Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2015

Mehdi Jowkar (IRNA, Iran) - Những kẻ cuồng tín đang phá hủy lịch sử như thế nào

Phạm Nguyên Trường dịch


Cảnh những tên lính IS dùng búa tạ đập phá những pho tượng cổ làm người ta nhớ lại câu nói của nhà triết học người Pháp, Albert Camus: “Những người nói rằng họ biết tất cả mọi thứ và có thể làm tất cả mọi thứ, cuối cùng sẽ đi đến kết luận rằng phải phá hủy tất cả”. Thật vậy, những kẻ cực đoan không chỉ giết người, chúng đang nhổ tận gốc, trốc tận rễ lịch sử.


Giết người - là hành động khủng khiếp, nhưng còn khủng khiếp hơn hơn khi chứng kiến niềm vui mà hành động giết người mang tới cho những kẻ khủng bố, cũng như niềm hân hoan khi chúng cho thiên hạ thấy tội ác của chính mình. Ai chết cũng đều làm người khác cảm thấy buồn, nhưng giết người còn làm người ta đau hơn. Người này bị người khác giết còn làm chúng ta cảm thấy đau đớn hơn và tự hỏi: “Vì sao?”


Thường thì những kẻ giết người đều có lý do nào đó. Nhưng, vẫn chưa ai trả lời được câu hỏi có từ bao đời nay: diệt chủng để làm gì và làm sao mà một nhóm người đó có thể nghĩ rằng họ là những người tốt hơn những người khác và tự coi mình là Thượng Đế, tự ra những bản án tử hình và sau đó thực thi những bản án đó?

Nhưng đấy không phải là tất cả. Không chỉ giết người mới làm ta đau khổ. Tàn phá hoại lịch sử cũng cay đắng chẳng khác gì hành động giết người, và nỗi đau do những hành động man rợ đó gây ra thậm chí còn sâu sắc hơn và tạo ra những hậu quả nặng nề hơn.

Lịch sử từng có biết bao nhiêu ví dụ về tội diệt chủng và giết người vì những lí do rất khác nhau, nhưng những hình thức giết người hàng loạt do những kẻ ủng hộ những hệ tư tưởng giáo điều trong khi tìm cách giành địa vị bá chủ là khủng khiếp nhất và man rợ nhất. Dù đó là vụ giết hàng ngàn người trong các cuộc chiến tranh tôn giáo hoặc giết hàng triệu công dân bình thường do những người cánh tả hay cánh hữu hiện đại thực hiện - tất cả đều là những bằng chứng lịch sử về những đau khổ của nhân dân.

Mặc dù vậy, lịch sử không có nhiều ví dụ về những tác phẩm của nền văn minh nhân loại bị gót giày của những kẻ cuồng tín xéo nát.

Những hành động man rợ thường xảy ra trong các cuộc chiến tranh khác nhau, nhưng những hiện vật trong bảo tàng thì ít khi bị tấn công, dân tộc nào hay nhóm chính trị nào hành động như vậy chắc chắn sẽ phải nhận những đòn trừng phạt nghiêm khắc của lịch sử. Bằng chứng là Alexander Đại đế, người đã ra lệnh đốt thành phố Persepolis thủ đô của Ba Tư, và những tên xâm lược Mông Cổ, những kẻ đã cướp phá các nước bị họ chiếm đóng. Tất cả bọn họ đều phải trả giá đắt.

Đôi khi rất khó nói về những đau khổ mà sự man rợ của bọn cuồng tín gây ra cho con người. Vào những lúc như thế, tay đành buông xuôi, thấy nặng nề và đau tức trong lồng ngực.

Dường như sự đau khổ của con người là không giới hạn và chẳng bao giờ chấm dứt được và sự tiến bộ của nền văn minh không những không giảm bớt được khổ đau mà, ngược lại, đã cung cấp cho những kẻ giáo điều những biện pháp nhạo báng con người hiện đại hơn.

Hiện nay Trung Đông đang trải qua giai đoạn đen tối nhất trong lịch sử của mình. Sự xuất hiện của nhóm khủng bố IS ở Syria và Iraq và những tội ác mà chúng thực hiện mỗi ngày làm lương tâm nhân loại bị tổn thương đến mức không có từ ngữ nào mô tả được. Có cảm giác như các thành viên của nhóm người này thích giết người đến mức chúng đang phát minh ra những kiểu hành hình mới để được nhiều khoái cảm hơn. Sáng kiến mới nhất của chúng là thiêu sống một cách tàn bạo đối thủ!

Dường như tội ác của IS sẽ không bao giờ chấm dứt. Nhưng ngay cả trên khung cảnh những vụ giết người mà bọn khủng bố đang làm mỗi ngày thì việc phá hủy các di tích văn hóa ở Iraq cũng là sự báng bổ thánh thần không thể nào tha thứ được.

Khu vực nhà nước Iraq và Syria vẫn được coi là cái nôi của nền văn minh, nơi có những di tích văn hóa có giá trị nhất của toàn thể loài người. Hiện nay, một số nơi trong khu vực độc đáo này đang nằm dưới quyền kiểm soát những kẻ man rợ nhất, kể từ sau cuộc xâm lược của người Mông Cổ.

Cuộc chiến tranh ở Syria đã phá hủy nhiều di sản văn hóa của đất nước này, điều này, tự nó đã là thiệt hại cực kì to lớn đối với nền văn minh của nhân loại. Nhưng, đau xót hơn là sự phá hủy có chủ ý và theo kế hoạch những hiện vật của nền nghệ thuật cổ đại mà IS đang tiến hành ở Iraq.

Việc đốt thư viện ở Mosul với hàng trăm bản thảo có giá trị lịch sử và việc phá hủy bảo tàng trung tâm của thành phố này với những hiện vật đã được tạo ra từ hàng ngàn năm trước và thuộc về giai đoạn lịch sử cổ xưa của vùng Lưỡng Hà, là những ví dụ nổi bật về tội ác của nhóm khủng bố này đối với di sản lịch sử của nhân loại. Những hành động này của bọn khủng bố chứng tỏ rằng hệ tư tưởng của chúng ngu dốt và phi nhân đến mức nào.


Trước đó, nhóm này đã bắt đầu bán hàng loạt những hiện vật có giá trị lịch sử của Iraq trên thị trường chợ đen và phá hủy những bức tường cổ của Nineveh (thủ đô của nhà nước Assyria từ thế kỷ VIII tr. C.N.). Những hành động như thế đã gây ra những thiệt hại không thể khắc phục về mặt bảo tồn lịch sử loài người và không bao giờ khắc phục được nữa.

Viện cớ rằng những hiện vật đó tượng trưng cho thái độ súng bái thần tượng và rằng chính nhà tiên tri của Hồi giáo cũng phá hủy những bức tượng ở Kaaba, nhóm khủng bố này đã phá hủy một loạt giá trị văn hóa của Iraq, mà trên thực tế đấy là những giá trị của cả loài người. Nói thêm rằng, trong giai đoạn cầm quyền ở Afghanistan, lấy cớ là đấu tranh với những người ngoại đạo, Taliban cũng đã thực hiện những biện pháp tương tự như thế và chúng đã phá hủy một trong những bức tượng Phật lớn nhất thế giới.

Việc IS phá hủy các di tích cổ xưa của nền văn hóa ở Iraq, lấy cớ rằng những hiện vật này là biểu hiện của thái độ sùng bái thần tượng, đặt cho chúng ta một câu hỏi: nếu tuyên bố đó là đúng thì tại sao trong toàn bộ lịch sử một ngàn năm trăm năm của đạo Hồi, không có nhóm chính trị Hồi giáo nào cho phép mình có thái độ như thế đối với những giá trị văn hóa của những vùng lãnh thổ mà họ chinh phục được? Và tại làm sao mà ngay cả trong buổi bình minh của Hồi giáo, những người Hồi giáo đầu tiên chinh phục được những vùng đất này đã không cư xử như những tên mọi rợ?

Tư duy giáo điều như thế không chỉ coi thường ý chí của con người, như một món quà quý giá nhất mà Thượng Đế đã ban tặng cho loài người, mà còn đàn áp một cách tàn nhẫn nhất mọi bất đồng đối với giáo lí tôn giáo. Phá hủy các di tích của nền văn minh là đỉnh điểm của sự nhục mạ nhân phẩm mà hệ tư tưởng này đã làm.

Có lẽ, sẽ đúng khi nói rằng, những nỗ lực nhằm phá hoại những biểu tượng của nền văn minh và tước đoạt kí ức lịch sử của người dân là ví dụ hiển nhiên nhất của sự vi phạm những quyền tự do của con người.

“Nhà nước Hồi giáo” đã chứng minh rằng, khi thực hiện những hành động dã man, họ không chịu trách nhiệm trước bất kì ai mà cũng không công nhận bất cứ người nào, ngoài họ. Mỗi ngày cộng đồng thế giới lại biết thêm những tội ác chống lại loài người của nhóm này, vì vậy, cần phải có những biện pháp quyết liệt để xóa sổ chúng, để khôi phục lại chính quyền hợp pháp trong vùng lãnh thổ mà chúng đang kiểm soát và tiêu diệt tận gốc chính hệ tư tưởng giáo điều này, để những nhóm như IS không thể có điều kiện xuất hiện ở bất cứ đâu, bất cứ khi nào.

Chính vì lí do này mà cộng đồng quốc tế và các quốc gia khác nhau trên thế giới, phải tạm quên quyền lợi riêng của mình, để nhận trách nhiệm - trên thực tế chứ không phải bằng lời nói – tiêu diệt một lần và vĩnh viễn IS, tiêu diệt hệ tư tưởng của nó và bằng cách đó làm giảm đi những khổ đau của loài người.

Dịch theo bản tiếng Nga tại địa chỉ:http://inosmi.ru/asia/20150305/226650957.html#ixzz3TSOJ4GG5 
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chọi Trâu, chọi ngựa..Chọi chim..Còn chọi gì nữa, như chọi chim chọi bướm thì làm luôn nốt đi cho bà con "quên" luôn thể!

"Chọi bò" năm 2015 : vé bán hết vèo, dân nhà chúng em tiện đâu trèo đấy

Chọi bò đã được nhắn tin ở đây.

Theo ghi chép nhanh tại hiện trường (đang diễn ra lúc này, buổi sáng ngày 10/3), của nhiếp ảnh gia QHL, thì tình hình như sau.


Nội dung tin thể hiện ngay trên ảnh, không cần ghi chú gì thêm.






Hẹn cập nhật tiếp.

---


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Câu trả lời sẽ là: Một người ta đã quá thất vọng với thế giới này, Hai lòng quyết tâm khám phá vũ trụ đã làm cho họ quên bản thân mình. Chắc chắn không có sự "điên rồ" nào cả!

Đưa 100 người 'chiếm đóng' sao Hỏa: Tham vọng hay điên rồ?

(Thethaovanhoa.vn) - Kellie Gerardi đang được huấn luyện cho một nhiệm vụ quan trọng nhất cuộc đời cô, nhiệm vụ có thể sẽ khiến cô không bao giờ có thể trở lại điểm xuất phát.
Gerardi là một trong số hàng ngàn ứng cử viên đang muốn tham gia một chuyến đi tới sao Hỏa, trong chương trình đầy tham vọng do một công ty có tên Mars One tổ chức.
Sẽ đưa 100 người lên sao Hỏa
Chỉ 100 ứng cử viên tiềm năng sẽ được công ty lựa chọn từ nhóm hàng ngàn người trên. Những người tham gia chương trình đều phải chấp nhận một điều rằng vé lên sao Hỏa là hành trình một chiều, không có cơ hội trở lại Trái đất.
Bất chấp thực tế này, Mars One cho biết đã có 200.000 người trên thế giới, gồm Gerardi, đăng ký lên sao Hỏa. Họ đồng ý từ bỏ mọi thứ ở Trái đất lại phía sau.
 "Tôi chỉ biết một điều rằng trong cuộc đời mình, tôi sẽ lên vũ trụ" - Gerardi, người mới đính hôn, cho biết.
Cô gái 26 tuổi người Florida này hiện đang được huấn luyện cho nhiệm vụ lên sao Hỏa tại một khu vực nhiều đồi núi ở tiểu bang Utah. Cô đã có 3 tuần ở tại Trạm nghiên cứu sa mạc của Hội nghiên cứu sao Hỏa để tìm hiểu xem người ta cần phải làm những gì nhằm tồn tại trên hành tinh Đỏ.
Geraldi (trái) tập luyện trong khuôn khổ chương trình huấn luyện phi hành gia lên sao Hỏa của Mars One
Cô học hỏi mọi thứ, từ việc di chuyển và thở trong bộ quần áo phi hành gia, cho tới việc ăn các "đặc sản" kỳ lạ như nhện vằn, bởi các con bọ cũng có thể trở thành nguồn thực phẩm tại môi trường khắc nghiệt của sao Hỏa.
Hoạt động du lịch vũ trụ thương mại đã bùng nổ trong mấy năm gần đây, với những công ty như Virgin Galactic và SpaceX đang tích cực chế tạo tên lửa đẩy và tàu vũ trụ tư nhân nhằm giúp một người bình thường lên vũ trụ nếu họ muốn. Và lên vũ trụ không chỉ là một môn thể thao thời thượng. Một số nhà khoa học tin rằng định cư ở hành tinh khác là hy vọng tốt nhất để nhân loại tiếp tục sinh tồn.
Khi bàn tới chuyện "đô hộ" các hành tinh khác như sao Hỏa, Bas Landorp, vị Giám đốc điều hành 37 tuổi của Mars One và đội ngũ chuyên gia dưới quyền nói rằng họ có thể làm điều mà Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) vẫn chưa thể thực hiện được. “Hãy chấp nhận một thực tế mới đi" - Landorp nói - "Gần như mọi người trên Trái đất sẽ theo dõi (màn đổ bộ xuống sao Hỏa) giống như khi Neil Armstrong và Buzz Aldrin đặt chân xuống Mặt trăng vậy."
"Chúng tôi đã thuê các công hàng không vũ trụ có tên tuổi trên khắp thế giới để thiết kế, xây dựng, thử nghiệm các hệ thống. Chúng tôi không cần các phát minh mới để triển khai chương trình của mình" - anh nói thêm.
Những chuyến đi một chiều
Nhưng trong khi Landorp tuyên bố công nghệ hiện nay hoàn toàn đủ sức đưa con người tới sao Hỏa, công ty anh lại không thể đưa họ trở lại Trái đất. Vì thế kế hoạch của Landorp là những người đầu tiên tới sao Hỏa sẽ xây dựng một căn cứ lâu dài và họ có nhiệm vụ đón đội phi hành gia mới, sẽ hạ cánh xuống sao Hỏa sau từng năm.
Hiển nhiên là để đạt được mục tiêu này, Landorp và Mars One phải vượt qua vô số thách thức. Sao Hỏa ở cách chúng ta hơn 300 triệu km. Sẽ phải mất ít nhất 7 tháng bay bằng tàu vũ trụ để tới đó và chưa ai từng tới sao Hỏa trước đây.
Nhưng với những người như Kellie Gerardi, những điều chưa được khám phá đang chờ đón trước mắt không có gì đáng sợ, chỉ là một phần của giấc mơ.
“Tôi chỉ nghĩ đơn giản là hoặc bạn sẽ làm được, hoặc sẽ không" - cô nói - "Tôi so sánh việc lên sao Hỏa với việc nhìn thấy núi Everest lần đầu. Bạn sẽ thấy được môi trường khắc nghiệt của ngọn núi và sẽ khao khát muốn chinh phục nó hoặc không".
Gerardi đã lên kế hoạch tổ chức đám cưới. Nhưng cô nói rằng cuộc hôn nhân cũng không thể cản bước cô rời khỏi Trái đất.
 Một ứng cử viên khác của Mars One là Sue Ann Pien cũng rất quyết tâm lên sao Hỏa. Cô nói rằng việc mình được chọn làm ứng cử viên tiềm năng đã thay đổi hoàn toàn quỹ đạo cuộc đời. Cô đã lập sẵn một danh sách những việc muốn làm khi còn ở Trái đất. “Tôi sẽ tận hưởng nhiều thứ thú vị quanh thế giới mà bản thân mong muốn làm từ lâu" - Pien nói - "Tôi sẽ đi ngắm núi lửa và lặn ở Bali (Indonesia)". Giống Geraldi, Pien tin rằng sao Hỏa là định mệnh của cô. Gia đình cô cũng rất ủng hộ quyết định lên sao Hỏa.
Như trong một "rạp xiếc"
Mars One đã hy vọng sẽ phóng phi hành gia tiềm năng đầu tiên lên vũ trụ trong vòng 10 năm tới. Nhưng đã có nhiều người nghi ngờ về tính khả thi của chương trình. Họ cho rằng công ty không có khả năng để phóng tàu vũ trụ đưa người lên sao Hỏa, chưa nói tới việc nhiệm vụ này sẽ thành công.
Nhà vật lý thiên thể và nhà văn nổi tiếng, tiến sĩ Michio Kaku, nằm trong nhóm nghi ngờ. “Chuyện này có bầu không khí của một rạp xiếc, nơi những kẻ nghiệp dư thi nhau giơ tay, tình nguyện thành người đầu tiên lên sao Hỏa" - Kaku nói - "Họ đã đặt ra những hạn chót phi thực tế, không thể thực thi và cần biết một điều rằng bạn cần số tiền khổng lồ để tới được sao Hỏa, dao động từ 50 tới hàng trăm tỷ đô la".
Một nghiên cứu gần đây của Học viện công nghệ Massachusett (MIT) cho thấy rằng các phi hành gia của Mars One sẽ chết ngạt chỉ trong vòng vài tháng kể từ khi hạ cánh xuống sao Hỏa. Mars One lập tức tuyên bố nghiên cứu của MIT có khiếm khuyến và công ty không đẩy mạng sống của ai tới chỗ hiểm nguy, rằng công ty tin tưởng vào công nghệ của mình. Tuy nhiên Mars One cũng thừa nhận rằng "không có một chuyến đi an toàn tới sao Hỏa và loại bỏ hết rủi ro là chuyện bất khả thi".
Nhưng có thể thấy rủi ro và nghi ngờ vẫn chưa đủ sức răn đe các cá nhân như Geraldi, Pien, những kẻ vẫn đang mơ mộng lọt vào top 100 phi hành gia đầu tiên đặt chân lên sao Hỏa.
“Nỗ lực đưa người lên sao Hỏa giống như một công nghệ chưa được thử nghiệm, tỷ lệ thất bại sẽ là từ 90 - 95%. Nói một cách khác thì thảm kịch đang chờ đón họ" – nhận xét của tiến sĩ thiên văn Michio Kaku.
Tường Linh (Theo ABC News)
Thể thao & Văn hóa

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc đưa quân đồn trú tới Đảo Cây ở Hoàng Sa


Dân trí Từ ngày 8/3, Trung Quốc đã trái phép triển khai lực lượng đồn trú tới Đảo Cây (Trung Quốc gọi là đảo Triệu Thuật) thuộc nhóm đảo An Vĩnh (Trung Quốc gọi là Thất Liên) ở quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Trung Quốc đưa quân đồn trú tới Đảo Cây ở Hoàng Sa
Trung Quốc đang đẩy mạnh các hoạt động bồi đắp, xây dựng và đưa quân đồn trú tới các đảo chiếm giữ trái phép ở Biển Đông (Ảnh: AFP)
Hãng Xinhua của Trung Quốc dẫn thông tin từ lực lượng cảnh sát thuộc Chi đội công an biên phòng Tam Sa, một thực thể được Bắc Kinh thành lập phi pháp ở Hoàng Sa, cho biết thông tin trên.
Mục đích của đợt triển khai quân nhằm bảo vệ chủ quyền đối với Đảo Cây, các bãi đá và doi cát ở khu vực Bắc Trung Nam và vùng biển quanh hòn đảo. Ngoài ra, lực lượng đồn trú cũng có nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự phục vụ công tác phát triển kinh tế địa phương.
Theo Chi đội trưởng công an biên phòng Tam Sa Trương Văn Quân, trước đây chi đội này chỉ định kỳ điều tàu tuần tra ra đảo nên năng lực quản lý rất thấp. Nay, do điều kiện giao thông và đồn trú trên Đảo Cây đã được cải thiện nên Chi đội sẽ nâng cao năng lực quản lý và hiệu quả công tác của lực lượng biên phòng.
Thời gian gần đây, lực lượng cảnh sát thuộc Chi đội công an biên phòng Tam Sa đã chính thức điều quân đồn trú tới nhóm đảo An Vĩnh để tăng cường công tác quản lý và chiếm giữ đảo, phục vụ việc xây dựng chính quyền cơ sở của cái gọi là Tam Sa.
Đảo Cây là một đảo san hô thuộc nhóm đảo An Vĩnh trong quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đảo Cây nằm cách đảo Phú Lâm khoảng 9,2 hải lý (17 km) về phía Bắc - Tây Bắc và cách Cồn cát Tây 4 hải lý (7,4 km) về phía Đông. Hiện nay, Trung Quốc đang chiếm đóng phi pháp hòn đảo này.
Vũ Anh
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Hai, 9 tháng 3, 2015

Thất bại khi một dân tộc phải dựa dẫm thánh thần mà đi



TS Nguyễn Minh Hòa (Pháp luật TPHCM)
MTG - Cái sảy nảy cái ung, nếu không cẩn thận, hệ quả của các lễ hội không chỉ dừng lại ở sự nhốn nháo mà còn có nguy cơ đẩy dân tộc đến chỗ yếu đuối, tự ti và bạc nhược.

Ngày tế, lễ với công dân nhiều nơi có văn hóa gần gũi với chúng ta như Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore... diễn ra thật thanh bình và giản dị. Vào lúc giao thừa, người Đài Loan, Nhật Bản cùng nhau quây quần trong nhà. Sáng sớm, họ tới chùa đánh chuông, cầu mong sự tốt đẹp cho đất nước và nguời thân. Mọi sự diễn ra thật bình dị, ấm áp và sang trọng. Họ tin vào những gì họ có và tin vào ngày mai, cho dù Nhật là quốc gia nằm ở chỗ vỏ Trái đất yếu nhất, chịu rủi ro cao nhất nhưng phong thái của họ toát lên một vẻ ung dung tự tại.

Lễ hội là tấm gương phản chiếu thái độ sống của một dân tộc. Cứ đến ngày tết và các lễ sau tết, ngày thi cử thì cả đất nước ta sôi lên sùng sục. Mọi người đổ đến chùa chiền, miếu mạo để cầu xin sự phù hộ của thánh thần.

Có rất nhiều người đi hàng chục ngôi chùa, rủ nhau trở thành hội đi chùa, tạo ra một mùa hành hương. Trong số đó có không ít quan chức nhà nước đi miếu, chùa bằng xe biển số xanh, nhất là các bà vợ của họ. Họ dâng sớ cầu xin đủ thứ trên đời, nào cầu an, cầu lộc, cầu tài, cầu tình, cầu duyên, cầu tự và cả những thứ “độc địa” khác nữa.

Hàng triệu con người bỏ thời gian đi tới những nơi được coi là linh thiêng với thái độ hối hả, lo lắng, sợ sệt, tự ti chen lẫn khoe mẽ. Nhiều tỉ đồng tan thành mây khói nuôi dưỡng cho niềm tin mơ hồ nhưng rất mãnh liệt.

Lễ hội ở các nơi trên thế giới có thể đông nhưng bát nháo như ở ta thì cực hiếm. Chúng đan xen rất nhiều thái cực và nhiều tâm thế. Ngoài ái, ố, hỉ, nộ ra thì còn biết bao nhiêu chuyện bi hài khác diễn ra trong lễ hội. Người hoan hỉ khi cướp được lộc thánh, người đau khổ vì cầu chưa xong đã mất tài sản, kể cả mất mạng.

Giá như mọi người biết rằng “lộc thánh” như miếng vải có ấn triện đỏ đỏ, hoa tre là bùi nhùi ở đầu thanh tre, tiền của chúa là những miếng giấy bản được in mệnh giá thủ công,... nào đâu phải của “thánh”, của “chúa” mà chỉ là do một ai đó người trần mắt thịt tạo ra. Rất có thể trong số họ chả thiếu người bất hảo đã hà hơi thêu dệt nên ảo ảnh, được những người có thế lực tiếp tay đẩy lên thành thứ “thiêng”.

Hối hả, giành giật, chen chúc, xô xát, chặt chém, lừa lọc, chửi bới, hối hận, cay cú, máu me,... là trạng thái tâm thần của lễ hội chúng ta. Từ “phụ mẫu của dân” đến tất cả con dân của một đất nước phải vịn vào thánh thần mà đi tới tương lai thì quả thật đất nước đang có vấn đề, vượt ra khỏi tâm linh trong sáng mà chuyển sang một trạng thái cực đoan khác. Không thể kéo dài tình trạng này được nữa, những người có trách nhiệm cần phải có nhận thức đúng, phải có thái độ đúng và hành xử đúng.

Bác Hồ nói một quốc gia dốt là một quốc gia yếu, mà u mê là một biểu hiện của dốt nát. Một dân tộc dựa dẫm thánh thần không thể nào là một dân tộc mạnh khỏe.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sự im lặng đáng sợ thì đúng hơn!

Sự "lặng sóng" đáng suy nghĩ


Nguyễn Vinh
(TBKTSG Online) - Việc Trung Quốc xây đảo nhân tạo trái phép ở các bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam được giới quan sát quân sự thế giới cho là hành vi “hiếu chiến”, “mở rộng tiền đồn” trên biển Đông. Tuy nhiên, dư luận Việt Nam xem ra vẫn “lặng sóng” trước thông tin này.

Cách đây một năm, sự việc giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc hạ đặt trái phép ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam đã tạo ra sự phản ứng mạnh mẽ dưới nhiều hình thức, từ truyền thông cho đến biểu tình trên đường phố tại Việt Nam. Khái niệm “biểu tình” chống Trung Quốc lần đầu tiên được dùng chính thức.

Những phản ứng của người dân vào thời điểm đó được coi là chính đáng để thể hiện lòng yêu nước, sự căm phẫn trước hành vi ngang ngược, coi thường luật pháp quốc tế, chủ quyền lãnh thổ nước láng giềng của Trung Quốc. Có thể nói, tại Việt Nam lúc đó, thông điệp của người dân đã phần nào gặp gỡ thông điệp chính thức của các chính khách, tiếng nói ngoại giao chính thức tạo nên sức lan tỏa lớn và tính hiệu quả ít nhiều có thể cảm nhận được.

Một năm trôi qua, những hình ảnh và ấn tượng về các cuộc biểu tình tỏ bày cảm xúc yêu nước của đại chúng vẫn còn đó, nhưng điều lạ lùng là, trước câu chuyện thời sự – Trung Quốc xây đảo “tiền đồn” trên quần đảo Trường Sa - người dân trong nước đã không có phản ứng gì, mặc dù, xét về tính chất nghiêm trọng của sự việc, thì việc xây đảo lần này không kém phần nghiêm trọng so với câu chuyện giàn khoan.

Mặc dù Bộ Ngoại giao Việt Nam đã có phản ứng “cực lực phản đối” với phía Trung Quốc, nhưng tuyệt nhiên, cái tình cảm, thái độ bày tỏ chính kiến công khai của dân chúng đã không mảy may bùng phát.

Điều đó nhìn trên khía cạnh trị an xã hội thì có vẻ tốt, song nó tiềm ẩn một sự nguy hiểm khó lường. Người dân phải chăng đã không còn quan tâm và thấy cần phải thể hiện chính kiến rõ ràng trước những sự biến liên quan đến chủ quyền đất nước?

Điều gì đã thúc đẩy, dẫn tới tâm lý đó?

Trao đổi trên Vietnamnet, Tiến sĩ Trương Minh Huy Vũ, khoa Quan hệ quốc tế Trường ĐH KHXH&NV thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM, đưa ra nhận định về khả năng “quân sự hóa” biển Đông của chiến lược xây đảo nhân tạo: “Tác động quân sự (của đảo nhân tạo) có thể là thì tương lai, nhưng tác động tâm lý của nó thì ảnh hưởng ngay hiện tại… Đòn tâm lý này sẽ có những kết quả nhất định, nhưng hiệu quả hay là hậu quả thì vẫn còn quá sớm để có câu trả lời.”

Có phải người dân không nhận ra/ không được biết những thông tin cơ bản liên quan đến “đòn tâm lý” quá quen thuộc từ phía Trung Quốc, hay có điều gì đó gần như sự lãnh đạm đối với cách thức mà Nhà nước Việt Nam tiếp nhận thái độ và tiếng nói từ người dân trong những sự kiện liên quan đến chủ quyền quốc gia trước đây, cụ thể là vấn đề chủ quyền quốc gia đặt trong mối tương quan với phía Trung Quốc?

Đã đến lúc cần phải giải mã cho được nguyên nhân và hậu quả về sự lặng im đáng sợ đó.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

NHÂN MỘT CUỘC HỘI THẢO VỀ VĂN HỌC MIỀN NAM 1954 – 75 VƯƠNG TRÍ NHÀN


Khac Hoa La
(DẪN: Bài viết của anh Vương Trí Nhàn nêu nhiều nhận xét đích đáng. Mình đoán, không phải ai cũng thường xuyên vào Blog của anh, nên đưa bài viết ấy lên đây để chia sẻ với những ai quan tâm tới tình hình nghiên cứu lịch sử văn học Viêt Nam hiện đại).
Một cuộc hội thảo về văn học miền Nam 1954-75 vừa được tổ chức ở bên Mỹ. Tôi hơi thất vọng vì ba lẽ:
1/ các đồng nghiệp của tôi ở hải ngoại vẫn bị cảm xúc chi phối quá nặng. Bây giờ mà các anh vẫn nhắc nhở đến những đánh giá bất công của mấy ông X, Y. Z., những ý kiến cực đoan tồn tại từ đã trên dưới ba chục năm trước. Vào thời điểm này trong nước có mấy ai còn nghĩ như thế?
Theo sự nhìn nhận của tôi, thì hiện nay nghiên cứu văn học trong nước đang ở thế bế tắc đến cùng cực. Nhiều việc cần làm mà không ai đủ sức làm. Với cả nền văn học Hà Nội từ sau 1945 cũng không ai có được phát hiện gì mới.
Chính là lúc này, một số bạn trẻ rất có năng lực ở Hà Nội có, ở Sài Gòn Huế có, đang âm thầm hướng tới những Võ Phiến, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan… để hy vọng qua kinh nghiệm của các nhà văn bậc thầy ấy, may ra hé lộ con đường đi tới của văn chương nước nhà. Sao các anh không tính chuyện thảo luận cùng họ, cộng tác với họ?
Các anh than thở “Văn học miền Nam (VHMN) từ 54-75 là một trong những nền văn học bất hạnh nhất trong lịch sử văn học Việt Nam” với nghĩa nó bị cấm đoán, nó không được thu thập đầy đủ. Cái đó có, nhưng tình cảnh đâu đến nỗi bi đát lắm, hiện nay nó đang được khôi phục dần dần.
Nếu muốn dùng chữ bất hạnh, tôi nghĩ tới cả nền văn học dân tộc nói chung, bao gồm cả văn học miền Bắc.
Nhưng hiểu theo nghĩa này, thì cứ gì văn học VN. Mà văn học Trung Hoa lục địa cũng bất hạnh, văn học Nga xô viết cũng bất hạnh.
Nay là lúc chúng ta cùng nên gạt những cảm xúc bi lụy ấy đi.
May mà những năm ấy, còn có văn học miền Nam!
Nay là lúc chúng ta phải nhìn về nó với niềm tự hào và gắng đi tìm ra những bài học của nó, để tiếp tục làm văn học trong hoàn cảnh mới và giúp cho văn học trong nước cùng phát triển.
2/ Xin phép nói một cảm tưởng sau khi đọc các bài tham luận. Gạt đi mọi khách sáo, tôi muốn được thẳng thắn mà nói rằng cách tôn vinh VHMN của các anh rất nhiệt tình đấy, nhưng còn thiếu sức khai phá gợi mở.
Theo tôi hiểu, các phương pháp tiếp cận văn học trên thế giới hiện nay đủ mạnh để phát huy hiệu quả cả với văn học các nước Đông Nam Á, các nước Ả Rập…(nói chung là những nền văn học bên ngoài văn học phương Tây). Lâu nay đọc các anh viết trên mạng, các cuốn sách các anh mới in, tôi biết rằng trong mấy chục năm qua, ở xứ người, các anh đã học hỏi được rất nhiều.
Thế mà nhìn vào những nhận xét các anh nêu lên trong hội thảo này, tôi chưa thấy được cái mới đó -- các anh chưa mở ra được cái phương hướng mới đủ sức giúp bạn đọc hôm nay hiểu thêm về một nền văn học mà mọi người cùng yêu mến.
3/ Khi nói về văn học miền Nam, lẽ tự nhiên người ta phải đả động đến văn học miền Bắc.
Đã có lần, trong một cuộc phỏng vấn của một đồng nghiệp, tôi nói rằng một trăm năm sau, khi nói tới thế kỷ XX, người ta không bỏ được nền văn học miền Nam, cũng như không thể bỏ được văn học miền Bắc.
Dù phân lượng không đồng đều, song mỗi bên có đóng góp riêng vào việc ghi lại đời sống tinh thần dân tộc, không bên nào thay thế được bên nào.
Đến hôm nay, tôi vẫn nghĩ thế, và tôi muốn các anh cùng chia sẻ.
Làm sao trong khi đề cao VHMN 54-75, các anh có thể sổ toẹt cái phần thành tựu theo một cách riêng của văn học miền Bắc trong thời gian đó.
Tôi không nói tất cả, tôi chỉ nói rằng vượt lên trên một số dồng tầm thường và xu thời, vẫn có những cây bút miền Bắc tin ở sứ mệnh cầm bút của mình.
Ở những người này có rất nhiều mâu thuẫn, cũng có lúc họ đã chùn tay, đã đầu hàng, nhưng rồi tiếp sau đó, bên cạnh đó, lại vẫn giữ được cái phần lương tâm lương tri của một người viết văn chân chính.
Nỗ lực đó của họ còn được ghi lại trong các trang sách.
Đối lập và tuyệt đối hóa những khác biệt văn học giữa hai miền chẳng những là bất cận nhân tình mà còn là phản khoa học.
Nó ngăn cản người ta đi dần tới một cách hiểu đúng đắn về mỗi bên.
Chính ra là trong sự phát triển của mình, văn học hai miền thời gian 1954-75 đã có sự nhìn vào nhau, đối thoại ngấm ngầm với nhau.
Việc nghiên cứu trở lại cuộc đối thoại xảy ra trong những năm đó là một trong những phương cách thiết yếu để đẩy tới cuộc đối thoại giữa văn học trong nước và văn học hải ngoại hôm nay.

Phần nhận xét hiển thị trên trang