Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2015

THÂN PHẬN PHỤ NỮ HỒI GIÁO


Tổng số 1 tỷ 200 triệu tín đồ Hồi Giáo trải rộng trên khắp các lục địa nên số phận của phụ nữ không đồng nhất. Tùy theo luật pháp của mỗi quốc gia, số phận phụ nữ ở mỗi nước cũng khác nhau và tùy theo phong tục tập quán của mỗi dân tộc, cũng như do sự biến chuyển của lịch sử, số phận của phụ nữ Hồi Giáo cũng thay đổi theo.
Tuy nhiên, vượt lên trên mọi dị biệt của địa phương và qua mọi giai đoạn khác nhau của lịch sử vẫn có những yếu tố chung của đạo Hồi quyết định phần lớn số phận của các phụ nữ Hồi Giáo. Đó chính là những điều luật về phụ nữ được nêu rõ trong kinh Koran và trong Thánh Luật Sharia (The Holy Law of Islam). Kinh Koran là cuốn sách thiêng liêng ghi chép các lời của Thiên Chúa Allah (Words of Allah) nên Koran được coi là bộ luật tối cao và không ai có quyền sửa đổi.




Bộ luật Sharia được triển khai từ kinh Koran nên cũng là Thánh Luật bất khả xâm phạm. Do đó, những điều gì dù bất công và vô lý đã được kinh Koran và thánh luật Sharia áp đặt lên số phận phụ nữ cũng đều trở thành bất di bất dịch trong các nước Hồi Giáo. Thí dụ:

- Kinh Koran đã qui định chế độ y phục của phụ nữ hết sức khắt khe như sau: "Phụ nữ phải mặc che kín hoàn toàn, không được để lộ một phần nào của thân thể trước mặt bất cứ một người đàn ông nào, bao gồm cả mặt và tay" (They dress up completely without showing any part of their bodies, including face and hands to any man - Koran 33:53).

Kinh Koran minh thị xác nhận uy quyền của đàn ông đối với đàn bà: "Đàn ông có quyền đối với đàn bà vì Chúa đã sinh ra đàn ông cao quí hơn đàn bà và vì đàn ông phải bỏ tài sản của mình ra để nuôi họ. Đàn bà tốt phải biết vâng lời đàn ông vì đàn ông săn sóc cả phần tinh thần của đàn bà. Đối với những phụ nữ không biết vâng lời, đàn ông có quyền ruồng bỏ, không cho nằm chung giường và có quyền đánh đập".

(Man has the authority over women because God has made the one superior to the other and because they spend wealth to breed them. Good women are obedient because they guard their unseen parts. As for those whom you fear disobedience, admolish them, send them to beds apart and beat them - Koran 4:34).

Kinh Koran coi thiên đàng là "Khu vườn của lạc thú nhục dục muôn đời", còn ở trên thế gian nầy thì đàn bà là "cánh đồng lạc thú" mà mọi người đàn ông đều có quyền chủ động bước vào nếu muốn: "Women are your field, go into your field whence you please" - Koran 2: 221)

Đàn bà bị xã hội Hồi Giáo coi là một thứ công cụ để đẻ con và để thỏa mãn dục tính của đàn ông. Kinh Koran còn qui định: khi cha mẹ chia gia tài thì con gái chỉ được hưởng một phần nửa phần của con trai mà thôi. Khi các nhân chứng ra trước tòa làm chứng thì lời chứng của đàn bà chỉ có giá trị bằng một nửa lời khai của đàn ông. Khi nạn nhân là phụ nữ bị giết thì thân nhân chỉ được lãnh một nửa số tiền bồi thường.

Đàn ông có quyền lấy nhiều vợ nhưng đàn bà chỉ được lấy một chồng, do đó đàn ông không có tội ngoại tình. Trái lại, đàn bà ngoại tình sẽ bị đem ra nơi công cộng để mọi người ném đá đến chết.

Trải qua 14 thế kỷ, kinh Koran đã gieo biết bao tai họa cho các phụ nữ Hồi giáo nhưng vì các tín đồ ngoan đạo đều coi Koran là "Chân lý Tối Hậu của Thiên Chúa" (The Final Truth of Allah) nên không ai dám coi đó là những điều vô lý hoặc bất công. Các tín đồ nam cũng như nữ không còn con đường nào khác là phải tuyệt đối vâng phục ý Chúa vì Đạo Hồi có nghĩa là sự vâng phục hoàn toàn ý của Chúa (Islam = Submission to God).

Trong các nước Hồi Giáo, nữ giới phải chiu nhiều thiệt thòi trong hôn nhân. Tuổi con gái đi lấy chồng trung bình từ 12 đến 15. Trong các bộ lạc du mục, nhiều khi cha mẹ gả chồng cho con gái lúc mới 5, 6 tuổi. Các anh chị em họ gần (cousins) có quyền lấy nhau, đặc biệt là hai người đàn ông có quyền trao đổi con gái cho nhau (người này làm cha vợ của người kia!). Đó chính là trường hợp của Muhammad. Năm 624, Muhammad (54 tuổi) lấy cô Hafsah 18 tuổi, con của Umar làm vợ bé. Trong khi đó, vợ chính của Muhammad mới lên 10, con gái của Abu Bakr. Cả hai cha vợ của Muhammad là Umar và Abu Bakr đều xin cưới con gái út của Muhammad là Fatima. Muhammad không chịu vì ông quá yêu thương Ali là em họ (con của chú ruột) nên ông đã gả Fatima cho Ali. Sau này Ali và Fatima trở nên "thánh tổ" của giáo phái Shi-a. Shi'a có nghĩa là "đảng của Ali" (Shiites = partisans of Ali).

Sau đây là hai vấn đề quan trọng được coi là tiêu biểu cho quan niệm đặc biệt của Hồi Giáo về nữ quyền. Đó là vấn đề đa thê (Polygamy) và trường hợp Afganistan dưới chế độ Hồi Giáo cực đoan của Taliban.

I. VẤN ĐỀ ĐA THÊ.

Nói chung, các nước Tây Phương nhìn về các nước Hồi Giáo (công nhận chế độ đa thê) một cách khinh bỉ và họ coi Đa Thê đồng nghĩa với chế độ nô lệ (Polygamy is slavery!). Từ hậu bán thế kỷ 20, do nhiều biến chuyển về kinh tế và chính trị trên thế giới, nhiều nước Hồi Giáo đã phải điều chỉnh "Thánh Luật Sharia" đối với vấn đề đa thê cho phù hợp với thực tế.

- Tunisia: Đa số đàn ông Tunisia không đủ sức nuôi vợ con cho nên hầu như chẳng có ai muốn lấy nhiều vợ, mặc dầu kinh Koran cho phép đàn ông lấy 4 vợ. Các dân biểu tán thành việc hủy bỏ tục đa thê. Do đó, vào năm 1956, Tunisia trở thành nước Hồi Giáo đầu tiên ra lệnh cấm đa thê. Chẳng những thế, họ còn chê bai chế độ ly dị quá dễ dàng của Tây Phương. Họ gọi các cuộc hôn nhân sau khi ly dị liên tiếp nhiều lần là một hình thức đa thê trá hình vì đó chỉ là "chế độ độc thê hàng loạt" (serial monogamy).

- Algeria: Algeria là thuộc địa của Pháp từ năm 1830. Chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng của Việt Nam năm 1954 đã đem lại một niềm hứng khởi vô cùng lớn lao cho nhân dân Algeria trong quyết tâm đánh đuổi thực dân Pháp dành độc lập. Niềm hứng khởi đó đã thúc đẩy trên 10.000 phụ nữ Algeria gia nhập hàng ngũ kháng chiến quân võ trang. Họ lợi dụng những chiếc áo choàng đen phủ kín từ đầu đến chân để dấu vũ khí, thuốc men, lương thực tiếp tế cho quân kháng chiến. Nhưng sau khi cuộc kháng chiến thành công năm 1962 thì chính quyền Algeria bị rơi vào tay của giới lãnh đạo Hồi Giáo cực đoan.

Chính quyền này muốn đưa Algeria trở về thời Trung Cổ bằng cách tước đoạt mọi quyền tự do của phụ nữ. Phụ nữ Algeria ngao ngán thở dài hối tiếc thời Pháp thuộc vì dưới ách thống trị của thực dân, họ đã được hưởng rất nhiều quyền tự do và nhân phẩm của họ đã được kẻ địch tôn trọng còn hơn những kẻ lãnh đạo đồng hương của họ.

Vào năm 1980, một đảng Hồi Giáo cực đoan khác lên nắm chính quyền ở Algeria. Năm 1984, chính quyền này ban hành luật công nhận chế độ đa thê. Nhiều phụ nữ biểu tình chống lại luật này. Chính quyền quá khích ra lệnh cho cảnh sát nổ súng khiến cho 48 phụ nữ bi thiệt mạng.

Sự đàn áp dã man của chính quyền Hồi Giáo cuồng tín đã làm bùng lên một làn sóng phản đối mạnh mẽ hơn. Chính quyền liền ban hành luật thị uy với những hình phạt thật nghiêm khắc đối với những người kích động biểu tình: đàn ông bị chặt đầu, đàn bà bị thiêu sống. Bộ luật chống biểu tình này được áp dụng liền trong 10 năm, từ 1984 đến 1993, đã giết chết khoảng 7000 người!. Mặc dầu vậy, phụ nữ Algeria vẫn không nản chí, họ tiếp tục tranh đấu cho tự do một cách thật kiên cường khiến cho thế giới phải khâm phục. Ngày lịch sử 22-3-1993, một nửa triệu phụ nữ Algeria vứt bỏ áo choàng và khăn che mặt từ khắp nơi đổ về thủ đô với khẩu hiệu: "Chúng tôi không nhượng bộ" (We will not yield!). Trước khí thế quá mạnh mẽ và can trường của nửa triệu phụ nữ, chính quyền Hồi Giáo cực đoan đã phải chùn tay không dám bắn và cuối cùng họ đã phải nhượng bộ bằng cách hủy bỏ các luật lệ bất công đối với phụ nữ.

- Iran: Đại đa số dân Iran theo giáo phái Shiites nổi tiếng bảo thủ và cực đoan. Họ theo đúng tinh thần của Kinh Koran là chỉ tôn trọng quyền lợi của đàn ông mà thôi. Luật hôn nhân của Iran công nhận chế độ đa thê. Đàn ông muốn ly dị vợ lúc nào cũng được, thủ tục ly dị vô cùng đơn giản vì người chồng chỉ cần nói với vợ ba lần: "Tôi ly dị cô"! Sau khi được tòa cho ly dị, người chồng luôn luôn có quyền giữ con trai trên 6 tuổi và con gái trên 12 tuổi. Người vợ chỉ được nhận tiền của chồng trợ cấp trong 3 tháng mà thôi.

Trong thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, các vua Hồi công nhận nhiều quyền tự do của phụ nữ, nhưng sau cuộc Cách Mạng Hồi Giáo do giáo chủ Khomeini lãnh đạo trong 2 năm 1978-1979, chính quyền Hồi Giáo Shiite cực đoan đã đưa Iran trở lại thời Trung Cổ: Phụ nữ bị bắt buộc phải đeo mạng che kín mặt và phải mặc áo choàng CHADOR phủ kín từ đầu đến chân. Luật pháp cho phép chồng có quyền đánh vợ, thậm chí dù có đánh chết vợ chăng nữa thì cũng chỉ bị tòa án phạt tượng trưng. Tại Iran, hàng năm có tới nhiều trăm vụ phụ nữ bị chồng giết chết!

Tuy nhiên, Iran có một số điều luật tiến bộ so với các nước Hồi Giáo khác: Phụ nữ được phép lái xe, được quyền hành nghề buôn bán nhà cửa, làm chủ cửa tiệm buôn và đặc biệt là được giữ các chức vụ cao trong chính quyền. Hiện nay phụ nữ chiếm 35% lực lượng công chức tại các công sở, 25% lực lượng công nhân và 54% tổng số sinh viên đại học. (Newsweek 3.2.2001).

- Các nước Hồi Giáo có nữ thủ tướng: Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan, Bangladesh và Indonesia. Tại các nước này, phụ nữ có quyền tự do gần như bình đẳng với nam giới. Nếu xếp theo thứ tự về quyền tự do của phụ nữ thì Thổ Nhĩ Kỳ đứng đầu rồi đến Indonesia, Pakistan và Bangladesh. Ngoại trừ Thổ Nhĩ Kỳ, tại Indonesia, Pakistan và Bangladesh hầu hết các phụ nữ đều thất học. Chỉ có một trường đại học Rawanpindi ở Pakistan có nữ sinh viên. Các phụ nữ Pakistan, kể cả nữ sinh viên, đều phải che mặt. Tại vùng Kashmir đang có chiến tranh giữa Hồi và Ấn, bọn cuồng tín Hồi Giáo thường hay tạt át-xít vào mặt những phụ nữ không chịu đeo mạng che mặt.

- Các nước Hồi Giáo tại vùng vịnh Ba Tư.- Vùng Vịnh Ba Tư có nhiều nước Ả Rập theo Hồi Giáo: Ả Rập Saudi, Koweit, Yemen, Quatar và Emerites. Các nước này giầu có nhờ dầu hỏa và có nhiều siêu thị (supermarket, Food stores) như ở Mỹ, nhưng phụ nữ bị luật pháp cấm lái xe. Do đó, công tác mua sắm (shopping) và đi chợ đều do đàn ông thực hiện. Nếu đàn ông không thích đi chợ mua sắm thì cũng phải lái xe đưa vợ tới các cửa tiệm rồi ngồi chờ vợ ở trong xe.

Tại Ả Rập Saudi, nhà nước ban hành luật về y phục của phụ nữ (The National Dress Code) theo đúng tinh thần kinh Koran là "phải bảo vệ đức khiêm tốn của phụ nữ và không cho phép họ phô bày nhan sắc" (to guard their modesty and not to display their beauty). Luật này lập ra một ngành cảnh sát đặc biệt gọi là "Cảnh sát đạo đức" (Morality Police) chuyên lo việc thi hành các luật lệ về y phục của phụ nữ. Bất cứ một phụ nữ nào mặc y phục không đúng qui định sẽ bị cảnh sát đạo đức đánh đập bằng gậy tại chỗ!

Điều rất đặc biệt tại Saudi Arabia là các phụ nữ đều không có thẻ căn cước. Lý lịch của họ chỉ được ghi thêm vào căn cước của cha nếu còn độc thân. Khi cha chết thì lý lịch được ghi vào thẻ của anh em trai. Nếu đã kết hôn thì lý lịch của phụ nữ được ghi vào thẻ căn cước của chồng. Khi chồng chết thì ghi vào thẻ căn cước của con trai. Đàn bà bị cấm lái xe, bị cấm hành nghề luật sư, kỹ sư và bị cấm làm công chức cho các công sở của nhà nước.

Tại Koweit: Số phận phụ nữ cũng tương tự như ở Saudi Arabia. Tuy nhiên, kể từ 1999, phụ nữ được luật pháp công nhận nhiều quyền tự do, trong đó có quyền tự do quan trọng nhất là quyền tự do ứng cử và bầu cử. (Newsweek 3/12/2001).

Tại Saudi Arabia và Koweit, các học sinh nam nữ phải học tại các trường riêng biệt từ cấp tiểu học trung học và cả ở đại học.

II. AFGANISTAN DƯỚI CHẾ ĐỘ HỒI GIÁO CỰC ĐOAN TALIBAN

Năm 1989, do sự giúp đỡ tích cực của Mỹ và của các nước Hồi Giáo, quân kháng chiến Afganistan đã đánh đuổi quân Liên Xô ra khỏi bờ cõi. Sau đó, trong ba năm kế tiếp, quân kháng chiến tiếp tục cuộc chiến đấu để lật nhào chế độ thân Liên Xô của Najibullah. Nhưng đến khi cuộc kháng chiến thành công thì các "chiến sĩ tự do" (Mujahideen) đã mau chóng chia thành nhiều phe nhóm chống đối và giết hại lẫn nhau vì lý do sắc tộc và giáo phái khác biệt. Tại Afganistan, từ xưa đến nay có bốn sắc tộc thường xuyên xung đột nhau là Pathans, Pashtun, Uzbek và Tajik. Về tôn giáo, có hai giáo phái vốn thù nghịch nhau và đã từng có nhiều thế kỷ thù hận đẫm máu là giáo phái Sunni và Shiite. Đất nước Afganistan rơi vào tình trạng nồi da xáo thịt trong 5 năm, từ 1989 đến 1994 làm thiệt mạng hàng vạn sinh linh.

Cuộc nội chiến được kết thúc năm 1994 do một người hùng tên Mullah Omar, lãnh đạo phe Taliban, thành công trong việc cướp chính quyền trung ương. Theo ngôn ngữ Afgan thì Taliban có nghĩa là "Một Nhóm Sinh Viên" (A band of Students). Họ có chủ trương ổn định đất nước, thiết lập quốc gia Hồi Giáo và chủ trương bài ngoại cực đoan.

Điều làm mọi người phải ngạc nhiên là phe Taliban không có quân đội, trong khi các lãnh chúa của các bộ lạc đều có quân đội và vũ khí trong tay mà không dám làm gì. Sự thành công của Taliban hoàn toàn do khả năng tuyên truyền và thuyết phục quần chúng nên họ đã được toàn dân ủng hộ và đưa lên nắm chính quyền năm 1994. Năm 1996, Taliban mới chính thức chiếm thủ đô Kabul và kiểm soát 2/3 lãnh thổ quốc gia. Việc đầu tiên là Taliban ban hành hiến pháp công bố Afganistan là một quốc gia Hồi Giáo (Hồi Giáo là Quốc Giáo). Các luật lệ cổ hủ lỗi thời của Hồi Giáo từ 14 thế kỷ trước đều được phục hồi: kẻ bị kết án về tội trộm phải bị chặt tay, đàn bà ngoại tình bị ném đá đến chết...

Taliban ban hành luật lệ về y phục của phụ nữ hết sức khắt khe, đến nỗi đã biến họ thành "những kẻ vô hình" vì mọi người hàng xóm và những người đi trên đường phố đều không nhìn thấy mặt của phụ nữ. Mọi phụ nữ Afgan mỗi khi bước chân ra khỏi nhà đều phải mặc bộ BURKA. Đây là một kiểu áo choàng may bằng vải thô phủ kín từ đầu đến chân. Các ký giả Tây Phương gọi Burka là "cái túi đựng xác người sống" (the body-bag for the living). Vì được may bằng nhiều nếp gấp và rộng thùng thình nên chiếc áo Burka rất nặng. Vào mùa hè trời nóng có nhiều phụ nữ bị bịnh ngộp thở (claustrophobia) hoặc mắc chứng nhức đầu kinh niên.

Tại Afganistan cũng như tại các quốc gia Hồi Giáo khác, phụ nữ không được đi học. Các bé gái chỉ được học từ 7 đến 12 tuổi đủ để có thể đọc được sách kinh mà thôi.

Cũng giống như trường hợp Algeria, chính quyền Hồi Giáo bản xứ đã đối xử với phụ nữ tàn tệ hơn chế độ thực dân Pháp trước kia. Chế độ Taliban cũng tước đoạt hết mọi quyền tự do của phụ nữ Afganistan mà họ đã được hưởng dưới thời Liên Xô chiếm đóng tại xứ này trong 10 năm, từ 1979 đến 1989. Chính phủ Taliban lập ra Bộ Cải Tiến Đạo Đức và Ngăn Ngừa Thói Xấu (Ministry for Promotion of Virtues and Prevention of Vices). Các cán bộ thuộc bộ này đều là đàn ông, mỗi cán bộ được trang bị một cái roi dài quấn dây cáp bằng thép dùng để đánh bất cứ một phụ nữ nào đi trên đường phố mà không mặc y phục đúng cách. Chẳng hạn như để lộ vớ trắng ở bàn chân, đi giầy gây tiếng kêu trên hè phố, mặc quần áo quá bó sát thân hoặc trên người có đeo nữ trang v.v...

Charlie Nguyễn
http://sachhiem.net/CHARLIE/CN_TGHG/PhunuHG.php
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 22 tháng 1, 2015

Tác hại muôn mặt của nạn mua bán quan chức


Nguyễn Đình Cống
- Mua bán quan chức là viết theo thời xưa, theo thói quen, còn ngày nay ở một số nơi, đến cái việc lao công và hộ lý trong bệnh viện cũng phải bỏ ra vài chục triệu để lo lót chứ chẳng phải là quan chức gì cả. Lại nghe chuyện tốn hàng trăm triệu để chạy một chỗ đứng ngoài đường, để có một chỗ làm trong trường mầm non là khá phổ biến, còn để có chức quan, có khi phải chi hàng tỷ, hàng chục tỷ.

Tệ nạn nói trên có sức mạnh phá hoại xã hội một cách ngấm ngầm đến tận gốc, làm mất ổn định xã hội một cách toàn diện, từ đó tạo ra tác hại muôn mặt trong mọi lĩnh vực đời sống.

Để xã hội ổn định và phát triển cần thực hiện nguyên lý cơ bản là “Ai làm việc gì phải lo làm cho tốt, cho đầy đủ trách nhiệm công việc đó”. Thế nhưng với tệ nạn trên nhiều người không lo làm công việc theo chức năng mà phải để nhiều tâm trí và sức lực cho một việc quan trọng hơn, cần thiết hơn, đó là việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để moi tiền của công, để bóp nặn người khác nhằm thu hồi vốn đã bỏ ra. Trong các lý thuyết về kinh tế có khái niệm “thời gian thu hồi vốn”. (Hẳn ba trăm lạng kém đâu. Ấy là vừa vốn, còn sau thì lời- Truyện Kiều). Đã tự nguyện hoặc bị bắt buộc bỏ vốn ra để làm cái gì đó mong kiếm lợi thì việc đầu tiên là lo thu hồi vốn, tránh “mất cả chì lẫn chài”.

Tại sao một hộ lý tìm cách moi tiền bệnh nhân. Tại sao một cảnh sát tìm cách bóp nặn lái xe. Tại sao…, tại sao…, có thể đặt hàng trăm câu hỏi tại sao tương tự. Câu trả lời chung cho phần lớn trường hợp là “để thu hồi vốn”. Nhưng sau khi thu hồi được vốn rồi thì việc moi tiền, bóp nặn trở thành thói quen. Mà “gieo thói quen thì gặt tính cách”.

Trong số những người buộc phải chi tiền để chạy việc làm, chạy chức vụ, chạy bằng cấp có không ít nguyên là người tử tế. Thời gian đầu khi phải moi tiền, phải bóp nặn người khác họ tự thấy xấu hổ, tự thấy ngượng ngùng nhưng rồi dần dần quen, một số trở thành những kẻ vô cảm, những tội phạm được bảo lãnh.

Có người vì nhờ vào hoàn cảnh hoặc điều kiện nào đó mà không phải chi tiền lo công việc, họ tiến thân bằng quan hệ, bằng sự may mắn hoặc bằng năng lực, họ không có nhu cầu thu hồi vốn. Tuy vậy trong số họ có một ít nhờ vào địa vị thuận lợi vẫn tìm cách moi tiền, bóp nặn người khác. Khi được hỏi tại sao làm thế, họ trả lời: “cả xã hội làm thế, cấp trên làm thế, mình dại gì không làm khi có điều kiện, xã hội nhơ bẩn, riêng ta giữ mình trong sạch mà làm gì, lại mang tiếng dại khờ”.

Những người vì buộc phải thu hồi vốn mà vẫn còn một chút lương tâm đáng được xem vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân còn những kẻ đã mất hết lương tâm hoặc không có nhu cầu thu hồi vốn mà vẫn tìm cách moi tiền và bóp nặn thì chỉ là một lũ đê hèn, không những đáng bị loại bỏ mà còn đáng bị phỉ nhổ.

Nạn mua bán quan chức (chỗ làm, điểm số, bằng cấp, danh hiệu, vinh dự…) có cùng nguồn gốc với tệ nạn tham nhũng, được sinh ra và nuôi dưỡng bởi chế độ độc quyền, toàn trị. Đến lượt mình, chúng lại sinh ra hàng muôn vạn con, cháu, chắt, chút là những tệ nạn cụ thể ở các mức độ khác nhau, tất cả đều có tác dụng chung làm phá hoại xã hội từ gốc.

Rất nhiều những việc xấu xa hàng ngày, từ việc để nước ngoài thao túng và lấn chiếm, việc để bị thất thoát hàng ngàn tỷ đồng, việc công trình vừa làm xong hoặc đang làm đã bị hư hỏng, gây tai nạn, việc có nhiều vụ án oan sai, nhiều cái chết không rõ ràng trong các trại giam, việc để hàng giả, sách lậu tràn lan, việc nạn trộm chó hoành hành, nạn bạo hành gia đình, nạn chảy máu chất xám và rất nhiều việc xấu xa khác khó kể hết đều có nguồn gốc là nạn tham nhũng và mua bán quan chức

Thử phân tích chuyện hoành hành của nạn sách lậu và nạn trộm chó. Nhìn rất gần không thấy những chuyện này liên quan gì đến tham nhũng, có nhìn xa một chút mới thấy. Trong hệ thống chính quyền có người, có tổ chức được giao nhiệm vụ ngăn chặn, loại bỏ các tệ nạn này để giữ ổn định xã hội nhưng họ đã không làm hoặc làm chưa tròn nhiệm vụ. Vì sao vậy, vì họ đang phải lo làm việc quan trọng hơn là tìm cách thu hồi vốn.

Chuyện ông bố bạo hành, đánh đứa con 10 tuổi thâm tím mặt mày. Người ta càng thương đứa bé bao nhiêu càng lên án sự độc ác của người bố bấy nhiêu và chẳng thấy nó liên quan gì đến việc mua bán quan chức. Nhưng hãy thử phân tích nguyên nhân sâu xa.Tôi tạm dựng lên kịch bản như sau : Ông là thương binh, rất yêu thương con mình. Chiều hôm ấy ông đi xe máy lên cơ quan huyện để xin giải quyết chế độ thương tật .

Người cán bộ ông gặp đang tìm cách thu hồi vốn nhưng từ sáng đến chiều chưa nhận được đồng nào mà ông cũng không mang theo phong bì, thế là ông bị hoạnh họe, bị hạch sách, phải kìm nén tức giận ra về. Khi lấy xe lại thấy mất mũ bảo hiểm, đang tức giận nên cứ thế đi về. Đi được một đoạn lại bị tuýt còi.

Anh cảnh sát đang lo thu hồi vốn mà từ sáng đến giờ mới túm được con mồi đầu tiên, tưởng kiếm được ít nhiều nhưng chẳng có gì, anh không chịu nghe ông trình bày mà còn xỉ nhục, tạm giữ xe, đuổi ông đi bộ về . Tức quá mà không làm gì được ai, cổ họng khô rát mà không có tiền giải khát. Ông hy vọng về đến nhà, thấy cửa nhà sạch sẽ, con ông rót nước bưng cho ông. Thế nhưng về đến nhà thấy nhà cửa bẩn thỉu, con ông đang chúi mũi vào trò chơi điện tử bên hàng xóm, trong nồi, trong ấm không còn giọt nước nào. Thế là cái giận này chồng lên cái giận khác và con ông trở thành nạn nhân gián tiếp của hai người đang lo thu hồi vốn.

Trong chuyện trên, nói ông đánh con vì quá nóng giận là không sai, nói con bị đánh vì ham chơi cũng có phần đúng nhưng cơn nóng giận của ông có xuất phát từ hai con người là thủ phạm của tệ mua bán quan chức. Nếu người cán bộ nọ, anh cảnh sát kia không vì lo thu hồi vốn mà đối xử tử tế thì đâu đến nỗi.

Ngoài việc tạo nên một số đông công chức ở mọi cấp, mọi ngành mất đạo đức vì chỉ chăm chú vào moi tiền và bóp nặn, không thể và không muốn làm tốt công việc chính , nạn mua bán quan chức còn làm cho :

+Nhiều người mất hết niềm tin vào đạo lý, vào chế độ. Nhiều người không lo tập trung vào lao động sáng tạo mà tốn công sức và trí tuệ cho việc tìm cách né tránh hoặc lợi dụng sự đểu cáng.

+ Nhiều gia đình nghèo điêu đứng vì đã phải vay nợ cho con đi học, chưa trả được, nay không thể vay thêm nợ lo việc làm.

+Nhiều ứng viên vào các công việc không lo trau dồi chuyên môn mà lo chạy tiền đút lót. Điều này kéo theo việc hạ thấp năng lực của các tổ chức, dẫn đến việc làm sai, làm bậy khá phổ biến, khi bị phát hiện và lên án thì đổ lỗi cho năng lực yếu kém.

+Phát triển nạn chảy máu chất xám, những người tài giỏi mà biết tự trọng không chịu bỏ tiền để chạy việc mà tìm cách làm cho nước ngoài.

+ Nạn mua bán quan chức không công khai, không minh bạch làm nặng thêm thói dối trá, gian lận. Có nhận xét cho rằng hiện nay thói dối trá, gian lận đã trở thành cứu cánh của người dân và biện pháp của quyền lực. Nếu quả thật như vậy thì quá nguy hiểm.

Rất nhiều… rất nhiều tệ nạn, khi truy tìm nguyên nhân sâu xa thường tìm thấy bộ mặt của tham nhũng, của việc mua bán quan chức. Nhưng càng chống , càng có nhiều biện pháp quyết liệt và rộng khắp thì nó càng phát triển, chống được chỗ này thì lại thò ra chỗ khác nhiều hơn, lớn hơn. Vì sao vậy. Theo tôi vì mới chỉ chống ở ngọn, chống một cách hình thức chứ chưa chống tại gốc, chưa có quyết tâm hoặc chưa muốn, chưa dám “đào tận gốc, trốc tận rễ”.

Trong bài “Nguyên nhân gốc của nhiều tệ nạn” tôi đưa ra phán đoán, nguyên nhân gốc là sự kết hợp giữa tính xấu của con người và sự độc quyền sai lầm của nhà nước. Trong các tính xấu thì tính tham lam, tranh giành nhằm lợi cho riêng mình, không quan tâm đến thiệt hại cho người khác là nặng nề nhất. Trong sự độc quyền thì độc quyền về tư tưởng là nguy hiểm nhất, mà sự độc quyền này lại có nguồn gốc từ chuyên chính vô sản của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Tôi ngẫm nghĩ và thấy vẫn còn may cho đất nước, cho dân tộc vì nhìn ra xung quanh thỉnh thoảng còn thấy ở địa phương này, ở cơ quan nọ, ở những người kia vẫn còn giữ được phần nào sự liêm chính, không để cho nạn tham nhũng, nạn mua bán quan chức làm hủy hoại đạo đức và năng lực. Trong số những người đi tiên phong đấu tranh vì một nền dân chủ chân chính có nhiều người dũng cảm, rất đáng khâm phục. Những nơi đó, những người đó là những ngọn nến, những đốm sáng. Hy vọng những nguồn sáng ấy sẽ phát triển để dần dần xua tan bóng tối.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ông Obama và 'lá bài' Trung Quốc


Vũ Quỳnh
VNN - Liệu yếu tố châu Á và đặc biệt “lá bài Trung Quốc” có là kim chỉ nam cho các quyết sách của chính phủ Mỹ trong 2015?

Một trong những thành công của chính quyền Obama và được nhấn mạnh trong Thông điệp Liên bang 2015, đó là gói thỏa thuận lịch sử trong lĩnh vực biến đổi khí hậu với Trung Quốc. Liệu yếu tố châu Á Thái Bình Dương và đặc biệt là “lá bài Trung Quốc” có là kim chỉ nam cho các quyết sách của chính phủ Mỹ trong 2015? Một số chỉ dấu từ thông điệp liên bang sẽ cho thấy câu trả lời.

Ẩn số Trung Quốc

Thứ nhất, trong bài phát biểu, ông Obama nói: “Trung Quốc muốn viết luật cho khu vực tăng trưởng nhanh nhất (châu Á – Thái Bình Dương). Họ sẽ đẩy công nhân và thương nhân của chúng ta vào thế bất lợi. Tại sao chúng ta có thể để điều đó xảy ra? […] Chúng ta cần làm cân bằng sân chơi. Đó là lý do tại sao tôi yêu cầu lưỡng Đảng cho tôi quyền xúc tiến thương mại để bảo vệ công nhân Mỹ, với các thỏa thuận thương mại mới từ Á sang Âu – không chỉ tự do mà còn công bằng”.

Quyền đàm phán nhanh (Fast Track Authority) là nhu cầu cần thiết để Mỹ ngăn cản sự bành trướng mạnh mẽ từ phía Trung Quốc, đồng thời thiết lập ảnh hưởng và chuẩn mực trong khu vực.

Đây là câu trả lời cho những gì diễn ra vào cuối năm vừa qua, khi TQ thúc đẩy hàng loạt các dự án nhằm thiết lập vị thế lãnh đạo kinh tế khu vực.

Cụ thể là các hiệp định thương mai tự do giữa TQ và ASEAN, Hàn Quốc, thỏa thuận dầu khí và thương mại lịch sử với Nga. Phát triển cơ sở hạ tầng giao thông qua con đường tơ lụa hai trục hơn 40 tỷ USD: đường bộ từ Á sang Âu và đường biển vượt Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, qua Bắc Phi tới Địa Trung Hải và nối với con đường tơ lụa trên bộ ở Ý. Sự hình thành Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) cạnh tranh ảnh hưởng với Qũy tiền tế thế giới IMF, Ngân hàng thế giới WB và trói buộc châu Á một cách chặt chẽ hơn với Bắc Kinh trong mạng lưới “Con đường tơ lụa mới”.  Sự tăng cường của Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Tổ chức Thượng Hải (SCO), đề xuất thành lập Khu vực mậu dịch tự do châu Á - Thái Bình Dương (APFTA).

Thứ hai, về an ninh mạng. Ông Obama nhấn mạnh: “Không quốc gia nào hay hacker nào có thể đánh sập hệ thống, ăn cắp các bí mật thương mại, hay xâm phạm đời tư các gia đình Mỹ, đặc biệt trẻ em. Cần đảm bảo Cơ quan tình báo của chính phủ có thể chống lại các mối đe dọa an ninh mạng, như chúng ta đã làm để chống khủng bố”.

Tuyên bố này không nêu tên hay một quốc gia cụ thể nhưng có thể đoán địa chỉ nó muốn nhắm tới là ai. Đặc biệt sau các vụ tấn công mạng nhằm vào Sony Pictures và tài khoản mạng xã hội Twitter của Bộ Chỉ huy Trung tâm (CENCOM) quân đội Mỹ. Cùng với thông tin từ tài liệu rò rỉ của Edward Snowden vào 19/1/2015, các tin tặc TQ đã ăn trộm được tới 50 terabytes thông tin mật (tương đương 5 thư viện Quốc Hội) về kế hoạch chi tiết của chiếc máy bay tiêm kích tác chiến hỗn hợp F-35, hàng chục hệ thống vũ khí tiên tiến, trong đó có hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo Aegis, thiết kế tàu chiến ven biển, công nghệ súng điện từ…

Vấn đề an ninh mạng là đề xuất hiếm hoi trong Thông điệp Liên bang sẽ nhận được tán thành của phe Cộng hòa. Trước đó, cả thủ lĩnh phe đa số tại Thượng viện Mitch McConnell và Chủ tịch Hạ viện John Boehner đều ủng hộ đề xuất này. Dù không nhắc đến TQ nhưng từ khi ông Obama cầm quyền, TQ luôn là mục tiêu chỉ trích của các thương đoàn, công ty và giới chính trị Mỹ.

Các hành vi ăn cắp dữ liệu của TQ đã trở nên ầm ĩ. Do đó, đây là lời xác nhận nỗ lực của lưỡng Đảng Hoa Kỳ về việc chống ăn cắp dữ liệu và đảm bảo an ninh mạng trước những động thái ngày càng tăng về lượng, lẫn chất của Bắc Kinh…

Tương lai chính sách xoay trục

Thứ ba, tương lai của “Chính sách xoay trục” và tình hình an ninh Châu Á thái Bình Dương. Dù không đề cập trực tiếp nhưng ông Obama nhấn mạnh: “Trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, phải hiện đại hóa hệ thống liên minh và phải làm rõ ràng rằng tất cả quốc gia phải chơi theo luật, giải quyết tranh chấp một cách hòa bình… Liệu chúng ta sẽ tiếp cận thế giới một cách dè dặt và đối phó, tự đẩy mình vào các cuộc xung đột tốn kém, làm căng thẳng quân đội và tự kéo lùi vị thế? Hay sẽ dẫn dắt một cách khôn ngoan, sử dụng mọi yếu tố sức mạnh để đánh bại các mối đe dọa?”.

Phát biểu này một mặt đáp trả những chỉ trích về chính sách “xoay trục” nói nhiều hơn làm. Hành động của Mỹ 2014 trong nhiều mặt trận có thế “cân đo, đóng đếm” cụ thể qua nhiều việc như sau:

Kêu gọi rút giàn khoan - lần đầu tiên Mỹ yêu cầu TQ ngưng một hoạt động khai thác trên biển Đông.

Đưa ra 3 Nghị quyết về biển Đông và Hoa Đông, chỉ trích các hành động của TQ và kêu gọi tuân thủ luật quốc tế.

Tái khẳng định những cam kết với đồng minh như Hiệp ước Phòng thủ Chung ký với Philippines, ủng hộ sửa đổi Hiến pháp và mong tăng cường hoạt động quân sự của Nhật.

Giải tỏa một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam và (đàm phán) hỗ trợ Việt Nam về tuần tra hàng hải.

Đây có thể xem là cam kết cho những hành động mạnh mẽ hơn của vị lãnh đạo, vừa mang gánh nặng danh hiệu “Tổng thống hòa bình”, vừa bị các nhà quan sát quốc tế chê trách vì sự yếu đuối trong đối ngoại suốt 6 năm qua.

Thứ tư, biến đổi khí hậu và sản xuất dầu khí. Sau khi sử dụng quyền hành pháp để đề xuất những điều lệ mới về khí thải với các nhà máy điện và thỏa thuận khí thải lịch sử với TQ trong năm 2014, ông Obama rất có thể sẽ tiếp tục nhắc đến vấn đề cắt giảm khí thải và đường ống Keystone XL.

Hiện tại, Đảng Cộng hòa và các công ty dầu khí đang phản đối rất dữ dội vấn đề này và cho rằng nó không chỉ thiệt hại kinh tế mà còn khiến nhiều người mất việc. Tuy nhiên, với ông Obama đây là một thắng lợi to lớn, và là tiền đề cho Hội nghị tại Paris về biến đổi khí hậu sắp tới. Một thành quả đáng ghi nhận vào thành tích cầm quyền của Tổng thống cả về phương diện đối nội, lẫn đối ngoại.

Không ai có thể tiên đoán tất cả chính sách chỉ qua một bài phát biểu. Ngôn từ vừa là hình thức để truyền tải tư duy, vừa là cách thức để người ta che dấu suy nghĩ thực của mình. Liệu Thông điệp liên bang 2015 là một hay hai trong hai hình thức trên chắc sẽ còn phải chờ đợi trong diễn tiến các tháng còn lại.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Có khi tại vì họp nhiều quá không?

THÔNG TIN MỚI NHẤT VỀ CÁI CHẾT BẤT THƯỜNG CỦA ÔNG CỤC TRƯỞNG

Cục trưởng Cục Đường sắt đã dự 3 cuộc họp
trước khi chết

Báo Tuổi trẻ
23/01/2015 11:04 GMT+7

TTO - Trước khi được phát hiện tử vong đột ngột tại phòng làm việc tối qua (22-1), Cục trưởng Nguyễn Hữu Thắng đã tham dự, chủ trì tổng cộng 3 cuộc họp trong ngày.
ông Nguyễn Hữu Thắng
Ông Nguyễn Hữu Thắng
10g 40 sáng nay (23-1), Bộ Giao thông vận tải (GTVT) đã phát thông cáo chính thức về việc ông Nguyễn Hữu Thắng, Cục trưởng Cục Đường sắt Việt Nam - chết trong phòng làm việc.

Thông tin cụ thể như sau: khoảng 19g ngày 22-1, tại trụ sở Cục Đường sắt Việt Nam (số 80 Trần Hưng Đạo, Hà Nội), khi nhân viên lao công Cục Đường sắt lên làm vệ sinh phòng làm việc của ông Nguyễn Hữu Thắng thì phát hiện ông Thắng gục trong phòng.

Ngay sau khi nhận được thông tin, Bộ trưởng, các Thứ trưởng Bộ GTVT, lãnh đạo Cục Đường sắt Việt Nam, cán bộ một số cơ quan của Bộ và Cục đã có mặt, đồng thời báo ngay cho cơ quan y tế, cơ quan công an và gia đình đến để phối hợp giải quyết sự việc nhưng ông Thắng đã tử vong.

Đến khoảng 23g30 cùng ngày, các cơ quan chức năng đã hoàn thành việc khám nghiệm ban đầu và chuyển thi thể ông Nguyễn Hữu Thắng về Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Ông Nguyễn Hữu Thắng sinh ngày 01-5-1955, quê quán tại xã Điện Hồng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, được bổ nhiệm giữ chức Cục trưởng Cục Đường sắt VN từ tháng 6-2010. Trong thời gian gần đây, ở cơ quan, ông Nguyễn Hữu Thắng không thể hiện vấn đề gì bất thường.

Theo Bộ GTVT buổi sáng ngày 22-1, ông Thắng dự cuộc họp triển khai thực hiện Đề án xã hội hóa lĩnh vực đường sắt do Bộ trưởng chủ trì. Trong cuộc họp, ông đã đọc báo cáo của Cục và được Bộ trưởng đánh giá cao những tiến bộ của Cục Đường sắt Việt Nam trong lĩnh vực này.

Cuối giờ sáng, ông Thắng chủ trì cuộc họp lãnh đạo Cục Đường sắt Việt Nam để chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác năm 2014 và triển khai kế hoạch năm 2015 của Cục (theo lịch, Hội nghị sẽ tổ chức vào buổi chiều ngày 23-1.

Buổi chiều, ông tham dự cuộc họp Ban Chỉ đạo tái cơ cấu Tổng công ty Đường sắt VN do Thứ trưởng Nguyễn Ngọc Đông chủ trì. Trong cuộc họp này, ông không tham gia phát biểu ý kiến.

Cuối giờ chiều ông vẫn giải quyết các công việc bình thường của Cục tại phòng làm việc.

Bộ GTVT cho biết hiện tại, cơ quan chức năng đang tiếp tục tiến hành các thủ tục xác minh, làm rõ sự việc theo quy định của pháp luật.

Xe khám nghiệm chạy vào Bộ Giao thông vận tải làm việc - Ảnh: Minh Quang
Xe khám nghiệm chạy vào Bộ Giao thông vận tải làm việc - Ảnh: Minh Quang
Tuấn Phùng

__________

11h 00 hôm nay, Bộ Giao thông Vận tải vẫn chưa nói được gì về cái chết của Cục trưởng Cục Đường sắt Nguyễn Hữu Thắng 


11:04 ngày 23 tháng 01 năm 2015

Bộ GTVT nói về cái chết của Cục trưởng Đường sắt

TPO - Ngày 23/1, Bộ Giao thông vận tải đã có văn bản thông tin về cái chết của ông Nguyễn Hữu Thắng, Cục trưởng Cục đường sắt Việt Nam được phát hiện tại phòng làm việc tối qua, 22/1.
Cổng trụ sở Bộ Giao thông vận tải, số 80 Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Ảnh: Lê Dương.Cổng trụ sở Bộ Giao thông vận tải, số 80 Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Ảnh: Lê Dương.

Ngay sau khi nhận được thông tin, Bộ trưởng, các Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải, lãnh đạo Cục Đường sắt Việt Nam, cán bộ một số cơ quan của Bộ và Cục đã có mặt, đồng thời báo ngay cho cơ quan y tế, cơ quan công an và gia đình đến để phối hợp giải quyết sự việc nhưng không cứu chữa được ông Thắng.

Đến khoảng 23h30 cùng ngày, các cơ quan chức năng đã hoàn thành việc khám nghiệm ban đầu và chuyển thi thể ông Thắng về Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Ông Nguyễn Hữu Thắng sinh ngày 01/5/1955, quê quán tại xã Điện Hồng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, được bổ nhiệm giữ chức Cục trưởng Cục Đường sắt Việt Nam từ tháng 6/2010.

Trong thời gian gần đây, ở cơ quan, ông Thắng không thể hiện vấn đề gì bất thường. Buổi sáng ngày 22/01/2015, ông Thắng dự cuộc họp triển khai thực hiện Đề án xã hội hóa lĩnh vực đường sắt do Bộ trưởng chủ trì, trong cuộc họp, ông đã đọc báo cáo của Cục và được Bộ trưởng đánh giá cao những tiến bộ của Cục Đường sắt Việt Nam trong lĩnh vực này.

Cuối giờ sáng, ông Thắng chủ trì cuộc họp lãnh đạo Cục Đường sắt Việt Nam để chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết công tác năm 2014 và triển khai kế hoạch năm 2015 của Cục (theo lịch, Hội nghị sẽ tổ chức vào buổi chiều ngày 23/01/2015)

Buổi chiều cùng ngày, ông Thắng tham dự cuộc họp Ban Chỉ đạo tái cơ cấu Tổng công ty Đường sắt Việt Nam do Thứ trưởng Nguyễn Ngọc Đông chủ trì. Trong cuộc họp, ông không tham gia phát biểu ý kiến. Đến cuối giờ chiều, ông vẫn giải quyết các công việc bình thường của Cục tại phòng làm việc.

Khoảng 19h, nhân viên lao công Cục Đường sắt Việt Nam khi lên làm vệ sinh phòng làm việc của ông Thắng thì phát hiện ông chết trong phòng làm việc.

Hiện vụ việc đang được cơ quan chức năng tiếp tục làm rõ. 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Internet được khôi phục hoàn toàn từ ngày 23/1


Sớm hơn một ngày so với dự định hôm đầu tuần, đường truyền Internet từ Việt Nam đi quốc tế sẽ được khôi phục vào ngày mai.
Nhà điều hành tuyến cáp quang biển quốc tế vừa gửi thông báo đến các đơn vị thành viên trong đó có FPT, cho biết vào trưa nay, họ đã sửa xong mối nối cuối cùng trên đoạn cáp quang bị đứt.
ban-do-AAG-1630-1421645746-4911-14219337
Sơ đồ minh họa tuyến cáp quang biển AAG nối châu Á Thái Bình Dương với Mỹ.
Đến 12h20 trưa mai (23/1) công tác hàn nối sẽ được hoàn tất. Khi đó, 100% kênh truyền sẽ được khôi phục. Như vậy, việc sửa chữa cáp quang biển sẽ hoàn thành sớm hơn tính toán hôm đầu tuần và đúng như kỳ vọng ban đầu.
Trước đó, vào ngày 5/1, tuyến cáp quang biển quốc tế lớn nhất nối Việt Nam với quốc tế đã bị đứt lần đầu tiên trong năm mới. Vị trí bị đứt là đoạn rẽ nhánh vào bờ biển Vũng Tàu. Trong năm 2014, có hai lần tuyến cáp này bị đứt cũng ở đoạn Vũng Tàu đi Hong Kong, quá trình sửa chữa mất nhiều thời gian. Kể từ khi hoạt động đến nay, có ít nhất 8 lần đoạn cáp trên bị đứt.
Vào năm 2007, tại Malaysia,19 nhà viễn thông lớn của châu Á Thái Bình Dương và Mỹ (trong đó có AT&T của Mỹ, TELKOM của Indonesia, Telekom của Malaysia, FPT Telecom, Saigon Postel Corporation, Viettel, VNPT của Việt Nam) đã ký kết biên bản ghi nhớ về việc xây dựng tuyến cáp quang biển nối giữa hai khu vực. Đến năm 2009, tuyến cáp quang dài 20.000 km nói trên đi vào hoạt động, tạo kết nối thông suốt giữa Malaysia, Singapore, Thái Lan, Brunei, Việt Nam, Hong Kong, Philippines, đảo Guam, Hawaii và bờ Tây nước Mỹ.
AAG chỉ là một trong số hàng chục tuyến cáp quang biển trên thế giới, giúp kết nối hệ thống Internet giữa các châu lục. 
Thanh Bình





















































Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thủy Tổ Báo Chí Việt Nam .


GIA ĐỊNH BÁO  
Do Cụ Trương Vĩnh Ký làm chủ biên chính thức được coi là tờ báo thủy tổ của báo chí Việt Nam .
Số 5 ,tờ Gia Định Báo ra ngày 15 tháng 8 - 1865


LƯỢC SỬ BÁO CHÍ VIỆT NAM
TỪ KHỞI THỦY TỚI 1945


VŨ ANH TUẤN 
Sau Hòa Ước Nhâm Tuất, được ký vào năm 1862, phía Việt Nam phải mất đứt cho Pháp ba tỉnh Gia định, Biên Hòa và Định Tường, người Pháp bèn lập tức thiết lập và tổ chức hệ thống cai trị ở nhượng địa. Báo chí là một trong những công cụ đầu tiên được người Pháp sử dụng. 

Trước năm 1862, trên đất nước chúng ta không có báo, chỉ có một số câu hát, câu vè nói tới một vài sự kiện rất đơn lẻ, ví dụ như vụ Tự Đức khi nối nghiệp Thiệu Trị đã tiếm ngôi của anh là Hồng Bảo, người được người đương thời thương tiếc và nhắc tới với hai câu:  
"Chiều chiều lại nhớ chiều chiều, 
nhớ người quân tử khăn điều vắt vai".  
hoặc vụ hai đại thần Tường và Thuyết lộng hành, lập và phế một lúc mấy vua sau khi Tự Đức băng hà với mấy câu hát như:  
"Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết, 
Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường".  
Trong hai câu thơ này có cả tên Tường lẫn Thuyết và có nhắc tới việc chỉ có trong có bốn tháng mà có tới ba vị vua bị giết. Có người gọi các câu thơ câu vè này là "Báo Miệng" nhưng thực chất thì chúng không thể được coi là một dạng báo vì chúng chỉđưa ra những hành động đơn lẻ và không có vẻ gì là một tờ báo, vào thời đó được gọi là "Nhật trình" nghĩa là hàng ngày đưa ra đủ mọi thông tin trong tất cả mọi lãnh vực của xã hội. 
Do đó ta có thể nói chỉ từ ngày có sự can thiệp của bọn Pháp thực dân vào nước ta thì chúng ta mới có báo. Và những tờ báo đầu tiên ở nước ta đều bằng Pháp hoặc Hán văn. Tờ thứ nhất lần đầu tiên xuất hiện là tờ BULLETIN OFFICIEL DE L'EXPÉDITION DE COCHINCHINE (Tập san chính thức của cuộc Viễn chinh ở Nam kỳ, cũng có thể gọi là Công Báo của đoàn quân Viễn chinh ở Nam Kỳ) ra đời năm 1862 bằng Pháp văn chỉ chứa đựng toàn những thông cáo, nghị định, quyết định vv… chả có gì liên quan tới những sinh hoạt bình thường của dân chúng, ngoại trừ mấy khoản nói trên. Tờ báo thứ nhì do Thiếu Tướng Hải Quân Bonard cho xuất bản tên là tờ BULLETIN DES COMMUNES (Cáo trình các Làng Xã) được viết bằng chữ Hán và dùng để hiểu dụ quần chúng. Chính vào thời điểm này chính quyền thuộc địa Pháp muốn cho xuất bản một tờ báo bằng chữ Quốc Ngữ, nhưng vì chữ quốc ngữ có dấu nên phải chờ đúc ở bên Pháp, mãi tới cuối năm 1864 mà vẫn chưa xong. Vì thế, trong khi chờ đợi, Trung Tướng Hải Quân Roze cho xuất bản một tờ báo thứ ba là tờ BULLETIN DU COMITÉ AGRICOL ET INDUSTRIEL DE LA COCHINCHINE (Kỷ yếu của Ủy Ban Canh Nông và Kỹ nghệ ở Nam Kỳ). Cụ Trương Vĩnh Ký chính là người Việt Nam đầu tiên làm trợ bút cho tờ báo này. Ít lâu sau KERGUDA sang làm Thống Đốc Nam Kỳ và đã có lời mời cụ Trương ra làm quan, nhưng cụ từ chối và XIN ĐƯỢC RA MỘT TỜ BÁO BẰNG QUỐC NGỮ TÊN LÀ GIA ĐỊNH BÁO. Lời thỉnh cầu của Cụ được chấp thuận và Nghị Định cho phép xuất bản được ký ngày 01-4-1865, nhưng không phải ký cho Cụ mà là cho một người Pháp tên là ERNEST POTTEAUX (một viên thông ngôn làm việc ở Soái phủ Nam Kỳ). Và phải cho đến ngày 16-9-1869 mới có Nghị Định của Thủy sư Đô Đốc OHIER ký giao hẳn tờ GIA ĐỊNH BÁO cho Cụ Trương Vĩnh Ký làm chủ biên. Qua sự việc nói trên tờ GIA ĐỊNH BÁO đã chính thức được coi là tờ báo thủy tổ của báo chí nước ta. 









 Sau tờ GIA ĐỊNH BÁO, là các tờ 

PHAN YÊN BÁO (1868) của Diệp Văn Cương, 
 
 Một trang thủ bút của Diệp Văn Cương giải thích ý nghĩa niên hiệu Thành Thái



NAM KỲ NHỰT TRÌNH (Le Journal de Cochinchine) (1885), 

MISCELLANÉES ou LECTURES INSTRUCTIVES POUR LES ELÈVES DES ÉCOLES PRIMAIRES, COMMUNALES ET CANTONALES (Thông - loại khóa trình) (1888),

NÔNG CỔ MÍN 
ĐÀM (1900), có nghĩa bằng Pháp văn là "Causeries sur l'agriculture et le commerce" mà chủ bút là Cụ Dũ Thúc Lương Khắc Ninh, 



Lương Khắc Ninh (1862-1943), tự là Dũ Thúc, bút hiệu Dị Sử Thị, là một nhân vật hoạt động tích cực trong nhiều lĩnh vực văn hóa ở Sài Gòn suốt từ năm 1900 cho đến những năm 1930. Ông là một nhà báo, nhà văn, một người cổ động mạnh mẽ cho thương nghiệp, nhà viết tuồng kiêm bầu gánh hát bội, nghị viên của Hội đồng Tư vấn của Chính phủ Nam Kỳ. Trong lĩnh vực nào ông cũng để lại ảnh hưởng và tiếng tốt.  ( http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C6%B0%C6%A1ng_Kh%E1%BA%AFc_Ninh )

LE MONITEUR DES PROVINCES (Nhật báo Tỉnh) (1905), LỤC TỈNH TÂN VĂN (1907) mà chủ nhiệm là Cụ Nguyễn văn Của, Chủ bút là Cụ Lê Hoằng Mưu,

NAM KỲ ĐỊA PHẬN tên tây là "Semaine religieuse" (1909),

NAM TRUNG NHẬT BÁO của Nguyễn Tử Thức, 



CÔNG LUẬN BÁO (1916) một tuần ra 2 kỳ vào thứ ba và thứ sáu,

AN HÀ BÁO in ở Cần Thơ năm 1917, tuần báo ra ngày thứ năm,

NAM KỲ KINH TẾ BÁO (1920) tên tây là "L'Information économique de Cochinchine",

NHẬT TÂN BÁO (L'Ere nouvelle) (1922) chủ nhiệm là Cao Hải Để,

ĐÔNG PHÁP THỜI BÁO (Le Courrier Indochinois (1923),

TRUNG LẬP BÁO (Edition annamite de l'Impartial) (1924),

PHÁP VIỆT NHỨT GIA (1927),

ĐUỐC NHÀ NAM (1928) của Cụ Nguyễn Phan Long,

KỲ LÂN BÁO của Bùi Ngọc Thự cũng vào năm 1928,

PHỤ NỮ TÂN VĂN (1929) tuần báo ra ngày thứ năm của bà Nguyễn Đức Nhuận,

THẦN CHUNG (1929) của Diệp Văn Kỳ,

LONG GIANG tên tây là Le Mékong (1930),

ĐÀN BÀ MỚI (1934) của Bà Băng Dương tức Thụy An,

ĐÔNG THINH tên tây là "La voix de l'Orient" (1935), tuần báo của Diệp Văn Kỳ,

ZÂN (1935) của Nguyễn Văn Nhựt,

MAI (1935) của Đào Trinh Nhất,

NỮ LƯU (1936) của Tô Thị Để,

VĂN LANG (1939) của Hồ Văn Nhựt, Hồ Tá Khanh,

NAM KỲ TUẦN BÁO (1942) của Hồ văn Trung tức Hồ Biểu Chánh,

ĐẠI VIỆT TẠP CHÍ (1942) Hồ Văn Kỳ Trân làm quản lý, 


BULLETIN DE LA SOCIÉTÉ D'ENSEIGNEMENT MUTUEL DE LA COCHINCHINE (Kỷ Yếu của Hội Khuyến Học Nam Kỳ) (1942),

TIẾN (1945) của Mai V
ăn Bộ.

Tr
ên đây là một số trong những tờ báo ra hàng tháng, hàng tuần hoặc là nhật báo ở Miền Nam.
*********
Bây giờ chúng ta hãy xem ở Miền Bắc thì ra sao? 

Ở Miền Bắc phải tới năm 1892 mới có một tờ báo viết bằng chữ Hán do một người Pháp tên là Henri Schneider, chủ nhà in xuất bản; đó là tờ ĐẠI NAM ĐỒNG VĂN NHẬT BÁO, nội dung của tờ này chỉ là những Nghị Định của Quan Thống Sứ và những bài nhằm mục đích hiểu dụ dân chúng. Tờ báo Việt ngữ đầu tiên ở Miền Bắc ra đời năm 1905 và có tên là ĐẠI VIỆT TÂN BÁO do người Pháp tên là E. Babut làm chủ nhiệm, nội dung chỉ nhằm ca tụng những kẻ có quyền có thế, tuy nhiên cũng có một ít bài khảo cứu văn chương nhưng chất lượng rất kém. Báo này mỗi trangđược chia hai theo chiều dọc, một bên chữ Hán và bên kia chữ Quốc ngữ. Năm 1907, tờ ĐẠI NAM ĐỒNG VĂN NHẬT BÁO CÓ THÊM PHẦN TIẾNG QUỐC NGỮ VÀ THÊM TÊN BẰNG QUỐC NGỮ LÀ ĐẠI NAM ĐĂNG CỔ TÙNG BÁO. Lời phi lộ cho sự thay đổi và thêm thắt này cho biết: "Kể từ số 793 ra ngày 28-3-1907 tờ báo được chia làm hai phần: Phần Hán văn do Cụ Đào Nguyên Phổ phụ trách, còn phần Quốc Ngữ do Cụ Nguyễn Văn Vĩnh biên tập", để rồi từ một tờ báo chỉ nói về bọn quan lại, tiến lên thành báo nghị luận ra hàng tuần. Số báo đổi mới đầu tiên này mặt ngoài có vẽ hai con rồng (Lưỡng long chầu nguyệt) in toàn bằng chữ Hán và đặt một cái khung ở giữa trong có hai hàng chữ, mỗi hàng ba chữ, để viết sáu chữ ĐẠI NAM ĐỒNG VĂN NHẬT BÁO bằng Hán tự. Mặt trong in toàn bằng chữ Quốc ngữ và đề tựa đề là: ĐẠI NAM ĐĂNG CỔ TÙNG BÁO. Tờ báo đổi mới này đăng những bài có tính cách xã hội, kèm theo một chút thời sự trong nước, cũng như ở nước ngoài, cộng với một số bài xã thuyết dưới ký tên N.V.V., Tân Nam Tử, Đào Thị Loan vv… 
Tất cả đều là bút hiệu của Cụ Nguyễn Văn Vĩnh. Đại khái cũng có ý truyền bá tư tưởng Âu Tây nhưng còn ở trong một phạm vi rất hạn hẹp. 
Do phạm vi hạn hẹp của cuộc nói chuyện, sau đây tôi xin chỉ nhắc tới những tờ báo đáng nhắc ở Miền Bắc, từ thời điểm đó tới năm 1945. Đó là các tờ:ĐÔNG DƯƠNG TẠP CHÍ (1913) (Edition spéciale du Lục-Tỉnh-Tân-Văn pour le Tonkin et l'Annam) in tại Hanoi, phát hành mỗi tuần vào ngày thứ năm mà chủ nhân là F.H.Schneider và người này đã mời Cụ Nguyễn Văn Vĩnh từ Nam Kỳ trở lại Miền Bắc để làm chủ bút, TRUNG BẮC TÂN VĂN (1913) cũng Cụ Vĩnh làm chủ nhiệm mỗi tuần ra ba số, tên Tây của tờ này là "Gazette de l'Annam", NAM PHONG (1917-1934) (Văn học, khoa học tạp chí) in ở Hà Nội mỗi tháng một kỳ, nhưng từ số 194 (15-4-1934) mỗi tháng hai kỳ. Chủ bút kiêm quản lý: Cụ Phạm Quỳnh; đồng chủ bút: Cụ Dương Bá Trạc, đình bản số 210 ngày 16-12-1934. Tuy nhiên coi như tổng số là 211 số vì số Xuân năm 1918 (được coi là thủy tổ báo Xuân của ta) KHÔNG CÓ ĐÁNH SỐ. Ngoài ra với bộ báo coi như VĨ ĐẠI nhất của Việt Nam này, nhiều người quan niệm là chỉ cần có tới số 192 là đã ĐỦ BỘ, vì sau số 192 tờ báo được giao cho Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng vì Cụ QUỲNH vào Kinh làm quan; nhiều người coi rằng từ số 193 cho tới số chót là những số không còn tầm quan trọng của Nam Phong như khi dưới sự lèo lái của Cụ QUỲNH, TẬP KỶ YẾU CỦA HỘI TRÍ TRI (1922) (Bulletin de la Société d'Enseignement Mutuel du Tonkin) phát hành mỗi tam cá nguyệt, VỆ NÔNG BÁO (1923) (Revue agricole en Quốc Ngữ), TRUNG HÒA NHẬT BÁO (1923), ĐÔNG PHÁP (1925) (Edition Annamite de France Indochine), AN-NAM TẠP CHÍ (1926) của Cụ Tản Đà, HÀ THÀNH NGỌ BÁO (1927), TỨ DÂN TẠP CHÍ (1930) tên Tây là "Revue pour tous", PHỤ NỮ THỜI ĐÀM (1933), TÂN THANH TẠP CHÍ (1931) chủ bút là Cụ Nguyễn Trọng Thuật, VĂN HỌC TẠP CHÍ (1932) Chủ nhiệm Dương Tự Quán, PHONG HÓA TUẦN BÁO (1932-1936) ra được tổng cộng 190 số thì bị cấm, Chủ nhiệm là Nguyễn Xuân Mai, Quản lý là Phạm Hữu Ninh, nhưng linh hồn của tờ báo này là Nhất Linh Nguyễn Tường Tam và Tự Lực Văn Đoàn, đây là một trong những tờ tuần báo ấn tượng nhất, hay nhất, tuyệt vời nhất, quy tụ những cây bút, những nhà thơ số một của thời đó cũng như các họa sĩ danh tiếng nhất như Nguyễn Tường Lân, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí vv… Tên Tây của báo này là (Revue hebdomadaire des Moeurs) và chủ trương của nó là "Cười cợt để sửa đổi phong hóa", NHẬT TÂN (1933) của Đỗ Văn tuần báo ra ngày thứ tư, TIỂU THUYẾT TUẦN SAN (1933) của Vũ Công Định, PHỤ NỮ THỜI ĐÀM (1933) mà chủ nhiệm là bà Nguyễn Văn Đa, TIỂU THUYẾT THỨ BẢY (1934), ĐÔNG TÂY BÁO (1935) do Dương Tự Quán làm chủ nhiệm, LOA (1935) do Bùi Xuân Học làm chủ nhiệm, NGÀY NAY (1935) mỗi tháng ra ba kỳ do Nguyễn Tường Cẩm làm chủ nhiệm, sau là Trần Khánh Dư và quản lý là Nguyễn Tường Lân đây là tờ báo cũng của Tự Lực Văn Đoàn làm và là một trong mấy tờ báo tuyệt vời nhất mà làng báo của chúng ta đã có kể từ trước tới nay, với những bài vở thuộc loại hay nhất, những bài xã luận cổ vũ sựđổi mới hay nhất, với những minh họa tuyệt vời nhất, trong đó có những minh họa về Lý Toét và Xã Xệ, về Bang Bạnh, và cuối cùng là với những phụ bản do các họa sĩ danh tiếng nhất Việt Nam như Trần Bình Lộc, Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Huyến, Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Cát Tường (Lemur) vv… HÀ NỘI BÁO (1936) do Lê Cường làm chủ nhiệm, ĐÔNG DƯƠNG TẠP CHÍ (1937) do Nguyễn Giang làm chủ nhiệm, TIỂU THUYẾT THỨ NĂM (1937), TIỂU THUYẾT THỨ BA (1937) do Đoàn Như Khuê làm chủ nhiệm, ĐÔNG TÂY TIỂU THUYẾT BÁO (1937) tuần báo do Nguyễn Xuân Thái làm quản lý, LY TAO TUẦN BÁO (1937) do Đỗ Văn Tình làm chủ nhiệm, TIỂU THUYẾT TUẦN SAN (1937) do Lê Ngọc Thiều làm quản lý, VỊT ĐỰC (1938), tuần báo trào phúng ra ngày thứ tư hàng tuần do Nguyễn Đức Long quản lý, TIỂU THUYẾT NHẬT BÁO (1938) do Đoàn Như Khuê làm chủ nhiệm, Đỗ Xuân Mai làm quản lý, ra được tổng cộng 363 số, ĐỌC (1938) do Nguyễn Văn La làm chủ nhiệm, ra được 94 số tức là 94 tuần lễ, CHUYỆN ĐỜI (1938) tuần báo ra ngày thứ bảy do Lê Văn Hoàng sáng lập và Nguyễn Văn Sự quản lý, TAO ĐÀN (1939) bán nguyệt san do Vũ Đình Long làm chủ nhiệm, Lan Khai làm quản lý, sau Nguyễn Triệu Luật thay thế, ra được 13 số và 3 số đặc biệt về Tản Đà, Vũ Trọng Phụng và số về Ba Lan, TRUNG BẮC CHỦ NHẬT (1940) trước do Dương Phượng Dực làm quản lý sau là Nguyễn Doãn Vượng làm, TRADUCTEUR (LE) (1940) Tạp chí chuyên về dịch thuật do Trương Anh Tự làm chủ nhiệm và lo phần Pháp và Việt ngữ, THANH NGHỊ (1941) của Doãn kế Thiện và chủ nhiệm là Vũ Đình Hòe, đây cũng là một trong những báo nổi tiếng nhất trong thời tiền chiến, tuy nhiên báo này nặng về phần pháp lý và lịch sử, và có rất ít minh họa, TRUYỀN BÁ (1941) một tập báo dành cho tuổi trẻ ra ngày 10 và ngày 25 mỗi tháng và mỗi số là một chuyện ngắn trên dưới 32 trang dành cho các bạn trẻ của các nhà văn nổi tiếng mà chủ nhiệm là ông Vũ Đình Long, chủ nhà xuất bản Tân Dân, NHI ĐỒNG HỌA BẢN (1941) tạp chí dành cho thiếu nhi mà chủ nhiệm là bà Phạm Ngọc Khuê và quản lý là Nguyễn Văn Hữu, THANH NGHỊ (phần trẻ em) (1941) mỗi tháng ra 3 kỳ vào các ngày 10, 20 và 30 mà chủ nhân là Doãn Kế Thiện và quản lý là Vũ Đình Hòe, PHÁP-VIỆT (1941) tuần báo văn chương phụ nữ thanh niên chính trị mà chủ nhiệm là một người Pháp tên là Clément Edmond Koch và quản lý là Trần Nguyên Bí, TRI TÂN (1941) Tạp chí văn hóa mà chủ nhiệm là Nguyễn Tường Phượng và quản lý là Dương Tự Quán, đây là một trong những tờ báo hàng đầu trong số khoảng 10 tờ nổi tiếng là đứng đắn nhất với những cây bút như Cụ Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố chẳng hạn, và giờ đây, sau khi đã sơ lược lịch sử báo chí ở Miền Bắc, ta hãy quay trở vào Miền Trung để tiếp tục tìm hiểu. 
Miền Trung hay đất Thần Kinh đã chỉ thực sự góp mặt với báo chí nước nhà từ năm 1921 với tờ Tiếng Dân của Cụ Huỳnh Thúc Kháng, tuy nhiên từ năm 1914 đã có một tờ báo coi như tờ báo đi dọn đường ở Miền Trung là tờ báo "LE RIGOLO" (Kẻ ngộ nghĩnh) do một nhóm thanh niên tân học gôm có: Võ Chuẩn, Lê Thanh Cảnh, Phan Văn Tài, Lê Văn Thiết vv… chủ trương, và trong năm 1914, hai học giả pháp là Linh mục Léopold Cadière và Edmond Gras, cùng với một nhóm nhà trí thức Việt Nam đã cùng nhau lập ra Hội Đô Thành Hiếu Cổ (l'Association des Amis du Vieux Huế) và cho xuất bản một nguyệt san nhan đề là NGUYỆT SAN ĐÔ THÀNH HIẾU CỒ (Bulletin des Amis du Vieux Huế) chuyên khảo cứu về lịch sử, chính trị, nghệ thuật tôn giáo và kinh tế xã hội, đây cũng là một bộ báo nằm ở hàng đầu trong các báo chí của Việt Nam, ĐẶC BIỆT LÀ BỘ BÁO NÀY LÀ BỘ BÁO DUY NHẤT CHỈ HOÀN TOÀN NGHIÊN CỨU VỀ VIỆT NAM và những bài nghiên cứu đều do những cây bút lỗi lạc, uyên thâm nhất. Mười ba năm sau, vào năm 1927 báo TIẾNG DÂN ra đời và kế sau đó là các báo THẦN KINH TẠP CHÍ (1927) của Lê Thanh Cảnh, có phụ trương tiếng Pháp, TRÀNG AN BÁO (1932) của Cụ Bùi Huy Tín do Cụ Phan Khôi làm Chủ Bút, KIM LAI TẠP CHÍ (1932) của Cụ Đào-Duy-Anh, đặc biệt là tờ báo này có mục đích chính là khuếch trương việc bán Dầu Khuynh Diệp của hãng Viễn Đề, PHỤ NỮ TÂN TIẾN (1933) do Cụ Hồ Phú Viên sáng lập với sự cộng tác của người con gái là bà Hồ Thị Thục cùng với chồng là Nguyễn Tấn, TIÊN LONG (1933) do Bà Lê Thành Tường chủ trương, trong khi chồng bà, ông Lê Thành Tường làm bí thư cho Khâm sứ Châtel, NHÀNH LÚA (1935) do Nguyễn Khoa Văn tức Hải Triều chủ trương, SAO MAI (1935) do Trần Bá Vinh chủ trương với sự cộng tác của Tiêu Viên Nguyễn Đức Bính, ÁNH SÁNG (1936) của dân biểu Nguyễn Quốc Túy, VIÊN ÂM (1936) cơ quan của Hội Phật Giáo Việt Nam do Bác sĩ Lê Đình Thám chủ trương, VÌ CHÚA (1936) cơ quan của Công giáo do Linh Mục Nguyễn Văn Thích cùng với sự cộng tác của Michel Phan Huy Đức và Bùi Tuân, LA GAZETTE DE HUẾ (1936) (Nhật báo của Huế) do Bùi Huy Tín và Ông Phạm Văn Ký chủ trương và viết bằng Pháp văn, KINH TẾ TÂN VĂN (1936) của Phạm Bá Nguyên, CƯỜI (1936) tuần báo trào phúng của Trần Thanh Mại và Lê Thành Tuyển, SÔNG HƯƠNG (1936) của Phan Khôi với sự cộng tác của Phan Nhung và Nguyễn Cửu Thanh, LES RESPONSABLES (1936) (Những người có trách nhiệm), đặc san bằng Pháp văn của nhóm trí thức tân học như Nguyễn Huy Bảo, Nguyễn Thúc Hào, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Lân nhằm mục đích phổ biến văn minh Âu Mỹ, nhóm này tự cho là mình có trách nhiệm phải lãnh đạo quần chúng, GIÁO DỤC TẠP CHÍ (1941) nguyệt san viết bằng Pháp và Việt Ngữ do Nguyễn Khoa Toàn làm chủ nhiệm. 
Chúng ta đã vừa cùng nhau "cưỡi ngựa xem hoa" qua vườn báo chí Việt Nam Nam Bắc Trung, và vì hiểu biết của tôi chỉ có hạn, tôi xin được kết thúc cuộc nói chuyện ở đây. 

27/5/2007 
_________________________________________ 

Tài Liệu Tham Khảo 
- Mục lục Báo chí Việt Ngữ 1865-1965 cua Cụ Lê Ngọc Trụ - Saigon 1966

- Thư Tịch Báo Chí Việt Nam - của PGS-PTS Tô Huy Rứa - NXB Chính trị Quốc gia - Ha Noi 1998 

- Nghề Báo của Tế Xuyên . 

- Bibliographie Annamite - Livres, Recueils périodiques parus depuis 1866 - publiée par le Comité Agricole et Industriel de la Cochinchine.

- Bibliotheca Indosinica par Henri Cordier - Paris 1912-1914 en 4 volumes.

Nguồn : http://newvietart.com/index4.724.html

___________________
Hình Báo Xưa trước 1945 chưa chọn


Phụ Nữ Tân Văn 1933
 
 Một trang trên báo xuân 1933 của Phụ Nữ Tân Văn


Phụ Nữ Tân Văn số xuân 1932


báo Lục Tỉnh Tân Văn số đầu tiên năm 1907






Phần nhận xét hiển thị trên trang