Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 22 tháng 1, 2015

VTC đi tìm sự thật về Hoàng Bẩy : là tướng quân, hay là trùm buôn thuốc phiện ?


Về ông Hoàng Bảy đền Bảo Hà, thì có thể xem lại entry cũ ở đây hoặc ở đây



Còn ở dưới là điều tra của VTC.

---

1.

Ông Hoàng Bẩy là vị tướng hay trùm buôn thuốc phiện?



Nhắc đến ông Hoàng Bẩy thì ai cũng nghĩ ngay đến những cuộc lên đồng thú vị. Giá đồng dù là nam hay nữ, thì cũng đều biết hút thuốc, hoặc uống rượu, ca hát ngất trời. Trong suy nghĩ của nhiều người, thì ông Hoàng Bẩy là một vị tướng, nhưng sành ăn chơi phải biết.
Khi hỏi kỹ về ông Hoàng Bẩy, thì một số cán bộ quản lý di tích đền Bảo Hà (xã Bảo Hà, Bảo Yên, Lào Cai) cũng thú thật rằng, chưa thể khẳng định được ông Hoàng Bẩy là ai, quê quán ở đâu, năm sinh năm mất thế nào cũng không chắc chắn.
Mặc dù vậy, hàng năm vào ngày 17/7, Ban quản lý và chính quyền địa phương vẫn tổ chức lễ giỗ to tướng cúng ông Hoàng Bẩy cùng với đó là khai hội. Lễ cúng ông Hoàng Bẩy đã có từ lâu, nên xưa làm thế nào, thì giờ vẫn cứ làm thế.

Ông Hoàng Bẩy là vị tướng hay trùm buôn thuốc phiện?
Đền Bảo Hà
Vị tướng Hoàng Bẩy
Hiện có một số dị bản về ông Hoàng Bẩy, có những dị bản rất khác. Tựu chung lại, các dị bản đều khẳng định ông Hoàng Bẩy là “thần vệ quốc”, là một vị anh hùng lừng lẫy của miền sơn cước, từng đánh giặc phương Bắc, bảo vệ đất nước.
Ngoài truyền thuyết cho rằng, ông Hoàng Bẩy là vị tướng, được vua Cảnh Hưng (1740 – 1786), cử lên Lào Cai đánh giặc phương Bắc, thì còn dị bản nữa kể rằng ông Hoàng Bẩy là con Đức Vua Cha. Theo lệnh vua, ông giáng phàm trần, trở thành con trai thứ 7 trong tộc họ Nguyễn, cuối thời Lê.
Ông được cử lên Văn Bàn đánh giặc, ông bị giặc bắt. Chúng tra khảo, sát hại rồi vứt thi thể xuống sông. Kỳ lạ thay, di quan của ông trôi dọc sông Hồng, đến phà Trái Hút (Bảo Hà, Lào Cai) thì dừng lại.

Ông Hoàng Bẩy là vị tướng hay trùm buôn thuốc phiện?
Tổ chức lễ hội đền Bảo Hà
Còn một điều kỳ lạ nữa là khi ông bị giặc sát hại, thì trời bỗng chuyển gió, mây vần vũ, kết lại thành hình thần mã (ngựa). Từ thi thể ông phát ra đạo hào quang, phi lên thân ngựa, đến Bảo Hà thì dừng lại, trời bỗng quang đãng, mây ngũ sắc kết thành hình tứ linh chầu hội.
Sau này, khi hiển linh ông được giao quyền trấn giữ đất Lào Cai, ngự trong dinh Bảo Hà. Ông nổi tiếng là một ông Hoàng không chỉ giỏi kiếm cung mà còn rất ăn chơi, phong lưu. Khi thanh nhàn ông ngả bàn đèn, uống trà mạn Long Tỉnh, ngồi chơi tổ tôm, tam cúc, xóc đĩa… lúc nào cũng có thập nhị tiên nàng hầu cận.
Mặc dù ăn chơi nức tiếng, nhưng ông lại luôn khuyên bảo nhân dân phải ăn ở có nhân có đức, tu dưỡng bản thân để lưu phúc cho con cháu.
Ông Bẩy là ông Hoàng hay ngự về đồng. Hầu đồng ông Bẩy đã thành nét văn hóa, nên chuyện ở đền Bảo Hà diễn ra cả chục cuộc hầu đồng một lúc là chuyện bình thường.

Ông Hoàng Bẩy là vị tướng hay trùm buôn thuốc phiện?
 Ông Hoàng Bẩy là vị tướng hay ông trùm thuốc phiện
Ông trùm thuốc phiện?
Những ngày lang thang ở đền Bảo Hà, tìm hiểu từ những người già, PV thu thập được một vài thông tin về ông Hoàng Bẩy khác biệt với thông tin chính thống.
Theo ông Trần L., người ở TP. Lào Cai, quê gốc Yên Bái, ông cha đời trước kể lại với ông rằng, ông Hoàng Bẩy không phải là vị tướng đời Lê, có công đánh đông dẹp bắc, mà chỉ là một tay buôn thuốc phiện khét tiếng ở vùng Trái Hút (thuộc đất Yên Bái bây giờ), cách Bảo Hà chừng 20km.
Thời đó, vùng Trái Hút, cùng với phố Lu là trung tâm thuốc phiện lớn vùng Tây Bắc, thu hút rất nhiều tay chơi đổ về hút hít. Giới buôn bán thuốc phiện từ Lai Châu, Sơn La đều qua đây, tập kết thuốc phiện ở vùng này, rồi mới đưa về xuôi.
Sông Hồng từ TP. Lào Cai về khu vực Trái Hút chỉ dài vài chục cây số, nhưng có rất nhiều ghềnh thác, xoáy nước. Trong đó, đoạn sông qua Bảo Hà nước chảy quẩn, nên người chết trôi hay vật nào đó trôi về đây thì bị giữ lại. Từ xưa đến nay, người trên ngược chết đuối, dân vớt xác chỉ việc chầu chực ở Bảo Hà là tìm thấy xác người.

Ông Hoàng Bẩy là vị tướng hay trùm buôn thuốc phiện?
 Giá đồng ông Hoàng Bẩy hút thuốc
Trong một lần chuyển hàng từ Phố Lu về Trái Hút bằng đường sông, ông trùm thuốc phiện Hoàng Bẩy bị lật thuyền, chết đuối và xác đã trôi về Bảo Hà. Đám đệ tử của ông trùm này đã vớt xác, đem chôn, rồi lập miếu thờ.
Ngày đó, đi đường thủy thì dễ bị lật thuyền, đi đường bộ dễ bị hổ vồ. Xưa, người Lào Cai có câu: “Cọp Bảo Hà - ma Trái Hút" - câu cửa miệng trong dân gian đã cho thấy sự u ám, hoang lạnh một thời của vùng đất này.
Dân buôn bán, đặc biệt buôn thuốc phiện đi qua thường ghé miếu Hoàng Bảy thắp hương cầu may mắn cho chuyến buôn đường dài. Tin đồn cứ thế lan rộng, ngôi đền trở nên linh thiêng, nổi tiếng.
Theo ông Trần L., ở Lào Cai không chỉ có ngôi đền Bảo Hà có nguồn gốc lạ lùng, mà còn 2 ngôi đền nữa cũng tương tự. Một ngôi đền ở Sapa, vốn là ngôi miếu do các cô gái bán dâm phục vụ lính Pháp dựng lên, thờ tổ nghề bán dâm là Bạch Mi, giờ thành đền thờ Mẫu.

Ông Hoàng Bẩy là vị tướng hay trùm buôn thuốc phiện?
 Ông Hoàng Bẩy nhập đồng
Còn một ngôi miếu nhỏ trong rừng Hoàng Liên Sơn, cạnh đường đi Lai Châu, vốn do dân buôn thuốc phiện dựng lên thờ cúng, giờ theo lời đồn đại cũng trở nên linh thiêng, thu hút không ít quan chức lặn lội cuốc bộ vào cúng bái. Giới buôn bán thuốc phiện, cờ bạc bịp, buôn lậu càng ngày kéo vào càng đông để hương khói, xin “thần” che chở cho những việc làm sai trái, vô đạo.
Câu chuyện về ông thần Hoàng Bẩy hiện có nhiều dị bản. Ông là tướng quân, thổ ty, hay chỉ là ông trùm buôn thuốc phiện thì chưa được làm rõ, nhưng có một điều, ông là tay chơi nổi tiếng, đủ cả gái gú, hút hít, đàn ca sáo nhị thì dân gian đều rõ cả.
Việc ông thần này có bảo vệ được cho đám buôn gian, bán lận hay không, thì chẳng rõ, nhưng có một chuyện mà tôi nghe được từ anh em cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Lào Cai về một bà trùm ma túy mê hầu đồng giá ông Bẩy thì khá thú vị. Nhân vật đó là Trịnh Thị Hường, 45 tuổi, trú ở phố Tôn Đức Thắng (Hà Nội).
Nhân vật này bị 2 lần truy nã vì buôn bán ma túy. Hường có tới 4 đời chồng thật và chồng hờ. Mặc dù là bà trùm ma túy, chủ lô đề khét tiếng, nhưng Hường lại rất mê tín, hàng tuần đều hầu đồng giá Hoàng Bẩy.
Tháng nào thị cũng lên đền Bảo Hà kêu ông Hoàng Bẩy độ trì cho “nghề” buôn ma túy, ghi số đề. Thị thần tượng ông Hoàng Bẩy đến nỗi, đứa con sinh ra với ông chồng hờ thứ 4, là một thầy cúng, thị còn đặt tên là Nguyễn Bảo Hà, tên ngôi đền. Tuy nhiên, dù đã thay tên, đổi họ, lẩn trốn, thị vẫn không thoát được lưới trời.

2.

Đi tìm sự thật quái gở ở đền ông Hoàng Bẩy



Kỳ 5: Ông Hoàng Bẩy linh nghiệm?
Nhắc đến ông Hoàng Bẩy, những người hay đi chùa, thích hầu đồng khắp miền Bắc, thậm chí cả nước, đều biết đến. Những giá đồng ông Bẩy luôn cuốn hút người tham gia, cực kỳ sinh động.
Ông Bẩy nhập vào giá đồng, múa may quay cuồng, hút thuốc lá, thuốc lào, thậm chí thuốc phiện đúng chất tay chơi, khiến buổi hầu đồng tôn nghiêm trở nên vui nhộn, mọi người cười nghiêng ngả, sảng khoái.
Ngôi đền Bảo Hà mãi trên Lào Cai thờ nhân vật kỳ lạ này. Vì sao người dân cả nước kéo lên Bảo Hà để cầu tài, cầu lộc một nhân vật hư thực nổi tiếng ăn chơi, nghiện ngập, đĩ điếm?
Câu chuyện nhảm nhí
Chuyến tàu chạy Hà Nội – Lào Cai những ngày đầu năm đông hơn thường lệ. Khách lên Lào Cai thời điểm này chủ yếu là đi lễ đền Bảo Hà cầu tài, cầu lộc.
Trong toa tàu nằm của tôi, có mấy người ở toa cạnh cũng mò sang, trò chuyện rôm rả về ông Hoàng Bẩy, những câu chuyện linh nghiệm quanh nhân vật bí ẩn này.

Đi tìm sự thật quái gở ở đền ông Hoàng Bẩy
Đền Bảo Hà
Người đàn ông có thể mô tả bằng mấy chữ “nửa nạc nửa mỡ”, thân thể đàn ông, mà nói giọng đàn bà, mãi sau tôi mới biết tên Sơn, kể rằng, từ 15 năm nay, năm nào anh ta cũng lên đền Bảo Hà cỡ 3-5 lần.
Anh kể rằng, tuổi trẻ ăn chơi hoang tàn, nhưng hậu vận càng ngày càng khá là nhờ… ông Bẩy. Các thầy bói đều phán tuổi Sửu có căn nặng, nếu ra hầu đồng thì có nhiều lộc, không thì sẽ bị hành tơi tả đến hết đời.
Tuổi trẻ, anh Sơn là dân tứ chiếng giang hồ, ra Bắc vào Nam, làm toàn chuyện rạch giời rơi xuống như cho vay nặng lãi, chủ lô đề, đòi nợ thuê, thậm chí có dính đến chuyện bán lẻ thuốc phiện. Kiếm được đồng nào, đốt hết vào các thú ăn chơi sa đọa.
Đi tù vì ma túy mấy năm, anh Sơn tu tỉnh hẳn. Ra tù, anh dồn vốn buôn bán, tuy nhiên, làm gì cũng thất bại.
Một lần theo vợ lên chùa, thấy giá đồng ông Bẩy, anh Sơn bị cuốn hút như thể ma làm. Xong giá đồng, bà đồng nhìn anh Sơn phán y như những ông thầy bói năm xưa: “Anh có căn số với ông Bẩy đó”.
Anh Sơn giải thích rằng, những thầy bói, thầy tướng, hoặc cô đồng giỏi, chỉ cần nhìn tướng là biết ai hợp với giá đồng nào. Có người hợp cô Bé, cô Chín, người hợp ông Hoàng Bẩy, ông Hoàng Mười.

Đi tìm sự thật quái gở ở đền ông Hoàng Bẩy
Giá đồng ông Hoàng Bẩy vãi tiền rải lộc
Những nhân vật này trong truyền thuyết đều có tính cách riêng. Nếu tính cách ai hợp với họ, theo hầu giá đồng sẽ lộ ngay. Nếu hợp, họ sẽ rất say mê, thậm chí u mê và nhảy nhót theo giá đồng đó. Nhiều trường hợp còn bị “thánh nhập”, “cô nhập’ hay “cậu nhập” mà nhảy nhót, múa kiếm, hát văn như thật.
Tin rằng mình hợp với ông Hoàng Bẩy, nên anh Sơn theo bà đồng hầu ông Bẩy trong các giá đồng tứ xứ.
Theo anh, không hiểu ông Hoàng Bẩy phù hộ, anh đến dịp phát, mà từ ngày theo hầu ông Bẩy, công việc làm ăn trôi chảy, ăn nên làm ra trông thấy. Anh mở thêm nhà hàng ăn uống, khách đến nườm nượp.
Theo việc tâm linh, mối quan hệ mở rộng, biết nhiều quan chức, nên bây giờ nghề chính của anh lại là buôn quan bán chức, chạy việc, thậm chí buôn bán cả hóa đơn, kiếm tiền như nước.

Đi tìm sự thật quái gở ở đền ông Hoàng Bẩy
Ông Hoàng Bẩy nhập đồng... hút thuốc
Theo lời anh Sơn, mỗi năm anh lập vài giá đồng, đốt cả tỷ bạc cho việc hầu đồng. Kiếm được nhiều, cũng phải đốt nhiều để cúng ông Bẩy, thì ông mới phù hộ công việc xuôi chèo mát mái (?!).
Tôi thắc mắc: “Nghe đồn ông Hoàng Bẩy nổi tiếng ăn chơi, lại có thú vui hút thuốc phiện, thế đi đền Bảo Hà có cúng thuốc phiện không?”.
Nghe tôi hỏi vậy, anh Sơn cười bí hiểm: “Ngày xưa mình cúng cho cụ cả cục thuốc phiện bằng nắm tay cùng chiếc bàn đèn đẽo bằng lõi mít, nhưng giờ họ cấm rồi, vì dùng thuốc phiện là vi phạm pháp luật.
Tuy nhiên, nếu cúng ông Bẩy mà không có thứ đó thì không thể thiêng được. Ông mà có thuốc phiện rít, phê lòi ra, thì xin thứ gì chả được”.
Nghe anh Sơn nói bằng cái giọng eo éo ấy, tôi quả thực hết sức ngạc nhiên. Thật khó có thể tin, xã hội bây giờ, con người không chỉ hối lộ thần thánh bằng xôi gà, tiền bạc, mà còn cả thuốc phiện.
Vị tướng Hoàng Bẩy
Đền Bảo Hà, hay còn gọi là đền Hoàng Bẩy thuộc xã Bảo Hà, Bảo Yên, Lào Cai. Khu di tích lịch sử văn hóa quốc gia cổ kính, hoàng tráng này nằm dưới chân đồi Cấm, ngay cạnh dòng sông Hồng cuộn đỏ. Nhìn từ xa, đền Bảo Hà rất uy nghi, tĩnh mặc. Phong cảnh trên bến, dưới thuyền, núi rừng bao bọc xanh ngắt, thâm u.
Đền được xây dựng gồm: cổng tam quan, sân đền, nhà khách, phủ chúa Sơn Trang, tòa đại bái, cung cấm, cung nhị, cung công đồng với diện tích, bài trí các pho tượng khác nhau, kiến trúc đơn giản không cầu kỳ.
Truyền thuyết chính thống nhất được sử dụng kể về ông Hoàng Bẩy như sau: Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, Bảo Hà có một vị trí quan trọng phòng thủ biên giới, là cửa trạm của phòng tuyến sông Hồng phía Tây Bắc.

Đi tìm sự thật quái gở ở đền ông Hoàng Bẩy
 Tượng ông Hoàng Bẩy
Từ đời nhà Trần đã đặt hai cửa trấn ải là cửa quan Bảo Thắng và Bảo Hà, trong đó Bảo Hà là hậu cứ của Bảo Thắng. Tại đây có đài hỏa hiệu, trạm liên lạc thông tin cho các châu huyện phía dưới.
Giữa niên hiệu Cảnh Hưng, Bảo Hà là trung tâm Châu Văn Bàn. Trong thời Cảnh Hưng (1740 – 1786), bọn giặc phương Bắc thường hay tràn sang quấy nhiễu, cướp bóc. Xã Khấu Bàn, châu Văn Bàn đã phải xây dựng các thành luỹ chống giặc.
Trước cảnh đau thương tang tóc, lại có nguy cơ bị xâm lược, tướng Nguyễn Hoàng Bẩy được triều đình giao trọng trách khởi binh dẹp loạn vùng biên ải.
Đội quân của ông tiến dọc sông Hồng đánh đuổi quân giặc, giải phóng châu Văn Bàn và củng cố xây dựng Bảo Hà thành căn cứ lớn. Tại đây, danh tướng đã tổ chức các thổ ty, tù trưởng luyện tập binh sỹ… Sau đó thống lĩnh quân thủy và quân bộ tiến đánh giặc ở Lào Cai, giải phóng các châu thuộc phủ Quy Hóa (Yên Bái, Lào Cai ngày nay).
Quân giặc phương Bắc do tên tướng Tả Tủ Vàng Pẹt đưa quân sang xâm lược bờ cõi, danh tướng Hoàng Bảy lại dẫn quân lên tham chiến. Song, do trận chiến không cân sức, ông đã anh dũng hy sinh.
Giặc vứt xác ông xuống sông Hồng, và trôi đến Bảo Hà. Nhân dân trong vùng do ông Lư Văn Cù đứng ra tổ chức vớt xác ông lên chôn cất và lập miếu thờ.
Để ghi nhớ công lao của ông, các vua triều Nguyễn như Minh Mệnh, Thiệu Trị đã tặng ông danh hiệu “Trấn an hiển liệt” và đền thờ ông cũng được các vua triều Nguyễn cấp sắc phong là “Thần Vệ Quốc”. Còn đồng bào các dân tộc Kinh, Tày, Dao… thì tôn thờ ông là vị nhân thần. Ông đi vào cõi tâm linh các dân tộc và hiện thân trong các lễ hội xuống đồng vào ngày Thìn tháng giêng.
Còn tiếp…

3.

4.

5.

Giao bloger
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015

Nhà văn Cuba định cư tại Mỹ, José Manuel Prieto viết về đất nước mình:

Cuba: Bước đầu tan rã của một Nhà nước toàn trị (2)
(LND: Nhân chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Cuba Raúl Castro, xin mời độc giả đọc tiếp bài phóng sự của nhà văn Cuba định cư tại Mỹ, José Manuel Prieto, để hiểu thêm về Cuba dưới cái nhìn của người trong cuộc. Một Cuba xã hội chủ nghĩa đang  buộc lòng phải đổi mới).

Một người đánh giày đang chờ khách trên vỉa hè.

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết đặc sắc của nhà văn Cuba Jossé Manuel Prieto. Sau mười năm sống ở Mỹ, trở về thành phố quê hương La Habana, ông ngỡ ngàng nhận ra - qua những chi tiết của đời sống thường nhật - một nhà nước sau gần 70 năm toàn trị nay có vai trò ngày càng thu hẹp. Mô hình nào cho một  Cuba đang hấp hối, khi viện trợ Liên Xô từ lâu không còn, Venezuela nay cũng đang gặp khó khăn, còn Trung Quốc làm ngơ không muốn cứu giúp đảo quốc xa xôi này ? Cuba đang ở chân tường - đổi mới hay là chết !

Bài viết đăng trên tờ Letras Libres (Mehico), được Le Courrier International dịch ra tiếng Pháp.

Tại đại lý du lịch ở Queens, khi mua vé để đáp chuyến bay trực tiếp duy nhất nối liền New York – La Habana, tôi được trao bản danh sách các sản phẩm được phép mang đến Cuba : 10 ký lô dược phẩm và 20 ký thực phẩm miễn thuế hải quan. Cuba hiện vẫn đang bị Mỹ cấm vận thương mại, chính những người Cuba sống ở hải ngoại đảm trách việc duy trì cuộc sống bình thường cho đất nước.

Hôm khởi hành, tại sân bay tôi trông thấy các hành khách tay xách nách mang. Không chỉ những gói hành lý lớn – theo tôi hình dung thì bên trong là thuốc men và thực phẩm được phép – mà cả ti-vi màn hình phẳng còn trong bao bì, các dàn máy nghe nhạc hi-fi và dụng cụ điện gia dụng. Tờ La Jornadacho biết, năm 2009, trong số 324.000 khách du lịch đến bằng các chuyến bay trực tiếp từ Mỹ, có tới 95% là người gốc Cuba. Theo tính toán của nhiều nhà kinh tế khác nhau, kiều hối của người Cuba hải ngoại gởi về mỗi năm hơn một tỉ đô la, chiếm 35% ngoại tệ thu về của cả nước.

Món viện trợ này tuy vậy vẫn chưa thấm vào đâu. Tôi đã đến với một La Habana gần như chìm sâu hoàn toàn trong bóng tối. Ngã tư nổi tiếng giữa đường 23 và L, có thể được xem là một Times Square của Cuba, vắng như chùa bà Đanh vào lúc 22 giờ đêm. Điều này mang lại một ấn tượng buồn thảm, cứ như là đất nước vừa bị một thiên tai ụp xuống. Cảm giác bị bỏ rơi và khủng hoảng sâu sắc bao trùm. Cuba đang thoi thóp.

Vài ngày sau khi tôi đến nơi, ngày 18/04/2011, đương kim Chủ tịch Cuba là Raul Castro cũng gần như có cùng một chẩn đoán. Phát biểu trước Quốc hội, nêu lên thời điểm khó khăn mà đảo quốc đang phải trải qua, ông cảnh báo : « Hoặc là chúng ta sửa đổi, hoặc như thế là hết. Chúng ta không còn có thể đi men theo bờ vực thẳm, chúng ta sẽ chìm đắm, và cùng chìm theo ta là nỗ lực của bao nhiêu thế hệ ».

Chắc hẳn là những triệu chứng của cuộc khủng hoảng sâu sắc này đã hiện diện từ ít nhất hai chục năm qua. Nhưng những gì đập vào mắt hôm nay, là khủng hoảng không phải nhất thời mà chính từ cấu trúc. Không còn có thể tiếp tục đổ tội cho « blocus » (cấm vận) của Mỹ, và sự sụp đổ của Liên Xô, mà là do hệ thống tệ hại.

Tháng 8/2010 chính Fidel Castro đã nhìn nhận trong một cuộc đối thoại lạ lùng với Jeffrey Goldberg, phóng viên báo The Atlantic, và chuyên gia Mỹ Julia Sweig : mô hình này không ổn. Cụ thể hơn, ông nói : « Mô hình Cuba không còn tác dụng nữa, ngay cả với chúng tôi ». Cần nhấn mạnh ở đây là Fidel không còn tố cáo sự dối trá của đế quốc Mỹ, mà nêu ra một nguyên nhân nội tại. Bản thân điều này đã là một sự kiện, xứng đáng được phân tích sâu hơn. Fidel muốn nói về mô hình nào ? Đó là mô hình xô-viết công hữu hóa bắt buộc.

Kể từ cách mạng Cuba 1959, Nhà nước đảm trách tất cả những gì mà các lãnh đạo trước đó làm không tốt. Liên Xô với những thành công vang dội (như việc phóng hỏa tiễn Spoutnik đầu tiên vào năm 1957) cho thấy chủ nghĩa xã hội là một con đường đầy hứa hẹn. Một con đường mang lại những lợi ích lớn lao khi hoạt động trên nguyên tắc chính phủ độc đảng, hoàn toàn không có đối lập, với một xã hội công dân chỉ là con số không.

Nay với chuyến trở về Cuba đầu tiên từ mười năm qua, tôi có thể nhận ra những dấu hiệu đầu tiên của một tiến trình ngược lại - những giai đoạn đầu của việc tháo dỡ cái nhà nước với những chiếc vòi bạch tuộc này. Tôi quan sát sự thu nhỏ lại của nó. Đó là một hiện tượng có thể nhìn thấy bằng mắt thường, một hiện tượng vật lý, như nước triều khi đột ngột rút đi đã để lại những tàn tích phía sau.

Đó là thảm họa của một nền kinh tế bị phá hủy, đất nước đắm chìm trong một cuộc khủng hoảng tài chính sâu sắc, trầm trọng thêm bởi hệ thống phân lập hai loại tiền tệ. Đồng peso chuyển đổi được (chavito) được xem là đồng tiền chính thức từ năm 2004, nhưng tiền lương được trả bằng đồng peso nội địa hoàn toàn không có giá trị nào đối với bên ngoài. Tất cả nằm trong bối cảnh dân chúng ngày càng bất mãn, và phái ly khai ngày càng mạnh hơn.

Thích ứng với thay đổi

Đường hướng chủ đạo về chính sách KTXH - best seller
Tôi mua tất cả các báo chí có trên quầy bán báo gần « casa particular » (nhà trọ tư nhân) nơi tôi ở nhất. Sự quan tâm bất thường của tôi dành cho các tờ báo và tạp chí mà hầu như không ai thèm đọc, đã tố cáo tôi ngay lập tức : tôi là kiều dân ở nước ngoài. Tôi hỏi mua tài liệu mới nhất « Đề án các đường hướng chủ đạo về chính sách kinh tế xã hội », nhưng đã hết. Ông già bán báo nói với tôi : « Cả La Habana đang đọc cuốn đó ! ». Cuối cùng tôi cũng có được nhờ một ông già khác nghe qua câu chuyện, đã nhượng lại cho tôi với giá gấp mười.

Tập brochure 29 trang nêu chi tiết 291 điểm sẽ được « cập nhật » trong mô hình kinh tế Cuba. Nhật báo chính thứcGranma khẳng định, đây là kết quả của cuộc thăm dò dân ý do Raul Castro đưa ra ngày 26/07/2007, qua đó « trên 4 triệu người Cuba đã đưa ra trên 1 triệu đề xuất ». Về cơ bản, cụ thể là làm giảm béo cái nhà nước nặng nề này, giúp cho nó gọn gàng hơn, và giảm bớt chi phí hoạt động.

Cuối cùng tôi đã hiểu được đằng sau các ngôn từ văn vẻ của các Lineamientos - mà cả nước Cuba đều đọc và tranh luận như là một tác phẩm best-seller, cơ bản là xác định cho được vai trò mới của Nhà nước (được cho là sẽ giữ vai trọng tài thay vì cầu thủ ngôi sao) trong khi vẫn không để mất vị trí chi phối chính trị. Đảng hiện tại của chính phủ vẫn tiếp tục nắm quyền nhằm « bảo vệ thành quả cách mạng ».

Từ đó tôi kết luận rằng, thực ra các nhà lãnh đạo đang tìm cách thích ứng với một sự thay đổi đã được khởi đầu mà không có sự tham gia của chính phủ, nhưng là từ sáng kiến của nhân dân Cuba. Giống như là một dòng sông quay về với cội nguồn. Hoặc có thể nói, giống như trước cảnh tháo chạy tán loạn ở mặt trận tiền phương, bộ tham mưu đành tuyên bố « rút lui có tổ chức ». CácLineamientos chỉ có nhiệm vụ duy nhất là cứu vãn thể diện, kiểm soát tiến trình.

Cuộc sống dưới chủ nghĩa xã hội là một trò mèo vờn chuột muôn thuở. Một bên là Nhà nước, bảo vệ một cách ích kỷ vai trò nhân tố độc tôn của mình. Bên kia là trận du kích chiến không mệt mỏi của các sáng kiến tư nhân và chợ đen – dòng sông mạnh mẽ này cuộn chảy dưới bề mặt có vẻ liền lạc của đất nước, và bảo đảm phần lớn cho sự bình ổn. Nhà nước bèn ấn định mục đích khoan các giếng phun để chạm được vào dòng chảy ngầm ấy, giúp nó phun trào ra ngoài ánh sáng, dưới một dạng thức ít nhiều được điều khiển.

Không phải xếp hàng

Tôi vô cùng kinh ngạc, chẳng hạn, trước số lượng thực phẩm được bán trên đường phố, so với nạn đói từng hoành hành trong thời kỳ được gọi là « giai đoạn đặc biệt » (sau khi Liên Xô tan rã, giai đoạn này đánh dấu các khó khăn kinh tế nghiêm trọng cho Cuba vì không còn viện trợ). Trên đường San Rafael ở ngay trung tâm thủ đô, tại khu phố cổ, tôi đếm được ít nhất mười điểm bán thức ăn, đa số nhận tiền peso Cuba. Và hầu như không có ai phải xếp hàng, có lẽ là do giá cả khá cao. Các quầy hàng được cung ứng dồi dào (ở Cuba thì mọi thứ đều phải hiểu theo nghĩa tương đối), và dù giá bán đắt đỏ so với đại đa số người dân, các món hàng vẫn có người mua.

Dù sao đi nữa nguồn hàng tư nhân bổ sung cho nguồn nhà nước đã giúp cho nhiệm vụ tìm kiếm cái ăn bớt khó khăn hơn. Cuba phải nhập khẩu đến 80% lượng thực phẩm tiêu thụ, tương đương khoảng 2 tỉ đô la mỗi năm. Việc phân bố đất canh tác (khoảng 3 triệu hecta, tức phân nửa diện tích đất trồng trọt) đã bắt đầu từ năm 2007. Trả lời phỏng vấn tạp chíEspacio Laical, nhà kinh tế trẻ tuổi Cuba, Pavel Vidal Alejandro nhấn mạnh, còn phải hoàn tất việc « tách rời độc quyền nhà nước và tập trung cho việc thương mại hóa nông sản ». Bởi vì chính tình trạng này chứ không phải chứng thiểu năng hay trận bão nào đó luôn kìm hãm nhà nông Cuba chất đầy vựa lúa.

Sự biến mất của các cuốn sổ mua hàng tem phiếu - giấc mơ vĩnh cửu của người dân Cuba - đã được loan báo. Ngày nay giấc mơ ấy đã ở trong tầm tay. Không phải nhờ đã đạt được sự thịnh vượng kinh tế của « chủ nghĩa xã hội phát triển »(như ở Liên Xô, theo như người ta nói là không cần đến tem phiếu nữa), nhưng chỉ đơn giản là Nhà nước chẳng còn gì để mà phân phối! Bodega (cửa hàng mậu dịch bán thực phẩm theo số mua hàng) mà mỗi sáng tôi đều đi qua - có cái điện thoại công cộng trong tình trạng hoạt động, nhờ tôi có thể gọi vài cuộc điện thoại - vẫn trống rỗng như hồi tôi còn bé. Hồi đó mẹ tôi phải chiến đấu cật lực mới mua được tiêu chuẩn bánh mì, mà chẳng bao giờ đủ để chia cả.

Victor Fowler, người bạn văn chương mà tôi đến thăm khuya hôm đó trong bóng tối và cơn mưa tầm tã đã nói: “Cho dù Cuba gắng sức ve vãn Trung Quốc, Bắc Kinh vẫn không muốn tham gia duy trì quan hệ với một hòn đảo xa xôi, như Matxcơva đã làm trước đó”.
Liên Xô, người chủ nợ hào phóng trong hơn ba mươi năm đã nuôi dưỡng cách mạng Cuba với hàng tỉ đô la, đã qua đời vào năm 1991. Chỗ trống được Venezuela thay chân, quốc gia này bán cho Cuba mỗi ngày 100.000 thùng dầu, để đổi lấy dịch vụ y tế. Nhưng mô hình này cũng bắt đầu suy sụp do những sai lầm của Hugo Chávez và tình hình phức tạp mà đất nước này đang gặp phải.
Vì thế mà các nhà lãnh đạo đành phải kêu gọi đến chủ nợ cuối cùng, vốn luôn ở bên cạnh: đó là nhân dân Cuba. Trong suốt nhiều thập kỷ, họ đã trói tay trói chân người dân, và nay thì quay về phía dân chúng với tất cả sức mạnh thần thánh. Khởi đầu là với những người rời bỏ khu vực nhà nước, nay không còn bị xem là những kẻ đầu cơ hay ăn bám nữa, nhưng lại nhận được một danh hiệu hoàn toàn mới: cuentapropista (tư doanh). Bởi vì đó là đấng cứu rỗi cuối cùng.
 
Một chiếc Chevrolet đời 1957 trên đường phố La Habana.
Giai đoạn đầu tiên là công bố công khai một danh sách các ngành nghề được cho phép, gồm 178 loại hoạt động, kể cả những nghề kỳ quặc nhất như nghề làm hề, nghề bọc nút áo. Danh sách vẫn có vẻ thận trọng: một số nghề nghiệp không được ghi vào. Chẳng hạn như bác sĩ hay lập trình viên, là những nghề được cách mạng tài trợ trong quá trình học tập, hơn nữa các bác sĩ còn là một trong những nguồn thu của đất nước. Cuba gởi đội ngũ quan trọng các “phái đoàn y tế” đến Venezuela, và cả Nam Phi xa xôi, nước anh em Bolivia và các quốc gia khác nữa.
Dù gì đi nữa, kế hoạch trên đã được tiến hành trống giong cờ mở, và tờ Granma thông tin rằng ngay từ tháng 11/2010, đã có 80.000 người Cuba nộp đơn xin giấy phép cuentapropista.Thấy tầm cỡ của hiện tượng như thế, chính phủ loan báo sẽ nhập khẩu 130 triệu đô la hàng hóa để thành lập một thị trường bán buôn, nơi các doanh nghiệp mới lập có thể mua được những vật liệu cần thiết. Cũng không ngại tự mâu thuẫn, chính Nhà nước, theo Lineamientos, chịu trách nhiệm ấn định giá cả và đánh thuế lợi tức, với tỉ lệ mà một số người cho là quá cao, thậm chí có thể ảnh hưởng đến tương lai tồn tại của các doanh nghiệp mới.
Các nghịch lý này được giải thích một cách rất là ý thức hệ. Trong bài diễn văn đọc trước Quốc hội như đã dẫn, Raúl Castro nói: “Không một người nào nên nhầm lẫn: Lineamentos chỉ ra con đường hướng về tương lai xã hội chủ nghĩa thích ứng với hoàn cảnh Cuba, chứ không phải hướng về quá khứ tư bản và tân thuộc địa đã bị cách mạng đập tan. Đây là vấn đề kế hoạch hóa chứ không phải là kinh tế thị trường, tạo nên đặc thù cho nền kinh tế chúng ta, và như Lineamentos đã nói rõ tại điểm thứ ba của phần khái quát – việc tích tụ tư bản bị cấm đoán”.
Xảo ngôn
Một biện pháp khác đương nhiên làm cho cả La Habana bàn tán xôn xao, đó là các vụ sa thải. Cho đến cuối năm 2011, chính quyền phải nói lời từ biệt với 500.000 công chức, và con số này sẽ lên đến 1,3 triệu  người trong vòng ba năm. Thông tin trên đây đã làm tôi khiếp hãi khi đọc được ở New York, nhưng tại Cuba, có hai điều làm cho tôi đặc biệt chú ý.
 
Doanh nghiệp tư nhân” Raul Perez Sanchez, lương hưu 8 đô la/tháng, bán đậu phộng rang.
Trước hết, không có ai trong số các bạn bè đông đảo của tôi làm việc cho nhà nước cả, từ bạn học cũ cho đến những người gặp gỡ trên đường phố mà tôi đã tranh luận. Tôi còn gặp một nữ bác sĩ đã bỏ việc để khỏi phải làm nghĩa vụ với nhà nước và có thể đi nước khác sinh sống khi nào có thể đi được (các bác sĩ buộc phải làm việc thêm 5 năm nếu muốn đi định cư).
Một điều nữa là tôi cảm thấy người dân không quá lo ngại. Phải chăng đó là do lương bổng nhà nước hầu như chỉ là tượng trưng, nên việc bị sa thải không còn mấy ý nghĩa. Số tiền lương chết đói từ nhà nước, trung bình là 15 đô la một tháng, hầu như không tạo ra được sức mua nào.
Trong một nền kinh tế mà phí điện thoại di động có thể lên đến 40 đô la một tháng – có 1 triệu chiếc điện thoại di động tại Cuba – thì đương nhiên tiền bạc không đến từ Nhà nước. Một người bạn mà tôi không nêu tên ở đây nói rằng, anh coi việc sa thải “như là một sự giải thoát”, thậm chí như “một cơ hội đối với nhiều người Cuba. Chủ yếu là Nhà nước thực sự để yên cho chúng tôi được kiếm sống mà không chõ mũi vào”. Rời khỏi khu vực nhà nước khá là phiêu lưu, nhưng lại được tự do hơn rất nhiều.
Ở đây cần phải nói một cách chính xác hơn. Phải hiểu được ý nghĩa thật sự phía sau tất cả những gì nghe được hay đọc được, tại một đất nước như Cuba: một “người thất nghiệp”thực ra không thất nghiệp, một “cuộc biểu tình” không phải là biểu tình mà là một hoạt động được chính quyền tổ chức. Vân vân. Danh sách còn dài. Chủ nghĩa toàn trị, như Victor Klemperer (nhà ngôn ngữ học Đức chuyên về “ngôn ngữ quốc xã”) đã giải thích rất rõ, bắt đầu trước hết với một sự đảo lộn về ngôn ngữ so với thực tế.
Một sự xảo ngôn mà các blogger và báo chí độc lập chiến đấu chống lại. Tôi theo dõi kỹ càng các blog viết từ Cuba, đặc biệt là blog của Yoani Sánchez (desdecuba.com/generaciony), người từng là khôi nguyên của nhiều giải thưởng, đã diễn dịch thảm họa Cuba với những từ ngữ dễ hiểu. Thực sự làcuentapropista về thông tin, Yoani biết kể lại một cách trung thực cuộc sống thường nhật của người dân Cuba. Theo thói quen, người ta lên án ông là làm việc cho CIA, nhưng đó là những lời kết tội không còn có ai tin nữa. Nhiều người đã hiểu rằng, bày tỏ sự bất đồng chính kiến không có nghĩa là làm việc cho một cường quốc nước ngoài.
Tuy nhiên tác động của các blog vẫn còn hạn chế. Tại Cuba, chỉ có 1,5 triệu người (tức gần 14% dân số) có thể truy cập internet, và giá thuê bao thì khủng khiếp đối với những người không có phương tiện vào mạng từ nơi làm việc. Ngoài ra tốc độ truy cập cũng vô cùng chậm – tôi đã phải trả giá mới nhận ra được điều đó, khi muốn đọc mail tại phòng báo chí Hotel Nacional. Thay vì truy cập trong công trình kiến trúc tuyệt vời của thời đại vàng Cuba này, tốt nhất là đi ra ngoài vườn để chiêm ngưỡng những chú công và nghe các nhạc công chơi những giai điệu cũ rích của Buena Vista Social Club.
Tại đây tôi có hẹn với Orlando Pardo Lazo, 39 tuổi, bạn của Yoani và cũng là một blogger – các bức ảnh của anh được dùng để minh họa cho bài phóng sự. Nhà cựu khoa học này đã làm việc nhiều năm tại cơ quan nghiên cứu khoa học của La Habana, về tái phối hợp các AND “để chế tạo vắc-xin”. Anh cũng nói với tôi về những người “Phụ nữ Áo trắng”, vợ của một số trong 75 nhà đối lập bị bắt giam trong “Mùa xuân đen” năm 2003.
Theo Orlando, quan trọng nhất là những người phụ nữ đã phản kháng bằng cách biểu tình trên các đường phố La Habana trong trang phục màu trắng, giơ cao những cành hoa lay-ơn, đã không bị người dân đả kích mà thậm chí còn bắt đầu nhìn họ bằng cặp mắt đầy cảm tình. Số phận dành cho người tù chính trị Orlando Zapata Tamayo, qua đời ở La Habana tháng 2/2010 sau thời gian dài tuyệt thực, đã gây nên một làn sóng phẫn nộ trên báo chí thế giới và có thể là chất xúc tác ở trong nước.
Đối lập đang chờ thời
Hành động của các “Phụ nữ Áo trắng” và cuộc tuyệt thực của Guillermo Farinas, sau này được tặng giải Sakharov, đã đóng góp vào sự kiện các tù chính trị Cuba được trả tự do. Đồng thời cũng tạo điều kiện cho công cuộc hòa giải của Giáo hội công giáo, và nhân vật được biết nhiều nhất tại Cuba của Giáo hội là Đức Hồng y Ortega. Hơn năm mươi nhà đối lập trong số các tù chính trị được nhà nước nhìn nhận, đã được gởi sang Tây Ban Nha. Tuy vậy hiện nhà đối lập nổi tiếng nhất là Oscar Biscet, một bác sĩ 50 tuổi, vẫn còn ở trong tù (thực ra ông được thả ngày 11/03/2011). Biscet cũng bị bắt năm 2003, là người sáng lập Quỹ Lawton vì nhân quyền, nhà đấu tranh chống phá thai và có lẽ là nhà ly khai uyên bác nhất nước.
Orlando Luis Pardo Lazo nói với tôi: “Hiện nay chúng tôi đang trong một tình trạng gần như là hưu chiến. Đó là điều quan trọng nhất. Cả hai phe đang chờ đợi”.
Nếu bóng tối làm nản lòng, nó lại che khuất một hiện tượng mà vào ban ngày có thể đập ngay vào mắt: sự đổ nát của thành phố. Bên ngoài khu phố cổ được tân tạo (ở trung tâm thủ đô), nay có vẻ như một thành phố Disney có các bảo tàng và nhà hàng bán tư nhân, sự điêu tàn của La Habana có thể trông thấy một cách hiển nhiên.
 
Một căn nhà ở La Habana.
Trên các tòa nhà nhô ra những phần phụ được xây dựng một cách thô thiển, và hằng hà sa số những công trình che chắn mà tôi chưa từng thấy: không chỉ các cửa số và ban-công đều được gắn các chấn song sắt, mà cả các cầu thang và cửa chính. Tôi không thể không nghĩ đến một hiện tượng khác của sự thụt lùi của Nhà nước trên toàn quốc: nơi nào mà vỏ bọc ổn định co lại, thì nơi đó các lực lượng tiêu cực, bọn tội phạm được tự do hoành hành.
Thực tế là La Habana đầy dẫy những tin đồn về các vụ hành hung và cướp giựt. Một trong số các vụ này làm tôi đặc biệt chú ý. Mẹ vợ tôi kể lại vụ một nhóm người vũ trang tấn công một chiếc xe buýt và cướp toàn bộ tài sản của các hành khách. Hết sức sợ hãi, bà nói thêm: “Y như ở Mêhicô”. Tin đồn lan truyền mạnh mẽ cho đến nỗi bản tin thời sự của đài truyền hình nhà nước hai ngày sau phải đính chính.
 
Xe hơi cũ tư nhân dùng làm taxi ở Cuba.
Tuy vậy La Habana vẫn còn an ninh hơn nhiều thành phố mà tôi đã sống qua, hơn nữa lại còn có một ưu thế không thể chối cãi, đó là biển. Tôi lang thang thật lâu trên con đường Malecón nổi tiếng dọc theo bãi biển, trước khi bước lên một chiếc Oldsmobile đời 1956, tuy cổ lỗ sỉ, nhưng là phương tiện di chuyển độc đáo của người dân La Habana.
Ở đây giao thông luôn là vấn đề: tôi trông thấy những đám đông chờ đợi ở các trạm dừng, cho dù đã có những chiếc xe buýt mới được đưa vào lưu thông, nhập khẩu từ Trung Quốc và có cả máy lạnh – một phép lạ! Tôi chưa bao giờ tin được là lại có được tiến bộ như thế lúc tôi còn sống, trong một đất nước nóng như thiêu như đốt. Trên thực tế, đó là những chiếc xe H (xe cá nhân được cấp giấy phép chạy taxi tập thể), giúp cải thiện đáng kể phương tiện giao thông, làm giảm đi áp lực cho hệ thống nhà nước, với số tiền khiêm tốn là 10 đồng peso nội địa (tương đương 30 xu euro).
 
Một chiếc xe tải nhẹ được dùng làm xe khách…
Bên cạnh tôi, ngồi phía sau chiếc Oldsmobile, hai cô gái có lẽ là khách du lịch trò chuyện với nhau bằng tiếng quan thoại. Sự hiện diện của du khách rất rõ nét ở La Habana. Theo báoJuventud Rebelde, từ tháng Giêng đến tháng Mười năm 2010, Cuba đón tiếp khoảng 2 triệu khách– một kỷ lục lịch sử.
 
…Và bên trong chiếc xe khách này, giờ cao điểm.
Nhưng thực ra, những người bạn đồng hành của tôi là các sinh viên Trung Quốc, đến đây học tiếng Tây Ban Nha tại một trường đại học nằm ở ngoại ô La Habana, tại Tarará. Một ngạc nhiên: tôi đã quên rằng Cuba còn là đất nước để du học. Cho dù cuộc khủng hoảng dữ dội đang diễn ra trên đất nước, có trên 30.000 sinh viên ngoại quốc đang học tập tại đây, trong đó có khoảng một trăm thanh niên Mỹ đang học y khoa ở Escuela Latinoamericana de Medicina. Tuy vậy Cuba cũng đang thiếu giảng viên, và việc giáo dục không còn giống như thời tôi còn trẻ (hơn phân nửa số bài giảng nay có thể tham khảo dưới dạng video.
Vừa nuối tiếc quá khứ, vừa muốn tìm tài liệu cho cuốn sách đang viết, tôi đã đến ngôi trường mà tôi đã mài đũng quần trong thập niên 70 xa xưa – trường Escuela Vocacional Lenin. Ngôi trường được xây dựng giữa những vòm cây xanh nhiệt đới um tùm, theo khuôn mẫu xô-viết cái gì cũng vĩ đại, có thể đón nhận 4.000 học sinh. Ngày nay trường chỉ còn là cái bóng của thời xưa cũ, khi được ông Leonid Brejnev khánh thành vào năm 1974. Vào thời đó, việc giảng dạy có chất lượng rất cao – tất nhiên là không thể thiếu hàng trăm liều tuyên truyền ý thức hệ – và trong các điều kiện mà, ngày nay khi tôi đến thăm khu nhà trọ và nhà ăn tập thể, thì tôi lại cảm thấy hồi đó thật là phong lưu.
(Còn tiếp một kỳ)

Mời đọc lại:
Phần nhận xét hiển thị trên trang