Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 22 tháng 1, 2015

Giáo sư Kê


motmotoi-1-ngmannhien-content
  Ảnh Nguyễn Man Nhiên 



Hôm nay, Giáo sư Kê phải sang làng Ao Xá dự lễ tế thành hoàng, nên ngài dậy từ sớm. Mới khoảng năm giờ sáng, mà ngài đã lục đục chuẩn bị đầu tóc, quần áo, giày tất…Ngài đóng bộ comple chỉnh tề, đứng trước gương soi. Tự cảm thấy hài lòng với mình. Vẫn phong độ lắm! Ngài xịt tí keo lên mái tóc thường xuyên được nhuộm đen nhức, rồi dùng lược chải hất ra đằng sau, bóng mượt. Ngài ngắm nghía dung nhan lần nữa và lẩm bẩm một mình: “ Kính thưa ngài Giáo sư Kê, à không, ngài Giáo sư Gà! Thay mặt toàn thể dân làng Ao Xá, nhiệt liệt chúc mừng và cám ơn ngài…”.
 Thật ra, họ và tên đầy đủ của ngài là: Giáo sư Tiến sĩ Giang Đình Kế. Có điều, ngay từ buổi đầu tiên đến lớp vỡ lòng của thày giáo Hà, ngài giáo sư tương lai đã bị nhầm tên, Kế thành Kê. Kể ra thì cái sự nhầm ấy cũng dễ giải thích, hai chữ ấy khác nhau mỗi dấu sắc. Mà tay thư ký, khi làm giấy khai sinh cho con ông chủ tịch uỷ ban, lại hứng khởi sao đó, viết kiểu chữ “phăng-tê-ry”. Nên dấu má chả đâu vào đâu, khiến các thầy cô ở các lớp học sau này, nhầm loạn hết cả lên, cứ Kê mà gọi!
 Nhưng ở nhà thì không có nhầm nhọt gì hết. Kế là con thứ sáu, út của ông chủ tịch Giang Đình Khánh. Khi Kế sinh, thì ông Khánh đã nắm chức chủ tịch uỷ ban. Dân làng Ngọc quen miệng, gặp Kế cởi truồng tồng ngồng chơi với đám trẻ con ngoài đường, hay sờ chim Kế và khen: “Cu Kế con mõ Khánh chim to đáo để”. Chả là, hồi còn phong kiến, họ Giang trong làng Ngọc truyền đời làm mõ.
 Chuyện làm mõ làng thì có rất nhiều người kể rồi. Đến cả trong chèo “Quan Âm Thị Kính”, cũng tả một hồi dài về cái sự làm mõ. Dân làng Ngọc hay có câu cửa miệng là “tham như mõ”, để nói về cái sự ăn tham, ăn bẩn…Nói tóm lại là, không vẻ vang gì. Chủ tịch Khánh nghe dân làng cứ xách mé mõ Khánh, mõ Khánh…thấy nóng mắt. Mặc dù, chính cái lý lịch ba đời làm mõ ấy, nó đã đưa Khánh lên chức to nhất làng. Chủ tịch Khánh liền ra lệnh cho “quân, dân, chính, đảng”, tiến hành một đợt học tập xây dựng đời sống văn hoá mới, đi đứng, nói năng cho phép tắc, văn hoá cao… Mấy tay chậm tiến bộ trong làng, quen thói nói năng bạt mạng, bị chủ tịch Khánh cho dân quân điệu ra uỷ ban, bắt thức đêm làm bản kiểm thảo, muỗi đốt cho sưng chân to như chân voi. Khiếp quá! Cạch đến già. Từ sau đó trở đi, cả làng, không ai dám gọi mõ…mõ…nữa.
 Kế - ra đời lúc đất nước đã thanh bình, lại là con ông chủ tịch uỷ ban nên cũng sướng. Tuy có hay bị nhầm lẫn Kế với Kê, nhưng đấy chỉ là tình tiết nhỏ nhặt không đáng lưu tâm. Vấn đề chính là, Kế học cũng khá. Năm nào cũng học sinh tiên tiến, cũng được phát thưởng. Chủ tịch Khánh mát mặt lắm. Hết phổ thông, Kế thi vào đại học nông nghiệp, theo sự áp đặt của bố, mặc dù Kế khá văn, muốn thi vào tổng hợp: “Mày ngu lắm con ạ, nước ta bây giờ, nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, học trường ấy ra mới có nhiều cơ hội phát triển. Mày học tổng hợp văn ra để định đi cạo giấy mà ăn à?”.
 Thế là Kế đi học Trường Đại Học Nông Nghiệp.
Cũng lạ là, ở nhà trường đại học hẳn hoi, nhưng vẫn nhầm Kế thành Kê. Cứ phải đính chính mãi đâm chán, thì Kê cũng chả sao! Tốt nghiệp, Kê được phân công về “Viện Nghiên Cứu Súc Vật Trung Ương”.Chuyện tình yêu rồi chuyện gia đình của Kê cũng chả có gì đáng nói. Nó cũng bình thường như mọi câu chuyên tình thời xưa thôi. Có nghĩa là, một hôm đẹp giời, Kê về nhà thì bố bảo: “ Nhà ông Bôi, bạn cùng hoạt động với tao, có cô con gái làm ở tài chính, nghe hợp với mày. Đến đó mà tìm hiểu rồi cưới vợ”.
 Ba tháng sau, Kê cưới vợ.
 Sáu năm sau ngày cưới, vợ chồng Kê đẻ đủ hai đứa con, theo đúng qui định về sinh đẻ kế hoạch.
 Bây giờ Kê chỉ còn tập trung vào lo phát triển sự nghiệp. Ông bố Kê bảo : “Làm cái thằng đàn ông thì phải có công danh, sự nghiệp”.
 Sự nghiệp của Kê ở Viện Nghiên Cứu, nghe chừng cũng không khá lắm. Lần thì được trên giao cho chủ trì đề tài lai giống giữa dưa lê và bí ngô. Kết quả, là một loại cây nửa dưa nửa bí, quả không ra tròn không ra méo, nhưng mà năng xuất cao cực! Có điều là cái thứ cây quả ấy, nông dân chả nơi nào dám trồng, vì, ăn vào, đến trâu cũng đau bụng mà chết. Một lần khác, Kê lại được giao làm chủ đề tài lai giống giữa chó và lợn. Định tạo ra một giống khôn như chó mà lại chóng lớn như lợn, nuôi không cần chuồng và người trông nom. Kết quả, một giống súc vật trông như yêu tinh ra đời, ba đầu, sáu chân với mười hai con mắt… Kê buồn quá, nghĩ mình chả làm nên cái sự nghiệp gì. Mình con nhà thành phần cơ bản, cũng tốt nghiệp trường lớp chính quy như ai, lại rất thấm nhuần đường lối nghiên cứu khoa học của tổ chức, phục vụ công nông…Thế mà sao, chả ra cái kết quả gì. Đúng lúc đó, viện có một chỉ tiêu đi nghiên cứu sinh ở Liên Xô, thế là Kê chạy vạy, xin đi.


 Từ làng Ngọc sang làng Ao Xá phải đi qua một cánh đồng rộng. Mọi hôm, ngài giáo sư vẫn đi xe máy. Hôm nay, nhân tiết thu mát mẻ, công việc thì đã xong xuôi, ngài quyết định đi bộ cho thư thái và tranh thủ hít thở chút không khí đồng quê trong lành. Cánh đồng lúa đang chuẩn bị vào vụ gặt, rực một màu vàng tươi trong nắng sớm. Những làn hơi sương lập lờ, lan man, bồng bềnh trong không gian tinh khiết của buổi sáng. Hương thơm của lúa chín tràn ngập mọi nơi, ấm áp và thanh bình. Vừa đi, vừa ngắm cảnh đồng lúa chín vàng, ngài giáo sư chợt nhớ tới hồi du học ở Liên Xô. Trong một lần cùng chiến hữu đánh hàng từ “Mát” về một thành phố nhỏ miền trung nước Nga. Xe chạy qua một vùng bình nguyên mênh mông đang chín rực lúa mì. Cảnh tượng đẹp đến nao lòng, khiến cho mấy tay con buôn chuyên nghiệp cũng phải hò nhau dừng xe ngắm cảnh. Cả biển lúa mì đầy ắp, lao xao như một biển vàng, sóng sánh xa tít tắp về phía chân trời. Cả bọn như mê đi trước vẻ đẹp hoành tráng của cánh đồng lúa mì Nga bát ngát. Rồi cả bọn lại la cà ra chỗ mấy ông nông trang viên, đang chuẩn bị máy móc gặt lúa tán chuyện. Đã qua mấy năm lăn lộn cùng chiến hữu khắp các xó xỉnh của nước Nga, thì, Kê mới có chút tiếng Nga “giả cầy” mà chuyện gẫu với mấy ông “Mugic” bên chai “Lúa Mới”. Chứ lúc mới sang, Kê thấy hốt lắm. Vốn tiếng Nga lõm bõm từ hồi đại học, đã rơi rụng gần hết. Vào giảng đường, nghe các giáo sư Nga giảng, như vịt nghe sấm. Nản quá, đang định tính mua vé về nước. Thì gặp ngay được mấy đại ca sang trước, bày vẽ cho: “Chú mày ngu lắm, đã sang được đến đây rồi thì làm đéo gì mà phải về. Kiểu gì cũng phải có mảnh bằng đút đít. Không học được thì nhờ anh Vodka nó học cho! Chú cứ theo bọn anh đi buôn áo bay, bàn là, xe cuốc, quần bò mà kiếm tiền. Lâu lâu vác một két Vodka đến nhà mấy ông giáo sư Nga trình bày, rồi vì tình hữu nghị, các ông ấy cho qua hết!”. Quả rất hiệu nghiệm. Sau mấy năm bôn ba buôn lậu khắp nước Nga, Kê về nước với tấm bằng phó tiến sĩ xịn! Mấy đại ca bày vẽ đường đi nước bước cho Kê, giờ đã lên đến chức “soái” trong ngành buôn lậu bên SNG, chả thèm về, tiễn Kê ra sân bay, bảo: “Chú mày về nước, lý lịch ngon thế, thể nào cũng phất. Kiếm lấy cái ghế to to mà ngồi, đợi bọn anh bên này về, mang tiền đá một trận san phẳng khung thành đội bạn nhé!”. Gia thế nhà Kê lúc ấy ngon thật. Sau mấy chục năm hoạt động cách mạng, ông Khánh, bố đẻ Kê, đã lên đến chức bí thư tỉnh uỷ. Còn ông Bôi, bố vợ, phát mạnh hơn: bộ trưởng Bộ Súc Sản.
 Về nước, vì là thuộc diện hạt giống, lại có “bằng đỏ”, Kê được cơ cấu ngay chức viện phó. Mấy năm sau thì lên viện trưởng.
 Vài năm sau, nhà nước bỏ cái “phó tiến sĩ” đi, để hội nhập, thế là Kê đỗ ngay ông nghè. Thỉnh thoảng, mấy ông bạn “đồng môn” hồi bên Nga. Giờ đang ở trường đại học, mời sang giảng vài tiết về những vấn đề bí hiểm, cao siêu của khoa học, ví dụ như: “Ngỗng và thiên nga làm tình thì khác nhau thếnào?”. Tuần tự nhi tiến, mấy năm sau Kê được phong giáo sư. Giáo sư Tiến sĩ Giang Đình Kê, đọc lên nghe sang sảng! Ông Khánh hãnh diện lắm, ngày xưa, ông bổ túc mãi mới có cái bằng cấp ba, nay con ông, giáo sư tiến sĩ! Oách nhất làng!
 Nhưng mà quy luật của tạo hoá thì “phấn đấu” cũng không chống lại được. Vòng đời “ sinh-lão-bệnh- tử” không chừa một ai. Sau mấy chục năm “công tác”, Giáo sư Kê nghỉ hưu, về ở tại làng Ngọc.


 Đi bộ trên con đường từ làng Ngọc sang làng Ao Xá, Giáo sư Kê chợt nhận thấy sự khác biệt giữa hai làng. Thường ngày, ngài phóng xe máy đi về giữa hai nơi nên không có dịp nhìn kĩ. Hôm nay, đi bộ chậm rãi nên ngài mới có dịp quan sát. Bên làng Ngọc, hầu như không còn tồn tại chút gì của “Làng”, theo nghĩa xưa. Đứng ngoài nhìn vào, thấy toàn nhà cao tầng, bê tông lô nhô xám xịt. Cả làng không còn một cây tre nào, mà, thay vào đó, mỗi nhà có một vài thứ cây thời thượng của cánh nhà giàu mới nổi như: lộc vừng, sanh, cau vua…Xa lạ và hãnh tiến. Thế nhưng, chỉ cách một quãng đồng, bên làng Ao Xá, thì lại khác hẳn. Có cảm tưởng như mọi ảnh hưởng của “thế giới văn minh”, cứ mon men đến luỹ tre xanh rì bao quanh làng là bị bật ra hết. Trong làng, vẫn là những cây trái xum xuê: mít, bưởi, xoan…phủ bóng lên mái nhà cũ kĩ xám nâu. Từ xa xưa đến nay, những ngôi làng ở nước Việt đã là một thực thể văn hoá, kinh tế, chính trị rất kỳ lạ. Hình như không có ở nơi đâu trên trái đất này lại tồn tại một cộng đồng những ngôi làng như ở nước ta. Có một nhà nghiên cứu văn hoá dân gian lớn, sau nhiều năm khảo cứu về làng xã, đã thốt lên “Làng Việt còn thì Nước Việt còn!”. Thật chí lý và uyên thâm. Cũng nhà văn hoá lớn đó còn nói “Mỗi làng của Nước Việt đều có bản sắc văn hoá đậm đà, riêng biệt”. Rất có tính khái quát! Chỉ tính riêng cái tục thờ thành hoàng của các làng, thấy đầy “bản sắc, đậm đà, riêng biệt” rồi. Loanh quanh vùng Kinh Bắc, dân các làng cũng đã “tôn vinh” nhiều vị thành hoàng độc đáo, nói theo ngôn ngữ bây giờ là rất “pờ rồ”! Làng Ngọc thì thờ bà Cái và bộ “sinh thực khí” trứ danh của bà. Làng Thượng thì thờ một ông sinh thời làm nghề “thu phục nhân tâm” (nói nhỏ, tức là đi gắp…phân!). Bên làng Bùi thì thờ ông Lý Phật Tử, một tay bị cụ Ngô Sĩ Liên ghi lại trong sử là: Hèn nhát, giặc nhà Lương đến, chưa đánh trận nào, nghe nó doạ đã đầu hàng. Mới đây, có một tay quan chức hồi hưu, nhân dịp hội làng, ra đình đề nghị các cụ trên thôi không thờ kẻ “bán nước” ấy nữa, bị cụ tiên chỉ vả cho một dùi trống, rụng sạch cả hàm răng. Nhưng dân làng Bùi thì bảo rằng, là do tay ấy ra đình nói nhảm, bị thánh quở, ngài vặn răng cho hết nói láo. Thế nhưng làng Bùi lại kết nghĩa với làng Cờ, là làng thờ Đức Ngài Triệu Việt Vương ở đình. Hai làng ấy, không biết từ bao đời nay, đi lại khăng khít lắm, kể cũng lạ…Nhưng có lẽ lạ nhất là làng Ao Xá, bên cạnh làng Ngọc, lại có tục thờ “Ngài Kê” - Tức là một con gà trống làm thành hoàng! Năm ngoái, nhân dịp hội làng Ao Xá, lại đang lúc về hưu rỗi rãi, Giáo sư Kê sang bên làng ấy chơi hội. Khi sang đến đình làng Ao Xá, vào trong hậu cung ngắm “Ngài Kê”, đẹp đẽ, uy nghiêm, sơn son thiếp vàng đỏ chót. Tự nhiên, Giáo sư Kê cảm thấy có một điều gì rất lạ trong người…
 Tối hôm ấy, Giáo sư Kê về nhà, cứ nằm trằn trọc mãi, không ngủ được. Hình ảnh “Ngài Kê”, với cái mào đỏ chót oai vệ, bộ lông tô điểm đủ màu bảy sắc cầu vồng rực rỡ, cái mỏ nhọn hoắt và đôi chân hùng dũng với những cái cựa vàng ươm…Thật kì vĩ. Từ hôm đó trở đi, không hiểu sao, Giáo sư Kê cứ hay nghĩ vẩn vơ về “Ngài Kê” oai hùng ấy. Thật ra từ rất lâu đời, bên làng Ao Xá, có giống Gà Ao nổi tiếng. Giống gà ấy rất to, toàn cỡ từ bốn, năm ki lô trở lên. Đặc biệt, những con trống, to, cao, mào đỏ chót, lông đuôi cong vút, óng ánh sắc đỏ, sắc tím, sắc lam…Nhìn những con gà trống cai quản đám gà mái, thấy thật là trật tự kỉ cương. Nó đĩnh đạc dạo bước vòng quanh đàn thê thiếp của mình đang cắm cúi kiếm ăn. Thỉnh thoảng, nó mổ vài con sâu hay con giun đất trong vườn lót dạ. Rồi nó vươn cái cổ bảy sắc cầu vồng lên cao, ngó nghiêng con mắt sáng rực, tia vào một ả mái tơ, mặt đang đỏ lên vì tới kì chịu trống. Nó vỗ cánh phành phạch, nghiêng người đảo một vòng đầy chất nghệ quanh ả mái tơ, rồi bất thần nhảy phắt lên lưng cô nàng …Xong việc, bao giờ nó cũng nhảy lên đỉnh đống rơm, cất tiếng gáy oai hùng ò ó o o o…Càng ngắm đàn gà làng Ao Xá, Giáo sư Kê càng thấy hay. Với “chuyên môn sâu” của mình, ngài giáo sư nhận thấy gà Ao Xá có rất nhiều ưu điểm vượt trội. Đặc biệt là khả năng “đạp mái” của bọn gà trống Ao Xá thì vô song. Thông thường, các nhà ở làng hay nuôi một đàn gà vài chục con gà mái, giao cho một con trống đầu đàn cai quản trong vườn. Con gà trống này thực thi nhiệm vụ của mình rất xuất sắc. Hàng ngày, nó “ghẹ” đều cả đám gà mái son dưới quyền. Thỉnh thoảng, nó còn dở trò ba trợn, “hiếp dâm” cả mấy mụ mái nạ dòng đang nuôi con nhỏ, khiến cho lũ gà con chạy tán loạn, vừa chạy vừa kêu thất thanh: “khiếp, khiếp, khiếp…”. Giáo sư Kê bất giác cười thầm. Vì, ngài tự liên hệ, thấy mình cũng hơi giống con gà trống! Ngày còn đương chức viện trưởng, ngài cũng hay tốc váy em thư kí, đè ngửa vào cạnh bàn làm luôn một “nháy”. Nhưng lát sau, sang phòng em kế toán trưởng, nhìn cặp chân trần trắng muốt của em, thò ra khỏi cái váy ngắn cũn, cứ ngó ngoáy, ngó ngoáy… Ngài lại nổi hứng, tốc váy em nó lên, đè sấp vào bàn, làm “nháy” nữa!...Về hưu rồi, nhưng cái “thằng em nhỏ” của ngài vẫn sung lắm, nên ngài vẫn phải kết bạn với một em ngoài phố, để lấy chỗ “đi lại”. Chứ mình bà vợ già, không đủ tải… Quả thật, càng quan sát đàn gà làng Ao Xá, càng thấy hay. Thế mà bao nhiêu năm, không có ai biết quảng bá cái giống Gà Ao này ra nhỉ? Ngài giáo sư hồi hưu quyết định sẽ lập một “dự án”, nghiên cứu về cái giống gà nổi tiếng Nước Việt của làng Ao Xá.

 Ngài bèn sang bên đó, gặp gỡ các cụ cao niên cùng với đám chức dịch để phân tích cho họ hiểu về, những cái lợi to lớn mà việc nghiên cứu, quảng bá giống gà của làng mang lại. Ngài còn hứa sẽ xin kinh phí “tài trợ” cho dự án ấy. Việc này đối với ngài dễ ợt, bởi, nó thuộc về chuyên môn chính của ngài hồi còn đương chức viện trưởng “ Viện Nghiên Cứu Súc Vật Trung Ương”. Tay viện trưởng kế nhiệm ngài, vốn là một thằng nhân viên rửa ống nghiệm trong la bô. Nghe thầy cũ xin kinh phí tài trợ nghiên cứu về giống gà nổi tiếng, thầy lại nói nhỏ là: “Tao cắt lại cho riêng mày hai mươi phần trăm”, hắn kí cái xoẹt! Có tiền rồi, lập tức đề tài nghiên cứu được triển khai cực kì rầm rộ. Địa phương cũng muốn nhân dịp này, phát huy quảng bá một sản phẩm của quê hương. Thời buổi kinh tế thị trường mà lại.
 Sau này, khi công trình đã nổi tiếng rồi, ngài giáo sư có tâm sự ở một buổi thuyết giảng là, hình như có một mối liên hệ thần bí, không giải thích nổi. Một cái “duyên” giữa ngài và “Ngài Kê” bên Ao Xá. Chả thế mà, ngày xưa ngài giáo sư tên khai sinh là Kế, nhưng từ lớp vỡ lòng đến đại học, đều gọi ngài là Kê. Dân làng Ao Xá và dân làng Ngọc thì, từ lúc ngài chủ trì “Công trình nghiên cứu và phát huy giá trị kinh tế, văn hoá, tâm linh của gà Ao”, toàn gọi ngài là giáo sư gà. Ngài Giáo sư Gà!
 Theo Giáo sư Gà, về mặt kinh tế, gà Ao là một giống gia cầm chất lượng cao, thịt ngon. Đặc biệt, cặp chân con trống làm món Kê Cân thì tuyệt cú mèo - Kê Cân là tên một bài thuốc cung đình phục vụ vua chúa, gồm cặp chân gà trống, được chế biến đặc biệt, hầm với các vị thuốc cường dương đại bổ - Đích thân ngài giáo sư đã thử món này. Nhắm xong món Kê Cân, cả tuần đó, vợ ngài đuổi sang nhà bồ, bồ ngài lại đuổi về nhà vợ, vì ngài sung quá, không bà nào chịu nổi. Như vậy, ngài kết luận, gà Ao còn có giá trị lớn trong y học.
 Về mặt văn hoá mà nói, gà Ao đã đi vào ca dao tục ngữ, thơ văn… thậm chí là làng Đông Hồ gần đấy, đã lấy làm nguyên mẫu để vẽ bức tranh gà, rất nổi tiếng. Nghe đâu những bức tranh gà đó, đã được khách du lịch nước ngoài mua về, bán lại cho những bảo tàng nổi tiếng bên Paris, London treo, người xem rất tán thưởng.
 Dân làng Ngọc, quê hương của Giáo sư Gà thì lại chả coi cái công trình ấy của ngài ra gì. Có mấy tay quen thói châm chọc còn bảo, thằng cha ấy rồ, thừa thời gian, không biết làm gì, lại đi sang cái làng“âm lịch” ấy nghiên cứu cái trò vớ vẩn, thi gà với cả chọi gà. Nhưng có mấy tay ra vẻ “hiểu đời” thì nói: “Các ông toàn loại ngu lâu khó đào tạo! Không biết cái đinh là gì! Cái tay “gà sống thiến sót Giang Đình Kê” làng mình, sang bên đó, khuấy nước để “cá kiếm” đấy, khá lắm!”… Ngài giáo sư cũng chả chấp nê mấy tay người làng ít học ấy. Cứ hàng ngày, ngài sang bên Ao Xá nghiên cứu. Vào dịp hội làng, bên Ao Xá có lệ thi gà to, gà đẹp vui lắm. Con gà nào đạt giải nhất liền được cắt tiết, luộc chín, đưa lên mâm, mỏ ngậm một bông hoa hồng, cúng thành hoàng là… “Ngài Kê”!Thật là một nét phong tục lạ lùng, cần nghiên cứu, lý giải cặn kẽ… Ở làng Ngọc thì có cái quái gì mà nghiên với chả cứu nữa. Mà có thì cũng chả nghiên cứu nổi. Ai đời, thành hoàng làng lại đi thờ cái bà vú to như cái rổ, bướm thì như cái gầu sòng tát nước. Đã thế, lúc nào cũng phải kè kè bộ “sinh thực khí” - Tức con chim, hay như bọn teen nó gọi là “ hàng”- bên người! Chả có tí văn hoá cao nào, toàn chất phồn thực. Dân làng Ao Xá chuyên làm ruộng, nên các cụ trên, cùng với mấy tay chức dịch trong làng, bảo gì cũng nghe. Bảo mang gà ra thi là mang, bảo đóng góp tiền của để phát huy văn hoá quê mình là đóng góp ngay, không phải nghĩ. Chả như dân làng Ngọc, ra ngoài học hành, làm quan, buôn bán…Nên tay nào tay nấy khôn như cáo, chỉ bo bo là vun vào nhà mình, cấm có bỏ ra làm việc công bao giờ.
 Nhưng ngài Giáo sư Gà thì xác định rất rõ ràng rồi, ngài coi đây là “công trình để đời” của mình. Khi còn công tác, ngài mải đấu đá để lên chức lên quyền. Có chức có quyền rồi, thì ngài còn bận đi xin phê duyệt các“dự án nghiên cứu”. Sau đó, tổ chức thực hiện, sao cho tiêu hết tiền nhà nước cấp một cách gọn ghẽ…Về hưu, có thời gian ngẫm ngợi, ngài điểm lại thấy, thật ra là mình có công danh nhưng chả có sự nghiệp gì cả. Mang danh là giáo sư tiến sĩ, viện trưởng nghiên cứu. Nhưng cả đời, chả để lại được một cái “tác phẩm” gì cho ra hồn. Mấy cái gọi là “công trình nghiên cứu khoa học”, mà ngài đứng tên chủ đề tài, nghiệm thu xong, là cho vào tủ khoá kĩ. Chả tay nào tham dự vào mà dám khoe ra, vì, tay nào cũng biết, đấy chẳng qua là cái trò moi tiền nhà nước… Chả hiểu nước ta, kêu nghèo, mà xài tiền cứ như đốt mã ấy nhỉ? Thế nên, ngài Giáo sư Gà, cũng muốn làm một cái gì đấy “để lại cho đời sau”. Vả lại, khi về hưu rồi, không có công việc gì làm thì, thấy cũng bứt rứt lắm. Nhân một dịp nhà nghiên cứu văn hoá dân gian nọ lại về Kinh Bắc, qua Ao Xá chơi. Giáo sư Kê gặp và đàm đạo. Hai tay “trí thức lớn” khá là tâm đầu ý hợp. Đặc biệt là ý tưởng phát huy giá trị văn hoá tâm linh của tục thờ “Ngài Kê” làng Ao Xá. Sau một chầu rượu nhắm với món Kê Cân, hai tay “trí thức lớn” quyết định hợp tác chặt chẽ, để khuếch trương cái giá trị văn hoá, tâm linh của “Ngài Kê” ra tầm quốc gia quốc tế. Nhà nghiên cứu văn hoá dân gian sẽ làm“cố vấn văn hoá” cho Giáo sư Kê, chủ đề tài. Điều này thì, các em tiếp viên của nhà nghỉ Hương Nhài trên phố biết rất rõ. Chả là sau chầu rượu Kê Cân, hai ngài đi nhà nghỉ. Chủ nhà nghỉ Hương Nhài là chỗ quen biết, cho treo biển hết phòng, huy động nhân viên chỉ phục vụ hai ngài…Hôm ấy, một ngài nguyên là tiến sĩ súc vật học bên Nga về, và một nhà nghiên cứu văn hoá dân gian lớn, đã giáo hoá mấy em tiếp viên một buổi chiều, về “văn hoá gà” đặc sắc của quê hương…
 Sau đó, ngài giáo sư tổ chức thực hiện dự án “Công trình nghiên cứu và phát huy giá trị kinh tế, văn hoá, tâm linh của Gà Ao” rất bài bản.
 Đầu tiên, ngài tổ chức vài buổi hội thảo. Mời rất nhiều chuyên gia học hàm, học vị sáng loè quanh người về dự. Lại cho mời cơ man nào là phóng viên đài báo các kiểu về đưa tin, viết bài. Một số đài truyền hình còn làm hẳn vài trường thiên phóng sự, hết sức đặc sắc về “Ngài Kê”, làng Ao Xá và những “truyền thuyết” phi phàm của ngài. Tất nhiên, như thông lệ, ở nước ta đến dự hội thảo hay đưa tin, viết bài, đều có “ kinh phí bồi dưỡng” cả. Mà, tiền cho việc nghiên cứu này không thiếu. Giáo sư Gà, chủ đề tài xin được từ Viện Súc Vật Trung Ương. Lại còn dân làng đóng góp, các doanh nghiệp tài trợ…vân vân và vân vân. Cái phần ấy, giờ hay gọi một cách thời thượng là “kinh phí xã hội hoá”.
 Kết thúc các buổi hội thảo, Giáo sư Gà - giờ đây ngài rất hãnh diện với danh xưng này - luôn luôn đọc một bản tổng kết do ngài cùng với nhà nghiên cứu văn hoá dân gian nọ đã dày công chắp bút. Trong đó, ngài đưa ra mấy kết luận khoa học hùng hồn sau đây:
 Thứ nhất, “Ngài Kê” làng Ao Xá, chính là “Ngài” đã có công giúp An Dương Vương diệt trừ yêu quái để xây nên thành Cổ Loa xưa. Điều này đã được rất nhiều nhà khoa học lịch sử và không lịch sử, dự hội thảo chứng minh từ các bằng chứng hùng hồn, trích dẫn trong các bộ sử rất xưa và các đạo sắc phong khá mờ ảo tại đền thờ Cao Lỗ Đại Vương gần đấy. Thế nên, “Ngài Kê” làng Ao Xá, có một giá trị văn hoá tâm linh không thể chối cãi.
 Thứ hai, từ điều thứ nhất mà suy ra thì thấy rằng, “Ngài Kê”, chính là bản sắc, là tâm hồn của làng Ao Xá nói riêng, cũng là tiêu biểu cho cả văn hoá Nước Việt nói chung.
 Thứ ba, từ hai điều trên, rút ra kết luận rằng, “Ngài Kê” làng Ao Xá chính là bảo vật quốc gia, cần phải nghiêm cẩn giữ gìn cho con cháu mai sau. Cần phải cho dòng giống của ngài nảy nở sinh sôi khắp Nước Việt và quảng bá ra toàn thế giới.
 Nghe đâu, lúc viết cái bản kết luận khoa học trứ danh trên, giữa ngài giáo sư gà và nhà nghiên cứu văn hoá có một chút bất đồng nhỏ. Chả là, ngài giáo sư muốn đưa thêm một điều khẳng định nữa, về giá trị y học và dinh dưỡng của “Ngài Kê” vào. Nhưng nhà văn hoá bảo, đưa ra kết luận như thế nó làm giảm giá trị tâm linh của ngài đi. Mà thế kỉ hai mốt này, tâm linh mới là vấn đề đấy…Ngài giáo sư nghĩ một lúc, thấy cũng phải. Tâm linh là một vấn đề rất trừu tượng, đã tiêu tốn không biết bao nhiêu trí tuệ của nhân loại vào đó. Nhưng hầu như tới giờ, đã mấy ai hiểu gì. Và tất nhiên, nhân loại sẽ còn tốn nhiều thời gian, nơ ron thần kinh và cả tiền của nữa, vào vấn đề hóc búa này. Hiển nhiên, “Ngài Kê” làng Ao Xá, là thuộc về phạm trù tâm linh rồi. Thậm chí, Giáo sư Gà còn đề xuất với chức dịch trong làng, cấm dân không được gọi là gà…gà… nữa, mà phải gọi là ngài …ngài…cho thể hiện hết sự cung kính với bậc thần linh có công lao giúp nước.
 Từ đó trở đi, dân làng Ao Xá vô cùng hãnh diện vì làng mình có bảo vật tầm cỡ quốc gia, quốc tế là “Ngài Kê”. Họ cũng vô cùng biết ơn ngài Giáo sư Gà, đã khai mở tâm trí cho cả làng biết những điều vô cùng cao siêu của tiền nhân để lại, mà bao năm qua, không một kẻ phàm phu tục tử nào hiểu nổi. Cả làng Ao Xá, từ đấy trở đi, luôn nghĩ đến “Ngài Kê” với sự trân kính rưng rưng. Thậm chí, nếu trên đường có gặp hậu duệ của “Ngài Kê”, họ cũng nhường các ngài đi khuất rồi mới bước tiếp. Dân các làng quanh vùng thì quên luôn tên làng Ao Xá, mà gọi làng Gà! Dân Gà! Dân làng cũng chả lấy thế làm điều. Bởi, họ đã được nhà “trí thức lớn” của đất nước, chỉ cho thấy niềm tự hào vĩ đại của cái làng“ngàn năm văn vật…”



 Giáo sư Kê đến đình làng Ao Xá, cũng là lúc dân làng tập trung đông cả. Mọi người nhìn thấy ngài đều hân hoan hỉ hả, lại gần bắt tay cảm ơn khôn xiết. Thật là nhờ có ngài Giáo sư Gà, hôm nay dân làng mới có được cái vinh hạnh to lớn. Đình và “Ngài Kê”, được đón bằng công nhận “di tích…”. Trong niềm hân hoan, phấn khích của cả làng, ngài giáo sư nhớ lại cái buổi ban đầu, thật cơ man nào là gian khó. Lọ mọ ngồi viết mấy trăm trang “dự án”. Rồi họp dân để đả thông tư tưởng ( may, cái dân Ao Xá này“âm lịch” lắm, ngài lấy tích xưa ra loè, nên họ nghe ngay ). Thậm chí, ngài đã xây dựng cả một chiến lược “pi-a”(PR) cẩn thận. Riêng cái vụ PR này, ngài phải nói trẹo cả lưỡi thì, các cụ trên và đám chức dịch trong làng mới lờ mờ hiểu. Thế nên, ngài thấy tự khâm phục mình thật! Mình quá giỏi! Vụ này, được cả “danh” lẫn “lợi”! Tối qua, ngài đem sổ sách ghi chép của mình ra đối chiếu với quyết toán mà làng vừa thông qua, thấy quỹ riêng của ngài dôi ra được dăm trăm…Có lẽ, kỳ này, xây lại cho “em nó” ngoài phố cái nhà, lấy chỗ đi lại cho đàng hoàng…
 Đã tới giờ “hoàng đạo” để làm lễ tế thành hoàng, nhân dịp đón bằng “di tích…” và khánh thành bức tượng “Ngài Kê” mới, to, đẹp. Chả là, tượng cũ, ngày xưa làm bằng đất sét trộn mùn cưa, lâu ngày bở ra hết. Nay, có điều kiện, ngài giáo sư đề nghị trích kinh phí dự án ra làm lại, lần này bằng gỗ mít cẩn thận… Giáo sư Gà, giờ đây đã được coi như công dân danh dự của làng. Cùng với các cụ trên, chức dịch trong làng vào đình làm lễ rất chi là trọng thể. Ông chủ tế cất giọng sang sảng, đọc văn tế vào micro truyền ra cho cả làng nghe : “Kính ư ư ư! Nhất đẳng thượng thần Ngài Kê ê ê ê…”. Bộ Ampli cũ của đài truyền thanh làng, không được tốt lắm. Thành thử, khi truyền ra loa, vang vọng khắp làng Ao Xá âm cuối, nghe như là : Mê ê ê ê…….


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trật tự đang phân rã: làm thế nào để đối phó một thế giới hỗn loạn


Richard N. Haass, 
Trần Ngọc Cư dịch
RICHARD N. HAASS là Chủ tịch của Council on Foreign Relations [Hội đồng Nghiên cứu các Quan hệ đối ngoại], một trung tâm nghiên cứu chính sách tại Hoa Kỳ.

Trong tác phẩm kinh điển của mình, The Anarchical Society [Xã hội vô chính phủ], học giả Hedley Bull lý luận rằng có một sự căng thẳng thường xuyên giữ các thế lực bảo vệ trật tự và các thế lực gây rối loạn, với các chi tiết của sự quân bình giữa hai thế lực xác định tính cách riêng biệt của mỗi thời đại. Nguồn của trật tự gồm các thế lực tham gia vào việc bảo vệ các luật lệ và các thỏa thuận quốc tế và tuân theo một thủ tục nào đó để sửa đổi chúng; nguồn của rối loạn gồm các thế lực chối bỏ trên nguyên tắc các luật lệ và các thỏa thuận nói trên đồng thời cảm thấy có quyền làm ngơ hoặc phá hoại chúng. Sự quân bình giữa trật tự và hỗn loạn còn có thể bị tác động bởi các xu thế toàn cầu, ở những mức độ khác nhau nằm ngoài sự kiểm soát của các chính phủ, những xu thế tạo bối cảnh cho các lựa chọn của nhiều thế lực khác nhau. Ngày nay, sự quân bình này đang nghiêng về phía hỗn loạn. Một số nguyên nhân có tính cơ cấu, nhưng một số nguyên nhân khác phát xuất từ các lựa chọn sai lầm của những thế lực có vai trò quan trọng – và ít ra một số nguyên nhân có thể và phải được chỉnh sửa.
Khu vực dầu sôi lửa bỏng hiện nay là Trung Đông. Mặc dù nhiều người đã so sánh tình hình tại đây với Thế chiến I hay Chiến tranh Lạnh, nhưng những gì đang diễn ra trong khu vực này rất giống Cuộc chiến Ba mươi năm [the Thiry Years’ War], ba thập kỷ xung đột đã tàn phá phần lớn châu Âu trong nửa đầu của Thế kỷ 17. Cũng như châu Âu thời đó, trong những năm tới, phần lớn Trung Đông có khả năng trở thành khu vực của những quốc gia yếu kém không đủ sức canh phòng các vùng lãnh thổ rộng lớn của mình, các lực lượng dân quân và các nhóm khủng bố hoạt động ngày một lộng hành, và cả nội chiến lẫn xung đột giữa các quốc gia. Bản sắc giáo phái và cộng đồng sẽ khuynh loát bản sắc dân tộc. Nhờ được tiếp sức bằng những nguồn tài nguyên thiên nhiên bao la, các cường quốc địa phương sẽ tiếp tục can thiệp vào công việc nội bộ của các nước láng giềng, trong khi các cường quốc bên ngoài vẫn không đủ khả năng hoặc không muốn nhảy vào để ổn định tình hình khu vực.
Ở vùng biên của châu Âu, tình hình bất ổn lại tái diễn. Dưới sự lãnh đạo của Vladimir Putin, Nga có vẻ đã từ bỏ đề xuất hội nhập có ý nghĩa vào trật tự châu Âu và trật tự toàn cầu hiện nay và thay vào đó hoạch định cho mình một tương lai khác dựa vào các quan hệ đặc biệt với các nước láng giềng và các nước đàn em kế cận. Cuộc khủng hoảng tại Ukraine có lẽ là biểu hiện nổi bật nhất, mặc dù chưa phải là biểu hiện cuối cùng, của cái gọi là dự án phục hồi địa vị của nước Nga hay, nói đúng hơn, địa vị của Liên Xô.
Tại châu Á, vấn đề nằm ở tình hình bất ổn hiện nay thì ít, mà nằm ở tiềm năng xung đột đang gia tăng thì nhiều. Tại đó, hầu hết các quốc gia là không yếu kém mà cũng không thể suy sụp; trái lại, họ là những quốc gia vững mạnh và ngày càng mạnh hơn. Một hỗn hợp gồm nhiều nước có bản sắc dân tộc mạnh mẽ, những nền kinh tế năng động, những ngân sách quốc phòng đang gia tăng, những ký ức lịch sử cay đắng, và những tranh chấp lãnh thổ chưa được giải quyết dễ dàng tạo công thức cho những vận động địa chính trị có thể dẫn đến xung đột vũ trang. Cộng vào những thách thức trong khu vực này của thế giới là một Bắc Triều Tiên có nguy cơ sụp đổ và một Pakistan hỗn loạn, cả hai đều có vũ khí hạt nhân (và một trong hai nước lại là nơi trú ẩn của một số quân khủng bố nguy hiểm nhất thế giới). Một trong hai nước có thể là nguyên nhân của một cuộc khủng hoảng địa phương hay toàn cầu, phát xuất từ hành động liều lĩnh hay sự sụp đổ của nhà nước.
Một số thách thức đối với trật tự thế giới hiện nay mang tính toàn cầu, phản ánh những khía cạnh nguy hiểm của tiến trình toàn cầu hóa, gồm các dòng chảy xuyên biên giới của quân khủng bố, của vi-rút (thuộc thế giới hữu hình và thế giới ảo), và của khí thải do hiệu ứng nhà kính. Vì thiếu các cơ chế để chặn đứng hay quản lý chúng, các dòng chảy này có tiềm năng hủy hoại hay làm xuống cấp chất lượng của hệ thống toàn cầu nói chung. Và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy [populism] giữa lúc kinh tế đình đốn và bất bình đẳng gia tăng khiến cho việc cải thiện hệ thống quản trị toàn cầu thậm chí trở nên khó khăn hơn.
Những nguyên tắc ảnh hưởng lên trật tự quốc tế cũng còn ở trong vòng tranh cãi. Một mức độ đồng thuận nào đó đã hiện hữu về việc không chấp nhận sự chiếm đoạt lãnh thổ bằng vũ lực, và chính đồng thuận này đã củng cố một liên minh rộng lớn hậu thuẫn cho việc đảo ngược mưu toan sáp nhập Kuwait vào lãnh thổ Iraq của Hussein vào năm 1990. Nhưng sự đồng thuận này đã bị bào mòn qua thế hệ tiếp theo đến mức độ nó đã cho phép Nga thoát khỏi một sự lên án rộng lớn tương tự sau khi Nga chiếm Crimea vào mùa Xuân năm trước, và không ai biết trước sẽ có bao nhiêu nước trên thế giới sẽ phản ứng trước một âm mưu dùng vũ lực của Trung Quốc để chiếm lấy vùng trời, vùng biển và lãnh thổ đang tranh chấp hiện nay. Sự đồng thuận quốc tế về vấn đề chủ quyền thậm chí còn rã rệu hơn nữa khi nói đến quyền của các thế lực bên ngoài can thiệp vào nội bộ nước khác khi một chính phủ đàn áp công dân của mình hay, nói cách khác, không chu toàn các bổn phận của một nhà nước có chủ quyền. Một thập kỷ sau khi được Liên Hiệp Quốc phê chuẩn, khái niệm “trách nhiệm bảo hộ [the responsility to protect]” không còn hưởng được hậu thuẫn rộng lớn, và do đó sẽ không có một đồng thuận nào cả về cái gọi là một sự can thiệp chính đáng vào công việc nội bộ của nước khác.
Chắc chắn là, các thế lực duy trì trật tự thế giới vẫn hoạt động hữu hiệu. Trong nhiều thập kỷ nay, vẫn chưa có chiến tranh giữa các đại cường, và không có một viễn cảnh đáng kể nào về một cuộc chiến tranh như thế sẽ xảy ra trong tương lai gần. Trung Quốc và Hoa Kỳ hợp tác với nhau trong một số trường hợp và cạnh tranh nhau trong một số trường hợp khác, nhưng thậm chí trong trường hợp sau, sự cạnh tranh cũng có giới hạn. Sự lệ thuộc lẫn nhau là một thực tế, và cả hai nước đã ào ạt đầu tư vào nhau (theo nghĩa đen cũng như nghĩa bóng), làm cho bất cứ một gián đoạn nghiêm trọng và kéo dài nào trong mối quan hệ đều trở thành một khả năng đáng lo ngại cho cả hai nước.
Nga cũng bị ràng buộc vào sự tương thuộc [interdependence] này, mặc dù ở mức độ ít hơn Trung Quốc, căn cứ vào nền kinh tế tập trung vào năng lượng và mức độ ngoại thương và đầu tư khiêm nhượng của Nga. Điều này có nghĩa là các biện pháp trừng phạt kinh tế có một cơ may ảnh hưởng lên lối ứng xử của Nga qua thời gian. Mặc dù chính sách đối ngoại của Nga có mục đích giành lại lãnh thổ, nhưng các nguồn lực cứng cũng như mềm của Nga đều bị hạn chế. Nga không tượng trưng cho bất cứ một giá trị nào hấp dẫn đối với bất cứ ai, ngoại trừ các người Nga thiểu số đang sống ở nước khác. Do đó, các mối lo ngại địa chính trị mà Nga đặt ra sẽ chỉ tồn tại ở ngoại biên của châu Âu, chứ không ảnh hưởng đến trung tâm của châu lục này. Thật vậy, những yếu tố quan trọng tạo nên chuyển biến tại châu Âu trong 70 năm qua – tiến trình dân chủ hóa nước Đức, sự hòa giải Pháp-Đức, việc hội nhập kinh tế trong một khối – là rất vững mạnh đến nỗi chúng được coi là sự kiện đương nhiên. Tính cục bộ và sự yếu kém về mặt quân sự của châu Âu có thể khiến khu vực này trở thành một đối tác yếu kém đối với Mỹ trong các vấn đề toàn cầu, nhưng bản thân châu lục này không còn là một vấn đề an ninh; đó là một bước tiến vĩ đại so với quá khứ.
Nếu nhìn vào tình hình châu Á-Thái Bình Dương rồi đặt ra những giả thuyết tồi tệ nhất, đấy cũng là một điều sai lầm. Khu vực này đã và đang trải qua tăng trưởng kinh tế không có tiền lệ trong nhiều thập kỷ qua và đã quản lý việc này một cách hòa bình. Tại đây, cũng thế, sự tương thuộc kinh tế [economic interdependence] có chức năng của một cái phanh kềm hãm khả năng xung đột. Và các nước vẫn có đủ thời gian để vận động ngoại giao và hoạch định chính sách sáng tạo nhằm tạo ra những cơ chế giảm va chạm [institutional shock absorbers] hầu giúp giảm bớt rủi ro đối đầu quân sự bắt nguồn từ chủ nghĩa dân tộc đang trỗi dậy và sự thiếu tin cậy lẫn nhau đang gia tăng.
Kinh tế toàn cầu, trong khi đó, đã ổn định tiếp theo sau hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính, và các điều lệ mới đã được đặt ra để giảm bớt các rủi ro và hạn chế phạm vi ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng tương lai. Tỉ lệ tăng trưởng của Mỹ và châu Âu vẫn còn nằm dưới chuẩn mực lịch sử, nhưng những gì đang kềm hãm Mỹ và châu Âu không phải là di lụy của cuộc khủng hoảng tài chính mà là nhiều chính sách khác nhau đã hạn chế một sự tăng trưởng mạnh mẽ.
Bắc Mỹ một lần nữa có thể trở thành đầu máy kinh tế thế giới, dựa vào nền kinh tế cởi mở, phồn thịnh, và ổn định; 470 triệu dân; và sự tự túc về năng lượng đang trở thành hiện thực trong khu vực. Đại bộ phận châu Mỹ La tinh đang sống trong hòa bình. Mexico là một nước ổn định và thành công rõ rệt so với một thập kỷ trước đây, và Colombia cũng thế. Những vấn đề đang ám ảnh tương lai của những nước như Brazil, Chile, Cuba, và Venezuela không thể thay đổi tiến trình cơ bản của một khu vực đang đi đúng hướng. Và châu Phi, cũng thế, ngày càng có nhiều nước trong đó sự điều hành quốc gia và thành tích kinh tế tốt đẹp đang trở thành thông lệ chứ không còn là biệt lệ.
Các phương pháp phân tích truyền thống gần như không thể lý giải các xu thế có vẻ mâu thuẫn này. Một đường lối phân tích cổ điển, chẳng hạn, sẽ đóng khung sự tương tác quốc tế hiện nay trong thế thịnh suy của các đại cường, đối chiếu thế đi lên của Trung Quốc với thế đi xuống của Mỹ. Nhưng lối phân tích này sẽ cường điệu những nhược điểm của Mỹ và giảm nhẹ những nhược điểm của Trung Quốc. Mặc dù gặp phải nhiều vấn đề, nhưng Mỹ vẫn có lợi thế để phát triển mạnh trong Thế kỷ 21, trong khi Trung Quốc phải đối diện với nhiều thách thức, như tăng trưởng kinh tế đang chậm lại, nạn tham nhũng tràn lan, một dân số già nua, sự xuống cấp của môi trường, và bị các nước láng giềng e ngại. Không một nước nào trên thế giới thậm chí gần hội đủ một sự kết hợp cần thiết gồm cả khả năng quân sự lẫn cam kết quốc tế để làm một địch thủ thách thức với Mỹ và giành lấy địa vị siêu cường toàn cầu.
Tổng thống Mỹ Barack Obama gần đây được trích dẫn là đã bác bỏ những mối quan ngại về một thế giới đang phân rã; ông nhận xét rằng “thế giới vốn luôn luôn bề bộn như thế” và rằng những gì đang xảy ra ngày nay “không phải là điều có thể so với những thách thức mà chúng ta đã gặp phải trong Chiến tranh Lạnh.” Tuy nhiên, sự lạc quan của ông được biểu lộ không đúng chỗ, vì thế giới ngày nay còn bề bộn hơn nhiều, do sự xuất hiện ngày càng nhiều các thế lực có ý nghĩa trong khi các nước thiếu hẳn các lợi ích tương đồng hay các cơ chế để kềm hãm khả năng của những thế lực cực đoan nhất hay để tiết chế hành vi của chúng.
Thật vậy, trong khi bá quyền Mỹ đang suy yếu nhưng không có cường quốc nào kế vị sẵn sàng nhận trách nhiệm lãnh đạo thế giới, thì khả năng lớn nhất là một tương lai trong đó hệ thống quốc tế hiện nay sẽ nhường bước cho một hệ thống quốc tế rối loạn, với nhiều trung tâm quyền lực ngày càng hoạt động theo đường lối tự trị, ít quan tâm đến lợi ích và ưu tiên của Mỹ. Việc này sẽ tạo ra các vấn đề mới thậm chí làm cho những vấn đề đang có khó giải quyết hơn nữa. Tóm lại, trật tự hậu Chiến tranh Lạnh đang phân rã, và mặc dù nó không hoàn hảo, một ngày nào đó thế giới sẽ luyến tiếc nó.
CÁC NGUYÊN NHÂN CỦA VẤN ĐỀ
Tại sao thế giới bắt đầu phân rã? Có nhiều lý do khác nhau, một số lý do mang tính cơ cấu, một số khác do ý chí con người. Tại Trung Đông, chẳng hạn, trật tự bị xói mòn do một truyền thống gồm các chính phủ bất hợp pháp, bất ổn, thường là tham nhũng; do thiếu vắng xã hội dân sự; do mối họa tiềm ẩn trong các nguồn năng lượng phong phú (thường làm trì trệ việc cải tổ chính trị và kinh tế); do hệ thống giáo dục yếu kém; và do nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến tôn giáo, như chia rẽ giáo phái, xung đột giữa các nhóm ôn hòa và các nhóm cực đoan; và do thiếu một đường phân định rõ ràng và được chấp nhận rộng rãi giữa các lãnh vực tôn giáo và thế tục. Nhưng các tác động bên ngoài cũng tạo thêm vấn đề, từ các biên giới quốc gia được vẽ ra quá thô thiển đến các cuộc can thiệp gần đây của nước ngoài.
Sau hơn một thập kỷ nhìn lại, chúng ta thấy rằng quyết định của Mỹ trong việc lật đổ Saddam và cơ cấu lại nước Iraq thậm chí còn có vẻ sai lầm hơn so với thời điểm đó. Không những lý do chiến tranh nêu ra – tước đoạt vũ khí hủy diệt hàng loạt từ tay Saddam – được chứng minh là sai lầm. Mà nay nhìn lại, sai lầm nổi cộm hơn cả chính là việc lật đổ Saddam và tăng quyền hành cho khối đa số Shiite tại Iraq đã đưa nước này từ vị thế chống lại đến vị thế phục vụ các tham vọng chiến lược của Iran và trong tiến trình này đã làm tồi tệ thêm các xung đột giữa khối Hồi giáo Sunni và Hồi giáo Shiite tại Iraq nói riêng và trong toàn khu vực nói chung.
Việc thay đổi chế độ cũng không mang lại kết quả tốt đẹp hơn tại hai nước khác, nơi sự thay đổi này được thành tựu. Tại Ai Cập, việc Mỹ kêu gọi Tổng thống Hosni Mubarak rời bỏ quyền lực đã gia tăng tình trạng phân cực trong xã hội. Những biến cố sau đó cho thấy rằng Ai Cập chưa sẵn sàng cho một cuộc chuyển đổi dân chủ. Và việc Mỹ rút lui hậu thuẫn đối với một người bạn và đồng minh lâu đời [tức Mubarak] đã đặt ra nhiều nghi vấn ở những nơi khác (đặc biệt là tại các thủ đô Ả Rập khác) về tính khả tín trong các cam kết của Washington. Trong khi đó, tại Libya, việc lật đổ Muammar al-Qaddafi do một nỗ lực hỗn hợp của Mỹ và châu Âu đã đưa đến một nhà nước thiếu hẳn điều kiện và trách nhiệm cơ bản của một chính phủ có thực lực [a failed state], một nhà nước bị các lực lượng dân quân và quân khủng bố khống chế. Sự cần thiết vốn thiếu cơ sở của hành động can thiệp vào nội tình Libya kết hợp với sự thiếu sót các hành động hữu hiệu tiếp theo, và toàn bộ chiến dịch – diễn ra chỉ một vài năm sau khi Qaddafi đã được thuyết phục từ bỏ các chương trình vũ khí phi qui ước – chắc chắn gia tăng giá trị được cảm nhận của vũ khí hạt nhân và giảm thiểu khả năng thuyết phục các quốc gia khác noi gương Qaddafi.
Tại Syria, Mỹ đã bày tỏ hậu thuẫn đối với việc lật đổ Tổng thống Bashar al-Assad nhưng sau đó gần như không làm gì cả để thực hiện việc này. Obama tiếp tục làm cho tình hình tồi tệ thêm bằng cách tuyên bố một loạt các lằn ranh đỏ [redlines] liên quan việc Syria sử dụng vũ khí hóa học nhưng sau đó không có hành động nào cụ thể nào khi những đường ranh này bị vượt qua. Sự bất động này làm sa sút tinh thần phe chống đối vừa thành hình, bỏ mất cơ hội hiếm có để làm suy yếu chính quyền Assad và thay đổi đà phát triển của cuộc nội chiến, và giúp tạo ra một môi trường trong đó tổ chức ISIS (the Islamic State of Iraq and al-Sham), tự xưng là Quốc gia Hồi giáo, có thể phát triển. Lời nói không đi đôi với việc làm cũng làm sâu sắc thêm nhận thức của thế giới bên ngoài về sự không đáng tin cậy của Mỹ.
Tại châu Á, cũng thế, sự phê bình chính yếu khả dĩ có thể nhắm vào chính sách của Mỹ là một sự chỉ trích về sự lơ là [omission]. Trong khi các xu thế có tính cơ cấu đang gia tăng nguy cơ xung đột truyền thống giữa các quốc gia, Washington không có một động thái cương quyết nhằm ổn định tình hình – không chịu gia tăng sự hiện diện quân sự của Mỹ trong khu vực một cách đáng kể để trấn an các đồng minh và ngăn chặn các cường quốc đang thách thức vai trò của Mỹ, gần như không làm gì cả để tạo hậu thuẫn trong nước cho một hiệp định thương mại khu vực, và không tận tình theo đuổi các cuộc đối thoại tích cực và bền vững để ảnh hưởng lên tư tưởng và hành động của các lãnh đạo địa phương trong khu vực.
Đối với Nga, các yếu tố bên trong lẫn bên ngoài đã khiến cho tình hình trở nên tồi tệ. Bản thân Putin đã lựa chọn phương án củng cố quyền lực chính trị và kinh tế của mình, đồng thời theo đuổi một chính sách đối ngoại ngày càng làm cho Nga trở thành địch thủ của một trật tự quốc tế được Mỹ qui định và lãnh đạo. Nhưng chính sách của Mỹ và phương Tây không luôn luôn khuyến khích các lựa chọn có tính cách xây dựng từ phía Putin. Bất chấp cả châm ngôn nổi tiếng của Winston Churchill về cách đối xử với một địch thủ bại trận, phương Tây gần như không bày tỏ một hành vi cao thượng nào tiếp theo sau chiến thắng của mình trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Việc mở rộng khối NATO bị nhiều người Nga coi như là một cách nhục mạ, một sự phản bội, hoặc cả hai, của phương Tây. Lẽ ra Quan hệ Đối tác vì Hoà bình [Partnership for Peace], một chương trình được thiết kế để thúc đẩy quan hệ tốt đẹp hơn giữa Nga và NATO, có thể đạt thêm nhiều thành quả. Nói cách khác, lẽ ra Nga có thể được mời gia nhập NATO, mà kết quả của hành động này gần như sẽ không làm thay đổi quân bình lực lượng quân sự, vì NATO không còn thuần túy là một liên minh theo ý nghĩa cổ điển, mà chỉ là một tổ hợp thường trực gồm các nước có tiềm năng đóng góp cho “các liên minh của những nước tự nguyện.” Kiểm soát vũ khí, một trong những lãnh vực hiếm hoi trong đó Nga còn có thể tự hào là một đại cường, cũng không còn giữ vị trí trung tâm, khi chủ nghĩa đơn phương [unilateralism] và các hiệp ước có sự đồng thuận tối thiểu [minimalist treaties] đã trở thành thông lệ. Có thể chính sách của Nga vẫn triển khai theo cách nó đã diễn ra, cho dù Mỹ và phương Tây nói chung có tỏ ra hào hiệp hay mở rộng vòng tay để chào đón đi nữa, nhưng trên thực tế chính sách của phương Tây đã gia tăng khả năng mang lại một hậu quả như hiện nay.
Trong lãnh vực quản trị toàn cầu, các thỏa ước quốc tế thường khó thành tựu vì nhiều lý do. Nội con số đông đảo gồm quá nhiều quốc gia đã làm cho sự đồng thuận trở nên khó khăn hoặc không thể thực hiện. Lợi ích quốc gia không trùng hợp cũng là một lý do khác nữa. Do đó, những nỗ lực xây dựng các thỏa hiệp toàn cầu nhằm thúc đẩy mậu dịch và ngăn chặn vấn đề thay đổi khí hậu thường gặp nhiều trở ngại. Lắm khi các nước chỉ bất đồng về một điểm nào đó cần được thực hiện hoặc một điểm nào đó cần phải hi sinh để đạt được một mục tiêu to lớn hơn, hoặc họ ngại phải hậu thuẫn một sáng kiến nào đó vì sợ tạo ra một tiền lệ về sau có thể được dùng để chống lại họ. Do đó, rõ ràng là “cộng đồng quốc tế” thiếu hẳn cái nội dung mà việc sử dụng thường xuyên cụm từ này muốn nói đến.
Tuy nhiên, xin nhắc lại, trong những năm gần đây, các diễn biến bên trong nước Mỹ và các hành động của Chính phủ Mỹ cũng làm phức tạp thêm vấn đề nói trên. Trật tự hậu Chiến tranh Lạnh đặt cơ sở trên địa vị siêu cường của Mỹ, vốn là một hàm số không những của quyền lực Mỹ mà còn của ảnh hưởng Mỹ, phản ánh ý muốn của nhiều nước khác trong việc chấp nhận sự lãnh đạo của Mỹ. Ảnh hưởng này đã suy giảm vì điều mà thế giới thường nhận ra là một chuỗi thất bại hoặc sai lầm của Mỹ, gồm việc điều hành kinh tế lỏng lẻo đã đưa đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, các chính sách an ninh quốc gia quá hiếu chiến đã chà đạp các qui phạm quốc tế, và sự bất lực trong việc quản trị công việc nội bộ và sự rối loạn chức năng chính trị trong nước.
Tóm lại, trật tự [do Mỹ lãnh đạo] đã phân rã vì sự đồng qui của ba xu thế. Quyền lực trên thế giới được phân tán giữa một con số đông đảo và trên một phạm vi rộng lớn gồm nhiều thế lực khác nhau. Sự kính nể dành cho mô hình chính trị và kinh tế Mỹ đã suy giảm. Các lựa chọn chính sách cụ thể của Mỹ, nhất là tại Trung Đông, gia tăng mối hoài nghi về khả năng phán đoán của Mỹ cũng như về sự đáng tin cậy trong các lời dọa dẫm và hứa hẹn mà Mỹ đưa ra. Kết quả chung cuộc là, mặc dù quyền lực xác thực của Mỹ vẫn còn đáng kể, nhưng ảnh hưởng của Mỹ đã sút giảm.
PHẢI LÀM GÌ?
Nếu Mỹ nhắm mắt làm ngơ, sự rối loạn của thế giới hiện nay không thể dần dần biến mất hay tự giải quyết lấy. Tình hình vốn đã tồi tệ có thể trở nên tồi tệ hơn nữa một cách quá dễ dàng nếu Mỹ tỏ ra thiếu quyết tâm hoặc thiếu khả năng thực hiện các phương án sáng suốt và xây dựng hơn hiện nay. Cũng không thể có một giải pháp đơn thuần nào cho vấn đề này, vì bản chất của các thách đố hiện nay thay đổi theo từng khu vực và theo từng vấn đề. Trên thực tế, không có một loại giải pháp nào có thể áp dụng cho một tình hình mà trong khả năng tối ưu chỉ có thể được quản lý, chứ không thể được giải quyết.
Nhưng có một số biện pháp có thể và phải được sử dụng. Tại Trung Đông, Mỹ nên theo đúng lời thề Hippocrate là trước hết sẽ không gây thêm thương tích cho con bệnh. Mỹ cần phải thu hẹp khoảng cách giữa tham vọng và khả năng hành động của mình tại khu vực này, và cứ lẽ thường việc giảm bớt tham vọng là hợp lý hơn việc gia tăng các hành động. Thực tế đáng buồn là, các chuyển đổi dân chủ tại các xã hội khác thường nằm ngoài khả năng thực hiện của các thế lực bên ngoài. Không phải tất cả mọi xã hội đều sẵn sàng trở thành dân chủ vào bất cứ thời điểm nào. Các điều kiện tiên quyết về cơ cấu có thể chưa sẵn sàng; một văn hóa chính trị phản dân chủ có thể tạo ra các lực cản. Các thể chế dân chủ thực sự tự do có thể đào tạo những công dân quốc tế ưu tú, nhưng việc giúp các nước đạt đến trình độ đó là khó khăn hơn thường được nhìn nhận – các nỗ lực tiến tới dân chủ thường gặp nhiều rủi ro, vì các thể chế dân chủ non trẻ hoặc bất toàn có thể bị các khuynh hướng mị dân hoặc dân tộc chủ nghĩa cưỡng chiếm nửa chừng. Cổ vũ trật tự giữa các quốc gia – ảnh hưởng lên chính sách đối ngoại của những nước này nhiều hơn chính trị nội bộ của họ – là một mục tiêu tạm gọi là tham vọng mà các nhà làm chính sách Mỹ có thể theo đuổi.
Nhưng nếu các âm mưu thay đổi chế độ tại Trung Đông cần phải được dẹp bỏ, thì các cam kết dựa vào một thời khóa biểu nhất định cũng nên tránh. Các lợi ích của Mỹ tại Iraq không được phục vụ đúng mức do Mỹ không thể dàn xếp để duy trì sự hiện diện liên tục một lực lượng Mỹ trú đóng tại đó, một lực lượng có thể đã ngăn ngừa được sự xung khắc giữa các phe phái tại Iraq và đưa ra các chương trình huấn luyện rất cần thiết cho các lực lượng an ninh Iraq. Điều này cũng đúng cho trường hợp Afghanistan, nơi tất cả các lực lượng Mỹ buộc phải rút khỏi nước này vào cuối năm 2016. Những quyết định như thế lẽ ra phải gắn liền với lợi ích của Mỹ và tình hình thực tế hơn là dựa vào một thời khắc biểu. Can thiệp quá ít cũng có thể gây tổn thất và rủi ro như can thiệp quá nhiều.
Một số việc khác mà các thế lực bên ngoài có thể tiến hành một cách hữu hiệu trong khu vực này gồm đẩy mạnh và hậu thuẫn xã hội dân sự, giúp người tị nạn và người li tán, chống chủ nghĩa khủng bố và hiếu chiến, và ra sức chận đứng sự bành trướng vũ khí hủy diệt hàng loạt (như cố gắng đặt một mức trần có ý nghĩa trên chương trình hạt nhân của Iran.) Muốn làm suy yếu lực lượng ISIS, Mỹ cần phải sử dụng không lực thường xuyên nhắm vào các mục tiêu bên trong Iraq cũng như Syria, cùng với các nỗ lực hiệp đồng với những nước như Saudi Arabia và Thổ Nhĩ Kỳ để chặn đứng sự xâm nhập của các tay súng mới tuyển mộ và các nguồn tài chính. Có một số đối tác tiềm năng trên đất Iraq và một số ít hơn tại Syria – nơi các hoạt động chống ISIS phải được tiến hành trong bối cảnh của một cuộc nội chiến. Không may là, cuộc chiến chống ISIS và các nhóm tương tự có thể là khó khăn, tốn kém, và lâu dài.
Tại châu Á, bài bản cần áp dụng là giản dị hơn nhiều: Mỹ phải triệt để thực thi chính sách hiện có. Chiến lược “xoay trục” hay “tái quân bình lực lượng” hướng về châu Á của chính quyền Obama có mục đích mở ra các đối thoại ngoại giao thường xuyên ở cấp cao nhằm giải quyết và làm lắng dịu một con số quá nhiều các cuộc tranh chấp của khu vực; gia tăng sự hiện diện của không quân và hải quân Mỹ trong khu vực; và xây dựng hậu thuẫn trong nước và quốc tế cho một hiệp định thương mại khu vực. Tất cả những hành động này có thể là và phải là những ưu tiên cao của chính quyền, cũng như một nỗ lực đặc biệt nhằm thăm dò các điều kiện theo đó Trung Quốc có thể sẵn sàng cân nhắc lại sự cam kết của mình đối với một Bán đảo Triều Tiên bị chia cắt.
Đối với Nga và Ukraine, điều cần thiết là phải kết hợp những nỗ lực được thiết kế nhằm nâng đỡ Ukraine về mặt kinh tế và quân sự, tăng cường sức mạnh của NATO, và áp dụng biện pháp trừng phạt đối với Nga. Đồng thời, cũng phải cho Nga một lối thoát ngoại giao, một lối thoát đảm bảo rằng Ukraine sẽ không trở thành một thành viên của NATO một sớm một chiều hay có những quan hệ đặc biệt với EU. Giảm bớt sự lệ thuộc năng lượng của châu Âu vào Nga cũng phải đặt thành ưu tiên – việc này cần nhiều thời gian nhưng phải bắt đầu ngay bây giờ. Đồng thời, trong việc giao dịch với Nga hay với các cường quốc khác nói chung, Washington nên tránh các toan tính nối kết vấn đề này với vấn đề khác [linkage], cố tình đặt điều kiện hợp tác trong lãnh vực này trên sự hợp tác trong lãnh vực khác. Ngày nay, bất cứ một dạng thức hợp tác nào trong bất lãnh vực nào vốn đã là quá khó để thực hiện, vì thế Washington không nên làm tổn thương các cơ hội hợp tác bằng cách đi ra ngoài các giới hạn.
Ở mức độ toàn cầu, mục tiêu của chính sách Mỹ vẫn là hội nhập, phải cố gắng thúc đẩy các nước khác ký kết các thoả ước để quản lý các vấn đề toàn cầu như thay đổi khí hậu, nạn khủng bố, bành trướng vũ khí hạt nhân, mậu dịch, y tế, và duy trì một môi trường chung an toàn và thông thoáng. Trong những lãnh vực mà các thoả ước có thể mang tính toàn cầu thì đó là một điều rất tốt, nhưng trong những lãnh vực không thể toàn cầu hóa, thì các thỏa ước cần mang tính khu vực hay tính chọn lọc, gồm những quốc gia có lợi ích và khả năng to lớn hoặc chia sẻ một mức độ nào đó về đồng thuận chính sách.
Mỹ cũng cần phải chấn chỉnh lại công việc nội bộ của mình, vừa để nâng cao mức sống của dân Mỹ vừa để tạo ra các nguồn lực cần thiết để duy trì một vai trò toàn cầu tích cực. Một xã hội bế tắc và bất bình đẳng sẽ không thể đặt niềm tin vào Chính phủ của mình hay hậu thuẫn mạnh mẽ các nỗ lực quốc tế. Nhưng, điều này không nhất thiết có nghĩa là Mỹ phải cắt giảm các ngân sách quốc phòng; trái lại, có nhiều lý do cho thấy việc chi tiêu quốc phòng cần được gia tăng phần nào. Điều đáng mừng là, Mỹ có đầy đủ vũ khí và lương thực, chừng nào mà các nguồn lực được phân phối hợp lý và có hiệu quả. Một lý do khác để chỉnh sửa công việc nội bộ là Mỹ phải giảm bớt những sơ hở của mình. Mặc dù an ninh năng lượng của Mỹ đã cải thiện nhanh chóng trong những năm gần đây, nhờ các cuộc cách mạng dầu khí, nhưng sự lạc quan này không thể áp dụng cho các vấn đề khác, như cơ sở hạ tầng công cộng của Mỹ đang trở nên cũ kỹ, một chính sách nhập cư bất cập, và các vấn đề tài chính công dài hạn.
Như gần đây đã được bàn đến trên tạp chí này [tức Foreign Affairs], sự rối loạn chức năng chính trị Mỹ ngày càng gia tăng, chứ không giảm bớt, vì các chính đảng trở nên yếu kém, vì các nhóm lợi ích thu tóm nhiều quyền lực, vì sự xuất hiện các điều lệ mới về tài chính vận động chính trị, và vì các thay đổi dân số. Những người cho rằng đất nước này chỉ cần một thỏa thuận về ngân sách là có thể trở nên tốt đẹp cũng sai lầm như những người cho rằng đất nước này cần phải trải qua một cuộc khủng hoảng mới có thể phục hồi đoàn kết quốc gia. Thế giới bên ngoài có thể thấy được điều này, và cũng thấy được rằng công chúng Mỹ đã trở nên hoài nghi về việc Mỹ dính líu đến các vấn đề toàn cầu, đừng nói chi đến lãnh đạo thế giới. Một thái độ như thế hẳn là không đáng ngạc nhiên, căn cứ trên tình trạng kéo dài của những khó khăn kinh tế và thành tích tồi tệ của những cuộc can thiệp quân sự ở nước ngoài gần đây của Mỹ. Nhưng Tổng thống có bổn phận phải thuyết phục một xã hội Mỹ đã thấm mệt vì chiến tranh rằng thế giới bên ngoài vẫn còn quan trọng – dù nó có trở nên tốt hơn hay xấu hơn – và rằng Mỹ có thể và phải theo đuổi một chính sách đối ngoại tích cực mà không gây nguy hại cho an sinh của người dân trong nước.
Thật vậy, các chính sách đối ngoại và đối nội hợp lý sẽ tăng cường lẫn nhau: một thế giới ổn định là có lợi cho mặt trận quốc nội, và một mặt trận quốc nội thành công sẽ cung cấp các nguồn lực cần thiết cho vai trò lãnh đạo toàn cầu của Mỹ. Thuyết phục được dân chúng Mỹ về điểm này sẽ là một việc khó khăn, nhưng có một cách để giành hậu thuẫn dễ dàng hơn là đưa ra một chính sách đối ngoại nhằm lập lại trật tự thế giới chứ không phải là cải tạo thế giới. Nhưng cho dù nỗ lực này được thực hiện đi nữa, nó cũng không đủ sức ngăn cản sự xói mòn thêm nữa của trật tự thế giới, phát xuất từ sự phân tán quyền lực rộng rãi và việc làm quyết sách mất dần tính tập trung, cũng như từ nhận thức của thế giới về quyền lực Mỹ và hành động của Mỹ. Vấn đề không còn là thế giới sẽ tiếp tục phân rã hay không, mà là phân rã nhanh hay chậm và đến mức độ nào.

R. N. H.

Phần nhận xét hiển thị trên trang