Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2015

Cái Bóng

TranhDinhCuong-bong
Tranh Đinh Cường
"Chúng tôi nói về những va chạm không dấu vết, nói về nỗi nhớ nhung không hình hài, nói về những cách xa tính bằng khoảng cách của tia nắng mặt trời, có những ngày biền biệt xa cách chỉ vì một đám mây..."
 
 
Khi đứng một mình trong mù sương, không có một bàn tay, một bờ vai, một tiếng nói bên cạnh để khẳng định phương hướng, hay ngay cả mùi hương hoa cỏ mục để biết tọa độ của không gian và thế giới nơi mình đang đứng, người ta luôn có đôi chút phân vân:
- Có những con đường không, bên ngoài mù sương?
Bên ngoài mù sương là gì? Bên ngoài đám mây xám dày đặc hơi nước ẩm mịn này là gì? Là bầu trời trong sáng cao vòi vọi thăm thẳm trên cao? Hay bên ngoài mù sương là hàng cây níu tán lá vào nhau, và những con đường cỏ xanh mượt quấn quít? Hay bên ngoài mù sương chỉ là mù sương?
Muốn biết điều đó, chỉ có thể bước đi ra bên ngoài mù sương!
Điều đó có dễ dàng đâu, vì tôi chỉ là cái bóng!
 
Tôi biết mình là cái bóng chỉ từ khi tôi biết yêu một người. Yêu một ai đó khác, ngoài thân hình tôi đang tạm gửi. Chưa bao giờ tôi ý thức mình là cái bóng đến thế khi tôi biết yêu.
Cái bóng cũng biết yêu sao? có lẽ ai đó sẽ cười! Khi đêm về, những cái bóng được tự do, chúng tôi tụ tập lại với nhau trong góc tối nhất của căn nhà, trên tầng áp mái, nơi bước chân thậm thụt của con người không rón rén xâm nhập, chỉ có mùi gỗ mục, mùi trứng nhện đong đưa đang thềm thỉ nứt ra bằng những bước đạp háo hức, run rẩy, vài con chuột chạy vội vã như sợ ai cướp mất màn đêm che dấu thân phận, và ngoài tiếng gió rít qua những cột kèo rui mè rên rỉ già nua vì mối mọt, là tiếng cười khúc khích của những cái bóng-tự do.
Khi đó nếu không rúc rích nói xấu những thân hình mà chúng tôi gửi tạm, thì chúng tôi nói về tình yêu.
Ồ, cái bóng yêu lẫn nhau là chuyện rất thường. Chúng tôi nói về những va chạm không dấu vết, nói về nỗi nhớ nhung không hình hài, nói về những cách xa tính bằng khoảng cách của tia nắng mặt trời, có những ngày biền biệt xa cách chỉ vì 1 đám mây, có những ngày bóng chạm được vào nhau, quấn quít vào nhau suốt buổi chiều khi mặt trời đổ dài sát đường chân trời cháy rực một hồi quang vàng úa. Lúc đó những chiếc bóng yêu nhau vội vã tìm đến nhau, chạm vào nhau, quấn vào nhau lưu luyến không muốn rời xa.
Tình yêu của cái bóng, mãnh liệt, da diết hơn con người vừa vì mong manh của thân phận tầm gửi, vừa vì phù du của kiếp sống lệ thuộc và trên hết là bản chất trong trẻo, phiêu linh của thực thể cái bóng, không bị trì níu bởi bất kỳ nhục cảm, ham muốn xa lạ nào ngoài cảm xúc một thể duy nhất của tình yêu.
 
Ồ, điều đó con người chẳng tài nào hiểu nổi đâu, bằng những phức cảm và và tham lam ham muốn trong vạn triệu tế bào vật chất cấu thành nên con người, làm sao con người hiểu được thế nào là "cảm xúc một thể duy nhất của cái bóng"?
Vì thế nên thường thì những cái bóng chỉ yêu nhau, dặn dò nhau lánh xa thế giới ô nhiễm và tạp nham của con người. Chúng tôi tự hào vì chúng tôi sở hữu cảm xúc một thể duy nhất, và vì chúng tôi yêu như chỉ có một thể duy nhất tồn tại trong mắt nhau, trong tâm trí nhau.
Nhưng đó là tình yêu của cái bóng khác, không phải của tôi, vì Tôi trót yêu 1 con người!
 
Điều này nếu hé lộ ra và lan truyền trong thế giới cái bóng, sẽ nổ bùng và gây giận dữ, phẫn nộ chẳng khác gì quả bom nguyên tử thả xuống Hiroshima năm 1945. Vào tháng 9 năm đó, không một cái bóng nào bị tổn thất, nhưng chúng tôi đi vật vờ lang thang trên những thê lương hoang tàn và nhìn những thân hình quặt quẹo là phế tích của chiến tranh bằng tâm cảm bàng hoàng, ngây dại. Ai nói những cái bóng không biết căm ghét chiến tranh?
 
Là tôi biết tôi đang yêu một con người! Vì điều bí mật kinh khủng này mà tôi lặng lẽ khép kín trong thế giới cái bóng. Tôi vô tình mà trở thành huyền thoại miễn cưỡng của 1 cái-bóng-không-biết-yêu.
Trong khi tình yêu của tôi ngày càng lớn lên, phát triển và trào sôi ra bên ngoài thân phận nhỏ bé, mỏng mảnh, xiêu vẹo của cái bóng. Tình yêu của tôi dành cho anh ấy, đã vượt ra ngoài thân phận của cái bóng. Đến thúc giục tôi khao khát trở thành con người, cái hình hài con người, thực thể xâm lấn, phức thể và tràn đầy ham muốn, tham lam, cằn cỗi, hủy hoại mà chúng tôi coi thường?
 
Sao lại không nhỉ? Tôi đã không ngừng mơ ước gói trọn tình yêu trong trẻo, một thể duy nhất, tràn đầy ăm ắp vào trong cơ thể giới hạn bởi chính cấu tạo phức tạp từ vật chất của con người. Kết hợp tình yêu và tinh thần trong trẻo của cái bóng vào thân thể hữu cơ của con người, là điều hoàn hảo nhất vũ trụ, Thượng đế đã từng nghĩ đến sáng tạo đó hay không?
 
Tôi muốn thay đổi câu triết ngôn tôi đã đọc lén được của con người : "Tôi suy tư và tôi tồn tại". Không, Tôi khao khát "tôi yêu anh ấy và tôi tồn tại"... Tôi tồn tại mãi mãi trong tình yêu!
 
Tôi nghĩ về điều này miên man, vào ban ngày, khi tôi đưa bàn tay dài hơn khoảng cách 2 cánh tay, vươn dài bởi khao khát và nhớ nhung về phía anh ấy. Anh ấy không thể nào hiểu được, 1 cái bóng khi yêu và thèm khát âu yếm, có khả năng yêu đương vô tận gấp trăm lần con người. Vì không bị giới hạn bởi thân hình hữu hạn, mà chúng tôi biến hóa cảm xúc thành vô vàn biểu tượng nồng nàn khi yêu.
 
Là tôi có thể ôm anh ấy trong vòng ôm miên man, bất tận của hơn trăm vòng tay ôm ấp, và âu yếm xoa dịu dàng trên mái tóc màu nâu sáng kia hơn bất cứ ngọn gió từ đồng bằng, lang thang mơn man qua nhiều cánh đồng vô tận.
 
Là tôi có thể hôn anh ấy không ngừng và không biết mệt mỏi, quên đi khái niệm ràng buộc của không gian, của thời gian, hay thế giới 4 chiều và 3 chiều. Tình yêu say đắm, đến một cường độ nào đó, có thể làm linh hồn người ta nhẹ bổng và hòa quyện thành một thể với người mình yêu.
 
Không phải điều đó là điều các nhà văn vẫn khao khát mơ về và viết về tràn trề trong những trang tiểu thuyết diễm lệ và mở cái thắt gút bí hiểm đó bằng cái chết của những cặp tình nhân: Romeo và Juliet hay Tristan và Yvon... vì chỉ có cái chết mới đánh dấu vĩnh viễn tính bất diệt của tình yêu?
 
Cái bóng không cần đến điều huyễn hoặc đó, chúng tôi trường tồn vĩnh viễn, nên tình yêu của chúng tôi cũng vĩnh viễn không chết đi, hay phai nhạt đi. Người ta hẳn phải hoảng hốt khi chân lý mà con người khao khát lại nằm trong những chiếc bóng muôn đời lệ thuộc thân phận?
 
Buổi sáng tôi yêu anh ấy khi nằm dưới chân của anh ấy. Người đàn bà không thể biết cảm giác được nằm dưới chân người mình yêu là thế nào, là ôm vào mình cả thế giới bình an, lặng lẻ mà mênh mông vô cùng bao bọc bằng hơi thở thân thuộc của người mình mê đắm.
 
Và tôi nằm dưới chân anh ấy, trong khi tim tôi ôm chầm anh ấy, bằng muôn ngàn vuốt ve âu yếm. Ôi, chúng tôi đã xa nhau cả một đêm, khi anh ấy ngủ say dưới ánh đèn xanh nhạt, tôi đang thao thức trên tầng áp mái và mơ về buổi sáng có anh ấy.
 
Tôi nghe anh ấy nói, ngắm anh ấy cười, cả khi anh ấy nói cười với người khác, cắp mắt nheo lại che giấu tia tinh nghịch thoáng qua trên bề mặt lạnh lẽo, và môi cười bao dung độ lượng, vầng trán trầm tĩnh mở ra 1 khoảng trời sâu rộng của trí tuệ nằm chôn giấu bên trong bộ não thông minh khác người. Những cuộc du hành bí mật của tôi vào bộ óc bí ẩn của anh ấy làm tôi sững người, ngoài những đam mê thầm kín bỏng rực là những liên kết liên tưởng lạ lùng và nhanh như ánh chớp rạch ngang bầu trời.
 
Tôi đem lòng yêu 1 con người khác lạ với con người. Chỉ có thể sánh ngang với cái bóng!
 
Buổi trưa , tôi không tan mất đi, khi mặt trời sôi sục sức nóng ngay trên đỉnh đầu, tôi lặng lẽ vùi vào người anh ấy. Hầm hập trong hơi thở của anh ấy, quấn quít trong hình hài của anh ấy. Tôi thì thầm vào tai anh ấy vài lời âu yếm. Đôi khi lặng người khi anh ấy thoáng cười: có phải anh ấy đã hiểu những lời say đắm của tôi?
 
Và khi anh ấy nghỉ ngơi, tôi bạo gan chui vào lòng của anh ấy, ngửa khuôn mặt của tôi về hướng anh ấy như một bông hoa cúc trắng ngước lên đăm đắm về hướng mặt trời. Tôi bạo dạn lướt 5 đầu ngón lên môi anh ấy, len vào giữa môi anh ấy cùng bao nhiêu mật ngọt khao khát tuôn trào lên trong tôi.
 
Và đôi khi rờn rợn khi anh ấy khép chặt môi, cắn khẽ tay tôi giữa hàm răng, cảm giác mơn man, vừa ngọt ngào vừa đau đớn chạy khắp thân hình của tôi. Nhất định anh ấy cảm nhận được có tôi bên trong anh ấy!
 
Khi đang yêu người ta có những đam mê và ham muốn đến rồ dại.
 
Rồ dại nhất là khi tôi len vào hai hàng nút áo chemise, đặt mái đầu nhẹ bỗng của tôi lên ngực anh ấy. Nghe nhịp tim đập rầm rập của anh ấy truyền qua thân thể tôi những rung động lạ kỳ, dường như tôi cũng dần thành hình một nhịp tim riêng biệt, nhưng biết cùng hòa một nhịp với chuyển động của người tôi đang yêu. Và trong cơn run rẩy không thể kiềm chế, như bị cuốn đi theo rộn ràng giữa 2 nhịp tim, tay tôi mơn man chạy khắp người anh ấy, say sưa khi cảm nhận cơ thể của anh ấy dần đáp ứng lại, co duỗi mềm mại, khoan khoái dưới bàn tay mê mẩn của tôi.
 
Hay chỉ là trí tưởng tượng chi phối bởi khao khát quá mãnh liệt của riêng tôi?
 
Nếu anh ấy nghe được lời của tôi, lúc này đang rì rào luồn vào trong hơi thở càng lúc càng rộn ràng dồn dập của anh ấy:
 
- Là em đây, xin anh đừng sợ, vì em hiện hữu và em yêu anh. Và tình yêu có thể mang em đi bất cứ nơi đâu, tồn tại bất cứ trong hình dạng nào, chỉ cần tình yêu tồn tại. Anh hãy nhắm mắt cảm nhận em. Em và tình yêu của em. Và nỗi nhớ triền miên của em. Và khát khao thiếu thốn không bao giờ được đáp trả của em....
 
Tôi biết anh ấy nghe được lời của tôi, người đàn ông ấy có sức thẩm thấu và thấu hiểu trí tuệ, suy nghĩ của người khác vô cùng đặc biệt. Sao anh ấy không thể nghe được trong hơi thở rì rào của vạn vật một thông điệp tình yêu trĩu nặng dù trong veo đến mức ấy?
 
Tôi chăm chăm nhìn vào khuôn mặt của anh ấy, nụ cười mơ hồ giữa hai hơi thở, cặp mày giãn nở thư thái và vầng trán bình thản ung dung, làn môi hé mở đa tình. Và bất ngờ tôi nghe tiếng anh ấy, nhẹ như chính hơi thở vô hình của tôi:
 
- Em, em ở đây với tôi. Tôi biết em đang ở bên cạnh tôi.
 
Ngay giây phút ấy, tôi rùng mình, bắt gặp bản thân của mình trong veo dưới ánh mặt trời, trở nên hồng hào, phập phồng trong vòng tay ôm xiết của anh ấy.
 
Và đám mây mù sương tan đi, tôi đã bước qua bên kia sương mù ấy, là nóng rực một mặt trời, và tôi tan chảy.
 
Bắt đầu từ đôi môi.
Từ đôi môi nghiến ngấu của người đàn ông ôm tôi trong vòng tay.
 
Giữa lưng chừng không trung, có vô vàn nắng rực sáng.
(rồi tôi sẽ còn viết tiếp về chuyện Người đàn ông yêu cái bóng của mình. Khi tôi còn yêu và còn hy vọng, tôi sẽ còn ham muốn viết! Chỉ khi nào tôi im lặng, hoặc là tôi đã chết đi, hoặc là tình yêu đã chết đi trong tôi- cả hai khả năng có thể chỉ là một- hoặc tôi không là cái bóng nữa, mà trở thành một con người, với tình yêu hời hợt, xanh nhợt không có mạch máu kiểu- con- người. Khi ấy Tôi sẽ ngừng viết!)
 
UYÊN LÊ


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vết Chân Dã Tràng Của Người Viết Tùy Bút


  • BanMai2015
Nhà văn Ban Mai
 

Trần Vũ: Tập khảo luận Trịnh Công Sơn, Vết Chân Dã Tràng trước khi được Nxb Văn Mới tái bản tại Hoa Kỳ năm 2011, đã được in trong nước và từng bị “đình chỉ giấy phép phát hành”. Chuyện gì đã xảy ra? Có phải vì Ban Mai đã viết về nội chiến trong Ca khúc Da vàng?
Ban Mai: Tập biên khảo Trịnh Công Sơn, Vết Chân Dã Tràng được NxB Lao Động in năm 2008. Năm 2009 Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Định ra quyết định đình chỉ phát hành tác phẩm trên địa bàn tỉnh, với lý do: “có nội dung phản ánh không khách quan, xuyên tạc sự thật lịch sử chiến tranh Việt Nam, xúc phạm những trí thức, nhạc sĩ khác…”
Tập sách này là sự tu chỉnh, bổ sung từ luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam, mà tôi đã bảo vệ năm 2006. Sau khi bảo vệ đề tài với số điểm tối đa, Hội đồng bảo vệ luận văn gợi ý tôi nên viết lại thành sách để công bố. Đến tháng 10/2008 tập sách mới hoàn thành và đến tay bạn đọc. Sau khi xuất bản tôi nhận được nhiều lời khích lệ của giới chuyên môn. Tháng 11/2008, đã có buổi giới thiệu tập sách tại Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông–Tây ở Hà Nội; và được nhiều báo chí trong nước đưa tin. 
Khoảng cuối tháng 3/2009, có một bài viết của ông Nguyễn Hoàn gửi trang web “Bàn tròn Văn nghệ của Hội Nhà văn”, bài viết tập trung phê phán chương IV, phần “Trịnh Công sơn và Chiến tranh Việt Nam”. Cuối bài, người đọc đề nghị Cục Xuất bản thu hồi sách, nếu tôi không viết lại theo đúng quan điểm mà ông ta đưa ra. Tháng 4/2009 Nguyễn Hoàn đăng lại bài này trên Tạp chí Sông Hương, sau đó ngày 8 tháng 5-2009, ông ấy lại tiếp tục đăng trên báo Nhân Dân và Tạp chí Ban Tuyên giáo. 
Đúng như anh nói, phần ca từ phản chiến mà tôi trích từ tập nhạc “Ca khúc Da vàng” của Trịnh Công Sơn để phân tích chiến tranh Việt Nam bị người đọc này lên án, khi tôi cho rằng đây là một cuộc chiến tranh nội chiến. Trong đó có những câu nhận định như: “Cho đến ngày nay, quan điểm về tên gọi cuộc chiến vẫn là điều tranh cãi”, ”Cái bi thảm nhất là ở chỗ: cùng là người Việt Nam, nhưng người Việt lại bắn giết người Việt”… Với quan điểm này tôi bị chỉ trích, cho là “xuyên tạc” và “phi lịch sử”. Trên báo Nhân Dân ông ấy còn cho rằng cuốn sách “phỉ báng xương máu của bao thế hệ cha anh đã ngã xuống tô thắm nền hòa bình của đất Việt.”
Có lẽ chính vì dư luận của những bài báo đăng trên An ninh Thế giới, Nhân dân, Ban Tuyên giáo của bạn đọc này... nên UBND Tỉnh Bình Định ra quyết định đình chỉ phát hành sách trên địa bàn Bình Định. Tuy nhiên, sau đó Nxb Lao Động và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông-Tây ở Hà Nội đòi kiện UBND Tỉnh Bình Định vì đã ra quyết định không đúng chức năng, kiểu “Phép vua thua lệ làng” và các báo chí trong nước, ngoài nước, lên tiếng nên mọi việc cuối cùng im lặng, sách vẫn phát hành bình thường trên toàn quốc.
 
Trần Vũ: Chức năng đầu tiên của một người viết, là ghi lại những suy nghĩ trung thực của mình. Ban Mai có tin như nhiều nhà văn quan niệm: vì thể hiện trong tiếng Việt, văn chương Việt Nam không thể tách rời khỏi định mệnh dân tộc?
Ban Mai: Tôi nhớ có lần đọc ở đâu đó, hình như Buznik, thi sĩ Nga, ông đề cập đến việc một nhà thơ khi sáng tác không thể tách rời ngôn ngữ mẹ đẻ. “Thi nhân thuộc về thứ tiếng nào thì nên dùng và cũng chỉ có thể dùng ngôn ngữ ấy để sáng tác”, ông dẫn chứng Puskin từng dùng tiếng Pháp để làm thơ và thất bại. Buznik nói, sau khi Liên Xô giải thể, rất nhiều nhà văn Nga ra nước ngoài, nhưng sau đó hầu hết đã trở về dù phần lớn đã có quốc tịch nước ngoài. “Tôi nghĩ đó là vì một nhà văn không thể xa rời môi trường ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, Puskin không thể sáng tác lâu dài trong môi trường ngôn ngữ khác, cũng không thể tìm được những cảm hứng sáng tạo”. 
Trước ngày 30/4/1975 Trịnh Công Sơn được các hãng thông tấn quốc tế mời ra nước ngoài, ông trả lời: “Việt Nam là nơi duy nhất tôi có thể sống và sáng tác. Ở nước ngoài, tôi không nghe ra tiếng nhạc trong đầu mình, tôi không nghe được câu thơ tôi viết ra. Tôi thích đi nước ngoài, nhưng nếu ở lâu, tôi sẽ khô cạn và chết mất. Hơi ấm của dân tộc Việt Nam giống như nước cần thiết cho hoa vậy.”
Tôi dẫn chứng hai trường hợp trên để nói đến môi trường sống và ngôn ngữ mẹ ảnh hưởng lớn như thế nào đối với người sáng tác. 
Tuy nhiên, trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, tôi không nghĩ vậy.
Người viết dù có ở nước ngoài, viết trong ngôn ngữ ngoại lai họ vẫn thành công, nếu họ hội nhập tốt. Đơn cử như nhà văn Linda Lê, sinh năm 1963 ở Đà Lạt, năm 1977 cô cùng mẹ sang Pháp, cha cô ở lại Việt Nam. Tác phẩm của cô viết bằng tiếng Pháp và đạt nhiều giải thưởng, được dịch sang tiếng Anh, Hòa Lan, Bồ Đào Nha và tiếng Việt.
Linda Lê từng viết: “Tôi mang đất nước tôi trong tim như một chàng trai mang chiếc bào thai đôi. Đó là sự nối kết dị thường. Nối kết với quê hương tôi… Thật ra cái tôi đang nói chính là một thứ văn chương sinh ra trong sự ám ảnh về một vết nhơ, một sự dị dạng gọi là tính nước đôi. Nhưng tính nước đôi này rồi sẽ chết và sẽ đóng vai trò của một thẩm phán lặng im.” Làm sao một chàng trai lại mang thai được? đó là một cách nói hình tượng khi cô sử dụng cùng lúc hai ngôn ngữ. Mặc dù Linda Lê cố tình chối bỏ ngôn ngữ Việt, nguồn gốc Việt nhưng trong tâm thức cô cũng không thể chối bỏ định mệnh của dân tộc mình, trong vô thức nó vẫn luôn ám ảnh cô và bàng bạc trong sáng tác của nhà văn.
Theo suy nghĩ của tôi, viết trong ngôn ngữ Việt đã hàm ngôn tính cách của một người dân Việt, dù muốn hay không muốn, trong vô thức người viết tiếng Việt đã gắn liền với định mệnh của dân tộc mà mình sinh ra, vì nó đã định hình trong ý thức.
 
Trần Vũ: Cũng có ý kiến nhấn mạnh tình trạng bất lực của đại đa số người viết trước thực tế đất nước. Quá nhiều xáo trộn xã hội, từ đời sống đến lý tưởng, niềm tin, đạo đức thay đổi mà tác phẩm của nhà văn Việt chỉ ghi lại được rất ít những biến chuyển này. Cách nhìn của Ban Mai?
Ban Mai: Người Việt ngày nay, sáng ngủ dậy mở mắt bật ti vi nghe tin tức VT1, mở một tờ báo in Thanh niên, Tuổi trẻ, xem một trang báo mạng Vietnamnet... thấy đầy rẫy những cảnh cướp, giết, hãm hiếp, lừa gạt, tham ô... đó là những tờ báo thuộc dạng nghiêm túc, không phải báo lá cải mà vẫn phổ biến những tin tức trên, điều đó cho thấy có quá nhiều xáo trộn xã hội, từ đời sống đến lý tưởng, niềm tin, đạo đức như anh nói. Đúng vậy. Tình trạng bất lực của đại đa số nhà văn trước thực tế đất nước, không dám nói lên sự thật là có thật. Tại sao như vậy? Tôi nghĩ vì hệ thống lúc này nó vậy, không cho phép phản ánh những tiêu cực mà chỉ thích tô hồng, nếu nói thật sẽ bị liệt vào sổ đen, chụp mũ là bêu riếu đất nước, là thành phần phản động bị nước ngoài giật dây, v.v.. Nhiều nhà văn “sợ hãi”, vì “miếng cơm manh áo”, đại bộ phận không dám vượt thoát những giới hạn vô hình. Vòng phấn vô hình nhưng trừng phạt lại cụ thể.
Những tác phẩm như “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư là một ngoai lệ. Đơn giản, cô kể sự thật về chuyện nghiện rượu, mãi dâm, áp bức phụ nữ, về thân phận con người bé nhỏ trên cánh đồng Dơi quanh cuộc sống của cô, chính vì khi viết cô không hề mang ý thức “giáo dục của cách mạng”, nó lại đập thẳng vào mặt chúng ta cuộc sống trần trụi của một đất nước và soi tỏ mọi vấn đề. Chính điều đó làm nên giá trị tác phẩm. Và những tác phẩm như vậy còn rất ít. Ngọc Tư ngay sau đó đã phải làm kiểm điểm.
Bên cạnh đó, không thể không nói đến dòng văn chương bên lề, tôi gọi bên lề vì các tác phẩm này tác giả tự xuất bản, không được trong nước cấp giấy phép. Phần lớn những tác phẩm này nói được phần nào những xáo trộn, biến chuyển của đất nước. Có thể thấy trong các sáng tác của Cung Tích Biền, đây là một nhà văn mạnh mẽ, không khoan nhượng, ông hiểu rỏ việc ông làm. Với Cung Tích Biền “Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không thể là một hư ảo.” và ông đã sống như vậy. Đất nước Việt Nam dưới ngòi bút ma mị của ông hiện rõ trong Dị Mộng, Qua Sông, Thằng Bắt quỷ, Ngoại ô Dĩ an và Linh hồn tôi, Đêm Hoang tưởng, Thừa Dư, Mùi của gió mùa, Một phần Khí hậu, Xứ Động vật Mưa hồng, Xứ Động vật vào ngôi, Xứ Động vật màu huyết dụ… Tuy nhiên, những nhà văn như Cung Tích Biền vẫn còn là của hiếm.
 
Trần Vũ: Sau hai thập niên Đổi Mới, với tiến trình toàn cầu hóa bên cạnh phương tiện thông tin internet, các cánh cửa thế giới gần như đồng loạt mở toang cho nhà văn Việt. Ban Mai nhìn thấy hiệu ứng nào, ảnh hưởng ra sao trên tác phẩm của các đồng nghiệp?
Ban Mai: Trong hai thập niên Đổi Mới vừa qua, ảnh hưởng Internet với nhiều luồng thông tin, quả thật đã ảnh hướng lớn đối với những người cầm bút. Lần đầu tiên các nhà văn Việt phát hiện ra những chân trời rộng mở, điều ấy giúp họ học hỏi nhiều điều hay. Những tư tưởng mới, những bút pháp mới, những phương pháp nghiên cứu mới đã góp phần ảnh hưởng trong sáng tác của người viết.
Người đọc có thể nhận ra một dòng văn học khác đã xuất hiện: “dòng văn chương vết thương”, dòng văn chương “vết rạn” ra đời; Dòng văn học ca ngợi, tô hồng đã lui vào quá khứ. Người viết ngày nay đi sâu vào từng góc đời bé nhỏ, những số phận đau đớn của con người do lịch sử gây ra. Bên cạnh đó, một bộ phận người viết “nô nức” làm một cuộc cách mạng tình dục, điều mà Tây phương đã làm từ những năm 60. Các thể loại thơ “hậu hiện đại”, “tân hình thức”, truyện ngắn “trong lòng bàn tay”, truyện chớp, dòng văn học kỳ ảo, hiện thực huyền ảo… được thử nghiệm. Trong số những nhà văn viết truyện ngắn gần đây tôi chú ý đến cây bút trẻ Uyên Lê. Tôi nghĩ nhà văn này ảnh hưởng nhiều ở lối viết mới, không khí truyện huyền ảo, ngôn ngữ tinh tế, bút pháp điêu luyện. Bước vào truyện ngắn “Cửa hàng mua bán giấc mơ”, “Sói”, “Đất, lửa, nước và gió”, “Trở lại đây yêu em”…bạn đọc ngay lập tức bị hút hồn bởi không gian bàng bạc mơ hồ, ngôn từ ma mị đầy quyến rũ. Tôi hy vọng vào những tác phẩm có độ chín sau này của cô ấy.
 
Trần Vũ: Văn chương Việt Nam đang thiếu gì?
Ban Mai: Tôi nghĩ văn chương Việt Nam đang thiếu những nhà văn tài năng. Chính tài năng quyết định tất cả. Khi có tài năng người ta mới có đủ niềm tin vào ngòi bút của mình, mới có một thái độ dũng cảm, quyết liệt để tạo ra những tác phẩm ghi dấu ấn vào lịch sử. Họ sẵn sàng chấp nhận trả giá. Tôi đang nghĩ không biết khi nào văn chương Việt Nam mới có được những tác phẩm như “Chốn xưa”, “Ngân thành cố sự” của Lý Nhuệ… hay những tác phẩm nổi tiếng khác của các nhà văn đương đại Trung Quốc như Cao Hành Kiện, Mạc Ngôn, nước có hoàn cảnh lịch sử nhiều điểm tương đồng với Việt Nam. Chúng ta, chỉ mới đắp vết thương mà chưa dám “phẫu thuật” cắt bỏ những ung nhọt sai lầm của lịch sử. Mặc dù trong nước có Nỗi buồn Chiến tranh của Bảo Ninh, hải ngoại có Mùa Biển động của Nguyễn Mộng Giác. 
Bên cạnh đó Văn chương Việt Nam còn thiếu trầm trọng đội ngũ phê bình văn học nhạy bén, thẳng thắn và chuyên nghiệp. Gần đây có những bút ký đươc nhiều người chú ý như Bên Thắng cuộc của Huy Đức, Đèn Cù của Trần Đĩnh, vì đã nói thẳng, trung thực một thời kỳ lịch sử đã qua theo cách nhìn của tác giả, nhưng những tác phẩm đó chưa là văn chương.
 
Trần Vũ: Như vậy, thế nào là một truyện ngắn hay, một thể loại mà hầu hết các nhà văn Việt đều có nhiều mươi sản phẩm?
Ban Mai: Với tôi, một truyện ngắn hay là một truyện khi đọc xong gấp sách lại, dư âm của nó vẫn còn lắng đọng. Có thể là một nỗi buồn, sự cô đơn, nỗi xót xa, hay niềm đau đớn… tất cả những cảm xúc đó chính là cái đẹp mà tác phẩm mang lại cho người đọc, hơn thế nữa, nó còn buộc ta phải nghĩ mãi về vấn đề mà nó đặt ra. Cách khác, nói như Julio Cortázar: “truyện ngắn hay, giống như một cú đấm thẳng vào mặt làm người đọc knock-out tức khắc.” Tôi nghĩ, cũng là một quan niệm độc đáo.
 
Trần Vũ: Vì sao Ban Mai chọn gửi tác phẩm của mình đến các tạp chí hải ngoại, trong lúc có đến 600 tuần san, nguyệt san, bán nguyệt san và nhật trình tại quê nhà, cùng một rừng website?
Ban Mai: Tôi tin, bất cứ một người viết ở trong nước nào cũng thích làm việc với các chủ biên tạp chí và các trang web ở hải ngoại, vì cảm giác được tôn trọng. Khi bạn gửi bài dù đăng hay không đăng, các chủ biên đều nhanh chóng phản hồi cho bạn biết. Trong khi đó, nếu bạn gửi bài cho các tập san trong nước, bạn không nhận được một tín hiệu gì cả, giống như viên sỏi rơi xuống hồ nước lặn tăm. Bạn phải đợi chờ rất lâu, sau nhiều lần bạn viết thư hỏi, bạn sẽ cảm thấy bị tổn thương. Mặc khác, bài trong nước thường bị kiểm duyệt về tư tưởng, sẽ bị cắt bỏ phần này, phần khác khi đăng, nên nội dung nhiều khi không đúng với nguyên bản. 
Mặc dù, vẫn đăng bài trên các website nhưng tôi cho rằng cầm tác phẩm của mình in trên giấy một cách trang trọng trên các tập san, vẫn làm ta hạnh phúc. Vì ta cảm giác nó hiện hữu dài lâu, công sức của ta được nhìn nhận. Trong khi đó các trang web tuy có lợi thế nhanh chóng, đọc giả phản hồi ngay, người viết có thể sửa chữa dễ dàng liên tục, cả sau khi đăng, nhưng ngược lại tác phẩm đăng trên web sẽ biến mất trên màn ảnh sau một ngày, mặc dù vẫn lưu vào hộp thư ẩn bên trong, nó làm ta hụt hẫng như đang chơi một trò chơi ảo. 
Thời gian gần đây tôi thường đăng bài trên tập san Quán Văn do nhà văn Nguyên Minh chủ biên (ông từng là chủ biên Tạp chí Ý Thức Sài gòn trước 1975). Quán Văn là một tập san tư nhân mới thành lập vài năm ở Sài Gòn, do nhà xuất bản Thanh Niên cấp giấy phép. Đây là một tập san thuần văn chương quy tụ một đội ngũ nhà văn, nhà phê bình trong và ngoài nước. Hàng tháng, ưu tiên giới thiệu những chuyên đề về các nhà văn trước 75, nhằm mục đích bảo tồn văn chương Miền Nam và hải ngoại. Chúng ta bắt gặp nhiều cây bút mới và cũ, nơi gặp gỡ của quá khứ và tương lai.
 
Trần Vũ: Có bao giờ áp lực của kiểm duyệt hay những cấm kỵ vì đạo đức hoặc thuần phong mỹ tục xuất hiện ngay trong quá trình sáng tác và chính Ban Mai tự kiểm duyệt mình?
Ban Mai: Với tôi trong khi viết, ý thức tự do vượt thoát trong sáng tạo và ý thức tự bảo vệ mình vì những cấm kỵ vô hình mà người viết trong nước bắt buộc phải nghĩ đến, luôn song hành cùng nhau. Đó là một cảm giác rất thực. Tuy nhiên, bao giờ tôi cũng luôn cố gắng vượt thoát sự tự kiểm duyệt để đạt được tự do trong suy nghĩ của mình một cách trung thực nhất.
 
Trần Vũ: Ngoài phê bình, điểm sách và biên khảo, Ban Mai còn xuất hiện qua thể tùy bút. Chừng như đây là thể loại tâm đắc và là chỗ trú ẩn riêng. Ban Mai thường xuyên tìm về quá khứ tuổi thơ trước 30 tháng 4, một góc sân trường, một bầu trời niên thiếu, một hiệu sách cũ và cả 700 cây số Quốc lộ 1 khi cùng gia đình di tản từ Quy Nhơn vào Sàigòn vẫn hoài ám ảnh... Dùng chữ ám ảnh, vì Ban Mai không ngừng nhắc lại quá khứ, từ những người bạn thân của cha đi tù vì làm thơ phản cách mạng đến các số báo Văn đã ngã vàng rồi những người lính Cộng hòa tiếp tục sống trong trí nhớ... Ám ảnh, nhưng Ban Mai lại dụng văn tùy bút thật nhẹ nhàng gần như sự hô hấp của một mặt biển thầm lặng. Có phải vì quá khứ dịu êm và mù mờ như sương, hay vì quá khứ chứa nỗi đau nên cần viết thật nhẹ nhàng để nỗi đau không bật máu?
Ban Mai: Câu hỏi thú vị của anh cũng là câu trả lời của tôi rồi, đúng vậy nhiều người bạn đều nói tôi luôn hoài niệm về quá khứ, có lẽ điều đó giúp tôi “sâu lắng” trở lại để tận hưởng những thi vị của thời thơ trẻ mà giờ đây tôi không còn nữa, hạnh phúc gia đình trong ngôi nhà thân yêu mà mình đã sống, cảm nhận những vị đắng, xót xa, ai oán của một thời đã qua để hiểu thêm giá trị của đời sống, cảm thông số phận nghiệt ngã của con người trong cuộc bể dâu. Lịch sử Việt Nam hiện đại là lịch sử của những cuộc chiến, chiến tranh đã cướp đi cuộc sống bao triệu chàng trai trẻ nước Việt khi tuổi đời của họ chỉ mới 17, 18. Không ai có quyền cướp đi mạng sống của ai kể cả nhân danh những lý tưởng cao cả. Mà chắc gì đã cao cả! Tôi mong rằng thế hệ trẻ ngày nay hiểu được sự thật quá khứ, để biết trân trọng và nâng niu cuộc sống này, họ có quyền sống một cuộc đời tốt đẹp như cuộc sống của những con người ở các đất nước tiên tiến khác. Ngày nay, trong thời đại kỹ thuật số, thế giới đã thu hẹp trên những bàn phím, thế hệ trẻ Việt Nam có điều kiện nhìn ra thế giới và tôi tin nỗi đau của quá khứ sẽ không còn bật máu nữa mà sẽ nhường cho sự hòa hợp, tình yêu thương giữa con người với con người.
 
Trần Vũ thực hiện qua điện thư 
Plano, 17 tháng 11-2014
--------------------
* Tốt nghiệp Thạc sĩ Khoa học Xã hội Nhân văn, Ban Mai là bút hiệu của Nguyễn Thị Thanh Thúy, hiện cô làm việc tại Trường Đại học Quy Nhơn. Được biết đến sau khảo luận Trịnh Công Sơn, Vết Chân Dã Tràng, Ban Mai còn là người viết tùy bút với giọng văn nhẹ nhàng thiên về cảm xúc và hoài niệm.
 
 
 
 
 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

THẾ GIỚI VÀO NĂM 2030


Bài dịch của Mai Hướng Dương

Bài viết của Joseph S. Nye, cha đẻ của lý thuyết quyền lực mềm.

Bài viết gốc: The World in 2030

Cambridge – Thế giới sẽ như thế nào trong hai thập kỉ nữa tính từ bây giờ? Chắc chắn rằng, không một ai biết, nhưng môt vài điều có thể sẽ xảy ra hơn những vấn đề khác. Các công ty và các chính phủ cần phải dự đoán thông tin, bởi vì có thể một vài dự án kinh doanh của họ có thể tồn tại tới 20 năm. Vào tháng 12, Hội đồng Tình báo Quốc gia Mỹ (NIC) đã xuất bản dự đoán của họ: Xu Hướng Toàn Cầu 2030: Những Thế giới Thay Thế.

Hội đồng Tình báo Quốc gia Mỹ dự đoán về một thế giới chuyển đổi, nơi mà “không một quốc gia nào – kể cả Mỹ, Trung Quốc, hoặc các đất nước rộng lớn khác – có thể trở thành một sức mạnh bá chủ. ”Điều này phản ánh qua bốn“siêu khuynh hướng”: quyền cá nhân và sự phát triển của tầng lớp trung lưu toàn cầu; sự khuếch tán quyền lực từ các tiểu bang thành các mạng lưới và liên minh không chính thống; sự thay đổi nhân khẩu do quá trình đô thị hóa, di cư và lão hóa; và mức độ gia tăng nhu cầu về thức ăn, nước và năng lượng.

Mỗi xu hướng đang thay đổi thế giới và “đảo ngược phần lớn sự gia tăng lịch sử của phương Tây kể từ năm 1750, khôi phục lại vị thế của Châu Á trong nền kinh tế toàn cầu, và mở ra một kỉ nguyên mới của ‘dân chủ’ tại cấp quốc tế và khu vực.” Nước Mỹ sẽ vẫn là “nhất trong các nước bình đẳng” về quyền lực cứng và mềm, nhưng “ ‘khoảnh khắc bá chủ’ đã trôi qua.”

Không bao giờ an toàn, tuy nhiên, để dự trù tương lai chỉ bằng ngoại suy các khuynh hướng hiện tại. Điều bất ngờ là khó tránh khỏi, cho nên Hội đồng Tình báo Quốc gia Mỹ cũng xác định cái gọi là “sự thay đổi trò chơi”, hoặc kết quả mà nó có thể khiến những xu hướng chính trở nên lạc hướng theo những cách ngạc nhiên.

Điều đầu tiên trong những nguồn không chắc chắn là nền kinh tế toàn cầu: liệu sự biến động và mất cân bằng sẽ dẫn tới sụp đổ, hoặc liệu sự đa cực lớn hơn sẽ củng cố khả năng phục hồi lớn hơn? Tương tự như thế, liệu các chính phủ  và các tổ chức có thể thích ứng đủ nhanh để tận dụng khai thác sự thay đổi, hoặc liệu họ có bị choáng ngợp bởi vì nó?

Thêm vào đó, trong lúc xung đột giữa các tiểu bang đã giảm thì các xung đột nội bộ do dân số trẻ, chính trị nhận dạng, và tài nguyên khan hiếm sẽ tiếp tục cản một số khu vực như Trung Đông, Nam Á, và Châu Phi. Và điều đó dẫn tới một vấn đề thay đổi cuộc chơi tiềm năng: sự bất ổn khu vực vẫn tiếp tục tồn tại hoặc sự không an toàn cho nhiên liệu toàn cầu.

Khi đó sẽ có một loạt câu hỏi liên quan đến sự tác động của công nghệ mới. Liệu chúng có làm trầm trọng thêm xung đột, hay liệu chúng sẽ được phát triển và truy cập rộng rãi kịp thời để giải quyết những vấn đề bị gây ra bởi sự gia tăng dân số, sự đô thị nhanh, và sự thay đổi khí hậu?

Vấn đề cuối cùng của sự thay đổi trò chơi là nhiệm vụ tương lai của Mỹ. Theo ý kiến của NIC, tính chất nhiều mặt của sức mạnh của Mỹ cho thấy rằng ngay cả khi Trung Quốc vượt qua Mỹ về kinh tế - có lẽ sớm nhất là vào năm 2020 – Mỹ sẽ có thể vẫn tiếp tục giữ vị trí lãnh đạo toàn cầu cũng như các quyền lực khác trong năm 2030. “Sự tiềm năng cho một nước Mỹ quá căng thẳng do đối mặt với những nhu cầu tăng cao,” NIC lập luận, “ sẽ lớn hơn nhiều với nguy cơ Mỹ bị thay thế như lãnh đạo chính trị ưu việt của thế giới.”

Điều đó là tốt hay xấu cho thế giời? Theo ý kiến của NIC, “tình trạng sụp đổ hoặc rút lui đột ngột của quyền lực Mỹ sẽ có thể có kết quả sau một thời gian dài trong tình trạng vô chính phủ toàn cầu” với “không có hệ thống quốc tế ổn định và không có quyền lực hàng đầu để thay thế Mỹ.”

NIC đã thảo luận về bản nháp đầu tiên của báo cáo của mình với các tri trức và quan chức ở 20 nước, và báo cáo rằng không có cường quốc nào đang lớn mạnh trên thế giới có một cái nhìn xem xét về trực tự quốc tế theo các dòng của Đức quốc xã, Hoàng gia Nhật, và Liên Xô. Nhưng mối quan hệ giữa các quốc gia này và Mỹ vẫn rất mơ hồ. Họ nhận được lợi ích từ trật tự lãnh đạo thế giới của Mỹ, nhưng đôi khi bị chọc tức bời chủ nghĩa đơn phương và sự khinh suất của Mỹ. Một trong những điểm thu hút của một thế giới đa cực là sự thống trị của Mỹ ít đi, nhưng điều duy nhất tệ hại hơn trật tự quốc tế dưới sự ủng hộ của Mỹ là sẽ chẳng có trật tự nào hết.

Thắc mắc về vai trò của Mỹ trong việc giúp tạo ra một thế giới ôn hòa vào năm 2030 có một ý nghĩa quan trọng cho Tổng thống Barack Obama khi ông bắt đầu nhiệm kì thứ hai của mình. Thế giới đối mặt với một hệ thống mới của sự thử thách xuyên quốc gia, bao gồm cả việc thay đổi khí hậu, khủng bố xuyên quốc gia, sự bất an mạng và đại dịch. Tất cả các vấn đề này cần được hợp tác mới có thể xử lí tốt.

Chiến lược An ninh Quốc gia 2010 của Obama cho rằng Mỹ cần phải suy nghĩ về quyền lực như là tổng dương, chứ không chỉ là tổng bằng không. Nói cách khác, đôi khi có thể một lúc nào đó Trung Quốc có quyền lực hơn thì sẽ có lợi cho Mỹ (và cả thế giới). Ví dụ, Mỹ rất trông đợi Trung Quốc tăng khả năng của mình để quản lí việc thải khí nhà kính hàng đầu thế giới.

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã trích dẫn chính sách đối ngoại của chính quyền Obama như là dựa trên “quyền lực thông minh,” điều mà bao gồm cả nguồn lực cho quyền lực cứng và mềm, và bà cho rằng chúng ta không nên nói về “đa cực,” nhưng nên nói về “đa đối tác.” Thêm vào đó, NIC báo cáo cho rằng người Mỹ cần phải học làm thế nào cùng thực thi quyền lực cũng như với các quốc gia khác.

Để cho chắc chắn, về vấn đề phát sinh do quan hệ quân sự giữa các quốc gia, việc thông hiểu cách tạo đồng minh và cân bằng quyền lực vẫn giữ vai trò quan trọng. Tuy nhiên, sự thỏa thuận quân sự tốt nhất sẽ góp phần giải quyết nhanh chóng nhiều vấn đề xuyên quốc gia, điều mà gây nguy hiểm cho sự an toàn của hàng triệu ngừơi, ít nhất là nhiều như các mối đe dọa quân sự truyền thống. Sự lãnh đạo về các vấn đề như vậy sẽ đòi hỏi sự hợp tác, các tổ chức và sự tạo ra các hàng hóa mà từ đó có thể có lợi nhuận và không có cái nào có thể bị loại trừ.

Báo cáo của NIC kết luận một cách chính xác rằng không có câu trả lời nào có thể khẳng định thế giới sẽ như thế nào vào năm 2030. Việc tương lai sẽ trở nên ôn hòa hay chiến tranh là dựa vào vào các chính sách mà chúng ta áp dụng hôm nay.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

"Trung Quốc đã thay đổi Việt Nam không thay đổi mới là chuyện lạ"


Đối với người Việt và cả người TQ, những năm chẵn thường được coi trọng hơn hơn năm lẻ. Vậy năm 2015 là một con số đẹp đáng được chọn để điểm lại mối quan hệ giữa hai nước láng giềng bất đắc dĩ này, đặc biệt trong thời kỳ 70 năm qua và thời gian sắp tới.

Xâm lấn và bành trướng lãnh thổ là bản chất của chủ nghĩa dân tộc Đại Hán 

Có thể nói quan hệ Việt-Trung là một trong những cặp quan hệ chứa đựng đầy đủ đặc điểm của loại hình quan hệ giữa các quốc gia dân tộc từ thời thượng cổ đến thời hiện đại, đặc biệt là quá trình đấu tranh sinh tồn của một nước nhỏ trước họa bành trướng của một nước lớn cận kề. Điều này được minh chứng rõ ràng trong cả quá trình lịch sử lâu đời từ thời tiền sử đến ngày nay. Có số liệu tổng kết rằng kể từkhi thoát khỏi ánh đô hộ 1.000 năm Bắc thuộc Việt Nam đã hứng chịu không dưới 12 cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn từ Trung Quốc (chưa kể cuộc chiến tranh biên giới 1979). Lịch sử cho thấy ngay từ thời nhà Hạ bên Trung Quốc tương đương thời vua truyền thuyết Kinh Dương Vương của Việt Nam tức quảng cuối Thiên niên kỷ thứ 3 trước CN, Hán tộc từ phía Bắc đã lấn chiếm lãnh địa của Việt tộc ở phía Nam sông Dương Tử. Đến thời các triều đại An Dương Vương, Triệu Việt Vương (Triệu Đà) và Hai Bà Trưng kéo dài quảng 300 năm trước và sau CN tuy được coi là thời kỳ quật khởi của người Việt nhưng cuối cùng vẫn bị Hán tộc dồn đẩy về phía Nam. Tiếp đến là thời kỳ 1.000 năm Bắc thuộc mà qua đó tộc Lạc Việt không chỉ bị dồn đẩy đến tận cùng phía Nam mà còn đứng trước nguy cơ bị đồng hóa hoàn toàn như nhiều tộc Việt anh em của họ bên Trung Quốc. 


May thay nguy cơ này đã được cứu vãn qua hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của người Việt bản địa kết hợp với những người gốc gác Bách Việt hội tụ về đây để chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc vào cuối thiên niên kỷ thứ nhất và thiết lập lại nền độc lập tự chủ với bản sắc Việt tộc của mình. Nền độc lập này được khẳng định vào năm 1077 với bài hịch nổi tiếng của Vua Lý Thường Kiệt: 

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tuyệt nhiên định phận tại Thiên Thư, 
Như Hà nghịch lỗ lai xâm phạm, 
Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư. 

Cũng hoàn toàn không phải vô cớ mà Vua Quang Trung sau khi đánh bại quân Thanh năm 1792 đã rắp tâm lấy lại vùng lãnh thổ Lưỡng Quảng nhưng không may lâm bạo bệnh qua đời chưa thực hiện được. Điều này cho thấy ý thức về nguồn cội dân tộc và lãnh thổ vẫn luôn còn đó trong tâm thức người Việt. 

Bàn về sự thật lịch sử quan hệ Hán-Việt, một học giả Trung Quốc tên là  Le Oa Đằng mới đây có bài viết cho rằng Việt Nam là "hậu duệ" đại diện của Bách Việt. Trong bài viết này ông cũng cho rằng người Việt Nam là chủ nhân của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (chứ không phải như tài liệu tuyên truyền của Bắc Kinh rêu rao). 

Thực tế cũng cho thấy hoàn toàn không đơn giản như một số người Việt Nam ảo tưởng rằng Trung Quốc dưới chế độ XHCN không còn bản chất xâm lược bành trướng! Nói cách khác, không có một phép màu nhiệm nào có thể làm thay đổi bản chất và cục diện quan hệ giữa hai cựu thù mà trong đó nước lớn Trung Quốc luôn lăm le xâm lược và thôn tính nước nhỏ Việt Nam. Mặt khác, thực tế lịch sử cũng cho thấy, dù chưa thể thôn tính và đồng hóa được Việt Nam, nhưng các thế lực bành trướng Đại Hán đã và đang khá thành công trong thủ đoạn kìm hãm Việt Nam trong vòng cương tỏa của chúng để dễ bề tiếp tục lấn chiếm và bành trướng lãnh thổ về phía Nam.

Chuyển hướng bành trướng từ đất liền ra biển 

Trong bối cảnh thế giới ngày nay, mọi quốc gia đều tồn tại trong sự tùy thuộc lẫn nhau một cách cao độ khiến cho việc mang quân xâm lược một cách công khai trắng trợn đối với một quốc gia khác không phải là giải pháp khôn ngoan nếu không nói là không thể thành công. Điều này giới lãnh đạo Bắc Kinh chắc chắn đã nhận ra, nhưng đồng thời cũng nhận thấy rằng niềm tự hào là Vương quốc ở "giữa thiên hạ" (Middle Kingdom) nay lại ở vào thế bị kẹt giữa thiên hạ, và do đó nung nấu tham vọng mở rộng không gian phát triển ra phía đại dương là hướng mà ông cha họ chưa bao giờ nghĩ tới. Nếu như các triều đại phong kiến Trung Hoa thời xưa chỉ biết mở rộng bờ cõi bằng cách lấn chiếm đất đai của các nước kế cận, thì giới lãnh đạo ngày nay lại rất coi trong vai trò của biển cả. Và đó là động cơ thúc đẩy họ thay đổi hướng xâm lược bành trướng bằng cách lấn chiếm biển đảo của các nước ven  Biển Hoa Đông và Biển Đông, xa hơn sẽ là Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, không loại trừ Nam Cực. 
Sơ đồ về phạm vi đòi hỏi chủ quyền của các nước tại Biển Đông 

Tất nhiên để thực hiện hướng bành trướng phi truyền thống này, Bắc Kinh phải tính toán và chuẩn bị kỹ lưỡng theo phương châm "ẩn mình chờ thời" của cựu lãnh tụ Đặng Tiểu Bình đúc kết, bởi lẽ các vùng biển này đều đã có chủ. Để "biến không thành có" Bắc Kinh chỉ còn cách là xâm chiếm biển đảo của các nước khác cũng như một số vùng biển thuộc hải phận quốc tế.

Để thực hiện âm mưu đó, suốt 70 năm nay Bắc Kinh đã và đang kiên trì bằng mọi thủ đoạn, khi thì giả vờ hữu hảo, khi thì trở mặt gây sức ép quân sự, chính trị, kinh tế đối với Việt Nam. Thời điểm Bắc Kinh lựa chọn để đánh chiếm Hoàng Sa đầu năm 1974, rồi đánh chiếm một số bãi đá ở Trường Sa đầu 1988 đã cho thấy chiến thuật đó. Vụ Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào khoan thăm dò dầu khí sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tháng 6/2014 đồng thời với chiến dịch "đảo hóa" tại một số bãi ngầm giữa Biển Đông đều nhằm phục vụ ý đồ độc chiếm Biển Đông, trong đó mục tiêu chính là thiết lập những "cột mốc chủ quyền" mới của Trung Quốc trên Biển Đông. 

Thay đổi chiến thuật và hướng bành trướng là việc của Trung Quốc. Nhưng có điều trớ trêu là, sự thay đổi hướng bành trướng ra biển như nói trên lại một lần nữa đặt Việt Nam vào thế đối đầu với Trung Quốc, đơn giản vì Việt Nam là nước có bờ biển chạy dài từ Bắc xuống Nam và cũng là chủ nhân của 2 quần đảo ngoài khơi Biển Đông án ngữ trên con đường bành trướng của "Vương triều mới". Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc không chỉ đe dọa Việt Nam mà còn đe dọa lợi ích của các quốc gia ven Biển Đông khác cũng như toàn bộ khu vực ASEAN và thế giới, đặc biệt các cường quốc hàng hải  như Nhật, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Anh, Pháp, v.v...  Sự độc chiếm của Trung Quốc đối với 2 quần đảo này đồng nghĩa với việc quốc tế  mất quyền đi lại tự do trên Biển Đông và điều này là không thể chấp nhận được đối với quốc tế. Nói cách khác, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam nhưng chúng đều nằm trong vùng biển quốc tế và do đó vai trò bảo vệ còn phụ thuộc vào quốc tế . Chính vì lý do này, để tránh sức ép quốc tế, Bắc Kinh luôn một mực khước từ việc "quốc tế hóa" đối với mọi tranh chấp ở Biển Đông đồng thời ra sức chia rẽ nội bộ ASEAN để cô lập Việt Nam.   

Với cục diện đã hoàn toàn thay đổi trên thế giới ngày nay khi mà mọi hành động gây hấn của một quốc gia đều có thể nhanh chóng biết đến trên quy mô toàn cầu. Thế giới cũng đã lập ra nhiều tổ chức quốc tế và thiết chế ra nhiều luật lệ để điều phối các mối quan hệ giữa các quốc gia. Mặc khác, với trình độ giao thông liên lạc vô cùng nhanh nhậy, với các mối quan hệ trao đổi kinh tế, thương mại, khoa học-công nghệ, kể cả trong lĩnh vực quốc phòng vô cùng đa dạng, đa năng ngày nay thì quảng cách không còn là vấn đề lớn trong khái niệm lựa chọn đối tác, bạn-thù và đồng minh. Trong hoàn cảnh và điều kiện mới của thế giới ngày nay, một nước lớn nếu có ý đồ khống chế hay "bắt nạt" một nước nhỏ quả là không dễ dàng và đơn giản như trong quá khứ. Bài học của Mỹ tại Trung Đông và Nga tại Ucraina hiện nay cho thấy điều này. Và Trung Quốc sẽ không phải là ngoại lệ. 

Trung Quốc đã thay đổi Việt Nam không thay đổi mới là chuyện lạ

Như đã nói trên đây, chính sách bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc vẫn còn đó nhưng hướng và biện pháp đã có những thay đổi cơ bản. Xưa kia Trung Quốc chỉ bành trướng trên bộ, nay bành trướng ra hướng biển và đại dương. Trước đây mỗi khi các triều đại Trung Quốc tiến đánh Việt Nam, dù thắng hay thua, thế giới có thể không biết hoặc biết khi đã quá muộn. Vào thời đó hầu như chưa có khái niệm về sự can thiệp giúp đỡ từ quốc tế.  Trong hoàn cảnh đó Việt Nam không có cách nào khác là phải tự mình tìm cách thích ứng để tồn tại bên cạnh Vương Triều. Đó là lý do của sự ra đời sách lược mềm dẻo khôn khéo và thái độ nín nhịn "tránh voi chẳng xấu mặt nào", kể cả việc phải "triều cống" bằng lễ vật đối với kẻ thù ngay cả sau khi đã đánh bại chúng. Và sách lược đó đã cho thấy hiệu quả trong suốt hàng trăm năm trước đây và đã trở thành nếp nghĩ và là ưu tiên lựa chọn đối với  người Việt Nam trong quan hệ với nước lớn Trung Quốc.  


Tiếp đến trong 70 năm qua người Việt Nam lại làm quen với một khái niệm mới - đó là sự tương đồng về "ý thức hệ" giữa hai nước cùng theo chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội. Về mặt này người Việt Nam có lẽ tỏ ra trung thành hơn cả người Trung Quốc, biểu hiện ở chỗ là, trong khi Trung Quốc liên tục "đổi màu" bằng những bước đi dài với phương châm "mèo trắng mèo đen miễn bắt được chuột" thì người Việt Nam chỉ dừng lại ở khái niệm "đổi mới" chung chung một cách dè dặt. Sau bao phen bị ông anh cùng ý thức hệ phản bội bằng những cuộc chiến tranh nóng cùng với các thủ đoạn phá hoại ngầm về kinh tế-chính trị-xã hội khiến Việt Nam phải điêu đứng, nhưng người Việt Nam xem ra vẫn còn hy vọng vào những lời hứa hão huyền "4 tốt", "16 chữ vàng", "lấy đại cục làm trọng", "anh em tốt, láng giềng tốt" v.v...

Lẽ ra khi Trung Quốc thay đổi phương thức và địa bàn bành trướng thì Việt Nam cũng phải thay đổi phương thức đấu tranh, trước hết không việc gì phải quá lo sợ về một cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn từ Trung Quốc; điều đáng lo hơn là âm mưu của Bắc Kinh một mặt kìm giữ VN trong vòng cương tỏa của họ, một mặt chia rẽ nội bộ Việt Nam và chia rẽ Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Đó là thủ đoạn mà Bắc Kinh ráo riết áp dụng từ thời đảng Cộng sản lên nắm quyền và đã khá thành công trong những năm gần đây khi họ nhiều lần "trùm chăn đánh Việt Nam" mà thế giới không biết hoặc chỉ biết khi sự đã rồi. Đó là trường hợp cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, rồi chiến tranh biên giới phía Bắc đến các cuộc chiến tranh chớp nhoáng ở Hoàng Sa, Trường Sa, tất cả đều diễn ra tay đôi giữa hai nước cộng sản anh em. Sự kiện giàn khoan HD 981 lúc đầu cũng đã bị ém nhẹm; nếu không được công luận lên tiếng qua mạng internet thì chắc sự im lặng đó còn kéo dài hơn và hậu quả có thể đã xấu hơn. E rằng việc Bắc Kinh đang ráo riết xây dựng căn cứ quân sự tại các bãi đá giữa Biển Đông đang có nguy cơ rơi vào yên lặng và trở thành "sự đã rồi " như các đợt lấn chiếm trước đó. Cho đến nay Trung Quốc chưa trả lại và cũng không có ý định trả lại những phần lãnh thổ biển đảo đã lấn chiếm của Việt Nam.        

Phải chăng bài học đối với Việt Nam ngày nay là không nên ngần ngại hoặc nín nhịn quá mức mà phải thể hiện thái độ công khai dứt khoát đối với mọi vấn đề tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, đặc biệt tại hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, theo tinh thần luật pháp quốc tế bất luận Bắc Kinh có bằng lòng hay không. Đồng thời đường lối "sẵn sàng làm bạn với tất cả" cần được thể hiện một cách cụ thể qua việc tăng cường quan hệ với các nước thứ ba như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, v.v... coi đó là nhân tố cần thiết để ứng phó với Trung Quốc trong những tình huống xấu nhất. Vẫn biết quan hệ với Trung Quốc là quan trọng và cần được ưu tiên giữ gìn, nhưng để tránh chiến tranh với Trung Quốc cách tốt nhất là tiến hành các biện pháp răn đe phòng ngừa từ trước, chứ không phải chỉ có nín nhịn cho đến khi nó xảy ra. Đó có lẽ là cách tiếp cận thực tế và hiệu quả nhất đối với Việt Nam trong bối cảnh tương quan lực lượng của thế giới ngày nay. 
(*) Tiêu đề do tác giả thay đổi.  
bởi 
Phần nhận xét hiển thị trên trang

“… Mặc dù việc giành lại Hoàng Sa là rất khó khăn, hiện nay người duy nhất có thể làm cho chúng ta mất chủ quyền là chính chúng ta”

Ý chí, kiến thức và hành động

13/01/2014 08:00
Thanh Niên - Tiếp tục chuyên đề 40 năm Hải chiến Hoàng Sa, Thanh Niên Online xin giới thiệu bài viết của tiến sĩ Dương Danh Huy, một nhà nghiên cứu Biển Đông sống tại Anh.
Chuyên đề 40 năm Hải chiến Hoàng Sa: Ý chí, kiến thức và hành động
Bãi Xà Cừ (phải) trong nhóm Lưỡi Liềm của quần đảo Hoàng Sa - Ảnh Google Maps
Chuyên đề: 40 năm hải chiến Hoàng SaCần loại bỏ những quan niệm lệch lạc và hão huyền
Cho tới nay Trung Quốc đã chiếm đóng nhóm An Vĩnh thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam khoảng 60 năm, và đã đánh chiếm nhóm Lưỡi Liềm (còn gọi Nguyệt Thiềm), tức là đã xâm lăng toàn bộ Hoàng Sa, 40 năm.

Có quan niệm cho rằng bị một nước mạnh hơn chiếm đoạt lãnh thổ, nhất là sau bấy nhiêu năm, thì coi như là đã mất chủ quyền, chúng ta hãy chấp nhận và quên đi. Nhưng đối với dân tộc Việt Nam, một dân tộc mà một trong những niềm tự hào đáng kể nhất chúng ta có là tinh thần quật cường chống ngoại xâm, bảo vệ lãnh thổ, thì quan niệm đó có sai sót. Nếu so sánh với các dân tộc khác thì cũng khó tự hào về quan niệm đó. Thí dụ, người Tây Ban Nha sau nhiều thế kỷ vẫn đòi chủ quyền đối với Gibraltar, người Argentina sau vài thế kỷ vẫn khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Falklands/Malvinas. Không những thế, quan niệm đó là không phù hợp với thế giới hiện đại hay với việc Hiến chương Liên Hiệp Quốc không cho phép thụ đắc chủ quyền lãnh thổ bằng bạo lực. Mặc dù Trung Quốc đang chiếm đóng Hoàng Sa bằng bạo lực, theo luật quốc tế thì chủ quyền vẫn thuộc về Việt Nam trừ phi chúng ta bị cho là đã bỏ rơi chủ quyền đó.
Ngược lại, cũng có quan niệm cho rằng tới ngày nào Trung Quốc bị loạn lạc thì chúng ta sẽ đánh chiếm lại Hoàng Sa. Thứ nhất, quan niệm đó là hoang tưởng. Không biết tới ngày nào thì Trung Quốc mới loạn lạc đủ để cho chúng ta có thể chiếm lại và giữ Hoàng Sa. Thứ nhì, tư duy “chờ sung rụng” đó chỉ làm cho chúng ta thụ động thêm, với hệ quả là Hoàng Sa ngày càng xa thêm.
Chúng ta cũng phải biết rõ về những khó khăn thực tế trong việc giành lại Hoàng Sa. Giải pháp quân sự là không thể, giả sử như nếu có thể thì chắc chắn sẽ là rất đắt, và đó là chưa nói đến trên nguyên tắc thì sẽ không phù hợp với thế giới văn minh. Trong tương lai có thể thấy được, giải pháp ngoại giao song phương với Trung Quốc cho Hoàng Sa chỉ là hy vọng hão huyền.
Dựa vào chính mình
Giải pháp ngoại giao đa phương cho Hoàng Sa cũng vô cùng khó khăn. Trong khi thế giới có thể phê phán Trung Quốc về chủ trương hiện thực hóa đường chữ U trên Biển Đông, và trong khi một số nước trong khu vực có thể phản đối các động thái của Trung Quốc trong khu vực Trường Sa, thì đối với Hoàng Sa chủ yếu là Việt Nam sẽ đơn độc trong cuộc đối kháng với Trung Quốc. Trong tranh chấp đảo, các nước bên thứ ba thường không quan tâm về lý lẽ chủ quyền của các bên trong tranh chấp, và thường chọn vị trí trung lập. Vì vậy, không có nước bên thứ ba nào lên án việc Trung Quốc đang chiếm đóng Hoàng Sa bằng vũ lực. Trung Quốc cũng không bị nước bên thứ ba nào lên án khi họ tăng cường đàn áp ngư dân Việt Nam từ năm 2009 nhằm đẩy các ngư dân này ra khỏi vùng biển Hoàng Sa. Trong tương lai, khi Trung Quốc xây cất thêm trên đảo và khai thác khoáng sản trong vùng biển Hoàng Sa, khả năng là Việt Nam sẽ đơn độc trong phản đối. Không những thế, không loại bỏ được khả năng trong tương lai các nước ASEAN khác sẽ gây áp lực đòi Việt Nam rút vấn đề Hoàng Sa xuống khỏi bàn nghị sự, để cho ASEAN có thể đi đến thỏa thuận nào đó với Trung Quốc về những tranh chấp khác.
Vì Trung Quốc không chấp nhận để cho bất cứ tòa án quốc tế nào phân xử tranh chấp Hoàng Sa, hiện nay cũng không có điều kiện cho giải pháp pháp lý.
Tóm lại, chúng ta không thể nào dựa vào niềm tin Trung Quốc sẽ đàm phán về Hoàng Sa và sẽ có nhượng bộ, và cũng không thể dựa vào niềm tin các nước khác sẽ hỗ trợ chúng ta nhiều. Điều chúng ta cần phải nhìn nhận là trong vấn đề Hoàng Sa chúng ta phải dựa vào chính mình hơn cả so với trong những tranh chấp biển đảo khác.
Dựa vào chính mình không thể là dựa vào ngư dân kiên trì bám biển Hoàng Sa. Ngư dân và gia đình của họ là những con người bằng da bằng thịt. Dù dũng cảm đến bao nhiêu, họ khó có thể chịu đựng mãi tình trạng tàu thép và đạn đồng Trung Quốc đè người. Có thể một ngày nào đó họ sẽ không còn bám biển Hoàng Sa nổi nữa.
Dựa vào chính mình là mỗi người chúng ta, từ cá nhân đến nhân viên nhà nước và lãnh đạo cao nhất, phải làm điều đúng và đúng với nghĩa vụ của mình để làm cho đất nước tốt hơn. Đất nước càng tốt thì khả năng đấu tranh cho Hoàng Sa càng cao. Chúng ta không quên rằng việc Trung Quốc chiếm nhóm An Vĩnh, Lưỡi Liềm của quần đảo Hoàng Sa, cũng như một số đảo của quần đảo Trường Sa, đã xảy ra trong những ngày tháng khó khăn của Việt Nam.
Dựa vào chính mình cũng là nhà nước và người dân quan tâm phải làm những gì cần thiết và có thể trong những gì liên quan trực tiếp đến Hoàng Sa.
Ý chí và kiến thức
Điều cần thiết để chúng ta bảo vệ chủ quyền Việt Nam, cần thiết cho danh dự của mỗi người chúng ta, cũng như cho nghĩa vụ vủa chúng ta với các thế hệ trong tương lai, là ý chí, kiến thức và những hành động cần thiết.
Về ý chí, chúng ta phải giữ vững ý chí của mình, và phải giáo dục cho thế hệ sau giữ vững ý chí của họ. Chúng ta cần phải xây dựng một ý chí quốc gia về Hoàng Sa. Thế nhưng có lẽ trong 40 năm qua Hoàng Sa vẫn chưa có vị trí xứng đáng trong nền giáo dục, tâm thức của chúng ta. Nếu chúng ta quan niệm rằng 40, 60 hay 100 năm là quá lâu thì chúng ta có thể noi gương những dân tộc khác vẫn giữ vững ý chí của họ về đòi lại lãnh thổ, dù là sau hàng trăm năm.
Kiến thức về lịch sử và địa lý Hoàng Sa sẽ làm cho Hoàng Sa gần gũi với chúng ta hơn, và sẽ giúp cho chúng ta giữ vững ý chí. Chúng ta sẽ thấy Hoàng Sa không phải là những đảo xa vô nghĩa mà là những kỳ quan thiên nhiên tuyệt đẹp, với xương máu của tổ tiên và thế hệ cha, anh.
Kiến thức pháp lý sẽ là cần thiết để chúng ta tranh biện về Hoàng Sa trên các diễn đàn học thuật, chuyên gia và truyền thông quốc tế, và hy vọng một ngày nào đó sẽ là trước một tòa án quốc tế. Chúng ta không nên chủ quan rằng thế giới sẽ thấy một cách dễ ràng rằng chính nghĩa là thuộc về ta, mà chúng ta phải xây dựng khả năng tranh biện ở mức cao nhất, và phải bỏ công sức ra để tranh thủ dư luận. Đặc biệt, chúng ta phải xử lý một cách triệt để những nghi vấn phía đối phương có thể đặt ra cho lập luận của chúng ta. Như một thí dụ, việc Pháp tạm im lặng một thời gian khi tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Nhân Tuấn phái Lý Chuẩn đem pháo thuyền đến Hoàng Sa tuyên bố chủ quyền năm 1909 có ảnh hưởng gì đến chủ quyền Việt Nam hay không? Hay là, khi Việt Nam Cộng Hòa còn tồn tại thì chính thể đó có phải là một chủ thể trong luật quốc tế có thẩm quyền để khẳng định chủ quyền lãnh thổ, và bao gồm cả đối với Hoàng Sa, hay không?
Làm đúng với nhiệm vụ và biến sự quan tâm thành công việc
Về mặt đối nội thì nhà nước cần có chính sách để xây dựng ý chí, kiến thức và khả năng tranh biện, tranh thủ dư luận quốc tế. Về mặt đối ngoại thì nhà nước cần có chính sách hiệu nghiệm để duy trì chủ quyền và giữ cho thế giới không quên rằng Hoàng Sa là lãnh thổ trong tình trạng tranh chấp chủ quyền, để cho thế giới không ứng xử như thể Hoàng Sa là của Trung Quốc.
Tuy Trung Quốc đã chiếm đóng toàn bộ các đảo 40 năm, họ chỉ mới bắt đầu tiến hành siết chặt sự kiểm soát trong vùng biển lân cận từ năm 2009. Trong những năm tới, họ sẽ tiếp tục siết chặt thêm sự kiểm soát và mở rộng vùng họ kiểm soát như vết dầu loang. Điều đó có nghĩa nhiệm vụ của chúng ta đối với Hoàng Sa không chỉ là duy trì chủ quyền để một này nào đó có thể giành lại sự quản lý đã mất trên đảo, mà còn là đấu tranh để chống lại nỗ lực của Trung Quốc để siết chặt và bành trướng sự kiểm soát trên biển.
Dựa vào chính mình cũng là dùng những phương tiện mình có. Như một thí dụ, vì Trung Quốc hoàn toàn không đếm xỉa đến các nỗ lực ngoại giao của Việt Nam liên quan đến chủ quyền đối với Hoàng Sa, Việt Nam nên công khai yêu cầu Trung Quốc ra tòa. Mặc dù chắc chắn Trung Quốc sẽ không chấp nhận ra tòa, việc đó cũng làm cho thế giới thấy họ sợ lẽ phải và dựa vào bạo lực. Nếu Trung Quốc thật sự tin rằng không tồn tại tranh chấp Hoàng Sa, họ cần dũng cảm để cho tòa xét có tồn tại tranh chấp hay không.
Đối với các cá nhân thì người quan tâm nên vừa đặt vấn đề nhà nước có thể làm gì cho Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông, vừa đặt vấn đề bản thân mình có thể làm gì. Nhà nước thi hành đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với Hoàng Sa là cần thiết, nhưng không đủ. Sự quan tâm của người dân là cần thiết, nhưng không đủ. Nói cho nhau nghe Hoàng Sa là của Việt Nam là cần thiết nhưng không đủ. Phải có đủ người quan tâm biến sự quan tâm của mình thành sự sáng tạo, công sức, hành động, hay thành những đóng góp khác cho tranh chấp Hoàng Sa, nhất là trên trường quốc tế.
Mặc dù Trung Quốc đã xâm chiếm một phần của Hoàng Sa khoảng 60 năm, và phần còn lại 40 năm, mặc dù việc giành lại Hoàng Sa là rất khó khăn, hiện nay người duy nhất có thể làm cho chúng ta mất chủ quyền là chính chúng ta. Và chúng ta phải giữ vững ý chí và duy trì chủ quyền đó bằng kiến thức và hành động, bằng cách làm đúng với nhiệm vụ của mình, và bằng cách biến sự quan tâm thành đóng góp thiết thực.
Trong trận hải chiến Trafalgar, khi hạm đội Anh đối đầu với hạm đội phối hợp Pháp - Tây Ban Nha mạnh hơn, đô đốc Anh Horatio Nelson đã giăng lên soái hạm một khẩu hiệu không lời hay chữ đẹp, chỉ với câu “Nước Anh mong đợi mỗi người sẽ làm nhiệm vụ của mình”. Trong bối cảnh tranh chấp Hoàng Sa nói riêng, và bối cảnh của đất nước nói chung, Việt Nam cần mỗi người chúng ta làm đúng với nhiệm vụ và sự quan tâm của mình để cho đất nước tốt hơn, cũng như về những gì liên quan trực tiếp đến tranh chấp biển đảo.
Dương Danh HuyQuỹ Nghiên cứu Biển Đông

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cây thuốc thần kỳ mọc hoang dại


bo_cong_anh01“…Thật không ngờ một loài cây hoa hoang dại mọc khắp mọi nơi, nhưng lại là cây quý cho con người chúng ta, chỉ sau một ngày tôi bằm nát và đắp lên vết sưng tấy, tôi cũng không ngờ ngón tay đã không còn sưng, sau vài ngày thì đã khỏi hẳn…”


bo_cong_anh01
Cây bồ công anh
Trước nhà tôi có một mảnh vườn cỏ không to, khoảng chừng 50m vuông rất phù hợp với ngôi nhà và diện tích khu ở, và phù hợp với đường phố nơi tôi đang sinh sống.

Vào những mùa hè, sau những ngày làm việc vất vả, tôi thường ra vườn cỏ, nằm trên chiếc ghế dài và thả hồn theo mây gió, hít thở không khí trong lành của vùng trời tự do và dân chủ, một nơi thanh bình, xã hội văn minh, con người lịch sự.

Mảnh vườn cỏ xanh mượt mà như một chiếc thảm xanh, nhưng đôi khi có những cây hoa dại từ đâu bay đến đã chen lẫn vào đám cỏ xanh làm mất đi cái vẻ đẹp thẩm mỹ của cái vườn nhỏ bé thân yêu của tôi.

Cây hoa dại đó có tên là bồ công anh (tiếng Pháp là Pissenlit, tiếng Anh là Dandelion, còn tiếng Đức gọi là Löwenzahn). Đây là một cây hoa dại mọc khắp mọi nơi, nhưng nó lại là một loại cây thuốc có lợi cho sức khỏe, chúng ta cũng có thể chế biến thành những món ăn hàng ngày, rất lợi cho gan, mọi người có thể tìm hiểu thêm trên Youtube.

Tuần trước tôi bị sưng và rất đau ngón tay trỏ bên phải cánh tay, nó đã làm cho tôi chẳng làm được việc gì cả, từ những công việc bình thường cho đến việc cầm bút để viết lách.

Nhưng cũng may cho tôi, không biết vì một lý do gì, hay một cơn bão nào tự nhiên đã có con rồng nay lại đến nhà tôm chơi, một anh bạn từ lâu đã mất hút, nay lại đến thăm tôi.
Anh nhìn gương mặt tôi nhăn nhó như mất sổ gạo của một thời bao cấp tại Việt Nam, tôi liền nói ngón tay đau quá vì bị sưng tấy, chẳng làm được gì cả.
Nhìn thấy anh bạn của tôi vui vẻ và nói sẽ giúp cho tôi hết đau và hết bị sưng, mồm nói, chân chạy ngay ra vườn nhà tôi, anh đã tìm thấy những cây bồ công anh may mà còn sót lại vì những ngày này nhiệt độ ngoài trời vẫn không bị lạnh dưới âm độ.

Thật không ngờ một loài cây hoa hoang dại mọc khắp mọi nơi, nhưng lại là cây quý cho con người chúng ta, chỉ sau một ngày tôi bằm nát và đắp lên vết sưng tấy, tôi cũng không ngờ ngón tay đã không còn sưng, sau vài ngày thì đã khỏi hẳn.
Vài dòng chữ gửi tới người mọi ở khắp mọi nơi trên thế giới, đặc biệt là người dân đang sống tại Việt Nam..........
............................................................................................................

Bà con hãy dùng loại cây bồ công anh để làm thuốc đắp nên chỗ bị sưng tấy, hoặc làm thức ăn, như nấu canh, rau salat rất tốt cho sức khỏe.
Một lần nữa xin chúc tất cả mọi người Việt ở khắp mọi nơi, luôn dồi dào sức khỏe, hãy đoàn kết hơn nữa, vượt qua cái sợ của chính bản thân mình. Chúng ta hãy đến với nhau vì quê hương, dân tộc Việt Nam, vì tương lai con cháu chúng mình........................................................................
bo_cong_anh02

Mai Nguyên

Phần nhận xét hiển thị trên trang