Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2015

GIÓ THOẢNG QUA ĐỒI



Truyện ngắn của HỒNG GIANG


Nàng rũ bỏ bụi trần, một dạo nàng đi hát văn, nàng đã là con người khác, không giống như hồi đầu tôi gặp.
Mấy lần tôi đi tìm, đều không biết nàng bây giờ đang ở đâu?
Ngôi nhà gỗ xoan ba gian đã cũ của mẹ nàng vẫn ở nguyên chỗ đó, bên cánh đồng ngô xanh rờn mùa này, cũng không có nàng ở đó. Chỗ ấy gần cái lò gạch suốt ngày phun khói bụi mờ mịt, có những cáng gạch dài sắp hàng thẳng tắp, che phên nứa chỉ bỏ ra những khi trời nắng ráo.
Nàng bảo cả thời thiếu nữ của nàng gắn bó với cái sân cáng gạch này. Buổi sáng đi học, còn buổi chiều và các ngày nghỉ, chủ nhật nàng thường ra đây đóng than, vác gạch cho người ta ra, vào lò.
Không biết cái khuôn than cũ bây giờ có còn ai dùng nó nữa không?
Nàng thuộc nó đến nỗi nhắm mắt lại, cũng hình dung ra. Đấy là cái khung đóng bằng gỗ trai, thứ gỗ chịu nước, chịu nóng, lạnh không bị biến dạng như các loại gỗ khác. Nàng khắc ở một cạnh mặt trên của nó tên của nàng. Sau này nàng cứ hay tự thắc mắc với mình vì sự việc vớ vẩn ấy.
Khắc tên ở đâu không khắc, sao lại khắc tên mình vào cái khuôn than?
“Có lẽ vì thế mình cứ hay lận đận mãi, lọ lem mãi có phải là do sự nông nổi này không?
Cả sự nghiệp, tình duyên, chả cái nào xuôn sẻ”..
Cho đến khi gặp tôi, nàng vẫn còn “quá lênh đênh” như nàng bảo vậy!

Là nàng nhớ lại thế, chứ bây giờ lò gạch đã cải tiến nhiều rồi. Ống khói lò gạch bây giờ làm theo kiểu hạn chế ảnh hưởng môi trường, công nghệ mới, xây rất cao. Lối ra vào và ghi lò thiết kế cũng rất khác. Xe ô tô có thể ghé sát cửa lò, không phải vác bộ leo dốc ra vào lò như khi không phải đóng than, nàng vẫn làm. Người ta đã chạy bằng máy đúc than, một giờ ra cả ngàn viên..Không đóng bằng tay như ngày nàng còn làm ở đấy..
Kiểu người mảnh mai, óng như lá mạ của nàng chẳng qua vì nhà nghèo, chứ làm ở đây, cho dù hiện đại như bây giờ, cũng không mấy thích hợp.
Vậy mà cứ như thế cũng có cả năm sáu năm trời, từ lúc nàng mười bốn mười lăm cho đến ngày đi lấy chồng. Một gã sơn tràng chuyên nghề kiếm củi, một bữa bè củi của gã lênh bênh ghé vào bến gần nhà nàng.
Tôi đứng nhìn khói từ ống khói cao ngất, thẳng đuỗn tuôn lên trời xanh mà cảm thấy lòng hẫng hụt.
Một người làng thả bò đứng gần đó cho tôi hay: Nàng đã đưa đứa con gái nhỏ ra ngoài thành phố. Nghe nói mở tiệm gội đầu hay sơn móng gì đó. Công việc này nghe ra có vẻ hợp với nàng hơn.
Nhưng đó là chỗ nào nhỉ? Thành phố miền sơn cước chả to tát mấy, sao tôi chưa có lần nào gặp? Hay lại giống như cái tiệm gội đầu năm nào ở tút lút trong ngõ. Lối đi đó qua một con ngõ nhỏ ngoằn ngèo, một khu phố hẹp xây sát chân đồi.
Đi trong ngõ ấy không cẩn thận rất dễ chạm tay lái vào hai bức tường rào xây cao ở hai bên. Có hôm đi được một quãng phải dắt xe quay lại vì vướng xe đi ngược chiều mà đường thì nhỏ không đủ chỗ tránh nhau.
Kinh doanh ở một vị trí như thế nói về mặt đón khách, không mấy kết quả. Nó chỉ là hình thức cho hợp với mắt nhìn của xung quanh, những dòm nom xăm soi ngoài xã hội.
Nghề chính là nhờ giọng hát và dáng eo thuôn của nàng về đêm. Những quán karaoke rất cần những “nhân viên” có thể hình và giọng hát như nàng.
Thực là xấu hổ khi kể ra điều này. Tôi đã gặp nàng ở một nơi như thế. Sự chủ động là do lão người Đài Bắc yêu cầu trong khi chờ đóng đủ hàng, hồi tôi đi buôn lâm sản phụ.
Chính tôi cũng không ngờ cuộc gặp bất ngờ, không dự định ấy lại mang lại cho tôi nhiều ấn tượng về nàng. Bởi tiếng cười khúc khích lúc nàng ra mắt bọn tôi trong một hoàn cảnh không có gì đáng cười cả!
Tình trạng ấy kéo dài mãi quan hệ của tôi với nàng sau này, đúng vào khi gia đình tôi có sự xáo trộn hôn nhân giữa tôi và vợ mình.
Nhưng thôi, đấy là câu chuyện buồn. Không nên kể ra ở đây. Nó đâu phải chủ đề chính của câu chuyện này?
Điều mà tôi ngạc nhiên khi ông lão chăn bò kể lại là chuyện khác. Về đứa con gái của nàng.
Nó có từ bao giờ nhỉ? Có phải có được nó từ sau cái lần tôi đưa nàng đến bốc thuốc chỗ vị danh y, “Thuốc gia truyền” số 13, phố Bà Triệu Hà Nội năm nào không? Và ai chính thực là bố của con bé?
Câu hỏi này càng thôi thúc tôi đi tìm nàng, để hiểu thấu đáo hơn câu chuyện. Và cũng để thanh thản trong tâm thế của mình.
Dù sao thì tôi cũng là một tác nhân ảnh hưởng ít nhiều đến cuộc đời nàng, một phần là trước đây, một phần là hậu quả của bây giờ.
Tôi không thể làm ngơ, vô cảm vô tình như không biết, không có trách nhiệm gì.
Tôi quyết định trước tiên đến gặp mẹ nàng, người mà theo tôi nghĩ, dù có thế nào nàng vẫn còn giữ mối liên hệ.
Con người ta dù có ra sao vẫn tìm đến mẹ mình, tình nghĩa là một chuyện, còn có trách nhiệm không thể dứt bỏ. Mẫu tử tình thâm là điều con người ta dù thế nào chăng nữa vẫn phải giữ trong thẳm sâu ý thức của mình.

Mẹ nàng đã sang ở với người chị gái. Chị vừa ở viện 103 về sau khi phẫu thuật dạ dày. May mà là khối u lành nên chị đã hồi phục rất nhanh. Tuy vậy chị vẫn chưa thể đến nhà máy xi măng, đứng máy đóng gói bao như trước. Là mẹ nàng nói như thế chứ chị không nói câu nào, ngoài cái gật đầu lặng lẽ.

Thấy tôi đến chị không có biểu hiện gì vui hay buồn, chỉ lặng lẽ ôm chiếc gối đi vào trong buồng, để mặc tôi với bà mẹ ngồi uống nước bên cái bàn đã cũ.
Cái bàn này mấy năm trước tôi đã cùng nàng kê nó ở đây. Đó là cái bàn nàng mua thanh lý từ một quán ăn ngoài thành phố khi người ta thay bộ bàn ghế mới, có khung bằng sắt, mặt bàn bằng gỗ công nghiệp đôi chỗ đã tróc lớp mê ca dán phủ lên trên. Nàng nhờ tôi chở cái bàn đó đến đây. Nó vẫn được kê ở chỗ này, dù rằng nhiều việc đã diễn ra, đã thay đổi. Cái bàn chẳng cũ thêm bao nhiêu, gần như khi mới mang về.

Chỉ qua cử chỉ của chị, tôi biết chị không bằng lòng, không mấy thiện cảm. Có lẽ chị nghĩ tôi cũng như những gã đàn ông khác, từng là nguyên nhân trong nỗi bất hạnh của em mình.
Ý nghĩ ấy khiến tôi buồn. Tôi nghĩ có lẽ chị đã không hiểu, mức độ và sự thân thiết của tôi đối với nàng? Nhưng nói ra điều đó lúc này, phỏng có ý nghĩa gì? Hơn nữa, chừng mực nào đó cũng không hẳn sai hoàn toàn. Tôi cũng có phần trách nhiệm của mình kia mà.
Dù sao thì đối với tôi nàng không phải người hoàn toàn xa lạ. Cho dù sự gặp gỡ thực ra chỉ là do ngẫu nhiên.
Lại nữa, suốt trong thời gian sống bên nàng tôi như một người bạn, không hơn không kém.
Nói ra điều này hẳn nhiều người không tin.
Chúng tôi là hai người khác giới, lửa gần rơm lâu ngày cũng bén kia mà? Không có chuyện tình yêu xa rời tình dục, đó là thứ đạo đức giả, đối với người rụt rè, đơn giản, ngay ngắn còn khó tin, nữa là kẻ như tôi. Một kẻ mang tiếng là quăng quật, va chạm nhiều,  tính cách bạo dạn, có lúc dại dột, coi trời bằng vung, bất chấp tất cả?
Nhưng sự thực là như thế.
Ngay buổi tối đầu tiên gặpnhau, nàng đã nói với tôi về bí mật của nàng. Một điều đối với người khác nàng không bao giờ nói, bởi hoàn cảnh sống lúc bấy giờ.
Nàng bảo nàng đang mang căn bệnh nan y, hiểm nghèo. Sự gần gũi đàn ông đàn bà nếu có, sau này tôi sẽ phải hối hận!
Thoạt đầu tôi không tin lắm. Nói dối cũng là vũ khí lợi hại tự vệ bản thân trong hoàn cảnh các cô gái như nàng, nếu họ thật sự không thích, không muốn vì một tình cảm vô tư không mang tính thương mại.
Về đến chỗ ở của nàng, nhìn khung cảnh gian phòng nàng ở và nhất là có một thứ mùi rất khác, linh cảm nhắc tôi nên tin điều đó là thực.
Ở trên mặt tủ cá nhân, tôi thấy có mấy gói thuốc. Hỏi. Nàng bảo đấy là thuốc chữa “bệnh kín”, chả biết tên cái “bệnh kín” ấy là gì? Nàng bảo đời nàng bây giờ đã hết mọi nguồn hy vọng. Sau này nếu có lấy ai đi nữa cũng chỉ làm khổ người ta, sẽ chẳng thể nào sinh con được nữa rồi!  Rồi nàng hỏi lại:
-          Bây giờ anh đã tin lời em nói hay chưa?
Thực ra tôi chưa hiểu mấy, còn ngờ ngợ, nhưng vẫn nói:
-          Anh tin!
Như một cách gượng nhẹ, đỡ cho nàng tổn thương..
Vậy là quan hệ của tôi với nàng có vệt ngăn cách ấy, không thể đi quá xa, dù cả hai đều mong muốn vượt qua nó, theo lẽ thường tình.

Có một câu chuyện mà cả mẹ lẫn chị gái của nàng không biết sau đó ít ngày. Ngay cả đến bây giờ tôi vẫn chưa kể cho họ nghe, bởi tôi nghĩ là không cần thiết nữa. Hoặc giả đó là sự kể lể công ơn về việc vì sao sau đó nàng khỏi bệnh, trở lại người phụ nữ bình thường, hơn nữa lại có con, điều mà khi ấy nàng hoàn toàn tuyệt vọng. Cũng là nguyên nhân vì sao nàng chọn cách sống hoang sơ, được nhìn nhận là vô lý trong mắt nhiều người.
Tôi nhìn dáng già nua, phúc hậu, hiền lành đến tội nghiệp của mẹ nàng và quyết định không nói ra điều ấy. Vì như thế là xúc phạm, tổn thương đến bà.
Giờ thì mẹ nàng đang kể về bất hạnh của nàng. Do đâu và vì sao nên nỗi?
Câu chuyện này mười năm trước khi nàng đưa tôi về thăm nhà, tôi đã được nghe. Có thể bề dày của nỗi buồn che khuất, mẹ đã quên là đã kể ra với tôi. Cũng có thể bà muốn nhắc lại câu chuyện không vui ám ảnh bà suốt bao năm tháng:
- Nó học giỏi, hát hay. Những mong sau này thi vào trường âm nhạc. Năm nào cũng được nhà trường cho giấy khen..Nhìn nét mặt tươi tỉnh của nó, ai cũng bảo sau này số của nó chẳng đến nỗi nào, nếu thi vào trường năng khiếu, chắc chắn thế nào cũng đỗ. Nếu năm ấy tôi không ốm, không phải đi viện mấy tháng trời, nó không phải nghỉ học chăm mẹ, có lẽ điều ấy đã thành rồi..Bệnh viện nói bệnh của tôi phải phẫu thuật mới mong chữa lành. Một phần dạ dày phải cắt bỏ. Có lẽ căn bệnh này mang tính di truyền, bây giờ lại đến lượt chị gái nó mang, y như tôi ngày nào..
Bà ngừng kể, lặng lẽ lấy khăn chấm hai khóe mắt. Tôi đã định đứng dậy xin phép bà để về, cũng là cách chấm dứt câu chuyện buồn, khơi lại chỗ đau cũ trong lòng bà, nhưng mẹ nàng không nghe, tôi đành phải nán ngồi lại.
- Ai ngờ đâu nó lấy phải người chồng như thế? Nhà anh ta nghèo khó đã đành, mặt mũi không đến nỗi nào, có ai biết ngoài tươi trong héo đâu? Hôm nó từ bệnh viện về trên nhà tìm tiền để lo cho tôi thì gặp anh ta.
Người này mọi khi vẫn cặp bè ngoài bến gần nhà. Khi thì anh ta lên quán mua vài thứ đi đường sông, khi chờ đến giờ cầu phao mở luồng, bè mới qua được. Một đôi lần thành quen, tôi cũng coi như chỗ thân tình. Cũng có hôm không xuôi bè, anh ta đạp xe vào chơi, cho ít măng chua, đôi gà hay vài thứ sản vật đồng rừng. Có lần ở lại ăn cơm, có lúc chỉ ở uống nước một chốc, rồi đi ngay.
Anh trai nhà này quý người này lắm, coi như anh em ruột. Không bận công việc nhà máy, hay được nghỉ vài ngày là tút lên chỗ anh ta. Bố mẹ anh ta cũng khéo, lại quý người. Anh trai nó lần nào lên trên ấy, thế nào lúc về cũng có mảng củi xuôi cải thiện thêm. Rồi gạo, rồi gà, lỉnh kỉnh lắm..
Người như thế ngỏ lời muốn giúp đỡ, ai chả tin? Con bé cầm của anh ta số tiền đóng cho bệnh viện..
Rồi việc gì phải đến đã đến.
Tôi ở viện về được vài tháng thì xảy ra chuyện.
Thấy nó có vẻ bất thường, hay thảng thốt như đang lo lắng việc gì ở đâu đâu. Có khi hỏi nó chuyện nó đơ đẫn rất lâu, không mau mắn như thường ngày. Nhìn cái lưng hơi ngay,chân mày dựng, tôi đã nghi nghi.
Gặng mãi nó mới nói thực, nó đã “có” với anh chàng đi bè này!
Thực như nghe sét đánh ngang tai. Ai ngờ một đứa tinh khôn, nhanh nhạy như nó lại mắc phải điều tệ hại nhất đối với người con gái?
Hai mẹ con tính chán không biết giải quyết bằng cách nào, uống đủ thứ thuốc mà cái hậu quả của nó không khắc phục được.. Cuối cùng thì cũng đành nhắm mắt đưa chân. Nó đi lấy chồng.
Nói để trả ơn người ta cũng không phải.
Không thể đền ơn bằng cuộc hôn nhân, điều này dẫu ít chữ như tôi, cũng phải hiểu. Nhưng việc lỡ rồi, muốn không để miệng tiếng thế gian, chỉ còn duy nhất cách như vậy.
Có ai ngờ khôn ba năm dại một giờ? Cuộc đời thật lắm éo le và lắm bất ngờ. Vậy là ước mơ học lên của nó không còn bao giờ được thực hiện. Nghĩ thương con mà cay đắng trong lòng.
Chỉ tại bổn phận làm cha mẹ của mình không đầy đủ, nghèo khó mà khổ lụy đến con. Nghĩ vậy tôi cắn răng không dám day dí nó câu nào. Thôi thì có phúc có phận, cầu mong sao nó làm dâu nhà người êm ả, dần dà qua khó khăn, nghèo túng mà đi lên. Cốt sao có người chồng tử tế. Không tài ba, sắc sảo có quyền có chức hơn người thì cũng ăn ở hiền lành biết quý vợ, thương con..

Đoạn sau của câu chuyện bà mẹ nàng không kể nữa. Có thể vì bà đã mệt, người không được khỏe. Cũng có thể câu chuyện có điều khó nói, mẹ nàng không muốn nhắc đến. Nhưng nó đã được chính từ miệng nàng kể cho tôi nghe.
Người ta bảo: “Chớ tin cave, chớ nghe thằng nghiện”, nhưng với nàng thì tôi tin. Lòng tin ấy không phải mơ hồ không có cơ sở, hay vội vã mà tin người. Có đủ thời gian để tôi có thể yên tâm như thế về điều này, khi nàng kể cho tôi nghe cuộc hôn nhân thứ nhất của nàng.
Hơn nữa chính tôi đã gặp và nghe kể từ người chồng cũ của nàng. Đó là lần nàng nhờ tôi  đưa nàng xuống thăm gã ở trại cai nghiện, dù đã ra tòa. Gã đã khóc và kể cho tôi nghe về cuộc sống trước đây của hai người và rất lấy làm tiếc về việc hai người đã  ly dị.
Một thằng nghiện như gã có thể tin được trong câu chuyện này?
Lúc đó nàng chỉ ngồi im lặng, không nói câu nào.
Tôi nghĩ nàng phải như thế nào hắn mới nói như vậy?
 Hắn hoàn toàn có thể miệt thị hay đổ lỗi cho nàng trong trường hợp ấy. Bản tính cố hữu hẹp hòi của con người là thường tìm cách đổ lỗi cho người khác, ít khi dám nhận trách nhiệm về mình. Nhất là kẻ như gã, một người đã mất hết tự chủ, rơi vãi đã nhiều nhân cách và lòng tự trọng.
Cảm giác ấy không hiểu sao cứ lẩn quẩn mãi trong đầu tôi. Tôi nhớ lại hình ảnh mấy gói thuốc treo trên tường, trong phòng ở của nàng. Nghĩ đến vẻ mặt xanh xao, nét cười gượng của nàng mỗi khi bị cơn bệnh hành hạ. Tự cảm thấy mình bất nhẫn nếu cứ như người ngoài cuộc, mặc dù khi đó tôi cũng chẳng có gì ràng buộc với nàng. Và khả năng tài chính còn rất hạn chế vì công việc kinh doanh gặp khá nhiều trắc trở.

Lão chủ người Đài Loan muốn tôi luôn có mặt tại thị xã này để đón nguồn hàng từ các nơi về. Lão sợ các nguồn hàng từ xa về lọt về tay một công ty khác đang tranh lấn thị phần ở đây. Lão đặt cho tôi một phòng trong khách sạn đẹp nhất tỉnh, ngay bên bờ sông. Tiện nghi đủ cả, lại quá rộng rãi vì chỉ có một mình.
Tôi thì chưa quen và rất ghét phòng máy lạnh. Ngay cả khí thở, nó cứ giả giả thế nào ấy.
Một kẻ xuất thân thợ hồ như tôi, ở như thế có khác nào một chú voi ở trong nhà kính? Tôi thích chỗ dân dã, có người để trò chuyện. Một ngẫu nhiên như thế, tôi dọn đến trọ gần phòng của nàng.
Người ngoài cuộc có khi nhầm chúng tôi là cặp nhân tình. Nhất là những hôm tôi phải tiếp khách ở nhà hàng về, bia rượu quá mức, chân đi không vững. Những lúc như thế nàng ra tận cửa xe tắc xi dìu tôi vào phòng, thay đồ, lau chùi mặt mũi, chân cẳng cho tôi.  
Quan hệ giữa tôi với nàng gần như một người em, một người tình. Nếu không vì căn bệnh ghê gớm nàng nói, có khi biết đâu được đấy, chuyện đàn ông đàn bà đã xảy ra?
Cuối cùng cũng chính vì chuyện ấy tôi quyết định đưa nàng về Hà Nội như đã kể.

Ông thầy lang đẹp như một ông tiên. Thú thực tôi chưa gặp một ông thầy nào như thế. Bảy mươi bẩy tuổi rồi mà hàm răng vẫn đều và chắc, ( làm tôi nhớ đến câu tục ngôn bất hủ nói về một ông nào đấy “”răng chắc C. bền”) chòm râu có lẽ trên đời chả ai có được bộ râu như thế. Nó trắng và sáng như cước, tỏa ra quanh cặp môi mềm, rất thắm.
Dung nhan ấy của người già quả là rất thú vị, ấy là chưa kể đến vầng trán như có ánh sáng chiếu vào và đôi mắt còn rất tinh tường. Một ông lang như thế, cảm thấy yên tâm sau khi phải vất vả trèo lên căn gác xép khá hẹp và chật chội bằng cái cầu thang nhỏ làm bằng gỗ sồi.
Ông thăm mạch, xem lưỡi nàng và nói thầm thì điều gì đấy đủ cho nàng nghe. Tôi ngồi xa đó một quãng, tảng lờ như không nghe thấy, chăm chú đọc những bức thư họa treo la liệt trên tường. Trong phòng mùi hương ngào ngạt, không thể phân biệt nó tỏa ra từ loài thảo mộc gì?

Ông thầy cắt cho nàng toa thuốc đầu tiên, dặn uống hết gọi điện đến ông sẽ gửi thêm cho.
Tiền có đặt trước hoặc gửi sau cũng được.
Tôi làm nghề kinh doanh, những chuyện liên quan đến tiền bạc là thứ cảm nhận rất nhanh. Qua cách cư xử, tôi biết ngay “ông tiên” này chữa bệnh hoàn toàn không phải vì tiền. Hoặc cũng có thể ông tự tin hiệu quả chữa bệnh bốc thuốc chắc chắn có kết quả của mình? Hoặc nghĩ đến sự ràng buộc của bệnh nhân một khi đến đây cầu chữa khỏi bệnh, tiền trả là lẽ đương nhiên?
Sau một tuần, nàng nói với tôi hình như bệnh chuyển. Ngứa ngáy khó chịu giảm đi nhiều, đến bữa ăn ngon hơn. Tôi thấy nước da nàng cũng sáng và mịn hơn dạo trước.
Ban ngày tôi đi làm. Công việc giao dịch nhiều khi không nhất định, chả có giờ giấc nào cả. Còn nàng đi làm về đêm, có hôm gần sáng mới về. Nhờ có giọng hát hay quán karaoke nào cũng nhớ đến, gọi nàng khi có khách yêu cầu.
Chúng tôi sống gần nhau theo kiểu mặt, trăng mặt trời như thế, gần một năm trời. Cho đến khi công ty của lão người Đài rút về nước, tôi cũng chuyển sang làm việc khác, không ở chỗ đó nữa.
Từ đó đến giờ chúng tôi không gặp nhau.  

Chợt một hôm, tôi ở phương nam về, tôi nghe nói nàng có đứa con gái? Tin này do một người quen gặp tôi ở bến xe vô tình kể lại. Sau lúc ấy tôi sửng sốt, một chút tò mò pha lẫn băn khoăn. Biết đâu đứa con của nàng chả có liên quan nào đó đối với tôi?
Nếu đúng là như thế thật, tôi là kẻ thật đáng trách, vì sự vô tâm, vô trách nhiệm của mình!
Tôi nảy ý định quyết tìm nàng cho bằng được, để giải tỏa ý nghĩ ám ảnh ấy của mình. Và nếu có thể, làm một điều gì đấy để chuộc lỗi lầm mà có thể do mình gây ra!
Cho đến khi tôi gặp người trong gia đình nàng, vẫn bặt tin, vẫn bóng chim tăm cá..
Trong nhiều cái lo thừa của của mình, điều ấy là sự thừa thãi may mắn nhất. Tôi không cần phải có bổn phận và trách nhiệm gì vì đứa con ấy không phải con tôi. Cha nó là một người khác.
Tệ hơn nữa khi nó ra đời, người đó đã bỏ rơi hai mẹ con nàng.. Anh ta cần một đứa con trai theo thỏa thuận với người vợ đang chung sống với anh ta. Người ta không cần cô con gái do nàng sinh ra vì gia đình họ đã quá đủ cơ số của đàn “Vịt giời”..

**
Cuộc gặp nàng trong lễ hát văn đền Hạ đã làm cho H để ý. anh ta đã gặp nàng đôi ba lần khi đi hát cùng bạn bè sau những buổi ký kết hợp đồng kinh doanh.
Thực ra công ty của anh ta không giàu có, phồn thịnh như anh ta nói với nàng. Đó là công ty chăn nuôi gia súc, gia cầm tư nhân. Một công ty ốm lên ốm xuống, mấy lần toan tuyên bố phá sản vì những đợt dịch tràn lan. Gà vịt, ngan ngỗng, đà điểu lăn cổ chết từng đống. May nhờ có công nghệ ươm con giống, công ty còn có thu nhập, nên còn vớt vát lại được.
Người ta bảo “gầy bò còn hơn béo ngan”. Người như H chưa phải là người nghèo hoàn toàn. Dù làm ăn khó khăn, H vẫn là một kiểu “đại gia” trong mắt nhiều người. Nhất là người có hoàn cảnh bi đát như em.
Sự tan vỡ của cuộc tình vá víu với H làm em thêm một lần đau khổ. Lúc này  em đã thôi đi đền, phủ hát văn. Những nơi ấy thiêng liêng mà cuộc sống của em lại quá u ám, đâu còn thích hợp? Ngay cả đến các quán hát karaoke cũng không vời em nữa. Nghề cắt tóc gội đầu giờ thuộc những cô nàng trẻ trung nhí nhảnh, tuổi của em đâu còn thích hợp?
Cũng may trước lúc chia tay, H đã kịp sắp xếp cho em một nơi thích hợp. Đây là lần tử tế cuối cùng anh ta dành cho em, đúng là lúc em đứng trên cầu, nhắm mắt lại, buông bỏ mọi ý nghĩ, khi ấy trời đã khuya lắm, rất ít người qua lại trên đường. H từ bên Thái Nguyên về, bất chợt nhận ra và dừng xe lại.

***
Tôi tái lập gia đình, cuộc mưu sinh chăm lo cho gia đình mới luôn làm tôi bận rộn. Tôi đã quên nhiều chuyện cũ, trong đó có câu chuyện về em. Chuyện về người con gái tài hoa mà bạc mệnh.
Nếu biết, chắc em cũng chẳng trách tôi về việc này vì thực ra giữa hai chúng tôi quan hệ chỉ như gió thoảng qua đồi. Như gặp gỡ ngẫu nhiên không có nhiều kỷ niệm. Ân oán duyên tình chỉ như chuyến đò cùng sang sông.
Nếu bảo những chuyến như thế là sâu nặng thì con người ta phải sâu nặng với bao lần trong cuộc sống  “tế phức” và đa dạng này? ( Chữ “tế phức” là chữ nàng hay dùng, chả biết nàng học được ở đâu? Tôi thấy ngồ ngộ nên còn nhớ và mượn lại của nàng).
Tưởng mình đã quên thì bất ngờ chị nàng tìm đến tôi. Không phải việc gì liên quan đến nàng. Là việc riêng của gia đình chị.

Người ta vừa quy hoạch xong và chuẩn bị xây mới một nhà máy xi măng theo công nghệ hiện đại. Nhà máy này có công xuất cao gấp năm lần nhà máy xi măng cũ. Đặc biệt hơn, nó bảo đảm yếu tố môi trường. Chắc chắn là không tuôn khói bụi mù mịt phủ trắng các vườn cây xung quanh nhà máy như nhà máy cũ. KIểu xi măng lò đứng nay đã lỗi thời và đi vào dĩ vãng, đi vào lịch sử những trang công nghiệp cổ lỗ thời khó khăn.
Chị gái nàng ở trong diện giải tỏa để lấy đất xây dựng nhà máy mới này. Nhà nước đã đền bù và chị đã tìm được chỗ di dời.
Chị tìm tôi là để xây căn nhà mới ở nơi tái định cư. Đúng là sông có khúc người có lúc.
Nghe chị kể chỗ ở mới mà thèm.
Đó là bãi đất khá bằng phẳng dưới chân núi Dùm, lối vào thác nước một ngoạn cảnh rất đẹp.
Thực ra vị trí tái định cư là ở chỗ khác, nơi này là cô em gái mách cho. Chủ nhân của khu vườn sinh thái vừa chuyển vào một thành phố trong nam ở với con. Họ nhường lại với giá khá rẻ.
Hơn nữa vào thời điểm bất động sản đóng băng, mua được một chỗ như thế cũng là chuyện bình thường. Trước đây một vài năm chuyện này khó có thể xảy ra với giá tiền mua được như thế của chị.
Gặp tôi lần này, chị ấy vui vẻ lắm, chả lì xì như hôm nào tôi đến nhà cũ của chị bên vạt ngô, gần cái lò gạch cũ.
Đang đói việc, tôi cũng lấy làm may. May hơn nữa là có cơ hội gặp lại em. Cho dẫu tôi với em bây giờ đường ai nấy đi. Nhưng người cũ xưa kia giờ có cuộc sống ổn định, cuộc sống khá lên, tôi không vui, không lấy đó làm may sao được?
Tôi đã cố hình dung ra hoàn cảnh sống của em theo lời bà chị kể. Nhưng đều trật lấc.
Tôi không ngờ cuộc sống của em giờ đã khác rất nhiều.

Ngôi nhà gần miếng đất bà chị gái mua là nhà của em. Một ngôi nhà hai tầng có hàng rào xây bằng đá tảng vây quanh. Trước nhà có giàn nho xanh đang mùa ra trái. Chạy dọc theo vườn là cái ao tương đối rộng. Quanh bờ ao là những hàng nhãn xum xuê lúc lỉu quả.
Sau nhà là vườn cây đủ thứ, cam, bưởi, na hồng.
Trong ngôi nhà mới của mình, nàng dành riêng thiết kế một phòng hát có giàn âm thanh rất chuẩn. Có lẽ thói quen yêu thích âm nhạc từ nàng chưa mất. Nhưng ở vị trí này, tôi đoán nàng không có ý định kinh doanh vì hơi xa thành phố
Nàng sống như một người giàu, có nền tảng từ lâu chứ không phải mới từ khó, khổ đi lên.
Đứa gái nhỏ của em, tóc đuôi gà, khi chúng tôi đến vừa đi học về. Nó lễ phép chào hỏi rồi cất sách vở, đi chăn đàn ngỗng khá đông của hai mẹ con.
Tôi làm quen với nó và hỏi chuyện. Nó nói mẹ sang chợ thành phố bán rau quả, đến chiều mới về.
Hỏi bố cháu đâu? Nó chau mày không nói gì. Bà chị của mẹ nó cũng tỏ vẻ không bằng lòng, cố kiềm chế không tỏ thái độ, nhưng tôi biết, bà không vui.
Tôi thật chả ra gì, sao lại hỏi một đứa bé một chuyện như thế chứ?
Sự vô tâm của tôi thật là vớ vẩn, điều này làm tôi áy náy mãi đến bây giờ!



                                                                                     ==========



Phần nhận xét hiển thị trên trang

CỰU LÃNH TỤ LIÊN-XÔ GORBACHEV HÔM NAY CẢNH BÁO: CHIẾN TRANH NGUYÊN TỬ CHẮC CHẮN KHÓ TRÁNH KHỎI!



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vũ Quần Phương và nỗi buồn người làm thơ – Bài và ảnh: Hòa Bình


Giữa lúc văn đàn nhốn nháo, chất lượng giải thưởng Hội nhà văn, chất lượng hội viên mới kết nạp, chất lượng bài in báo đều do...chạy, văn hóa Việt Nam bị cưỡng hiếp nghiêm trọng bởi những loại từ điển hàng đống sai lầm như Nguyễn Lân, văn tế tâm thần như Vũ Khiêu, hội thảo như Hoàng Quang Thuận, thơ gãi háng như Thanh Thảo, thơ đạo văn như Phạm Đương, văn đa cực và đĩ điếm như Văn Chinh, thơ chưa thể gọi là thơ như Mã Giang Lân, thơ lảm nhảm như Từ Quốc Hoài, nghiên cứu xuyên tạc như Lê Xuân Đức... cái chợ văn chương dường như đến hồi mạt pháp! Nhà thơ tài hoa Vũ Quần Phương góp vào tiếng thở dài...

Vũ Quần Phương và nỗi buồn người làm thơ – Bài và ảnh: Hòa Bình
Vũ Quần Phương và nỗi buồn người làm thơ – Bài và ảnh: Hòa Bình

VŨ QUẦN PHƯƠNG VÀ NỖI BUỒN NGƯỜI LÀM THƠ
1 Hòa Bình 

    Sự phát triển của văn chương nói chung, thơ ca nói riêng thời gian gần đây có những điều rất bất thường…”- nhà thơ Vũ Quần Phương nhận định.
    Nhắc đến nhà thơ Vũ Quần Phương, người yêu thơ sẽ nhớ ngay những vần thơ giản dị nhưng triết lý, có chiều sâu suy tưởng của ông. “Áo đỏ” là một trong những bài thơ rất đặc biệt của Vũ Quần Phương mà nhiều người đọc đã thuộc vanh vách.

    Không còn háo hức như xưa
    Nhà thơ bồi hồi chia sẻ về kỷ niệm ra đời tác phẩm này, năm 1973, khi Hà Nội vừa trải qua 12 ngày đêm khói lửa. Trong thời chiến, nhiều người dân đều mặc áo màu xanh công nhân hoặc màu cỏ úa, nữ thì thêm màu xanh da trời, màu lòng tôm, màu da bò... bỗng ở giữa phố Khâm Thiên xuất hiện một cô gái mặc áo đỏ, cái sắc đỏ rực rỡ một góc phố khiến ai cũng phải chú ý, ngoái nhìn. Áo đỏ em đi giữa phố đông/Cây xanh như cũng ánh theo hồng/Em đi lửa cháy trong bao mắt/ Anh đứng thành tro em biết không… Bài thơ chỉ có 4 câu, có phải vì nó ngắn nên dễ thuộc hay còn vì ý nghĩa sâu sắc của màu đỏ mạnh mẽ ấy đã lan tỏa mãi theo thời gian. Màu áo đỏ như dấu hiệu đầu tiên của đời sống yên bình, như một khát khao về cuộc sống hòa bình và no đủ.
    Ở tuổi 70, nhà thơ Vũ Quần Phương chưa một lần thấy mệt mỏi hay xuống dốc tinh thần; hễ nhắc chuyện thơ ca, trong đôi mắt tinh tường của ông lại ánh lên ngọn lửa đam mê. Có điều, ở ông bây giờ không còn vui vẻ và háo hức như thuở xưa, người  đọc thơ ông sẽ dễ dàng cảm nhận được nét buồn nhè nhẹ len vào từng câu chữ trong những tập thơ mới của ông với toàn những Quên chữ, quên câu (năm 2000), Giấy mênh mông trắng (2003), Chỗ ấy sóng (2008)…

    “Ngộ độc” thơ
    Nhà thơ thở dài kể về tình trạng người làm thơ bây giờ rất đông, thường là đến tuổi về hưu quay ra làm văn chương, đặc biệt là làm thơ. Chưa bao giờ các CLB thơ phát triển rầm rộ như hiện nay: Thơ Facebook, hội thơ lục bát, hội thơ thất ngôn tứ tuyệt… Điều rất buồn cười là tiêu chuẩn của các “hội” này là yêu thơ chứ chưa cần phải viết được những bài thơ hay, cho nên rất nhiều thành phần có thể tham gia và đóng góp cho các CLB này hoạt động. Tất nhiên, không phủ nhận rằng hình thức CLB như thế cũng có thể góp phần kích thích sự phát triển của thơ và biết đâu, nhờ quan tâm đến thú chơi thơ cũng tao nhã sẽ khiến cho người ta sống kỹ hơn, sống tử tế hơn.
    Thế nhưng, “Số lượng các CLB thơ phát triển nhiều như hiện tại, tôi thấy đây là hiện tượng bất thường, lo nhiều hơn mừng. Mỗi năm, trên cả nước có tới cả ngàn tập thơ được xuất bản, tôi được tặng nhiều lắm, đọc xong cuốn nào, tôi phải lấy sổ ghi, khi tác giả hỏi đến còn biết giở sổ ra mà thưa. Tập dở rất nhiều, lấn át và che khuất tập hay” - nhà thơ Vũ Quần Phương nói.
    “Tình trạng ranh giới giữa thơ chuyên nghiệp và thơ nghiệp dư ngày càng không rõ nét. Rất đông các tác giả nghiệp dư nhưng cũng dùng những thao tác chuyên nghiệp để xuất bản và phát hành: trình bày ấn tượng, in sang trọng, quảng cáo giới thiệu rầm rộ… Người đọc chọn sách không thể căn cứ vào nhà xuất bản vì đã lâu rồi không hề có sự phân chia lĩnh vực nào. Nghe theo nhà phê bình thì người phê bình thật sự rất ít viết, bạn bè viết để giới thiệu giúp nhau thì lại không chuẩn mực. Hơn nữa, quá nhiều những người ban đầu chỉ định chơi thơ thôi nhưng sau khi in và giới thiệu một số tập thơ, lại nhất định xin gia nhập Hội Nhà văn” - nhà thơ ưu tư.

    Mua danh nhà thơ
    Là một trong những nhân vật chủ chốt nhiều năm làm trưởng Hội đồng thơ Hội Nhà văn, nhà thơ Vũ Quần Phương cho biết năm nào hội này cũng có tới gần ngàn lá đơn xin gia nhập khiến cho hội đồng vô cùng vất vả trong việc xét duyệt.
    “Sự hăng hái đó đã trở thành một áp lực rất lớn đối với chúng tôi” - nhà thơ Vũ Quần Phương than thở. Ông cũng thẳng thắn phê phán hiện tượng mua danh: “Thậm chí, thời buổi dư bạc thừa tiền, rất nhiều người cần thêm cái danh. Thế nên, họ tấn công ghê lắm. Họ mời mọc nhiều nơi làm hội thảo thơ cho mình, thuê khách sạn hạng sang, thuê người đến dự, thuê viết tham luận và phát biểu… Rồi sau vài cuộc như thế là họ gửi đơn xin vào Hội Nhà văn. Nhiều người đưa đơn rồi chỉ nhăm nhăm mang quà cáp, “đi cửa sau” tới nhà các thành viên hội đồng xét duyệt, hy vọng được vào hội. Đáng sợ hơn là trong số đó, nhiều người có rất ít hy vọng làm được thơ. Còn có cả những tờ đơn viết sai chính tả: “Đơn xin ra nhập hội” nữa”.
    Ông kể thời ông vào hội giản dị lắm, cứ gửi tác phẩm rồi hội đồng đọc xong thông báo với ban chấp hành, họ gửi thư mời các tác giả có triển vọng làm đơn vào hội. Mọi chuyện diễn ra rất âm thầm, chẳng ai biết, hội cũng chẳng đăng báo tên những hội viên mới.
    “Đối với xã hội, thực sự tôi chả hiểu háo hức vào Hội Nhà văn và in ấn, xuất bản nhiều tập thơ như thế để làm gì?” - nhà thơ lại thở dài. “Và khổ nỗi, đa phần toàn là những tác phẩm chất lượng kém, phải đọc chúng, đối với cá nhân mình tôi không phiền nhưng với xã hội thì tôi nghĩ chắc chắn sẽ làm người đọc bị nhiễu loạn các hệ thống giá trị và làm thẩm mỹ về thơ bị biến dạng”- ông phân tích.

    Tác giả nhiều bài thơ để đời
    Nhà thơ Vũ Quần Phương nguyên là Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, Tổng Biên tập Báo Người Hà Nội; nguyên Chủ tịch Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Văn chương Việt Nam bằng tiếng Pháp. Ông nổi danh với những bài thơ được xếp hạng trong 100 bài thơ hay thế kỷ XX, như: Đợi, Áo đỏ, Chiều, Trước biển… Các tập sách đã xuất bản: Cỏ mùa xuân (1966), Hoa trong cây (1977), Những điều cùng đến (1983), Vầng trăng trong xe bò (1988), Đợi (1988), Vết thời gian (1996) - Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, Quên chữ, quên câu (năm 2000), Giấy mênh mông trắng (2003), Chỗ ấy sóng (2008).
                                                                                                                                 Bài và ảnh: Hòa Bình
Gửi từ
Trịnh Bảo Chân 
trinhbaochan@gmail.com
© Tác giả giữ bản quyền. 
Phần nhận xét hiển thị trên trang

LỜI CẢM ƠN

Truyện ngắn của TRẦN NHÃ THỤY


Lời đầu tiên, tôi xin cảm ơn chị Cả. Đúng theo tinh thần của cái tên, chị luôn là người đọc bản thảo của tôi đầu tiên, phản hồi mau lẹ nhất. Chị Cả với bản tính thẳng thắn của mình đã không nhân nhượng nã cho tôi những phát đau điếng/và tôi hình dung, khi đọc bản thảo của tôi, chị luôn dứ dứ cây kéo trong tay, vừa thấy một chữ thừa thò ra là chị cắt phăng. Nhờ cây kéo sắc của chị mà chữ nghĩa tôi trở nên chỉnh tề, tươm tất hơn. Với năng lượng chữ dồi dào, khả năng diễn đạt tinh tế hiếm có, tôi không hiểu sao chị Cả lại không làm nhà văn, cũng không đầu quân làm biên tập cho một nhà xuất bản nào. Tài năng ấy mà không cống hiến cho văn chương, thật quá lãng phí.

Tôi xin cảm ơn giáo sư Nguyễn, người hiệu đính giúp tôi những diễn giải triết học cả Đông lẫn Tây, mà trong cuốn sách này tôi nhiều lần đề cập đến dưới hình thức đối thoại giữa hai nhân vật chàng và nàng. Óc hài hước của giáo sư Nguyễn đã làm cho những mẩu đối thoại trở nên nhẹ nhõm và duyên dáng hơn so với bản nháp ban đầu rất nhiều.
Tôi xin cảm ơn nhà phê bình Hà Mã. Nếu trong một quán bia, bạn thấy ai hay đi vào toilet nhiều lần, mà lần nào trở ra đầu tóc cũng sũng nước thì rất có thể đó là Hà Mã, ông vào đó nhưng không phải để xả, mà nhúng đầu vào xô nước rồi cứ thế đi ra. Hà Mã có những cơn nóng trong đầu quái lạ, và giải nhiệt bằng cách nhúng ngập đầu vào nước. Mặc dù không đọc trực tiếp từ bản thảo của tôi, nhưng nhà phê bình Hà Mã luôn dành cho tôi những cuộc trò chuyện thú vị, từ những cuộc trò chuyện này, những ý tưởng mới nhú lẹt đẹt của tôi chợt vụt lớn lên như được tưới tắm bởi một thứ dung dịch lạ.
Trong những khi bế tắc, mất phương hướng, tôi thường trò chuyện với Kun - một độc giả dễ mến nhất của tôi. Nhưng xin nói ngay, Kun không phải là người đề cao tôi bậc nhất. Thần tượng văn chương của Kun là Milan Kundera (cái tên Kun là từ Kundera đấy). Tôi cũng là người thích Kundera, nhưng say thì không bằng một góc Kun. Vả lại, ở Kun có những đặc tính rất quái, khiến tôi luôn cảm thấy kích thích. Chẳng hạn Kun luôn đọc Kundera khi ở Hà Nội/ chỉ khi nào ở Hà Nội Kun mới đọc Kundera. Những cuốn tiểu thuyết hay nhất Kun cũng đọc ở Hà Nội. Tập bản thảo của tôi Kun cũng đọc ở Hà Nội/ và rất nhẹ nhàng, Kun đã mách nước cho tôi thoát ra những bế tắc một cách ngoạn mục. 
Tiểu thuyết có một chương viết về các loài cá biển, nếu bạn đọc cảm thấy thích thú, thì thì tôi rất lấy làm cảm kích và tôi xin gởi lời cảm ơn đến tiến sĩ Đào - một nhà hải dương học trẻ tuổi, nhưng kiến thức sâu rộng và trải nghiệm biển đảo tuyệt vời. Chính cuộc gặp gỡ tình cờ với tiến sĩ Đào tại eo biển Rạng đã khiến tôi quyết định nên dành hẳn một chương viết về cá biển. Nhân đây tôi cũng xin cảm ơn bác Dâu - người đã nướng món cá hồng biển ngon tuyệt. Suốt tháng ở biển Rạng, ngày nào tôi cũng ăn vài con cá hồng biển nướng, mà ngày nào cũng thấy thèm thuồng/ tôi biết bác Dậu đã chọn cho chúng tôi những con cá hồng biển tươi ngon nhất, nướng nó có lẽ không chỉ bằng bí quyết, mà còn bằng tình yêu. Nhờ món cá hồng biển nướng của bác Dậu, mà tôi đã bơi qua chương biển một cách đầy hứng khởi.
Xin cảm ơn Mr Jack - người đã hiệu đính phần từ ngữ tiếng Anh/ và giáo sư Hà đã hiệu đính phần từ ngữ tiếng Pháp.
Tôi xin cảm ơn đạo diễn Vũ đã gửi đầy đủ vé mời xem những bộ phim hay nhất trong thời gian qua/ đạo diễn Vũ cũng là người gửi tặng tôi những đĩa phim hay nhất được chuyển thể từ tiểu thuyết lừng danh nhất. Tôi kính phục đạo diễn Fracois Girard đã làm phim từ cuốn tiểu thuyết Silk (Lụa) của nhà văn Alessandro Baricco/ tôi không nghĩ đây là cuốn tiểu thuyết có thể chuyển thể thành phim. Tôi cũng hi vọng một ai đó sẽ làm phim từ cuốn tiểu thuyết của tôi, mặc dù tôi chủ trương viết tiểu thuyết không để phục vụ cho phim. Đạo diễn Vũ hứa sẽ làm phim từ cuốn sách này/ tôi cho đây là một vinh dự. 
Xin cảm ơn John - thầy giáo thể dục của tôi. Từ khi được John hướng dẫn, tôi biết mình đã sai nhiều chỗ. Trước đây tôi thường chạy bộ, nhưng bây giờ tôi biết chạy bộ không thôi chưa đủ mà còn cần thêm những động tác nhào lộn/ hoặc trồng cây chuối. Nói chung, khi đã thuần thục một món thì nên triển khai thêm vài món. John đã cho tôi nhận thức một điều quan trọng: tránh lặp đi lặp lại mãi cái gì đã quen. Điều này không chỉ có ý nghĩa trong thể thao mà còn trong văn chương.
Xin cảm ơn EM. Tôi muốn viết hoa chữ EM. EM là người phụ nữ xinh đẹp và dịu dàng mà Thượng đế đã trao tặng cho tôi. “Người đàn ông của em”- EM luôn gọi tôi như thế. Có lẽ cho đến khi chết, tôi cũng không thể lý giải vì sao một người xinh đẹp, thông minh, giàu sang như EM lại tình nguyện yêu tôi - một nhà văn quèn. EM không chỉ là chỗ dựa tinh thần, mà còn là nhà tài trợ của tôi. Chính EM là người thuê John (vốn là thầy dạy thể dục cho em khi em tham gia Bước nhảy hoàn vũ) dạy thể dục cho tôi/ đưa tôi đến làm quen với đạo diễn Việt kiều Vũ/ mời Jack hiệu đính tiếng Anh/ thuê giáo sư Hà hiệu đính tiếng Pháp. EM thích biển và cá biển/ Kun là người được EM tặng vé máy bay nếu muốn ra Hà Nội đọc tiểu thuyết/ nhà phê bình Hà Mã là nhân viên cũ của bố EM/ giáo sư Nguyễn là người từng theo đuổi EM, bại trận thì theo đuổi triết học/ chỉ có chị Cả là EM không quen, mà tôi cũng chưa một lần gặp mặt.
Chị Cả là một nick name trên mạng/ mà thú thật tôi cũng không biết chị có phải là chị hay không?
Để cuốn sách này được đến tay bạn đọc, tôi cũng xin cảm ơn…

                                                                      T.N.T

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Friedrich A. von Hayek - Đường về nô lệ (Bản rút gọn, kì cuối)



 

Tại sao những kẻ xấu xa nhất lại leo cao nhất? 

Không nghi ngờ gì rằng hệ thống “phát xít” ở Anh hay ở Mĩ sẽ khác rất xa mô hình của Ý hay Đức; không nghi ngờ gì rằng nếu việc chuyển hoá được thực hiện một cách phi bạo lực thì chúng ta có thể hi vọng có được những nhà lãnh đạo tử tế hơn. Nhưng điều đó cũng không có nghĩa là hệ thống phát xít của chúng ta sẽ hoàn toàn khác hay sẽ dễ chịu hơn nguyên mẫu của chúng. Có nhiều lí do để tin rằng những đặc điểm xấu xa nhất của các hệ thống toàn trị nói trên là những hiện tượng mà chế độ toàn trị trước sau gì cũng sẽ tạo ra.

Khi một chính khách dân chủ quyết định lập kế hoạch cho toàn bộ các hoạt động kinh tế thì ông ta sẽ phải đối mặt với một trong hai lựa chọn: chấp nhận chế độ độc tài hay từ bỏ kế hoạch, còn nhà lãnh đạo toàn trị thì phải giẫm lên đạo đức truyền thống nếu không muốn thất bại. Đấy là lí do vì sao trong các xã hội có khuynh hướng toàn trị, những kẻ vô liêm sỉ thường dễ thành công hơn. Không hiểu điều đó là không hiểu được khoảng cách mênh mông, có thể nói một trời một vực, giữa chế độ toàn trị và nền văn minh cá nhân chủ nghĩa phương Tây.

Lãnh tụ toàn trị phải tập hợp xung quanh ông ta những kẻ tự nguyện phục tùng cái kỉ luật mà họ sẽ dùng vũ lực áp đặt cho toàn bộ nhân dân. Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể được đưa vào thực tiễn bằng những biện pháp mà đa số những người xã hội chủ nghĩa phản đối, đấy chính là bài học của nhiều nhà cải cách xã hội trong quá khứ. Các đảng xã hội cổ điển hoạt động trong khuôn khổ của các lí tưởng dân chủ; họ không có tính tàn nhẫn cần thiết để thực thi các nhiệm vụ mà họ đã chọn. Điều đặc biệt là cả ở Đức lẫn ở Ý, chủ nghĩa phát xít đã thành công sau khi các đảng xã hội từ chối nhận lãnh trách nhiệm lãnh đạo chính phủ. Họ không muốn áp dụng những biện pháp vì đã nhận ra khả năng phát triển của chúng. Họ vẫn hi vọng vào phép màu rằng đa số sẽ đồng ý về một kế hoạch tổ chức toàn bộ xã hội. Những người khác thì đã học được bài học rằng trong xã hội được kế hoạch hoá vấn đề không còn là đa số sẽ đồng ý cái gì mà là vấn đề nhóm lớn nhất là nhóm nào, chỉ cần các thành viên của nó đồng ý là đủ để hình thành đường lối thống nhất cho tất cả mọi công việc.

Có ba lí do vì sao cái nhóm có đông thành viên, với những quan điểm giống nhau, lại không được hình thành từ những người tử tế nhất mà thường là từ những phần tử xấu xa nhất của xã hội.

Thứ nhất, trình độ học vấn và tri thức càng cao thì thị hiếu và quan điểm càng phân hoá. Nếu chúng ta muốn tìm một sự thống nhất cao về quan điểm thì chúng ta phải hạ thấp tiêu chuẩn đạo đức và tri thức của chúng ta xuống ngang hàng với những bản năng nguyên thuỷ. Điều đó không có nghĩa là đa số dân chúng có tiêu chuẩn đạo đức thấp; điều đó chỉ có nghĩa là cái nhóm gồm nhiều thành viên với những chuẩn mực giá trị giống nhau là những người có tiêu chuẩn đạo đức thấp.

Thứ hai, vì nhóm đó chưa đủ lớn để làm nghiêng cán cân sang phía lãnh tụ, ông ta sẽ phải tăng thêm số thành viên của mình bằng cách kết nạp thật nhiều người vào cùng tín điều với ông ta. Ông ta phải tìm được sự ủng hộ của những kẻ dễ bảo và cả tin, những kẻ không có niềm tin riêng mà sẵn sàng chấp nhận các hệ thống giá trị sẵn có miễn là được rót vào tai họ một cách liên tục. Chính những kẻ với các tư tưởng mù mờ và được hình thành một cách dở dang, những kẻ dễ dao động, những kẻ mà tình cảm và niềm đam mê sẵn sàng bùng nổ bất cứ lúc nào lại là thành phần đông nhất của các đảng toàn trị.

Thứ ba, để có thể đưa những người ủng hộ thành một tập thể cố kết, người lãnh đạo phải lợi dụng những nhược điểm của con người. Dường như người ta dễ dàng đồng thuận về những vấn đề có tính tiêu cực như chí căm thù giặc, lòng ghen tức với những kẻ khá giả, hơn là về những nhiệm vụ có tính tích cực.

Sự tương phản giữa “chúng ta” và “chúng nó” luôn bị những kẻ săn tìm lòng trung thành của quần chúng lợi dụng. Kẻ thù có thể là bên trong như “Do Thái” ở Đức hay “Kulak” ở Nga, hay kẻ thù bên ngoài. Trong mọi trường hợp, kĩ thuật này bao giờ cũng giành được ưu thế ở chỗ nó làm cho lãnh tụ có nhiều tự do hành động hơn bất kì chương trình mang tính tích cực nào khác.

Trong tổ chức hay đảng toàn trị, muốn thăng tiến thì phải dám làm những việc bất nhân. Trong đạo đức học cá nhân chủ nghĩa, nguyên tắc mục đích biện minh cho phương tiện được coi là sự phủ nhận mọi tiêu chuẩn đạo đức thì trong đạo đức học của chủ nghĩa tập thể lại trở thành nguyên tắc tối thượng. Một người theo chủ nghĩa tập thể kiên định phải sẵn sàng làm tất cả mọi việc nếu đó là việc “có ích cho tất cả mọi người” vì đối với anh ta đấy là tiêu chuẩn hành động duy nhất.

Một khi chấp nhận rằng cá nhân chỉ là phương tiện phục vụ cho một thực thể cao quí hơn, gọi là xã hội hay quốc gia cũng được, thì phần lớn các đặc trưng của chủ nghĩa toàn trị mà chúng ta kinh tởm tất yếu sẽ xuất hiện. Từ quan điểm của chủ nghĩa tập thể thì sự bất dung và đàn áp tàn bạo, dối trá và theo dõi, coi thường cuộc sống và hạnh phúc cá nhân là những việc thuộc về bản chất và không thể tránh được. Những hành động làm chúng ta ghê tởm như bắn giết con tin, giết người già hay người ốm được coi là những việc thích hợp; di dân cưỡng bức và bắt lưu đầy hàng trăm ngàn người trở thành biện pháp chính trị được hầu như tất cả mọi nguời, trừ các nạn nhân, ủng hộ.

Muốn trở thành người có ích cho sự vận hành của nhà nước toàn trị, để đạt được mục đích, con người phải sẵn sàng bước qua mọi nguyên tắc đạo đức mà anh ta từng biết. Trong bộ máy toàn trị những kẻ tàn nhẫn và vô liêm sỉ luôn giành được cơ hội tốt. Gestapo hay các ban quản lí các trại tập trung, Bộ tuyên truyền hay SA hoặc SS (hoặc những cơ quan tương ứng của Nga) không phải là chỗ thể hiện tình cảm của con người. Nhưng đấy chính là con đường tiến thân trong ban lãnh đạo của nhà nước toàn trị.

Nhà kinh tế học nổi tiếng người Mĩ, giáo sư Frank H. Knight, đã nhận xét rất đúng rằng chính quyền của nhà nước theo chế độ tập thể “dù muốn hay không cũng phải làm những việc đó: xác suất những người nắm chính quyền là các cá nhân không thích giữ và thể hiện quyền lực cũng ngang bằng với xác suất một người cực kì dịu dàng muốn làm công việc của cai đội trong trại nô lệ”.

Một vấn đề nữa cần phải làm rõ: Chủ nghĩa tập thể nghĩa là sự cáo chung của chân lí. Muốn cho hệ thống toàn trị hoạt động hữu hiệu thì việc mọi người đều buộc phải làm vì mục đích do những kẻ nắm quyền lựa chọn vẫn chưa đủ; điều quan trọng là người ta phải coi đấy là mục đích của chính mình. Chỉ có thể thực hiện được điều đó bằng tuyên truyền và kiểm soát toàn bộ các nguồn thông tin.

Cách tốt nhất để người dân chấp nhận những giá trị mà họ phải phục vụ là thuyết phục họ rằng đấy là những giá trị họ vẫn luôn luôn tin tưởng, chỉ có điều trước đây họ đã hiểu chưa thật đúng mà thôi. Và biện pháp tốt nhất là gán cho các ngôn từ cũ những ý nghĩa hoàn toàn mới. Điều đó đã trở thành đặc điểm chủ yếu của bầu không khí trí tuệ của chế độ toàn trị, làm cho những người quan sát hời hợt phải lúng túng: ngôn ngữ bị xuyên tạc, ý nghĩa của từ ngữ bị biến dạng.

Bị xuyên tạc nhiều nhất chính là từ “tự do”, một từ được các nhà nước toàn trị, cũng như mọi quốc gia khác, sử dụng thường xuyên. Trên thực tế, có thể nói rằng bất cứ khi nào tự do, theo nghĩa chúng ta hiểu, bị xâm hại thì bao giờ người ta cũng hứa hẹn cho nhân dân một nền tự do mới. Có những người ủng hộ kế hoạch hoá còn hứa cho nền “tự do tập thể”, nhưng đây cũng là khái niệm đáng ngờ như bất cứ khái niệm nào phát ra từ miệng các chính khách toàn trị. “Tự do tập thể” không phải là tự do của từng thành viên trong xã hội mà là quyền tự do của người lập kế hoạch, được phép làm với xã hội tất cả những gì hắn muốn. Đây là tự do trong tay kẻ có quyền lực tuyệt đối

Tuyệt đại đa số rất dễ bị tước đoạt khả năng suy nghĩ độc lập. Nhưng thiểu số những người còn giữ được khả năng phê bình cũng phải bị bịt miệng. Việc phê bình công khai hay thậm chí ngay cả những biểu hiện của sự nghi ngờ cũng bị ngăn chặn vì chúng có thể làm suy giảm sự ủng hộ chế độ. Như Sidney và Beatrice Webb viết về thái độ trong các doanh nghiệp Nga: “Khi công việc đang được tiến hành, bất kì biểu hiện công khai nào về sự ngờ vực về khả năng thành công của kế hoạch đều bị coi là sự bất trung, thậm chí phản bội vì nó có thể ảnh hưởng đến ý chí và nỗ lực của những người khác”.

Việc kiểm soát còn được thực hiện cả trong những lĩnh vực có vẻ như chẳng liên quan gì đến chính trị. Thí dụ như thuyết tương đối bị coi là “Cuộc tấn công của bọn Do Thái vào cơ sở của vật lí học Thiên chúa giáo và Bắc Âu” và vì nó “mâu thuẫn với chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa Marx”. Mọi hoạt động đều phải xuất phát từ mục tiêu tự giác của xã hội. Không thể có những hoạt động tự phát, thiếu lãnh đạo vì nó có thể tạo ra kết quả không thể dự đoán và không được kế hoạch trù liệu.

Nguyên tắc này còn bao trùm lên cả các trò chơi cũng như giải trí. Tôi xin mời bạn đọc đoán xem những người chơi cờ chính thức kêu gọi: "Chúng ta phải chấm dứt một lần và vĩnh viễn thái độ trung lập của môn cờ vua. Chúng ta phải lên án một lần và vĩnh viễn công thức ‘cờ chỉ là cờ’” này ở đâu.

Điều đáng lo ngại nhất là, thái độ khinh thường tự do trí thức không phải là việc chỉ xảy ra sau khi chế độ toàn trị được thành lập mà nó hiện diện trong những người tin vào chủ nghĩa tập thể trên khắp thế giới. Sự đàn áp tàn bạo nhất cũng vẫn được bỏ qua nếu nó được thực hiện nhân danh chủ nghĩa xã hội. Người ta công khai cổ vũ cho thái độ bất dung đối với những tư tưởng khác biệt. Bi kịch của tư tưởng tập thể là ở chỗ nó bắt đầu bằng việc coi lí trí là tối thượng nhưng lại kết thúc bằng việc tiêu diệt lí trí.

Một khía cạnh nữa của sự thay đổi các giá trị đạo đức do chủ nghĩa tập thể tạo ra cũng đáng phải suy nghĩ. Những đức tính tốt mà người Anglo-Saxon có quyền tự hào và nhờ chúng mà họ được coi là những người ưu tú lại đang càng ngày càng mất giá ở Anh và Mĩ. Đấy là những tính tốt như tính độc lập và tự lực cánh sinh, sáng kiến và trách nhiệm cá nhân, tin tưởng vào các hoạt động thiện nguyện, không can thiệp vào công việc của người khác và tinh thần khoan dung đối với sự khác biệt, tinh thần nghi ngờ lành mạnh đối với quyền lực và chính quyền.

Hầu như tất cả các truyền thống và thiết chế hun đúc nên bản sắc dân tộc và toàn bộ môi trường đạo đức của nước Anh và nước Mĩ đang bị chủ nghĩa tập thể và xu hướng tập quyền hàng ngày hàng giờ phá huỷ.

Kế hoạch hoá và pháp trị

Việc tuân thủ một trong những nguyên tắc cổ xưa vĩ đại nhất gọi là Pháp trị là điểm khác biệt rõ ràng nhất giữa một đất nước tự do với một đất nước nằm dưới quyền chính phủ độc đoán. Bỏ qua các chi tiết kĩ thuật, điều này có nghĩa là mọi hoạt động của chính phủ đều phải tuân thủ các nguyên tắc đã được ấn định và tuyên bố từ trước – các nguyên tắc này cho phép người ta dự đoán được một cách chắc chắn cách thức chính phủ sử dụng lực lượng cưỡng bức trong những hoàn cảnh cho trước và lập kế hoạch cho công việc của cá nhân trên cơ sở những hiểu biết như thế. Như vậy là, trong khuôn khổ của luật chơi đã biết, cá nhân - được tự do theo đuổi các mục tiêu của mình - chắc chắn rằng chính phủ sẽ không sử dụng quyền lực một cách tuỳ tiện nhằm cản trở các nỗ lực của anh ta.

Kế hoạch hoá kinh tế xã hội chủ nghĩa chắc chắn sẽ làm hoàn toàn ngược lại. Cơ quan lập kế hoạch không thể tự buộc mình vào những qui tắc chung, tức là những qui tắc có thể ngăn chặn sự độc đoán.

Khi chính phủ phải quyết định cần nuôi bao nhiêu lợn hay cần cho bao nhiêu xe bus chạy, mỏ than nào cần được khai thác, hoặc đôi giầy giá bao nhiêu, tất cả quyết định đó đều không có giá trị trong thời gian dài. Chắc chắn chúng phải phụ thuộc vào hoàn cảnh của từng giai đoạn, và trong khi ra quyết định người ta phải cân nhắc quyền lợi của các cá nhân và các nhóm khác nhau.

Cuối cùng, một người nào đó sẽ phải quyết định lợi ích của ai là quan trọng hơn và quan điểm của người đó sẽ phải trở thành một phần của luật pháp. Do đó, ai cũng thấy rằng nhà nước càng “lập nhiều kế hoạch” thì lại càng gây khó khăn cho các cá nhân.

Sự khác nhau giữa hai loại luật là rất quan trọng. Khác nhau như việc cung cấp những tấm biển chỉ đường và chỉ cho người ta phải đi theo đường nào.

Hơn nữa, chính phủ hoạt động theo kế hoạch từ trung ương thì không thể là một chính phủ khách quan. Lúc đó nhà nước sẽ không còn là một phần của bộ máy công lợi có chức năng giúp cho các cá nhân phát triển các khả năng của mình một cách đầy đủ nhất, mà sẽ trở thành một thể chế cố tình gây ra bất công trong việc thoả mãn nhu cầu của nhân dân, cho phép một người được làm cái mà người khác bị cấm. Một số người sẽ được giầu có đến mức nào, một số người khác thì được phép có những gì, nhất định sẽ trở thành luật.

Pháp trị là chính phủ không tạo ra đặc quyền pháp lí cho một nhóm người cụ thể nào đó, pháp trị cũng là bảo đảm sự công bằng trước pháp luật, tức là khác hẳn với chính phủ độc đoán. Điều đặc biệt là những người xã hội chủ nghĩa (và cả Quốc xã) luôn luôn phản đối nền tư pháp “chỉ” mang tính hình thức, họ cũng phản đối việc luật không ghi rõ một số người sẽ được sung túc đến mức nào, họ còn đòi “xã hội hoá luật pháp” và tấn công sự độc lập của các quan toà.

Trong xã hội kế hoạch hoá, luật pháp phải hợp thức hoá các hành động độc đoán. Nếu luật pháp khẳng định rằng một cơ quan hay nhà chức trách nào đó có thể làm bất kì cái gì họ muốn thì cơ quan ấy hoặc nhà chức trách ấy làm bất kì cái gì cũng đều là hợp pháp cả, nhưng đấy không phải là pháp trị. Khi đã trao cho chính phủ quyền lực vô giới hạn thì ngay nguyên tắc độc đoán nhất cũng có thể được luật hoá; và bằng cách đó, nền dân chủ có thể biến thành chế độ độc tài hoàn hảo nhất có thể tưởng tượng được.

Chỉ trong giai đoạn tự do, pháp trị mới được người ta tự giác thúc đẩy và đấy cũng là thành quả vĩ đại nhất của giai đoạn này. Đấy là hiện thân về mặt pháp lí của tự do. Như Immanuel Kant từng nói: “Theo luật chứ không theo người, đấy chính là tự do”.

Kế hoạch hoá là “tất yếu”?

Rõ ràng là hiện nay ít người ủng hộ kế hoạch hoá còn có thể vênh vang nói rằng kế hoạch hoá tập trung là điều đáng mơ ước nữa. Hiện nay đa phần những người đó đều khẳng định rằng chúng ta buộc phải làm như thế vì hoàn cảnh nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta.

Người ta thường lập luận rằng sự phức tạp của nền văn minh hiện đại đã tạo ra những vấn đề mới mà chúng ta chỉ có thể hi vọng giải quyết bằng kế hoạch hoá tập trung mà thôi. Nói như thế là hoàn toàn không hiểu sự vận hành của cạnh tranh. Chính sự phức tạp của hoàn cảnh hiện thời lại làm cho cạnh tranh trở thành biện pháp điều phối công việc phù hợp nhất.

Nếu các điều kiện đơn giản đến mức một cá nhân hay cơ quan nào đó có thể theo dõi được tất cả các sự kiện thì kiểm soát một cách hiệu quả hay kế hoạch hoá không phải là việc khó. Nhưng nếu phải tính đến nhiều tác nhân và là các tác nhân phức tạp thì không một trung tâm nào có thể theo dõi được. Các điều kiện cung cầu của các loại hàng hoá khác nhau thay đổi thường xuyên, không một trung tâm nào có thể nhận thức hết hoặc có thể giải quyết ngay được.

Nhờ cạnh tranh – ngoài ra không trật tự kinh tế nào có thể làm được - hệ thống giá cả sẽ tự động ghi lại tất cả các dữ liệu tương ứng. Doanh nhân, bằng cách quan sát sự vận động của giá cả, giống như người kĩ sư quan sát sự vận hành của các bánh răng, có thể điều chính hoạt động của anh ta cho phù hợp với hoạt động của các doanh nhân khác.

So với phương pháp giải quyết các vấn đề kinh tế một cách phi tập trung cộng với việc điều phối tự động thông qua giá cả thì phương pháp quản lí tập trung tỏ ra vụng về, thô thiển và có tầm hoạt động giới hạn đến khó tin. Không hề phóng đại khi nói rằng nếu chúng ta phải dựa vào kế hoạch hoá tập trung để phát triển thì hệ thống công nghiệp không thể nào đạt được mức độ phức tạp và uyển chuyển như hiện nay. Nền văn minh hiện đại có thể xuất hiện chính là vì nó không được xây dựng một cách có ý thức. Việc phân công lao động phức tạp đến mức không thể nào lập kế hoạch được. Kinh tế càng phức tạp thì việc quản lí tập trung càng không cần thiết, chúng ta càng phải sử dụng kĩ thuật cạnh tranh chứ không được lệ thuộc vào việc kiểm soát có ý thức.

Người ta còn lập luận rằng sự thay đổi công nghệ làm cho cạnh tranh trở thành bất khả vì các lĩnh vực không ngừng tăng lên và chúng ta buộc phải lựa chọn giữa việc kiểm soát sản xuất bởi các công ty độc quyền tư nhân hoặc sự quản lí của chính phủ. Sự gia tăng độc quyền dường như là hậu quả của chính sách mà nhiều nước theo đuổi chứ không hẳn là hậu quả tất yếu của phát triển công nghệ. Vấn đề này được Hội đồng Kinh tế Quốc gia Lâm thời nghiên cứu một cách toàn diện (thật khó có thể nghi ngờ rằng đây là một nghiên cứu quá thiên về phía tự do). Hội đồng đã rút ra kết luận như sau:

“Hiệu quả vượt trội của các xí nghiệp lớn chưa được chứng minh; các lợi thế được cho là có thể huỷ hoại cạnh tranh đã không được tìm thấy trong nhiều lĩnh vực… Kết luận rằng lợi thế của sản xuất qui mô lớn nhất định sẽ dẫn đến tiêu diệt cạnh tranh là không thể chấp nhận được… Hơn nữa, cần phải ghi nhận rằng độc quyền thường là kết quả của những thoả thuận ngầm và được thúc đẩy bởi chính sách của chính phủ. Khi các thoả thuận này bị coi là phi pháp và khi chính sách được xem xét lại một cách toàn diện thì có thể tái lập những điều kiện cần thiết cho cạnh tranh phát triển.”

Bất kì ai từng chứng kiến sự nhiệt tình của các doanh nhân độc quyền trong việc tìm kiếm sự ủng hộ của nhà nước nhằm làm cho sự kiểm soát của họ hữu hiệu hơn sẽ không còn một chút nghi ngờ nào về “tính tất” yếu của quá trình phát triển như thế. Ở Mĩ, chính sách bảo hộ quá mức đã giúp cho nạn độc quyền phát triển. Ở Đức, từ năm 1878 nhà nước đã chủ động thi hành chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của các cartel. Chính ở Đức, nhờ sự giúp đỡ của nhà nước, người ta đã tiến hành một thí nghiệm vĩ đại đầu tiên trong việc “lập kế hoạch một cách khoa học” và “tổ chức một cách tự giác nền công nghiệp” dẫn đến việc hình thành các công ty độc quyền vô cùng to lớn. Thủ tiêu cạnh tranh là chính sách có tính toán ở Đức, được thực hiện nhân danh lí tưởng mà nay chúng ta gọi là kế hoạch hoá.

Chính sách của hai nhóm đầy quyền lực, tức là tư bản có tổ chức và lao động có tổ chức vốn ủng hộ tổ chức độc quyền trong lĩnh vực công nghiệp, chứa đựng một nguy cơ lớn. Gần đây các tổ chức độc quyền phát triển mạnh là do sự hợp tác của tư bản có tổ chức và lao động có tổ chức, nơi một vài nhóm người lao động được ưu tiên ưu đãi chia nhau lợi nhuận độc quyền làm thiệt hai cho cộng đồng và đặc biệt là thiệt hại cho những người lao động trong các ngành công nghiệp thiếu tổ chức. Mặc dù vậy, không có lí do gì để tin rằng xu hướng này là tất yếu.

Xu hướng chuyển sang kế hoạch hoá là kết quả của một hành động có chủ đích. Không có nhu cầu ngoại tại nào buộc chúng ta phải làm như thế.

Kế hoạch hoá có làm chúng ta bớt lo không?

Phần lớn những người ủng hộ kế hoạch hoá, từng xem xét một cách nghiêm túc khía cạnh thực tiễn của nhiệm vụ, không hề nghi ngờ gì rằng nền kinh tế được quản lí (tập trung - ND) nhất định phải vận hành theo phương pháp độc tài, rằng hệ thống phức tạp của các hoạt động liên kết chằng chịt với nhau phải nằm dưới sự chỉ đạo của các chuyên gia, viên tổng tư lệnh phải có quyền lực tuyệt đối, hành động của ông ta không thể bị giới hạn bởi các thủ tục dân chủ. May là họ còn an ủi chúng ta rằng việc quản lí độc tài như thế “chỉ” liên quan đến lĩnh vực kinh tế mà thôi. Lời bảo đảm đó thường đi kèm với ám chỉ rằng bằng cách từ bỏ tự do trong những lĩnh vực không quan trọng, chúng ta sẽ được tự do theo đuổi những giá trị cao cả hơn. Trên cơ sở đó, những người vốn ghét cay ghét đắng độc tài chính trị lại thường lên tiếng đòi hỏi độc tài trong lĩnh vực kinh tế.

Các lí lẽ được sử dụng nhắm vào những bản năng cao quí nhất của chúng ta. Nếu kế hoạch hoá thực sự làm cho chúng ta không còn phải bận tâm với những lo lắng vụn vặt, làm cho đời sống vật chất của chúng ta trở thành đơn giản, nhưng chúng ta lại có một đời sống tinh thần cao thì ai nỡ coi thường lí tưởng như thế?

Đáng tiếc là mục đích kinh tế không bao giờ tách rời khỏi các mục đích khác của đời sống. Cái trong ngôn ngữ bình thường mà ta vẫn gọi một cách sai lầm là “động cơ kinh tế” chỉ có nghĩa là ước muốn giành lấy những cơ hội tiềm tàng, giành lấy những điều kiện cho những mục tiêu khác mà thôi. Chúng ta muốn kiếm tiền là vì tiền cho chúng ta quyền được lựa chọn trong việc thụ hưởng thành quả lao động của mình – tiền ta ta cứ tiêu.

Vì thu nhập có hạn nên chúng ta cảm thấy những hạn chế do sự nghèo khó tương đối đè trên vai mình và nhiều người sinh ra căm thù tiền bạc, coi tiền là biểu tượng của sự hạn chế. Trên thực tế, tiền là công cụ vĩ đại nhất của tự do mà con người từng phát minh. Trong xã hội hiện nay, chính tiền đã mở ra cho người nghèo những khả năng lựa chọn to lớn, mà trước đây vài thế kỉ ngay cả người giầu cũng không có.

Để hiểu được giá trị thật sự của đồng tiền phải tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra trên thực tế, nếu những người xã hội chủ nghĩa đề nghị: dùng “khuyến khích phi kinh tế” thay cho “động cơ kinh tế”. Nếu mọi phần thưởng, thay vì được trao bằng tiền lại được trao bằng danh hiệu, đặc lợi hay quyền lực, nhà ở hay lương thực thực phẩm tốt hơn, quyền được đi du lịch hay đi học thì điều đó có nghĩa là người nhận không có quyền lựa chọn và bất cứ người quyết định thưởng nào cũng có quyền xác định không chỉ số lượng mà cả cách thức hưởng thụ phần thưởng đó.

Cái gọi là tự do kinh tế mà những người ủng hộ kế hoạch hoá hứa hẹn, chỉ có nghĩa là chúng ta không còn phải tự giải quyết các vấn đề kinh tế của mình nữa và những lựa chọn khó khăn đi kèm với nó được những người khác làm hộ cho chúng ta. Trong thời đại ngày nay, chúng ta gần như phụ thuộc hoàn toàn vào những phương tiện do người khác sản xuất ra, cho nên kế hoạch hoá kinh tế sẽ kéo theo sự quản lí gần như toàn bộ đời sống của chúng ta. Khó có lĩnh vực nào, từ những nhu cầu sơ đẳng cho đến quan hệ của chúng ta với bạn bè, người thân, từ việc làm cho đến cách nghỉ ngơi của chúng ta thoát khỏi được “sự kiểm soát có ý thức” của những lập kế hoạch.

Quyền lực của các cơ quan lập kế hoạch đối với đời sống riêng tư của chúng ta sẽ không hề giảm ngay cả khi người tiêu dùng, trên danh nghĩa, được tự do sử dụng thu nhập của mình vì chính quyền vẫn kiểm soát sản xuất.

Quyền tự do lựa chọn trong xã hội cạnh tranh dựa trên sự kiện là nếu một người nào đó không chịu đáp ứng nhu cầu của chúng ta thì chúng ta có thể quay sang người khác. Nhưng đứng trước một nhà sản xuất độc quyền thì chúng ta chỉ còn hi vọng vào lòng tốt của ông ta mà thôi. Và như thế, khi nhà chức trách quản lí toàn bộ nền kinh tế sẽ trở thành một người độc quyền lớn nhất mà ta có thể tưởng tượng được.

Cơ quan này sẽ có toàn quyền quyết định ta được nhận cái gì và với điều kiện nào. Cơ quan này không chỉ quyết định loại hàng hoá và dịch vụ được cung cấp mà còn cả số lượng của chúng nữa; nó có thể quản lí cả việc phân phối giữa các địa phương và nhóm xã hội và nếu muốn, nó có thể thực hiện chính sách phân biệt đối xử một cách tuỳ tiện nhất. Không phải quan điểm của chúng ta mà quan điểm của một người nào đó về việc ta phải thích hay không thích cái gì sẽ quyết định ta được nhận cái gì.

Nếu là người sản xuất, chúng ta còn bị nhà chức trách nhào nặn và “hướng dẫn” kĩ lưỡng hơn nữa. Đa số chúng ta sử dụng phần thời gian trong cuộc đời để làm việc và công việc của chúng ta thường quyết định nơi cư trú và những người xung quanh ta. Do đó, đối với hạnh phúc của chúng ta, tự do lựa chọn công việc có thể còn quan trọng hơn cả quyền tự do sử dụng thu nhập trong thời gian rảnh rỗi.

Ngay cả trong những thế giới tốt đẹp nhất, quyền tự do này vẫn có giới hạn. Chỉ một ít người có thể tự coi là thực sự có tự do trong việc lựa chọn công việc. Nhưng vấn đề là chúng ta có thể lựa chọn, vấn đề là chúng ta không bị trói chặt vào công việc đã được người khác lựa chọn cho ta và nếu ta không thể chịu đựng được công việc đó nữa, hoặc nếu ta thích công việc khác thì những người có khả năng vẫn có thể, với một cái giá phải trả nào đó, tìm được công việc thích hợp hơn. Không có gì đau khổ hơn là nhận thức được rằng dù cố gắng đến đâu chúng ta cũng không thể thay đổi được điều kiện sống của mình. Làm một bánh răng trong một cỗ máy đã là khổ, nhưng còn khổ hơn bội phần nếu ta không thể bỏ đi, nếu ta bị cột chặt vào một chỗ, cột chặt vào những người lãnh đạo do người khác lựa chọn cho ta.

Trong thế giới ngày nay, còn phải làm nhiều nữa thì mới mong cải thiện được cơ hội lựa chọn của người dân. Nhưng “kế hoạch hoá” chắc chắn sẽ đi theo hướng ngược lại. Kế hoạch phải kiểm soát số người gia nhập vào những ngành nghề khác nhau hay kiểm soát mức lương hoặc kiểm soát cả hai. Việc kiểm soát và hạn chế như thế thường là những biện pháp được thi hành đầu tiên trong hầu như tất cả các trường hợp kế hoạch hoá mà ta đã biết.

Trong xã hội cạnh tranh có thể mua được mọi thứ. Đôi khi với giá cực kì cao. Muốn được cái này thì phải hi sinh cái kia. Nhưng cái mà người ta đưa ra không phải là tự do lựa chọn mà là mệnh lệnh và cấm đoán mà ta nhất định phải tuân theo.

Việc người ta muốn giải thoát khỏi những sự lựa chọn đầy đau đớn mà hoàn cảnh khó khăn đặt lên vai họ là điều dễ hiểu. Nhưng ít người muốn người khác lựa chọn hộ. Họ chỉ muốn không cần phải lựa chọn gì hết mà thôi. Và vì thế mọi người đều sẵn sàng tin rằng lựa chọn không phải là vấn đề tất yếu, chúng ta phải lựa chọn là vì hệ thống kinh tế buộc chúng ta phải làm như thế. Sự thật là, chính các vấn đề kinh tế đã làm cho người dân phẫn nộ.

Nhưng người ta lại thích bị lừa rằng vấn đề kinh tế không tồn tại trên thực tế. Họ còn tiếp tục bị lừa thêm bởi lời khẳng định rằng nền kinh tế kế hoạch hoá sẽ tạo ra nhiều sản phẩm hơn hệ thống cạnh tranh. Lời khẳng định này đang ngày càng bị nhiều nhà nghiên cứu bác bỏ. Hiện nay, ngay cả những nhà kinh tế học theo xu hướng xã hội chủ nghĩa cũng chỉ còn hi vọng rằng nền kinh tế kế hoạch hoá sẽ có hiệu quả ngang với hệ thống cạnh tranh mà thôi. Họ tiếp tục bảo vệ kế hoạch hoá vì hệ thống này sẽ bảo đảm việc phân phối sản phẩm một cách công bằng hơn. Nếu chúng ta muốn quyết định một cách có ý thức ai được nhận cái gì thì chúng ta buộc phải lập kế hoạch cho toàn bộ nền kinh tế, đấy là vấn đề không cần tranh cãi.

Vấn đề chỉ còn là liệu cái giá mà ta phải trả cho việc thực hiện lí tưởng của ai đó về sự công bằng có phải là sự bất bình và áp bức sẽ khủng khiếp hơn cả thời “các lực lượng kinh tế được chơi một cách tự do” - vốn đang bị phê phán dữ dội - hay không mà thôi.

Chính phủ sẽ thực hiện việc phân phối sản phẩm theo nguyên tắc nào? Có một câu hỏi chung cuộc cho biết bao nhiêu vấn đề sẽ xuất hiện hay không?

Chỉ có một nguyên tắc chung, nguyên tắc đơn giản này sẽ đưa ra câu trả lời: sự bình đẳng tuyệt đối cho tất cả mọi người. Nếu đấy là mục đích thì ít nhất nó cũng làm cho ý tưởng mù mờ về phân phối công bằng có một nội dung rõ ràng. Nhưng vấn đề là dân chúng đâu có muốn một sự công bằng cơ học như thế, còn chủ nghĩa xã hội thì không hứa công bằng tuyệt đối mà chỉ hứa “công bằng hơn” mà thôi.

Trên thực tế, công thức này chẳng giải đáp được bất kì câu hỏi nào. Công thức đó chẳng giúp được gì, chúng ta vẫn phải quyết định, trong từng trường hợp cụ thể, mức độ cống hiến của từng người hoặc từng nhóm khác nhau. Điều duy nhất nó có thể nói được: đấy là lấy của người giầu, càng nhiều càng tốt. Nhưng khi phải chia “quả thực” thì vấn đề lại xuất hiện, cứ như thể chưa ai biết công thức “công bằng hơn” nghĩa là thế nào vậy.

Người ta thường nói không có tự do kinh tế thì tự do chính trị cũng chẳng có giá trị gì. Đúng như thế, nhưng theo nghĩa ngược lại với mệnh đề mà những người ủng hộ kế hoạch hoá thường nói. Tự do kinh tế - vốn là tiền đề cho mọi quyền tự do khác - không phải là tự do khỏi những lo lắng về kinh tế mà những người xã hội chủ nghĩa hứa hẹn với chúng ta, nhưng họ lại thường quên nói rằng họ cũng giải phóng chúng ta khỏi quyền lựa chọn nữa. Tự do kinh tế là tự do hoạt động kinh tế, và cùng với quyền lựa chọn là trách nhiệm và rủi ro.

Hai kiểu an toàn

Giống như cái “tự do kinh tế” giả mạo đã nói đến bên trên, sự an toàn về kinh tế cũng thường được coi là điều kiện tối cần thiết để đạt được tự do thực sự. Theo một nghĩa nào đó thì điều đó vừa đúng vừa quan trọng nữa. Những người không tự tin rằng họ có thể tự nuôi sống được mình thường không có tư duy độc lập và không có cá tính mạnh.

Nhưng thực ra an toàn cũng có hai loại. Loại an toàn thứ nhất là tin chắc rằng mọi người đều được nhận những thứ tối cần thiết để tồn tại; loại an toàn thứ hai là sự bảo đảm cho một lối sống, một địa vị tương đối mà một người hoặc một nhóm người được hưởng so với những người khác.

Muốn giữ được tự do nói chung thì không có lí do gì mà một xã hội đã đạt đến mức độ thịnh vượng như xã hội chúng ta lại không bảo đảm cho tất cả mọi người loại an toàn thứ nhất, nghĩa là bảo đảm cho mọi người một lượng thức ăn tối thiểu, nhà ở và quần áo để bảo đảm sức khỏe. Không có lí do gì mà chính phủ lại không giúp tổ chức một hệ thống an sinh xã hội rộng khắp nhằm trợ giúp cho những người gặp hoạn nạn mà ít người có thể vượt qua được. Kế hoạch hoá để bảo vệ loại an toàn thứ hai là có hại cho tự do. Đấy là kế hoạch được thiết kế nhằm bảo đảm cho một số người hoặc nhóm người tránh được thất thu.

Càng ngày càng rõ rằng nếu điều kiện kinh doanh trong một lĩnh vực nào đó được cải thiện nhưng các thành viên của nó lại được phép đẩy những người khác ra để họ được hưởng toàn bộ lợi thế dưới dạng tiền lương hay lợi nhuận cao hơn thì những người làm việc trong các ngành mà mức cầu suy giảm sẽ chẳng có chỗ mà đi và bất kì sự thay đổi nào cũng đều làm cho số người thất nghiệp gia tăng. Không nghi ngờ gì rằng số người thất nghiệp và sự thiếu tin tưởng vào tương lai trong mấy chục năm lại đây phần lớn là do những biện pháp bảo đảm như thế tạo ra.

Chỉ có những người từng trải qua mới thấy hết được tình cảnh tuyệt vọng của những người, trong cái xã hội đã trở thành xơ cứng như thế, bị đẩy ra bên ngoài những nghề nghiệp đã được bảo hộ. Chưa bao giờ một giai cấp lại bóc lột một giai cấp khác một cách dã man hơn là những người sản xuất đã thành đạt bóc lột những người sản xuất kém may mắn hơn. Đấy chính là kết quả của quá trình “điều tiết” cạnh tranh. Khó có thể tìm được khẩu hiệu gây ra nhiều tai hoạ hơn là lí tưởng về sự “ổn định” giá cả và tiền lương trong một số lĩnh vực nào đó, vì trong khi bảo đảm thu nhập cho một số người thì lại làm cho vị thế của những người khác càng bấp bênh thêm. Ở Anh và Mĩ sự ưu tiên, ưu đãi, đặc biệt là dưới hình thức “điều tiết” cạnh tranh, “ổn định” giá cả và tiền lương trong một số lĩnh vực đã ngày càng trở thành quan trọng. Nhưng bất cứ sự bảo đảm an toàn nào cho một nhóm cũng sẽ làm gia tăng sự mất an toàn của những nhóm khác. Nếu bạn bảo đảm cho một người nào đó một phần cố định của một cái bánh thì phần chia cho những người còn lại sẽ thay đổi còn nhiều hơn cả sự thay đổi của chính kích thước cái bánh. Và như vậy là yếu tố chủ yếu nhất của sự an toàn mà hệ thống cạnh tranh cung cấp, tức là sự đa dạng của cơ hội sẽ ngày càng giảm đi.

Những cố gắng nhằm bảo đảm sự an toàn bằng các biện pháp bảo hộ, được nhà nước ủng hộ, cùng với thời gian đã tạo ra trong xã hội những biến dạng nghiêm trọng - những biến dạng đủ loại mà Đức là nước dẫn đầu và những nước khác đã đi theo. Quá trình này còn được lí thuyết xã hội chủ nghĩa thúc đẩy hơn nữa: cố tình miệt thị tất cả các hoạt động có dính dáng với rủi ro kinh tế và lên án về mặt đạo đức đối với những khoản thu nhập xứng đáng để mạo hiểm nhưng chỉ một ít người thành công.

Chúng ta không thể trách các bạn trẻ khi họ thích được an toàn, được ăn lương hơn là mạo hiểm kinh doanh vì ngay từ khi còn bé họ đã được dạy rằng viên chức hưởng lương là nghề cao sang, bất vụ lợi và không ích kỉ như các doanh nhân. Thế hệ trẻ hiện nay đã lớn lên trong một thế giới mà cả trường học lẫn báo chí đều tìm cách thoá mạ tinh thần cạnh tranh thương mại, đều coi việc kiếm lời là vô luân, coi việc sử dụng 100 người lao động là bóc lột nhưng chỉ huy một số người tương đương lại là vinh dự. Những người già hơn có thể cho rằng nói thế là phóng đại, nhưng kinh nghiệm tiếp xúc hằng ngày với sinh viên của tôi cho thấy rằng việc tuyên truyền chống tư bản đã làm cho các giá trị của giới trẻ thay đổi và việc thay đổi giá trị đã diễn ra trước khi có những điều chỉnh trong các thiết chế. Vấn đề là liệu khi điều chỉnh các thiết chế cho phù hợp với những đòi hỏi mới, chúng ta có vô tình phá huỷ các giá trị mà chúng ta vẫn còn đánh giá cao hay không.

Như vậy là, chúng ta đang đối mặt với mâu thuẫn căn bản giữa hai kiểu tổ chức xã hội không đội trời chung, thường được mô tả như là thương mại và quân sự. Trong trường hợp thứ nhất, cá nhân được quyền lựa chọn và tự chịu rủi ro; trường hợp thứ hai, cá nhân được giải thoát khỏi cả hai. Trong quân đội, công việc và người công nhân đều do cấp trên chỉ định, đây là hệ thống duy nhất mà cá nhân được bảo đảm hoàn toàn về mặt kinh tế. Nhưng sự bảo đảm này lại gắn liền với những hạn chế về quyền tự do và hệ thống cấp bậc, nghĩa là sự an toàn của trại lính.

Trong xã hội đã quen với tự do, chắc chẳng có mấy người sẵn sàng đánh đổi sự an toàn với cái giá như thế. Nhưng chính sách đang được thực thi hiện nay sẽ nhanh chóng tạo ra những điều kiện mà ước muốn an toàn sẽ mạnh hơn tình yêu đối với tự do.

Nếu chúng ta không có ý định tiêu diệt quyền tự do cá nhân thì cạnh tranh phải được vận hành mà không gặp phải cản ngại nào. Cần làm tất cả để ai cũng được bảo đảm một mức mức sống tối thiểu, nhưng đồng thời xin được nói rằng tất cả những lời kêu gọi về đặc quyền an toàn của những giai cấp nhất định phải bị bãi bỏ, cũng xin loại bỏ ngay những lời biện hộ cho phép những nhóm nhất định ngăn cản những người mới chia sẻ lợi nhuận nhằm bảo đảm cho họ một lối sống đặc thù nào đó.

Dĩ nhiên là một sự đảm bảo thoả đáng dành cho những trường hợp thiếu thốn quá mức phải là một trong những mục tiêu chủ yếu của chính sách của chúng ta. Nhưng không có gì khủng khiếp hơn là cái mốt ca ngợi sự an toàn với cái giá phải trả là tự do của các “cây đa, cây đề” trong hàng ngũ trí thức. Điều quan trọng là chúng ta phải học lại để nhận chân sự thật rằng tự do có giá của nó và từng cá nhân phải sẵn sàng chấp nhận những hi sinh to lớn về vật chất để bảo vệ tự do.

Chúng ta phải tái khẳng định lại niềm tin và cũng là cơ sở của tư tưởng tự do trong các nước Anglo-Saxon, đã được Benjamin Franklin thể hiện trong một câu, có thể áp dụng cho từng cá nhân cũng như cho các dân tộc, như sau: “Người nào từ bỏ tự do thực sự để đổi lấy một ít an toàn tạm thời thì không xứng đáng được tự do, cũng chẳng xứng đáng được an toàn”.

Hướng tới một thế giới tốt đẹp hơn

Muốn xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn chúng ta phải có đủ dũng khí để làm một cuộc khởi đầu mới. Chúng ta phải dọn sạch những cản ngại mà con người đã dựng lên trong thời gian gần đây và phải giải phóng năng lượng sáng tạo trong từng cá nhân. Chúng ta phải tạo điều kiện có lợi cho sự tiến bộ chứ không phải có lợi cho “lập kế hoạch cho sự tiến bộ”. Những kẻ kêu gào “kế hoạch hoá” nhiều hơn nữa không phải là những người dũng cảm, những kẻ tuyên truyền “Trật tự mới” cũng chẳng làm gì khác hơn là bắt chước Hitler, tức là tiếp tục những xu hướng từng diễn ra suốt 40 năm qua. Trên thực tế, những kẻ kêu gọi kế hoạch hoá to mồm nhất lại là những kẻ chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất những tư tưởng đã phát động cuộc chiến tranh với biết bao những sự khủng khiếp mà nó gây ra cho chúng ta. Nguyên tắc dẫn đạo trong việc xây dựng một thế giới với những con người tự do phải là: Chính sách bảo đảm quyền tự do cá nhân là chính sách duy nhất đúng.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

27 bí quyết, thực sự rất hữu ích

Tùy Thi

Bạn có biết tổ tiên chúng ta đời xưa lưu lại bảo bối dưỡng sinh gì không?
1, Ăn no không gội đầu, đói không tắm. Rửa mặt nước lạnh, vừa đẹp vừa khỏe. Mồ hôi chưa khô, đừng  tắm nước lạnh.  Đánh răng nước ấm, chống ê chắc răng.
2, Ăn gạo có trấu, thức ăn có chất sơ. Nam không thể thiếu rau hẹ, nữ không thể thiếu ngó sen. Củ cải trắng, sống không tốt nhưng chín thì bổ. Ăn không quá no, no không nên nằm.
3, Dưỡng sinh là động, dưỡng tâm là tĩnh. Tâm không thanh tịnh, ưu tư vọng tưởng dễ nảy sinh. Tâm thần an bình, bệnh sao đến được. Nhắm mắt dưỡng thần, tĩnh tâm ích trí.
4, Dược bổ thực bổ, đừng quên tâm bổ. Coi tiền như cỏ, coi thân như bảo. khói hun cháy lửa, tốt nhất không ăn. Chiên dầu ngâm ướp, ít ăn thì tốt.
5, Cá thối tôm rữa, lấy mạng oan gia. Ăn mặc giữ ấm, nhất thân là xuân. Lạnh chớ chạm răng, nóng chớ chạm môi. Đồ chín mới ăn, nước chín mới uống.
6, Ăn nhiều rau quả, ít ăn đồ thịt. Ăn uống chừng mực, ngủ dậy đúng giờ. Đầu nên để lạnh, chân nên giữ ấm. Vui chơi biết đủ, không cầu an dật.
7, Dưỡng sinh là cần cù, dưỡng tâm là tĩnh tại.
8, Người đến tuổi già, thì phải rèn luyện, đi bộ chạy chậm, luyện công múa kiếm; đừng sợ giá lạnh, quét sạch sân nhà, hội họa thêm vui, tấm lòng rộng mở;
9, Nghe tiếng gà gáy, đừng cố nằm thêm, trồng hoa nuôi chim, đọc sách ngâm thơ; chơi cờ hát kịch, không ham phòng the, việc tư không nhớ, không chiếm lợi riêng.
10, Ẩm thực không tham, bữa tối ăn ít, khi ăn không nói, không nên hút thuốc; ít muối ít đường, không ăn quá mặn, ít ăn chất béo, cơm không quá nhiều;
11, Mỗi ngày ba bữa, thức ăn phù hợp, rau xanh hoa quả, ăn nhiều không sợ; đúng giờ đi ngủ, đến giờ thì dậy, nằm dậy nhẹ nhàng, không gấp không vội;
12, Uống rượu có độ, danh lợi chớ tham, chuyện thường không giận, tấm lòng phải rộng.
13, Tâm không bệnh, nên phòng trước, tâm lý tốt thân thể khỏe mạnh; tâm cân bằng, phải hiểu biết, cảm xúc ổn định bệnh tật ít;
14, Luyện thân thể, động cùng tĩnh, cuộc sống hài hòa tâm khỏe mạnh; phải thực dưỡng, no tám phần, tạng phủ nhẹ nhõm tự khai thông;
15, Người nóng giận, dễ già yếu, thổ lộ thích hợp người người vui; thưởng thức thư họa, bên suối thả câu, lựa chọn sở thích tự do chơi;
16, Dùng đầu óc, không mệt nhọc, bớt lo dưỡng tâm ít náo nhiệt; có quy luật, sức khỏe tốt, cuộc sống thường ngày phải hài hòa;
17, Tay vận động, tốt cho não, phòng ngừa bị lạnh và cảm cúm.
18, Mùa hè không ngủ trên đá, mùa thu không ngủ trên phản. Mùa xuân không hở rốn, mùa đông không che đầu. Ban ngày hoạt động, tối ngủ ít mơ.
19, Tối ngủ rửa chân, hơn uống thuốc bổ. Buổi tối mở cửa, hễ ngủ là say. Tham mát không chăn, không bệnh mới lạ.
20, Ngủ sớm dậy sớm, tinh thần sảng khoái, tham ngủ tham lạc, thêm bệnh giảm thọ. Tranh cãi buổi tối, ruột như sát muối.
21, Một ngày ăn một đầu heo, không bằng nằm ngủ ngáy trên giường.
22, Ba ngày ăn một con dê, không bằng rửa chân rồi mới lên giường.
23, Gối đầu chọn không đúng, càng ngủ người càng mệt. Tâm ngủ trước, người ngủ sau, ngủ vậy sẽ thành mỹ nhân.
24, Đầu hướng gió thổi, ấm áp dễ chịu, chân hướng gió thổi, hãy mời thầy lang.
25, Không ngủ nơi ngõ hẻm, độc nhất khi gió lùa.
26, Đi ngủ không thắp đèn, sáng dậy không chóng mặt.
27, Muốn ngủ để tấm thân nhẹ nhõm, chân không hướng tây đầu không hướng đông

Phần nhận xét hiển thị trên trang