếp lớn tuổi hơn…

“Common sense” là đặc tính cơ bản lắm, không thể so sánh với trí thông minh trí tuệ (intelligent), thông minh thực tế (smart), lanh lợi (clever), hay kiến thức uyên bác (knowledgeable)...  Nhưng nếu không có common sense thì dù chúng ta có thông minh, trí tuệ, uyên bác đến đâu cũng là người lơ ngơ, ngớ ngẩn, làm việc không hiệu quả, và lâu lâu lại có những hành xử hết sức “lạ lùng” giữa đám đông.

Những chuyên gia tuyển dụng nhiều kinh nghiệm không chỉ phỏng vấn các ứng viên để nhận biết năng lực, kiến thức, kỹ năng, thái độ, kinh nghiệm của ứng viên, mà còn tìm mức độ common sense của các ứng viên, kể cả ở những vị trí thấp như bảo vệ, tạp vụ.

Có thể nói common sense là điều kiện cần cho người "bình thường". Thế nhưng bây giờ lại có hiện tượng nhiều người giỏi, có năng lực, làm được nhiều điều hay, thậm chí, có địa vị trong xã hội, song hành xử lại có biểu hiện thiếu common sense.

Chuyện thứ nhất,  ông chủ, lãnh đạo của công ty nước ngọt đang gây ầm ĩ nọ cứ mặc áo thêu rồng khi phát giải đua xe đạp trên đài truyền hình. Nếu có common sense thì hẳn ông phải hiểu rõ rằng rồng là biểu tượng của Vua – người đứng đầu thiên hạ trong thời đại phong kiến. Vì vậy, nếu có trót thích thì cũng nên thêu lấy một con vừa phải, thay vì in hình thật lớn và mặc khi xuất hiện trước công chúng.

Và đặc biệt, dù đang bị dư luận chỉ trích về những hành xử quanh chuyện dị vật nọ, ông vẫn tìm đủ mọi cách để chứng minh mình đúng, để phân trần rằng nước ngọt của mình được sản xuất đảm bảo vệ sinh và mình đã đúng trong việc báo công an bắt giữ vị khách hàng tống tiền. Trong khi việc cần làm là một thái độ nhận lỗi chân thành.

Một ví dụ khác về lối ứng xử khác lạ với thông thường, đó là, quan chức phụ trách ngành giáo dục trả lời trên báo chí rằng “Chuyện bỏ thuốc cho học sinh ngủ trường mầm non có hoài, không có vấn đề gì lớn”. Trả lời kiểu như vậy, hoặc rất thiếu trách nhiệm, hoặc vị quan chức nói trên thiếu common sense một cách trầm trọng.

Còn rất nhiều các phát biểu khác của nhiều quan chức chẳng hạn như bắn pháo hoa để người nghèo quên đi cái đói, nắn đường cong mềm mại, “cướp có văn hóa”… đều là những phát biểu hoặc rất vội vã, thiếu sự thận trọng hoặc là người phát biểu thiếu common sense. 

Mong rằng mỗi chúng ta suy nghĩ thấu đáo, tự bồi dưỡng common sense cho mình để có thể làm việc hiệu quả, hành xử hợp lý và không trở thành người “lạ,” không đưa ra những phát biểu, ứng xử kỳ quặc, lơ ngơ giữa xã hội.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2015

Vậy đến bao giờ mới đến "thời điểm"?

“Thời điểm này chưa thể hình sự hóa tội làm giàu bất chính”


Thế Kha
Dân Trí - Đó là quan điểm ông Phạm Anh Tuấn - Phó trưởng Ban Nội chính Trung ương - đưa ra tại hội thảo “Thu hồi tài sản tham nhũng - Thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế” do Ban Nội chính Trung ương tổ chức ngày 13/3.

Bên lề hội thảo, ông Phạm Anh Tuấn - Phó trưởng Ban Nội chính Trung ương - trả lời một số câu hỏi của PV xung quanh việc thu hồi tài sản tham nhũng, xác minh phản ánh về những khối tài sản của quan chức…

Ông có thể cho biết vì sao việc thu hồi tài sản tham nhũng thời gian qua vẫn chưa đạt được hiệu quả cao, như nghiên cứu của Ban Nội chính Trung ương cũng đã nói tới?

Ngoài những nguyên nhân đã được đề cập trong nghiên cứu của Ban Nội chính Trung ương, tôi quan tâm đến một số cái chúng ta đang vướng. Cái vướng đầu tiên đó là quy định về thu hồi tài sản tham nhũng hiện nay của ta đang tản mát, chưa tập trung. Thứ hai, chúng ta cũng nên chăng có một cơ quan hay tổ chức nào đó chịu trách nhiệm đầu mối chính trong việc thu hồi tài sản tham nhũng. Thứ ba, các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan chức năng phát hiện xử lý các hành vi tham nhũng quan tâm các hình phạt, áp dụng các chế tài thì cũng cần quan tâm đúng mức hơn nữa đến việc thu thồi tài sản tham nhũng. Thậm chí là cho phép phong toả, kê biên tài khoản, tài sản mà có dấu hiệu tham nhũng để đảm bảo việc thu hồi có hiệu quả. 

Ngoài ra, một nội dung nữa tôi cho rằng chúng ta đang “mắc” hiện nay, đó là các hiệp định tương trợ tư pháp hình sự liên quan đến việc thu hồi tài sản tham nhũng của chúng ta chưa có nhiều và chính cái này làm cho việc thu hồi tài sản tham nhũng hiện nay của ta bị hạn chế.

Ông đánh giá thế nào về ý kiến của TS Phạm Quý Tỵ - nguyên Thứ trưởng Bộ Tư pháp - về việc thời điểm hiện nay chưa thể hình sự hoá tội làm giàu bất chính?

Thời điểm hiện nay chưa thể hình sự hoá hành vi làm giàu bất chính bởi tội này còn liên quan đến nhiều quy định, chứ không chỉ quy định trong mỗi Bộ luật Hình sự được.

Liên quan đến nội dung này, hiện nay đã có Đề án cơ chế kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn đang được Đảng và Chính phủ hoàn thiện sớm. Trên cơ sở đó thì ta mới có thể chứng minh, xác minh được đâu là tài sản làm giàu bất chính. Đối với những tài sản không chứng minh được nguồn gốc có thể coi đấy là tài sản tham nhũng giống như một số nước hiện vẫn đang áp dụng.

Vì vậy, cá nhân tôi cho rằng chúng ta cần hoàn thiện một số quy định mang tính hệ thống để có thể hình sự hoá hành vi làm giàu bất chính.

Trước Đại hội Đảng, Ban Nội chính Trung ương có tiếp nhận nhiều đơn thư tố giác về những khối tài sản bất thường của quan chức và các ông đã xử lý thông tin đó như thế nào?

Hiện nay thông tin tiếp nhận của chúng tôi là tương đối nhiều. Chúng ta biết rằng có nhiều thông tin trên mạng xã hội hiện nay, nếu mới đọc chúng ta rất dễ cảm thấy đây là sự thật. Tuy nhiên, để xác định nó có đúng hay không thì ta phải có quy trình xác minh làm rõ bởi một mặt ta phải tích cực phát hiện hành vi tham nhũng, nhưng một mặt ta vẫn phải bảo đảm tự do, danh dự và cũng phải bảo vệ cho những đối tượng trên mạng xã hội nêu. Chúng ta cũng không loại trừ khả năng những thông tin này có động cơ gì đó, vì vậy, việc xác định có hay không phải có quy trình rất chặt chẽ.

Thủ tướng Chính phủ vừa qua có nói rằng các cơ quan nhà nước phải chủ động cung cấp thông tin chính thống, chính xác để phản ánh lại các nội dung mà mạng xã hội đã nêu. Vậy ý kiến của ông thế nào khi thời gian qua mạng xã hội có nêu khá nhiều những thông tin về khối tài sản khổng lồ của người này, người kia và Ban Nội chính Trung ương đã xem xét vấn đề này thế nào?

Đối với những thông tin đó phải có quy trình rất chặt chẽ bởi nó liên quan đến danh dự, uy tín của một số đồng chí lãnh đạo. Như chúng ta đã biết có không ít lần trên mạng xã hội thông tin không chính xác nhưng lại không có bất cứ thông tin nào phản hồi cũng như không ai chịu trách nhiệm về cái đó. Chúng ta cần cố gắng làm sao để công tác phòng chống tham nhũng vẫn giữ được uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân.

Trong báo cáo của nhóm nghiên cứu “Thu hồi tài sản tham nhũng - Thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế” đã đề xuất nếu người vi phạm nộp tài sản và hoàn lại tài sản tham nhũng thì sẽ được miễn giảm trách nhiệm hình sự, chuyển sang xử lý hành chính. Xin hỏi ý kiến của ông về vấn đề này thế nào?

Thực ra đối với hành vi tham nhũng, tội phạm tham nhũng thì cái hướng tới đều là tài sản. Nếu nói về công bằng, chúng ta phải tìm mọi cách hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu, thì xem như là hoà, coi như là xong.

Tuy nhiên, ở Việt Nam chúng ta cũng như trên thế giới, cũng có ý kiến cho rằng hãy xác định đây là tội phạm kinh tế, nếu khắc phục được hậu quả thì có thể xem xét, miễn trách nhiệm hình sự và đề cao việc khắc phục hậu quả.

Điều này thì không sai, nhưng ở đây nếu chúng ta loại bỏ hình phạt và chúng ta chỉ nhằm đến việc nếu cứ tham nhũng, nếu phát hiện thì thu hồi về, thế là xong, là hoà thì tôi nghĩ tính răn đe sẽ rất thấp, không đủ sức răn đe. Vì vậy, bên cạnh việc tiếp tục chứng minh và áp dụng biện pháp xử lý nghiêm khắc với hành vi tham nhũng, cần phải có những biện pháp thu hồi ở mức cao nhất tài sản tham nhũng chứ không thể lấy việc thu hồi hay tự nguyện nộp tài sản để thay thế cho hình phạt, bởi như thế ở Việt Nam là chưa phù hợp.

Xin cảm ơn ông!


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thuyền trưởng tàu ngầm VN đầu tiên: Nhắc đến Gạc Ma là nhắc đến sự dã man của Trung Quốc


Thứ Sáu, 13/03/2015 | 10:47 GMT+7

(VTC News) – Đại tá Phạm Tân, thuyền trưởng tàu ngầm Việt Nam đầu tiên nói về sự kiện Gạc Ma năm 1988 khi quân Trung Quốc nhẫn tâm xả súng sát hại hàng chục người lính công binh ta đóng ở Gạc Ma.

» Hải chiến Trường Sa 1988: Người thuyền trưởng và con tàu giữ đảo Cô Lin
» Xây dựng khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma

14/3/1988, Trung Quốc nổ súng sát hại 64 cán bộ chiến sĩ hải quân trên Đá Gạc Ma. Dù đã hàng chục năm trôi qua, nhưng ký ức về nó không phai nhòa trong các thế hệ, nhất là những người từng trực tiếp công tác trong Quân chủng Hải quân như Đại tá Phạm Tân.

Bức tranh các chiến sỹ Hải quân quyết tâm giữ cờ Tổ quốc khi quân Trung Quốc 
đổ bộ lên Gạc Ma
 
Vị thuyền trưởng tàu ngầm đầu tiên của Việt Nam cho biết, vào thời điểm xảy ra sự kiện Gạc Ma, ông là Thiếu tá, Trợ lý kế hoạch của Phòng tác chiến Quân chủng Hải quân, đang làm nhiệm vụ tại Cam Ranh.

Trong cuộc trò chuyện với VTC News, ông không thể giấu được cảm xúc về sự căm phẫn trước hành động dã man, ngang ngược của Trung Quốc với những người đồng đội, anh em mình trên vùng biển đảo Tổ quốc cách đây 27 năm.
- Là cựu sĩ quan Hải quân nhân dân Việt Nam, khi nhắc đến sự kiện Gạc Ma ngày 14/3/1988, cảm xúc của ông là gì?
14/3/1988, ngày xảy ra sự kiện Trung Quốc đánh chiếm bãi đá ngầm Gạc Ma, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Những ngày ấy, tôi đang làm việc tại Cam Ranh, trợ giúp các thủ trưởng Bộ Tư lệnh Hải quân phối hợp tác chiến, đưa ra kế hoạch củng cố, bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Đại tá Phạm Tân, thuyền trưởng tàu ngầm đầu tiên của Việt Nam không giấu được căm phẫn khi nhắc tới sự kiện Gạc Ma 1988 - Ảnh: Tùng Đinh 

Cuối 1987, đầu 1988 Trung Quốc ngang nhiên chiếm đảo Chữ Thập của Việt Nam. Biển đảo của Việt Nam bị đe dọa, Quân chủng Hải quân với sự cho phép của Nhà nước, thực hiện công tác củng cố và bảo vệ chủ quyền biển đảo, nhất là quần đảo Trường Sa, sau là quần đảo Hoàng Sa.

Khi nhắc đến Gạc Ma 1988 là nhắc đến sự 'dã man’ của Trung Quốc. Dã man vì khi đó chúng đưa 4 tàu chiến, trong đó có các tàu hậu vệ tên lửa tuần tra và chiếm các đảo của Việt Nam.

Khi đó, các cán bộ chiến sỹ của ta đều là những người lính nhưng đi trên những chiếc tàu dân sự không có vũ khí (tàu HQ604, HQ605) để củng cố và xây dựng đảo ở khu vực Gạc Ma, Côn Lin và Len Đao.
 
Trung Quốc ngang nhiên đưa tàu xuồng đổ bộ khi quân ta đang trên đảo Gạc Ma, giật cờ của Tổ quốc Việt Nam và bắn các cán bộ chiến sỹ, tạo ra sự đụng độ trên bãi ngầm Gạc Ma.

Sau khi nổ súng, quân Trung Quốc rút ra tàu, bắn chìm các tàu vận tải quân sự 604 của Lữ đoàn 125 và sát hại chiến sỹ công binh thuộc Lữ đoàn 146 và bỏ chạy.

Nhắc tới sự kiện Gạc Ma 14/3/1988, cá nhân tôi rất căm phẫn!

Trung Quốc ngang nhiên dùng vũ lực đi xâm lược các khu vực thuộc chủ quyền Việt Nam dù trước đó vẫn nói 2 nước là anh em.

Chúng dùng tàu quân sự hỏa lực mạnh để tấn công tàu vận tải không vũ trang của Việt Nam và hành động dã man sát hại các chiến sx công binh.

- Góc nhìn của một quân nhân như ông về sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ hải quân ngày 14/3/1988 thế nào?

Thực tình sự kiện Gạc Ma không thể gọi là trận đánh, vì nếu là trận đánh thì cả 2 phía đều phải có sự chuẩn bị.
Các chiến sĩ trên tàu HQ-604 bị hải quân Trung Quốc bắn chìm ngày 14-3-1988 
được đồng đội ứng cứu - Ảnh của đại tá Trần Minh Cảnh - Chủ nhiệm Chính trị Vùng 4 
hải quân thời kỳ 1988

Trong khi đó, Việt Nam ra hiện trường chỉ để xây dựng và củng cố biển đảo. Chúng ta không hề vũ trang hay gây chiến với Trung Quốc nhưng họ lại chủ động đưa tàu chiến đến.

Như vậy, chẳng khác gì người cầm vũ khí tấn công người tay không. Trong khi đó, nếu thực sự là một trận đánh, chưa chắc Trung Quốc có thể chiếm được Đá Gạc Ma vì chúng ta đã có sự chuẩn bị về vũ khí.
Bản đồ khu vực đá Gạc Ma, nơi Trung Quốc chiếm đóng trái phép của Việt Nam 
từ năm 1988 Có thể nói, Gạc Ma 1988 là sự kiện Trung Quốc ‘đánh trộm’ Việt Nam.

Dù có chênh lệch về vũ khí, lực lượng nhưng một khi đã là trận đánh chắc chắn Trung Quốc không thể tránh được thiệt hại, nhất là khi binh sỹ của họ mang trong mình tâm lý sợ hãi vì hành động sai trái trên lãnh thổ Việt Nam.

- Hiện nay, quân đội Việt Nam đang được hiện đại hóa với nhiều trang thiết bị tối tân, trong đó phải kể đến những chiếc tàu ngầm Kilo mua từ Nga, theo ông tàu ngầm Kilo đóng vai trò thế nào trong công tác bảo vệ chủ quyền biển đảo hiện nay?

Nhà nước có chủ trương đưa 2 quân chủng Hải quân và Phòng không không quân tiến lên hiện đại chứ không phải từng bước hiện đại.

Điều đó có nghĩa 2 quân chủng sẽ được trang bị nhiều khí tài hiện đại, không chỉ của một nước mà từ nhiều nguồn khác nhau.

Hiện nay, có 3 chiếc tàu ngầm lớp Kilo đã được bàn giao cho hải quân trong số 6 chiếc đặt mua từ Nga.
 
Đây là một thay đổi rất lớn trong sức mạnh của lực lượng hải quân, giá như năm 1988 chúng ta có tàu ngầm, Trung Quốc chưa chắc đã thực hiện hành động dã man như ngày 14/3 ở Gạc Ma.

Bên cạnh tàu ngầm, Việt Nam hiện nay còn có nhiều vũ khí, khí tài hiện đại khác để hỗ trợ cho tác chiến trên biển, đủ sức khiến các kẻ thù cảm thấy sợ hãi khi có ý đồ tấn công.

Tôi tin, lực lượng tàu ngầm sẽ hoạt động tốt và bảo vệ được chủ quyền Tổ quốc.

- Các thông tin công khai cho thấy Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc sở hữu tương đối nhiều tàu ngầm, theo ông điều đó gây khó khăn thế nào cho Hải quân nhân dân Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền?

Trung Quốc có cả hạm đội tàu ngầm ở Nam Á, tuy nhiên, đặc điểm tác chiến của tàu ngầm là hoàn toàn bí mật, nhiều chưa chắc đã thắng ít.

Trong khi đó, truyền thống chiến đấu của Quân đội Việt Nam là vận dụng chiến thuật lấy ít địch nhiều, vô cùng hiệu quả.

Bên cạnh đó, việc vận dụng một thiết bị quân sự hiệu quả cần sự đóng góp lớn từ yếu tố con người. 

Mà cụ thể hơn là ý chí, là kinh nghiệm. Những điều kiện này, các sĩ quan, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam luôn đáp ứng được.

Lý do là chúng ta hành động để bảo vệ chủ quyền Tổ quốc, trong khi đó những kẻ xâm nhập lại ra trận trong tâm thế không thoải mái khi làm việc trái với đạo lý.

Chênh lệch số lượng không phải là khó khăn đối với hải quân chúng ta vì Trung Quốc không thể cùng lúc triển khai ồ ạt tàu ngầm hoạt động.

Một lợi thế nhỏ có thể kể ra đó là với sợ lượng lớn thì mật độ xuất kích của từng tàu có thể thấp hơn, tăng thời gian nghỉ ngơi của thủy thủ đoàn, nhưng không đáng kể.

- Theo ông, Hải quân nhân dân Việt Nam bên cạnh việc mua mới vũ khí, quá trình huấn luyện sĩ quan trẻ đóng vai trò thế nào trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo?

Về công tác đào tạo, chúng ta nhận được sự giúp đỡ rất nhiều từ phía Nga, sau khi tàu về tiếp tục đưa chuyên gia sang hỗ trợ quá trình huấn luyện, sử dụng giai đoạn đầu.

Vì vùng Biển Đông có điều kiện phức tạp, có 2 dòng hải lưu nóng lạnh chảy cùng nhau nên sẽ có các đặc điểm riêng, yêu cầu các cán bộ, chiến sỹ cần tập trung cao độ vào quá trình huấn luyện để làm chủ vũ khí.
Tàu HQ 604 tham gia chiến dịch CQ88 - Ảnh tư liệu
 
Khi tác chiến tàu ngầm các thủy thủ cần ý chí, cần niềm tin để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Ngoài ra, tất cả các chiến sỹ trẻ phải tự rèn luyện bản thân, tránh tình trạng chủ quan khi điều kiện được cải thiện nhiều so với thế hệ đầu tiên như chúng tôi.

Bên cạnh đó, chúng ta cần phải tập trung xây dựng lực lượng cứu hộ tàu ngầm. Tai nạn tàu ngầm vẫn có thể xảy ra và sẽ vô cùng thảm khốc nếu không được cứu hộ kịp thời.

Chính vì vậy, xây dựng lực lượng cứu hộ đồng bộ sẽ giúp hải quân tăng cường thêm sức mạnh cho quá trình tác chiến trên biển.

- Từng ngày, từng giờ các chiến sỹ và nhân dân ta đang bám đảo, bám biển bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là thế hệ đi trước, ông có ý kiến gì về việc tri ân, tưởng niệm những người đã ngã xuống?

Mới đây, có thông tin về xây dựng Đài tưởng niệm chiến sỹ Gạc Ma ở Khánh Hòa, tôi cho rằng rất nên làm. Đó chính là hoạt động để tri ân, nhắc lại sự hi sinh anh dũng của 64 cán bộ chiến sỹ trong sự kiện Gạc Ma năm 1988.

Về nghi lễ thả vòng hoa tưởng niệm các chiến sỹ đã hi sinh khi làm nhiệm vụ, trong chuyến đi Trường Sa với anh Hồ Đức Việt, Bí thư Trung ương Đoàn và Phó Tổng tham mưu trưởng Phạm Văn Trà, tôi tự mình đi mua hoa ở phố Hàm Long (Hà Nội), rồi làm vòng hoa, thả tưởng niệm các anh em.
Thả hoa tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh vì biển đảo - Ảnh: Mạnh Duy/Người lao động 

Không chỉ riêng 64 cán bộ chiến sỹ ở Gạc Ma ngày 14/3/1988, đến nay đã có nhiều anh em hi sinh trong quá trình làm nhiệm vụ, gìn giữ chủ quyền Tổ quốc ở nơi hải đảo. Vì vậy, chúng ta cần có những hoạt động tri ân, tưởng nhớ xứng đáng.

- Đối với thế hệ cán bộ, chiến sỹ hiện nay, cần có thêm những việc làm gì để họ thêm vững tâm bảo vệ chủ quyền nơi hải đảo xa xôi, thưa ông?

Hiện nay, Nhà nước có chính sách chăm lo cho cuộc sống anh em chiến sỹ ngoài đảo xa, về cả vật chất và tinh thần.

Tuy nhiên, theo tôi chúng ta cần đẩy mạnh các hoạt động kết nối, liên lạc và giao lưu giữa đảo và đất liền. Đưa các phóng viên, nhà báo ra đảo, tìm hiểu, viết bài về cuộc sống của các chiến sỹ, giúp nhân dân hiểu thêm về tình hình biển đảo Tổ quốc.

Điều đó sẽ giúp người dân trong đất liền gắn kết, có trách nhiệm hơn với chủ quyền biển đảo.

Xin cảm ơn ông!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

"Cái gì có lợi cho dân thì làm, có hại cho dân thì phải tránh". Điều tối thiểu này có gì phải bàn cãi? Tịch thu xe có khác gì cướp tài sản của dân chỉ vì lỗi say rượu?

Tranh cãi gay gắt tại tọa đàm về "tịch thu xe người say rượu"

Tư Giang

 

 

 

 

Đề nghị biểu quyết bằng giơ tay của vị luật sư bị phản ứng quyết liệt. Ảnh TG
(TBKTSG Online) - Đề xuất thu xe khi lái xe say rượu, hay đi vào đường cao tốc... tiếp tục gây chia rẽ tại một buổi tọa đàm tổ chức tại Hà Nội ngày hôm nay 11-3.
“Tôi đề nghị anh dừng ngay lại”, luật sư Trần Vũ Hải đứng bật dậy, nhoài người qua bàn chủ tọa để ngăn cản một luật sư phát biểu.
Cũng như ông Hải, Phó chủ tịch Ủy ban An toàn giao thông quốc gia Khuất Việt Hùng gần như quát lên: “Anh không được làm thế!”; ông Hùng cũng nhoài hết cỡ trên bàn chủ tọa để ngăn cản.
Trước đó, vị luật sư, sau khi trích dẫn rằng, Đảng và Chính phủ cũng đang xem xét Luật trưng cầu dân ý, đề nghị những người có mặt tại tọa đàm giơ tay biểu quyết xem ai ủng hộ, và không ủng hộ đề xuất tịch thu phương tiện giao thông của người say rượu, hay xe máy đi vào đường cao tốc mà Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia đề xuất và hiện đang gây nhiều tranh cãi.
Cả hai lần vị luật sư đề nghị biểu quyết thì cả hai lần ông bị hai vị đồng chủ tọa của buổi tọa đàm do Trung tâm Truyền thông Giáo dục cộng đồng (MEC) và Văn phòng luật sư Trần Vũ Hải tổ chức sáng 11-3 tại Hà Nội cản trở quyết liệt, dù có nhiều tràng pháo tay của người tham dự ủng hộ ông.
Nhiều tiếng lao xao nổi lên; thậm chí có tiếng hô vang lên “Đề nghị anh Trần Vũ Hải không nên sợ hãi đến vậy” để phản đối hành động ngăn cản của ông Hải với vị luật sư.
Tuy nhiên, sau những phản ứng gay gắt của hai đồng chủ tọa cuộc tọa đàm mang tên “Tịch thu phương tiện: Pháp lý và thực tiễn”, vị luật sư đã không thể thực hiện được ý định của mình.
Diễn biến này xảy ra gần cuối của cuộc tọa đàm, và nó cho thấy đề xuất trên của Ủy ban đã gây ra sự chia rẽ như thế nào trong xã hội.
Trước đó, ông Hùng đã “rào trước” trong lời phát biểu khai mạc: “Trước khi nói bất kỳ điều gì, tôi xin thông báo: Thứ nhất, về kiến nghị của Ủy ban An toàn Giao thông quốc gia, Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có chỉ đạo giao cho Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công An, Bộ Tư Pháp, và các cơ quan, bộ ngành khác tiếp nhận, xử lý và báo cáo Chính phủ trước ngày 31-3-2015. Như vậy, chúng tôi khẳng định: kiến nghị của Ủy ban An toàn Giao thông quốc gia đã có cơ quan tiếp nhận và xử lý là bộ Giao thông vận tải”.
Ông giải thích về đề xuất tịch thu xe vi phạm – đề xuất nặng nhất và gây nhiều tranh cãi nhất: “Tại sao phạt nặng thế? Đề xuất chế tài để hướng tới mục tiêu bảo vệ tính mạng, đời sống, tài sản, cơ hội được chăm sóc gia đình mình... cho người tham gia giao thông”.
Trước một câu hỏi về cá nhân của phóng viên: “Khi say rượu ông có lái xe không”, vị phó chủ tịch Ủy ban – sau khi làm những động tác tỏ vẻ bất bình – khẳng định: “Không”. Ông nói, lần say rượu gần đây nhất, ông đã gọi điện thoại cho vợ, dù vợ đang mang thai 7 tháng, đến đón, như để chứng minh cho thông điệp “Đã uống rượu bia thì không lái xe”  mà ông đề nghị các nhà báo lưu tâm trong tọa đàm.
Quan điểm của ông Hùng, tất nhiên là được ông Trần Vũ Hải đồng tình. Sau khi trích dẫn hàng loạt các văn bản pháp luật, ông Hải nói: “Cá nhân tôi cho rằng, về cơ bản đề xuất của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia không trái Hiến pháp, Luật dân sự, phù hợp luật xử lý vi phạm hành chính”.
Ông ví von: “Uống rượu mà lái xe thì phải coi như cầm cả súng liên thanh, hay lựu đạn đã mở chốt… Rất nguy hiểm”.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Sỹ Cương tỏ vẻ ủng hộ: “Cá nhân tôi trân trọng đề xuất của Ủy ban. Tôi cho đề xuất là có cơ sở. Với tư cách đại biểu Quốc hôi, tôi thấy không có lý do gì không đưa các đề xuất đó vào thực tiễn để giúp điều chỉnh hành vi vi phạm pháp luật”.
Ông Cương khẳng định, uống rượu bia khi điều khiển phương tiện khi ra đường là có thể giết người.
Tuy nhiên, cũng có nhiều ý kiến phản đối đề xuất tịch thu phương tiện.
Ông Phan Hữu Thư - nguyên Giám đốc Học viện Tư pháp nói, ông đề nghị không tịch thu phương tiện ngay lập tức, mà chỉ tịch thu sau khi người lái đã vi phạm luật giao thông nhiều lần trước đó.
Ông Thư băn khoăn, liệu đề xuất này có đi ngược lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xóa đói giảm nghèo khi, chẳng hạn, một gia đình nghèo chỉ có 1 chiếc xe trị giá 5 triệu đồng để mưu sinh nhưng lại bị tịch thu.
“Có nhiều điểm Ủy ban chưa tính toán hết được, nếu vội thì hỏng việc”, ông Thư nói.
TS. Đồng Xuân Thành, nguyên giảng viên Đại học Công nghiệp TPHCM đồng tình: “Chưa thể thực hiện việc bắt giữ xe vì phải tính đến tính khả thi trong thực tế như thế nào? Nó sẽ rất phức tạp, người ta có thể lợi dụng để bắt xe, tùy tiện giam giữ xe…? Chưa có phán quyết của tòa thì chưa thể kết luận có tội”.
Theo Trung tâm MEC, kết quả khảo sát trên mạng OtoFun cho thấy có 1.407/1.718 ý kiến không đồng ý giải pháp này; Diễn đàn nhà báo trẻ trên mạng Facebook có 75,7% ý kiến không ủng hộ; khảo sát của nhiều tờ báo cho thấy, đa số ý kiến đều chỉ ủng hộ giải pháp tăng mức xử phạt (bằng tiền) và không ủng hộ việc tịch thu phương tiện.
Tuy nhiên, điểm quan trọng nhất là hình thức pháp lý của đề xuất thu xe lại không được làm rõ tại buổi tọa đàm, là nó sẽ là Nghị định, Thông tư, hay Quyết định.
Trong văn bản kiến nghị về đề xuất này lên Chính phủ vào tháng 2 vừa qua, Phó chủ tịch thường trực Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia Đinh La Thăng chỉ kiến nghị Chính phủ giao cho Bộ Giao thông, và Bộ Công an “có văn bản” để hướng dẫn việc thực hiện vào ngày 15-3, tức là khoảng thời gian rất gấp.
Trao đổi với Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, đại biểu Cương cũng tỏ vẻ bối rối về hình thức của văn bản pháp lý có ảnh hưởng đến nhiều người dân này.
“Tôi cũng không rõ, nhưng tôi sẽ kiến nghị với anh Thăng (Đinh La Thăng) ra Nghị định”, ông nói.
Thế nhưng, Nghị định thì phài do Chính phủ ban hành. Nếu muốn pháp chế hóa đề xuất dưới hình thức Nghị định, văn bản này sẽ phải tuân thủ một số quy trình như lập ban soạn thảo, lấy ý kiến nhân dân, trình Bộ Tư pháp,… trước khi trình Chính phủ xem xét thông qua – quy trình gần như thiếu vắng trong quá trình của soạn thảo đề xuất của Ủy ban.
Xem thêm
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Làm gì có chuyện an ninh lén lút, hèn như vậy? Bạn có trông gà hóa cuốc không?

Nhân viên an ninh - Công an huyện Thanh Trì
tấn công tôi

Vũ Quốc Ngữ
14.3.2015

Hôm nay, tôi bị tấn công bởi hai nhân viên an ninh của Công an huyện Thanh Trì khi tôi trở về nhà từ cuộc tưởng niệm Gạc Ma ở Bờ Hồ Hoàn Kiếm ( Hà Nội).

Vụ tấn công xảy ra ở gần đồn Công an Cầu Bươu, cách nhà tôi gần 1 km. Tôi đang đi xe máy thì bị một xe máy đi ngang qua và người ngồi phía sau đạp vào xe máy tôi, rồi với tay đấm vào người tôi. Tôi phanh gấp xe lại thì xe kia cũng dừng và thanh niên ngồi sau lấy mũ bảo hiểm tấn công tôi. Tôi nhận ra người này thường xuyên theo đuôi tôi trong các ngày kỷ niệm như 19/01, 17/02, 10/12...

Tôi có thể khẳng định chắc chắn hai người này là nhân viên công an của huyện Thanh Trì. Họ đã theo dõi tôi từ sáng, khi tôi rời khỏi nhà.

Khi người đi đường kéo đến thì hai tên cũng bỏ đi. Một người lái xe tải hỏi tôi nguyên nhân của sự việc, tôi bảo công an tấn công tôi, vì tôi hoạt động nhân quyền. Người lái xe này bảo "Thảo nào, chúng bịt kín biển số xe".

Buổi sáng nay cũng rất kỳ. Sau khi tưởng niệm cùng mọi người xong, tôi quay ra lấy xe ở Bưu điện Bờ Hồ thì ko thể cắm được chìa khoá xe vào ổ. Và tôi đã phải nhờ bác Phong chở đi tìm thợ khoá, và cuối cùng phải dắt bộ sang phố Cầu Gỗ để sửa. Hoá ra là ai đó đã đút tăm vào ổ khoá xe, làm tôi mất hơn một trăm nghìn để sửa.

Về nhà tôi gọi điện cho ông Tuấn là đội trưởng an ninh của huyện Thanh Trì để nói về vụ tấn công tôi nhưng ông này cho biết không có chủ trương giao nhiệm vụ cho nhân viên làm những việc phi pháp như thế.

Ông Tuấn cũng khuyên tôi nên tường trình vụ việc với công an địa phương nhưng tôi bận việc khác nên chưa làm việc này được. 

Được đăng bởi 
Phần nhận xét hiển thị trên trang