Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2015

Người không lạ, Văn lạ!

TP - Cung Tích Biền có lối nói chuyện rất có duyên và lôi cuốn - anh em trong nghề nể lão ở sự uyên bác thông kim bác cổ, những khi thù tạc ít khi thấy lão khoe khoang văn chương chữ nghĩa nhưng đụng trận lão nói đâu ra đó khúc chiết rành mạch.
Tranh của nguyễn xuân hoàng
Tranh của nguyễn xuân hoàng.
Những buổi chiều đi chầm chậm - có một người hay ngồi một mình một ghế một bàn vài ba chai bia hiu hắt nơi quán cũ, ánh mắt cô độc nhìn về một cõi xa mù. Người đó là nhà văn Cung Tích Biền.
Có lần tôi đánh bạo đến ngồi cùng vì thú thực trong cái đám đông xa lạ hỗn mang kia tôi cũng không biết ngồi với ai. Tôi sợ hãi khi biết chắc rằng mình sẽ không làm vừa lòng được ai nếu phải ngồi chung bàn chung mâm với họ. Tôi rụt rè như gà phải cáo khi mở lời “Anh cho tôi ngồi với nhé!”.
Tôi chờ đợi một sự im lặng chết người hay một lời từ chối sấm sét hay chí ít cũng là cú lắc đầu cực nhọc. Nhưng không, đáp lại là một nụ cười “vi tiếu” của đôi mắt hấp háy sau đôi kính cận dày cộp kia - lão nói nhè nhẹ thân tình “Mời em cứ tự nhiên cho, anh em cả, mình biết Nguyễn Tấn Cứ mà” - lão khuyến khích chân tình. Tôi quen biết Cung Tích Biền như vậy.
Nhà thơ Phù Hư - người đã từng “ngậm thẻ qua sông” thời trận mạc chinh chiến - người đã từng thu mua buôn bán ve chai răng vàng bạc vụn thời khó khổ sau 75 cùng với Cung Tích Biền nói với tôi rằng “Lão Biền khó tính bỏ mẹ lão mà chịu ngồi với mầy thì đúng mầy phải là thứ gì đó đấy nhé”.
Ít khoe văn chương chữ nghĩa
Cung Tích Biền là một nhà văn thuộc loại “hàng độc, hàng hiếm” - tiền bối trong làng văn chương miền nam Sài Gòn khoảng thập niên 60 - 70. Tên thật là Trần Ngọc Thao - là một cây bút thời chiến cuộc máu me cay đắng dữ dội.
Theo hồi ức của nhiều nhà văn trước 75, lão từng là một trong vài ba cây bút viết truyện ngắn và truyện dài kỳ ăn khách trên các báo tạp chí của Sài Gòn cũ - một trang viết của lão các chủ báo phải trả cao ngất ngưởng, nghe đâu tương đương một hai chỉ vàng.
Lão đã từng tham gia quân đội chế độ cũ, nhưng là lính quân nhu, và đã giải ngũ năm 1973. Nghe đồn, thời chiến tranh lão là tay ăn chơi lang bạt kỳ hồ. Có lần trong một quán bar vũ trường nọ hứng chí thế nào không biết lão móc súng Colt 45 bắn đùng đùng làm dân chơi và lính tráng chạy tán loạn.
“Tao chỉ bắn lên trời thôi, nhắm vào mấy cái bóng đèn mấy chai rượu thôi”. Hỏi sao vậy, lão bảo “cũng không nhớ nữa, đi phát lương cho lính tráng ngoài trận địa hoài về thành phố buồn quá. Thấy chúng nó ăn chơi ngứa mắt nổ chơi”. Chuyện thời chiến là vậy...
Cung Tích Biền có lối nói chuyện rất có duyên và lôi cuốn - anh em trong nghề nể lão ở sự uyên bác thông kim bác cổ, những khi thù tạc ít khi thấy lão khoe khoang văn chương chữ nghĩa nhưng đụng trận lão nói đâu ra đó khúc chiết rành mạch. Mấy tay phê bình, Hán học, Tây học và cả Phật học lỡ gặp Biền thì hãy coi chừng “ăn nói cho cẩn thận” coi chừng lão “bắt giò” như không.
Có lần một tay ngôn ngữ học ở hải ngoại về, khi nói về ý nghĩa của cái tràng hạt mà Biền đang đeo trên tay, bị lão cật vấn lại đến nỗi tay này phải chịu thua đề nghị lão lý giải và lão đã trình bày thật tường tận khiến quần hào bái phục. Ngồi nhậu chơi với lão có cái hay là học được nhiều điều, vì cái gì Cung Tích Biền cũng thích nói cho cạn nguồn cơn cuộc, rõ ràng hết nghĩa.
Vậy mà đọc văn của Cung Tích Biền người ta không thấy bóng dáng đâu là bí hiểm trập trùng của ngôn ngữ, đâu là chữ nghĩa triết thuyết. Vì như lão nói: cái này không thể áp dụng vào sáng tạo văn chương được. Và lão định nghĩa “Văn chương là cái sáng tạo, nhà văn thì làm Chữ - nó sáng lập ra một đời sống mới. Nó không phải như nhà viết sử hay nhà triết học!”.
Văn chương và rong chơi phiêu bồng là cuộc đi không bao giờ dừng của Cung Tích Biền - và hình như là của tất cả bọn văn nghệ nữa - nên viết về những kẻ “ngoài vòng pháp luật của gia giáo” này cũng không thể thiếu Biền, nhưng có một điều lạ họ vẫn có một gia đình đàng hoàng và hình bóng trụ cột không thể thiếu đó là những người vợ luôn đứng sau lưng mấy tay “gươm đàn nữa gánh, văn chương một bồ này” - những người phụ nữ mà nhà văn cung kính gọi là “Mẹ Quan thế Âm Bồ Tát” - nếu thiếu họ chắc chắn mấy “ông thần” này đã hết linh và xuống địa ngục từ lâu rồi.
Một hôm, tôi đang chạy trên đường đông đúc tấp nập, tự nhiên có một thằng cha lái xe chạy vèo vèo trước mặt, trên một chiếc DD lạc thời màu đỏ thắm. Đã vậy hắn còn “đánh võng” trước đầu xe tôi nữa.
Điên tiết tôi phóng xe theo định nạt một trận, nhưng trời đất ơi, trước mặt tôi là ông bạn già Cung Tích Biền. Lão rũ rũ cái đầu bạc phơ cười he he bảo: “Đi đâu vậy chú em, muốn đi nhậu không theo “qua”?” - “ Ừ thì chơi với ông anh luôn sợ gì!”. Chưa dứt lời lão đã phóng vút luôn, tôi chạy theo muốn hụt hơi trong khi lão vẫn “lăng ba vi bộ” dzòng dzòng lạng lách.
Bãi đáp là một phòng trà giữa trưa ở đường Lê Lợi Q1 Sài Gòn. Lão dựng xe điệu nghệ kéo tôi chui tọt vào trong cái mê cung mù mịt chớp sáng khói ảo kia, vừa đi lão vừa giới thiệu “Đây là nơi nhảy nhót của quí bà U 30-40 trở lên và chỉ có vào buổi trưa thôi, vui lắm... Suốt buổi trưa tôi chỉ ngồi lai rai và nhìn lão dìu từng “em” lịch sự đi những bước lả lướt - lúc này trông lão như một chàng đôi mươi.
Lão nhảy đẹp và chuyên nghiệp đến nỗi “em” nào cũng muốn lướt đi trong vòng tay của lão. Lợi dụng lúc nghỉ giải lao, tôi khều khều: “Rồi có... “thơ mộng” không?” - Lão cười cười “cũng không biết nữa, nhưng chị em ở đây dễ thương chịu chơi lắm, em muốn thì ở lại chơi tiếp, còn “qua” phải về với bà nhà, hề hề” - nói xong lão biến mất như chưa từng bao giờ biết cái cõi ta bà ấy...
Chưa xong việc nên Ông Trời chưa cho đi
Cung Tích Biền là một nhà văn đúng nghĩa - là lao động cật lực cô độc cho đến chết, buồn vui mơ mộng với tác phẩm của mình cho đến rách gáy - mà không cần biết nó sẽ ra sao.
Sau năm 75, anh em tưởng lão tắt tiếng sau những thị phi ngộ nhận trời ơi dập dày trầy trật, buồn khủng khiếp nhưng càng buồn lão càng lao vào trang viết như cơn bão ngầm - lão vẫn âm thầm đều đều sáng tác - thập niên 90 ở Việt Nam, làn gió đổi mới với những cây bút như Nguyễn Huy Thiệp - Phạm Thị Hoài… xuất hiện hàng loạt - lúc ấy người ta thấy hai tác phẩm của Cung Tích Biền xuất hiện “Chim cánh cụt “ và “Những ngày lưu lạc” cùng với vài truyện ngắn in trong “Truyện ngắn xuất sắc thế kỷ 20” (NXB Kim Đồng); tạp chí Sông Hương, báo Văn Nghệ.
Nhưng chưa được bao lâu, không hiểu sao lão bị một số người ở cả trong nước lẫn hải ngoại quy chụp đủ thứ trên các diễn đàn. Cũng chẳng có gì nghiêm trọng hơn nhưng sợ quá lão trốn biệt văn đàn. Nhưng lão vẫn làm việc khủng khiếp, từ sáng tinh mơ cho tới chiều tà.
Từ ngày vợ con đi định cư ở Mỹ cũng cả năm rồi, lão ở nhà một mình một bóng với cái computer, chỉ xê dịch từ nhà ra quán nhậu Mai Rừng Phú Nhuận gần đó khi cần phải hẹn với anh em văn nghệ nhậu lai rai.
Lão rất ngại đi xa, có lần lão đã bị tụi quái xế tung cho một phát “bán mạng”, phải nằm viện gần cả tháng. Lão cười khà khà cảm thán: “Chưa xong việc nên Ông Trời chưa cho “qua” đi đâu!”.
Nghe anh em kể rằng, lão cũng có Visa cùng gia đình đi xuất cảnh nhưng khi ra đến cửa khẩu Tân Sơn Nhất, lúc vào phòng cách ly lão đã lẻn trốn ra ngoài rồi dông thẳng tới quán 81 Trần Quốc Thảo - ngay trụ sở Hội LH VH-NT TPHCM ngồi nhậu ngơ ngác một mình và ở lại cho đến tận bây giờ.
Hỏi sao không đi, lão cười đọc hai câu thơ Bùi Giáng “Hỏi rằng quê ở nơi đâu/ Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà” “Đi làm quái gì khi mà ở đó anh không đi quá khỏi cái mép bàn của mình, ở đây vui hơn!”.
Gần đây Cung Tích Biền và lão họa sĩ Trịnh Cung không biết có chuyện gì vui mà hay phone cho nhau hoài, và hình như có lúc cũng giận nhau nữa. Trời đất ơi, hai con sói già của cánh rừng văn chương miền Nam còn sót lại giữa Sài Gòn bụi bặm, giận nhau làm chi? Biền than trời: “Bây giờ sức yếu quá nên muốn làm chuyện gì cũng phải suy nghĩ chắc chắn cái đã bạn tui ơi”. Trịnh Cung quặc lại: “Thằng đó mà già yếu cái gì? Còn nhậu nhẹt với tụi bây um sùm, xạo quá!”.
Cung Tích Biền cứ như một lão Đông Phương bất bại dù đã nhiều lần vào sinh ra tử, trong khi nhiều người cùng thời đã ra đi về miền tịch mịch. Mà nghe rằng trong người lão toàn là những căn bệnh nan y khủng khiếp, nhưng khi lão mà hứng lên là anh em chạy theo muốn hụt hơi.
Gần đây nghe lão “hú” qua phone, câu cửa miệng lúc nào cũng là “đang lai rai ở đâu đó?” - bảo đảm nếu gần nhà lão sẽ bay tới ngay. Cho tới khi tàn cuộc chia tay bao giờ lão cũng đọc hai câu thơ của Bùi Giáng “Chào nhau ở giữa con đường/Mùa xuân phía trước miên trường phía sau”. Rồi thì lão lững thững như một lãn ông, cà tưng đi bộ tà tà về nhà… ngồi vào bàn và viết.
Chiếc ví ba ngăn
Cung Tích Biền ở lại quê nhà trong khi cả nhà đi Mỹ. Ở một mình, với những chuyến đi rong ta bà, lão biết rằng đôi khi cái gì đến cũng không ai lường trước được, nên lúc nào trong bóp của lão cũng có ba ngăn đựng tiền kèm theo số phone nhà và bạn bè.
Lão bảo “Lỡ có mệnh hệ gì người ta sẽ lấy cái tiền ấy mà làm phúc cho thằng già này. Cụ thể như sau: ngăn thứ nhất có tờ 50 USD nếu đụng chuyện lớn thì họ sẽ dùng để kêu taxi hay xe cấp cứu chuyển giùm đến nhà thương. Ngăn thứ hai đựng 30 USD nếu bị nhẹ hơn thì họ dùng nó để phone cho người thân và có phương tiện xích lô hay xe ôm đưa về nhà. Và ngăn thứ ba có 10 USD, cái này là để đi nhậu lai rai với anh em.
Anh em văn nghệ gọi ngăn nầy là ngăn “đặc biệt” tiền sinh tử của Cung Tích Biền nên hình như nó . . . không bao giờ hết ?!? Nói vui vậy thôi chứ mỗi lần ngồi với nhau anh em đều thấy lão đóng góp đàng hoàng. Nhưng nhiều khi vui quá khi nghe lão nói chuyện văn chuyện làng anh em nhiều khi quên khuấy mất – dĩ nhiên anh em gọi đây là “ nhuận nói” cho ông bạn già của mình.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Truyện ngắn “Con cừu đen”

Truyện ngắn “Con cừu đen” được nhà văn hậu hiện đại người Ý Italo Calvino viết vào ngày 30/07/1944, lúc ông 21 tuổi. Câu chuyện có thể tóm tắt như sau: Ở một xứ nọ, mọi người đều là kẻ trộm. Họ vui vẻ sống với nhau mà chẳng ai thiệt thòi gì bởi kẻ này ăn trộm của kẻ khác, kẻ khác lại ăn trộm của kẻ khác nữa và cứ tiếp tục như thế cho đến khi kẻ cuối cùng ăn trộm của kẻ đầu tiên. Không ai nghèo đi, không ai giàu thêm. Cuộc sống thật hạnh phúc.
Một ngày, một người đàn ông trong sạch đến xứ ấy. Anh ta không trộm của ai nên chẳng mấy chốc anh trở nên nghèo đói bởi liên tục bị trộm trong khi một số kẻ khác giàu lên vì trộm được của anh. Vì giàu, họ không cần đi ăn trộm nữa mà… thuê người ăn trộm giúp mình và lại càng giàu thêm nữa trong khi những người khác nghèo đi. Vì quá giàu, họ… thuê người canh giữ tài sản cho mình và lại càng giàu thêm, lại càng có nhiều người nghèo thêm. Con người trong sạch duy nhất chính là con người lúc đầu ấy, nhưng anh ta đã chết từ sớm, vì đói.
Nếu chẳng may bạn phải sống ở một xứ sở lạ lùng- nơi mọi người đều là kẻ trộm thì bạn sẽ làm gì? Bạn sẽ tham gia vào hệ thống giống như mọi người hay là khẳng khái nói rằng: “Có khá nhiều người rất bẩn thỉu, nhưng tôi là một người trong sạch. Có khá nhiều người đã uống say, duy có tôi là vẫn tỉnh táo…”, để rồi chết như Khuất Nguyên nhằm giữ gìn sự trong sạch của mình?
Nếu chẳng may bạn phải sống ở một xứ sở lạ lùng – nơi mọi người đều là kẻ trộm thì bạn sẽ làm gì? Bạn sẽ tham gia vào hệ thống giống như mọi người hay là khẳng khái nói rằng: “Có khá nhiều người rất bẩn thỉu, nhưng tôi là một người trong sạch. Có khá nhiều người đã uống say, duy có tôi là vẫn tỉnh táo…”, để rồi chết như Khuất Nguyên nhằm giữ gìn sự trong sạch của mình?
Nếu chẳng may bạn phải sống ở một xứ sở lạ lùng – nơi mọi người đều là kẻ trộm thì bạn sẽ làm gì? Bạn sẽ tham gia vào hệ thống giống như mọi người hay là khẳng khái nói rằng: “Có khá nhiều người rất bẩn thỉu, nhưng tôi là một người trong sạch. Có khá nhiều người đã uống say, duy có tôi là vẫn tỉnh táo…”, để rồi chết như Khuất Nguyên nhằm giữ gìn sự trong sạch của mình?

Thực tế thì rất nhiều kẻ trộm đang ở trong tù vì tội trộm cắp, rất nhiều người được gọi là kẻ trộm với nghề nghiệp đặc thù của mình nhưng vẫn sống bên ngoài vòng pháp luật, nhưng phần lớn chúng ta đều nghĩ mình trong sạch như Khuất Nguyên. Bởi vì mọi người thường có xu hướng hiểu trộm cắp là hành vi phạm tội khi một người hoặc một nhóm người lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật, đối tượng tác động có thể là tiền, dịch vụ, thông tin…, mà không có sự cho phép của chủ tài sản (theo Điều 138, Bộ luật Hình sự Việt Nam 1999, điều 100 Bộ luật tố tụng hình sự 2004).
Tuy nhiên, trộm cắp nên được nhìn nhận theo nghĩa rộng hơn là tước đoạt quyền sở hữu chính đáng của món đồ, lấy đi những thứ vốn không thuộc về mình. Nạn trộm cắp nhìn theo hướng rộng này đáng sợ hơn vì nó đang xảy ra ở nhiều nơi, nhiều người là thủ phạm nhưng hài hước là tất cả đều mắc chung một căn bệnh là “trừ mình ra”.
Quan trộm kiểu quan
Những người có chức có quyền dễ dàng chiếm đoạt những thứ không phải của họ hơn số đông dân thường còn lại và hành vi của họ thường được gọi là tham nhũng. Bởi tham nhũng, bản chất chính là ăn trộm, ăn cắp.
Có những vụ “trộm cắp nhỏ, vặt vãnh” để ăn cắp tiền và thời gian. Thủ phạm của những vụ trộm này bắt buộc phải là quan chức, có kỹ năng trộm cắp bằng việc sách nhiễu, cố ý gây phiền hà cho người dân mục đích là buộc người dân muốn được việc thì phải móc tiền trong túi ra một cách tự nguyện. Thủ đoạn của kiểu tham nhũng – ăn cắp này là cố ý làm phức tạp hóa những việc đơn giản để ăn cắp.
Có những vụ trộm cắp lớn trong những giao dịch tìm kiếm việc làm, thuyên chuyển, cất nhắc, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ. Những giao dịch, thỏa thuận mua chức bán quyền này thường đi kèm tác nhân môi giới, trung gian, tạo ra luật chơi bất thành văn và hình thành những quy định ngầm được điều tiết bằng quan hệ và tiền tệ. Nó tạo ra cách hành xử theo kiểu tạm ứng trước, thu hồi sau, trộm cắp đẻ ra trộm cắp.
Có vụ trộm cực lớn kết hợp theo nhóm, gọi là lợi ích nhóm. Đây là dạng trộm cắp có tổ chức, có chủ mưu và được bao che bởi hệ thống, cơ chế chính trị – xã hội. Loại tham nhũng này thường xảy ra ở các hoạt động dự án, đấu thầu, các hợp đồng kinh tế, đất đai, tài chính – ngân hàng, xuất nhập khẩu, xây dựng hạ tầng, mở mang khu công nghiệp, đô thị, dịch vụ giáo dục, y tế, khoa học – công nghệ, các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế. Đất đai và thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, đền bù giải tỏa, kinh doanh bất động sản chỉ là một trong những trường hợp, những tình huống nổi bật trong vô số nhiều những trường hợp, những tình huống trộm cắp tai tiếng hiện nay.
Dân trộm kiểu dân …
Dân không thể “trộm cắp lớn” như quan, vì không có nhiều cơ hội, do thiếu vị trí chức quyền trong xã hội. Nhưng những “tấm gương sáng” của quan khiến dân yên tâm “trộm cắp bé”. Những vụ trộm cắp bé tưởng như vô thưởng vô phạt đã tràn lan đến mức đáng báo động.
Ở nhiều nơi, người dân dùng đủ mọi cách để chiếm dụng tài sản công bằng đủ mọi hình thức và phương tiện, bất chấp đến pháp luật cũng như hậu quả tai hại cho xã hội và thế hệ tương lai. Nhỏ thì là xả rác bừa bãi, ăn cắp nơi công cộng, phá các công trình công, nặng thì lấn chiếm vỉa hè để bán hàng rong… Đáng báo động hơn cả là sự tham gia nhiệt tình của “dân đen” trong nạn chiếm đất công hay phá rừng, khai thác khoáng sản lậu, chiêu trò để mua tài sản công với giá rẻ, đút lót phong bì để có đặc quyền đặc lợi cho mình và gia đình và dòng họ mình…
Chưa kể, những vụ ăn cắp dưới dạng kiếm lợi bất chính. Phun thuốc kích thích vào rau quả, dùng tăng trọng trong chăn nuôi, bơm nước vào thịt để tăng cân, dùng hóa chất độc hại bảo quản thực phẩm, pha cồn thành rượu, chế biến thịt thối thành thịt tươi, đầu độc lẫn nhau. Tất cả những hành vi đó không phải trộm cắpcắp tiền bạc và sức khỏe của đồng bào thì là gì?
Quan tham, dân gian và hệ lụy
Có thể nói, nạn trộm cắp, gian dối trong xã hội đã mức báo động. Vì lòng tham, nhiều người đang sẵn sàng làm những việc trái với đạo lý, lương tâm, pháp luật. Quan trộm của dân, dân trộm của quan, dân trộm của chính dân. Một khi tất cả nhúng chàm thì xã hội không còn kỷ cương, dân và quan đều khinh nhờn pháp luật. Và rồi trong một vòng xoáy khi mỗi người vừa là nạn nhân của những kẻ trộm khác, nhưng cũng chính là thủ phạm của vô số vụ việc bất minh, chúng ta vẫn an nhiên sống hạnh phúc và quên hẳn đi hiểm họa nhãn tiền trong tương lai.
Hãy chậm rãi nhìn lại xung quanh. Cái xứ xở lạ lùng chỉ toàn người ăn trộm có vẻ chẳng ở đâu xa, chỉ có câu hỏi xã hội ấy rồi sẽ đi về đâu là không dễ trả lời. Liệu có phải chỉ có một con người trong sạch duy nhất chết, còn xã hội ăn cắp thành hệ thống vẫn hạnh phúc trường tồn cùng thời gian ?
Bản hoàn chỉnh
“ Ở một xứ nọ, mọi người đều là kẻ trộm.
Ban đêm, mọi người đều rời nhà với chùm chìa khoá cùng chiếc đèn lồng có vải che, và đến nhà một người láng giềng để ăn trộm. Họ trở về lúc rạng đông, với nhiều của cải, và thấy nhà của chính họ đã bị mất trộm.
Vì thế, mọi người vui vẻ sống với nhau, và chẳng ai thiệt thòi gì, bởi kẻ này ăn trộm của kẻ khác, kẻ khác lại ăn trộm của kẻ khác nữa, và cứ tiếp tục như thế đến khi kẻ cuối cùng ăn trộm của kẻ đầu tiên. Việc mua bán ở xứ ấy tất nhiên là việc người mua và kẻ bán lường gạt nhau. Chính phủ là một tổ chức tội phạm chuyên ăn trộm của nhân dân, và nhân dân chỉ chăm lo ăn trộm của chính phủ. Do đó, cuộc sống rất thoải mái, chẳng có ai giàu và chẳng có ai nghèo.
Một ngày nọ, chẳng biết vì sao một người đàn ông trong sạch lại đến sống ở xứ ấy. Ban đêm, thay vì ra đi với bao tải và chiếc đèn lồng, anh ta ở nhà hút thuốc lá và đọc tiểu thuyết.Kẻ trộm đến, thấy đèn sáng, nên không vào nhà.
Tình trạng này diễn ra trong một thời gian ngắn, và mọi người buộc lòng phải giải thích cho anh ta hiểu rằng ngay cả nếu anh muốn sống mà không làm việc thì cũng không có lý do gì anh lại ngăn cản những người khác làm việc. Mỗi đêm anh ở nhà nghĩa là ngày hôm sau một gia đình nào đó chẳng có cái gì để ăn.
Người đàn ông trong sạch khó lòng phản đối lý lẽ đó. Ban đêm, anh ta ra đi và sáng hôm sau anh ta về nhà giống như họ, nhưng anh ta không ăn trộm. Anh ta trong sạch, và bạn không thể làm gì khác để thay đổi bản tính ấy. Anh ta đi đến tận cây cầu và đứng nhìn nước trôi bên dưới. Khi về nhà, anh ta thấy mình đã bị mất trộm.
Chưa đến một tuần lễ, người đàn ông trong sạch không còn một xu dính túi, không còn gì để ăn và căn nhà trống rỗng. Nhưng đó chẳng phải là vấn đề, vì đó là lỗi của chính anh ta; không, vấn đề là thái độ của anh ta đã làm mọi sự đảo lộn. Bởi anh ta để những kẻ khác ăn trộm tất cả của cải của anh ta, mà anh ta lại không ăn trộm của ai cả, cho nên luôn luôn có kẻ về nhà vào lúc rạng đông và thấy nhà mình còn nguyên vẹn: đáng lẽ anh ta phải ăn trộm nhà ấy. Rốt cuộc, sau một thời gian ngắn, những kẻ không bị mất trộm thấy mình giàu có hơn người khác và không còn muốn đi ăn trộm. Tệ hại hơn nữa, những kẻ đến nhà của người đàn ông trong sạch để ăn trộm thấy nhà luôn luôn trống rỗng, do đó họ trở thành nghèo đói.
Trong lúc ấy, những kẻ đã trở nên giàu có lại nhiễm cái thói quen của người đàn ông trong sạch là đi đến cây cầu vào mỗi đêm để nhìn nước trôi bên dưới. Điều này làm sự rối loạn càng tăng thêm, bởi nó khiến cho nhiều kẻ khác trở nên giàu có và nhiều kẻ khác trở nên nghèo đói.
Thế rồi, những kẻ giàu có nhận ra rằng nếu đêm nào họ cũng đến cầu ngắm nước chảy thì chẳng mấy chốc họ lại trở nên nghèo. Và họ nghĩ: “Hãy trả lương để những đứa nghèo đi ăn trộm cho mình”. Rồi họ viết hợp đồng, quy định mức lương, tính huê hồng theo phần trăm: tất nhiên họ vẫn còn là những kẻ trộm, và họ vẫn muốn lừa đảo kẻ khác. Và điều phải xảy ra là kẻ giàu càng giàu thêm và kẻ nghèo càng nghèo thêm.
Một số kẻ giàu trở nên quá sức giàu đến mức họ thấy không cần ăn trộm hay thuê những kẻ khác ăn trộm cho mình để mình được tiếp tục giàu nữa. Nhưng nếu họ thôi ăn trộm, họ sẽ trở nên nghèo, bởi những kẻ nghèo ăn trộm của họ. Vì thế, họ trả lương để những kẻ nghèo nhất trong đám nghèo canh giữ của cải của họ khỏi bị bọn nghèo lấy trộm, và qua đó họ hình thành lực lượng công an và xây dựng những nhà tù.
Nói tóm lại, chỉ trong vòng vài năm sau khi người đàn ông trong sạch xuất hiện, người ta không còn nói đến chuyện ăn trộm và mất trộm, mà nói đến chuyện kẻ giàu và người nghèo; nhưng họ vẫn còn là những kẻ trộm.
Con người trong sạch duy nhất chính là con người lúc đầu ấy, nhưng anh ta đã chết từ sớm, vì đói.”
(TH)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

GIÁO SƯ TRẦN ĐÌNH SỬ ĐÃ LÊN ĐƯỜNG…CHẶNG MỚI



 Xuân Diện 
Tường thuật Tọa đàm "Trần Đình Sử trên đường biên của lí luận văn học" 

Nhân dịp ra mắt cuốn sách “Trên đường biên của Lý luận văn học” của tác giả Trần Đình Sử, chiều 23 tháng 1 năm 2015, Khoa Viết văn báo chí, ĐH Văn hóa HN đã tổ chức tọa đàm “Trần Đình Sử trên đường biên lý luận văn học”. Đông đảo các nhà lý luận phê bình văn học, các giảng viên, giáo sư đại học và các học viên cao học, nghiên cứu sinh đã đến dự. 

Trong một hội trường khiêm tốn, khoảng 60 người đã có mặt ngay từ khi buổi tọa đàm chưa bắt đầu, với sự có mặt của các học giả, nhà nghiên cứu: Đỗ Lai Thúy, La Khắc Hòa., Trương Đăng Dung, Nguyễn Hùng Vỹ, Đoàn Ánh Dương, Mai Anh Tuấn, Lưu Khánh Thơ, Đoàn Tử Huyến, Phạm Duy Nghĩa. Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Xuân Đức, Nguyễn Đức Mậu, Lại Nguyên Ân, Trần Ngọc Hiếu, Phùng Ngọc Kiếm… 

Cuộc tọa đàm do Nhà văn, PGS.TS Ngô Văn Giá, chủ nhiệm khoa Viết văn Báo chí (ngày xưa khoa này chính là một trường riêng, gọi là Trường Viết văn Nguyễn Du) chủ trì, và Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên dẫn dắt. 

Mở đầu, Văn Giá giới thiệu từng vị khách có mặt, với mục đích để cho sinh viên và học viên, nghiên cứu sinh được thấy những gương mặt khả kính của làng lý luận mà họ mới chỉ được đọc trên tác phẩm. Sau đó Phạm Xuân Nguyên giới thiệu về diễn giả cũng là tác giả của “Trên đường biên của Lý luận văn học” – Nhà lý luận Trần Đình Sử với những lời rất trân trọng, kính yêu. 

Đại để, ông Nguyên nói: Giáo sư Trần Đình Sử là một nhà lý luận phê bình được đào tạo chính quy nhất từ hai nước Liên Xô và Trung Quốc. Ông là nhà khoa học hàn lâm, đã từng giới thiệu lý thuyết về Thi pháp học về Việt Nam và áp dụng thành công (Thi pháp Truyện Kiều, thi pháp thơ Tố Hữu). Trần Đình Sử suốt đời theo dõi đời sống lý luận và đời sống văn học Việt Nam một cách sát sao, vì vậy tiếng nói của ông là tiếng nói của một người có thẩm quyền bậc nhất. Và hôm nay, nhân dịp xuất bản cuốn sách mới nhất khi ông 75 tuổi, ông sẽ dành cho chúng ta một vinh dự là được nghe ông nói về cuốn sách của mình.

Tiếp theo, Trần Đình Sử, với giọng nói âm sắc Bình Trị Thiên nhưng khá cuốn hút đã trình bày về 3 phần của cuốn sách, và đặc biệt nhấn mạnh đến phần 1 “Mấy vấn đề lí luận Marxist và lí thuyết hiện đại”. 

Ngắn gọn, súc tích, đầy đủ, chừng mực và giàu sức thuyết phục, ông nói về:

- Văn học và ý thức hệ xã hội, trong đó ông phân biệt ý thức hệ chính đảng với ý thức hệ giai cấp; ông nói rất, mạch lạc về ý thức hệ chỉnh thể. Và ông dứt khoát văn học chỉ có trong đó ý thức hệ chỉnh thể mà thôi. 

- Văn học phản ánh hiện thực là gì? Đó chính là đặc sản của Lenin. Thực ra, phản ánh không phải là coppy, sao chép, chụp ảnh, mà chính là sáng tạo và luôn phải có sáng tạo. 

- Về phương pháp sáng tác, ông khẳng định không có phương pháp sáng tác chung chung như bấy lâu nay mọi người vẫn hiểu, mà chỉ có phương pháp sáng tác riêng của từng nghệ sỹ. Ông cho biết cả Liên Xô (cũ) và Trung Quốc đều đã không còn dạy dỗ rao giảng gì về vấn đề phương pháp sáng tác như trước kia nữa. 

- Về lý thuyết hình tượng. Sai lầm của Lenin là không đề cập đến tính ký hiệu của hình tượng, đồng thời cũng chưa nói được bản chất giao tiếp của văn học nghệ thuật. 

- Về quan hệ văn học và hiện thực, ông cho rằng nhà văn không cần phải đi vào nhà máy, công xưởng, ruộng đồng. Nhà văn phản ánh ý nghĩa nhân sinh của cuộc sống. 

Trần Đình Sử kết thúc 30 phút trình bày của mình rằng: Lý luận văn học Mác xít có rất nhiều nhầm lẫn. Và chúng ta phải nhận thức lại. 

Tiếp theo, theo lời mời của Phạm Xuân Nguyên là lần lượt ý kiến của Phạm Xuân Nguyên, La Khắc Hòa, Trương Đăng Dung, Đỗ Lai Thúy, Trần Ngọc Hiếu, Lại Nguyên Ân, Văn Giá, Nguyễn Xuân Đức, Mai Anh Tuấn, Phùng Ngọc Kiếm, Đoàn Ánh Dương, Nguyễn Đăng Điệp. Riêng ba tiến sĩ Nguyễn Đức Mậu, Lưu Khánh Thơ, Nguyễn Xuân Diện (ngoại đạo) không được mời phát biểu.

 Nhà phê bình Lại Nguyên Ân (bên phải) phát biểu

 PGS.TS La Khắc Hòa phát biểu

 PGS. TS Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy phát biểu

GS. La Khắc Hòa khẳng định tầm quan trọng của vấn đề mà cuốn sách nêu ra, đó là phải truy vấn lại tất cả các lý thuyết mà chúng ta được trang bị lâu nay, hoài nghi, bàn thảo, truy vấn tất cả và cuối cùng là để kiến tạo những lý thuyết mới. 

Nhà phê bình Lại Nguyên Ân đánh giá cao sự xuất hiện của cuốn sách trong bối cảnh hiện nay khi mà bầu trời lý thuyết lý luận đầy u ám. 

Các nhà phê bình văn học trẻ như Trần Ngọc Hiếu, Mai Anh Tuấn, Đoàn Ánh Dương tìm thấy trong cuốn sách sự dẫn lối và nghe thấy trong đó hồi kèn hiệu triệu của một bậc lão làng trong làng phê bình, lý luận văn học. Mai Anh Tuấn, Nguyễn Đăng Điệp phát hiện cuốn sách xuyên suốt là một giọng điệu hóm hỉnh của một bậc trưởng thượng mà “ngoan đồng”. 

Là người phát biểu cuối cùng, bằng một giọng nói xúc động mà vui vẻ Giáo sư Trần Đình Sử đã nói lời tâm sự của một người cả đời đi tìm kiếm và áp dụng lý luận cho ngành phê bình và nghiên cứu văn học. 

Ông nói: “Nền lý luận mà chúng ta đang có cũ quá rồi! Quá date rồi! Chúng ta, trong đó có tôi đã sai lầm, đã ấu trĩ, đã ngộ nhận nhiều rồi. 

Các anh chị khi lên lớp hãy nói cho sinh viên rằng: Phản ánh hiện thực là Kiến tạo hiện thực. Khi dạy về hình tượng thì hãy nói Hình tượng là ký hiệu. Tất cả chúng ta hãy góp sức làm thay đổi hệ thống lý luận, làm thay đổi bức tranh lý luận. 

Đổi mới lý luận là phải có nhiều người cùng làm, mà mỗi người là một khác nhau chứ không phải là bè cánh. Tôi mừng thấy thế hệ trẻ đã có cái mới và sẽ đem cái mới về cho nền lý luận văn học của chúng ta”. 

Rồi ông nói vui: “Tôi là một tội đồ đã reo rắc bao nhiêu cũ kỹ, ấu trĩ, ngộ nhận cho bao nhiêu thế hệ sinh viên học sinh. Tôi muốn làm một việc gì đó, để sửa sai cho mình, trước hết được nói ở trong cuốn sách này”. 

Cuộc tọa đàm diễn ra trong 3 tiếng đồng hồ, với khoảng 60 người tham dự. Rất hiếm hoi có một cuộc sinh hoạt học thuật về lý luận mà lại hấp dẫn, lôi cuốn được từ đầu đến cuối trong chừng ấy tiếng đồng hồ.

PGS. TS. Nhà văn Văn Giá, trưởng khoa Viết Văn Báo Chí tặng hoa GS. TS Trần Đình Sử

Trần Đình Sử là Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Nhân Dân. Ông là một nhà khoa học uyên bác và có thẩm quyền trong làng lý luận văn học lâu nay. Với 75 tuổi đời, ông vẫn hàng ngày cặm cụi bên bàn làm việc nhiều giờ, đọc trực tiếp những bài viết, công trình mới nhất từ nguyên bản tiếng Nga và tiếng Trung trên bản điện tử, vẫn viết với cường độ mà nhiều anh em trẻ cũng khó theo kịp. Vẫn chấm các luận văn luận án, viết bài cho các hội thảo và theo dõi sát sao đời sống văn học và lý luận nước nhà. Trần Đình Sử đã là một cây đa, cây đề, một bậc danh vọng trong làng phê bình và nghiên cứu văn học. Sương tuyết đã nhuộm trắng mái đầu, Trần Đình Sử vẫn luôn đổi mới, quyết lòng tính sổ và bỏ lại phía sau những gì đã lỗi thời, lạc hậu, trì trệ và áp đặt thô thiển – mặc dù có khi chính cái đó đã mang lại danh vọng cho ông, để lên đường, chặng mới của một hành trình đổi mới lý luận văn học… 

Đã thấy một hồi kèn nổi lên, giục lòng những ai có thể dấn thân cho sáng tạo, để dâng hiến cho vườn lý luận một mùa mới trĩu quả sai cành!!!! 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Họ ngoan quá chứ tại sao nữa!

Tại sao xung quanh Kim Jong Un luôn có đội ngũ ghi chép?

Theo BBC, các bức ảnh về nhà lãnh đạo Triều Tiên đều có chung một chi tiết gây tò mò: quan chức và tướng lĩnh luôn đứng xung quanh ông Kim và cầm những quyển ghi chú giống nhau.
Theo James Grayson, chuyên gia về Triều Tiên tại Đại học Sheffield, Anh, điểm chung trong các bức ảnh do hãng thông tấn Trung ương Triều Tiên KCNA cung cấp về nhà lãnh đạo Kim Jong Un là trong các chuyến thăm của ông, một đội ngũ chuyên ghi chép luôn vây quanh. Đó không phải là nhà báo. Họ là các binh sĩ, quan chức chính phủ hoặc thành viên trong đảng. 
Các quan chức và tướng lĩnh luôn đứng quanh nhà lãnh đạo Kim Jong Un để ghi chép những lời ông nói. Ảnh: Getty.

Các quan chức và tướng lĩnh luôn đứng quanh nhà lãnh đạo Kim Jong Un để ghi chép những lời ông nói. Ảnh: Getty.
Hình ảnh của ông Kim khiến dư luận nhớ tới nhà lãnh đạo Kim Il Sung (Kim Nhật Thành) - người sáng lập Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên - vào những năm 1950. “Đó là một phần hình ảnh của lãnh tụ Kim Nhật Thành”, ông Grayson bình luận.
Theo BBC, mặc dù trên thực tế, những thiết bị điện tử như máy tính bảng, máy tính xách tay luôn có sẵn tại Triều Tiên, nhưng những cuốn sổ vẫn là phương tiện ghi chép ưa thích của giới lãnh đạo nước này.
“Những hình ảnh về ông Kim Jong Un sẽ được phát sóng trên truyền hình và trên các phương tiện truyền thông nhà nước. Do đó, các quan chức Triều Tiên muốn ghi lại từng lời của lãnh đạo”, ông Grayson giải thích.
Theo giáo sư Steve Tsang, chủ tịch Viện nghiên cứu Trung Quốc đương đại tại Đại học Nottingham, Anh, giới chức Triều Tiên thường không công bố các ghi chú và mọi thông tin trước khi thông báo tới công chúng đều phải do bộ phận tuyên truyền kiểm duyệt.









































































Phần nhận xét hiển thị trên trang

"Quân sư" đằng sau chiến dịch chống tham nhũng của ông Tập là ai?


Tập Cận Bình - Vương Kỳ Sơn là tâm điểm của truyền thông trong chiến dịch "đả hổ diệt ruồi". Nhưng có một nhân vật khác được cho là "quân sư" đằng sau các sách lược của ông Tập.

"Người thầm lặng" cạnh ông Tập
Kể từ đại hội đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XVIII (2012), cùng với"cơn bão" chống tham nhũng do Tập Cận Bình khởi xướng, Bí thư Ủy ban kiểm tra kỷ luật Trung ương Trung Quốc (CCDI) Vương Kỳ Sơn chính là tiêu điểm của truyền thông suốt 2 năm qua.
Ông Vương - nhân vật đứng "áp chót" trong 7 Ủy viên thường vụ Bộ chính trị Trung Quốc, nhưng được truyền thông đánh giá là "quyền lực thứ 2" ở nước này, chỉ sau ông Tập.
Tuy nhiên, hãng thông tấn Tân Đường Nhân (Mỹ) chỉ ra một nhân vật khác được cho là "cốt lõi" trong hệ thống quyền lực của chủ tịch Tập Cận Bình, đó là Chánh văn phòng Trung ương Trung Quốc Lật Chiến Thư.
Trùm an ninh Vương Kỳ Sơn - người được đánh giá là quyền lực số 2 của TQ. Ảnh: Bloomberg.
"Trùm an ninh" Vương Kỳ Sơn - người được đánh giá là "quyền lực số 2" của TQ. Ảnh: Bloomberg.
Theo Tân Đường Nhân, trong vòng 1 năm qua, bên cạnh "trùm an ninh" Vương Kỳ Sơn, ông Lật đóng vai trò rất quan trọng, "đồng tâm hiệp lực" cùng chủ tịch Trung Quốc trong chiến dịch "đả hổ diệt ruồi".
BÀI LIÊN Q
Nếu Bí thư CCDI thường xuyên xuất hiện trên mặt báo với những phát ngôn đanh thép và liên tục "hạ gục" các quan tham, thì Lật Chiến Thư lại hành động âm thầm hơn nhiều.
Theo thông tin công khai của chính phủ Trung Quốc, Lật Chiến Thư đảm nhiệm chức Chánh văn phòng Trung ương ngay sau khi ông Tập Cận Bình lên nắm quyền Tổng bí thư.
Văn phòng Trung ương (hay Văn phòng chính phủ) là cơ quan trọng yếu của Trung ương ĐCS Trung Quốc, phụ trách hành chính, truyền đạt mệnh lệnh, điều tra nghiên cứu, an ninh - sức khỏe của lãnh đạo đảng cũng như quản lý mật mã, hồ sơ quan trọng của Trung ương...
Với đặc thù nghiệp vụ của mình, Văn phòng Trung ương cũng chính là đơn vị chuyên phụ trách bảo đảm lịch trình công tác thường ngày của chủ tịch Tập Cận Bình và các lãnh đạo khác.
Tân Đường Nhân cho biết, trong vai trò Chánh văn phòng Trung ương, Lật Chiến Thư có thời gian tiếp xúc dày đặc với ông Tập.
Hãng tin này bình luận, ông Lật chính là "người có vị trí cao nhất trong các nhân vật 'thầm lặng' nhưng có tầm cỡ" của Trung Quốc, và gọi ông này là "quân sư" của chủ tịch Tập Cận Bình.
Chánh văn phòng Trung ương Lật Chiến Thư - quân sư thầm lặng bên cạnh ông Tập Cận Bình.
Chánh văn phòng Trung ương Trung Quốc Lật Chiến Thư - "quân sư thầm lặng" bên cạnh ông Tập Cận Bình.
Tình bạn thuở "hàn vi"
Cũng theo thông tin công khai của chính phủ Trung Quốc, Lật Chiến Thư sinh tháng 8/1950, người Bình Sơn, tỉnh Hà Bắc.
Cha Lật Chiến Thư là Lật Chính Tu cùng chú là Lật Chính Thông đã gia nhập quân đội Trung Quốc từ thuở sơ khai. Ông cố của ông Lật là nguyên lão cách mạng Lật Tái Ôn bị "nhóm 4 tên" bức hại trong Cách mạng Văn hóa Trung Quốc.
Trong giai đoạn 1983 - 1985, Lật Chiến Thư làm Bí thư Huyện ủy huyện Vô Cực, tỉnh Hà Bắc, trong khi Tập Cận Bình khi đó làm Bí thư Huyện ủy Chính Định - 1 huyện "sát vách" với ông Lật.
Hai người đã quen nhau và kết tình hữu nghị từ thời đó.
Năm 2003, trong buổi tọa đàm chủ đề "Cuộc đời cách mạng của Tập Trọng Huân (cha ông Tập Cận Bình)", ông Lật lúc ấy là Bí thư thành ủy Tây An cũng về Bắc Kinh tham dự.
Ngày 15/11/2012, tại Hội nghị toàn đảng khóa XVIII lần 1, Lật Chiến Thư lần đầu tiên xuất hiện trong vai trò Chánh văn phòng Trung ương và trúng cử Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Ban chấp hành Trung ương.
Theo Tân Đường Nhân, ông Lật Chiến Thư là trường hợp đầu tiên 1 Chánh văn phòng Trung ương được vào Bộ chính trị Trung Quốc.
Hãng tin này đánh giá, ông Lật được chủ tịch Tập Cận Bình tín nhiệm không chỉ do ông này cùng thuộc thế hệ cách mạng thứ 2 "Hồng nhị đại", hay cùng hoàn cảnh éo le thời Cách mạng Văn hóa, mà chủ yếu do ông Tập đánh gia cao năng lực của ông Lật khi còn ở Hà Bắc.
Tân Đường Nhân bình luận, năng lực công tác của Lật Chiến Thư được cả ông Hồ Cẩm Đào và ông Tập Cận Bình công nhận, là nguyên nhân giúp ông thăng tiến nhanh chóng.
Hôm 22/12/2014 vừa qua, người tiền nhiệm của ông Lật là cựu Chánh văn phòng Trung ương Lệnh Kế Hoạch đã bị thông báo điều tra do "vi phạm kỷ luật nghiêm trọng".







































































































































Phần nhận xét hiển thị trên trang