Thứ Hai, 26 tháng 1, 2015
Beo: CHÍNH TRƯỜNG VÀ SÂU-BÍT-1
Beo: CHÍNH TRƯỜNG VÀ SÂU-BÍT-1: Khi post bài của một ông Tây nói tiếng Việt, Beo đã căn dặn các bạn đừng comment. Lý do, gần như không một dòng nào đúng. Nó không chỉ s...
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Những người có nhóm máu là A, B hoặc AB có nguy cơ mắc bệnh tim và cuộc sống ngắn hơn so với những người có nhóm máu O.
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Sống một mình cũng có cái thú của nó. Huy Khiêm thường hay đi đây đi đó thăm bè bạn mà không phải băn khoăn về căn nhà trống trơ trống trọi của mình. Ăn uống thì đã có rau, cá ngoài đồng. Mấy sào đất của cha mẹ để lại cũng thừa sức nuôi thân. Vậy việc còn lại chỉ có thể là cưới vợ cho bản thân, nhằm kiếm một nấm ruột để nối dõi tông đường. Nhưng nói nghe thì dễ, chứ chắc gì mình cưới được một cô vợ đúng như mong đợi. Mình thương người là một việc. Còn có được người thương lại hay không lại là việc khác. Đó chính là nỗi bâng khuâng mà Huy Khiêm thường hay trằn trọc trong những đêm không ngủ…
Người đẹp thường hay bắt mắt, chứ như con bé Thanh nhà bên thì nói làm gì… Cái con nhỏ thật là quá quắt khi hay chen vào việc của người. Việc nhà mình thì không lo, cứ hay chạy sang đây líu lo lắm chuyện. Đã vậy mà nó còn hay giành phần nấu cơm cho anh mới lạ!
Nhưng nói thì nói vậy chứ có con bé qua chơi đôi lúc cũng hay hay. Huy Khiêm có thể kể tâm sự của mình với một con bé hay tò mò, và thường trợn tròn hai con mắt đen nhánh khi anh nói về “người ấy”. Nói chung Huy Khiêm đang si tình trong vô vọng và những lúc buồn cần có một người để lắng nghe tâm sự của mình. Vậy thì không ai khác hơn ngoài con bé hay hóng việc của người lớn, vẫn lăng xăng, lích xích quanh đây…
Đang xắn cái len, bỗng Huy Khiêm phát hiện có điều khác lạ. Lưỡi len như chạm vào một vật rất cứng, phát ra tiếng va chạm với kim loại nghe khô khốc. Ngạc nhiên anh khom người xuống bới đất và lôi lên một cái thùng bằng sắt, loại mà lính Mỹ thời chiến thường dùng đựng đạn. Một suy nghĩ thoáng qua trong đầu anh thanh niên: “Có khi nào mình đào được vàng như trong chuyện cổ tích. Lúc ấy thì có thể nói chuyện với “người ấy” được rồi…”
Nhưng những gì bày ra trước mắt làm Huy Khiêm thất vọng. Trong cái thùng chỉ có vài thứ linh tinh như: sổ sách, một mớ cỏ khô, mấy cây dao bằng thủy tinh và một mớ mùn mục nát không biết là gì…
Lật thoáng qua vài trang của quyển sổ, Huy Khiêm chợt chú ý đến một đoạn nét chữ khá rõ, được ghi rất trang trọng ở phía sau với nhiều chú thích rất lạ kỳ:
“Thái âm phù là một loài bùa chú trong dân gian rất khó luyện được. Loại bùa này có tác dụng khiển được suy nghĩ của kẻ khác theo ý mình và đôi lúc giúp người luyện hoàn thành một số tâm nguyện như mong muốn. Tuy nhiên việc luyện Thái âm đòi hỏi rất nhiều yếu tố mà tính bất chợt ngẫu nhiên chính là “duyên” quyết định có thành công hay không. Từ những yêu cầu đã được quy định, lẫn tính ngẫu nhiên trong quá trình tìm vật liệu mà nhiều người đã bỏ dở công trình lúc gần chạm đích. Chính vì điều này mà Thái âm phù ít được người biết đến, và cũng ít ai chịu được sự kiên nhẫn để hoàn thành…”
Đọc đến đây Huy Khiêm hơi do dự… “Khiển được suy nghĩ kẻ khác theo ý mình…” có nghĩa là gì cơ chứ? “Hoàn thành một số tâm nguyện như mong muốn…” Cái này xem ra cũng hay hay đây…
Anh lật qua vài trang và thấy những đoạn chú thích cho Thái âm phù. Tim Huy Khiêm bỗng đập nhanh khi biết ai đã luyện thành công bùa Thái âm thì có thể làm người khác tình nguyện dâng trái tim cho mình… Ôi! Điều này thật bất ngờ… Như vậy không phải anh đã có cách làm cho “người ấy” yêu mình hay sao! Mà một khi yêu nhau thì đâu ai phân biệt ngôi thứ, sang hèn làm gì cơ chứ…
Bàn tay Huy Khiêm run lên khi lật qua các trang khác:
- “Tìm năm loại cỏ thơm vào giờ mở đầu của Hoa giáp. Trong phạm vi giờ Tý phải tìm hái cùng một lúc năm loại ấy mà không được chuẩn bị trước. Lúc tìm được phải phơi 64 nguyệt sương, chôn dưới đất 128 ngày đêm. Màu cỏ phải giữ sao cho như lúc ban đầu, không được vàng úa mới đạt thành tựu. Sau khi được cỏ này thì giã nhuyễn pha với nước sương đêm, dùng nó thoa lên tóc ai thì trở thành “bùa yêu” không hề sai trật…”
Đọc đến đây Huy Khiêm chợt nghĩ: Năm loại cỏ thơm là những thứ nào nhỉ? Hồi nhỏ tới lớn anh chỉ nghe nói đến duy nhất món rau thơm mà thôi! Lấy đâu ra năm thứ cho đủ với yêu cầu luyện Thái âm bây giờ…?
Thế là từ hôm tìm được quyển sổ quái lạ, Huy Khiêm cứ đi ra đi vào với những đăm chiêu về năm loại cỏ quái ác đó. Nhất định anh phải tìm cho ra chúng để luyện Thái âm phù, nếu không thì đành phải… ở giá suốt đời…
Qua một tuần sau, anh vẫn không nghĩ ra năm loại cỏ thơm mà trong sách đã ghi nên đâm ra cáu bẳn với cả bé Thanh.
- Anh Khiêm mấy hôm nay lạ ghê! Bỗng nhiên lại quạu quọ như bị ai lấy của không bằng. Thôi không chơi với anh nữa, đi tìm rau thơm bỏ nồi canh chua để ăn còn hay hơn…
Lời nói của con bé khiến anh chú ý, không dám tiếp tục chọc cho nó giận.
- Thanh nè! Rau thơm mà em nói là gì vậy?
Con nhỏ ngoe nguẩy hồi lâu mới chịu nói:
- Là rau cần dày lá chứ còn chi phải hỏi. Cái anh này hôm nay mới thật kỳ, hỏi gì những đâu đâu…
Huy Khiêm gãi gãi cái đầu bù, rồi nói:
- Nhưng… rau cần có mùi ngây ngấy. Sao gọi là… thơm?
- Thì ai thích cứ nói là thơm. Còn không thích, nói hôi cũng được…
Câu nói của con bé khiến anh thanh niên tỉnh người ra. “Như vậy đâu cần… thơm mới được. Cứ có mùi nặng là đúng rồi!”
Việc này về sau cứ mỗi lúc nghĩ đến anh lại cười bò ra. Không phải khi mua nước mắm người ta hay ngửi mùi đó sao? Mùi càng nồng đậm lại cho rằng ngon. Nhưng đến lúc dính chút xíu vào người ai cũng la oai oái “Sao hôi quá!”
Rồi bắt đầu từ hôm đó, Huy Khiếm ra sức đi tìm năm loại cỏ thơm. Nhưng qua mấy tháng trầy trật anh vẫn không sao tìm đủ. Cứ đến giờ Tý xuất hành, chỉ mày mò được hai ba loại thì đã quá canh. Sau đó tìm đủ lại không sao giữ cho chúng xanh màu được. Lật tìm đọc kỹ quyển sổ mới té ngửa ra: “Giờ mở đầu trong Hoa giáp là giờ nào mới đúng?”. Hỏi thăm đây đó, mất cả tháng anh mới biết là giờ giáp tý. Như vậy nếu không tìm đủ năm loại cỏ thì phải mất năm ngày sau mới xuất hiện lại giờ giáp tý…
Loay hoay mất mấy năm Huy Khiêm vẫn chưa luyện xong Thái âm phù, và đành phải sống trơ trọi một mình. Cũng may có bé Thanh thỉnh thoảng vẫn hay sang bầu bọn với anh nên cũng khuây khỏa đôi phần. Thấy tỏ ra nôn nóng chẳng xong nên anh bắt đầu nghiên cứu kỹ quyển sổ nhặt được ngày ấy. Một hôm buồn tình, anh đem hết mọi thứ ra quan sát thì chợt thắc mắc với hai con dao thủy tinh mà lâu nay mình quên khuấy. Huy Khiêm tự hỏi trong lòng, “không biết hai cây dao để làm gì cơ chứ?”
Và anh bắt đầu cùng bé Thanh suy luận: Nhất định chủ nhân của nó đã có chủ ý khi bỏ con dao vào trong cái thùng. Những thứ này nếu không có việc dùng thì vứt đi, ai hơi đâu đem chôn giấu cho mệt thân…
Quá bực mình vì tính khật khưởng của anh nên con nhỏ quát luôn:
- Dao thì dùng để… cắt. Có gì đâu mà anh cứ xem như của báu vậy!
Một lần nữa bé Thanh làm Huy Khiêm kinh ngạc. Bấy lâu nay anh cứ dùng tay để hái năm loại cỏ thơm ấy, nên nó cứ mãi biến màu. Lời nói của bé Thanh khiến anh nghĩ ra việc dùng dao thủy tinh mà cắt họa may mới linh nghiệm…
Thế là tối hôm đó anh thực hiện ý định không chút đắn đo. Năm loại cỏ khi được cắt xong anh lại dọ hỏi ý của con bé:
- Em làm thế nào giữ cho rau không bị vàng úa vậy?
- Trời ơi! Có vậy mà cũng hỏi. Cứ giữ ẩm, tránh nắng, màu của nó tất xanh lâu.
Huy Khiêm nhìn con bé ra vẻ nể phục:
- Không ngờ em có lắm tài quá! Sau này đại sự mà thành anh sẽ đích thân sang nhà hậu tạ…
Bé Thanh nguýt một cái rõ dài về phía anh như bất cần:
- Ai mà thèm! Anh lo thân anh còn không xong còn mong gì chuyện khác. Lo cưới vợ đi. Già chát rồi đó…
- Thì anh đang lo đấy thôi! Nếu Thái âm phù mà thành, cưới vợ chỉ là chuyện… nhỏ.
Cuối năm đó Huy Khiêm hoàn tất việc luyện Thái âm phù. Trong xóm có nhiều thanh niên bắt đầu tìm đến “anh Khiêm” để nhờ vả. Anh nghĩ thầm: “Chuyện này chắc lại do con bé gây ra. Cái miệng nó lúc nào cũng bép xép, chỉ tổ hỏng việc lớn.” Rồi anh lại nghĩ, mình cũng nên mang bùa Thái âm ra thử thách xem độ ứng nghiệm ra sao, trước khi hoàn thành tâm nguyện cho bản thân.
Từ hôm ấy, người trong thôn bắt đầu thấy lạ khi con em của mình cứ hay sang nhà Huy Khiêm thì thầm gì… gì đó. Qua mấy tháng sau trong xóm có lễ cưới, anh Khiêm lại được mời làm thượng khách mới hách cơ chứ! Mà sao chú rễ có vẻ nể mặt Huy Khiêm ra phết. Ngay cả các chàng trai cũng tỏ ra rất tôn sùng và ca ngợi “anh Khiêm” hết lời…
Mấy năm nữa trôi mau. Bây giờ thì tên tuổi Huy Khiêm trong giới thanh niên nổi cộm. Anh nổi tiếng với cái nghề giúp các chàng trai được toại nguyện khi cưới được cô gái “mình yêu”.
Chỉ có bé Thanh là nghĩ khác đi.
- Tài gì mà tài! Giúp người thì giỏi, sao không giỏi tìm cho mình một cô vợ mới hay…
Lời nói của con bé khiến Huy Khiêm buồn hết mấy hôm. Anh nghĩ cũng lạ, sao bùa Thái âm đem cho ai sử dụng cũng linh ứng, riêng anh lại không. Đã bao nhiêu cái đám cưới do anh chủ xướng đã thành toàn mà riêng anh vẫn “phòng không gối chiếc”. Như vậy giúp người hóa ra lại lỗ to. Tụi nó cưới vợ xun xoe, mời mình hết lượt này đến lượt khác… Còn mình lại chẳng làm nổi một cái đám cưới. Bé Thanh cười mình là đúng quá rồi…!
Tuy nhiên bé Thanh bề mặt cười cợt nhưng trong lòng lại nể “anh Khiêm” lắm lắm. Nói gì thì nói, Thái âm phù của anh rất ứng nghiệm khi giúp biết bao nhiêu người thành cặp thành đôi. Từ đó, tuy vẫn hay nhạo báng “anh Khiêm”, nhưng nó lại hay cùng anh đi tìm cỏ thơm về ủ làm bùa Thái âm.
Một hôm con bé nhất nhất xin anh Khiêm một chút xíu cỏ Thái âm để sử dụng cho việc riêng. Mặc dù Huy Khiêm gạn hỏi nhiều lần con nhỏ vẫn không chịu nói ra.
- Anh hỏi để làm gì? Em giúp mấy đứa bạn trai không được hay sao. Anh giúp người khác được thì…em giúp người quen cũng được chứ có sao đâu.
Chuyện bé Thanh xin cỏ Thái âm, Huy Khiêm không để trong đầu. Chỉ qua mấy hôm là anh quên bẵng, và từ đó về sau cũng không nghe con bé nhắc đến nữa.
Rồi Huy Khiêm nhận được tin buồn. Người mà anh ngày đêm thương nhớ đã lấy chồng, mặc cho anh đã luyện thành Thái âm phù và vẫn sử dụng nó nhưng không ứng nghiệm đối với riêng mình…
Thấy Huy Khiêm buồn, con bé Thanh vẫn nhỏng nha nhỏng nhảnh như ngày nào nói tỉnh queo:
- Hơi đâu mà buồn anh Khiêm. Con gái vẫn còn đầy ra kia! Mai mốt biết đâu anh cưới được cô khác hơn gấp trăm lần…
Nghe con bé nói anh cũng được an ủi đôi phần, nhưng nghĩ lại vẫn thấy tức anh ách. Tại sao ai, anh giúp cũng thành công, còn riêng mình lại xôi bỏng hỏng không. Thái âm phù ơi là Thái âm phù! Bụt thiên bỏ nhà đi đâu mất? Khiến gia chủ rơi vào cảnh dở khóc dở cười…
“Người ấy” đã lấy chồng, coi như bao công sức trở thành công cốc với ngót nghét bảy năm trời nuôi trồng một hy vọng. Rồi Huy Khiêm nổi giận đem các thứ ném ra ngoài sân. Cả hai con dao cũng bị đập vỡ nát với lời nguyền rủa không tiếc lời.
Thấy anh nổi giận, bé Thanh bỗng sợ hãi. Nó không nói không rằng đi nhặt các thứ vào nhà cất riêng một chỗ.
Huy Khiêm trông thấy giận dữ nói:
- Tiếc gì cái thứ ấy… Đồ… dại nhà khôn… chợ…
Bé Thanh tiu nguỷu nói:
- Nó không giúp được anh cũng giúp được người khác chứ bộ. Khi không đem ném đi, hủy hoại công sức trong chốc lát chẳng thấy tiếc hay sao?
- Không tiếc gì cả! Ném hết, bỏ hết… Chẳng còn Thái âm, thái hiết gì nữa cả…
Cơn giận dữ của Huy Khiêm kéo dài được mấy hôm thì lắng xuống. Nó lắng xuống bởi lẽ tiếng tăm của anh bây giờ đã có nhiều người biết đến. Có quá nhiều người nài nỉ anh đừng giận cá chém thớt, cố giúp cho họ đạt được tâm nguyện cũng là tích đức về sau vậy. Rồi họ đem quà cáp đến đầy một nhà với lời nói dứt khoát như không: “Ông chủ mà không giúp thì họ… giăng mùng ngủ lại luôn…”
Cảm động vì tấm chân tình của mọi người ngưỡng mộ, Huy Khiêm đành gạt nỗi phiền muộn, cùng bé Thanh đêm hôm lại đi săn lùng cỏ thơm…
Rồi vào một đêm trăng sáng, thoang thoảng hương đưa từ những nụ hoa khoe sắc trong đêm, Huy Khiêm chợt nhận ra một điều kỳ diệu mà lâu nay bản thân không nhận thấy. Trong ánh trăng mờ ảo bởi sương đêm, ánh mắt của bé Thanh nhìn anh đầy trìu mến pha chút bâng khuâng. Huy Khiêm thấy mình thật vô tâm khi lâu nay cứ kêu con nhỏ bằng “cô bé”. Thật ra Thanh đã lớn từ cái lúc anh luyện xong Thái âm phù. Con bé ngày nào mới mười lăm, mười sáu, cộng với bảy năm anh luyện bùa Thái âm không phải đã ngoài hai mươi rồi hay sao? Mà đâu riêng gì chuyện Thanh đã lớn… anh cũng đang già ra đấy thôi…!
Phát hiện này khiến Khiêm tỏ ra lúng túng khi đôi diện với đôi mắt to tròn và sâu hun hút của Thanh. Từ trong sâu thẳm cõi lòng anh biết Thanh đang lớn và đẹp ra không thua kém bất cứ ai. Thế mà “con bé” vẫn theo anh suốt bảy năm trời để ngửi hương của ngũ thảo. Anh tự tát vào má mình với một điều ngu ngốc không sao tha thứ được. “Chỉ có tình yêu mới khiếm một cô gái như thế không rời xa anh. Chỉ có sự thủy chung và sẵn sàng hiến tặng tất cả cho người mình yêu mới thúc đẩy một cô gái kiên nhẫn giúp anh luyện xong Thái âm phù với bảy năm dài đăng đẳng…”
Huy Khiêm ngồi nhớ lại từng động thái và cử chỉ của Thanh ngày ấy với một sự xốn xang dằn vặt trong lòng. Anh mãi đi tìm một kho báu ở tận đâu đâu mà quên phứt đi một bóng hồng bên cạnh. Và cô gái ấy vẫn ngày đêm bên anh, lo lắng cho những việc như: nấu cơm, may vá, quét dọn nhà cửa… một cách âm thầm, với một tình cảm được giấu kín qua dáng dấp thơ ngây, hồn nhiên như thuở nào. Bất giác từ những điều mới phát hiện ra, Huy Khiêm bỗng thấy từ trong tim mình vừa thoát thai một tình cảm mặn nồng, cháy bỏng, sâu sắc đến không ngờ. Bởi anh biết rằng kể từ bây giờ nếu để mất Thanh là sẽ mất tất cả. Và cuộc đời anh cũng không còn ý nghĩa gì khi những cô gái mình yêu mến lần lượt ra đi…
Trong đêm sương huyền ảo, với hương đồng cỏ lạ vây quanh, anh bất giác nắm lấy tay nàng bằng một sự cảm kích không sao thể hiện được. Mà tình yêu thì thể hiện bằng cách nào đây…?
Bàn tay cô gái nóng lên trong tay anh. Ánh sáng nhạt nhòa, huyền ảo như đồng tình với tất cả mọi chuyện. Và cái đêm bất chợt đó trở thành ký ức sâu đậm của hai vợ chồng mà phải mất bảy năm họ mới phát hiện ra mình… yêu nhau…
Đám cưới của “anh Khiêm” và Thanh diễn ra rất nhanh trong sự bỡ ngỡ của cả hai. Nhưng… hàng xóm lại nghĩ khác: “Tụi nó cưới nhau là phải rồi! Tội nghiệp con nhỏ lâu nay cứ ôm sầu… mà thằng kia lại vô tình. Phải chi cưới nhau sớm, bây giờ đã tay bế tay bồng…”
Như vậy đối với người làng thì chuyện anh cưới Thanh đâu có gì là bất ngờ. Người bất ngờ nhất trong chuyện này lại chính là người trong cuộc: kẻ đó chính là anh!...
Một năm sau, căn nhà nhỏ cuối thôn đã có tiếng khóc của trẻ con. Cô gái ngày xưa vẫn bận bịu trăm công ngàn việc cho ông chồng vốn vô tâm như cái thuở nào, nhưng nàng không giận. Vì từ khi quyết định yêu Khiêm nàng đã chấp nhận nhiều thứ, ngay cả việc có thể mất anh cho một người khác… Như thế thì cần chi phải oán giận, khi Huy Khiêm cứ mãi say sưa với “năm loại cỏ thơm” của mình mà quên mất cô vợ đẹp và một chú nhóc đáng yêu đang khóc la đòi sữa mẹ…
Huy Khiêm vẫn mò mẫm cùng Thái âm phù, với nỗi bực tức mà lâu nay chôn để trong lòng. Tại sao Thái âm linh ứng với nhiều người, riêng anh lại không có tác dụng? Như thế quả là bất công đối với anh, một người đã bỏ ra rất nhiều tâm huyết để rồi không nhận được sự bù đắp nào!
Lần tìm trong mớ hỗn độn từ quá khứ, bất chợt Huy Khiêm nhớ đến một việc mà cả anh và vợ đều quên mất từ lâu. Đã không nhớ thì thôi, một khi đã nhớ phải hỏi ra cho rõ ràng…
- Thanh nè! Anh nhớ có lần em xin một ít cỏ Thái âm là để cho ai vậy?
Thanh vừa nghe chồng hỏi liền đỏ mặt:
- Anh hỏi làm gì? Em giúp mấy đứa bạn trai không được hay sao. Anh giúp người khác được thì… em giúp người quen cũng được chứ có sao đâu.
- Nhưng… anh muốn biết em đã cho ai mớ cỏ đó…
Nét mặt cô gái đỏ lên như ngày nào, rồi ranh mãnh nói:
- Thì em dùng cho chính mình… cũng được vậy!
Huy Khiêm thảng thốt nhìn vợ:
- Không lẽ người đó… là… là…
- Là anh chứ ai nữa. Cứ ở đó thì với là… Thôi đưa hộ cái tả cho em. Thằng nhóc lại tè nữa rồi kìa!
Đến đây thì Huy Khiêm nhỡ lẽ ra. Không ai khác mà chính anh lại là nạn nhân cho phù chú Thái âm bởi cô bé láu lỉnh ngày nào. Rồi khi nhìn vợ đang tất bật với việc chăm nom con trẻ. Nhìn đứa bé kháu khỉnh đang tròn xoe hai con mắt ngó anh. Huy Khiêm chợt cười với chính mình. Anh nghĩ: “Có được một cô vợ xinh xắn đáng yêu như thế, và có một đứa bé trai bụ bẫm đáng yêu nhường ấy, thì dù có mắc phải “bùa yêu” một lần nữa anh cũng cam lòng. Không phải Thái âm phù đã ghi rõ: Tính bất chợt và ngẫu nhiên sẽ quyết định thành công cho bùa Thái âm, và hiệu quả của nó không hề sai trật. Như vậy là đúng quá rồi còn gì…!”
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Cuộc chiến ngôn ngữ
| Nguyễn Vũ | ||
| |
| |
Văn chương ư? Buồn nhẩy!
DANH TIẾNG PHÙ DU – Đào Hiếu
Một chàng thi sĩ, đẹp trai, có địa vị xã hội, có đời sống khá giả, đương nhiên là phải kén chọn. Mê gái thì chàng cũng chẳng kém ai, nhưng tuy bồ bịch nhiều mà chẳng chọn được cô nào làm vợ.
Có người phụ nữ kia goá chồng nhưng còn trẻ, nhan sắc cũng tạm được. Ngày nọ hai người gặp nhau qua trung gian của tôi một cách tình cờ.
Trong một căn phòng cà phê máy lạnh khá yên tĩnh, chàng thi sĩ khoe mình mới xuất bản tập thơ. Anh ta đọc thử vài bài, cô bạn lắng nghe, sau đó ngỏ ý xin một tập.
Vài tuần sau, ba người chúng tôi lại có dịp ngồi cà phê với nhau. Anh chàng thăm dò xem cô gái có đọc tập thơ của mình không. Cô cười, nói:
-Tất nhiên là em có đọc. Nhưng anh có muốn nghe thơ của em không?
-Cô cũng làm thơ sao? Vậy hãy đọc cho tôi nghe đi.
Cô gái đọc. Cô không ngâm như kiểu người ta trình diễn trên tivi với sáo trúc, đàn tranh, mà chỉ đọc bằng giọng tự nhiên của mình. Giọng cô không hay lắm, và cách diễn đạt cũng bình thường, nhưng anh chàng nghe mê mẩn, như bị hút hồn.
Các bạn biết vì sao không?
Vì đó chính là những bài trong tập thơ mà anh bạn thi sĩ đã tặng cô hôm trước. Và cô đã đọc thuộc lòng từng chữ.
Hai năm sau, do bận công việc làm ăn phải đi xa, tôi không gặp cô bạn nọ, cũng không gặp anh chàng kén vợ ngày trước. Tình cờ một hôm gặp lại hắn ngoài phố, hắn chạy một chiếc xe máy mới tinh, trước xe chở một đứa bé kháu khỉnh.
-Ủa, có gia đình rồi sao?
-Con trai của mình đó. Cháu được mười một tháng.
-Chúc mừng. Mẹ cháu cũng là dân Sài Gòn hả?
Anh bạn cười, có vẻ chế diễu:
-Trời ơi, ông mai mà hỏi han ngớ ngẩn vậy sao?
Cuộc tình duyên ấy thật bất ngờ. Anh chàng nổi tiếng kén vợ rốt cuộc đã tìm được ý trung nhân. Và đó chính là cô gái đã đọc kỹ tác phẩm của mình.
*
Đối với một người sáng tác, độc giả rất quan trọng. Độc giả thuộc loại “ruột” như cô bạn nọ càng quý báu. Một nhà văn có nhiều độc giả, nhiều “fan” thật hạnh phúc biết chừng nào.
Tôi may mắn được lọt vào “top” những nhà văn “có độc giả” tại Việt Nam nên tôi cũng từng được hưởng niềm hạnh phúc ấy.
Có người gặp tôi xin số điện thoại và nói huyên thuyên về các nhân vật mà anh ta thích, về những chi tiết mà anh ta tâm đắc. Nhiều khi họ nhắc đến những chi tiết rất nhỏ trong truyện mà chính tôi, tuy là tác giã, đã quên mất.
Những buổi gặp gỡ như vậy làm mình trẻ lại, làm tâm hồn mình xao xuyến, nhẹ nhàng.
Đôi khi những lời khen tặng ấy cũng biến mình thành đứa con nít. Mình cảm thấy mình quan trọng, mình là nhà văn số một (!)
*
Bữa kia, trong buổi giao lưu văn nghệ, có người đàn ông đứng tuổi, sau khi nghe giới thiệu tên tôi, liền đến bên, tay bắt mặt mừng. Ông ta nói:
-Nghe về anh đã lâu, nay thật hân hạnh được gặp.
Tôi nói cám ơn và hỏi tên họ, nghề nghiệp ông theo đúng phép xã giao. Ông nói:
-Anh à, tụi mình cùng thế hệ với nhau nên đọc anh tôi rất thích, Đúng tâm trạng, đúng suy nghĩ. Nhất là cuốn Lạc Đường. Quả thực thời trai trẻ chúng mình đã suy nghĩ như vậy, đã yêu và ghét như vậy.
Sau đó anh ta hỏi xin tôi một cuốn Lạc Đường. Sách in đã lâu, tôi chỉ còn vài ba cuốn nhưng trước tình cảm quý mến của anh tôi cũng hứa tặng anh một cuốn đặc biệt. Anh xin số điện thoại của tôi, sau đó thì uống cà phê với nhau, trò chuyện vui vẻ cùng vài ba người bạn khác. Tới một lúc anh hỏi:
-Anh là người Bình Định phải không? Hồi trẻ anh học ở Quy Nhơn?
-Đúng vậy.
-Tôi cũng dân Quy Nhơn. Hồi đó phong trào đấu tranh ở Quy Nhơn thật khí thế. Nếu tôi nhớ không lầm thì lúc đó vào khoảng năm 1966.
-Đúng là năm 1966.
-Hồi ấy anh có tham gia các phong trào tranh đầu đó không?
Tôi nghe câu hỏi mà sững sờ. Nhưng tôi không bộc lộ ra mặt. Bởi vì có một cái bong bóng vừa vỡ ra trong tôi. Như một bong bóng xà phòng. Tiếng vỡ quá nhỏ, quá nhẹ, nhưng nó đã bắn ra một thứ nước nhạt thếch, vô duyên, vô vị trong tâm hồn tôi. Tôi muốn nói với anh rằng ngay trong những trang đầu của cuốn Lạc Đường tôi đã mô tả tỉ mỉ và đầy cảm xúc từng giây phút, từng hình ảnh, từng kỷ niệm của tôi và bạn bè tôi trong cuộc đấu tranh đầy kịch tính của cuộc biểu tình ở Quy Nhơn mùa hè năm 1966. Và rằng câu hỏi của anh chứng tỏ anh chưa hề đọc một trang nào trong tác phẩm Lạc Đường.
Cũng may là lúc ấy tôi đã im lặng.
Anh ta khen cuốn Lạc đường vì đã có người khen nó. Mặc dù anh chưa đọc một chữ nào.
Và tôi ngờ rằng những độc giả như anh không phải là ít.
*
Một tình huống khác. Một độc giả hoàn toàn mới. Nơi gặp là một tiệc sinh nhật.
-Chào anh. Thật bất ngờ khi được gặp anh. Tôi đọc anh nhiều lắm. Tôi rất thích văn của anh.
Tôi lại nói cám ơn và đọc số điện thoại cho anh ta lưu vào máy. Rút kinh nghiệm lần trước, tôi không dám hỏi han gì thêm về tác phẩm của mình, sợ anh ta mù tịt thì khó xử cho cả hai. Tôi định nói sang chuyện khác nhưng anh độc giả lại cứ muốn nói về văn học.
-Tôi có đủ cả tác phẩm của anh. Anh viết nhiều như thế chắc phải có vốn sống ghê gớm lắm. Nào là Vua Mèo, Vượt Biển, Nổi loạn, Vùng Biển Mất Tích, Lạc Đường, Cuộc Cách Mạng Bị Thất Lạc, Kẻ Tử Đạo Cuối Cùng… mỗi tác phẩm một đề tài khác nhau, đề tài nào cũng độc chiêu…
Tôi bắt đầu thích anh chàng này. Hắn “khá” quá. Hắn thuộc vanh vách các tác phẩm của tôi, kể cả những cuốn tôi in cách đây trên hai mươi năm. Tôi khen hắn một câu:
-Trí nhớ của anh thật tuyệt. Nhưng trong số những tác phẩm ấy anh thích cuốn nào nhất?
-Cuốn nào cũng thích. Chẳng hạn như Vua Mèo. Một đề tài rất lạ. Xưa nay gần như chưa có nhà văn nào viết về dân tộc Mèo ở Hà Giang. Còn Kẻ Tử Đạo Cuối Cùng là một đề tài rất nhạy cảm mà anh cũng dám đụng tới. Bên đạo Thiên Chúa họ có ý kiến gì không?
Thôi rồi! Mình lại vớ phải một anh chàng tán phét, bởi vì cuốn Vua Mèo tôi lấy cảm hứng từ thi sĩ Bùi Giáng còn cuốn Kẻ Tử Đạo Cuối Cùng chỉ là một ngụ ngôn về triết học Mác Lê Nin.
Tôi nản đến độ chỉ muốn bỏ đi chỗ khác. Nhưng trước khi đi, tôi hỏi hắn một câu:
-Xin lỗi, anh công tác ở đâu vậy?
Hắn rút trong ví ra một thấm danh thiếp, đưa cho tôi và nói:
-Tôi quản thủ một cái thư viện, ở đó có hơn hai chục ngàn đầu sách.
*
Bây giờ ngẫm lại, không việc gì mình phải buồn vì những điều đó. Trong thời đại Internet này, thông tin bùng nổ, không ai có thì giờ đọc sách ngoại trừ những cuốn rất nổi tiếng. Nhưng dù có nổi tiếng cỡ nào thì cũng chỉ những người yêu văn chương chữ nghĩa may ra mới đọc hết tác phẩm và thưởng thức nó trọn vẹn, còn lại thì cũng chỉ đọc vài chương đầu, vài chương giữa rồi thì là mấy trang cuối sách là xong.
Cái họ cần biết là nội dung cuốn sách nói gì. Là thời sự, là những vấn đề chính trị. Những thứ đó họ tìm dễ dàng trên mạng Internet. Văn chương là thứ xa xỉ, phù phiếm. Mà hình như những bài báo trên Blog, trên Website cũng sắp trở nên lỗi thời rồi.
Họ thích tìm những thứ ngắn gọn hơn, nhanh hơn, đó là Twitter, là Facebook.
Biết sắp bị bắt, Bí thư Nam Kinh nhảy lầu tự vẫn bất thành
HỒNG THỦY
(GDVN) - Dương Vệ Trạch nhìn thấy các nhân viên điều tra của Ủy ban Kiểm tra kỷ luật thì lập tức lao về phía cửa sổ toan nhảy lầu tự vẫn.
Chính ủy Quân đoàn uống rượu xin ngân sách, mỗi ly được 160 ngàn USDBắt tiếp em dâu vợ Lệnh Kế Hoạch"Vợ chồng Giang Trạch Dân xuất hiện, không tờ báo Trung Quốc nào đưa tin"
| Cựu Bí thư Nam Kinh Dương Vệ Trạch. |
Đa Chiều ngày 25/1 đưa tin, kể từ khi bị Ủy ban Kiểm tra kỷ luật trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc bắt hôm 4/1, những "chuyện cũ" về Dương Vệ Trạch - cựu Bí thư thành ủy Nam Kinh bị truyền thông Trung Quốc đua nhau khai thác. Gần đây báo chí nước này lại tiết lộ rằng trước lúc bị các nhà điều tra giải đi, Dương Vệ Trạch đã lao ra cửa sổ định nhảy lầu tự vẫn nhưng bị ngăn cản kịp thời.
Vụ bắt Dương Vệ Trạch được Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật trung ương công bố lúc 19 giờ 45 phút tối 4/1. Tờ Thương báo Trường Giang dẫn nguồn tin nội bộ nói rằng, chiều 4/1 Dương Vệ Trạch đang chủ trì cuộc họp "sinh hoạt dân chủ thành ủy Nam Kinh" thì nhận được điện thoại của một lãnh đạo tỉnh Giang Tô gọi lên tỉnh dự họp. Sau cuộc họp sinh hoạt dân chủ ở thành ủy, Dương Vệ Trạch gọi điện xác minh một số quan chức đồng cấp về cuộc họp bất thường, sau đó trầm ngâm hút thuốc tại văn phòng hồi lâu.
Khi tới trụ sở tình ủy Giang Tô theo cuộc hẹn, Dương Vệ Trạch nhìn thấy các nhân viên điều tra của Ủy ban Kiểm tra kỷ luật thì lập tức lao về phía cửa sổ toan nhảy lầu tự vẫn, nhưng các nhân viên điều tra đã kịp thời ngăn cản, "nguồn tin nội bộ" nói với Thương báo Trường Giang.
Sau khi Trạch bị bắt, thư ký riêng của ông là Trương Chí Viêm - Phó Chủ nhiệm văn phòng thành ủy Nam Kinh cùng vợ ông Trạch, công trình sư cao cấp sở Giao thông Vận tải Giang Tô Thái Thanh Bội cũng bị bắt.
Gần đây nhất hôm 23/1 website Ủy ban Kiểm tra kỷ luật công bố điều tra Hứa Cương, Bí thư đảng đoàn Tân Khu, Vô Tích. Ông Cương được cho là một "ái tướng" của Dương Vệ Trạch thời ông Trạch còn nắm quyền quản lý Vô Tích.
Cùng ngày công bố chính thức điều tra Dương Vệ Trạch, hồng nhan tri kỷ của Trạch là Dư Hải Yến - Trưởng phòng Tuyên truyền đảng đoàn Tân Khu, Vô Tích cũng bị bắt. Theo điều tra của Thương báo Trường Giang, Dư Hải Yến sinh năm 1977 ở Nghi Hưng tỉnh Giang Tô, tốt nghiệp đại học sư phạm Bắc Kinh và hiện có 1 con gái 5 tuổi.
Dư Hải Yến được bổ nhiệm Trưởng phòng Tuyên truyền năm 2011 và kể từ đó thường xuyên tháp tùng Bí thư thành ủy Nam Kinh Dương Vệ Trạch mỗi khi đi công tác hoặc tham dự hội nghị giao ban cán bộ. "Nguồn tin riêng" còn nói với Thương báo Trường Giang rằng bố đẻ của Dư Hải Yến cũng bị bắt.
Thậm chí bé gái 5 tuổi cũng bị các nhân viên điều tra đưa đi vài giờ để làm giám định ADN. Trước khi bị bắt vài ngày, Dư Hải Yến đã mua rất nhiều quần áo cho con gái có thể mặc đến năm 10 tuổi, có lẽ cô đã cảm nhận thấy một khi xảy sự thì không thể nhanh chóng ra tù trong thời gian ngắn.
Một thời Dương Vệ Trạch được xem như ngôi sao sáng trên bầu trời chính trị Giang Tô. Ông Trạch sinh năm 1962 tại thị trấn Trương Chi Sơn thành phố Nam Thông. Trong ký ức của những người già quê ông, Dương Vệ Trạch là người hiền lành chịu khó và khá ít nói. Năm 2006 Dương Vệ Trạch trở thành Tỉnh ủy viên Giang Tô khi mới 44 tuổi.
Tờ Tân Kinh xuất bản tại Bắc Kinh thì cho biết, trong 300 ngày cuối cùng trên ghế Bí thư Nam Kinh, Dương Vệ Trạch lớn tiếng ủng hộ chiến dịch đả hổ đập ruồi của Tập Cận Bình, ra sức chỉ trích Lý Kiến Nghiệp - Thị trưởng Nam Kinh bị bắt trước đó. Ông Lý Kiến Nghiệp được truyền thông người Hoa hải ngoại xem như "đại quản gia" của cựu lãnh đạo Giang Trạch Dân.
Đồng thời Dương Vệ Trạch còn dốc toàn lực tổ chức kỷ niệm cuộc thảm sát Nam Kinh và Olympic Nam Kinh, bởi cả 2 sự kiện này Tập Cận Bình đều đến dự. Tân Kinh dẫn nguồn tin giới quan sát cho rằng, 2 lần nỗ lực của Dương Vệ Trạch chỉ nhằm lấy lòng ông Bình và giữ lấy sinh mạng chính trị của mình bởi ngay từ đầu năm 2014 đã có tin đồn Dương Vệ Trạch sớm muộn cũng bị sờ gáy.
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2015
Không phải là bình thì phải?
"Biên bản chiến tranh" đoạt giải thưởng Hội Nhà văn 2014, và lời bình Nguyễn Hoàng Đức
Cuốn sách xuất bản khoảng giữa năm 2014 (đã nhắc đến ở entry trước).
Dưới là tin về Giải thưởng Hội Nhà văn năm 2014. Một năm toàn các trưởng thượng hàng cha chú được nhận giải. Tiếp theo đó là lời bình của Nguyễn Hoàng Đức (bác Đức nhầm ở chỗ ghi dân số Nhật Bản).
---
Công bố giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam năm 2014
21/01/2015 15:57
(TNO) Ngày 21.1, Hội Nhà văn Việt Nam đã công bố các tác giả đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2014 và danh sách 50 hội viên vừa được kết nạp.
Về văn xuôi, tập Biên bản chiến tranh 1-2-3-4/75 của nhà văn Trần Mai Hạnh được trao giải; giải thưởng về thơ được trao cho tập Trường ca-Kịch thơ của nhà thơ Nguyễn Thụy Kha; về lý luận phê bình, giải thưởng được trao cho tập tiểu luận Thơ VN hiện đại-tiến trình và hiện tượng của nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Điệp và tập Trăm năm trong cõi của nhà phê bình văn học-GS Phong Lê; giải thưởng văn học dịch năm nay được trao cho dịch giả Đào Minh Hiệp với tiểu thuyết Cuộc chiến đi qua, của tác giả Kanta Ibragimov.
Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm nay không có khuôn mặt trẻ nào. Nguyễn Đăng Điệp trẻ nhất cũng đã 53 tuổi, các tác giả còn lại đều trên dưới 70 tuổi.
Giải thưởng văn xuôi và thơ được trao cho hai tác giả quen thuộc, thuộc “thế hệ chống Mỹ” là nhà văn kiêm nhà báo Trần Mai Hạnh, nguyên phóng viên TTXVN, người có mặt trong Dinh Độc Lập ngay trong ngày kết thúc chiến tranh 30.4.1975 và nhà thơ Nguyễn Thụy Kha, một khuôn mặt khá quen thuộc trong các chương trình âm nhạc trên VTV.
Năm nay, Hội Nhà văn “phá kỷ lục” trong việc kết nạp hội viên với 50 người trong tổng số 626 đơn xin vào Hội.
Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm nay không có khuôn mặt trẻ nào. Nguyễn Đăng Điệp trẻ nhất cũng đã 53 tuổi, các tác giả còn lại đều trên dưới 70 tuổi.
Giải thưởng văn xuôi và thơ được trao cho hai tác giả quen thuộc, thuộc “thế hệ chống Mỹ” là nhà văn kiêm nhà báo Trần Mai Hạnh, nguyên phóng viên TTXVN, người có mặt trong Dinh Độc Lập ngay trong ngày kết thúc chiến tranh 30.4.1975 và nhà thơ Nguyễn Thụy Kha, một khuôn mặt khá quen thuộc trong các chương trình âm nhạc trên VTV.
Năm nay, Hội Nhà văn “phá kỷ lục” trong việc kết nạp hội viên với 50 người trong tổng số 626 đơn xin vào Hội.
Paul Nguyễn Hoàng Đức
Mỗi năm nhìn giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam lại liên tưởng tới hợp tác xã gia công. Thử nhìn, nước ta mỗi đầu sách in ra với 90 triệu dân số chỉ có quanh co khoảng 1000, nếu luộc hết cỡ khoảng dăm nghìn, trong khi đó mỗi đầu sách ở nước Nhật dân số cũng chỉ hơn ta gấp ba lần nhưng ra cả triệu bản, nghĩa là mỗi đầu sách được đón đọc gấp khoảng một nghìn lần nước ta.
Sức đọc phản ánh nền văn học, sức đọc văn học của ta chỉ ngang cấp xã ở Nhật, cho rộng dài đi thì dưới cấp huyện. Cường quốc là khái niệm nước lớn, nhưng người ta vẫn bảo: Nước Mỹ là cường quốc nhưng là tiểu quốc về bóng đá. Có người đã tự nhận nước ta là cường quốc về thơ, vậy thì nước ta còn là cường quốc về nông nghiệp, cường quốc về vứt rác bừa bãi, cường quốc về thiểu năng trí tuệ khi làm dường xong mới đào lên đặt cống.
Và nền văn học dưới cấp huyện trên cấp xã của chúng ta chỉ là một nền văn học nông dân, học, rồi đi bộ đội hay công nhân để được thoát ly, không phải đội mưa gió ngoài đồng, “ăn cơn chúa múa tối ngày”. Văn nghệ mới đầu mục đích chỉ là phong trào để kích thích động viên sản xuất và chiến đấu. Rồi tiếp diễn các anh chị công –nông – binh cứ à uôm viết tiến lên. Anh nào quá giỏi hay xuất sắc cũng thường chỉ được một bài. Rồi lại lao vào “học nhi ưu tắc sĩ” (học giỏi làm quan). Giải thưởng năm nay chủ yếu giải quyết chính sách hưu hạ cánh an toàn cho các bác cả đời đã thành bã văn thơ, không có khả năng đội trần hay đạp trần, mà chỉ có khả năng luồn cúi ngang lưng lãnh đạo. Hãy xem những giải:
“Theo thông tin từ Hội Nhà văn Việt Nam, các giải thưởng của Hội năm 2014 thuộc về: Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia), tiểu thuyết tư liệu của Trần Mai Hạnh; Trường ca ngắn, kịch thơ (Nhà xuất bản Hội Nhà văn) của Nguyễn Thuỵ Kha; Trăm năm trong cõi... (Nhà xuất bản Văn học), lý luận phê bình của Phong Lê và Thơ Việt Nam hiện đại, tiến trình và hình tượng (Nhà xuất bản Văn học), lý luận phê bình của Nguyễn Đăng Điệp…”
Giải thơ năm ngoái thì trao cho đại ca Thanh Thảo với tập ấm ớ từ cái tên “Trường ca chân đất” văng cả cứt đái vào thơ, rồi Năm Trì gãi háng, rồi Phạm Đương, khi bị tố là đạo nguyên si cả tên đầu đề, Hội nhà văn cứ giả điếc trao bừa, coi như ta cứ trao bừa cho giải ăn cắp là ta không ăn cắp. Còn năm nay trao cho Thụy Kha cũng là một đầu gấu. Mọi người cứ nghiệm đi sang năm dù các đại ca này có ra những tập thơ hay hơn, cũng không đến lượt vì còn giành cho người khác xếp hàng.
Còn hãy nghe tài năng thơ xuất sắc của Nguyễn Thụy Kha một đại ca được mệnh danh là “con quạ của những xác chết” qua nhưng vần thơ được chắt lọc nhất:
“Tôi con dân chính gốc Hải Phòng/ Cả ấu thơ chưa hề đến biển. Năm ấy tôi mười ba tuổi/ Lần đầu tiên nghỉ hè cắm trại Đồ Sơn/ Lần đầu tiên chân chạm sóng đại dương/ (…) Năm ấy chúng tôi đâu biết có một chuyện bất ngờ đã từ đây sẽ xảy ra/ Chúng tôi thì lạc đường nhưng những người lính hải quân lại đang tìm đường mới/ Và cái vịnh khuất nẻo này sẽ là nơi xuất phát/ Của một đoàn tàu dũng cảm ra đi/ (… )/ Năm nay tôi sáu ba tuổi/ Lại trở về thung lũng xanh gặp tuổi mười ba/ Tần ngần nhớ ngày xưa bên mốc số không/ bên tượng đài thủy quân tàu không số/ Bất chợt thấy dâng lên quanh mình bao cực sóng/Thấy hồn mình cũng hóa thành cực sóng/ Để mãi mãi dạt dào sóng vọng Biển Đông/ Để Tổ quốc Việt Nam muon đời đứng vững/ Cong một đường thái cực thiêng liêng.”
Thơ văn là phải vướt qua thông tin cấp một mới là thơ văn, đằng này 99% những câu thơ trên là thông tin cấp một. Giờ tôi xin làm một khúc thơ vu vơ nhưng hay hơn:
Tôi là con gà gốc Đông Cảo, cả đời tôi chưa thấy hồ, ngày đó tôi 13 tháng tuổi, lần đầu tiên bị đem ra chợ Lồng, tôi đâu biết chuyện bất ngờ gì sẽ xảy ra, tôi được rao bán đúng lúc người ta tuyển quân băng dãy Trường Sơn… Một cụ bà vừa khóc vừa mua tôi, cụ đem về cúng cầu may cho con cụ qua khỏi cảnh chiến trường, cụ già lẩm cẩm chập chạp, tôi đạp tung lồng thoát khỏi… Ngày con cụ về đòi bắt tôi giết thịt ăn mừng/ nhưng cụ khóc lóc văn xin và bảo vía của tôi là gà thoát chết thì con mới thoát, mẹ nuôi nó thành gà già để kỷ niệm ngày con thoát trở về/ Sướng quá tôi đứng trên đỉnh lồng như đứng trên đầu trái đất gáy vang một khúc bất tử thiêng liêng!...
Thôi những thơ mậu dịch này, chỉ là chứng minh cho cơ chế cơ quan ăn tem phiếu nhạt hoét. Những cán bộ trong hệ mậu dịch hý hửng thấy mình lúc nào cũng là quả pháo hoa đứng xếp hàng trên đầu nòng súng. Họ đâu có biết viên đạn muốn bay cao thì phải được bắn đi từ đáy cò. Và thơ họ rút cục mãi mãi chỉ là pháo hoa rụng như bọt xà phòng ngay đầu cuống rơm.
Paul Đức 25/01/2015
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)