Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2015

Bài tư liệu đọc riêng ( Người lạ xin đừng đọc )!

       Đó là tên bài báo Tuổi Trẻ, ghi cuộc trò chuyện Tuổi Trẻ với đạo diển Lê Phong Lan. Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc có nhiều điều để nói, nhưng ít được nói so với hai cuộc chiến tranh với Pháp và Mỹ, đạo diển Lê Phong Lan nói: “… thiếu sự tổng kết ngay trong nội bộ ta, thiếu những bàn luận công khai…”, như có những “bí mật” nào đó cần “giải mật”?!
      Từng chứng kiến những gì diển ra trước, trong và sau cuộc chiến tranh nầy trên biên giới An Giang – quê hương tôi, tôi cũng có những day dứt như đạo diển Lê Phong Lan. Bài viết dựa theo tập hồi ký và những bài viết khác của tôi từ hơn 10 năm trước về cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, qua trang viet-studies xin trao đổi với đạo diển Lê Phong Lan và những ai cùng quan tâm.
 NGUYỄN MINH ĐÀO (cựu chiến binh An Giang)
  Đất nước Chùa Tháp – “Ốc đảo hòa bình”, “đất thánh Việt Cộng”
      Lần giở trang sử sau Hiệp định Genève về Đông Dương năm 1954, đất nước Campuchia dưới triều đại Quốc vương Sihanouk theo đuổi đường lối đối ngoại độc lập, trung lập, người dân Campuchia sống trong hòa bình no ấm, trong khi hai nước láng giềng Việt Nam và Lào bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ leo thang ngày càng ác liệt, thế giới gọi Campuchia là “Ốc đảo hòa bình”.
     Là nước trung lập, nhưng Quốc vương Sihanouk hết lòng ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, như chấp nhận các lõm căn cứ lực lượng kháng chiến đứng chân ven biên giới, như cái gai trong mắt người Mỹ và chánh quyền Sài Gòn nhưng họ không làm gì được, gọi đó là “đất thánh Việt Cộng”. Campuchia còn chấp nhận miền Bắc Việt Nam nhập vũ khí từ Trung Quốc vào cảng Sihanoukville, mở đường vận chuyển đến rừng tràm Hà Tiên về miền Tây Nam Bộ…
 Ngày 18 tháng 3 năm 1970, nhân ông Hoàng Sihanouk đi nước ngoài, tướng Lon Nol đảo chánh lập chánh phủ thân Mỹ. Khi ấy, tôi công tác ở Văn phòng Tỉnh đội trú đóng Chòm vừng Nhơn Hội trên đất Campuchia sát biên giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa qua đời mấy tháng, nay đối mặt với tình thế lưỡng đầu thọ địch ai cũng lo buồn, trong khi đồn Nhơn Hội của quân đội Sài Gòn phát loa chĩa về hướng biên giới ra rả ngày đêm: “Hởi cán binh Việt cộng, Bác Hồ của các bạn không còn, Campuchia thay chánh phủ mới không chứa các bạn trên đất họ, quân lực Việt Nam Cộng hòa sẽ tấn công các bạn bất cứ lúc nào…”.
Trước ngày xảy ra cuộc đảo chánh ở Campuchia, đoàn cán bộ lãnh đạo tỉnh An Giang 7 người và 1 Phó bí thư Khu ủy Khu 8 cải trang đi công khai từ căn cứ Khu ủy ở Kiến Phong về An Giang trên đất Campuchia, đến đồn Prek Chey đối diện khu phố Long Bình huyện An Phú bị lính Campuchia bắt giữ, Tỉnh ủy cử người đến thương lượng trả một số vàng khá lớn để chuộc nhưng không thành. Không còn cách nào khác, Tỉnh đội tổ chức một phân đội tinh nhuệ tập kích chiếm đồn Prek Chey giải thoát những người bị bắt. Trận tập kích cố gắng hạn chế tối đa thương vong quân đồn trú, không bắt tù binh và lấy bất cứ thứ gì. Tiếp theo cuộc đảo chánh của tướng Lon Nol sau đó, đặt dấu chấm hết thời kỳ Campuchia thân thiện miền Bắc và lực lượng kháng chiến miền Nam Việt Nam.
 Vì sự sống còn của ta phải tiến đánh quân Lon Nol. Đồng thời giúp “bạn” xây dựng thực lực
        Để mở rộng địa bàn đứng chân bảo toàn lực lượng, tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ, Tỉnh ủy, Tỉnh đội buộc phải ra lệnh bộ đội địa phương tỉnh với 2 tiểu đoàn thiếu và các đại đội độc lập, đánh quân Lon Nol sâu trên đất Campuchia, quân ta tiến đến đâu quân Lon Nol đều bỏ chạy, làng mạc, phố phường nguyên vẹn, người dân làm ăn sinh sống bình thường, trong thời gian rất ngắn chiếm giử một vùng rộng lớn hai tỉnh Takeo và  Kandal, thu rất nhiều vũ khí, quân dụng.
 Việc ta đưa quân lên Campuchia đánh Lon Nol là bất khả kháng vì sự sống còn của ta. Để tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân Campuchia và “hợp pháp hóa” việc ta đưa quân lên nước bạn, Tỉnh ủy chỉ đạo dựng “ngọn cờ Sihanouk”, phát động nhân dân Campuchia đoàn kết cùng nhân dân Việt Nam chống Mỹ và Lon Nol, được nhân dân Campuchia đồng tình ủng hộ. Các cơ quan và bộ đội tỉnh di chuyển trú đóng sâu trên đất Camphuchia, đi đến đâu cũng được người dân chào đón nồng nhiệt như người thân. Sau đó khoảng một tháng, quân Sài Gòn tập trung binh lực mở các cuộc hành quân “Cửu Long 1”, “Cửu Long 2”… đánh phá căn cứ của ta ven biên giới và thọc sâu càn quét trên đất Campuchia, các cơ quan Tỉnh ủy, Tỉnh đội phải phân tán nhỏ ém trong các khu rừng chồi, lau sậy, hay vườn cây ăn trái tránh địch vô cùng vất vã trong nhiều ngày, may mà không bị tổn thất đáng kể về người, nhưng thiệt hại vật chất khá lớn, vũ khí chiến lợi phẫm thu của quân Lon Nol và cả của ta dự trử trước đó cất dấu ở căn cứ hậu cần trên đất Campuchia ven biên giới Vạt Lài, huyện An Phú bị quân Sài Gòn truy tìm phát hiện lấy hết! Trong khi đó các đơn vị bộ đội tỉnh tiến sâu trên đất Campuchia trên một trăm cây số, án ngử quân Lon Nol gần thị xã Takeo và Kandal, quân Sài Gòn không với tới, gần như đứng ngoài vòng chiến sự.
  Chiến tranh mở rộng sang Campuchia, nhưng Mỹ và quân Sài Gòn không cứu được quân Lon Nol. Khi ấy, những người cộng sản Campuchia (Khmer Đỏ) thực lực chưa có gì, cán bộ, bộ đội An Giang giúp “bạn” tổ chức bộ máy chánh quyền, đoàn thể và các lực lượng vũ trang. Riêng Tỉnh đội giúp “bạn” xây dựng mỗi tỉnh một tiểu đoàn bộ đội địa phương, huấn luyện và trang bị vủ khí đầy đủ.
 Cán bộ, bộ đội An Giang giúp “bạn” rất nhiệt tình, có hiệu quả mong “bạn” vững mạnh cùng ta đứng chung chiến hào chống Mỹ, vì lợi ích nhân dân hai nước. Lẽ ra “bạn” biết ơn sự giúp đỡ đó đối xử tốt với ta. Nhưng không, “bạn” dần dần lộ rỏ ý đồ chống ta, ngang nhiên nổ súng khiêu khích bộ đội, bắt thủ tiêu cán bộ, chiến sĩ ta đi công tác lẻ tẻ. Ở các cơ quan Tỉnh đội có 4, 5 cán bộ bị chúng bắt giết dã man như các anh Ba Kỳ Nam, Chín Bình Ton, Đình Trung, Bảy Sửu…! Đối với ta thì vậy, trong nội bộ chúng, Khmer Đỏ loại bỏ những cán bộ do ta đào tạo, hai tiểu đoàn tỉnh An Giang xây dựng giúp, vừa làm lể bàn giao xong ta quay đi, chúng tước vủ khí giải tán tức thì.
 Thái độ thù địch của Khmer Đỏ đối với ta bất cứ cán bộ, chiến sĩ nào ở An Giang có mặt trên chiến trường Campuchia lúc đó không lạ gì! Nhưng, các báo cáo của Tỉnh ủy, Tỉnh đội gởi Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 8 về những vụ Khmer Đỏ nổ súng khiêu khích bộ đội và giết hại cán bộ ta đều bị nghi ngờ không trung thực, cho rằng nếu có “va chạm” với “bạn”, xem lại có phải lỗi trước hết do cán bộ, chiến sĩ An Giang gây ra, nên “bạn” mới có phãn ứng như vậy!? Cho đến sau ngày giải phóng miền Nam 30 tháng 4 năm 1975, Khmer Đỏ bắn pháo, đưa quân đột kích bắn giết đồng bào, cướp phá một số xóm ấp ven biên giới An Giang, Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 8 vẫn chưa xác định Khmer Đỏ là kẻ thù, cho đó là những “xung đột lẻ tẻ”,  “địa phương, cục bộ” và rằng Khmer Đỏ dù có xấu vẫn là “bạn” của ta!! (?)
 Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam thảm khốc
Để chuẩn bị chiến tranh, Khmer Đỏ phát động binh lính và nhân dân Campuchia gieo rắc tư tưởng hận thù dân tộc với Việt Nam, ra sức xây dựng quân đội, sơ tán dân xa vùng biên giới, đào công sự, chiến hào, xây dựng trận địa pháo, trận địa xuất phát tấn công, tập trung binh lực áp sát biên giới… Mọi động thái đó diễn ra cách biên giới ta không xa nhưng ta không hay biết, cho đến đêm 30 tháng 4 năm 1977, Khmer đỏ mở cuộc tấn công đồng loạt toàn tuyến biên giới An Giang dài gần 100 km, mở màn cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam thảm khốc…! Các đồn biên phòng, bộ đội địa phương tỉnh, huyện, dân quân tự vệ vùng biên giới, nhờ sớm nhận diện mạo kẻ thù, đề cao cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, anh dũng đánh trả đẩy lùi các mũi tấn công của địch hạn chế tổn thất. Nhưng, không hiểu vì sao Khu ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 8 và Trung ương không đánh gía đúng bản chất phản động của Khmer Đỏ và kẻ đứng phía sau chúng, chủ quan mất cảnh giác, không có kế hoạch đối phó chiến tranh.
         Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, tôi nghe các vị lãnh đạo nói: Mỹ là tên đế quốc sừng sỏ ta còn đánh bại, từ nay không một tên xâm lược nào dám đụng đến Việt Nam…! Chủ trương sớm “ra quân” hằng vạn cán bộ, chiến sĩ và buông lõng công tác quốc phòng những năm đầu sau giải phóng, chứng minh sự khinh suất của Ban lãnh đạo cấp cao đất nước. Cho đến đêm “định mệnh” 30 tháng 4 năm 1977, khi khói lửa chiến tranh đổ xuống khắp vùng biên giới Tây Nam bị bất ngờ mới nhận mặt kẻ thù, điều quân, khiển tướng tổ chức chống đỡ trong thế bị động, lúng túng! Tỉnh ủy, Tỉnh đội An Giang dù quá hiểu rõ bản chất phản động của Khmer Đỏ từ những năm trước 1975, nhưng cũng không làm gì khác hơn là tổ chức phòng thủ thụ động trên tuyến biên giới tỉnh nhà, nên cũng rất bị động, lúng túng…!
 Giửa năm 1977, tôi là Phó chủ nhiệm Phòng chánh trị Bộ chỉ huy quân sự tỉnh (Tỉnh đội), nhận quyết định chuyển ngành sang Văn phòng tỉnh ủy làm cán bộ nghiên cứu phụ trách theo dõi khối Quân sự – an ninh; đặc biệt, theo dõi chiến sự chiến tranh biên giới Tây Nam đang leo thang ngày càng ác liệt phục vụ sự lãnh đạo của Tỉnh ủy.
 Suốt chặng đường dài 30 năm đánh giặc cứu nước đầy hy sinh gian khổ, đến ngày thắng lợi hoàn toàn 30 tháng 4 năm 1975, quân dân ta lại phải tiếp tục cầm súng chiến đấu bảo vệ biên giới hai đầu của Tổ quốc, tiếp tục hy sinh xương máu hàng vạn chiến sĩ, đồng bào và biết bao làng mạc, phố phường bị tàn phá…! Đây là cuộc chiến tranh “kỳ quái” giữa ta với người “đồng chí” Campuchia (Khmer Đỏ) và với người “đồng chí” phương Bắc “vĩ đại”.
 Những năm 1975 – 1979 quan hệ Việt Nam – Trung Quốc vốn là “đồng chí”, là “anh em như môi với răng” bổng trở thành kẻ thù của nhau, đến mức Trung Quốc xúi giục Khmer Đỏ gây chiến tranh biên giới Tây Nam chống ta và sau đó chính Trung Quốc đưa quân gây chiến tranh biên giới phía Bắc “dạy cho Việt Nam một bài học”! Hồi đó, nghe Đảng nói: Trung Quốc có “âm mưu bá quyền, bành trướng”, là  “kẻ thù trực tiếp của Việt Nam”, nhưng tôi cũng như không ít người khi ấy không hiểu ngọn nguồn vì sao như vậy. Sau nầy có điều kiện đọc các tài liệu tham khảo; trong đó có hồi ký của cựu Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trần Quang Cơ viết năm 2003 tôi tin là khách quan, chân thật.
Hồi ký có đoạn:
“…
“Là nhân chứng lịch sử và cũng là người trực tiếp tham gia các họat động ngoại giao nầy với tư cách là vụ trưởng vụ Bắc Mỹ – Bộ ngoại giao, trực tiếp tham gia đoàn đàm phán về bình thường hóa quan hệ với Mỹ ở Paris năm 1977, rồi ở Nữu ước năm1978, tôi thật sự đau xót vì ta đã bỏ lở mất cơ hội củng cố thế đứng của Việt Nam trong hòa bình để tập trung phát triển đất nước, sau bao năm chiến tranh…
  “Việc ta từ chối lời đề nghị “bình thường hóa quan hệ không điều kiện” của Mỹ, làm cao trước việc ASEAN ngỏ ý muốn Việt Nam tham gia tổ chức khu vực nầy, theo tôi, đã đưa lại những hệ quả vô cùng tai hại cho nhân dân và đất nước ta. Liệu Trung Quốc có dám tiếp tay cho bọn diệt chủng Polpot khiêu khích ta và có dám đánh ta năm 1979, nếu như Việt Nam sau chiến thắng 1975 có một chiến lược”thêm bạn bớt thù” thực sự cầu thị hơn? Việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ và gia nhập khối ASEAN mãi ngót 20 năm sau (1995) ta mới thực hiện được một cách khá chật vật”.
 Đây quả là sai lầm có tính chiến lược trong đối ngoại của Đảng sau năm 1975, đưa đất nước rơi vào thãm họa chiến tranh một lần nữa!
  Với trách nhiệm của mình, tôi theo dõi chiến sự qua báo cáo của Tỉnh đội và các huyện – thị biên giới, thỉnh thoảng tháp tùng các vị trong Ban Thường vụ tỉnh ủy, hoặc Tỉnh đội thị sát chiến trường tiếp xúc cán bộ, chiến sĩ nghe anh em báo cáo: Khmer Đỏ là kẻ cuồng tín, vốn là “bạn” và là “học trò” của ta, nên quá hiểu biết thủ đoạn chiến thuật của nhau, quân ta lại bố trí đồn, chốt cố định, bộc lộ lực lượng phòng ngự thụ động, Khmer Đỏ cơ động khi ẩn khi hiện… so đánh nhau với quân Sài Gòn khó khăn, ác liệt hơn nhiều! Cán bộ, chiến sĩ ta ở các đồn biên phòng, bộ đội địa phương tỉnh, huyện và dân quân tự vệ phải dàn quân chốt chặn ngày đêm trên tuyến biên giới, đối mặt với địch đánh trả hết đợt tấn công nầy đến đợt tấn công khác. Nhiều đồn, chốt bị địch đánh chiếm, ta đánh phản kích chiếm lại năm lần, bảy lượt, giành nhau từng bờ tre, ụ đất… Căng thẳng nhất là mùa nước năm 1978, toàn tuyến biên giới nước ngập mênh mông, quân ta phải đấp công sự nổi, ngày đêm sống và chiến đấu dưới tầm hỏa lực địch! Khó khăn, gian khổ cùng cực, thương vong quân ta tăng lên từng ngày, những cán bộ, chiến sĩ “gạo cội” bộ đội tỉnh sống sót sau cuộc chiến tranh với Mỹ hy sinh rất nhiều, trong đó có những đồng đội thân quen với tôi như Bé Tám, Tư Mưa, Sơn Bịch…! Dù hy sinh, gian khổ đến mấy, cán bộ, chiến sĩ các Lực lượng vũ trang An Giang động viên nhau quyết tâm bám trụ chiến đấu đến cùng, nhất định không rời bỏ trận địa vì trước mặt là kẻ thù, phía sau là đồng bào, là quê hương, đất nước ta không có chổ lùi…!
 Khmer Đỏ thảm sát dân xã Ba Chúc và vụ di dời dân Khmer Bảy Núi về tỉnh Hậu Giang (cũ)
          Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam thời gian không dài, nhưng tổn thất về người và của quân dân ta ở An Giang vô cùng to lớn, có hai sự kiện đau thương dù thời gian lùi xa, nhưng bất cứ ai chứng kiến nhớ lại không khỏi bồi hồi xúc động:
          Khi chiến tranh bùng phát, mặc dù có chủ trương ven tuyến biên giới sơ tán người già, phụ nử, trẻ con, nhưng khi Khmer Đỏ đánh vỡ tuyến phòng ngự của quân ta tràn vào chiếm Núi Tượng xã Ba Chúc mười ngày trong tháng 4 năm 1978 phần lớn dân vẫn không sơ tán, Khmer Đỏ gây ra vụ thãm sát kinh hoàng giết chết 3.157 người! Nghe những nạn nhân sống sót kể lại và xem các bức ảnh chụp sau khi quân ta đánh Khmer Đỏ rút chạy, xác người chết nằm chất chồng la liệt khắp nơi…! Tội ác giết người man rợ như thời trung cổ của bọn Khmer Đỏ “trời không dung đất không tha”!!
  Sự kiện đau thương nầy tôi nghĩ có phần trách nhiệm của đảng bộ, chánh quyền sở tại thiếu kiên quyết vận động, thuyết phục dân sơ tán. Ngày nay, các nhà viết sử trong tỉnh viết về sự kiện nầy chỉ đổ lỗi đồng bào xã Ba Chúc theo đạo Hiếu Nghĩa, vì “…mê tín nên nghe lời bọn xấu chạy vào chùa Phi Lai đọc kinh cứu mạng không chịu di tản…” (dự thảo Lịch sử tỉnh và huyện Tịnh Biên).
          Về vụ di dân Khmer Bảy Núi, gần cuối năm 1978 khi chiến tranh  đang diễn ra có lệnh Trung ương: An Giang phải di dời khẩn cấp toàn bộ dân Khmer Bảy Núi về định cư ở tỉnh Hậu Giang. Ban Thường vụ tỉnh ủy và Ủy ban Nhân dân tỉnh triệu tập cuộc họp khẩn gồm các vị lãnh đạo hai huyện Bảy Núi Tri Tôn, Tịnh Biên và các ngành tỉnh liên quan triển khai kế hoạch thi hành. Các vị lãnh đạo tỉnh giải thích: Theo chỉ đạo Trung ương, phải đưa dân Khmer Bảy Núi về các tỉnh phía sau, “để ngăn cắt không cho Khmer đỏ lợi dụng móc nối tổ chức chống ta”. Lý lẻ không thuyết phục, nhưng không ai dám có ý kiến khác!
         Việc di dời 70 ngàn dân Khmer với chặng đường dài hằng trăm cây số, trong khi phương tiện vận tải của ta, chủ yếu đường sông rất hạn hẹp vô cùng khó khăn! Nhưng, khó khăn nhất là giải thích, động viên dùng “con ngáo ộp” Khmer Đỏ hù dọa, thúc ép đồng bào chịu rời bỏ nhà cửa, ruộng đồng ra đi, vì họ nào muốn xa lìa nơi chôn nhao cắt rún, sinh cơ lập nghiệp từ bao đời trên mãnh đất nầy, trong khi hiểm họa Khmer Đỏ lúc  ấy không như cán bộ tuyên truyền. Có mấy lần tôi cùng các vị lãnh đạo Tỉnh ủy vào Bảy Núi kiểm tra, đôn đốc việc di dân, chứng kiến cảnh người dân than khóc, kể lể trước khi ra đi trong lòng vô cùng đau xót, thương cảm đồng bào, nhưng lệnh là phải thi hành không có chọn lựa nào khác!
 Thực hiện cuộc di dời dân không nhanh gọn như kế hoạch, kéo dài đến đầu năm 1979, quân ta mở chiến dịch tổng phản công tiến chiếm Phnom Phenh, đưa cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam lên đất Campuchia vẫn chưa xong. Khi ấy ông Nguyễn Văn Linh, Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách Dân vận đến An Giang, trong buổi làm việc với Ban Thường vụ tỉnh ủy, ông Lê Văn Nhung (Tư Việt Thắng), Bí thư tỉnh ủy báo cáo với ông Nguyễn Văn Linh việc di dân Khmer, đề nghị ông cho đình chỉ, vì ta đã đánh chiếm Phnom Phenh, hiểm họa Khmer Đỏ không còn. Ông Nguyễn Văn Linh viết điện mật gởi Bộ Chính trị chuyển đề nghị của Tỉnh ủy. Hôm sau, điện mật của Tổng bí thư Lê Duẩn gởi phúc đáp viết vắn tắt: “Việc nầy (di dân Khmer) do anh Sáu Thọ (Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách chỉ đạo chiến trường Tây Nam) chịu trách nhiệm, phải có ý kiến của anh…”! Thế là việc di dân vẫn phải tiếp tục…!
          Chủ trương di dời dân Khmer Bảy Núi về tỉnh Hậu Giang, xuất phát từ quan điểm không tin người Khmer Bảy Núi, cho rằng nếu không di dời vào sâu nội địa họ sẽ theo Khmer Đỏ chống ta, không phải để“bảo đãm an toàn, tính mạng, tài sản của dân” như các nhà viết sử trong tỉnh viết. Tôi nói chuyện nầy, những người cùng thời với tôi còn sống trong tỉnh không lạ gì.
  Việc đưa 70 ngàn dân Khmer an cư lập nghiệp từ bao đời ở Bảy Núi về vùng đất lạ, khác nào một cuộc “đi đày”, làm tiêu tan tài sản, nhà cửa, ruộng vườn, đảo lộn cuộc sống người dân, mà các vị lãnh đạo cấp cao đất nước khi ấy ra quyết định bất chấp hậu quả, bất chấp lòng dân và chẳng đếm xỉa ý kiến đảng bộ, chánh quyền địa phương! Khi còn đánh nhau với Khmer Đỏ ở biên giới thì nói sao cũng được, nhưng khi không còn đánh nhau vẫn phải tiếp tục cuộc di dời dân Khmer, thì các nhà viết sử giải thích sao đây?
 Sau khi đưa dân Khmer đi chuyến cuối cùng, khắp vùng Bảy Núi các phum sóc người Khmer nhà cửa, chùa chiền hoang tàn, xơ xác…! Mặc dù  tỉnh Hậu Giang tiếp nhận người Khmer tích cực giúp đỡ tạo điều kiện cho họ ổn định cuộc sống, nhưng không thể kham nỗi, phát sinh nhiều vấn đề ngoài tầm khả năng của tỉnh. Vã lại, người Khmer Bảy Núi ở vùng cao đã quen, nay đưa họ về sống ở đồng bằng không thích nghi, vài tháng sau toàn bộ 70 ngàn dân Khmer lục tục dắt díu nhau trở về Bảy Núi! Có ai nhìn thấy cảnh đồng bào tay xách nách mang, gánh gồng tài sản, lùa dắt trâu bò đi bộ hằng trăm cây số trở về phum sóc cũ, mới thấu hiểu cãm thương nổi gian nan, vất vả của đồng bào!! Về đến nơi chôn nhao cắt rún đồng bào trắng tay, không nhà ở, không có gì để ăn, đau ốm không thuốc chữa trị, trẻ em không có trường đi học… đồng bào lâm vào cảnh khốn cùng, chánh quyền phải cứu đói và giải quyết mọi hậu quả. Nhưng trong điều kiện khi ấy ngân sách tỉnh nghèo nàn, dù có cố gắng cũng chẳng thấm vào đâu, đồng bào phải tự xoay sở để sống còn…! Tôi nghe có không ít người chết đói và chết vì bịnh tật do thiếu đói, nhưng không biết bao nhiêu!?
  Kế hoạch di dân Khmer phá sản, ta không thể bắt đồng bào quay trở lại Hậu Giang, Tỉnh ủy báo cáo Trung ương, nhận điện chỉ đạo của Trung ương: Tỉnh phải bố trí lại nơi ở của đồng bào Khmer, tập trung ở từng khu vực sâu trong nội địa, không để ở rải rác các phum sóc cũ, nhất là các phum sóc gần biên giới, để “Khmer Đỏ không thể thâm nhập…”. Lại tiếp tục một chủ trương sai lầm, nhưng tỉnh không thực hiện được và Trung ương cũng lờ đi… !!
 Sau cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam
 Ngày 7/1/1979 quân ta đánh chiếm Phnom Penh, 3 ngày sau tôi tháp tùng đoàn cán bộ lãnh đạo Tỉnh ủy, Tỉnh đội An Giang thăm thị xã Tàkeo. Trên đường đi từ thị trấn Tịnh Biên theo Quốc lộ 2 lên thị xã Tàkeo, hai bên đường làng mạc, phố phường hoang vắng, đó đây xác người còn nằm phơi nắng giửa trời, từng tốp xe bọc thép, xe vận tải chở quân của ta chạy trên đường, hay cụm lại nghỉ ngơi dưới bóng râm. Thị xã Tà keo như một thành phố chết, không điện nước, không chợ búa, không bệnh viện, không trường học, nhà cửa, phố phường xơ xác, tiêu điều…Người dân từ đâu đó lục tục kéo về đi thất thểu trên đường, quần áo rách rưới toàn một màu đen…! Hai lần tôi đặt chân lên Campuchia, không như lần năm 1970 đánh Lon Nol người dân vui mừng chào đón “anh bộ đội Việt Nam” như người thân, lần này tôi cãm nhận trong ánh mắt họ như vừa vui, vừa e dè, ngại ngùng điều gì đó…! Tôi cùng đoàn đi xem nơi ở của Tà Mốc – tên đồ tể Khmer Đỏ và xem toà nhà của cố vấn Trung Quốc giửa hồ nước rộng như nhà thuỷ tạ.
 Theo sự phân công của Trung ương, An Giang chịu trách nhiệm tỉnh Tà keo, tổ chức đoàn chuyên gia chánh trị và đoàn chuyên gia quân sự mang phiên hiệu Đoàn 9905, cùng các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh tiếp tục truy quét tàn quân Khmer Đỏ và giúp bạn xây dựng lực lượng, phát triển kinh tế, xã hội…từ con số không kéo dài suốt 10 năm, tổn thất về người và của không đo đếm được!
 Cuộc kháng chiến chống Mỹ chấm dứt, hòa bình được lập lại, những tưởng bước vào thời kỳ xây dựng hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển kinh tế, người dân có cuộc sống ấm no hạnh phúc… Thế nhưng, niềm tin và hy vọng dần dần tan theo mây khói, do những chánh sách đối nội sai lầm của Đảng, làm chồng chất thêm khó khăn sau chiến tranh, nhân dân nghèo đói, cùng với sai lầm trong đối ngoại, đất nước bị bao vây cấm vận và rơi vào thãm họa chiến tranh một lần nữa với hai người “đồng chí” láng giềng…!
 Những sự thật cần biết
Đạo diển Lê Phong Lan mong muốn cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam được “giải mật”, nhưng qua những gì tôi biết, tuy chỉ trong phạm vi địa phương cũng đủ nói lên tất cả, tôi thấy không có gì bí mật, có điều người dân không dám nói và Đảng không muốn nói, hay nói không đúng sự thật, thành ra chuyện không bí mật thành bí mật.
       Bộ phim tài liệu của đạo diển Lê Phong Lan phát sóng trên kênh HTV9, với tên “Biên giới Tây Nam – cuộc chiến bắt buộc”. Gọi đây là “cuộc chiến bắt buộc” là chính xác, vì Khmer Đỏ vô cớ xăm phạm biên giới Tây Nam nước ta, buộc ta phải đánh trả tự vệ và tổng phản công đánh chiếm Phom-Phenh, để loại trừ hiểm hoạ Khmer Đỏ cho đất nước. Sau đó, không thể không giúp những người Khmer trong nhóm Hunsen, Heng Samrin…ly khai Khmer Đỏ, họ với hai bàn tay trắng như Khmer Đỏ năm 1970, ta hết lòng hết sức giúp họ từng bước phát triển trưởng thành. Điều quan trọng là giúp họ nhằm xây dựng một thể chế chánh trị thân thiện với ta, để bảo đãm sự bình  yên lâu dài vùng biên cương này của Tổ quốc.
        Nói “cuộc chiến bắt buộc” là đúng, dù Khmer Đỏ thực hiện chánh sách diệt chủng với người dân của chúng, nhưng nếu không động chạm đến biên giới lãnh thổ nước ta, thì liệu ta có đưa quân đánh chúng phải chịu “sa lầy” hao người tốn của trong 10 năm, còn mang tiếng “xâm lược” không? Theo tôi là không! Nên nhớ, thời điểm ấy tình cảnh nước ta “rối như nồi canh hẹ”, giải quyết những vấn đề trong nước và ngoài nước của ta đã hết hơi hết sức, còn đâu lo chuyện “ăn cơm nhà vát tù và hàng tổng”. Làm gì có chuyện tự dưng đưa “bộ đội tình nguyện Việt Nam làm nghĩa vụ quốc tế cao cả trên nước bạn”, “cứu nhân dân Campuchia thoát hoạ diệt chủng Khmer Đỏ”.
 Bài phát biểu của Chủ tịch Quốc hội Campuchia Heng Samrin tại lể kỷ niệm 35 năm ngày chiến thắng chế độ diệt chủng Khmer Đỏ tại Hà Nội ngày 5/1 ông nói: “Chỉ có đất nước Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã tự nguyện đưa con cháu và những người thân yêu của mình đến giúp giải phóng và cứu tính mạng của người dân Campuchia trong lúc vô vàn nguy nan…”. Đại diện cho người dân Campuchia ông phải nói như vậy và nói như vậy là đúng, nếu ta không tiêu diệt Khmer Đỏ thì làm gì có đất nước Campuchia ngày nay, nhưng đó chỉ phản ánh một phần sự thật lịch sử, chưa phải căn nguyên việc ta can thiệp vào Campuchia.
        Đạo diển Lê Phong Lan nói: “…sau cuộc chiến Mậu Thân 1968, khi một phần quân đội của chúng ta bị đánh dạt qua biên giới Campuchia, lập căn cứ bên đó thì nhiều khu tập kết vũ khí, đạn dược của chúng ta bị Khmer Đỏ tấn công, giết người và cướp đi hết”. Sự thật là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ từ sau Đồng khởi năm 1960, cho đến Lon Nol đảo chánh ở Campuchia năm 1970, lực lượng kháng chiến các tỉnh ven biên giới giáp Campuchia, kể cả của Miền (R), khi nào bị quân Mỹ và Sài Gòn càn quét, đánh phá gặp khó khăn thì thường chạy sang trú ẩn ven biên giới trên đất Campuchia trong thời gian nhất định hoặc lâu dài, kể cả xây dựng căn cứ hậu cần ở đó, không phải chỉ đến sau trận Mậu Thân 1968. Và, như   tôi viết ở trên, năm 1970 khi ta buộc phải đưa quân lên Campuchia đánh Lon Nol, cộng sản Campuchia (Khmer Đỏ) thực lực chưa có gì, chúng không có khả năng và cũng chưa ra mặt chống ta, nên không có chuyện tấn công giết người và cướp vũ khí của ta khi ấy.
Báo Tuổi Trẻ nêu câu hỏi: “… tại sao Khmer Đỏ  lại cố ý kích động sự thù hằn giửa hai dân tộc Việt Nam và Campuchia?” và đạo diển Lê Phong Lan hỏi: “Đằng sau cuộc chiến nầy là ai?” .
Như tôi viết ở trên, năm 1970 bất đắc dĩ ta đưa quân lên Campuchia đánh Lon Nol vì sự sống còn của ta và giúp Khmer Đỏ dần dần xây dựng phát triển thực lực “đủ lông đủ cánh”, thì cũng dần dần Khmer Đỏ bộc lộ dã tâm chống Việt Nam, cho đến ngày 30/4/1977 ồ ạt đưa quân tấn công toàn tuyến biên giới Tây Nam nước ta. Và, kẻ đằng sau Khmer Đỏ chính là Trung Quốc, không có Trung Quốc Khmer Đỏ không dám liều lĩnh gây chiến tranh biên giới chống ta với qui mô chừng ấy, nhưng Trung Quốc nhúng “bàn tay lông lá” của họ vào nắm Khmer Đỏ từ lúc nào và vì sao Trung Quốc xúi giục Khmer Đỏ chống ta và sau đó xua quân gây chiến tranh biên giới phía Bắc “dạy cho Việt Nam một bài học”, cho đến sau khi kết thúc hai cuộc chiến tranh nầy một thời gian khá dài, Trung Quốc còn tiếp tục “bảo trợ” Khmer Đỏ, đấu tranh giử ghế chúng ở Liên hiệp quốc, làm cho cộng đồng quốc tế ngộ nhận “Việt Nam xâm lược Campuchia”, phạm vi bài viết nầy tôi chưa nói được.
       Trả lời câu hỏi của báo Tuổi Trẻ, đạo diển Lê Phong Lan nói: “Để lấy lòng dân và tập trung quyền lực thì kích động thù hằn dân tộc và gây chiến là biện pháp đơn giản nhất…”. Ý kiến nầy tôi xin trao đổi làm rỏ thêm:
       Quê hương An Giang của tôi là vùng biên giới giáp Campuchia, thuở nhỏ tôi đã biết người dân hai nước ở hai bên biên giới quan hệ gần gũi như người láng giềng; trong kháng chiến chống Mỹ tôi từng sống cùng đồng chí, đồng đội của tôi ở vùng biên giới trên đất Campuchia, người dân Campuchia rất có cảm tình với chúng tôi, nếu không chúng tôi không thể sống yên ổn ở đó và những năm tháng đánh quân Lon Nol tôi cũng có mặt, chúng tôi rất hiểu tấm lòng người dân Campuchia với Việt Nam, chỉ có một bộ phận nhỏ người Campuchia nhẹ dạ, cực đoan bị thế lực phản động trong nước và nước ngoài, sau nầy là Khmer Đỏ tuyên tuyền lôi kéo theo chúng chống Việt Nam, chứ đa số người dân Campuchia rất thân thiện với Việt Nam, Khmer Đỏ xây dựng quân đội chuẩn bị chiến tranh chống ta hàng vạn quân, nhưng chắc chắn không phải tất cả đều tự nguyện theo chúng chống Việt Nam. Khmer Đỏ hoặc thế lực nào khác ngày xưa, hay phe đối lập Sam Rainsy ngày nay ở Campuchia muốn chống Việt Nam bao giờ chúng cũng giở luận điệu tuyên truyền moi móc chuyện lịch sử xa xưa, kích động hận thù dân tộc rằng “Việt Nam chiếm đất Campuchia…”, nhưng hiệu quả luận điệu ấy không như chúng mong muốn.
         Tôi đồng ý ý kiến đạo diễn Lê Phong Lan: “…Lịch sử là cái đã qua, nhưng chúng ta có thể học hỏi nhiều từ lịch sử cho hôm nay và mai sau…”. Và, đã là lịch sử thì phải khách quan, chân thật, che dấu hay “vo tròn, bóp méo” sự thật lịch sử là có tội con cháu mai sau./-
                                                    
   Tháng 01 năm 2014
Nhân kỷ niệm 35 năm kết thúc chiến tranh biên giới Tây Nam
                                                N.M.Đ

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thay vì truy tố về tội danh “Giết người” theo Điều 93 BLHS là có dấu hiệu nương nhẹ tội phạm, chưa tương xứng mức nghiêm trọng của vụ án

THƯỢNG ÚY CÔNG AN BỊ ĐỒNG NGHIỆP ĐÁNH CHẾT

19:51 ngày 12 tháng 01 năm 2015
TPO – Biết anh Biên đang ở trụ sở Công an phường nên Linh đến đòi tiền. Anh Biên không trả mà còn đuổi Linh. Thấy vậy, Linh tung chân đá trúng phần hàm mặt bên trái anh Biên.


Trụ sở Công an phường Đức Thắng – nơi xảy ra vụ việc. Ảnh: Tuấn Nguyễn

Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an TP Hà Nội vừa chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội đề nghị truy tố Chu Ngọc Linh (SN 1988, trú tại phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, nguyên cán bộ Công an phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm) về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 104 BLHS.
Nạn nhân vụ án là Thượng úy Nguyễn Xuân Biên (SN 1983, trú tại phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, cán bộ công an phường Đức Thắng).
Tại cơ quan điều tra, Linh khai giữa mình và anh Biên không có mâu thuẫn, thỉnh thoảng hai người có vay mượn tiền của nhau nhưng đều thanh toán sòng phẳng. Gần đây, anh Biên có mượn Linh tiền nhưng không có giấy tờ biên nhận. Linh đòi nhiều lần nhưng anh Biên chưa trả.
Ngày 15/7/2014, biết anh Biên đang ở trụ sở Công an phường Đức Thắng nên Linh đi xe máy đến đòi tiền.
Khi đến nơi, thấy anh Biên đang ngồi ăn giữa phòng ngủ, Linh lên tiếng đòi tiền. Tuy nhiên, anh Biên quát: “Đi ra”. Ngay lập tức, Linh dùng chân phải đá vòng cung trúng phần hàm mặt bên trái anh Biên, làm nạn nhân ưỡn ngửa ra đằng sau ghế.
Thấy có va chạm, một số cán bộ Công an phường Đức Thắng chạy đến can ngăn. Lúc này, mặt anh Biên đã tím tái, người lịm đi, gọi không phản ứng. Nạn nhân sau đó được đưa đi cấp cứu. Đến 20h30’ ngày 16/7/2014, Biên tử vong tại bệnh viện.
Ngày 17/7/2014, Cơ quan CSĐT – Công an TP. Hà Nội ra Quyết định Khởi tố vụ án, Khởi tố bị can đối với Chu Ngọc Linh về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 104 BLHS.
Theo kết luận điều tra, nguyên nhân dẫn đến tử vong của Thượng úy Biên là do chảy máu não, phù não, tụt hạnh nhân tiểu não vì chấn thương sọ não kín.
Sau khi nhận được Kết luận điều tra số 474 KLĐT/PC44-Đ3, gia đình Thượng úy Nguyễn Xuân Biên đã làm đơn khiếu nại gửi Công an TP. Hà Nội, Viện KSND TP. Hà Nội đề nghị xem xét lại tội danh đối với hung thủ Chu Ngọc Linh.
Theo đại diện gia đình thượng úy Nguyễn Xuân Biên, việc Chu Ngọc Linh chỉ bị khởi tố, đề nghị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 104 BLHS, thay vì truy tố về tội danh “Giết người” theo Điều 93 BLHS là có dấu hiệu nương nhẹ tội phạm, chưa tương xứng mức nghiêm trọng của vụ án.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trứng Người chứ không phải trứng Vịt đâu nha!

Dịch vụ đẻ thuê săn trứng của nữ sinh viên đẹp, học giỏi
Các cơ sở cung cấp dịch vụ đẻ thuê tại Trung Quốc muốn mua trứng của những nữ sinh viên đẹp và có chỉ số thông minh cao tại những trường đại học danh tiếng.

Tại một công ty môi giới đẻ thuê ở thành phố Thượng Hải, Trung Quốc, một phụ nữ mang họ Zhang trong phòng dịch vụ khách hàng nói rằng công ty đang tìm kiếm những phụ nữ trẻ, đẹp, trí tuệ cao hiến trứng. Mỗi người hiến trứng sẽ nhận khoản thù lao từ 6.000 tới 8.000 nhân dân tệ (tương đương 865 tới 1.287 USD). Họ gọi khoản thù lao ấy là "phụ cấp dinh dưỡng".

"Việc hiến trứng không gây tổn hại cho sức khỏe, trong khi người hiến trứng sẽ giúp nhiều cặp vợ chồng không thể có con vì những lý do nào đó. Đây là một sự hợp tác mà hai bên đều hưởng lợi. Quá trình kiểm tra sức khỏe và lấy trứng sẽ diễn ra ở các bệnh viện công", China Daily dẫn lời Zhang.

Theo Zhang, phần lớn khách hàng yêu cầu người hiến trứng phải có chiều cao trên 160 cm và làn da trắng.

"Chúng tôi sẽ giữ bí mật mọi thông tin liên quan tới người hiến trứng", cô nói thêm.

Mặc dù Zhang khẳng định công ty của cô cung cấp dịch vụ đẻ thuê, nhận trứng và tinh trùng trong 3 năm qua và thậm chí có cả cơ sở y tế riêng, song họ vẫn không thể đảm bảo an toàn cho người hiến. Ngoài ra, những người hiến trứng sẽ không thể khiếu nại nếu sự việc bất thường xảy ra, bởi họ không ký bất kỳ hợp đồng nào với công ty.

Báo Tin tức Bắc Kinh cho hay, tại thành phố Bắc Kinh, hoạt động mua, bán trứng của nữ sinh viên từ các trường đại học danh tiếng cũng tồn tại ở chợ đen. Khách hàng thường trả cho bên môi giới từ 40.000 tới 80.000 nhân dân tệ. Nhưng người hiến trứng chỉ nhận một khoản thù lao nhỏ vì các bên trung gian hưởng phần lớn khoản tiền của khách hàng.

Các trung gian môi giới dán những tờ quảng cáo trên đường phố hay bảng thông báo trực tuyến của các trường đại học. Mạng Internet cùng là công cụ liên lạc chính của người hiến trứng và những người môi giới. Khách hàng thường yêu cầu người môi giới cho họ gặp người hiến trứng trước khi quá trình lấy trứng diễn ra. Nếu quá trình hiến trứng diễn ra ở chợ đen, pháp luật sẽ không thể bảo vệ người hiến trứng.

Vào năm 2006, Ủy ban Y tế Quốc gia và Kế hoạch hóa gia đình ban hành một quy định về hành vi hiến trứng. Theo quy định của họ, chỉ những phụ nữ từng thụ tinh nhân tạo mới được phép hiến trứng thừa của họ cho người khác.

Luật pháp Trung Quốc quy định trứng từ một người hiến chỉ có thể được cung cấp cho tối đa 5 phụ nữ đã kết hôn. Phụ nữ độc thân không thuộc nhóm đối tượng có thể nhận trứng của người khác.

Kim Cương

http://news.zing.vn/Dich-vu-de-thue-san-trung-cua-nu-sinh-vien-dep-hoc-gioi-post501036.html
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khâm phục Trung Quốc: Tham vọng thâu tóm Mỹ Latinh

Khâm phục dân tộc và tầng lớp lãnh đạo Trung Quốc. Họ có rất nhiều người thực sự làm việc vì lợi ích của đất nước, của cộng đồng, của người dân. Càng lên làm lãnh đạo cấp cao, họ càng tâm huyết làm việc vì nước,  vì dân. Nhờ vậy đất nước Trung Quốc đã phát triển rất nhanh trong suốt 35 năm qua (1978-2014); cộng đồng dân Trung Quốc ở đâu cũng đoàn kết, kể cả ở các nước tự do như Mỹ, Pháp, Thụy Sĩ..., vì họ có lòng tin ở người cầm trịch. Đừng tin những thông tin xuyên tạc, nói xấu về Trung Quốc trên phương tiện truyền thông ở các nước phương Tây kiểu như đánh giá của tổ chức American Enterprise Institute trong bài này.

Trung Quốc tham vọng thâu tóm Mỹ Latinh
Trong giao dịch với Trung Quốc, kiến cũng có thể trở thành voi, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến số liệu. Mới đây, Trung Quốc vừa công bố một khoản đầu tư khủng 250 tỷ USD vào Nam Mỹ. Đằng sau con số khủng này, không những có rất nhiều vấn đề chưa được sáng tỏ, mà nó còn cho thấy những kết luận vội vàng và đơn giản là không đúng sự thực sau khi thẩm tra sâu sát.

Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro (phải) sánh bước cùng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong khi cùng nhau duyệt đội lễ nghinh tiếp tại Đại Lễ Đường Nhân Dân ở Bắc Kinh, ngày 7 tháng 1 năm 2015 (Andy Wong/ Getty Image)



Đương nhiên, 250 tỷ USD là một con số khá lớn, nhưng hầu hết được phân bổ dưới hình thức vốn vay và đầu tư cơ sở hạ tầng trải dài trong suốt 10 năm. Như vậy, điều đáng nói là chúng ta chỉ còn lại 25 tỷ USD/năm cho toàn châu lục nơi có chỉ số GDP năm 2013 là 5.7 nghìn tỷ USD, bao gồm cả vùng Caribe.

Trung Quốc biết rằng họ cần đa dạng hóa cho nguồn thu khổng lồ này và đang nắm bắt mọi cơ hội đầu tư.

Một điểm nữa, tuy không nêu ra sớm những cũng vẫn quan trọng, đó là 25 tỷ USD này chỉ bằng 0.6% tổng dự trữ ngoại hối của Trung Quốc, một con số quá khiêm tốn, chẳng thấm tháp gì so với khoản lợi tức mà họ thu được từ nguồn dự trữ ngoại tệ 1000 tỷ USD. Trung Quốc biết rằng họ cần đa dạng hóa nguồn thu khổng lồ này và tận dụng mọi cơ hội đầu tư.

Khi so sánh tương quan mức đầu tư giữa các quốc gia, thông tin quan trọng cho thấy Mỹ đã đầu tư đơn lẻ 22.6 tỷ USD vào Nam Mỹ dưới hình thức đầu tư nước ngoài trực tiếp, chưa kể các khoản vay chính thức.

Các quốc gia sắp vỡ nợ

Không nghi ngờ gì khi cho rằng khu vực đầu tư công của các nước xã hội chủ nghĩa Nam Mỹ luôn cần tiền tươi thóc thật.

Sau khi các nền kinh tế Nam Mỹ bị suy thoái bởi quốc hữu hóa và sự can thiệp quá sâu vào nền công nghiệp sản xuất, các nước như Venezuela và Ecuador đang mong đợi nhận được các khoản vay 20 tỷ USD và 7.5 tỷ USD, tương ứng cho từng nước. Các khoản vay này chủ yếu để mua các thứ từ Châu Âu, Mỹ., và Trung Quốc.

Các nền kinh tế thiếu hiệu quả trong khu vực này đang bám vào “cái phao” giá nguyên liệu thô cao, thì nay phao đó cũng đã vỡ mất – trớ trêu thay, phần lớn là bởi sự giảm sút nhu cầu từ chính Trung Quốc.

Trong khi đầu tư từ khu vực tư nhân Mỹ giảm dần, thì đầu tư công từ Trung Quốc lại đang dần thay thế: Trung Quốc tham vọng gia tăng ảnh hưởng trong khu vực và mong muốn chiếm lĩnh nguồn nguyên liệu thiên nhiên dồi dào với giá rẻ (chủ yếu là dầu mỏ) khi nền kinh tế của họ bắt đầu khởi sắc trở lại.

Bằng việc đầu tư vào các nước xã hội chủ nghĩa Nam Mỹ (đặc biệt là Venezuela), Trung Quốc đang đánh cược với thị trường nơi cho rằng Trung Quốc có đến 90% khả năng phá sản trong năm tới. Trong khi đó, phương Tây đang dần thoái lui nhằm giảm thiểu rủi ro tại khu vực này – tình hình có lẽ không khác mấy so với các nước chư hầu Liên Xô trong thời kỳ chiến tranh lạnh.

Lợi nhuận

Khi đầu tư vào bất kể lĩnh vực nào, trước tiên người ta phải cân nhắc đến vấn đề lợi nhuận. Sẽ không hợp lẽ thường nếu như ai đó trong lúc này lại muốn cấp vốn cho các nước đang bên bờ vực phá sản và đã có tiền lệ khinh khi các nhà đầu tư thuộc cả hai khối nhà nước và tư nhân.

Có lẽ Trung Quốc tin rằng, vì họ giàu và mạnh, nên các quốc gia khác sẽ không dám qua mặt họ chăng? Tuy nhiên, có một lợi thế đối với Trung Quốc khi Nam Mỹ đã quá phụ thuộc vào họ về đồng đô la, hàng nhập khẩu và chuyển giao công nghệ.

Nhưng dù sao đi nữa, các nước nhỏ cũng không hề e ngại trong đối đầu với Trung Quốc, thậm chí họ còn cho thấy một tiền lệ về dư thừa vốn đầu tư mạo hiểm từ nước ngoài.

Theo đánh giá của tổ chức American Enterprise Institute, khoản đầu tư và xây dựng khủng 250 tỷ USD của Trung Quốc trong 10 năm qua đã suy giảm và thất bại do nhiều nguyên nhân liên quan phi thi trường, mà chủ yếu là bất đồng pháp lý. Giá trị suy giảm đó ước tính tương đương 1/4 tổng giá trị dự án đầu tư xây dựng của Trung Quốc trong một thập kỷ qua – đó cũng là một con số lớn.

Nếu bạn thấy bài viết hay, hãy chia sẻ nó với bạn bè
http://vietdaikynguyen.com/v3/27338-trung-quoc-tham-vong-thau-tom-latinh/

Phần nhận xét hiển thị trên trang

SẾP NHẬT


Công ty tôi vừa có một tên người Nhật sang làm dự án trong khoảng 3 tháng, và tôi được giao nhiệm vụ lái xe cho hắn. Lâu nay toàn lái xe cho các sếp Việt Nam, giờ lần đầu tiên được lái cho sếp Nhật nên tôi thấy hứng thú lắm! Tôi tức tốc ra vỉa hè mua quyển sách “Tự học tiếng Nhật cấp tốc” về để nghiên cứu. “Mình lái xe cho sếp Nhật thì cũng phải biết vài ba câu giao tiếp tiếng Nhật chứ!”. Từ khi mua sách về, tôi nghiên cứu và tự học rất miệt mài, gần như không lúc nào tôi rời quyển sách (chỉ trừ lúc ăn cơm, lúc tắm, lúc ngủ, lúc xem tivi, lúc đi chơi và đi làm). Bởi thế, hôm gặp sếp Nhật tôi tự tin lắm, chủ động bắt tay rất thân thiện và chào hỏi cực kỳ trôi chảy bằng tiếng Nhật:
– Mi đua ku ra, ta xoa ku mi!
Có vẻ như tên Nhật đó không hiểu tôi nói gì thì phải, hắn lắc đầu ngơ ngác rồi hỏi lại:
– Xoa ku ta chi? Ngu chi cho xoa, xa ku ta ra, xoa ku mi đi!


Tất nhiên là tôi cũng không hiểu hắn nói gì, vậy nên cuối cùng cả hai quyết định sử dụng tiếng Anh, dù rằng trình độ tiếng Anh của tôi và hắn cũng bập bẹ ngang nhau, nhưng may là vẫn đủ để đoán được ý mà đối phương đang muốn diễn đạt.

Một điều khá thú vị đó là tên sếp Nhật này lại nói được vài câu tiếng Việt, không phải “xin chào”, “cảm ơn” – như mấy ông ngoại quốc, mấy chị đại sứ nước ngoài nào đó hay nói bọ bẹ trên tivi đâu, mà là những câu dài hẳn hoi, kiểu như: “Cấm ăn cắp vặt, ăn cắp vặt là phạm tội!”, hoặc “Vui lòng ăn bao nhiêu lấy bấy nhiêu, ăn không hết sẽ bị phạt tiền”, rồi cả “Không được dắt chó vào công viên này, nếu chó ị ra phải tự mang phân chó về”… Tôi nghe tên sếp Nhật ấy nói mấy câu đó thì ngạc nhiên và khen hắn giỏi quá! Nhưng hắn chỉ cười mỉm rồi cất giọng đầy khiêm tốn:
– Giỏi gì đâu! Ở bên Nhật, mấy câu đó viết đầy trong siêu thị, nhà hàng, công viên, nhìn nhiều nên quen, nên nhớ thôi!

Một cảm giác tự hào chợt dâng trào trong lòng tôi nghẹn ngào. Tự hào là phải, bởi lâu nay người ta luôn coi tiếng Anh, tiếng Trung là hai ngôn ngữ phổ biến và được sử dụng nhiều nhất trên thế giới, nhưng bây giờ, tiếng Việt đang trỗi dậy và nhăm nhe lật đổ sự thống trị của hai thứ tiếng ấy. Giờ, đi ra nước ngoài, không chỉ ở Đông Nam Á, Châu Á, mà cả Phi, Mĩ, Úc, Âu, đâu đâu ta cũng có thể bắt gặp những dòng chữ tiếng Việt thân thương, dù rằng chúng được viết nguệch ngoạc, sai chính tả, thiếu dấu, thiếu vần, trên những tấm ván, tấm bìa nham nhở, lấm lem, nhưng chỉ vậy thôi cũng đủ để chúng ta cảm thấy nao lòng.

Ban đầu hào hứng bao nhiêu thì sau đó tôi chán nản bấy nhiêu. Người đời dạy rằng: “Thà có một kẻ thù giỏi còn hơn có một ông chủ dở hơi”, quả là không sai. Trước đây, khi lái cho các sếp cũ thì phải 8 rưỡi, 9 giờ sáng tôi mới phải đánh xe đến đón các sếp, rồi chở sếp qua quán phở ăn sáng, xong uống café, đến công ty cũng đã là gần 10 giờ. Sếp làm việc đến 11 giờ thì lại chở sếp đi ăn trưa, uống bia, 3 giờ chiều đưa sếp quay lại công ty rồi 4 rưỡi đón sếp về, thế là xong. Những lúc sếp ăn uống, nhậu nhẹt thì thường là sếp gọi tôi vào ngồi cùng. Nếu hôm nào sếp tiếp khách sang, không được gọi vào, thì tôi lại ra xe ngả ghế xuống ngủ rất thảnh thơi.


Thế nhưng chỉ sau hai tuần làm lái xe cho thằng sếp Nhật dở hơi, tôi trở nên phờ phạc, bã bời. 
Đúng 6 rưỡi sáng tôi phải dậy chuẩn bị xe qua đón nó. Theo quy định của công ty thì 7 rưỡi mới là giờ làm việc nhưng chỉ khoảng 7 giờ 15 là nó đã có mặt và chui vào phòng làm việc luôn. Ngày trước đi với các sếp cũ tôi thường xuyên được các sếp cho ăn sáng, ăn trưa, uống bia, gái gú, hát hò, chứ từ ngày lái cho thằng Nhật này tôi toàn phải nhịn đói, vì sáng tôi đến đón nó thì nó đã ăn sáng xong rồi, trưa nó ăn qua quýt ngay tại phòng bằng đồ ăn nhanh rồi lại cắm đầu vào làm việc, tối nào nó cũng ngồi lại công ty đến 7, 8 giờ, vậy nên tôi cũng phải ngồi chờ nó với cái bụng đói meo và khuôn mặt bơ phờ.

Chưa hết, nhiều lần đang đi, nó bắt tôi dừng xe lại, rồi nó mở cửa xe chạy vụt ra. Tôi tưởng nó đi tè 
nhưng không phải, hóa ra nó nhặt cái vỏ bao cám con cò về để may túi xách.

Đặc biệt có lần tôi chở nó đi công chuyện, vừa đánh lái ra cổng thì tôi quệt ngay vào cái xe đạp cũ nát của ai đó dựng ở mé đường làm chiếc xe đạp đổ kềnh, cái yên xe gẫy gập và văng ra. Tôi đang định phóng đi thì thằng sếp Nhật bắt tôi dừng lại, rồi nó mở cửa phi ra. Nó dựng cái xe đạp lên ngay ngắn, móc ra tờ 500 nghìn rồi kẹp vào tờ giấy, để vào giỏ cái xe đạp, trên tờ giấy nó nhờ tôi viết hộ rằng: “Tôi vô tình làm gãy yên xe của bạn. Hãy cầm tiền này để sửa xe, và hãy tha lỗi cho tôi”.

Hôm sau, cũng đúng lúc đánh lái ra cổng, tôi lại quệt vào cái xe đạp cũ nát đó. Lần này thì cái yên không văng ra nữa mà là cái bàn đạp. Thằng Nhật lại nhảy xuống, dựng xe lên, bỏ 500 nghìn vào giỏ xe rồi để lại mảnh giấy: “Tôi vô tình làm gãy bàn đạp của bạn. Hãy cầm tiền này để sửa xe, và hãy tha lỗi cho tôi”.

Hôm sau nữa, cũng đúng lúc đánh lái ra cổng, tôi lại quệt vào cái xe đạp đó. Lần này thì cái yên và cái bàn đạp không văng ra nữa mà là cái chắn xích. Tuy nhiên, hôm đó không có thằng Nhật đi cùng mà chỉ có mình tôi trên xe, vậy nên tôi phóng thẳng. Đang định nhấn ga lao đi thì từ bên đường, một mụ già lao ra chặn ngay đầu xe tôi, mụ vừa dang hai tay, vừa gào thét:
– Thằng chó! Dừng lại đền tiền sửa xe cho bà đi chứ! Tại sao hôm nay mày lại bỏ chạy?!
Tôi nghe vậy thì mở cửa, thò đầu ra bảo:
– Thôi đi bà ơi! Cái xe của bà bán cho đồng nát chắc được hai chục! Hôm nay có mình tôi thôi, thằng Nhật không đi cùng đâu! Nghỉ sớm đi!

Rồi một lần khác, đang vội nên tôi vượt đèn đỏ và bị công an tuýt còi. Theo bản năng, tôi nhấn ga vọt lên. Công an thấy tôi chạy thì cũng không đuổi theo nữa. Tưởng là xuôi, ai ngờ thằng Nhật ấy chửi tôi, nó nói rằng vượt đèn đỏ và bỏ chạy là phạm luật. Rồi nó bắt tôi quay xe lại chỗ công an nộp phạt đàng hoàng xong mới đi tiếp. Đúng là thằng dở hơi!

Lái xe cho thằng Nhật hâm ấy một thời gian thì tôi đã hiểu được tính cách của nó. Đi đường thấy cái vỏ bao cám con cò nào vứt bên đường thì tôi tự giác dừng lại cho nó xuống nhặt; chẳng may có quệt vào xe cộ hay đồ đạc của ai gây hư hỏng thì tôi cũng tự giác dừng lại để nó xuống trả tiền bồi thường; có lỡ quen chân vượt đèn đỏ hay đi ngược chiều thì cũng tự giác vòng xe ra chỗ mấy anh công an để nộp phạt.

Hôm ấy, thằng sếp Nhật bảo tôi ra sân bay đón một thằng Nhật khác. Cái thằng Nhật này mặt cứ lầm lì, từ lúc lên xe nó không nói với tôi câu nào. Tôi cũng chả quan tâm mà chỉ tập trung vào lái xe. Tập trung là thế, ấy vậy mà qua ngã tư tôi lại quen chân vượt đèn đỏ, và lại bị công an tuýt còi. Tôi đang giảm tốc độc và cho xe chầm chậm táp vào lề bên phải theo hiệu lệnh của anh công an giao thông thì bất chợt thằng Nhật đó hét lên, và nó hét bằng tiếng Việt:
– Mày dừng lại làm cái gì! Chạy luôn đi! Đường đông thế này công an không đuổi theo đâu!
– Em tưởng anh là người Nhật? – Tôi hỏi hắn bằng giọng thảng thốt!
– Tao là người Nhật, nhưng tao sống ở Việt Nam mấy chục năm rồi! Chạy nhanh lên!

@ khuân về từ otofun, không rõ tác giả.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

‘Báo Hoàn cầu quy chụp trắng trợn’


Báo Giao thông Vận tải của Việt Nam có bài lên án Thời Báo Hoàn Cầu có bài cố tình "chính trị hóa" và “thổi phồng” sau vụ ông Thăng mắng nhà thầu Trung Quốc.

Hoàn cầu Thời báo, tờ báo theo xu hướng dân tộc chủ nghĩa của Trung Quốc, hôm 10/1 có bài nói hành động của ông Thăng đã gây bất bình ở Trung Quốc và mô tả điều họ gọi là ông Đinh La Thăng đã "tìm cách khơi gợi lại tư tưởng chống Trung Quốc ở trong nước" khi cảnh cáo nhà thầu Trung Quốc.

Ông Tề Kiến Quốc, cựu đại sứ Trung Quốc ở Việt Nam, người trực tiếp vận động cho sự tham gia của nhà thầu Trung Quốc, được báo Hoàn cầu dẫn lời nói ông Đinh La Thăng không nên làm như vậy.

"Sự cố công trình xây dựng có thể xảy ra ở bất cứ đâu và không nên thổi phồng quá mức."

Phản hồi lại bài báo này, báo Giao thông Vận tải nói bài của báo Hoàn cầu cố tình "chính trị hóa", thổi phồng sự việc theo kiểu suy diễn, quy chụp trắng trợn.

“Hoàn Cầu đã cố tình lái sự việc theo một chiều hướng cực đoan, không có lợi cho tinh thần hợp tác hữu nghị giữa hai quốc gia và cố tình hiểu sai bản chất sự việc, khi cố ngoắc một vụ việc thuần túy về an toàn thi công liên quan đến tính mạng con người vào quan hệ giữa nhân dân hai nước.

“Trong vụ việc này không chỉ có nhà thầu Trung Quốc bị cảnh cáo, mà ngay cả những nhà thầu Việt Nam cũng bị lãnh đạo Bộ GTVT kỷ luật:

“Chắc hẳn, ngay cả những nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng không thể chấp nhận các doanh nghiệp làm ăn cẩu thả, gây tai nạn chết người tại nước mình.”

Vậy mục đích của báo Hoàn Cầu khi cố tình bóp méo sự thật là gì? Bài báo đặt câu hỏi.

Bài của báo Giao Thông Vận tải cũng mô tả điều họ gọi là tờ báo Hoàn cầu “đã nhiều lần thực hiện những hành động tương tự như vậy” và dẫn chiếu tới các vụ tranh chấp chủ quyền biển giữa hai nước.

Chiều 4/1, Bộ GTVT đã có cuộc họp với Tổng thầu Trung Quốc EPC của dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông (Công ty Hữu hạn Tập đoàn Cục 6 đường sắt Trung Quốc) về sự cố sập giàn giáo tại dự án này hôm 28/12.

Tạ̣i đó, ông Đinh La Thăng đã gay gắt chỉ trích Tổng thầu EPC là thực hiện dự án không tốt và khẳng định sẽ trình Chính phủ để có thể thay thế tổng thầu EPC trong dự án đường sắt trên cao Cát Linh - Hà Đông.

Đoạn tin truyền hình phát trên kênh VTC được lưu truyền nhiều trên mạng cho thấy ông Thăng chỉ mặt nhà thầu Trung Quốc và nói những câu khá mạnh mẽ.

Ông nói: "Cứ mỗi lần xảy ra tai nạn các ông lại nhận khuyết điểm, cứ trơ ra như vậy thôi!"

"Phải thay Tổng chỉ huy công trường, đuổi tư vấn giám sát, tư vấn giám sát để chúng tôi chỉ định... Đuổi toàn bộ thầu phụ, lấy toàn bộ thầu phụ của các nhà thầu lớn tại Việt Nam."

"Còn các ông không chấp nhận như vậy thì chúng tôi báo cáo chính phủ, thay tổng thầu EPC vì không đủ năng lực..."

Ông bộ trưởng khẳng định ngay cả khi câu chuyện liên quan tới vốn vay "thì chúng tôi báo cáo chính phủ dừng vay vốn này".

"...không thể đánh đổi quyền lợi của người Việt Nam, không thể đánh đổi tính mạnh của người dân Việt Nam."

Trong bài báo ngày 10/01, Hoàn cầu Thời báo nhắc lại thời điểm giữa năm 2014, khi tinh thần bài Trung Quốc dâng cao trong nước Việt Nam sau sự kiện Trung Quốc đưa giàn khoan 981 vào vùng biển mà Việt Nam nói là của mình.

Lúc đó, nhiều doanh nghiệp đã bị đập phá và Trung Quốc phải điều tàu tới sơ tán công dân của họ vì lý do an toàn.


Phần nhận xét hiển thị trên trang