Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2015

NHỮNG THẦN VỆ NỮ VÚ TO MÔNG NẨY VÀ NGUỒN GỐC CỦA NGHỆ THUẬT



Hà Vũ Trọng




Một thoáng nhìn vào hành lang triển lãm nhỏ dưới đây, gồm một số tượng thường được gọi là “Vệ nữ”, có niên đại cách nay 40.000 năm cho tới 3.000 năm trong các nền văn hoá thế giới. Những phong cách “mới lạ” từ thời tiền sử này cho chúng ta cảm tưởng về nền điêu khắc hiện đại. Đúng vậy, bởi vì nghệ thuật hiện đại của thế ki 20 chẳng qua là đứa con hoang đàng trở về với cái nôi khởi nguyên của nghệ thuật loài người, trở về với Mẹ Đất, với nguyên mẫu mà Carl Jung gọi là Mẹ Cả, là nguồn mạch sáng tạo của đời sống.


         
 








 


        





Suốt hơn 100 năm qua, những tranh cãi về nguồn gốc của nghệ thuật vẫn còn những bất đồng. Tuy nhiên, những năm gần đây, chứng cứ đưa ra cho nghệ thuật trừu tượng tìm thấy ở châu Phi có niên đại cách đây 75.000 năm, còn chứng cứ cho nghệ thuật tượng hình cổ xưa nhất đã có cách đây 40.000 năm.
Những khai quật mới đây vào năm 2008 phát hiện ra một pho tượng nhỏ khắc trên ngà voi mamút ở Hang Hohle Fels, vùng Swabia Jura phía tây nam nước Đức. Pho tượng thần “Vệ Nữ” này được tạo ra cách đây 40 ngàn năm, khiến nó trở thành nguyên mẫu cổ nhất về nghệ thuật tượng hình và đẩy lùi niên đại sớm hơn cả 10.000 năm so với những tượng Vệ nữ nổi tiếng thuộc văn hoá Gravette (ở Pháp). Hàng ngàn pho tượng nữ thần cùng đủ mọi hiện vật và di tích đền thờ nữ thần mà những nhà khảo cổ học như Marija Gimbutas đã liên tục tìm thấy ở châu Âu và những nơi khác trên thế giới, đã làm thay đổi triệt để những cách nhìn của chúng ta về bối cảnh và ý nghĩa của nghệ thuật đầu thời Đồ đá cũ. Và không hẳn chỉ về nguồn gốc nghệ thuật, những phát hiện này cũng làm thay đổi và đánh giá lại những thiết chế văn hoá, xã hội, tín ngưỡng của nhân loại trong mấy ngàn năm qua dưới chế độ phụ quyền với tín ngưỡng độc thần.

Chúng ta sẽ điểm qua một số pho tượng thần Vệ Nữ nổi tiếng và cổ xưa nhất, và cũng là những tác phẩm sáng tạo đầu tiên của nhân loại.



1. Vệ Nữ Hohle Fels khắc trên ngà voi mamút, cao 6 cm, phát hiện năm 2008 ở vùng Swabia Jura nước Đức, cũng là vùng được cho là có mặt sớm nhất của người homo sapiens ở châu Âu (Cro-Magnon). có niên đại từ đầu thời kỳ Đồ đá cũ cách nay khoảng 40.000 năm. Đây Là mẫu mực cổ nhất thế giới về nghệ thuật tượng hình nói chung. Các đặc trưng của nhiều pho tượng nữ thần vào những thời kỳ tiền sử sớm nhất thường ít chú tâm vào phần đầu, gương mặt, cánh tay hoặc bàn chân, mà đặt nặng vào những thuộc tính của sinh dục. Với Vệ nữ Hohle Fels, cũng vậy, ngoài hai đặc trưng phồn thực thường thấy là “vú to mông nẩy”, bộ phận âm hộ còn được khuếch đại với hai bắp đùi căng tròn và hai chân dạng ra để nhấn mạnh việc sinh đẻ. Có lẽ đó là vẻ đẹp sinh học lý tưởng, ít ra là trong thời kỳ này. Giới y học ngày nay xem hình ảnh đàn bà thời tiền sử bị chứng béo phì, nhưng thật ra theo quy luật sinh tồn thì lớp mỡ dày dưới da và dưới bộ mông to xệ này hẳn nhiên có chức năng cần thiết để giữ nhiệt và dự trữ năng lượng nhất là khi người phụ nữ vừa phải sinh con đẻ cái trong những điều kiện sinh tồn khắc nghiệt nhất của môi trường thời kỳ Băng hà. Cũng có người xem đây là tác phẩm nghệ thuật huê tình (erotic) có sớm nhất của nhân loại. Tuy nhiên, khái niệm hiện đại về “nghệ thuật” hoặc “huê tình” là hoàn toàn xa lạ trong một thời kỳ không có khái niệm giam cầm gọi là “tác phẩm nghệ thuật” hoăc “khiêu dâm”. Hình tượng nữ tính thiêng liêng ở đây được tôn vinh thành nữ thần, người mẹ mang thai, sinh sản, nuôi dưỡng từ bầu vú no tròn, và lại đón đứa con trở về tử cung của Mẹ Đất để rồi lại tái sinh.




2. Vệ nữ Dolni Vestonice là người đàn bà khoả thân bằng gốm có màu màu đen sẫm kì lạ, cao 111 mm,  niên đại cách nay 29.000—25.000 năm, tìm thấy ở vùng nam Brno, Moravia, nước Tiệp. Bức tượng gốm này tuy có đặc trưng phồn thực tương tự với những pho tượng khác, nhưng gương mặt có hai đường vạch thành đôi mắt xếch và một vạch thẳng là mũi, và chóp đầu có bốn cái lỗ để cắm hoa, cây lá hoặc lông chim, tạo thành kiểu tóc biểu thị cho cây cối đâm chồi nảy nở từ Mẹ Đất. Pho tượng này phát hiện cùng với những tượng đầu nữ thần và những thú vật khác, được công nhận là đồ gốm cổ nhất nhân loại, và đã sớm biết sử dụng kĩ thuật nung gốm. Nghệ thuật điêu khắc trên ngà voi và gốm với những hình tượng đa dạng tìm thấy ở vùng này được xem là do bàn tay của người phụ nữ tạo ra trong thời đồ đá. 




3.    Vệ Nữ Ostrava, phần thân mình của tượng này cao khoảng 5 cm, khắc trên quặng haematite, cũng thuộc văn hoá Gravette tìm thấy ở Moravia, Tiệp. Niên đại cách đây 27.000 năm. Mang kiểu dáng cực hiện đại, gần như phong cách lập thể, và cái gò tam giác như một mảnh bikini hiện đại. Hình thể mảnh mai với dáng eo thon, vú nhỏ và săn chắc, bụng hơi nhô lên gợi ý giai đoạn trẻ trung và mang thai thời kì đầu.  Tiếp theo dưới đây, cũng là những Vệ Nữ Dolni Vestonice điêu khắc từ xương thú, thân thể được cách điệu hoá thành nghệ thuật trừu tượng rất “hiện đại”, trở thành những biểu tượng vật tổ về người bàn bà như là nữ tổ tiên của loài người. 



 

*




4.   Vệ Nữ Lespugue điển hình của nền văn hoá Gravette trải dài khắp châu Âu, cách nay 27.000 năm, ở vùng Dordogne, Pháp. Khắc trên ngà voi mamút, cao 14 cm,  Vệ Nữ này không có bàn tay hay bàn chân, cặp giò thuôn nhọn dần, mục đích như để cắm đứng xuống đất hoặc cắm vào đâu đó có thể nhìn thấy. Phần ngực trên lõm thành một đường cong và uốn lên trên như chiếc đầu rắn hướng tới trước, vì vậy tất cả  phần trên mảnh mai như thể để nhấn mạnh ở phần dưới vào khả năng sinh đẻ và nuôi dưỡng. Cặp vú to thõng xuống với hai cánh tay nhỏ tựa lên hai bầu vú hoà nhập vào với cái dạ con tròn đầy; cặp mông và cặp giò phồng căng lên thành khối căng như thể đang trợ giúp cho hành vi sinh đẻ. Bộ vú và bộ mông gây cảm tưởng là bốn quả trứng to mang trong chiếc tổ của thân thể đang có bầu. Mười vạch thẳng khắc dưới mông đằng sau bắp chân tạo ấn tượng của dòng nước ối đang tuôn ra từ dạ con. Mười đường vạch gợi ý về mười tuần trăng mang thai.




 

5.  Vệ Nữ Willendorf, niên đại khoảng 26.000 năm, tìm thấy ở Áo. Tuy chỉ cao 11 cm nhưng nữ thần trông dáng đồ sộ, tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng này có thể tìm thấy trong đa số sách về lịch sử nghệ thuật. Bức tượng được khắc bằng đá vôi, mang đậm tính phồn thực của Mẹ Đất với cặp vú to, bụng lớn, âm hộ được khắc chi tiết, và vẫn còn dấu vết của lớp màu đất đỏ quét lên tượng trưng cho máu.  Quanh đầu nữ thần là 7 lớp bện song song vòng quanh và che kín khuôn mặt. Con số 7, con số của sự trọn vẹn, một phần tư của chu kì tuần trăng. 




6. Vệ Nữ Moravany/Moravia, ở Slovakia, khắc bằng ngà voi mamút, cao 7.6 cm, niên đại 22.800 năm, cũng thuộc nền văn hoá Gravette. Bức tượng rất đẹp, không có đầu, tất cả nhấn mạnh vào tính tả châncông phu ở bụng và cặp vú nặng trĩu, biểu thị đang chu kì mang thai. Rốn và âm hộ củng được khắc rõ nét. 




7.   Nữ thần Brassempouy, bức tượng nổi tiếng này chỉ còn sót lại chiếc đầu, cao 3.65 cm, khắc trên ngà voi mamút, tìm thấy trong một cái hang ở Brassempouy (Landes, Pháp), niên đại cách đây khoảng 25.000 năm, thuộc văn hoá Gravette. Đây là bức tượng có phong cách hiện đại nhất, và có lối miêu tả sớm nhất mang tính tả thực về khuôn mặt và kiểu tóc, cổ cao với những nét thanh tú. 




8.  Vệ Nữ Laussel, cao 43 cm, khắc trên đá vôi, Pháp, cách đây 22.000 năm, tay phải cầm chiếc sừng bò mộng hình mặt trăng lưỡi liềm, trên đó vạch ngấn 13 ngày khi trăng tròn và 13 tháng của năm âm lịch. Bàn tay trái chỉ vào dạ con đang căng lên để chỉ sự liên hệ chu kì trăng tròn với tiến trình sinh đẻ của dạ con.



9.    VỆ NỮ AVDEEVO, KHẮC TRÊN NGÀ VOI MAMÚT, CAO 12-15 CM, CÁCH NAY 20.000 NĂM, ĐỊA ĐIỂM AVDEEVO NÀY NẰM Ở SÔNG SEJM GẦN THÀNH PHỐ KURSK, NGA, CÓ LIÊN HỆ RẤT GẦN NHỮNG ĐỊA ĐIỂM ĐẦU THỜI ĐÁ CŨ Ở TRUNG VÀ ĐÔNG ÂU. NHỮNG TƯỢNG VỆ NỮ NÀY HÌNH THỂ CÓ BIẾN ĐỔI, NHƯNG HẦU HẾT MIÊU TẢ NHỮNG GIAI ĐOẠN KHÁC NHAU CỦA CHU KÌ SINH ĐẺ.  




10. Vệ nữ Engen, tìm thấy ở hang Peterfels, Đức, niên đại cách đây 15.000 năm, khắc bằng than đen và mài tới độ nhẵn bóng tuyệt đẹp, chiều cao chỉ 4.4 cm. Đây có lẽ là hình tượng người đàn bà được cách điệu trừu tượng cao độ nhất, với bộ mông to hình trứng, có lỗ ở chóp đầu để xỏ dây da đeo quanh cổ.






                               


      
 11. Vệ nữ Jomon của Nhật Bản, thuộc thời kỳ Jomon (hay Thừng văn) niên đại bắt đầu cách đây 16.000 năm và kết thúc vào 300 năm trước CN, là nền văn hoá có sự liên tục và lâu dài nhất thế giới. Dân tộc Jomon đã tạo ra sản phẩm đồ gốm thuộc loại có sớm nhất thế giới với phong cách phong phú và rất đặc dị, những hình thể người vừa trừu tượng vừa cụ tượng được cách điệu tinh tế và hiện đại, cùng nhiều tượng nữ thần mang bầu và sinh đẻ. Cũng như hầu hết ở những xã hội tiền sử khác, đồ gốm của Jomon được cho là do phụ nữ chế tác.




12. Những Vệ Nữ của châu thổ sông Ấn, thuộc nền văn minh Harappan được coi là nền văn minh đô thị lớn nhất và cổ nhất, ở vùng tây bắc Ấn Độ, cách đây 5000 năm.




1.    Những nữ thần Hồng Sơn, bằng đất nung và ngọc thạch, thuộc nền văn hoá Hồng Sơn trong thời đại đồ đá mới, ở vùng nay thuộc đông bắc Trung Quốc (trải dài từ khu tự trị Nội Mông đến Liêu Ninh). Nền văn hoá tiền sử này rất bí ẩn và có nền văn mình và kĩ thuật rất cao, có niên đại kéo dài cách đây 6700 năm cho tới 4900 năm, cũng là nơi chế tác ngọc thạch sớm nhất với phong cách tạo hình độc đáo. Tại di chỉ Ngưu Hà Lương đã khai quật ra một tổ hợp Đền thờ Nữ thần và nhiều tượng nữ thần khoả thân. Đền thờ này dùng để hiến tế nữ thần trong thời mẫu hệ, liên quan đến việc sinh đẻ và những nghi lễ phồn thực của người nữ.


14.    Vệ Nữ ngủ say, tượng đất sét quét màu đất đỏ, cách đây 5800 năm. Bức tượng người nữ thân hình tròn trịa và phồn thực này tìm thấy trong một ngôi đền thờ nữ thần ở Malta, nơi có lẽ thực hành việc cứu trị và những nghi lễ khác. Bức tượng thể hiện một nữ tư tế đang nằm ngủ để rồi đưa ra lời đoán giải và tiên tri từ những  giấc chiêm bao.



15. Vệ Nữ hình “vĩ cầm”, đá cẩm thạch, niên đại cách đây 4800 năm, thuộc nền văn hoá Cyclades, Hi lạp.


Tham khảo:
Anne Baring & Jules Cashford, The Myth of the Goddess – Evolution of an Image, Arkana: Penguin Books, 1991
Wikipedia:
Các trang khác:

    
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhân ngày 8/3..

Ám ảnh hàng đêm khi 'lên giường' với chồng Tây

Lay chong Tay
Ảnh minh họa.

Trước đây, tôi cũng từng có suy nghĩ đừng bao giờ lấy đàn ông Việt làm chồng. Tôi đã từng chứng kiến cảnh bố ngược đãi, giở thói gia trưởng, độc đoán hành hạ mẹ lúc tôi còn bé.


Ông bà ta nói rất đúng “Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”. Tôi nghĩ, dù là thời đại nào thì gái Việt chỉ hợp với trai Việt.
Tôi đã từng chứng kiến cảnh bố ngược đãi, giở thói gia trưởng, độc đoán hành hạ mẹ lúc tôi còn bé. Bởi thế, nên khi lớn lên, học hành đỗ đạt, tôi quyết làm chủ cuộc đời mình, kiên quyết không lấy đàn ông Việt làm chồng. Thế nhưng, 8 tháng sống trong cuộc hôn nhân không hạnh phúc với chồng Tây, tôi nhận ra rằng mình đã sai và thật sự hối hận vì xem thường đàn ông Việt.
Tôi không phủ nhận đàn ông Việt có vô số thói xấu, vô số những điều khó chấp nhận, tha thứ. Tuy nhiên, nếu nhìn với con mắt bớt cực đoan hơn thì họ so với đàn ông Tây vẫn hơn gấp vạn lần.
Tôi lớn lên mang theo những ám ảnh tuổi thơ và những lời căn dặn của mẹ về đức tính nhẫn nhịn, chịu thương chịu khó, hi sinh tất cả cho chồng con để làm một người phụ nữ đảm của gia đình. Nhưng tôi đã không làm như thế, tôi quyết tâm thay đổi số phận vì tôi không muốn giống cuộc đời mà mẹ đang sống.
Bởi vậy mà, trong chuyện tình cảm tôi luôn đề phòng và không bao giờ cho phép mình được rung động trước các chàng trai Việt. Người chồng tôi mơ ước là một anh Tây chính hiệu. Chỉ có lấy chồng Tây tôi mới thoát khỏi gông cùm của thói độc tài, ích kỉ tật xấu ăn sâu trong tiềm thức của cánh đàn ông Việt Nam. Tôi nghĩ những người đàn ông Tây phương sẽ tiến bộ, văn minh hơn, biết chiều, quý trọng phụ nữ hơn.
Tốt nghiệp đại học ngoại ngữ, tôi xin vào làm việc tại một công ty của người nước ngoài đóng tại Việt Nam. Đó là môi trường tốt để giúp tôi dễ dàng đạt được mong ước của mình. Thông qua lời giới thiệu của một đồng nghiệp, tôi đã quen và yêu một anh Tây hơn tôi đúng một giáp. Trước đây, Toni người yêu tôi đã từng trải qua vài ba mối tình. Nhưng với tôi, quá khứ như thế nào không quan trọng, miễn sao hiện tại và tương lai anh ấy chỉ yêu một mình tôi là đủ.
Lúc mới yêu, cũng có đôi lần sự sòng phẳng thái quá của anh ấy khiến tôi hụt hẫng. Mỗi lần cùng nhau đi ăn uống Toni đều đề nghị chia đôi số tiền phải trả. Chuyện đó, lâu dần tôi cũng thành quen.
Trong mọi chuyện, chúng tôi đều khá hợp nhau nhưng chỉ riêng “chuyện ấy” là chúng tôi hay tranh cãi, bất đồng. Toni nghĩ về sex rất thoáng. Với anh ấy, tình dục và tình yêu không đi liền với nhau. Thích, hợp thì lên giường và ngay sau đó trở thành 2 người xa lạ cũng chẳng sao.
Anh ấy ngạc nhiên khi bị tôi từ chối và không tán thành khi tôi giải thích rằng “trinh tiết để dành cho đêm tân hôn”. Anh ấy bảo tôi quá lạc hậu, cổ hủ.
Tuy có vài điểm không tương đồng, nhưng rồi duyên số vẫn gắn bó hai chúng tôi thành vợ chồng. Khi về sống một mái nhà, tôi mới vỡ lẽ ra được nhiều điều mà trước đó tôi chưa bao giờ nghĩ tới.
Trong chuyện tiền bạc, anh ta chẳng phóng khoáng mà ngược lại chi li hơn cả đàn ông Việt. Vì chưa có nhà nên chúng tôi thuê căn hộ riêng để ở. Tiền nhà và mọi khoản chi tiêu anh ta đều cộng gộp và chia đôi, mỗi người phải trả một nửa số chi phí đó. Anh ấy chỉ đưa cho tôi 1 khoản nhỏ để mua thực phẩm, ăn uống, còn đâu là anh ấy cất dành để chi tiêu riêng. Anh ấy bảo: “Chúng ta là vợ chồng nhưng phải độc lập về tài chính để nếu có li dị thì không phải chia chác tài sản”.
Sống với Toni, tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Anh ta không bao giờ xem tôi là người đàn bà duy nhất. Thậm chí, anh ấy còn cười ngặt nghẽo khi nghe tôi nói điều đó ra.
Việc nhà cửa, cơm nước thì anh ta khoán trắng cho vợ. Anh ấy bảo không quen vào bếp, chỉ quen đi ăn hàng nên nếu tôi không nấu ăn được thì cả hai đi ăn tiệm. Vì xót tiền nên tôi lại phải lăn vào bếp.
Là con rể nhưng anh ấy chỉ về thăm quê vợ được 2 lần. Anh ấy thấy khó chịu với lối sinh hoạt ở quê và luôn mồm chê mất vệ sinh. Là đàn ông nhưng anh ta chẳng biết gì ngoài việc ôm ti vi hay máy vi tính. Từ treo cái dây móc quần áo đến đồ điện hỏng đều do tôi tự xoay xở.
Trước khi cưới, Toni bảo rằng chưa muốn tôi sinh con. Anh ta bảo, cứ sống thử với nhau một thời gian, nếu thấy gắn bó, hợp thì hẵng sinh con. Chứ nhỡ quan hệ vợ chồng rạn nứt lại vướng con cái rất khó giải quyết. Tôi nghe mà chỉ biết nuốt nước mắt vào trong bởi có phân tích thì anh cũng chẳng thèm nghe.
Mỗi lần, anh ấy bay về nước thăm nhà hoặc cùng bạn bè đi du lịch thì chẳng bao giờ rủ tôi đi cùng. Anh ấy bảo tôi đi sẽ làm vướng chân anh ấy. Tôi biết Toni cố tình nói thế để dễ dàng quan hệ với những cô gái khác mà không sợ bị tôi phát hiện. Biết chồng trăng hoa với các cô gái khác nhưng tôi vẫn phải im lặng, cam chịu.
Điều khiến tôi khổ tâm nhất là quan hệ vợ chồng. Mỗi lần anh ấy đòi hỏi đều khiến tôi kinh hãi. Toni có ham muốn tình dục quá cao nên mỗi lúc ân ái đều khiến tôi kiệt sức. Ngày nào, anh ta cũng bắt tôi chiều chuộng và xem tôi như một nô lệ tình dục chứ không phải là một người vợ.
Tính cho đến thời điểm này, cuộc hôn nhân của chúng tôi đã kéo dài 8 tháng mà với tôi tưởng như nó đã kéo dài 8 năm. Làm một người vợ nhưng nhìn lại tôi chẳng có gì. Tiền của, nhà cửa, tình yêu, con cái…. đối với tôi chỉ là một số không tròn trĩnh. Thậm chí, một ước mơ, mong muốn cũng không dám nghĩ đến vì như anh ấy bảo sống ngày nào biết ngày đó, không tính trước được tương lai.
Tôi thấy vô cùng chán nản và nhận ra rằng sai lầm lớn nhất của cuộc đời mình là gắn bó cả đời với một người chồng Tây, khác màu da , khác dòng máu, khác về tất cả mọi cái.
Đàn ông Việt tuy ích kỉ, nhỏ nhen, hẹp hòi nhưng suy cho cùng họ vẫn là người Việt, vẫn dễ dàng thấu hiểu đồng cảm với nhau hơn. Đừng dại dột đặt niềm tin mù quáng vào chồng Tây để rồi phải chịu bao thiệt thòi, đau khổ giống như tôi!
Theo Phununews

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chắc hẳn làm bằng giấy?

“Giáo dục Việt Nam hiện nay như đang đào tạo Voi, Hổ, Bò tót…”


NGỌC QUANG
(GDVN) - PGS.TS Nguyễn Văn Nhã: “Tôi giật mình khi có đồng nghiệp khoe rằng tham khảo 10 trường ĐH tiên tiến nhất để xây dựng chương trình của riêng mình...”.

Tiếp tục cuộc trao đổi với PV Báo Giáo dục Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Văn Nhã – nguyên Trưởng Ban Đào tạo ĐH Quốc gia Hà Nội, Hiệu trưởng Trường ĐH Nguyễn Trãi nhận định, thay đổi cách thức thi tốt nghiệp THPT chỉ là điểm khởi đầu trong một chuỗi đổi mới nền giáo dục. Vấn đề cấp bách hiện nay là phải nghiêm túc xem xét lại công tác đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng… nơi trực tiếp cung cấp sản phẩm ra xã hội.

Trẻ con nghĩ gì? Thầy Giáo nghĩ gì? Xã hội nghĩ gì?

PGS Nhã phân tích, đổi mới thi tốt nghiệp THPT chỉ là việc đầu tiên cần làm, tiếp theo đó phải đổi mới chương trình – SGK; tiếp đó phải thay đổi chương trình đào tạo ở các trường sư phạm, bồi dưỡng giáo viên... Tuy nhiên, song song với những điều chỉnh ấy mà không giải quyết được bài toán phân luồng thì vẫn xảy ra tình trạng ùn ùn kéo nhau vào đại học, sau đó thất nghiệp lại quay sang học nghề, vừa tốn kém cho các gia đình, xã hội cũng có thêm gánh nặng.

“Tôi nói thật là chúng ta đang nghĩ đến thượng tầng nhiều, hãy nghĩ đến hạ tầng cơ cơ sở: Xã hội nghĩ gì? Thầy giáo nghĩ gì? Trẻ con nghĩ gì? Chúng ta đổi mới mà lực lượng người thầy chưa đủ đáp ứng được thì chúng ta chắc chắn thất bại. Chúng ta đổi mới một sản phẩm nhưng kỹ sư, kiến trúc sư không đáp ứng được thì chúng ta phải phá dây truyền sản xuất ấy để làm lại.

Tôi lấy thí dụ, nước Đức sau khi thống nhất đã phá hết các nhà máy của Đông Đức để đưa công nghệ Tây Đức vào. Họ có thành công không? Lịch sử đã ghi nhận họ rất thành công. Từ đó nhìn trở lại bài toán giáo dục của nước ta, bàn đi bàn lại mà chưa tìm thấy đường thoát, và quanh quẩn mãi với vấn đề sửa đổi sách giáo khoa gây tốn kém cho xã hội. Vậy chúng ta chọn đúng chưa? Nếu chúng ta chọn đúng thì phải tìm mọi cách làm cho xã hội hiểu, hiểu rồi thì mới đồng thuận, và dù tốn kém đến mấy cũng phải làm. Nhưng nếu nó không thuyết phục, không thể hiệu quả được, thì dù chỉ một đồng cũng không được phí phạm”, PGS Nhã chia sẻ.

Theo PGS Nhã, với mục tiêu đổi mới đặt ra, Việt Nam sẽ thay đổi được nền giáo dục, nhưng cần bao nhiêu năm và mục tiêu cụ thể phải đạt được như thế nào thì chưa ai xác định được.

“Cựu Tổng thống Nam Phi – ông AQ Nelson Mandela đã từng nói một câu rất sâu sắc: "Giáo dục là một vũ khí đầy sức mạnh mà chúng ta có thể sử dụng nó làm thay đổi thế giới". Ireland là một bài học thú vị khi họ vươn lên từ cái gốc là giáo dục và Singapore cũng vậy. Cả hai quốc gia này đều phải mất tới 40 năm để thay đổi nền giáo dục và trở thành cường quốc về khoa học kỹ thuật.

Còn Việt Nam thì sao? Bấy lâu nay, chúng ta vẫn nói giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhưng trên thực tế thì chưa phải vậy. Tiền rất nhiều nhưng tiêu vào đâu, có hiệu quả không? Vừa rồi có đại biểu quốc hội đã phát biểu rất thẳng thắn là quốc hội cần phải kiểm soát được ngân sách trung ương cấp cho địa phương, nếu cấp tiền đầu tư vào giáo dục thì dứt khoát phải vào giáo dục chứ không thể đưa sang lĩnh vực khác. Cứ loay hoay thế này thì còn lâu giáo dục mới là hàng đầu được”, PGS Nhã nói.

Cũng theo PGS Nguyễn Văn Nhã, ngoài chuyện đổi mới thi tốt nghiệp THPT, Bộ Giáo dục cũng nên tính ngay tới đổi mới thi đầu vào đại học.

“Thi lấy chứng chỉ ngoại ngữ có làm quanh năm được không? Câu trả lời là có. Thi lái xe có tổ chức quanh năm được không? Câu trả lời là có. Khám sức khỏe làm căn cứ học tập, làm việc có làm quanh năm được không? Câu trả lời là có. Vậy thì tại sao lại cứ phải dồn học sinh vào một kỳ thi đại học khiến cho cả xã hội căng thẳng? Với việc cải cách thi tốt nghiệp THPT hiện nay thì năm tới đây các trường đại học sẽ phải tự tổ chức thi đầu vào vì kết quả phổ thông không đáng tin cậy, như vậy là vẫn tốn kém đấy chứ, và cũng chỉ thi đầu vào có một lần.

Tôi đã nói nhiều lần rồi là chúng ta phải dũng cảm đổi mới đi, hoàn toàn có thể xây dựng các trung tâm khảo thí ở 3 miền trên cả nước, và mỗi năm tổ chức thi vài lần. Đầu năm các em thi trượt thì về ôn luyện, 3 tháng sau có thể đến thi, chứ đâu nhất thiết phải chờ đợi thêm cả một năm? Trên thang điểm ấy, học sinh đăng ký vào các trường phù hợp", PGS Nhã bày tỏ.

Quá nhiều cử nhân thất nghiệp phản ánh sự thất bại của giáo dục

Bàn về sự việc hàng trăm nghìn cử nhân thất nghiệp đã được nêu ra tại kỳ họp Quốc hội vừa qua, PGS Nguyễn Văn Nhã nhận định, đây là hệ quả tất yếu khi chưa giải quyết được bài toán phân luồng, chưa kiểm soát chặt kết quả học và thi THPT, cộng với tâm lý sính bằng cấp nên ai cũng muốn học đại học dù không trả lời được: Học đại học để làm gì?

“Ở bậc THPT đã không siết được, nhưng ở bậc đại học thì nhiều chỗ cũng dễ dãi, nhiều trường không đảm bảo điều kiện đào tạo nhưng vẫn tồn tại, tuyển sinh, rồi phát bằng thì thất nghiệp là điều không tránh khỏi. Tôi nghĩ nhà nước cần sớm siết lại hệ thống các trường đại học, nhà nước chỉ nên chi phí cho những ngành đặc thù, còn lại phải để cho các trường tự chủ thì lập tức chất lượng đào tạo phải nâng lên, nếu không thể nâng lên được thì phải tự đóng cửa”, PGS Nhã chia sẻ.

PGS Nguyễn Văn Nhã phân tích, nguyên nhân sâu xa dẫn tới sự yếu kém của nền giáo dục Việt Nam hiện nay là vì “không có triết lý giáo dục” rõ ràng, mà đây là điều tối kỵ trong khoa học.

PGS Nhã chia sẻ: “Tôi còn nhớ ở một trường Đại học có đồng nghiệp khoe tham khảo chương trình đào tạo của 10 nước tiên tiến nhất để xây dựng thành chương trình đào tạo của mình. Tôi giật mình kinh hãi, bởi lẽ chương trình đào tạo của mỗi quốc gia có một triết lý đào tạo khác nhau, một thiết kế logic chặt chẽ khác nhau. Chúng ta không thể ghép cơ học để ra một chương trình hợp lưu mà chương đầu là voi, chương 2 là đại bàng, chương 3 là bò tót! Như thế là lại làm hỏng sự nghiệp đào tạo một cách hồn nhiên, cách tốt nhất bây giờ là chọn lấy một mô hình tiên tiến thế giới đã thành công để áp dụng.

Trong một lần tham dự hội thảo khoa học tôi có nghe ý kiến của đại biểu nước ngoài: Nếu Việt Nam mà có sáng tạo độc đáo, thành công chưa nước nào làm được thì nên mời các nước đến cùng học và làm theo, sức mạnh quốc tế sẽ nhân lên gấp bội; nếu chưa chọn được giải pháp hay thì nên học và tham khảo các bài học thành công của các nước! Họ cũng đang coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhất là Nhật Bản. Nhưng học kinh nghiệm của người ta thì cần thận trọng, học đến đầu đến đũa, nếu không thì than ôi, hỏng không cứu lại kịp!”.

Vấn đề nguy hiểm của nền giáo dục Việt Nam hiện nay không chỉ là câu chuyện đào tạo "hình ống", thiếu kỹ năng trầm trọng, mà hầu hết cử nhân đều "mù tịt" ngoại ngữ. Vì vậy, PGS Nhã nói: "Tôi ủng hộ quan điểm của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam là bắt buộc phải thi môn ngoại ngữ ở kỳ thi tốt nghiệp THPT, nếu không nâng được trình độ ngoại ngữ thì chúng ta sẽ tụt hậu thê thảm ngay ở khu vực chứ chưa nói gì tới thế giới.

Tôi nói không hề ngoa rằng nếu so sánh thì thậm chí chúng ta còn thua cả Lào. Tôi đã có vài dịp sang công tác tại ĐH Quốc gia Lào, trời ơi từ lãnh đạo nhà trường  cho tới các nhân viên mọi phòng ban đều nói tiếng Anh, tiếng Việt rất tốt. Nhưng điều khiến tôi bất ngờ hơn cả là một nhân viên bảo vệ và một cán bộ phụ trách ký túc xá cũng nói tiếng Việt và tiếng Anh rất tốt. Còn ở ta, nhiều người học xong cả thạc sĩ mà còn không đủ tự tin giao tiếp thì còn nói gì tới nghiên cứu tài liệu, và thế là chỉ dám nói tiếng Việt thôi. Mà xin lỗi, nói tiếng Việt nhiều khi còn sai".

Phần nhận xét hiển thị trên trang