Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 9 tháng 3, 2015

Tư liệu: Cựu tổng trưởng VNCH viết gì về biến cố 1974?

'Ngày khởi đầu hoàng hôn của VNCH'

Nguyễn Tiến Hưng
Cựu Tổng trưởng VNCH
nhan-vat-13-august-2014-4
Tổng thống Richard Nixon mất chức sau vụ scandal nổi tiếng Watergate vào 8/1974.
“It’s so sad, it’s so sad”(Thật là buồn, thật là buồn), tôi nghe thấy Pat lẩm bẩm nói bâng quơ... Không ai nói năng gì nữa. Cũng chẳng còn hạt nước mắt nào để mà khóc. Tôi ngả đầu vào lưng ghế và nhắm mắt lại,” Tổng thống (TT) Richard Nixon viết để kết thúc cuốn Hồi Ký đài 1,120 trang.
Đây là lúc ông ngồi trên chiếc trực thăng rời Washington sau khi từ chức ngày hôm trước. Bà Patricia là phu nhân Tổng thống.
Trước 10 giờ sáng ngày thứ Năm, mồng 8 tháng 8, 1974, Phó Tổng thống Gerald Ford cùng với Phụ tá John Marsh chủ toạ lễ trao Huân Chương Danh Dự Quốc Hội cho gia đình của bảy người quân nhân tử trận ở Việt Nam.
Lễ nghi diễn ra tại Blair House, nhà khách của Tổng Thống [chúng tôi xin mở ngoặc để ghi lại là TT Thiệu đã lưu lại nơi đây vào tháng 4, 1972 khi TT Nixon mời ông tới Washington; chúng tôi có ghé thăm ông].
Lễ nghi vừa xong, ông Ford liền được tướng Al Haig, Chánh Văn Phòng cho biết Tổng Thống Nixon muốn gặp ông ngay. Ông vội vàng bước qua đường Pennsylvania sang toà Bạch Ốc.
Khi ông vừa tới, TT Nixon đứng lên bắt tay rồi ngồi xuống ngả lưng vào ghế. Hai tay nắm chặt vào nhau để trên đùi, trông mặt ông thật căng thẳng vì vừa trải qua một giai đoạn hết sức khó khăn.
Với một giọng nghiêm nghị nhưng kiềm chế, ông chậm rãi nói với ông Ford: “Tôi đã quyết định từ chức, quyền lợi đất nước đòi hỏi như vậy. Tôi không muốn nói tới chi tiết những lý do nên hay không nên làm như vậy, nhưng tôi đã đi tới quyết định rồi.” Buổi tối hôm ấy TT Nixon lên TV tuyên bố từ chức.
Chúng tôi gọi ngày này là “Ngày Song Bát,” ngày lịch sử của Hoa Kỳ, cũng là ngày đánh dấu buổi hoàng hôn của nền Cộng Hòa Việt Nam.

'Cửa đập nước đã mở?

"Đây là giây phút tôi biết mình sẽ là Tổng thống thứ nhất trong 106 năm bị đề nghị bãi chức. Lúc ấy tôi đang đứng trong chiếc xe trailer trên bãi biển, đi chân không, mặc cái quần xà lỏn, một cái áo chemise Banlon..."
Tổng thống Richard Nixon
Watergate là tên của một tập hợp những cao ốc đẹp nằm trên đường Virginia cạnh bờ sông Potomac lãng mạn. Đây là một khuôn viên gồm khách sạn, chung cư sang trọng và một cao ốc văn phòng. Nơi đây có trụ sở của ‘Ủy Ban Quốc Gia Đảng Dân Chủ.’
Nhân viên của Tổng thống Nixon đã cho người đột nhập vào trụ sở này vào ngày 17 tháng 6, 1972 để cài đặt đường giây nghe lén vào mùa vận động bầu cử Tổng thống 1972. Sau khi đổ bể, Quốc Hội điều tra, TT Nixon chối đi là ông không dính dáng gì đến việc này. Cuộc điều tra tiếp tục. Từ chuyện này dẫn tới chuyện khác. Tuy nhiên cũng chưa có bằng chứng nào kết tội Tổng thống.
Tới trên hai năm sau, vào ngày 24 tháng 7, 1974 thì có bước ngoặt: Tối Cao Pháp Viện phán quyết Tổng Thống Nixon phải chuyển cho chánh án Sirica băng thu 64 cuộc nói chuyện tại văn phòng Toà Bạch Ốc. Trước đó luật sư của Tòa Bạch Ốc đã tranh đấu để không chuyển băng. Hai bên giằng co rất quyết liệt vì những băng này có liên quan tới việc xét xử sáu quan chức trong vụ Watergate.
Chỉ ba ngày sau thì có biến cố lớn. TT Nixon kể lại về ngày 27 tháng 7, 1972:
“Tôi đang tắm ở bãi biển Red Beach gần San Clemente khi Ủy ban Tư Pháp Hạ Viện bỏ phiếu điều khoản thứ nhất của thủ tục bãi chức tổng thống (impeachment). Điều khoản này buộc tội tôi đã có những hành động cản trở việc điều tra Watergate. Số phiếu thuận là 27 và chống là 11, đúng như tôi vẫn e sợ.
"Tôi đang mặc quần áo trong chiếc xe trailer thì chuông điện thoại kêu và (phụ tá) Ziegler báo tin cho tôi. Đây là giây phút tôi biết mình sẽ là Tổng thống thứ nhất trong 106 năm bị đề nghị bãi chức. Lúc ấy tôi đang đứng trong chiếc xe trailer trên bãi biển, đi chân không, mặc cái quần xà lỏn, một cái áo chemise Banlon và một cái áo ở ngoài có vẽ Dấu ấn của Tổng Thống.”

Cuốn băng “Smoking Gun”

nhan-vat-13-august-2014-5
Liệu Kissinger có 'thao túng' chính sách của TT Nixon hay không còn là một dấu hỏi.

Ngày 5 tháng 8, Tòa Bạch Ốc bắt buộc phải chuyển giao băng thu cuộc họp ngày 23 tháng 6, 1972 . Băng này đã ghi lại rõ ràng là chỉ mấy ngày sau vụ đột nhập Watergate, chính TT Nixon đã họp với Phụ tá Haldeman để bàn tính việc ngăn chận cuộc điều tra.
Theo kế hoạch thì Haldeman sẽ để cho CIA thông báo đại với FBI là vụ này dính tới an ninh quốc gia nên không điều tra nữa. “Một cách để xử lý vụ này,” Haldeman nói với Tổng thống, “là ta cho Walters (CIA) gọi đại cho Pat (FBI) để chỉ nói ‘Chớ có dính líu gì tới việc này… việc này, chà…chúng tôi không muốn các anh đi sâu hơn nữa’ ” (Stay the hell out of this…this is ah, business here we don’t want you to go any further on it).
TT Nixon chấp thuận kế hoạch. Ông chỉ thị Haldeman “Được rồi, tốt, tôi hiểu hết rồi… Anh gọi bọn họ vào. Tốt, cách xử lý tốt đấy. Phải cho thật cứng rắn. Đó là cách họ đối xử với chúng ta và cũng là cách chúng ta sẽ đối xử với họ.”
Nghe băng này, các luật sư của Tòa Bạch Ốc thấy hết đường cứu chữa! Đây là bằng chứng đi ngược lại với những lời phủ nhận của TT Nixon và ngược lại với những lý luận của các luật sư trước đó.
Như vậy TT Nixon đã có tội là ‘cản trở việc thi hành luật pháp.’ Người ta gọi cuốn băng này là “Smoking Gun,” nòng súng có khói (bằng chứng là súng đã có bắn).

'Đề phòng Kissinger'

Trong những giờ phút cuối cùng, TT Nixon vẫn còn quan tâm đến VNCH. Ông viết về cuộc họp với ông Ford sáng ngày 8 tháng 8: “Chúng tôi nói tới những vấn đề ông Ford sẽ phải đối đầu khi ông lên chức Tổng thống đúng 24 giờ nữa. Quan trọng nhất là chớ có để cho những người lãnh đạo ở Moscow hay Bắc Kinh nắm lấy việc từ chức của tôi để thử thách Hoa Kỳ tại Việt Nam và những nơi khác trên thế giới.”
"Henry là một thiên tài, tuy nhiên ông không phải chấp nhận tất cả mọi việc ông ta đề nghị. Ông ta có thể rất hữu ích, và trung thành, nhưng ông không thể để cho Kissinger hoàn toàn tự do làm theo ý mình"
TT Nixon nói với TT Ford
Sau đó TT Nixon đã căn dặn người kế vị rằng nên dùng ông Kissinger nhưng phải cẩn thận đối với ông này. TT Ford kể lại lời trối trăn trong Hồi Ký ‘A Time To Heal’ :
“Tổng Thống Nixon đã khuyên tôi nên tiếp tục một chính sách mạnh mẽ về Việt Nam và Campuchia và nhấn mạnh vai trò của Henry Kissinger trong việc này.”
Ông thêm rằng “Henry là một thiên tài, tuy nhiên ông không phải chấp nhận tất cả mọi việc ông ta đề nghị. Ông ta có thể rất hữu ích, và trung thành, nhưng ông không thể để cho Kissinger hoàn toàn tự do làm theo ý mình.”
Như vậy TT Nixon đã hối hận vì để cho Kissinger lộng hành? Tuy người tiền nhiệm đã dặn dò như vậy, nhưng TT Ford vẫn khoán trắng cho ông Kissinger.
Trở về văn phòng, việc đầu tiên ông Ford làm là gọi điện thoại cho Kissinger: “Henry, tôi cần ông, đất nước cần ông. Tôi muốn ông tiếp tục ở lại. Tôi sẽ làm tất cả những gì có thể để làm việc với ông.”
nhan-vat-13-august-2014-6
Việc TT Nixon từ chức không nằm trong 'mong muốn' của TT Thiệu.

Kissinger trả lời “Thưa Ngài, sẽ không có vấn đề gì. Bổn phận của tôi là làm việc cùng với Ngài chứ không phải là Ngài cùng với tôi.” TT Ford mời ông Kissinger tiếp tục kiêm nhiệm cả hai chức vụ cùng một lúc: Ngoại Trưởng và Cố Vấn An Ninh: tha hồ mà thao túng.

Miền Nam rung động

Tuy đã tiên đoán là Tổng Thống Nixon sẽ phải từ chức, nhưng khi nghe tin này, Tổng Thống Thiệu vẫn bàng hoàng. Gặp ông ngay buổi chiều hôm ấy, chúng tôi thấy ông không giấu nổi sự lo lắng. Vụ Watergate bắt đầu từ tháng 6, 1972 nhưng TT Nixon vẫn thắng cử nhiệm kỳ hai vào mùa Thu năm ấy.
Tuy nhiên sau Hiệp Định Paris thì TT Thiệu đã thấy có điều gì không ổn. Ông kể lại là sau cuộc họp tại San Clemente ngày 3 tháng 4, 1973, khi TT Nixon chào tạm biệt để tiễn ông lên trực thăng (cùng chiếc Mariner One) thì “hồn vía ông ta như để ở đâu đâu; trực thăng vừa cất cánh thì ông đã quay gót trở lại. Vội vã đi vào nhà.”
Những lần trước khi hai người gặp nhau, dù ở đảo Midway hay ở Sàigòn (1969), lễ nghi tiễn biệt đã kéo dài, TT Nixon vui vẻ giơ tay vẫy chào thật lâu (‘Khi Đồng Minh Tháo Chạy,’ Chương 4). TT Thiệu bắt đầu e ngại nhưng vẫn còn chút hy vọng vì đã có được những cam kết tuy bí mật nhưng hết sức vững vàng của người lãnh đạo tối cao Hoa Kỳ. Mặc dù Hiệp Định Paris, TT Nixon cũng không nỡ lòng nào bỏ rơi Miền Nam. Ông vẫn tranh đấu cho viện trợ. Nhưng sau ngày Song Bát thì khác.
"Thưa Tổng thống, chúng ta chỉ cần tìm ra một công thức nào đó để làm cho yên bề mọi chuyện trong một hay hai năm, rồi sau đó thì Việt Nam sẽ trở thành một bãi hoang vu"
Kissinger cố vấn với TT Nixon
Đang lúc bối rối như vậy thì TT Thiệu nhận ngay được một lá thư của tân Tổng thống Ford gửi cho ông. Thư đề ngày 10 tháng 8, 1974 đã khẳng định: “Thưa Tổng Thống … tất cả những gì mà Hoa Kỳ đã cam kết với VNCH trong quá khứ thì vẫn còn hiệu lực và sẽ hoàn toàn được tôn trọng trong nhiệm kỳ của tôi.”
Ông Thiệu lên tinh thần đôi chút. Nhìn lại lịch sử, chúng tôi cho rằng đây chỉ là một mưu lược rất tinh xảo của ông Kissinger nhằm trấn an ông Thiệu. Vì Kissinger đã dấu nhẹm đi không cho TT Ford và Quốc Hội biết gì về những cam kết của TT Nixon, bây giờ ông phải tìm cách để tiếp tục che dấu.
Nếu để ông Thiệu nại đến những cam kết này khi bị Quốc Hội cắt xén quá nhiều viện trợ thì sẽ gây nhiều tranh luận, đưa chính ông Kissinger vào chỗ kẹt. Điều hay nhất là làm sao giữ cho Sàigòn cứ yên lặng, làm sao cho mọi chuyện được êm ả cho tới lúc hạ màn.
Đó là điều ông Kissinger đã từng cố vấn TT Nixon: “Thưa Tổng thống, chúng ta chỉ cần tìm ra một công thức nào đó để làm cho yên bề mọi chuyện trong một hay hai năm, rồi sau đó thì Việt Nam sẽ trở thành một bãi hoang vu.” (‘Tâm Tư Tổng Thống Thiệu,’ Chương 15).
(Hết phần I)
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, cựu Tổng trưởng Kế hoạch của Việt Nam Cộng hòa (1973-1975) và là tác giả của các cuốn sách "Khi đồng minh tháo chạy" và "Tâm tư Tổng thống Thiệu". Mời quý vị đón theo dõi phần hai được BBC giới thiệu trong thời gian tới đây.

'Từ Watergate đến sụp đổ Sài Gòn'


nhan-vat-13-august-2014-7
Tổng thống Mỹ Richard Nixon rời Nhà trắng sau khi từ chức vì vụ scandal Watergate.

Trong phần tiếp theo của Bấm bài viết nhìn lại sự kiện Tổng thống Mỹ Richard Nixon từ chức (ngày 8/8/1974), tác giả Nguyễn Tiến Hưng, nguyên Tổng trưởng Kinh tế của Việt Nam Cộng hòa, đề cập hệ quả vụ scandal chính trị Watergate với sự sụp đổ của chính quyền Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cùng thể chế VNCH chưa tới một năm sau.
BBC giới thiệu sau đây phần hai và cũng là phần cuối của bài viết nhân bốn mươi năm xảy ra sự kiện này:
Mấy ngày sau khi nhận được thư của Tổng thống (TT) Gerald Ford, sau một buổi họp của Hội Đồng Tổng Trưởng tại Dinh Độc Lập, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bảo tôi ở lại nói chuyện thêm.
Ông hỏi qua loa về cá nhân ông Ford, vì ông này quá mới mẻ đối với VNCH.
Tôi nói với ông Thiệu về cái thông lệ của Hoa Kỳ là một tân Tổng Thống thường được Quốc Hội dành cho một “tuần trăng mật” chỉ dài khoảng 100 ngày, đôi khi lâu hơn.
Trong thời gian này, họ dành mọi sự dễ dàng cho vị tân Tổng Thống. Không những TT Thiệu mà tất cả Nội Các cũng hết sức lo âu.
""Không có nhân vật cao cấp nào trong chính phủ để ý đến vấn đề Việt Nam nữa!" Câu nói của Giáo sư Nutter làm TT Thiệu bỏ dở tô hủ tiếu"
Nguyễn Tiến Hưng
Câu chuyện mọi người bàn bạc lúc ăn trưa trong những buổi họp hàng tháng vào sáng thứ Tư tại Phủ Thủ Tướng cũng đều xoanh quanh Watergate và viện trợ Hoa Kỳ.
Để tìm hiểu rõ hơn về tình hình và xem Việt Nam Cộng Hòa phải xoay xở ra sao, chúng tôi đề nghị Tổng Thống Thiệu mời Giáo sư Warren Nutter sang thăm.
Ông là cựu Phụ tá Tổng Trưởng Quốc Phòng, đặc trách phần tài chính của chương trình Việt Nam Hoá.
Ông cũng là người thầy kính mến của chúng tôi tại Đại Học Virginia. Ông rất am hiểu đường đi nước bước của bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ và vấn đề quân viện.

'Bỏ dở tô hủ tiếu'

Giáo sư Nutter dự điểm tâm với TT Thiệu và chúng tôi sáng ngày 23 tháng 8 tại Dinh Độc Lập. Tổng Thống Thiệu nói về tình hình đang trở nên hết sức nguy ngập và bày tỏ sự lo ngại về viện trợ Hoa Kỳ.
Là người ủng hộ ông Thiệu từ lâu, ông Nutter cũng rất bối rối. Ông cảm thấy khó khăn khi giải thích hành động của Quốc hội. Ông hứa khi về đến Washington sẽ cố gắng trình lên Tổng Thống Ford tình trạng nguy ngập ở Việt Nam.
nhan-vat-13-august-2014-8
TT Thiệu không còn nhận được nhiều viện trợ và hậu thuẫn của người Mỹ vào cuối cuộc chiến.

Ông than phiền: "Không có nhân vật cao cấp nào trong chính phủ để ý đến vấn đề Việt Nam nữa!" Câu nói của GS Nutter làm TT Thiệu bỏ dở tô hủ tiếu.
Về tới Washington, ông viết một lá thư cho bạn ông là John O. Marsh, Phụ Tá của TT Ford. Nutter nhất quyết rằng miền Nam sẽ tồn tại được nếu có phương tiện chống trả các cuộc tấn công của quân đội chính quy Bắc Việt.
Nhưng nếu Hoa Kỳ ngưng viện trợ thì sẽ gây hậu quả trầm trọng cả về vật chất lẫn tinh thần. Nutter viết cho ông Marsh và đưa cho tôi một bản sao:
“Tôi chưa thấy ông Thiệu và các tướng lãnh Việt nam có khí sắc u sầu như vậy bao giờ. Họ sẽ càng mất tinh thần nếu Bắc Việt tiếp tục gây áp lực...
“Tôi tin rằng hành động của Quốc hội và hậu quả tai hại của việc cắt viện trợ là đầu mối của những xáo trộn chính trị và biểu tình trong vài tuần lễ gần đây (tại Sàigòn).
“Tình hình sẽ bất ổn về cả chính trị lẫn quân sự, và mọi sự có thể đổ vỡ nếu không xoay ngược được chiều hướng này. Nếu phải lựa chọn, ta nên viện trợ quân sự trước, rồi kinh tế sau, để đương đầu với những đe dọa quân sự trước mắt...
"Để cho Miền Nam Việt Nam rơi vào đổ vỡ và thảm cảnh chỉ vì hơn kém nửa tỷ đôla sẽ có hậu quả còn sâu xa hơn, đó là sẽ xé nát lương tâm của Hoa Kỳ. Nó sẽ là ngọn gió thổi bay ảnh hưởng của Hoa Kỳ tuy còn mạnh nhưng đang yếu dần trên chính trường quốc tế"
Giáo sư Warren Nutter
“Để cho Miền Nam Việt Nam rơi vào đổ vỡ và thảm cảnh chỉ vì hơn kém nửa tỷ đôla sẽ có hậu quả còn sâu xa hơn, đó là sẽ xé nát lương tâm của Hoa Kỳ. Nó sẽ là ngọn gió thổi bay ảnh hưởng của Hoa Kỳ tuy còn mạnh nhưng đang yếu dần trên chính trường quốc tế.”
Thêm vào đó, Đại sứ Martin cũng cố gắng vận động tại Quốc Hội Hoa Kỳ, nhưng chẳng ai làm được gì vì ông Kissinger đã trở nên một ông Quan Toàn Quyền.

Hoàng hôn nền Cộng Hòa

Cuối Hè vào Thu, chân trời Miền Nam đã tím lại.
Chỉ vài ngày sau khi TT Ford viết bức thư cho TT Thiệu khuyên ông đừng có lo nghĩ gì cả vì "sau cùng VNCH sẽ được đầy đủ cả quân viện lẫn kinh viện,” Ủy Ban Chuẩn Chi Thượng Viện đã cắt thêm nữa: từ mức quân viện cho Tài khóa 1973 là 2.2 tỷ đôla bây giờ cắt xuống còn 700 triệu.
Điều chỉnh theo lạm phát thật cao lúc ấy thì mãi lực của số tiền này chẳng còn bao nhiêu. Thực là tin sét đánh cho Bộ Tổng Tham Mưu VNCH. Đối với TT Thiệu một chút hy vọng khi nhận được thư đầu tiên của vị Tân Tổng thống Mỹ đã tan biến đi như mây khói.
nhan-vat-13-august-2014-9
Có những nỗ lực theo chiều hướng khác nhau để tiếp tục hoặc dừng lại tài trợ của Mỹ cho VNCH.

Ngoài chiến trường thì tình hình bắt đầu sôi động, đặc biệt là ở Đức Dục và Thường Đức.
Tới cuối năm 1974 thì đạn dược và xăng nhớt đã cạn kiệt. Theo dự tính của Bộ Tổng Tham Mưu: dự trữ đạn dược tồn kho chỉ còn cung ứng được từ 30 tới 45 ngày.
Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng kết luận rằng “nếu tình hình chiến sự cứ tiếp tục xảy ra theo cùng một nhịp độ thì: “số đạn tồn kho sẽ hết vào tháng 6, 1975 nếu không nhận được thêm viện trợ.”
Tình hình chiến sự đã tiếp tục xảy ra, lại theo một nhịp độ gia tăng. Không nhận được thêm viện trợ, lại còn bị Quốc Hội biểu quyết cúp hết quân viện, Miền Nam đã sụp đổ trước tháng 6, 1975.

Về Miền Cali

Sau khi từ chức và trao quyền cho TT Ford, trưa ngày 9 tháng 8, 1974 nguyên TT Nixon và gia đình rời cửa trước Tòa Bạch Ốc từ từ đi trên tấm thảm đỏ dài dẫn tới Marine One, chiếc trực thăng của tổng thống.
Sau đây là những dòng cuối cùng của cuốn ‘Nhật Ký Richard Nixon’ – viết về lúc giã từ Thủ đô:
“Tôi bắt tay Jerry (Ford) – Pat ôm Betty (Phu nhân TT Ford) – rồi hôn Julie (con gái) – và tạm biệt David (con trai). Rồi tôi đứng một mình. Lên hết cầu thang, tôi quay mình, nhìn lại một lần cuối…
"Không ai nói năng gì. Cũng chẳng còn hạt nước mắt nào để mà khóc. Tôi ngả đầu vào lưng ghế và nhắm mắt lại. ‘Thật là buồn, thật là buồn’ tôi nghe thấy Pat lẩm bẩm nói bâng quơ"
Nhật ký Richard Nixon
“Tôi giơ tay vẫy chào lần cuối cùng. Tôi vẫn cười. Tôi bước vào trực thăng, cửa đóng lại, chiếc thảm đỏ được cuộn nhanh. Động cơ bắt đầu nổ. Cánh quạt bắt đầu quay. Tiếng động cơ ầm ầm mạnh lên hầu như lấn át cả những suy nghĩ của tôi.
“Bất chợt chiếc trực thăng từ từ bay lên. Những người ở dưới vẫy tay chào. Rồi chúng tôi đổi hướng. Bây giờ thì Tòa Bạch Ốc đã nằm phía sau chúng tôi. Chúng tôi bay thấp và ngang qua Washington Monument. Một lần đổi hướng nữa và Hồ Tidal Basin đã nằm ở dưới. Rồi tới Jefferson Memorial.
“Không ai nói năng gì. Cũng chẳng còn hạt nước mắt nào để mà khóc. Tôi ngả đầu vào lưng ghế và nhắm mắt lại. ‘Thật là buồn, thật là buồn’ tôi nghe thấy Pat lẩm bẩm nói bâng quơ.”
“Sau một lần đổi hướng nữa chúng tôi đã bay về hướng phi trường Andrew, ở đó chiếc Air Force One đã đợi để đưa chúng tôi về California. Tiếng động cơ ầm ầm mạnh lên hầu như lấn át cả những suy nghĩ của tôi.”
Chắc chắn rằng trong những suy nghĩ của TT Nixon về những gì đã xảy ra, ông không khỏi hối hận vì đã sơ xuất để phải chết đuối trong vũng lầy.
nhan-vat-13-august-2014-10
Chín tháng sau ngày TT Nixon từ chức, Sài Gòn thất thủ hôm 30/4/1975.

Vào mùa bầu cử 1972, ông đã quá mạnh để thắng nhiệm kỳ hai, không cần phải cho nghe lén ở trụ sở Đảng Dân Chủ.
Thành tích của ông vẻ vang vì mở cửa Bắc Kinh, lại rút hầu hết quân đội Mỹ khỏi Việt Nam. Chương trình Việt Nam Hóa – chứng minh cho ‘Học Thuyết Nixon’ - đang thành công.

'Từ mảnh băng trên khóa'

Nhìn theo một khía cạnh tâm linh nào đó, ta có thể cho Ngày Song Bát (8 tháng Tám) cũng chỉ là điểm chốt của vận mệnh TT Nixon.
Từ một chuyện nhỏ nhặt đã gây nên thảm cảnh. Một thanh niên người da màu tên là Frank Wills, 24 tuổi, làm nhân viên bảo vệ cho một cao ốc văn phòng tại khuôn viên Watergate.
Đêm ngày 17 tháng 6, 1973, anh thủng thẳng đi quanh tòa nhà để xem xét, bất chợt anh thấy có miếng băng nhỏ dán vào ổ khóa một cánh cửa.
"Ta thử hỏi giả như anh Wills không vòng lại lần thứ hai thì lịch sử đã như thế nào? Vô tình, chỉ trong giây phút anh đã là người khởi sự quá trình dẫn đến ngày Song Bát (8/8). Một quá trình đã chấm dứt sự nghiệp của người Tổng thống lừng danh"
Nguyễn Tiến Hưng
Chẳng nghi ngờ gì, anh lấy tay gỡ miếng băng ra, đóng chặt cửa rồi tiếp tục đi kiểm tra như thường lệ. Ba mươi phút sau anh vòng lại chỗ cũ. Ấy chết, lại có thêm băng dán vào chốt cửa.
Vội vàng, anh chạy lên lobby lấy điện thoại gọi cho cảnh sát Khu Vực II. Cảnh sát ập tới, bắt được năm người trong văn phòng Đảng Dân Chủ đang cài giây nghe lén. Thế là chỉ trong giây phút “Water - gate” đã bắt đầu - cửa đập đã mở ra cho nước lũ tràn xuống.
Ta thử hỏi giả như anh Wills không vòng lại lần thứ hai thì lịch sử đã như thế nào?
Vô tình, chỉ trong giây phút anh đã là người khởi sự quá trình dẫn đến ngày Song Bát. Một quá trình đã chấm dứt sự nghiệp của người Tổng thống lừng danh.

'Đến con thuyền lênh đênh'

Ông đã đại thắng trong cuộc bầu cử nhiệm kỳ hai – một đại thắng ‘landslide’ - long trời lở đất. Để rồi đại bại, sụp đổ.
nhan-vat-13-august-2014-11
Chẳng bao lâu sau khi Sài Gòn sụp đổ, làn sóng thuyền nhân VN tị nạn bắt đầu bùng nổ trên biển.

TT Nixon đã ra đi và giã từ Thủ đô để trở về miền California, nơi có nắng âm hiền hòa hơn Washington
Chưa tới chín tháng sau ngày Song Bát, Miền Nam Việt Nam cũng sụp đổ theo ông.
Những con thuyền bé nhỏ lênh đênh trên mặt Biển Đông trông giống như những chiếc lá tre trôi dạt dào.
Bao nhiêu người quay lại giã từ Sài Gòn một lần chót.
Mệt lả, họ lẩm bẩm ‘thật là buồn, thật là buồn – It’s so sad, it’s so sad!’
Cũng chẳng còn hạt nước mắt nào để mà khóc. Không có lưng ghế, họ ngả đầu vào nhau, nhắm mắt lại, phó mặc cho số phận.
Với chút may mắn, một số người đã vượt qua được đại dương. Từng đợt rồi lại từng đợt, họ kéo nhau về Miền Cali, nơi có nắng ấm hiền hòa.
Thêm một sự trùng hợp lạ lùng nữa: phần đông lớp người ra đi đầu tiên lại được đưa tới Camp Pendleton, gần ngay khu nhà Casa Pacifica của TT Nixon ở San Clemente. Cả hai đều nằm sát Đường Xuyên Bang – Intertate 5.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan: “Hãy khơi dậy sức dân”


TT -
* Vừa qua có ý kiến so sánh sự phát triển của ta với Hàn Quốc. Cụ thể là “cách đây bốn, năm mươi năm, Việt Nam và Hàn Quốc có trình độ phát triển tương đương. Sau mấy mươi năm, rà lại tư liệu thấy Hàn Quốc hiện có khoảng 90.000 người sống tại Việt Nam và Việt Nam cũng có 90.000 người sống ở Hàn Quốc. Chỉ khác nhau ở chỗ hầu hết người Hàn Quốc tại Việt Nam làm ông chủ, làm quản lý, còn người Việt Nam ở Hàn Quốc chủ yếu làm thuê”. Ông nghĩ sao về sự so sánh này?
- Như người ta thường nói: mọi sự so sánh đều khập khiễng. Khi so sánh các sự việc, hiện tượng, chiều hướng thì nên có cái nhìn nhiều chiều.
Tôi từng tham gia việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc, sau đó là chủ tịch Phân ban hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc, có nhiều dịp đến Hàn Quốc nên biết tương đối rõ về đất nước này. Trước tiên, họ không phải trải qua chiến tranh dài như ta. Họ không bị cấm vận, cô lập và được Mỹ cũng như các nước phương Tây hỗ trợ rất nhiều về kinh tế.
Tôi đã đi trên nhiều con đường cao tốc ở Hàn Quốc và nhiều đoạn do nước ngoài giúp đỡ xây dựng. Khác với ta, họ không bị cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp đè nặng nhiều năm.
Hàn Quốc đã theo đuổi kinh tế thị trường và hội nhập sâu với quốc tế từ rất sớm. Riêng việc có điều kiện tiếp cận thị trường rộng lớn của Mỹ, Nhật, Tây Âu ngay từ đầu đã là lợi thế lớn.
Nói vậy không có nghĩa Hàn Quốc không có gì ta cần học ở họ và ta không có điều gì cần rút kinh nghiệm. Đã gần 40 năm từ ngày đất nước thống nhất và 30 năm từ khi đổi mới, rõ ràng kinh tế nước nhà và đời sống người dân đã khác xa nhiều, song sự tụt hậu so với nhiều nước cùng trình độ 30-40 năm trước không còn là “nguy cơ” mà là một thực tế đáng tiếc.
Bốn khâu đánh thức tiềm năng
nhan-vat-sep-03-2014-1
Ông Vũ Khoan - Ảnh: Việt Dũng
Có những việc ta đã và đang làm không giống ai. Chẳng hạn cách tính GDP địa phương, tính nợ xấu, nợ công, chuẩn nghèo... Khi đã hội nhập rồi thì phải áp dụng chuẩn quốc tế, phấn đấu sánh vai cùng bè bạn năm châu, chứ không nên hạ chuẩn xuống rồi hài lòng với những gì mình có
Ông VŨ KHOAN
* Cần làm gì để đánh thức tiềm năng hay khơi dậy sức dân như ông vừa nêu?
- Thứ nhất, như tôi nói ở trên, phải tháo gỡ, dẹp bỏ những gì cản trở sức dân. Ví dụ ở chỗ này, chỗ kia còn phân biệt thành phần kinh tế, còn tình trạng độc quyền, thủ tục hành chính phiền hà, nhũng nhiễu. Thủ tục nộp thuế “ích nước lợi dân” mà như cực hình, mất tới khoảng 800 giờ/năm, trong khi các nước chỉ dưới 200 giờ thì thử hỏi làm sao dân giàu nước mạnh được.
Mới đây nghe nói sẽ thu gọn từ 51 ngành nghề cấm đầu tư, kinh doanh còn 8 ngành nghề. Chủ trương như vậy là tốt rồi. Nhưng chỉ sợ mấy trăm ngành nghề “có điều kiện” sẽ đẻ ra lắm thủ tục rắc rối...
Thứ hai là câu chuyện về nguồn nhân lực. Vào cuối những năm 1980, tới thăm Nhà máy gang thép Posco, tôi rất ấn tượng với khẩu hiệu của họ là “tài nguyên có hạn, nhưng trí tuệ con người vô hạn”.
Hàn Quốc đã rất chú trọng việc phát triển nguồn nhân lực. Không những về kiến thức mà cả về tố chất, kỹ năng lao động. Lao động cật lực, kỷ cương, chặt chẽ. Nhờ đó họ đã vươn lên tuyến đầu của nhiều lĩnh vực công nghệ cao.
Và nữa, họ rất tự trọng, chỉ dùng hàng Hàn Quốc, các biển hiệu quảng cáo đều dùng tiếng Hàn. Chỉ có đổi mới thật sự một cách toàn diện, cơ bản sự nghiệp giáo dục mới hi vọng bứt phá lên được.
Thứ ba là việc chọn trúng mô hình, cơ cấu kinh tế phù hợp với tiềm năng thực của mình, đáp ứng trúng nhu cầu trong và ngoài nước. Bây giờ nhìn lại thấy ta chưa có một ngành công nghiệp nào thật sự ra tấm ra món: luyện kim, cơ khí, đóng tàu, ôtô, điện tử... ngành nào cũng có “chiến lược” từ nhiều năm nay, nhưng kết quả triển khai thế nào đã rõ.
Nền kinh tế của ta vẫn gia công là chính. Kinh tế của ta vẫn là “hàng đóng bao chứ không phải hàng đóng gói”. Gạo, hạt tiêu, cà phê... ở thứ hạng cao của thế giới nhưng đều đóng “bao to” xuất khẩu, chứ chưa thành “gói nhỏ” được tinh chế, có thương hiệu, có hàm lượng trí tuệ, công nghệ cao trong đó.
Thứ tư, chúng ta hội nhập để mở rộng thị trường, tranh thủ đầu tư nước ngoài, nhưng chưa chuyển hóa ngoại lực thành nội lực thật sự.
Khoảng 60% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa là của doanh nghiệp FDI. Điều đó không xấu nhưng không thật tốt, giá như FDI 30%, doanh nghiệp trong nước 70% thì đẹp hơn. Có thể nói chúng ta chưa xây dựng được một nền kinh tế đứng vững trên đôi chân của mình.
Nếu chúng ta tìm được lời giải cho bốn vấn đề trên thì đất nước chắc sẽ khởi sắc nhanh.
nhan-vat-sep-03-2014-2
Người dân tự đầu tư các phòng nghiên cứu nhằm phục vụ nhu cầu có giống tốt trong nông nghiệp - Ảnh: M.Vinh
* Loay hoay với định hướng phát triển, có người nói nên lấy nông nghiệp, có người lại đề nghị công nghệ thông tin. Ông có đề xuất gì không?
- Bây giờ ta ngồi đây và nói chọn cái gì sẽ là chủ quan, duy ý chí. Có lẽ nên tiếp cận từ cả hai đầu: “cầu” và “cung”. Trong kinh tế thị trường, việc đầu tiên là cần phân tích dự báo “cầu” trong nước và thế giới cả về lượng lẫn chất. Xem ra điều này chưa được chú trọng đúng mức.
Ví dụ, chiến lược công nghiệp ôtô mới đưa ra chưa làm rõ có kích cầu sử dụng ôtô không, và muốn kích cầu thì bằng biện pháp gì? Nếu không thì làm sao ngành công nghiệp ôtô phát triển được? Ta đang có những biện pháp hạn chế cầu chứ có kích cầu ôtô đâu. Đó là ở “đầu ra”, còn ở “đầu vào” thì rất cần nhận diện “tiềm năng thực”.
Tôi cứ băn khoăn tại sao trên thế giới chỉ có Mỹ, Nhật, Đức, Hàn Quốc trụ lại được ngành công nghiệp ôtô, ngay cả Pháp, Ý, Thụy Điển, Nga... xem ra đều đuối sức. Vậy ta có “sánh vai” nổi không?
* Một số chuyên gia cho rằng có thể lấy nông nghiệp trở thành nền tảng của nền kinh tế và đó chính là tương lai của Việt Nam. Quan điểm của ông như thế nào?
- Trong kết luận của Bộ Chính trị về đề án nông nghiệp, nông thôn, nông dân có nói rằng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là “nhiệm vụ hàng đầu” trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tôi thấy cách đặt vấn đề như vậy là hợp lý vì nước ta là nước nông nghiệp. Nông nghiệp là tiềm năng có thật, sờ thấy được, cân đong đo đếm được. Nhiều nước phát triển trên thế giới đã xây dựng được nền nông nghiệp hiện đại như một trong những trụ cột cho kinh tế của họ như Hà Lan, Israel, Thụy Sĩ, Úc, New Zealand...
Không nên quan niệm nông nghiệp chỉ là nơi trú bão, khi khó khăn, thất nghiệp thì lui về trú ngụ. Chúng ta hoàn toàn có thể đi lên bằng nông nghiệp, nhưng đó phải là một nền nông nghiệp hiện đại, sản xuất lớn, có những sản phẩm thương hiệu tầm cỡ quốc tế.
Chỉ có điều tôi chưa rõ chúng ta sẽ giải bài toán phát triển nông nghiệp như thế nào khi tỉ trọng đầu tư vào đây cứ giảm dần, ruộng đất bị thu hẹp dần do bị lấy làm đô thị...
Nhân đây tôi xin bày tỏ nỗi lo về khâu thực hiện. Từ lâu ta đặt giáo dục, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, song khi thực hiện lại không hẳn như vậy và kết quả thế nào ta có thể thấy được.
Định vị chỗ đứng trong thế giới bất định
* Chúng ta đang đứng trước bối cảnh không chỉ phải tập trung cho những nhiệm vụ bên trong, mà tình hình bên ngoài cũng đang đặt ra thách thức lớn, thưa ông?
- Thế giới đang ở thời đoạn xáo động lớn, thời đoạn chuyển tiếp sang một “cấu trúc” hay một “trật tự” mới với nhiều biến số. Và ở thời đoạn như vậy thường xảy ra nhiều náo loạn, bất định.
Đây chính là thách thức đối với mọi quốc gia, trong đó có ta và ta phải định vị cho được chỗ đứng của mình, xác định cách ứng xử thế nào để tự bảo vệ là cả một vấn đề.
* Có những nước chọn cách gia nhập các liên minh để được bảo vệ dưới cái “ô” của nước lớn. Ta với đường lối độc lập, tự chủ thì không có đồng minh, nhưng lúc này mở rộng và làm sâu sắc thêm mối quan hệ với bạn bè quốc tế là rất quan trọng?
- Khái niệm bạn bè là sự đồng cảm, là sự ủng hộ về tinh thần, về pháp lý. Còn khái niệm liên minh là thể chế ràng buộc nhau. Nếu chúng ta nhảy vào liên minh nào đó thì sẽ chịu nhiều ràng buộc, không còn sự cơ động, linh hoạt, nhiều khi phải tuân theo những điều không phù hợp với lợi ích của mình, thậm chí đi ngược lại lợi ích của mình.
Bài học Cách mạng Tháng Tám chỉ cho chúng ta rằng cần nhận biết, phân tích, dự báo chuẩn xác tình hình quốc tế, nhất là các nước lớn, từ đó tận dụng tối đa lợi ích, hóa giải khôn khéo thách thức có lợi nhất cho mình.
Trong bối cảnh bên cạnh chúng ta là một Trung Quốc đang trỗi dậy và Hoa Kỳ - một cường quốc Thái Bình Dương - đang “xoay trục”, nếu ai đó băn khoăn nên hay không nên lựa chọn đứng về bên này, bên kia vì lợi ích của riêng mình trong mối quan hệ với các nước lớn, ông sẽ trả lời sao?
- Không đi sâu vào những lập luận trừu tượng, hãy nhìn vào lịch sử thì thấy nhiều khi Việt Nam đã bị đem ra để mặc cả. Cụ thể như các sự kiện diễn ra vào các năm 1954 (hiệp định Genève), 1972 (thông cáo Thượng Hải), 1974 (Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam)...
Vì vậy phải độc lập, tự chủ trước hết là “trong cái đầu”, biết chọn cách thông minh nhất để bảo vệ lợi ích của dân tộc mình. Không nên “dựa dẫm” mà nên biết cách “chọn lựa” cái lợi nhất cho mình.
VÕ VĂN THÀNH thực hiện
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sự đổ vỡ sắp đến của Trung Quốc


David Shambaugh - Ván bài cuối cùng của ĐCS Trung Quốc đã bắt đầu khi mà những biện pháp tàn nhẫn của Tập Cận Bình chỉ có thể đưa đất nước tiến gần tới tình huống nguy kịch.
Hôm thứ năm tuần này Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc thường niên vừa nhóm họp theo nghi thức đã trở nên quen thuộc. Ước chừng 3 000 đại biểu “ được bầu chọn” trên khắp mọi miền đất nước – từ những nhóm thiểu số trang phục sặc sỡ tới các tỷ phú lịch lãm sẽ gặp mặt trong thời gian một tuần để thảo luận về tình hình đất nước và dường như điều này tạo ra ấn tượng rằng họ đang tham gia vào đời sống chính trị của quốc gia.

Một số người nhìn nhận cuộc tụ họp đầy ấn tượng này là một chỉ dấu cho sức mạnh của hệ thống chính trị Trung Quốc, tuy nhiên thực chất nó lại che dấu những điểm yếu nghiêm trọng. Các chiêu trò chính trị ở Trung Quốc xưa nay thường được ngụy trang dưới lớp vỏ đầy kịch tính với những sự kiện dàn dựng trên sân khấu cho thấy dường như Quốc hội trao quyền lực bền vững cho ĐCS Trung Quốc. Cán bộ nhà nước cũng như dân thường đều biết rằng họ phải tuân thủ những nghi thức đó, tức là phải vui vẻ tham gia và nhắc lại như vẹt các khẩu hiệu chính thức. Lối hành xử như vậy ở Trung Quốc có cái tên là "biểu thái" (biaotai – biểu lộ thái độ), thực ra nó có ý nghĩa chỉ hơn một chút hành động phục tùng mang tính tượng trưng.

Nếu không để ý tới vẻ bên ngoài thì về thực chất ĐCS Trung Quốc đang rất suy yếu và không ai biết điều này hơn chính Đảng. Con người đầy quyền lực của Trung Hoa - Tập Cận Bình đang hy vọng rằng các biện pháp trừng trị thẳng tay bất đồng chính kiến và tham nhũng sẽ giúp chống đỡ một sự sụp đổ vai trò lãnh đạo của Đảng. Tập Cận Bình xác định rằng phải tránh trở thành một Gorbachov của Trung Hoa bởi lẽ Gorbachov đã điều hành sự tan rã của Đảng CS LX. Thế nhưng thay vì trở thành nhân vật tương phản với Gorbachov, Tập Cận Bình kết cục có thể lại tạo ra cùng một hậu quả. Sự chuyên quyền của họ Tập gây sang chấn nghiêm trọng toàn bộ hệ thống xã hội Trung Quốc và đang đưa đất nước tới gần tình huống nguy kịch.

Dự đoán sự ra đi của các chế độ chuyên chế luôn là việc đầy rủi ro, phi phỏng. Một số chuyên gia Phương Tây nhìn trước sự sụp đổ của Liên Xô trước khi nó xảy ra vào năm 1991; tuy nhiên CIA lại hoàn toàn bỏ qua việc này. Sự tan rã của các quốc gia cộng sản Đông Âu hai năm trước đó cũng đã từng bị chế nhạo như một suy nghĩ mơ mộng của những kẻ chống cộng cho tới khi việc này trở thành hiện thực. Các cuộc “cách mạng màu” trong thời kỳ hậu Liên Xô ở Gruzia, Ucrain và Kyrgyzstan từ năm 2003 tới 2005 cũng như cuộc nổi dậy mùa Xuân Ả Rập năm 2011 đều bùng nổ ngoài mọi dự đoán.

Các nhà quan sát tình hình Trung Quốc đang rất để ý tới những dấu hiệu có tính chất làm lộ chân tướng mục ruỗng và suy đồi của chế độ đang diễn ra kể từ khi xảy ra sự kiện trên quảng trường Thiên An Môn năm 1989, khi mà chế độ đã trên bờ suy vong. Từ thời điểm đó đến nay một số nhà Trung Hoa học đã đánh cược uy tín nghề nghiệp của mình khi khẳng định rằng sự sụp đổ của ĐCS Trung Quốc trong vai trò lãnh đạo là không thể tránh khỏi. Những người khác thì tỏ ra thận trọng hơn, trong đó có tôi. Thế nhưng thời thế ở Trung Quốc đã thay đổi và những phân tích của chúng ta cũng cần bám sát thời cuộc.

Ván bài cuối cùng với sự lãnh đạo của ĐCS Trung Quốc đã bắt đầu, tôi tin là như vậy và điều này đã tiến triển xa hơn cái mức mà nhiều người suy nghĩ. Tất nhiên chúng ta không biết con đường đi từ nay cho tới khi nó kết thúc sẽ có hình dạng ra sao. Có thể nó sẽ rất không ổn định và lộn xộn nhưng cho tới khi hệ thống bắt đầu tháo gỡ các nút thắt một cách rõ ràng,rành mạch thì các yếu tố nội tại vẫn tiếp tục đóng vai trò và vì vậy chúng sẽ ảnh hưởng tới bộ mặt của sự ổn định.

Sự cầm quyền của ĐCS Trung Quốc khó có thể kết thúc một cách êm ả. Một sự kiện đơn lẻ khó có thể gây nên sự khép lại hòa bình của một chế độ. Điều dễ xảy ra hơn đó là sự ra đi của nó sẽ kéo dài, hỗn độn và bạo lực. Tôi không loại trừ khả năng Tập Cận Bình bị hạ bệ trong cuộc tranh giành quyền lực hoặc bởi một cú đảo chính cung đình (un coup d’état). Chiến dịch chống tham nhũng hăng hái của họ Tập đã trở thành tiêu điểm tuần này của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc cho thấy ông đang dùng quá đà sở đoản của mình và chọc tức một cách sâu sắc các cử tri là những nhân vật chủ chốt trong Đảng, Nhà nước, quân đội và giới kinh doanh.

Người Trung Hoa có câu ngạn ngữ, waiying, neiruan- ngoài cứng, trong mềm. Tập Cận Bình là một nhà lãnh đạo quả thực là mạnh mẽ, tràn đầy sức thuyết phục và tự tin. Thế nhưng nhân cách cứng rắn đó lại đi ngược với hệ thống Đảng và chính trị vốn hết sức mong manh trong nội bộ. Chúng ta hãy cùng xem xét 5 dấu hiệu có tính thuyết phục thể hiện tính dễ tổn thương của chế độ và yếu kém của hệ thống Đảng CS Trung Quốc.

Thứ nhất, giới tinh hoa của nền kinh tế Trung Quốc đang đặt một chân bên ngoài cửa nhà và họ luôn sẵn sàng rời bỏ hàng loạt nếu như hệ thống thực sự bắt đầu sụp đổ. Năm 2014 Viện nghiên cứu Hurun ở Thượng hải chuyên theo dõi vấn đề người giàu Trung Quốc đã kết luận rằng 64% người có của Trung Quốc đã di cư hoặc đang lên kế hoạch di cư khỏi Trung Quốc. Người giàu Trung Quốc gửi con cái đi học ở nước ngoài với con số kỷ lục (bản thân sự việc này đã là một cáo trạng về chất lượng của hệ thống Đại học Trung Quốc).

Ngay trong tuần này báo chí đăng tin các đặc vụ Liên bang đã lục soát một số địa điểm ở Nam California nơi mà chính quyền Mỹ khẳng định rằng chúng có liên quan tới loại hình kinh doanh du lịch đạt giá trị nhiều triệu USD nhằm đưa hàng ngàn sản phụ Trung Quốc sang sinh con tại Mỹ để rồi sau đó quay trở lại Trung Quốc với đứa con là công dân Hoa Kỳ.

Người giàu Trung Quốc còn mua bất động sản ở nước ngoài ở quy mô và mức giá kỷ lục, họ chuyển tài sản ra nước ngoài, thường là những nơi được coi là dễ trốn thuế và mượn các công ty làm bình phong.

Trong khi đó, Bắc kinh đang nỗ lực đưa về nước số lượng lớn những kẻ chạy trốn mang tiền ra sống ở nước ngoài. Một khi mà giới tinh hoa của đất nước – trong đó có nhiều đảng viên CS rời bỏ tổ quốc với số lượng lớn thì chính nó đã cho thấy dấu hiệu xác đáng về sự mất lòng tin vào chế độ và tương lai của đất nước.

Thứ hai, khi lên cầm quyền năm 2012 Tập Cận Bình đã mạnh mẽ tăng cường làn sóng trấn áp chính trị vốn đã được khởi động từ năm 2009 trên khắp Trung Quốc. Mục tiêu hay đối tượng được ngắm tới là báo chí, truyền thông xã hội, phim ảnh, văn hóa - nghệ thuật, các nhóm tôn giáo, Internet, các nhà trí thức, người Tây Tạng và Uighur, những nhân vật bất đồng chính kiến, luật sư, các tổ chức phi chính phủ, sinh viên Đại học và lĩnh vực sách giáo khoa. Ban chấp hành Trung ương ĐCS đã ra một chỉ thị hà khắc được biết tới dưới cái tên Văn kiện số 9 phổ biến trong toàn hệ thống ĐCS từ trên xuống dưới năm 2013, yêu cầu mọi đơn vị phải truy tìm cho ra những biểu hiện tán đồng “ các giá trị phổ quát của phương Tây “ dù còn manh nha, đó là nền dân chủ pháp trị, xã hội dân sự, tự do báo chí và trào lưu Tự do mới trong kinh tế (Neoliberal Economics).

Một nhà nước yên ổn và tự tin sẽ không phải tiến hành trấn áp, cấm đoán như vậy. Đó chính là triệu chứng của sự bất an và lo sợ của lãnh đạo ĐCS.

Thứ ba, cho dù nhiều người trung thành với chế độ vẫn hành động xu thời nhưng khó bỏ qua những biểu hiện giả tạo mang tính diễn kịch đang lan khắp bộ máy chính trị trong mấy năm gần đây.
Mùa hè vừa qua, tôi là một trong số ít khách ngoại quốc (và cũng là người Mỹ duy nhất) tham dự cuộc hội thảo về “ Giấc mơ Trung Hoa” theo luận thuyết của Tập Cận Bình tại một cơ quan nghiên cứu của ĐCS Trung Quốc ở Bắc kinh. Chúng tôi ngồi suốt hai ngày, đầu óc bị tê liệt vì phải nghe liên tục hơn hai chục học giả của Đảng đọc tham luận, tuy nhiên bộ mặt của những người thuyết trình đều lạnh lùng vô cảm, ngôn ngữ cơ thể cho thấy một sự cứng nhắc và nỗi ngán ngẩm của họ rất dễ cảm nhận được từ bên ngoài. Họ làm ra vẻ phục tùng Đảng và những câu thần chú cuối cùng của lãnh đạo nhưng rõ ràng là công tác tuyên truyền đã mất hiệu lực cho nên Hoàng đế bây giờ chẳng còn y phục trên người.

Tháng 12, tôi trở lại Bắc kinh để dự cuộc hội thảo của trường Đảng trung ương, một định chế cao nhất của ĐCS trong việc đưa ra những chỉ đạo mang tính học thuyết. Và một lần nữa các quan chức cao cấp nhất của đất nước cùng các chuyên gia về chính sách đối ngoại lại đọc thuộc lòng kho khẩu hiệu, chính xác tới từng từ. Có lần trong bữa trưa, tôi ghé thăm gian hàng sách của trường, một địa chỉ dừng chân quan trọng để biết các cán bộ lãnh đạo Trung Quốc ngày nay được đào tạo điều gì. Những cuốn tuyển tập trên giá sách từ “các tác phẩm chọn lọc của Lê Nin” tới hồi ký của cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ Condoleezza Rice và trên bàn ngay cửa ra vào, những cuốn sách nhỏ của Tập Cận Bình quảng bá cho chiến dịch của ông ta về “ Công tác quần chúng” - hay mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân được xếp cao chất ngất. Tôi hỏi, “ sách này bán thế nào ?” Cô bán hàng trả lời “ Ô, không bán được nhiều, chúng tôi lại mang chúng đi ấy mà”“. Độ cao của chồng sách đã cho thấy khó có thể tin được cuốn sách đó thu hút độc giả.

Thứ tư, nạn tham nhũng làm thối nát bộ máy ĐCS, chính quyền và quân đội cũng đã thâm nhập vào toàn bộ xã hội Trung Quốc ngày nay. Chiến dịch chống tham nhũng của Tập Cận Bình kéo dài được lâu và cũng khốc liệt hơn những đợt trước đây nhưng không một chiến dịch nào có khả năng loại trừ vấn nạn này vì nó đã bắt rễ một cách ngoan cố vào hệ thống độc Đảng, vào mạng lưới người bảo trợ - khách hàng (mang tính Mafia – ND) và một nền kinh tế hoàn toàn thiếu vắng sự minh bạch cùng một bộ máy truyền thông do Nhà nước quản lý không mang tính thượng tôn Pháp luật.

Hơn thế nữa, chiến dịch chống tham nhũng, hối lộ của Tập Cận Bình được đưa ra nhằm thanh lọc có lựa chọn, chủ yếu nhắm vào các đồng sự và chiến hữu của cựu Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân. Năm nay đã 88 tuổi họ Giang vẫn được đánh giá như Thái thượng Hoàng trong nền chính trị Trung Quốc. Truy quét mạng lưới đặt dưới sự bảo trợ của họ Giang trong khi ông ta còn sống là một sự mạo hiểm lớn đối với Tập Cận Bình, đặc biệt là khi ông có vẻ chưa tập hợp được phe phái gồm những chiến hữu trung thành tới mức đủ mạnh để củng cố quyền lực. Một vấn đề khác nữa là Tập Cận Bình là con trai của thế hệ đầu tiên các nhà cách mạng Trung Quốc, là một trong những “ Thái tử “ cho nên các mối liên hệ chính trị của ông ta chủ yếu được mở rộng đối với các “ Thái tử” khác. Thế hệ thứ 2 này đang bị xỉ vả công khai hiện nay ở Trung Quốc.

Cuối cùng, nền kinh tế Trung Quốc dưới con mắt của phương Tây là một cỗ xe Gia Ga nát không thể dừng lại (thần thoại Ấn độ có chuyện chiếc xe chở vị Thánh tên Giaganat diễu trên phố và những người cuồng tín thường đổ xô vào xe để xe cán chết – ý bóng chỉ lực lượng khủng khiếp đi đến đâu gây chết chóc đến đó – ND). Nền kinh tế đó đang bị sa lầy trong một chuỗi những cái bẫy mang tính hệ thống mà không dễ thoát ra. Tháng 11/2013 Tập Cận Bình chủ tọa Hội nghị Trung ương 3 ĐCS Trung Quốc, Hội nghị đã công bố những chương trình cải cách kinh tế đồ sộ nhưng cho tới nay chúng vẫn còn nằm yên trên bệ phóng. Vâng, các khoản chi cho tiêu dùng có tăng, nạn thảm đỏ có giảm cùng với một số cải cách thuế được thực hiện nhưng nhìn chung các mục tiêu đầy tham vọng của Tập Cận Bình đã chết yểu. Chương trình cải cách đã thách thức các nhóm lợi ích hùng mạnh, cố thủ ở nơi thâm căn cố đế - đó là những doanh nghiệp nhà nước và đội ngũ quan chức Đảng ở địa phương và họ đã không úp mở ngăn cản việc thực thi cải cách.

Năm vết rạn nứt hiển hiện và ngày một gia tăng trong hệ thống quản lý Trung Quốc chỉ có thể khắc phục thông qua cải cách chính trị. Cho tới khi và chỉ khi Trung Quốc nới lỏng việc quản lý hà khắc hệ thống chính trị, quốc gia này mới có thể trở nên một xã hội sáng tạo và một nền “kinh tế tri thức” như mục tiêu cải cách mà Hội nghị trung ương 3 đã đặt ra. Chính hệ thống chính trị hiện nay mới là trở ngại chủ yếu đối với các cải cách chính trị và xã hội Trung Quốc. Nếu như Tập Cận Bình và các lãnh đạo ĐCS Trung Quốc không nới lỏng sự kìm kẹp thì họ chắc chắn sẽ phải đối mặt với số phận mà họ không mong muốn.

Trong mấy thập niên sau khi Liên Xô tan rã, giới lãnh đạo của Trung Quốc luôn bị ám ảnh bởi sự sụp đổ của người đồng chí cộng sản khổng lồ này. Hàng trăm bài phân tích của giới nghiên cứu Trung Quốc đã mổ xẻ các nguyên nhân dẫn tới sự tan rã đó.

“Giấc mơ Trung Hoa” của Tập Cận Bình trên thực tế đang cố gắng tránh cơn ác mộng Liên Xô. Vài tháng trước nhiệm kỳ lãnh đạo của mình, họ Tập đã có một bài phát biểu nội bộ về sự sụp đổ của Liên Xô, lên án sự phản bội của Gorbachov và cho rằng Moscow thiếu “ một người đàn ông đích thực” có khả năng chống lại người lãnh đạo cuối cùng mang tư tưởng cải tổ đó. Làn sóng đàn áp do Tập Cận Bình khởi xướng và chỉ đạo hiện nay cho thấy ông ta chống lại đường lối cải tổ và minh bạch kiểu Gorbachov. Thay vì cởi mở, Tập Cận Bình lại tăng cường kiểm soát tư tưởng, nền kinh tế và cả những đối thủ cạnh tranh trong nội bộ Đảng.Tuy vậy phản công và đàn áp chưa phải là lựa chọn duy nhất của họ Tập.

Những người tiền nhiệm của ông ta như Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào lại rút ra những bài học rất khác từ sự sụp đổ của Liên Xô. Từ năm 2000 tới 2008 họ đã thể chế hóa một số chủ trương nhằm nới lỏng và cởi mở hệ thống cùng với việc thực hiện cải cách chính trị một cách thận trọng và có giới hạn. Họ đã củng cố các cấp ủy ở địa phương và đưa vào thử nghiệm việc bầu vị trí bí thư Đảng với nhiều ứng viên. Hai ông cũng đã thâu nạp nhiều doanh nhân và trí thức vào Đảng, mở rộng hiệp thương giữa Đảng và các nhóm ngoài Đảng đồng thời làm cho các biên bản họp Bộ chính trị thêm minh bạch. Họ đã cải thiện cơ chế phản hồi trong Đảng, thực thi nhiều hơn các tiêu chí tuyển chọn nhân tài để đánh giá và đề bạt, thiết lập hệ thống đào tạo ủy nhiệm cán bộ trung cấp cho toàn bộ 45 triệu người được quy hoạch nguồn. Các ông cũng đã làm cho có hiệu lực những quy chế về hưu trí, luân chuyển công chức và sĩ quan quân đội 2 năm một lần.

Trên thực tế họ Giang và họ Hồ đã suy nghĩ để quản lý sự thay đổi thay vì chống lại nó. Tuy nhiên Tập Cận Bình không chấp nhận một điểm nào cả. Kể từ năm 2009 (khi mà nhà lãnh đạo có đầu óc cởi mở trước đây là Hồ Cẩm Đào đã thay đổi đường lối và bắt đầu chính sách khẩn cấp), chính quyền Trung Quốc ngày càng trở nên bất an nên đã cho ngừng thực thi các cải cách chính trị (trừ việc cải cách đào tạo cán bộ). Những cải cách này đã được một thủ túc chính trị của Giang Trạch Dân đạo diễn, đó là Phó Chủ tịch Trung Quốc Tằng Khánh Hồng (Zeng Qinghong). Ông này đã nghỉ hưu từ 2008 nhưng hiện đang bị nghi vấn tham nhũng trong chiến dịch “ đả hổ diệt ruồi “ của họ Tập. Điều này cho thấy Tập Cận Bình thù địch với các biện pháp cải cách nhằm giảm nhẹ con bệnh của một hệ thống đang đổ nát.

Một vài chuyên gia cho rằng chiến thuật tàn nhẫn của họ Tập sẽ báo trước một xu hướng cải cách cởi mở hơn trong những năm sau này trong nhiệm kỳ của ông. Riêng tôi thì không đồng tình bởi lẽ nhà lãnh đạo này và chế độ của ông ta luôn quan niệm chính trị là một cuộc chơi có tổng bằng 0 (tức là hoặc thắng hoặc thua chứ không có tình thế cả hai cùng thắng Win- Win – ND). Do vậy nới lỏng sự quản lý theo họ, chắc chắn sẽ là một bước tiến tới sự sụp đổ của cả hệ thống trong đó có họ.

Họ còn có quan điểm theo thuyết âm mưu cho rằng Hoa Kỳ đang nỗ lực hành động nhằm lật đổ sự lãnh đạo của ĐCS Trung Quốc. Do vậy không có chỉ dấu nào cho thấy những cải cách sẽ quay trở lại ở Trung Quốc.

Chúng ta không thể đoán trước khi nào thì chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc sẽ sụp đổ nhưng cũng không khó để kết luận rằng chúng ta đang làm chứng cho giai đoạn cuối cùng của nó. ĐCS Trung Quốc đứng thứ 2 trên thế giới về thời gian cầm quyền (chỉ sau có Bắc Triều Tiên) và không có đảng chính trị nào có thể cầm quyền mãi.

Nhìn về phía trước, những nhà quan sát Trung Quốc cần phải tập trung sự chú ý vào các công cụ của chế độ phục vụ việc cai trị và những người được giao phó sử dụng các công cụ đó. Một số lớn công dân và đảng viên CS Trung Quốc đã lựa chọn bằng đôi chân để rời bỏ tổ quốc hoặc thể hiện hành động giả dối của mình bằng cách làm ra vẻ tuân thủ các chỉ thị của Đảng.

Chúng ta cần quan sát cái ngày mà những nhân viên tuyên truyền của chế độ và bộ máy an ninh nội bộ sẽ trở nên không nghiêm chỉnh hoặc lỏng lẻo trong việc thực thi các lệnh của Đảng - thảng hoặc khi mà họ bắt đầu trở nên đồng cảm với những kẻ bất đồng chính kiến như nhân viên an ninh Đông Đức trong cuốn phim “ Những cuộc đời của người khác” khi anh này thông cảm với chính đối tượng bị theo dõi của mình.

Một khi sự thấu cảm của con người đã manh nha chiến thắng bộ máy cầm quyền cứng nhắc, giáo điều thì ván bài cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc mới thực sự bắt đầu.

David Shambaugh
Dr. Shambaugh hiện là Giáo sư về Quan hệ Quốc tế đồng thời giữ chức vụ Giám đốc chương trình Chính sách Trung Quốc tại Đại học George Washington, ông cũng là cộng tác viên cao cấp của Viện Brookings. Những cuốn sách của ông về Trung Quốc gồm “ ĐCS Trung Quốc : sự hao mòn và sự thích ứng” và gần đây nhất là cuốn “ Trung Quốc toàn cầu hóa : một thế lực cục bộ”.

Thăng long- Hà nội 8 tháng 3 /2015.
Phạm Gia Minh dịch từ Wall Street Journal số ra ngày 6/3/2015
(Viet-studies)

http://viet-studies.info/kinhte/ChinaCrackup_Shambaugh.htm

Phần nhận xét hiển thị trên trang

"Tây lương nữ quốc"

Thiên đường tình một đêm cho phụ nữ ở Trung Quốc
Tại Mosuo, phụ nữ không kết hôn mà họ có thể quan hệ với tất cả chàng trai mình yêu thích, trong ngôn ngữ riêng của họ cũng không có từ nào mang hàm ý là "cha". Thường phụ nữ ở đây không kết hôn, và họ có thể mời bất kỳ người đàn ông mình thích về qua đêm. Sáng hôm sau, cả hai lại đường ai nấy đi và cuộc sống của họ vào ban ngày và đêm là hoàn toàn khác biệt.


Những người phụ nữ của bộ tộc Mosuo. Ảnh: China
Hai người phụ nữ trong trang phục sặc sỡ, mắt chăm chú nhìn về phía trước và mím môi đẩy thuyền đi băng băng trên mặt hồ một cách thành thục. Làn da nâu bóng khỏe mạnh của họ ánh lên dưới mặt trời ấm áp. Đây chính là cảnh lao động quen thuộc mà du khách dễ dàng bắt gặp khi đặt chân ghé thăm vùng đất của người Mosuo - một bộ tộc thiểu số sống ở gần vùng hồ Lugu, thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.

Trong con mắt của nhiều du khách khi đến tham quan ở vùng hồ Lugu, đây quả là một thiên đường, nước trong vắt và cây rừng xanh mướt. Xung quanh chiếc hồ rộng lớn này là nơi sinh sống của khoảng hơn 40.000 người Mosuo - bộ tộc duy trì chế độ mẫu hệ hiếm hoi trên thế giới.

Tại Mosuo, phụ nữ là người quyết định các vấn đề trọng đại, họ kiểm soát tài chính trong gia đình và là người hợp pháp sở hữu đất đai, nhà ở cũng như có toàn quyền trong việc nuôi, dạy trẻ con. Trong mỗi một gia đình lớn thường có một "nữ tướng" chỉ huy mọi người. Khi người phụ nữ này muốn "truyền ngôi" cho người khác trong nhà, họ sẽ trao cho cô gái chiếc chìa khóa của nhà kho - nơi chứa lương thực và các nhu yếu phẩm, cũng như thông báo cho mọi người về việc "chuyển giao quyền lực" này.



Một ngôi nhà của người Mosuo. Ảnh: China.

Thường phụ nữ ở đây không kết hôn, và họ có thể mời bất kỳ người đàn ông mình thích về qua đêm. Sáng hôm sau, cả hai lại đường ai nấy đi và cuộc sống của họ vào ban ngày và đêm là hoàn toàn khác biệt. Tất cả mối liên lạc được giữ riêng tư và cấm đề cập trước mặt mọi người. Còn nếu cô gái đã có chồng, cô sẽ treo một đôi giày hoặc mũ đàn ông bên ngoài cửa sổ như để thông báo với mọi người.

Các cô gái khi vào độ tuổi trưởng thành (thường là 13) sẽ có một căn phòng riêng tại nhà. Đây là nơi mà các cô có thể thoải mái dập dìu, hò hẹn với chàng trai mình thích. Khi một đứa trẻ được sinh ra, chúng sẽ được toàn bộ gia đình bên ngoại nuôi dưỡng, người cha sẽ không phải cấp dưỡng cho đứa con của mình, cũng không cần phải chăm sóc hay sống cùng chúng. Các chú bên mẹ sẽ làm nhiệm vụ thay người cha dạy dỗ đứa trẻ.

Do quan điểm độc đáo này, nên người Mosuo không hề có khái niệm trọng nam khinh nữ hay con ngoài giá thú. Với họ, con nào cũng như nhau và chẳng ai bận tâm xem cha của đứa trẻ là ai. Hàng ngày, họ cùng nhau lao động, kiếm sống và vui chơi giải trí trong các ngày rảnh rỗi và không ai thích bàn tán về cuộc sống của người khác.


Mọi người quây quần trong nhà. Ảnh: China.

Nhiều người cho rằng do suy nghĩ trên nên người Mosuo không coi trọng gia đình và phụ nữ là những người dễ dãi. Tuy nhiên, người dân nơi đây phản bác lại các lý lẽ trên. Họ khẳng định gia đình là mối quan tâm hàng đầu của mọi người. Các đôi trai gái khi đến với nhau không phải vì tiền bạc, áp lực gia đình hay các vấn đề nào khác. Họ đơn giản chỉ vì cảm mến nhau và đến với nhau hoàn toàn vì tình yêu.

Trong các cuộc giao lưu, nếu ưng ý cô gái nào các chàng trai có thể đến chạm tay và mời nhảy. Nếu cô gái đó cũng thích, họ sẽ chạm tay lại. Đây cũng là dịp để các cô gái chọn cho mình chàng trai để hẹn hò trong một đêm, một tháng hoặc một đời.

Đường đến Mosuo:

Ngôi làng của tộc người Mosuo nằm giáp hai tỉnh Vân Nam và Tứ Xuyên, gần biên giới Tây Tạng. Họ đã sinh sống tại đây và gìn giữ truyền thống bản địa trong suốt hơn 2.000 năm qua.

Hầu hết người dân Mosuo sống quanh hồ Lugu - theo tiếng Mosuo là hồ Mẫu Thân - thuộc huyện Ningliang, ngoại ô thành phố Lệ Giang, tỉnh Vân Nam.

Đường bộ:

Đến Lệ Giang, du khách có thể đi theo đường Lào Cai (Việt Nam) - Côn Minh - Đại Lý - Lệ Giang và về theo đường cũ với hành trình như sau: Đi từ Hà Nội lên Lào Cao, rồi từ Lào Cai đi Hà Khẩu, Côn Minh (450km). Sau đó tiếp tục hành trình Côn Minh - Đại Lý (320km). Tới Côn Minh, bạn nên đi taxi để đến bến xe phía Tây, bắt xe đi Đại Lý hoặc có thể mua vé tàu. Giá vé nằm cứng khoảng 20 USD. Nếu du khách không muốn tranh thủ thăm Đại Lý, có thể mua vé tàu từ Côn Minh đi thẳng tới Lệ Giang. Từ Lệ Giang, bạn sẽ mất khoảng 6h đi đường núi để có thể đến hồ Lugu.

Đường không:

Từ Hà Nội hoặc TP HCM, bạn có thể bay tới Thành Đô, rồi di chuyển tới Vân Nam. Từ đây bạn có thể đi tàu tới Phàn Chi Hòa (khoảng 15h), rồi đi xe bus tiếp đến Lệ Giang (7h). Vé tàu Trung Quốc chủ yếu mua từ ga hoặc các địa lý du lịch. Vé tuy nhiều nhưng bạn nên đặt trước do lượng người dân bản địa sử dụng tàu rất nhiều. Với họ đi tàu 10-12 tiếng có thể xem là gần.

Nhiều du khách sau khi biết các thông tin về cuộc sống, phong tục của người dân Mosuo đã gọi nơi đây chính là "Tây lương nữ quốc" của Trung Quốc.

http://dulich.vnexpress.net/tin-tuc/quoc-te/thien-duong-tinh-mot-dem-cho-phu-nu-o-trung-quoc-3152633.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những thời kỳ đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại


Nạn buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương bắt đầu từ thế kỷ 16, đạt đỉnh thế kỷ 17, rơi vào thoái trào và chấm dứt vào thế kỷ 19. Nó bùng phát do nhu cầu thiết lập và khẳng định sự hùng mạnh của các đế chế tại châu Âu trong thế giới mới. 

Những người châu Âu và châu Mỹ chủ yếu sử dụng các nô lệ Tây Phi để làm việc trong các đồn điền. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều giả thuyết về số nô lệ tử vong trong thời kỳ này. Tuy nhiên, con số 15 triệu người phần nào phản ánh mức độ khốc liệt của nạn buôn người. Theo thống kê của họ, 4/10 nô lệ phục vụ trên tàu thiệt mạng vì chủ nô ngược đãi.


Hơn 30 triệu người chết trong thời kỳ chuyển giao quyền lực cuối nhà Nguyên, đầu nhà Minh. Khả hãn Hốt Tất Liệt, cháu của Thành Cát Tư Hãn, là người lập ra triều đại nhà Nguyên năm 1260. Tuy nhiên, đây là một trong số những triều đại ngắn nhất trong lịch sử Trung Quốc. Nó tồn tại gần một thế kỷ, từ năm 1271 tới 1368. Trong suốt thời kỳ ấy, dân chúng phải hứng chịu nhiều nỗi thống khổ. Họ phải sống trong loạn lạc, chiến tranh và nạn đói. Sau đó, nhà Minh đoạt quyền lực từ nhà Nguyên.



Hơn 36 triệu người chết trong cuộc binh biến An Lộc Sơn ở Trung Quốc. Khoảng 500 năm trước khi nhà Nguyên ra đời, nhà Đường thống trị Trung Quốc. An Lộc Sơn, một võ tướng thống lĩnh quân đội phía bắc, tạo phản và lập ra nhà An. Cuộc binh biến An Lộc Sơn kéo dài từ năm 755 tới năm 763. Cuối cùng nhà Đường cũng đánh bại nhà An, thống nhất giang sơn.



Trong lịch sử thế giới, Thành Cát Tư Hãn là một trong những người "nhuốm máu thiên hạ" nhiều nhất. Dưới sự lãnh đạo của ông, đế chế Mông Cổ đã phát triển lớn mạnh chưa từng thấy. Diện tích đất của đế chế Mông Cổ chiếm 16% diện tích bề mặt trái đất.Quân đội Mông Cổ tràn qua châu Á, cướp phá và giết người tàn bạo. Theo các nhà nghiên cứu, khoảng 60 triệu người đã bỏ mạng trong các cuộc xâm lược của quân Mông Cổ. Con số ấy có thể tăng cao hơn nếu đội quân của Thành Cát Tư Hãn hướng sang phía tây để xâm lược các nước châu Âu.



Đại chiến thế giới thứ nhất là sự kiện tiếp nối chuỗi những vụ việc đẫm máu nhất trong lịch sử thế giới. Trong cuộc chiến, khoảng 65 triệu người đã mất mạng. Vào năm 1914, thời điểm các đế chế tại châu Âu bắt đầu khẳng định tầm ảnh hưởng, họ chia thành hai phe và gây chiến để tranh giành sự thống trị. Cuộc chiến đã chia cắt châu Âu và kéo phần còn lại của thế giới vào vòng xoáy chiến tranh. Chiến thuật chiến tranh lỗi thời làm gia tăng số lượng binh lính tử trận.



Đại chiến thế giới thứ hai nổ ra vào năm 1939. Các thế lực chia thành hai phe, tự xưng là phe Đồng minh và phe Phát xít. Trong giai đoạn giữa Đại chiến thế giới thứ nhất và thứ hai, các nước đã chế tạo nhiều cỗ máy giết người trên không, dưới biển và phát triển các loại phương tiện chiến đấu hạng nặng hay vũ khí tự động. Một số quốc gia còn sản xuất các loại bom lớn để phục vụ cuộc chiến. Phe Đồng minh giành thắng lợi sau cùng. Tuy nhiên họ cũng phải trả một giá đắt. 85 % trong tổng số 72 triệu người thiệt mạng thuộc về phe Đồng minh. Liên Xô và Trung Quốc hứng chịu tổn thất nặng nề nhất.



Khi Christopher Columbus, John Cabot cùng các nhà thám hiểm khác phát hiện châu Mỹ ở thế kỷ 15, đó dường như là khởi đầu của một kỷ nguyên. Châu Mỹ trở thành thiên đường mà các nhà thám hiểm châu Âu gọi là ngôi nhà mới của họ. Tuy nhiên, vùng đất này không phải mảnh đất vô chủ bởi thổ dân bản địa đã sinh sống tại đây. Cuộc xung đột giữa "chủ mới" và "chủ cũ" đã khiến khoảng 100 triệu người thiệt mạng. Bên cạnh chiến tranh và các cuộc xâm chiếm, các căn bệnh lan từ châu Âu cũng cướp sinh mạng của vô số người dân bản địa. Theo ước tính của giới học giả, 80 % thổ dân châu Mỹ chết do tiếp xúc với người châu Âu nhiễm bệnh.


Theo Kiến Thức
http://news.zing.vn/Nhung-thoi-ky-dam-mau-nhat-trong-lich-su-nhan-loai-post448388.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang