Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2015

Nhà văn Trang Hạ: “Nhục nhất là lên mạng còn bị vợ/chồng kiểm soát”


VNN - “Tôi nghĩ lên Facebook làm bạn thì được, chứ lên Facebook làm vợ chồng thì chắc là tệ lắm. Làm vợ/chồng ngoài đời đã đủ bận rộn và gắn kết rồi…”, đó là ý kiến của nhà văn Trang Hạ về việc vợ chồng nên hay không nên “làm bạn” trên Facebook.

Việc “làm bạn” trên Facebook gây ra không ít rắc rối cho các cặp vợ chồng. Vậy tại sao họ vẫn kết nối trên Facebook như một địa chỉ hiển nhiên và thân thuộc? Liệu có phải họ coi Facebook như một phương tiện để theo dõi bạn đời của mình? Và để Facebook không có “cơ hội” can thiệp vào đời sống hôn nhân thực thì các cặp vợ chồng nên ứng xử ra sao?

Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với nhà văn Trang Hạ để hiểu sâu thêm về vấn đề này:

Chị có kết bạn với chồng mình trên Facebook? Đã bao giờ chị gặp rắc rối khi “làm bạn” với chồng trên Facebook chưa?

Chồng tôi không dùng Facebook, tuy nhiên thỉnh thoảng vẫn lên mạng “ngó qua” trang cá nhân của vợ. Chúng tôi hầu như không trò chuyện về những thứ trên mạng. Nói đúng hơn, những thứ “ảo” trên mạng không có cơ hội chen chân vào đời sống thật của vợ chồng tôi.

Theo chị, Facebook có tác động thế nào đến đời sống gia đình (quan hệ bố mẹ, con cái…) và đặc biệt là quan hệ vợ chồng. Họ sẽ phải đối mặt với những rắc rối gì khi “làm bạn” với nhau trên Facebook thưa chị?

Theo tôi biết thì con cái thường block (chặn) Facebook của bố mẹ. Nhân viên cũng vậy, họ thường ngại “bắt gặp” sếp trên mạng. Tôi xin nói ngoài lề một chút về sự lan tỏa rộng rãi của mạng xã hội và những rắc rối thường gặp khi tham gia vào mạng lưới “ảo” này.

Bạn chỉ cần lên mạng, ngáp một cái rõ to kèm theo đôi mắt ngái ngủ và nói: “Ôi sao chán thế!” là lập tức đồng nghiệp sẽ hỏi han bạn có chuyện gì? Có phải đang muốn bỏ việc không? Hay không chịu đựng được sếp? Người tử tế hơn thì an ủi: "Thôi hãy cố lên vì miếng cơm manh áo và tương lai con cái". Thế đấy, chỉ một cái ngáp ngủ và dòng chia sẻ uể oải trên mạng đã trở thành một cuộc đám phám to nhỏ về chuyện sếp và nhân viên.

Còn vợ chồng lên mạng, vui vẻ thì người ta bảo là đang diễn kịch, không mấy khi ỏ ê về nhau thì người ta kêu lạnh nhạt, bấm like một cái là có người hoài nghi về chuyện “ham” của lạ.

Có cô bạn từng kể cho tôi nghe, trong một buổi họp công ty, cô ấy chụp ảnh tập thể và vô tình đứng cạnh một đồng nghiệp nam. Ngay lập tức bức ảnh ấy được gắn thẻ, xuất hiện “chình ình” trên tường Facebook của cô với dòng chia sẻ: “Lâu lắm mới thấy họ đứng gần nhau”.

Thế là ông chồng cô ấy nhìn thấy, ghen tuông đến mức phát điên, phát rồ lên chửi vợ. Nói rằng, “Đó thấy chưa, ngày thường lên Facebook cấm có thấy động tĩnh gì. Giờ đồng nghiệp cơ quan người ta tag ảnh cho mới biết, vợ mình với cái thằng đứng cạnh trong ảnh quen thân nhau từ bao giờ”.

Có bao giờ bạn lên facebook rồi nghĩ, cái ảnh mà mình vô tình gắn thẻ cùng lời trêu đùa hồn nhiên sẽ biến thành cú đấm mạnh vào mặt vợ/chồng người khác? Hoặc, chỉ vì quen thói bấm like vô tội vạ sẽ biến bạn trở thành mục tiêu theo dõi của vợ/ chồng chủ nhân Facebook ấy?

Để thấy rằng, Facebook là một nơi quá thị phi để những người là vợ, chồng có thể kết bạn

Có ý kiến cho rằng, Facebook có thể kết nối tình cảm nhưng cũng có thể “hủy diệt” hôn nhân. Chị có đồng ý với ý kiến này? Và theo chị, vợ chồng có nhất thiết phải “làm bạn” trên Facebook?

Tôi nghĩ lên Facebook “làm bạn” thì được chứ lên Facebook làm vợ chồng thì chắc là tệ lắm. Làm chồng ngoài đời đủ bận rồi, làm vợ ngoài đời đủ cách để gắn kết tình cảm, giữ lửa gia đình rồi, đâu cần phải đem cả những thứ đó lên thế giới ảo.

Kết nối tình cảm vợ chồng thông qua Facebook tôi nghĩ cũng có thể có, nhưng nó chẳng bao giờ thật và bền bằng sống thật ngoài đời. Nếu như các ông chồng, bà vợ sẵn sàng “cất” đi sự ràng buộc vốn có mà thoải mái làm bạn bè thực sự với nhau thì hãy lên Facebook kết bạn.

Phải hiểu rằng, trên Facebook vợ/chồng không đối thoại với nhau mà cả 2 đang cùng đối thoại với thế giới. Người ta theo dõi vợ/chồng để nhận được thông tin về cả cặp đôi chứ không có ý xấu.

Bởi vậy, thay vì việc hoài nghi, soi mói Facebook rồi về nhà cằn nhằn, hành hạ nhau thì các cặp đôi nên khéo léo bảo vệ người bạn đời của mình ngay trên Facebook. Còn nếu không làm được như vậy thì tốt nhất không dùng hoặc không làm bạn Facebook nữa mà “an phận” làm vợ/chồng trong thế giới thực thôi.

Có nhiều cặp đôi vì cảm thấy mất tự do nên kết bạn rồi lại block vợ/chồng trên Facebook để tránh bất hòa. Theo chị đó có phải là cách tốt nhất?

Tôi chẳng có ý kiến gì, vì tôi không quan tâm cách ứng xử của vợ/chồng với người bạn đời của họ. Họ tự biết nên làm gì.

Theo chị, vợ/chồng nên có những cư xử thế nào trên Facebook để thế giới ảo không ảnh hưởng đến đời sống thật?

Tốt nhất là đừng mời vợ vào cuộc sống ảo của bạn theo nghĩa đen. Hoặc đừng lôi kéo chồng vào những cơn “tự sướng” trên mạng của của bạn theo kiểu như mẹ béo, con khỏe, mua rẻ, đặc sản xách tay v.v... Điều đó có ý nghĩa với bạn nhưng chưa chắc đã là sở thích của vợ/chồng bạn.

Hơn nữa, hãy có niềm tin với người bạn đời của mình trong cả thế giới thực và ảo. Nhục nhất là lên mạng rồi còn bị vợ /chồng kiểm soát từ mỗi cái bấm like hoặc tin nhắn cá nhân.

Nhiều nghiên cứu nước ngoài chỉ ra rằng, số người dùng mạng xã hội càng tăng thì tỷ lệ ly hôn càng lớn. Theo chị, tại sao mạng xã hội lại tác động đến cuộc sống hôn nhân nhiều đến vậy?

Tôi nghĩ cái tỉ lệ này chỉ đúng ở một xã hội hoặc cộng đồng nào đó. Quê tôi người ta vẫn lên mạng ở quận này và li hôn ở quận khác, đồng thời lại yêu người nữa cũng trên mạng. Hỉ, nộ, ái, ố hay là hạnh phúc chia ly của cuộc sống, chẳng phải cứ đổ lỗi cho internet hay Facebook đã là sạch trách nhiệm.

Sai lầm của con người mà đổ lỗi được cho Facebook hết thì chắc chẳng còn ai dám lên mạng.

Ứng xử của con người trong thế giới thực quan trọng hơn. Bạn hy vọng một kẻ đồi trụy trên mạng sẽ là một hiệp sĩ ở đời thường? Một kẻ chỉ biết ngốn ngấu tài nguyên trên mạng mà chẳng trả lại cho xã hội bất cứ cái gì, dù chỉ một tư duy, kinh nghiệm ra đời thật lại là người công dân sống có trách nhiệm?

Vì thế, tôi vẫn nghĩ, đánh ghen trên mạng cũng được, ly hôn trên mạng cũng được, nhưng đó chỉ bộc lộ một góc giá trị con người bạn. Đừng có nói rằng, bạn vốn trong trắng, sau đó, bị internet nhuộm đen!

Cảm ơn chị. Chúc chị gặt hái được nhiều thành công!

(Theo Hạ Nhiên/Dân Việt)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hải Trang hay "Hải Trắng" thì mềnh không quen. Theo mềnh bài viết này chưa ổn. Chúng ta đang kêu gọi "Hòa giải dân tôc" và trong trường hợp cụ thể về Hoàng Sa, nếu có kêu gọi vinh danh các người lính này cũng không có gì sai. Chủ quyền đất nước, độc lập dân tộc mới là trên hết mọi thứ phe phái. Công bằng và minh bạch bao giờ cũng cần thiết để vạch mặt những kẻ bán nước buôn dân dù bất cứ thời đại nào!

(Bài trên "Dân lầm than"  http://danlamthan2012.blogspot.com- chả rõ thuộc phía nào?)

KẺ PHẢN QUỐC ĐÒI HỎI "VINH DANH"


Đến hẹn lại lên, sắp đến ngày kỷ niệm Hải chiến Hoàng Sa 19/01/1974 các cá nhân, tổ chức và các đài phát thanh chống cộng như BBC, RFA, RFI, VOA lại lu loa cái luận điệu củ rích đòi Nhà nước ta "vinh danh", "phong anh hùng dân tộc" cho 74 binh lính, sĩ quan VNCH trong trận chiến này. 


Trước khi ghi nhận hay không ghi nhận cái chết trận của 74 binh lính, sĩ quan hải quân VNCH trong trận chiến 19/1/1974 ở Hoàng Sa, phải giải quyết được những câu hỏi sau:




1. Đến tận lúc tử vong, 74 người này có trung thành với chính quyền VNCH của họ hay không?

Nếu họ trung thành, tức là họ đồng lõa dâng cả miền nam Việt Nam - trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa - cho đế quốc Mỹ giày xéo và tàn phá, chống lại sự nghiệp chống giặc Mỹ xâm lược, sự nghiệp thống nhất toàn vẹn lãnh thổ đất nước, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc của nhân dân ta, để nhận lương bổng và chức tước. Họ là những tên lính, sĩ quan tay sai bán nước, phản quốc.

2. Họ có đồng lõa với chính quyền VNCH xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân hai miền Nam - Bắc, thống nhất đất nước - là cuộc "xâm lược" của miền bắc (người Việt Nam xâm lược nước Việt Nam) hay không?

3. Họ đã bắn vào Quân Giải phóng, Du kích và Nhân dân yêu nước hay chưa, và nếu còn sống, họ có bắn không?

Có lẽ 99% câu trả lời cho tất cả 3 câu hỏi trên là : Có !

Vậy thì 74 binh lính, sĩ quan hải quân VNCH trên kia là những tên đứng trong hàng ngũ tay sai phản quốc! Chúng là 74 tên tay sai phản quốc!

Chúng bảo vệ Hoàng Sa như bảo vệ cái doanh trại của chúng. 

Chúng không hề bảo vệ Hoàng Sa như bảo vệ Tổ quốc, vì một nửa Tổ quốc chúng còn dâng cho giặc Mỹ xâm lược! 

Chúng bảo vệ doanh trại Hoàng Sa như chúng bảo vệ các doanh trại của chúng trên đất liền - trước sự "xâm lược" của Quân Giải phóng, Du kích và nhân dân miền nam.

Dưới ánh sáng đường lối nhân đạo, vị tha của Đảng, đại đa số bà con cô bác Việt Kiều đã hưởng ứng xóa bỏ hận thù, hòa hợp dân tộc, chỉ còn một nhúm bọn tàn quân tay sai phản quốc VNCH ngoan cố chống phá điên cuồng.

Vậy thì việc sử dụng cái chết của 74 tên phản quốc kia làm công cụ thu phục nốt những tên chống Cộng ngoan cố còn lại, là không cần thiết, và hơn nữa, buộc phải trả một cái giá quá đắt, đó là buộc phải xuyên tạc lịch sử.

Hãy quên 74 tên Ngụy phản quốc kia đi.

Với lòng nhân đạo, hãy tha thứ cho tội ác hoặc tội lỗi của chúng, cầu cho chúng ăn năn hối lỗi để được siêu thoát.

Hãy quan tâm đến gia đình 74 tên phản quốc này, giúp đỡ nếu họ khó khăn, vì thân nhân 74 tên phản quốc này vô tội, họ là nạn nhân của VNCH, và họ là đồng bào ruột thịt của chúng ta, họ đang lao động lương thiện góp phần xây dựng đất nước chung với chúng ta. Vì tình nghĩa ruột thịt dòng máu Lạc Hồng chứ không vì 74 tên tội ác hoặc tội lỗi kia.

Tóm lại: 74 binh lính, sĩ quan hải quân Ngụy này giữ "Doanh trại Hoàng Sa" của quân đội VNCH, chứ không phải giữ nước. May mà chết cả 74, chứ còn sống, thì nhiều chiến sĩ Tàu không số - Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển còn bị chúng giết hại! 

Vậy, chúng - những kẻ phản quốc lấy lý do gì để được "vinh danh"!!

Hải Trang

Và đây là ý kiến của nhiều còm sĩ khác, để biết dư luận phản ứng ra sao 


84 nhận xét: mời đọc trang gốc "Dân lầm than" Để biết rõ hơn vì Coment quá dài.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trống đồng – Chằng chéo trên Vành văn hóa Trung – Việt

Bronze Drums—Crossbred on the Sino-Vietnamese Cultural Rim

Trống đồng – Chằng chéo trên Vành văn hóa Trung – Việt 
Một phần nhỏ trong bài của Li Tana Jiaozhi (Giao Chı) in the Han Period Tongking Gulf 
In trong The Tongking Gulf Through History
Tana Li,Nola Cooke, James Anderson (eds.,)
Published by University of Pennsylvania Press, 2011 

Lich sử sớm của Việt Nam thường được chia thành hai phần: Thời kỳ đồ đồng và thời kỳ đồ sắt. Thời kỳ đồ đồng bản địa – đặc trưng bởi văn hóa Đông Sơn và đặc biệt bằng những trống đồng. Sau đó sự xâm lăng của Trung Hoa đã cắt đứt truyền thống địa phương bằng việc bắt đầu của thời kỳ đồ sắt. Nhưng có một rắc rối ở đây: mặc dù chính quyền Trung Hoa đã được thiết lập tại đây vào TK 2 TCN, một số lượng lớn trống đồng – biểu trưng của quyền lực bản địa và uy quyền thủ lĩnh – được đúc sau khi Trung Hoa đô hộ. Trống Ngọc Lũ, hình tượng của văn hóa Việt Nam truyền thống, mà theo học giả thuộc địa Pháp Victor Goloubew, được cư dân châu thổ sông Hồng đúc vào thế kỷ 1 CN, ít nhất là 100 năm sau khi nền thống trị Trung Hoa bắt đầu (chú thích số 30).

Có thể đồng ý rằng, những trống đồng này vẫn được người châu thổ sông Hồng đúc bất chấp sự cai trị của Trung Hoa; hay đây là những trống được đúc bởi những cư dân sinh sống ở những vùng quê đồi núi xung quanh, cách biệt với chính quyền Trung Hoa. Nhưng có thể có một khả năng hấp dẫn thứ ba: rằng cả hai truyền thống cùng song hành và tương tác mạnh mẽ với nhau. Những người làm khảo cổ có chứng cứ phong phú để chỉ ra rằng trống đồng là kết quả của những tương tác không ngừng giữa những nhóm cư dân; nhưng những nhà sử học vẫn có xu hướng nghĩ rằng trống đồng quá ư là thiêng liêng với những thủ lĩnh địa phương nên chúng phải được đúc một cách bí mật đâu đó trong các vùng núi sử dụng những kỹ thuật “truyền thống” được truyền qua các thế hệ một cách không đổi thay (chú thích 31). Mặt khác các nhà khảo cổ tin rằng, kỹ thuật đúc trống đồng cần một hệ thống mở để duy trì: có đòi hỏi đó là vì nhiệm vụ này cần “cả kỹ năng mỹ thuật và kỹ thuật ở trình độ cao” (trích dẫn 32), nghệ nhân trong khắp vùng chia sẻ với nhau. Như vậy, Magdalenevon Dewall cho rằng có sự hiện diện của những xưởng thủ công địa phương mà chủ nhân của chúng mặc dù sử dụng chung các kỹ thuật và loại hình hiện vật thì vẫn tìm kiếm để sáng tạo những mô típ và kiểu trang trí. Điều này đòi hỏi tính lưu động cao của nghệ nhân và chất liệu tương ứng.

 Sẽ khá đắt để duy trì và hỗ trợ được kỹ năng mỹ thuật và kỹ thuật ở mức độ cao, chưa tính đến những công xưởng chuyên nữa, từ đó dấy lên những vấn đề làm thế nào mà xã hội bản địa duy trì được sự xa hoa này. Đáng chú ý là những đặc điểm của quy trình trồng lúa được thể hiện trên 02 trống đồng nổi tiếng Việt Nam, trống Ngọc Lũ và trống Hoàng Hạ (chú thích 33). Như thư tịch cổ Trung Hoa đã trích dẫn ở trên cho thấy, cả Hepu và cả Cửu Chân phụ thuộc Giao Chỉ về lúa gạo, như thế những mô tả quy trình trồng lúa cho thấy sự hiện diện của kinh tế tự cấp và phi -  sinh kế, một kiểu mưu sinh  dựa trên trao đổi lúa gạo lấy những hàng hóa khác. Trong bối cảnh này, rất thú vị là tiền Vương Mãng (năm 8-25 CN) đã được khai quật bên cạnh đồ đồng Đông Sơn.

Nếu tiền Vương Mãng từ miền Trung Trung Hoa được dùng để đổi lấy những con ốc tím lớn (ốc xà cừ) từ Giao Chỉ trong giai đoạn nhà Hán thì sẽ hợp lý nếu cho rằng của cải sinh ra từ trao đổi kinh tế đã tạo thuận lợi cho sự tiếp tục của truyền thống trống đồng, và rằng đó là những trao đổi mang trống đồng và kỹ thuật chế tác trống từ Giao Chỉ đến vùng ven biển Quảng Tây, về nơi mà chương viết của Michael Churchman thảo luận về vai trò và ý nghĩa của những trống đồng này.

Những nghiên cứu mới nhất của Trung Quốc về hợp chất sử dụng đúc trống đồng cho thấy một số trống Đông Sơn đến từ Trung Hoa, nhưng những trống khác tìm thấy ở Quảng Tây có xuất xứ từ vùng văn hóa Đông Sơn và sau đó được mang sang Quảng Tây (chú thích 34). Những tác giả của những nghiên cứu này từ đó kết luận rằng trống loại Lengshuichong Quảng Tây phát triển dưới ảnh hưởng của trống Đông Sơn và rằng kỷ nguyên vàng của đúc trống đồng ở Quảng Tây là vào thời Hán, đúng lúc những mối quan hệ tăng cường giữa ven biển Quảng Tây và Giao Chỉ có nhiều chứng cứ nhất.

Ở đây, chúng ta cần dừng lại và cân nhắc bối cảnh chính trị của đúc trống đồng. Có hai khía cạnh nổi bật đối với câu chuyện này: nếu những trống đồng là biểu trưng về quyền lực địa phương, thì 600 trống cộng với những trống mới đúc từ thế kỷ 1-6 cho thấy sự tăng lên hơn là sự giảm xuống của số lượng những trung tâm quyền lực địa phương; và nếu đúc trống liên quan chặt chẽ tới sản xuất, trao đổi và tích lũy của cải trong vùng, xem ra nó xuất hiện ở hay gần những trị sở, ngay dưới mũi của những người cai trị Trung Hoa. Trên thực tế, năm 1999 một (mảnh) khuôn đúc trống đồng Đông Sơn đã được nhà khảo cổ người Nhật Nishimura Masanari tìm thấy ở Luy Lâu, trị sở Trung Hoa sớm nhất ở Giao Chỉ (từ năm 111 TCN) (chú thích 35).   

Nishimura Masanari coi loại hình khuôn đúc này giống với những khuôn từ các địa điểm Thương, Chu ở Trung Hoa, Nishimura thực sự cho rằng thời kỳ Đông Sơn thuộc về thời đại kim khí muộn, và một số học giả Nhật Bản khác cho rằng, khác với niềm tin thông thường rằng sự xâm lược của nhà Hán đã đặt dấu chấm hết cho văn hóa Đông Sơn, hiện vật Đông Sơn bao gồm cả trống đồng vẫn tiếp tục được sử dụng và được thích ứng vào những vùng phụ cận xung quanh kiểu Hán (chú thích 36).

Không có lý do để những nhà cầm quyền Trung Hoa chống lại việc đúc này, và cũng không có sử liệu nào cho thấy đúc trống đồng bị cấm đoán. Và sau tất cả điều này, sự cai trị xa lạ của Hán từ bên ngoài đặt vào và như Keith Taylor chỉ rõ “ Người Trung Hoa phải điều chỉnh thói quen của họ cho phù hợp với văn hóa địa phương, họ đã không ở vào vị trí để áp đặt lối sống của họ cho người địa phương” (chú thích số 37).

Ở ĐNA chìa khóa đối với sự kiểm soát trung ương về nhân lực là khả năng tạo ra những đồng minh chính trị dựa trên cơ sở quý tộc địa phương – “ông lớn” (chú thích 38). Sự hỗ trợ của chính quyền Trung Hoa cho sự tín nhiệm đối với “ông lớn’ đã được chỉ ra rõ ràng trong sử liệu thời Đường: “đối với những thủ lĩnh địa phương, những người mạnh hơn về của cải như nô lệ, ngọc trai và voi, thì triều đình thường ban cho những vị thế chính thức với mục đích để khai thác những lợi ích từ họ. Thực tiễn này được thực hiện trong tất cả các triều đại từ Tống, Qi, Liang và Chen” (chú thích 39).

Hơn là biểu trưng về độc lập, trống đồng trong thời kỳ này nên được hiểu là sự  biểu thị để thích ứng của cả hai cả tầng lớp quý tộc Trung Hoa và địa phương. Người cầm quyền tốt nhất luôn luon là người biết cách hòa hợp với những thủ lĩnh địa phương được bảo trợ hay với những người bản than họ là “ông lớn”. Những trường hợp thấy rõ nhất đó là Sĩ Nhiếp (Sĩ Nhiếp vương) và những người anh em của ông, cai trị Nanhai, Hepu, Giao Chỉ và Cửu Chân thế kỷ 2 CN và dòng họ Du Huidu thế kỷ 5. Cả hai dòng họ này đều là dòng họ địa phương: Họ Sĩ xuất phát từ Cangwu, Quảng Tây và họ Du ở Chu Diên, Giao Chỉ. Của cải và uy tín của họ ở địa phương chắc chắn có vai trò chủ đạo trong sự bổ nhiệm.

Kiểm tra tất cả những nhân tố này – dân số, sản xuất lúa gạo và những tài nguyên bản địa quan trọng tạo nên của cải – cho thấy một cách mạnh mẽ rằng thời sơ kỳ lịch sử, Giao Chỉ chứ không phải Quảng Châu đóng vai trò như một lực lượng liên kết vùng, nối kết cả miền Trung Trung Hoa với Vịnh Bắc Bộ và Vân Nam với biển.  Miền Bắc và Bắc Trung bộ Việt Nam ngày nay hợp thành đối tác buôn bán quan trọng nhất của miền Trung Trung Hoa trước khi con đường tơ lụa trên biển đi vào hoạt động. Như Wang Gungwu đã chỉ ra, Giao Chỉ “rất có giá trị về phương diện thương mại hàng hải đối với Trung Hoa” (chú thích 40). Việc buôn bán này trở nên cốt yếu đối với TH cùng với sự suy tàn của nhà Hậu Hán và đánh mất quyền kiểm soát đối với con đường nội địa tây bắc. Nhà Hán chính thức bỏ con đường tơ lụa trên đất liền vào năm 107 CN và từ sau đó, liên hệ giữa TH và phương Tây tập trung trên bờ biển phía nam. Những thương nhân người Ấn Độ được ghi lại trong sử liệu là đã “nộp cống” vào những năm 159 và 161, tới TH qua Giao Chỉ và khi buôn bán của họ với ĐNA hải đảo trở nên thường xuyên hơn tiếp thêm sinh khí cho buôn bán ở Nam Hải, mà ở đó Giao Chỉ là điểm cuối. 



Lâm Thị Mỹ Dung dịch

Vấn đề là có sự khác nhau cơ bản giữa những nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài về niên đại của trống đồng. Những trống đồng Đông Sơn loại 1 Heger như Ngọc Lũ, Hoàng Hạ… được nhiều nhà khảo cổ học Việt Nam xác định niên đại TK 5 TCN, những trống đúc từ CN trở đi là trống muộn, đúc theo truyền thống Đông Sơn và ở những vùng xa trung tâm. Còn trong bài này những trống Đông Sơn điển hình đều có niên đại muộn, từ thế kỷ I CN. Như vậy hai hệ thống niên đại khác nhau sẽ có hai cách diễn giải khác nhau hoàn toàn!


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Xã hội sao, lễ hội vậy!


 (PL)- Những thực hành nghi lễ xưa một cách ồ ạt, không chắt lọc, bất chấp những thay đổi thời thế như đang làm thời gian gần đây chỉ làm biến tướng, làm hỏng những giá trị văn hóa của cha ông!
Ví dụ điển hình của sự biến tướng, phá vỡ giá trị văn hóa, buôn thần bán thánh là sự xuyên tạc lịch sử và ý nghĩa của lễ hội, đó là việc dựng lễ Khai ấn đền Trần, Nam Định mà thực chất là bán ấn, đáng lo là hiện nay một số địa phương (đền Trần Thương, Hà Nam và đền Hưng Hà, Thái Bình) đang khuếch trương chuyện bán ấn.

Liên kết những điều trái nghịch
Bản chất của lễ hội nói chung, đặc biệt là những lễ hội cổ truyền đó là sự huyền bí, khoảnh khắc chưa từng thấy, bứt ra khỏi thời gian của cuộc sống thường nhật, phá vỡ nhịp điệu tuần hoàn lặp đi lặp lại.
Lễ hội luôn có hiệu năng điều hòa nghịch lý, liên kết những điều trái ngược: nghi thức - tự phát; truyền thống - phóng túng; tính tôn giáo - tính phàm tục; giàu - nghèo; cô đơn cá nhân - cố kết cộng đồng. Mục đích của lễ hội chính là sự tự khẳng định mình; duy trì sự cố kết cộng đồng, “cộng cảm”, “cộng mệnh”. Như một thiết chế, lễ hội bảo vệ, tái sinh và tái tạo sợi dây liên kết các thành viên của một xã hội. Nhưng lễ hội bao giờ cũng gồm phần lễ và hội. Lễ: Trang nghiêm, thiêng liêng (không gian thiêng và thời gian thiêng); hội: Vui, láo nháo, hỗn độn... Trong một số trường hợp một vài nghi lễ được chuyển hóa thành trò diễn, những trò diễn này dù chủ yếu chỉ để người đến lễ hội “xả xúp páp” thì vẫn phải đảm bảo tính chất nghi lễ thiêng liêng. Đa phần lễ hội cổ truyền nếu không nói là tất cả, dù được gọi bằng nhiều tên gọi thì đều có nguồn gốc nông nghiệp, chứa đựng nhiều lớp văn hóa khác nhau, cái mà chúng ta quan sát hiện nay thực ra là kết quả của một quá trình biến đổi, chắt lọc và cũng như nhiều sản phẩm văn hóa dân gian khác truyền lại bằng ký ức kể miệng, phần vỏ có thể vẫn còn nhưng phần lõi không hẳn còn để hình thức không phải lúc nào cũng gắn với nội dung.


Một số hình ảnh  "tranh cướp, mua" lễ vật cầu may trong lễ hội 
(Ảnh lấy trên mạng) 

Ngụy biện khoa học
Ở đồng bằng Bắc Bộ từ lâu đã lưu truyền câu “Bơi Đăm, rước Giá, hội Thầy/ Vui thì vui vậy chẳng tầy rã đám làng La”. Rã La - theo các tài liệu dân tộc học và văn hóa học thì trong đêm lúc “tắt đèn”, trai gái trong làng có thể mặc sức vuốt ve, ôm ấp hay có thể “đi xa” hơn nữa với nhau, vốn là một nghi thức liên quan đến tín ngưỡng phồn thực của cư dân nông nghiệp trong lễ hội làng La Khê Nam (làng La), hiện thuộc phường Dương Nội, quận Hà Đông, Hà Nội) từ lâu đã không còn nữa do không phù hợp với đời sống hiện đại.
Trong lịch sử Việt Nam có những thời kỳ đứt gãy do nhiều nguyên nhân khác nhau, ngắn thì vài chục năm, dài thì cả trăm năm dẫn đến những đứt gãy trong cách hiểu và cách thực hành văn hóa trong đó có cả lễ hội, những cách đánh giá hay nhận biết kiểu “các cụ truyền lại”, “ngày xưa các cụ không làm như thế này mà làm như thế kia”... khó có thể kiểm định bằng những luận cứ khoa học nghiên cứu văn hóa nhưng luôn là cái neo để vịn khi nói về biến đổi và duy trì di sản văn hóa. Những lễ hội cổ truyền mang tính địa vực và tộc người rất rõ ràng, dù trong quá trình đan xen văn hóa giữa các tộc người có sự thêm bớt, vay mượn của nhau trong tinh thần hỗn dung thì tính chất riêng, đặc biệt là tính đặc thù trong nghi lễ vẫn nổi trội “trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ”, nghi lễ ấy chỉ thiêng trong thời điểm ấy và không gian ấy, ra ngoài phạm vi, tính thiêng sẽ không còn. Nói như vậy để thấy khi nghi lễ của lễ hội làng vượt ra khỏi không gian làng sẽ chỉ còn hình thức và thiên hạ sẽ mặc sức mà đánh giá bản chất của nghi lễ theo cách hiểu của mình và những cách thức quản lý của chính quyền các cấp cũng như những biện hộ dưới cái ô khoa học của một số nhà nghiên cứu chỉ làm cho thực hành nghi lễ trong lễ hội ngày càng trở nên xô bồ, không còn chức năng giáo dục những giá trị chân, thiện, mỹ của văn hóa. Văn hóa biến đổi, văn hóa là quá trình chắt lọc những giá trị tiêu biểu qua nhiều thế hệ, văn hóa hợp thời. Văn hóa tôn trọng sự khác biệt nhưng điều đó không có nghĩa là mọi thứ của quá khứ đều cần hay đều được thực hành trong hiện tại, việc bảo tồn và phát huy những giá trị của lễ hội cũng phải tuân theo sự hợp thời, quá khứ nâng đỡ hiện tại và tương lai chứ quá khứ không quấy phá hiện tại và tương lai.
Việc thực hành lễ hội xưa cũng phải tuân thủ luật pháp nay, những hành động dưới lốt nghi lễ như đánh người trong tranh cướp hoa tre ở lễ hội đền Gióng hay kiệu bay đâm vỡ kính ô tô ở lễ hội làng Xuân Đỉnh đã vi phạm pháp luật và không thể dùng thần thánh biện minh!

LÂM THỊ MỸ DUNG (Khoa Lịch sử, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2015

Xem bọn giãy chết nời:

Lễ hội tắm tiên tập thể của phương Tây

Xem video ngắn trước. Đọc tin ở dưới sau.




BW Skinny Dip - Guinness World Record Attempt Gisborne 2012 (UnCensored)
8.208.729
Xuất bản 30-12-2012
Naked World Movie Trailer









Gửi 01:12pm | 06/03/2015

Lễ hội tắm khỏa thân tập thể ở Sydney


Mùa hè năm nay Hơn 1.000 người đã tham dự lễ hội tắm khỏa thân tập thể tại bãi biển Cobblers ở Sydney (Australia).

khỏa thân tập thể có tên Sydney Skinny
khỏa thân tập thể có tên Sydney Skinny

Lễ hội tắm khỏa thân tập thể có tên Sydney Skinny, là một trong những sự kiện độc đáo thường niên ở Australia, thu hút sự chú ý của người dân và khách du lịch. Theo thông tin từ ban tổ chức, lễ hội tắm khỏa thân năm nay thu hút hơn 1000 người tham gia, trong đó có những cụ bà trên 80 tuổi.


Để tham dự lễ hội này, người tham gia phải trên 18 tuổi và mua vé khoảng 27 USD. Số tiền bán vé sẽ chuyển cho quỹ từ thiện The Butterfly Foundation dành cho những người khuyết tật.


http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=1104607

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sóng ngầm địa chính trị khu vực và lựa chọn của Việt Nam

( Trích ) 

                                                                 Tác giả: Lê Hồng Hiệp
Xu hướng địa chính trị khu vực  
Một xu hướng địa chính trị khu vực đang ngày càng trở nên nổi trội, đó chính là việc Mỹ cùng các đồng minh ngày càng bất an trước sự trỗi dậy của Trung Quốc và việc nước này công khai thách thức trật tự khu vực, nhất là vị thế siêu cường dẫn đầu của Mỹ. Xu hướng này khiến cho khu vực nhiều khả năng sẽ bước vào một cuộc Chiến tranh Lạnh mới trong vòng khoảng 20 năm tới.
Về mặt lý thuyết, nếu Trung Quốc tiếp tục trỗi dậy và thách thức Mỹ, mâu thuẫn và xung đột giữa hai cường quốc là không thể tránh khỏi. Trái với thuyết “cân bằng quyền lực” (balance of power theory) cho rằng hệ thống quốc tế sẽ ổn định và hòa bình khi đạt được sự cân bằng giữa các trung tâm quyền lực chính, thuyết “chuyển giao quyền lực” (power transition theory) cho rằng một khi một cường quốc đang lên tiệm cận sức mạnh của cường quốc thống trị và khao khát giành vị thế bá chủ của cường quốc đó thì xung đột giữa hai bên là không thể tránh khỏi. Chỉ sau khi cường quốc đang lên bị kiềm chế hoặc đánh bại (giữ vững nguyên trạng) hoặc cường quốc bá chủ bị lật đổ (thiết lập nguyên trạng mới) thì hệ thống quốc tế mới lại đạt được thế cân bằng và ổn định. Quy luật này đã được chứng minh nhiều lần trong lịch sử, và sẽ tiếp tục là logic trường tồn của chính trị hiện thực trong quan hệ quốc tế.
Về mặt thực tế, hiện nay cục diện địa chính trị khu vực đang dần đi theo hướng dự báo của thuyết “chuyển giao quyền lực”. Cụ thể, trong khi Trung Quốc (cường quốc đang lên) tìm cách mở rộng ảnh hưởng, tranh giành quyền lực với Mỹ (cường quốc thống trị), thì Mỹ đang âm thầm cố gắng tìm cách kiềm chế Trung Quốc, thông qua các chiến lược tiêu biểu như “tái cân bằng” quân sự sang tây Thái Bình Dương, đàm phán Hiệp định TPP với các nước trong khu vực mà không có sự tham gia của Trung Quốc; cải thiện và thắt chặt quan hệ với các nước đồng minh và đối tác, nhất là các nước láng giềng Trung Quốc; sử dụng các công cụ như luật pháp quốc tế và các thể chế quốc tế để kiềm chế và điều chỉnh hành vi của Bắc Kinh….
Hiện nay, giới chức Mỹ vẫn đang cố gắng thận trọng, tránh “tư duy Chiến tranh lạnh”, trong khi cố gắng can dự với Trung Quốc để xây dựng lòng tin, giảm căng thẳng. Tuy nhiên đây không phải là xu hướng lâu dài mà chỉ là ngắn hạn. Trước mắt Mỹ chưa sẵn lòng mạnh tay kiềm chế Trung Quốc như từng kiềm chế Liên Xô trước đây bởi quan hệ tốt với Trung Quốc đang mang lại cho Mỹ nhiều lợi ích, đồng thời Mỹ cần thêm thời gian để đánh giá xu hướng hành vi của Trung Quốc khi hiện nay Bắc Kinh dù có biểu hiện hung hăng và thách thức lợi ích của Mỹ nhưng sự thách thức đó chưa đủ lớn để đe dọa các lợi ích sống còn, nhất là vị thế bá chủ của Mỹ.
Vì vậy trong tương lai, mức độ kiềm chế của Mỹ và đồng minh đối với Trung Quốc sẽ biến chuyển tùy theo mức độ hung hăng và thách thức mà Trung Quốc theo đuổi trong chính sách đối ngoại của mình. Ngoài ra, về phía Mỹ, nếu trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016 một ứng cử viên Cộng hòa đắc cử thì nhiều khả năng Mỹ sẽ có một chính sách đối ngoại cứng rắn hơn, nhất là trong quan hệ với Trung Quốc.
Mặc dù có một khả năng là Trung Quốc do các vấn đề trong nước sẽ bị chững lại, thậm chí rối loại và suy yếu, không thể đủ sức “trỗi dậy” mãi mãi đủ để đe dọa vị thế của Mỹ, nhưng khả năng cao hơn là Trung Quốc sẽ tiếp tục vươn lên, dù chậm dù nhanh, để làm cho Mỹ và đồng minh cảm thấy bất an, lo sợ. Khi đó, một cuộc Chiến tranh lạnh Mới ở khu vực, như đã nói trên, là khó có thể tránh khỏi. Cuộc Chiến tranh lạnh Mới giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ khác với cuộc Chiến tranh lạnh thế kỷ 20 giữa Mỹ và Liên Xô ở 4 điểm chính:
§           Chiến lược chứ không phải ý thức hệ: Cuộc cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc chủ yếu tập trung vào yếu tố lợi ích chiến lược chứ không phải ý thức hệ. Việc tập hợp lực lượng của hai bên sẽ dựa vào điểm đồng về lợi ích chiến lược chứ không phải ý thức hệ. Đây là đặc điểm chi phối 3 đặc điểm còn lại.
§           Ở cấp độ khu vực chứ không phải toàn cầu: Cuộc Chiến tranh lạnh này sẽ tập trung chủ yếu tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương mà ít có khả năng lan rộng ra toàn cầu bởi Trung Quốc không có một hệ thống đồng minh rộng lớn và lợi ích của Mỹ và Trung Quốc không mâu thuẫn lớn ở các khu vực khác.
§           Không phải giữa 2 khối nước cứng nhắc: Khác với Chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Liên Xô khi hai bên dẫn đầu hai khối nước trải khắp 5 châu thì trong Chiến tranh lạnh mới sự đối đầu tập trung chủ yếu vào quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ. Nga, như đã nói ở trên, ít có khả năng tham gia cùng Trung Quốc thành một khối chiến lược để đối đầu với Mỹ và đồng minh.
§           Vai trò của tương thuộc kinh tế: Khác với Chiến tranh lạnh thế kỷ 20, trong cuộc Chiến tranh lạnh mới, sự tương thuộc kinh tế giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ giúp kiềm chế bớt hành vi của hai bên, giúp hai bên dễ đối thoại với nhau để giải quyết bất đồng. Tuy nhiên do lợi ích địa chính trị được coi trọng hơn lợi ích kinh tế nên sự tương thuộc kinh tế sẽ không đủ ngăn cản Chiến tranh lạnh mới diễn ra. Viễn cảnh khả dĩ nhất là “kinh tế nóng, chính trị lạnh” giữa các cường quốc.
Vậy xu hướng địa chính trị khu vực này sẽ tác động như thế nào tới Việt Nam, và Việt Nam cần phải ứng phó ra sao?
Lựa chọn chiến lược của Việt Nam
“Lời nguyền địa lý” khiến Việt Nam luôn phải đối diện với những thách thức trong xử lý quan hệ với Trung Quốc. Trước một Trung Quốc lớn mạnh hơn nhiều lần, chiến lược Trung Quốc truyền thống của Việt Nam là ngoại giao hòa hiếu, trong đế ngoài vương, nhún nhường với Trung Quốc trong khả năng cho phép để giữ hòa bình và độc lập.
Nếu không có tranh chấp Biển Đông thì Việt Nam hiện nay sẽ có điều kiện thuận lợi hơn nhiều để duy trì một chính sách hòa hiếu cùng mối quan hệ ổn định, tương kính với Trung Quốc. Thế nhưng, với việc Trung Quốc ngày càng thực hiện các chính sách hung hăng và cưỡng ép, mà sự kiện Giàn khoan 981 là ví dụ điển hình, việc duy trì một chính sách ngoại giao hòa hiếu truyền thống như vậy với Trung Quốc đang ngày càng khó khăn, thậm chí phản tác dụng.
Chính sách của Việt Nam đối với Trung Quốc hiện đối mặt với hai lựa chọn căn bản: ưu tiên quan hệ hữu hảo với Trung Quốc hay ưu tiên chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ?
Trong suốt chiều dài lịch sử đất nước, lựa chọn này luôn được đặt ra cho các nhà cầm quyền Việt Nam, và câu trả lời luôn rõ ràng: Chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là lợi ích quốc gia tối thượng. Đã có những lúc Việt Nam tỏ ra hòa hiếu, nhún nhường với Trung Quốc, nhưng đó là khi Trung Quốc không trực tiếp đe dọa chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, hoặc sau khi Việt Nam đã đánh bại các cuộc xâm lược của các đội quân phương Bắc (ví dụ, Lê Lợi cấp thuyền và ngựa cho lính nhà Minh rút quân về nước, Nguyễn Huệ cho chôn cất tử tế lính nhà Thanh tử trận, gửi sứ thần sang nhận sắc phong và “tạ tội” với hoàng đế nhà Thanh…). Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam lại nhún nhường, mềm yếu trước Trung Quốc khi Trung Quốc tìm cách xâm lược hoặc cưỡng ép, đe dọa… Việt Nam.
Hiện nay, đương nhiên chúng ta vẫn luôn coi chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là lợi ích tối thượng. Vấn đề đặt ra là chúng ta cần xác định Trung Quốc đang đe dọa Việt Nam đến mức nào để quyết định nên hòa hiếu, nhún nhường, hay cứng rắn với Trung Quốc. Nếu mối đe dọa Trung Quốc chưa lớn mà chúng ta quá cứng rắn thì sẽ gây căng thẳng không cần thiết, ngược lại nếu mối đe dọa lớn mà chúng ta nhún nhường, mềm yếu sẽ càng khuyến khích Trung Quốc lấn tới, làm phương hại lợi ích quốc gia.
Trong thời gian qua, xu hướng mối đe dọa từ Trung Quốc đang gia tăng là rõ ràng. Đặc biệt trong vấn đề Biển Đông, một loạt các hành động của Trung Quốc từ năm 2007 đến nay càng cho thấy rõ tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc. Các hành động như cắt cáp tàu Bình Minh 02, đưa giàn khoan 981 cùng lực lượng hộ tống hùng hổ vào vùng biển Việt Nam, xây dựng và mở rộng đảo nhân tạo… cho thấy cường độ hung hăng của Trung Quốc ngày càng tăng, và chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam trên Biển Đông đang bị đe dọa hơn bao giờ hết.
Trong tương lai gần, việc Trung Quốc đưa các giàn khoan xuống Trường Sa và bãi Tư Chính, thiết lập ADIZ trên Biển Đông, tăng cường quân sự hóa các điểm chiếm đóng, thậm chí tìm cách khống chế các tuyến đường biển của Việt Nam hay xâm lược các đảo của Việt Nam đang nắm giữ… là những khả năng không thể bị loại bỏ, nếu không muốn nói đó chỉ là vấn đề thời gian.
Trong bối cảnh đó, ngoài việc nâng cao nội lực về kinh tế, quốc phòng, xây dựng sự đoàn kết và đồng thuận trong cũng như ngoài nước, Việt Nam cần tranh thủ tận dụng các diễn biến địa chính trị khu vực để nâng cao vị thế chiến lược của mình, góp phần kiềm chế tham vọng của Trung Quốc. Đặc biệt việc mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc đang dần gia tăng đang tạo cơ hội cho Việt Nam tăng cường quan hệ với Mỹ và các nước đồng minh và đối tác của Mỹ, nhất là những nước có chung nhận thức về mối đe dọa và lợi ích trên Biển Đông.
Vì vậy, như tác giả bài viết từng đề xuất, trong khi vẫn duy trì nguyên tắc “ba không” trên danh nghĩa, Việt Nam cần từng bước thắt chặt quan hệ chiến lược – an ninh với các quốc gia chủ chốt trong khu vực dưới dạng các “liên minh” mềm, không chính thức, đặc biệt là với Hoa Kỳ và Nhật Bản, để có thể nâng cao vị thế chiến lược của mình trong quan hệ với Trung Quốc, nhất là trên hồ sơ Biển Đông.
Như đã lập luận trước đây, tranh chấp Biển Đông hiện tại gồm ba tầng nấc, với tầng nấc ngoài cùng đang trở nên ngày càng quan trọng là sự cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc. Điều này biến Biển Đông trở thành một trong những “chiến trường” cho sự đối đầu giữa hai cường quốc. Một câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh đó, Việt Nam có nên can dự vào cuộc đối đầu này để rồi trở thành “nạn nhân” của một cuộc đấu đá giữa các cường quốc hay không?
Một điều chúng ta phải chấp nhận đối mặt là với vị trí địa lý của mình, đặc biệt là do sự tham gia của chúng ta vào tranh chấp Biển Đông với các lợi ích đan xen, chồng chéo, chúng ta không thể và không nên đứng ngoài các diễn biến địa chính trị khu vực. Nói cách khác, làm sao để Việt Nam không bị ảnh hưởng bởi cuộc đối đầu đang tăng cường giữa Mỹ và Trung Quốc là một nhiệm vụ bất khả thi. Điều chúng ta có thể làm chỉ là làm sao hạn chế được tối đa các tác động tiêu cực của cuộc đối đầu này lên chúng ta mà thôi.
Để làm được điều này, không có cách nào khả dĩ hơn việc chúng ta chủ động can dự vào các diễn biến địa chính trị khu vực, góp phần định hình các diễn biến đó (nếu có thể), hoặc ít nhất nắm bắt được các thông tin, diễn biến, can dự vào ý đồ của các cường quốc để không phải trở thành kẻ ngoài lề, bị động đối phó, và rốt cuộc sẽ trở thành “nạn nhân” bị đem ra mặc cả trong ván cờ giữa các nước lớn như đã từng xảy ra trong lịch sử.
Hiện tại, trong vấn đề Biển Đông, Việt Nam có hai vũ khí quan trọng có thể khiến Trung Quốc e sợ, đó là các lựa chọn pháp lý và việc theo đuổi chính trị liên minh. Tuy nhiên, trong khi phát súng pháp lý chưa thật sự sẵn sàng và một khi bắn ra sẽ không thể thu hồi lại, thì theo đuổi chính trị liên minh là một biện pháp linh hoạt và hiệu quả hơn mà Việt Nam có thể thực hiện để răn đe Trung Quốc.
Thứ nhất, biện pháp này đánh vào tâm lý sợ bị bao vây, “ngăn chặn” của Trung Quốc. Trung Quốc sẽ không bao giờ muốn Việt Nam ngã vào tay một cường quốc đối địch, vì vậy nếu Việt Nam dịch chuyển theo hướng chính trị liên minh thì Trung Quốc sẽ phải cân nhắc trong hành động để không đẩy Việt Nam ra quá xa.
Thứ hai, chính trị liên minh không phải là một con đường một chiều. Cách dễ nhất để hình dung chính trị liên minh là một đường trục với hai thái cực đối diện, một thái cực (-1) là phù thịnh (bandwagoning), đi theo đối thủ, và thái cực còn lại (+1) là tham gia liên minh quân sự để cân bằng (balancing) lại đối thủ. Trong quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam lý tưởng nhất là ở vị trí cân bằng (0), tuy nhiên tùy theo diễn biến quan hệ song phương và bối cảnh khu vực, chúng ta có thể điều chỉnh vị trí của mình trong khoảng từ -1 đến +1 cho phù hợp. Ví dụ, nếu Trung Quốc hung hăng, hiếu chiến, Việt Nam có thể điều chỉnh dần sang vị trí  +1, nhưng nếu Trung Quốc ôn hòa, xuống nước, Việt Nam có thể điều chỉnh dần về vị trí số 0. Như vậy chúng ta không nên lo sợ phá vỡ quan hệ với Trung Quốc vì chúng ta có thể điều chỉnh tùy theo tình hình. Điều chúng ta phải lo sợ hơn là mất lãnh thổ, thứ một khi đã rơi vào tay người khác sẽ khó có thể đòi lại được.
Thứ ba, do có sự linh hoạt như trên, nên Việt Nam nếu khéo léo có thể điều chỉnh từng bước đi trong chính trị liên minh để đáp lại các hành động của Trung Quốc. Trước mắt, nếu Trung Quốc tiếp tục đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam, chúng ta có thể áp dụng lại chiến thuật như vừa qua, kiềm chế và kiên nhẫn đấu tranh để Trung Quốc rút, phục hồi nguyên trạng. Tuy nhiên nếu Trung Quốc lặp đi lặp lại hoặc leo thang, ví dụ không rút giàn khoan, đưa giàn khoan xuống khu vực Trường Sa/ Tư Chính, thiết lập ADIZ trên Biển Đông, hay thậm chí xâm lược các vị trí Việt Nam đang nắm giữ, thì Việt Nam cần ứng phó ra sao? Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần phải có các bước chuẩn bị để khi Trung Quốc đi một nước cờ thì Việt Nam có thể đi được một nước tương ứng để đáp lại, tránh tình trạng Trung Quốc leo thang nhưng Việt Nam chỉ có một bài để đấu tranh. Với các nấc thang khác nhau như đã kể trên, chính trị liên minh giúp Việt Nam dự liệu trước các quân bài khác nhau để đối phó với Trung Quốc, bên cạnh chuyện đấu tranh trên thực địa.
Như vậy, trước bối cảnh Trung Quốc ngày càng có các hành động hung hăng mang  tính cưỡng bức trên Biển Đông, Việt Nam cần tận dụng các biến đổi địa chính trị khu vực để giành thế chiến lược có lợi cho mình. Trước mắt, Việt Nam cần thực hiện một số các biện pháp như cảnh báo Trung Quốc về hậu quả chiến lược nếu  tiếp tục có cách hành động cưỡng bức hoặc leo thang tranh chấp; làm việc cùng các quốc gia đối tác quan trọng (đặc biệt là Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Philippines) để lập kế hoạch tăng cường các mối quan hệ song phương, nhất là trong lĩnh vực an ninh – quốc phòng, đồng thời lập kế hoạch các bước đi và nấc thang tiếp theo mà Việt Nam cần thực hiện để đáp lại các hành động gây hấn mới hoặc leo thang tranh chấp trên Biển Đông của Trung Quốc.
Tóm lại, Việt Nam chỉ có thể hòa hiếu với Trung Quốc nếu Trung Quốc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Nếu Trung Quốc dùng bạo quyền để cưỡng bức thì chúng ta không thể mềm yếu để rồi mãi mãi đánh mất chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ vì một thứ “hữu nghị viễn vông”.
Trong khi tìm mọi cách cố gắng duy trì quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác và tương kính với Trung Quốc, chúng ta cũng nên sẵn sàng theo đuổi các mối quan hệ liên minh với các đối tác ở các lĩnh vực và mức độ khác nhau để đối phó với các mối đe dọa trên Biển Đông. Theo nghĩa đó, liên minh không nên được hiểu là đi với nước này để chống nước kia, mà là đi với nước nào để chúng ta có thể bảo vệ được tốt nhất lợi ích quốc gia của mình.
Lê Hồng Hiệp, vừa hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học New South Wales, Học viện Quốc phòng Australia, Canberra, là giảng viên tại Khoa Quan hệ quốc tế, Đại học KHXH&NV TPHCM, và là biên tập viên sáng lập và điều hành trang mạng Nghiencuuquocte.net.
Phần nhận xét hiển thị trên trang