Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 5 tháng 1, 2015

“Cạnh tranh mặt nước” giữa Trung Quốc và Việt Nam ở Biển Đông đang “tạm thời được cải thiện”, nhưng cuộc đọ sức ngầm dưới lòng Biển Đông đang chỉ có tăng…




Lực lượng người nhái Trung Quốc trong bản tin của CCTV.
Đài truyền hình trung ương Trung Quốc CCTV ngày 4/1 đưa tin, gần đây có báo cho biết rô bốt tự hành Hải Yến đã được Trung Quốc cho thử nghiệm tại vùng nước sâu 1500 mét ở Biển Đông và đã chạy thành công.
Đây được cho là loại rô bốt tự hành do Trung Quốc nghiên cứu chế tạo thành công, có thể ngăn chặn hiệu quả hoạt động của “một quốc gia nào đó”. Một khi người nhái của quốc gia này, rô bốt tự hành sẽ tự động tấn công. Tờ Sina và Đa Chiều khi dẫn nguồn CCTV đã nói thẳng, rô bốt Hải Yến mà Trung Quốc thả xuống Biển Đông là nhằm tấn công người nhái Việt Nam.
CCTV nói rằng, các chuyên gia Trung Quốc cho biết đây mới chỉ là “phương hướng phát triển cho tương lai”, khi rô bốt tự hành có thể cơ động một quãng đường xa dưới nước. Hải Yến hiện có thể hoạt động ở độ sâu 1500 mét, hành trình cơ động khoảng 1000 km, thời gian hoạt động liên tục trong 30 ngày.
“Như vậy bất kỳ thế lực nào có ý định uy hiếp giàn khoan và căn cứ quân sự Trung Quốc đều có thể bị Hải Yến kiềm chế hiệu quả. Ngoài ra loại rô bốt này còn được trang bị hệ thống vũ khí có uy lực và hiệu quả nhất định, tuy không bắn chết được người nhái đối phương nhưng cũng có thể làm người nhái bị thương hoặc choáng váng”, CCTV đưa tin.
Đa Chiều khi đưa lại tin này từ CCTV đã bình luận, mặc dù hoạt động “cạnh tranh mặt nước” giữa Trung Quốc và Việt Nam ở Biển Đông đang “tạm thời được cải thiện”, nhưng cuộc đọ sức ngầm dưới lòng Biển Đông đang chỉ có tăng mà không có giảm.
Việt Nam có lực lượng bộ đội người nhái đã từng khiến hải quân Mỹ tổn thất nghiêm trọng, bộ đội người nhái là lực lượng chiến đấu chống tàu ngầm quan trọng của Hải quân Việt Nam. Đối với Trung Quốc, khả năng uy hiếp của người nhái Việt Nam không thể xem thường.
Hoạt động thử nghiệm rô bốt Hải Yến do đại học Thiên Tân nghiên cứu chế tạo được diễn ra ở Biển Đông tháng 6/2014, xác lập kỷ lục về cơ động không chướng ngại ở độ sâu 1500 mét với thời gian cơ động lâu nhất, độ sâu lớn nhất trong số các thiết bị lặn của Trung Quốc.
Hải Yến có thể được hải quân Trung Quốc cải tạo thành một loại rô bốt chiến đấu và tuần tra dưới nước như “cá mập” để bảo vệ các chiến hạm và giàn khoan Trung Quốc kéo xuống Biển Đông.
Thời điểm đó Trung Quốc chỉ trích (vu cáo) Việt Nam đã sử dụng lực lượng bộ đội người nhái uy hiếp giàn khoan 981 của họ (hạ đặt bất hợp pháp trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam – PV) bằng cách giăng nhiều lưới đánh cá, bố trí các chướng ngại vật ngăn cản hoạt động (bất hợp pháp) của đoàn tàu hộ tống Trung Quốc.
Truyền thông nước này cho rằng, một khi Trung Quốc đưa rô bốt Hải Yến vào biên chế hoạt động, lực lượng người nhái Việt Nam sẽ bị chúng vô hiệu hóa triệt để?! Rô bốt Hải Yến của Trung Quốc sẽ như những con cá mập “tuần tra” Biển Đông xung quanh giàn khoan, chỉ cần phát hiện người nhái Việt Nam tiếp cận sẽ tự động triển khai tấn công, báo Trung Quốc tuyên bố.
Nguồn: http://giaoduc.net.vn

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

Thơ Chim Trắng

Cây sậy Trang Thế Hy
Thân tặng ông Trang Thế Hy
Trong khu rừng già thâm u ồn ã tiếng ve chuông
Nghệ thuật không dùng thay cần câu cơm
Nhà văn nặn tượng*
Đau đớn thay nụ cười của đá đã không thành
                 một nụ cười
Bão tố quất lên đôi vai gầy ông tưởng không còn đứng nổi
Nhưng ông đã thành nhà tiên tri.
Ông vẫn đi qua những hố bom bãi mìn và viết
Bất tài đố kỵ ấu trĩ giả dối rượt đuổi ông đến tận cùng.
Hòa bình-những cánh chim câu hãy còn rơi
                 nước mắt
Những con sóc dừa làm xiếc, dòng kinh đùng đục
            vắt qua cửa nhà mình. Ông hát nhỏ
Đôi khi hồi nhớ một đám mưa dầm, nghe lại
một giọng hát một tiếng khóc xé lòng đôi
           vai nhọn nhô lên yêu thêm cuộc đời này.
Khỏa lấp món nợ nước mắt chưa trả nổi bên ly
           rượu ổi, giọng cười hào sảng cùng bè
                         bạn bốn phương
Bão táp vốn không có lòng nhân ái
Ông quỳ xuống trước hai người đàn bà ông hằng
          yêu quý van xin một người hãy cho
          ông toại nguyện bên cạnh một người vợ một người tình.
Bão vẫn rớt. Mùa đông giá rét phủ tuyết trắng
          xóa cây sậy Trang Thế Hy. Rồi tuyết vẫn tan
                        Mùa xuân vẫn đến.
Dưới bóng dừa xanh đôi chân chậm dần chậm
          dần hai ngón cái cặp kè nhau duy chỉ đôi mắt
                        nhà văn luôn rực sáng.
Hình như ông đang hào hứng chuẩn bị cho mình
          một cuộc lên đường nữa thật dài…thật.
________________
*Nhan đề một truyện vừa của Trang Thế Hy hoàn thành năm 1972 còn ở dạng bản thảo. Với tác phẩm này ông đã bị một “tai nạn văn xuôi” trong quá trình lao động sáng tạo của mình.
Không báu vật nào trong tay ta cả
Tôi đã từng qua những cánh rừng bạt ngàn từng
           xanh từng úa vàng theo lá từng có
những câu hỏi vu vơ về số phận của lá cuối cùng
                         không có câu trả lời nào
Trên-con- đường-tôi bất ngờ em rụng xuống
không rõ cội nguồn không rõ từ đâu tới khi hốc
mắt ta đã khô trái tim ta đã mệt nhừ loạn nhịp, ta
ôm chặt em vào lòng như một báu vật ban tặng
từ số phận. Dự cảm sẽ phải buông em ra như
buông một chiếc lá khi thoáng hiện con đường
trước mắt mình đã cuối con đường-không
thể-bịn rịn nào cũng làm em tan nát và ta lớn
tiếng phủ nhận chia lìa.
Mẹ tôi nói từ một miền thẳm xa-không có báu
vật nào trong tay con cả hãy mở nhẹ bàn tay-
Con là báu vật của mẹ
Vâng ta cũng chỉ là chiếc lá kia thôi.
Vùng không phủ sóng
Gửi MH
Bàn tay run run không cày nổi một câu thơ
Tôi nói tôi đang lái xe về Phan Thiết
Tụi em chờ anh ở Đất Phương Nam*
Tôi nói mình đang -Lộc Ninh chuyện trò cùng
Thụy Vũ
Cúp máy suốt ngày đêm giật mình ngỡ em vừa
gọi đến
Tin nhắn loăng quăng, dây truyền dịch đong đưa
rồng rắn
Rừng xưa đã khép**
Hết nhạc chờ chợt nhớ Trịnh Công Sơn
Tri kỷ tải về ta bài ca ấy-không quên-
Rừng xưa đã khép cửa nhà mình cũng vừa khép
lại Hà ơi
Bịn rịn không thể nào một khúc ca vui
Ta chúa ghét dung dằng nửa đi nửa ở
Mai mốt còn-gặp gỡ Đất Phương Nam
Không chỉ vodka với môi thâm Hàn Quốc
Đất Phương Nam chật ních nghĩa tình
Bóng dừa xanh phủ kín bạn bè mình
Nói dối với em lần này thôi Hà nhé
Bịn rịn nào cũng chỉ khúc bi ca
Hãy để bước chân ta không vấp ngã
_________________
* Một ngôi quán, nơi Chim Trắng thường ngồi với bạn bè thân, trong đó có Đạo diễn Mỹ Hà.
** Một bài hát của Trịnh Công Sơn.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Về tài liệu « Dân tộc Kinh ở Quảng Tây ».


Một đoạn trong bài dịch có tựa đề « Dân tộc Kinh ở Quảng Tây » của ông Phạm Hoàng Quân, dẫn lại nguyên văn :

« Người Kinh từ Đồ Sơn, Việt Nam sang Trung Quốc vào khoảng đời Minh. Khoảng những năm triều Thanh, người Kinh ở thôn Hà Vĩ [34] có lập hương ước để làm phép tắc cho dân trong thôn, trong hương ước từng minh xác rằng họ đến đây từ thời Hậu Lê (Đại Việt) niên hiệu Hồng Thuận năm thứ 3 tức triều Minh đời vua Võ Tông niên hiệu Chính Đức năm thứ 6 (1511), tức cách nay hơn 400 năm [35] . Người Kinh ở đây đa số mang họ Lưu, họ Nguyễn, tổ tiên họ nguyên cư trú vùng Cát Bà, sau dời đến dùng duyên hải Đồ Sơn, sống bằng nghề đánh cá. Có một dịp, họ đuổi theo đàn cá ở vùng vịnh Bắc Bộ mà lạc đến đảo Vu Đầu, nay thuộc thành phố Phòng Thành, khu tự trị dân tộc Choang [36] Quảng Tây, thấy làng xóm vắng vẻ không người ở, lại thấy nơi này thuận tiện trong việc đánh bắt cá, họ bèn định cư hẳn mà không về nữa, đến nay đã qua 16, 17 đời, nếu tính mỗi đời là 25 năm thì đến nay đã hơn 400 năm, đối chiếu với bản hương ước nói trên thì thấy rất hợp lý.
Người Kinh hiện phân bố chủ yếu ở 3 khu: Sơn Tâm, Hà Vĩ, Vu Đầu và một số nơi khác như Hoàn Vọng, Đàm Cát, Hồng Khảm, Trúc Sơn… thuộc Phòng Thành, Quảng Tây. »

http://nghiencuulichsu.com/2013/05/30/dan-toc-kinh-o-quang-tay/

Bản dịch của ông Phạm Hoàng Quân là một phần (nói về Dân Tộc Kinh) trong « công trình nghiên cứu » mang tên « Trung Quốc Nam phương dân tộc sử » của Tiến sĩ Sử học Vương Văn Quang, Giáo sư chuyên ngành Lịch sử dân tộc Đại học Vân Nam, Trung Quốc[1].

Đoạn trích dẫn trên có một số dữ kiện lịch sử cần phải kiểm chứng lại, (hay ít ra chúng cần được nhìn lại, so sánh, đối chiếu lại từ nhiều nguồn sử liệu khác nhau).

Đó là :

Có đúng là người Việt ở vùng ba đảo (Sơn Tâm, Hà Vĩ, Vu Đầu) có nguồn gốc ở Đồ Sơn ?

Có đúng là họ sang đó vào thời Minh ?

Quan trọng hơn hết là « người Kinh từ Đồ Sơn, Việt Nam sang Trung Quốc… ». Dựa vào đâu tác giả nói rằng đất đó (trước khi ngươi Kinh di cư sang) là của Trung Quốc ?

Bài viết này, với những dữ kiện lịch sử[2] lấy từ Trung Tâm Văn Khố Hải Ngoại của Pháp, (Centre des Archives d’Outre-Mer), tại tỉnh Aix-En-Provence, sẽ bàn lại về lịch sử chủ quyền ở các vùng đất (hiện nay thuộc lãnh thổ TQ) có người Việt sinh sống từ lâu đời, điển hình là khu vực ba đảo Sơn Tâm, Hà Vĩ và Vu Đầu.

1. Mũi đất Bạch Long Vĩ (cap Paklung).

Như mọi người đều biết, đường biên giới hiện nay giữa tỉnh Quảng Ninh của Việt Nam với tỉnh Quảng Tây thuộc Trung Quốc là sông Bắc Luân (còn gọi là sông Ka Long hay Gia Long). Đó là kết quả của việc phân định biên giới giữa Pháp và nhà Thanh trong thời kỳ 1885-1897, được hai bên VN và TQ khẳng định lại qua Hiệp ước phân định Biên giới trên đất liền ký vào tháng 12 năm 1999.

Bên bờ hữu ngạn sông Ka Long là thị xã Móng Cái (thuộc tỉnh Quảng Ninh), bờ tả ngạn là thành phố Đông Hưng của Trung Quốc. Ngày xưa, người Hoa gọi Đông Hưng là Đông Hưng Nhai và Móng Cái là Mang Nhai. Nhai có nghĩa là « bờ sông ». Móng Cái, nguyên thủy tên do người Pháp đặt (gọi trại đi từ Mang Nhai), thực ra có tên Việt là Hòa Lạc[3].

Xét bản đồ phân định biên giới Pháp-Thanh 1887, từ nay gọi là bản đồ 1. Bản đồ này ghi chú bằng tiếng Pháp và tiếng Hán, là bản đồ gốc được hai bên Pháp-Thanh sử dụng để phân định biên giới.

mũi bạch long 1887

Bản đồ 1

Trên bản đồ 1 có một mũi đất mang tên (bằng chữ Hán) Bạch Long Vĩ. Người Pháp thời đó gọi là « Cap Paklung ». Đây là một doi đất ở về phía bắc Móng Cái, nhô ra biển theo hướng nam, sau đó cong lại về phía tây nam, tương tự mũi két. Theo các nhà địa lý thì đây là phần chót của rặng núi Thập Vạn Đại Sơn. Doi đất bao quanh lấy biển, tạo thành vịnh, tên Vạn Xuân. Trên doi đất này có một số làng mạc trước kia chỉ toàn người VN sinh sống.

Móng Cái

Bản đồ 2

Trong vịnh Vạn Xuân, (bản đồ 1), hay các bản đồ do Sở Địa Dư Đông dương (SGI) ấn hành trước năm 1948 (bản đồ 2), từ bờ ra đến giữa vịnh có bốn đảo, kế cận nhau, có ghi các tên (chữ Hán): Tham Cát Thôn, Sơn Tâm, Mao Sơn và Vạn Vĩ. Đó là các đảo mà trong tài liệu (của Vương Văn Quang) ghi qua các tên (khác) là Sơn Tâm, Hà Vĩ và Vu Đầu. Theo các tài liệu đã dẫn (ghi chú 2), vịnh Vạn Xuân là một vịnh cạn, có nhiều bãi cát, có cây tràm, đước mọc.

bản đồ google earth vùng bán đảo Bạch Long

Bản đồ Google

Xét bản đồ Google, trong khung màu đỏ, bốn đảo này hiện nay hầu như đã dính liền lại với nhau. Phù sa, cát bồi đắp nên các đảo nối với đất liền trở thành bán đảo. Bán đảo này TQ đặt tên là An Nam Thôn, còn gọi là Kinh Đảo, ở tọa độ (kinh độ 108°08’ Đông, vĩ độ 21°32’5 Bắc). Thôn thuộc huyện Giang Bình, thành phố Đông Hưng, khu tự trị Choang tỉnh Quảng Tây. Dân số ở đây đều có gốc Việt khoảng trên 20.000 người, được Trung Quốc gọi là tộc Kinh (vì thế gọi nơi này là Kinh Đảo), một trong số 55 chủng tộc của Trung Quốc.

Toàn khu vực, xưa cũng như hiện nay, thuộc huyện mang tên Giang Bình, ngày trước trực thuộc tỉnh Quảng Đông chứ không phải tỉnh Quảng Tây. Tỉnh Quảng Tây ngày trước không giáp biển.

2. Biên giới khu vực Móng Cái theo công ước Pháp-Thanh 1887.

Theo tài liệu của đô đốc Rieunier, chỉ huy hải quân Pháp gởi Toàn quyền Pháp năm 1886 (hồ sơ đính kèm bản đồ 3) về tình hình quân Trung hoa chiếm đóng các địa điểm trong khu vực huyện Giang Bình. Sau khi chiếm đóng các địa điểm thuộc khu vực này (các ô vuông màu đỏ trên bản đồ 3) tháng 7 năm 1886, quân Trung Hoa khủng bố dân VN sinh sống tại đây và đuổi những người dân này đi nơi khác.

mũi Bạch Long 1886

Bản đồ 3

Hồ sơ cũng ghi chú ý kiến của linh mục Grand Pièrre, nhà truyền giáo ở Trúc Sơn. (Trúc Sơn ở phía bắc Móng Cái, bên kia sông Bắc Luân, nay thuộc TQ). Ông này kể rằng những người dân Việt này do bị quân Hoa truy bức nên phải trốn ra sống ở các đảo trong vịnh.

Cũng theo ý kiến của nhà truyền giáo Grand Pièrre, năm 1885, khu vực huyện Giang Bình gồm có nhiều xã toàn người Việt, không có một người Hoa nào sinh sống. Khu vực ở phía ngoài huyện giang Bình, dân Nùng (tức Choang) sống đa số. Khi quân Hoa đến đây chiếm đóng họ đuổi những người dân Choang này đi (lên núi), lấy đất cho người Hoa đến ở, tương tự như số phận người Việt. Thành phố Đông Hưng trước 1885 chưa hiện hữu. Chỉ sau chiến tranh với Pháp 1885, người Hoa dựng ở địa điểm Đông Hưng (hiện nay) một đồn lính. Dầu vậy, tại Móng Cái (Mang Nhai), chợ búa ở đây đông đảo các đảng cướp biển người Hoa.

Tài liệu khác trong hồ sơ phân định biên giới cho biết, trong thời kỳ 1886-1887, những người dân VN nào ra làm chứng, trả lời các cuộc điều tra của các ủy viên Pháp phụ trách phân định biên giới, đều bị quân Trung Hoa trừng phạt nặng nề, hoặc chém đầu. Các câu hỏi của các ủy viên phân định biên giới Pháp tựu trung ở việc : những người sống trên đất này đóng thuế cho ai ?

Theo quan điểm quốc tế công pháp thời đó (và bây giờ cũng vậy), để chứng minh một vùng đất thuộc quốc gia nào thì vấn đề đóng thuế của người dân là yếu tố quyết định. Dân đóng thuế cho bên nào thì đất đó thuộc (chủ quyền) bên đó.

Tài liệu sau đây của ông Dillon, chủ tịch Ủy Ban Phân Ðịnh Biên Giới, trình bày trong hồ sơ gởi ông Constans, Ðặc Sứ Toàn Quyền Pháp tại Bắc Kinh ngày 23 Mars 1887, (Constans là người phụ trách thuơng lượng với Trung Hoa về Công ước phân định biên giới 1887).

Tài liệu có các điểm quan trọng sau đây :

a) Theo kết quả nghiên cứu địa chí của Trung Hoa, lãnh thổ An Nam mở rộng đến Long Môn.

Ta thấy ngay trên bản đồ Google rằng Long Môn ở phía bắc Phòng Thành. Vấn đề này sẽ đề cập ở phần dưới : biên giới VN-TQ theo sử liệu của TQ. Điều này chứng minh huyện Giang Bình, doi đất Bạch Long Vĩ, các đảo Tham Cát Thôn, Sơn Tâm, Mao Sơn và Vạn Vĩ trong vịnh Vạn Xuân đều thuộc An Nam.

Tài liệu của ông Dillon viết rằng khoảng từ 20 năm nay, bọn cướp biển người Tàu đã chiếm mũi Bạch Long cũng như Long Môn để làm sào huyệt. Theo ông, đó là lý do duy nhất mà vùng đất này đã ra ngoài tầm kiểm soát của triều đình An Nam. Tài liệu cũng cho biết, trên thực địa, đường biên giới thực sự được cụ thể hoá qua những đồn canh (cửa ải) của Trung Hoa. Ðường nối các công sự, cửa ải đã chừa ra vùng Giang Bình (bao gồm Packlung - Bạch Long).

Bằng chứng khác cũng rất quan trọng : huyện Giang Bình đã được triều đình Huế bổ một vị quan cùng gia đình về quản trị, thâu thuế dân chúng từ mấy chục năm trước.

Tức là, trên quan điểm luật quốc tế, vùng lãnh thổ này thuộc về VN.

Tài liệu viết, người hậu duệ cuối cùng của viên quan VN đã bị quân cướp Tàu giết, thân xác bị chặt làm nhiều khúc qua biến cố tháng 11 năm 1886. Biến cố nầy làm thiệt mạng một số quân đội Pháp và ông Haitce, nhân viên của Ủy Ban Phân Ðịnh Biên Giới. Lý do bị giết vì ông đã « thực thà » khai với các ủy viên Pháp rằng đất đó (Giang Bình) là của VN.

b) Là những nhân chứng sống, những người dân địa phương, người Hoa cũng như người Việt.

Những người dân này đã hướng dẫn ông Bohin, vào tháng 11 năm 1886, và đội quân của Ông Dugenne vào tháng 1 năm 1887, giúp các ông này làm công tác trắc địa, phân định biên giới. Kết quả đo đạc phù hợp với những các cuộc điều tra trong dân chúng thuộc vùng Móng Cái. Vì cuộc điều tra này, như tài liệu của các nhà truyền giáo đã viết trên, nhiều người dân VN bị quân Hoa chém đầu.

c) Những chi tiết từ sổ bạ điền địa từ các huyện, phủ trong vùng.

d) Bản đồ chính thức của An Nam.

e) Giấy chứng nhận của nha Kinh Lược từ triều đình Huế[4].

Tức là, theo các tài liệu đã dẫn, khu vực huyện Giang Bình, bao gồm mũi đất mang tên Bạch Long Vĩ, các đảo trong vịnh Vạn Xuân… thuộc chủ quyền của VN.

Hai chi tiết khác cần làm sáng tỏ thêm : theo « công trình nghiên cứu » của TS Vương Văn Quang thì dân chúng ở các đảo « Sơn Tâm, Hà Vĩ và Vu Đầu đến từ Đồ Sơn, VN ».

Đồ Sơn là một địa điểm tắm biển do người Pháp thành lập cuối thế kỷ 19, tức là chỉ mới đây, tên là Doson. Như vậy những người Việt này không thể xuất thân từ « Đồ Sơn » rồi !

Mặt khác, lý do mà nhóm dân này ra các đảo sinh sống, như các tài liệu đã dẫn, là để trốn sự khủng bố của quân Hoa, chứ không phải là « đuổi theo đàn cá ở vùng vịnh Bắc Bộ mà lạc đến đảo Vu Đầu » (sic !)

Câu hỏi đặt ra, vì sao người Pháp đã chứng minh được đất (Giang Bình) thuộc chủ quyền của Việt Nam, bằng sử liệu của chính người Hoa, cũng như những điều tra trên thực địa, là những bằng chứng không thể phản biện, tại sao bây giờ nó lại thuộc về TQ ?

Câu hỏi khác, lúc đó quân Pháp mạnh mẽ, đối diện với một nước Trung Hoa đang rệu rã. Ở thế mạnh, Pháp muốn ép TQ thế nào lại không được ?

Câu trả lời là do sự trao đổi quyền lợi giữa Pháp và Thanh triều. Pháp nhượng các vùng lãnh thổ của VN để đổi lấy quyền lợi kinh tế[5]. Phần tóm tắt « hiệp ước Thiên Tân 1885 » dưới đây trả lời câu hỏi này.
Số phận vùng đất Giang Bình được giải quyết ở Bắc Kinh ngày 26 tháng 6 năm 1887, cũng là nội dung Công Ước 1887. Nguyên văn tiếng Pháp, như sau :

« Au Kouang-tong, il est entendu que les points contestés qui sont situés à l’est et au nord-est de Monkaï, au delà de la frontière telle qu’elle a été fixée par la Commission de la délimitation, sont attribués à la Chine. »

Tạm dịch sang tiếng Việt : Tại Quảng Đông, các bên đồng thuận rằng các điểm tranh chấp ở phía đông bắc của Móng Cái, ở phía bên kia đường biên giới đã được Ủy Ban Phân Định xác định, thì chúng được giao cho Trung Hoa.

Cực kỳ đơn giản, « các vùng đất tranh chấp ở phía bắc Móng Cái được giao cho Trung Hoa ».

« Các vùng đất phía bắc Móng Cái » là huyện Giang Bình, bao gồm mũi Bạch Long Vĩ (trên đó có nhiều xã) cùng các đảo Tham Cát, Sơn Tâm, Mao Sơn và Vạn Vĩ nơi nhiều người Việt sinh sống từ bao nhiêu đời.

Hậu quả cuộc phân định biên giới 1887, ngoài huyện Giang Bình (bao gồm mũi Bạch Long và các đảo trong vịnh Vạn Xuân), Việt Nam còn bị mất thêm các vùng đất Tụ Long[6] (phía bắc Hà Giang hiện nay), tổng Đèo Lương (Cao Bằng), một số xã thuộc tổng Kiến Duyên và Bát Trang (Hải Ninh)[7]. Tổng số diện tích có thể lên tới trên 3.000 km².

Một số dữ kiện về phân định biên giới 1887, mọi người có thể tham khảo thêm từ tập « Le Tour du Monde » năm 1886-1887, Sur les Frontière du Tonkin của Dr Paul Néis. Ông Néis là một ủy viên thuộc Ủy ban Pháp phân định Biên giới 1887.

3. Hậu quả Hiệp Ước Thiên Tân 1885 lên biên giới Việt Nam.

Hiệp ước hòa bình, hữu nghị và thương mại « traité de paix, d’amitié et de commerce », được ký kết tại Thiên Tân ngày 9 tháng 6 năm 1885 giữa Lý Hồng Chương và ông Patenôtre, được quốc hội Pháp thông qua ngày 20 tháng 11 năm 1885. Hiệp ước gồm có 3 phần, như tên gọi hiệp ước : hòa bình, hữu nghị và thuơng mại nhưng trọng tâm là thuơng mại. Ðiều 3 của Hiệp Ước dự trù việc xác định lại đường biên giới Việt Trung. Các điều 5 và 6 dự trù một công ước về thương mãi giữa Pháp và Trung Hoa.

Công Ước về thương mãi được ký ngày 25 tháng 4 năm 1886 do ông Cogordan thương lượng nhưng kết quả không đúng như mong đợi của Pháp. Ðể sửa chữa, một công ước bổ túc cho công ước thương mãi « Convention additionnelle de Commerce » được ông Constans thương lượng cùng lúc với công ước về biên giới và cùng ký ngày 26 tháng 6 năm 1887.

Công ước về thuơng mãi được ký ngày 25 tháng 4 năm 1886 nhưng bị đánh giá bất lợi cho Pháp. Bởi vì, nguyên văn công ước là tất cả những gì mà Trung Hoa đòi hỏi trước đó đã được ghi lại trong bản tường trình của Cogordan. Trong khi đó những gì mà Pháp đòi hỏi đều không được.

Việc chinh phục Bắc Kỳ, từ thời Françis Garnier (1874) đến Henri Rivière (1883) cho đến chiến tranh Pháp-Trung 1884-1885 chỉ có mục tiêu là xây dựng địa bàn và mở đường thông thương với các tỉnh phía Nam Trung Hoa để buôn bán. Hiệp ước thương mại của Cogordan thực tế mở cửa cho Trung Hoa vào Việt Nam nhưng đóng mọi cửa để Pháp không thể vào Hoa Nam. Ðây là một thất bại lớn vì tất cả máu xương của lính viễn chinh cũng như tiền bạc của dân Pháp đều xem như bỏ.

Ðể sửa chữa, ông Constans được cử làm bộ trưởng sang Thiên Tân để ký kết công ước phân định biên giới nhưng kèm theo một phụ ước về thương mãi.

Bản tường trình của dân biểu Dureau de Vaulcomte, liên quan đến việc nghiên cứu công ước thương mãi 25 tháng 4 năm 1886 và phụ ước 26 tháng 6 năm 1887, có đề cập đến : « Et ainsi la question de frontière se trouva liée à la question commerciale - Và vì thế vấn đề biên giới được gắn liền với vần đề thương mãi ». « Le gouvernement a pensé que les concessions faites à la Chine, en ce qui concerne les territoires, peuvent être compensées par les avantages qui résultent de la Convention commerciale additionnelle au Traité du 25 Avril 1886 - Chính phủ đã nghĩ rằng những nhượng bộ đất đai cho Trung Hoa có thể được đền bồi bằng những ưu đãi (về kinh tế) do Công Ước thương mãi bổ sung Hiệp Ước 25 tháng 4 năm 1886. »

Như thế, rõ ràng, chính nhà nước Pháp đã chủ trương nhượng đất của Việt Nam để có được những ưu đãi về thương mãi với Trung Hoa !

Trên quan điểm công pháp quốc tế, chiếu theo phần « dol », tức sự lường gạt trong các hiệp ước, công ước phân định biên giới 1887 có thể không có hiệu lực.

4. Đường biên giới lịch sử theo sử liệu của Việt Nam và Trung Quốc :

Theo Ðại Thanh Nhứt Thống Chí[8] (DTNTC) 大清一統志, dẫn từ địa chí thời Minh, biên giới khu vực này được xác định bằng ngọn núi Phân Mao, như sau :

Phục Ba tướng quân Mã Viện đã dựng dưới chân ngọn Phân Mao một trụ đồng vào năm 43 trước TC để đánh dấu biên giới hai nước Việt-Trung. Từ chân ngọn núi này, vào năm 74, quân Hán vượt biên giới, qua châu Tiên Yên, vào chiếm Việt Nam[9].

Sử sách của VN, tập Đại Nam Nhứt Thống Chí và Lịch triều Hiến Chương Loại Chí (phần Dư Địa Chí) của Phan Huy Chú, dẫn từ sách Dư Địa Kỳ Thắng của Trung Hoa cũng viết tương tự :

Ranh giới Nam và Bắc thuộc vùng biên giới trấn An Quảng xưa có núi Phân Mao[10].

Như thế biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được xác định bằng ngọn núi Phân Mao. Núi này chính xác ở đâu ?

Theo Ðại Thanh Nhứt Thống Chí :

Phân Mao Lĩnh 分茅嶺 ở động Cổ Sâm, về phía Tây huyện đường Khâm Châu, cách 300 lý và ở trên đường biên giới với Việt Nam…

Bộ địa chí thời Minh, Gia Khánh Trùng Tu Nhứt Thống Chí, cũng mô tả biên giới hai bên trong khu vực với nội dung tương tự. Theo Dư Ðịa Chí của Nguyễn Trãi : núi Phân Mao ở về phía tây lộ Hải Đông, cách khoảng 300 dặm. Nơi đây có kim tiêu, quen gọi là cột đồng Mã Viện.

Tương truyền trên đỉnh núi Phân Mao có thứ cỏ tranh, do ảnh hưởng của khí hậu và địa thế, ngọn cỏ tranh ngả theo hai hướng Bắc và Nam cho nên mới có tên gọi là núi Phân Mao, nghĩa là núi có thứ cỏ chia ra làm hai hướng.

Đại Việt Sử Ký Toàn thư cũng ghi : Cột đồng Đông Hán do Mã Viện dựng ở động Cổ Lâu thuộc Châu Khâm.[11]

Như thế, sử liệu Trung Quốc và Việt Nam cùng thống nhứt ở hai điểm : 1/ biên giới hai nước là núi Phân Mao, nơi có trụ đồng Mã Viện. 2/ vị trí của núi Phân Mao : núi Phân Mao thuộc động Cổ Sâm, huyện Khâm Châu. Khâm Châu hiện nay trên bản đồ ghi là Quizhou, cách Móng Cái khoảng 120km về hướng đông bắc.

Ðại Thanh Nhứt Thống Chí mô tả địa lý Khâm Châu như sau :

Huyện Khâm Châu 嶔州, thuộc phủ Liêm Châu 廉州俯. Biên giới Việt Nam cách huyện đường 300 dặm theo hướng Tây và cách 240 dặm theo hướng Tây Nam. Dân chúng sống ở Liêm Châu gồm có dân tộc Dao 搖 và dân tộc Choang (Tchoang)[12].

Theo bản đồ các nhà truyền giáo Jésuites, tọa độ Khâm Châu : vĩ độ 21° 54’ và kinh độ 106° 07’ 45’’, cách phủ Liêm Châu 180 dặm về phía Tây thiên Bắc.[13]

Huyện Khâm Châu có các rặng núi ở kế cận (hay ở trên vùng) biên giới Việt-Trung :

Rặng La Phù Sơn 羅桴山, cách huyện Khâm Châu 65 đến 95 dặm theo hướng tây bắc. Rặng núi Thập Vạn Sơn 十萬山, cách huyện Khâm Châu 200 dặm về phía tây bắc. Rặng núi này là ranh giới giữa huyện Khâm Châu với châu Thiên Tư. Châu Thiên Tư cách dải núi nầy 80 dặm. Có đến cả trăm con suối bắt nguồn từ Thập Vạn Sơn (là phần nối dài của rặng Ba Dương Lĩnh 筢羊嶺). Dải núi Ba Dương Lĩnh giáp châu Tư Lăng 陵州 ở phía Tây, dải núi này có tới hơn 400 đỉnh, cao thấp chập chùng. Sông Ná Lãng (Ná Lãng Giang 那浪江), cũng như sông Minh Giang 明江 thì cùng bắt nguồn tại đây[14].

Dải núi Vương Quang Sơn 王光山, cách huyện đường Khâm Châu 170 dặm về hướng tây bắc, chắn ngang rặng Thập Vạn Sơn[15]

Ngọn Mặc Mạt Sơn 墨抹山 cách Khâm Châu 100 dặm về hướng Tây Nam. Sông Phụng Hoàng bắt nguồn tại đây[16].

Để xác định « vùng biên giới » giữa hai nước, điều cần thiết là xác định lại vị trí các dảy, hay các ngọn núi đã dẫn từ các tài liệu trên.

Ngoài ra, xưa nay, biên giới hai bên Việt-Trung luôn được xác định bằng các cửa ải và những con sông. Theo Đại Thanh Nhứt Thống chí, Huyện Khâm Châu có các của ải :

Ải Ná Tô 那蘇隘 (hay Na Tô Ải), ở phía Tây Nam huyện Khâm Châu.

Ải Nhẫm Quân 稔均隘 , cách ải Ná Tô 70 dặm về hướng Ðông Nam.

Ải Ná Long 那隆隘 (hay Na Long Ải), cách ải Ná Tô trên 10 dặm về phía Ðông.

Cả ba ải này đều thông thương sang Việt Nam[17].

Huyện Khâm Châu có các con sông, suối ở kế cận hay ở trên đường biên giới :

Sông Thiếp Lãng (Thiếp Lãng Giang 貼朗江), cách Khâm Châu 240 dặm, chảy theo đường biên giới Việt Nam[18]. Theo Ðại Thanh Hội Ðiển Ðồ (DTHHD), quyển 122, tờ thứ 26, sông nầy bắt nguồn từ những ngọn núi về phía Tây Bắc huyện Khâm Châu.

Kết luận lại, hồ sơ của ông Dillon đã viết đúng : biên giới VN và TQ, theo địa chí Trung Hoa, thì ở Long Môn.

5. Biên giới khu vực theo công ước 1887

Biên bản phân định biên giới ngày 29 tháng 3 năm 1887 nguyên văn tiếng Pháp, tạm dịch sang tiếng Việt như sau :
« Ủy ban phân định biên giới công nhận rằng từ Trúc Sơn 竹山, thuộc Trung Hoa, đường biên giới theo dòng sông, hướng Ðông sang Tây, cho đến Móng Cái – Ðông Hưng 東興. Ðường trung tuyến của dòng sông được dùng làm ranh giới và chia các khu vực La Phù Ðộng 羅浮峒, Ðông Hưng 東興 v.v.. thuộc Trung-Hoa với các khu vực Ngũ Sĩ 伍仕, Móng Cái v.v… thuộc An Nam.

Từ Móng Cái – Ðông Hưng đến Bắc Thị 北市 – Gia Long 加隆: đường biên giới khá quanh co, có hướng chung Bắc đến Bắc Tây Bắc và theo trung tuyến của dòng sông, phân chia những vùng Na Chi 那芝, Ka Long v.v... thuộc về Trung Hoa những vùng Thác Lãnh 托嶺, Nam Lý 南里, Bắc Thị v.v... thuộc An Nam.

Từ Bắc Thị - Gia Long đường biên giới theo trung tuyến sông Gia Long, là một phụ lưu tây ngạn của sông Bắc Thị 北市江, có độ dài khoảng chừng 30 lí (mỗi lí là 561 thước), và khi vượt ra ngoài 30 lí đường biên giới rời sông, theo đường thẳng trực tiếp để đến điểm cách Ðộng Trung 峝中村 3 lí về hướng Bắc, tức điểm được đánh dấu A (甲) trên bản đồ số 1. Ðường biên giới chia cho Trung Hoa các vùng Lãnh Hòa 嶺懷, Phi Lao 披勞, Bản Hưng 板興 v.v… và một ngọn núi mang tên Phân Mao Lĩnh 分茅嶺, núi này ở phía Ðông Nam của Bản Hưng 板興 và dựa lên đường biên giới. Các vùng Ná Dương 那陽, Ðộng Trung 峝中 và những nơi khác thì thuộc về An Nam.

Từ điểm A, đường biên giới đi về hướng ải Bắc Cương 北崗隘 (Bắc Cương Ải), núi Phái Thiên 派遷山 (Phái Thiên Sơn), cách làng Bình Liêu 平寮村 của An Nam khoảng 30 lí theo đường thẳng. Ðường biên giới chia các cửa biên giới Ná Quang 那光卡 (Ná Quang Ca), Bản Thôn 板吞卡 (Bản Thôn Ca) v.v... cho Trung Hoa và các vùng Na Dương 那陽, xã Trình Tường 呈祥社 v.v… cho An-Nam. »

Trong công ước 1887 phía người Hoa chấp nhận đường biên giới đi qua núi Phân Mao[19]. Nhưng đến khi ra phân giới trên thực địa, phía người Hoa lập mưu, chỉ vào một trái núi ở Động Trung, tạo dựng đền thờ Mã Viện giả, cho rằng đó là núi Phân Mao. Đường biên giới bị dời xuống phía nam đến 40km. Ông Chiniac De Labastide, chủ tịch ủy ban phân giới 1890-1892 đề nghị Toàn Quyền Pháp ký lại công ước nhưng không thành công. Việt Nam bị mất đất rất nhiều ở vùng này (khoảng 4.000km²).



[1] Xem giới thiệu của dịch giả.
[2] Hồ sơ phân định biên giới 1886-1894, CAOM mã số Indo, GGI, số thùng carton : 65353, 65354, 65355, 65356, 65357, 65358, 65359, 65360.
[3] Theo thống kê năm 1891 của Cao Ủy Bắc Kỳ, Hải Ninh gồm có hai châu Hà Cối, Tiên Yên. Châu Hà Côi gồm có các tổng Ninh Hải, Vạn Ninh, Hà Môn, Bát Trang. Châu Tiên Yên có các tổng Hà Thanh, Đôn Đạt, Kiến Duyên, Hậu Cơ, Bắc Lăng. Vạn Xuân là tên một làng thuộc tổng Vạn Ninh (gồm có các làng Vạn Xuân, Xuân Lạng, Xuân Ninh, Ninh Dương, Vạn Ninh, Đoan Tĩnh, Phục Thiên và Hòa Lạc. Hòa Lạc là tên nguyên thủy của Móng Cái).
[4] Điều đáng tiếc là bộ địa chí Đồng Khánh vừa xuất bản lại không ghi các chi tiết này. Thậm chí Hòa Lạc (tức Móng Cái) bị tập sử này ghi là « xiêu tán », tương tự nhiều địa danh khác ! Có thể các năm đó phố Hòa Lạc chỉ có dân Hoa sinh sống (tương tự Kỳ Lừa, Lạng Sơn) nhưng không thể ghi sơ suất như thế được. Xiêu tán là không còn nữa. Xem ra tài liệu do người Pháp sưu tập về biên giới còn đầy đủ hơn bất kỳ bộ địa chí nào của Việt Nam.
[5] Xem thêm bài viết của cùng tác giả : http://nhantuantruong.blogspot.fr/2013/11/viet-nam-co-mat-at-mat-bien-qua-hai.html
[6] Xem thêm bài viết của cùng tác giả https://www.facebook.com/notes/nh%C3%A2n-tu%E1%BA%A5n-tr%C6%B0%C6%A1ng/t%C3%ACm-hi%E1%BB%83u-nguy%C3%AAn-nh%C3%A2n-m%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BA%A5t-t%E1%BB%A5-long-v%C3%A0o-tay-trung-qu%E1%BB%91c-qua-c%C3%A1c-hi%E1%BB%87p-%C4%91%E1%BB%8Bnh-ph%C3%A1p-t/351606381546377
[7] Xem thêm bài viết của cùng tác giả http://nhantuantruong.blogspot.fr/2013/02/bien-gioi-viet-trung-vung-quang-ong-hai.html
[8] Bản dịch của ông Devéria, Ðại Thanh Nhứt Thống Chí 大清一統志 (500 quyển, in năm 1764 theo lệnh của vua Càn-Long), trong quyển La Frontière Sino-Annamite – Description géopraphique et ethnographique (d’après les documents officiels traduits pour la première fois), do l’Ecole des Langues Orientales Vivantes xuất bản, Paris năm 1886.
[9] ÐTNTC, tờ 8 và tờ 15, sdd.
[10] Sử Liệu về Biên Giới Ta Và Tàu Từ Ðời Nhà Lý Cho Tới Ðầu Thời Pháp Thuộc. Tác giả Hà Mai Phương và Chu Thu Hằng. NXB Mai Hiên, PO BOX 1061 Campell, CA, 95009, không đề năm xuất bản.
[11] Hà Mai Phương và Lưu Chu Thanh Tao, trong bài « Từ cửa Nam Quan đến ải Chi Lăng, Châu Ôn và núi Phân Mao ».
[12] DTNTC. Sdd.
[13] Devéria. La Frontière Sino-Annamite – Description géopraphiquêt ethnographique (d’après les documents officiels traduits pour la première fois), do l’Ecole des Langues Orientales Vivantes xuất bản, Paris năm 1886.
[14] ÐTNTC, sdd, quyển 364, tờ 3.
[15] ÐTNTC, sdd, q 364, tờ 5.
[16] Idem.
[17] ÐTNTC, sđd, q 348, tờ thứ 10.
[18] ÐTNTC, sđd, q 348, tờ thứ 9.
[19] Đường biên giới lý ra phải qua núi Phân Mao, nhưng vì phía người Hoa lập mưu, tạo dựng một trái núi Phân Mao giả (và đền thờ Mã Viện giả), đường biên giới bị dời xuống phía nam đến 40km. Ông Chiniac De Labastide, chủ tịch ủy ban phân giới 1890-1892 đề nghị Toàn Quyền Pháp ký lại công ước nhưng không thành công. Việt Nam bị mất đất rất nhiều ở vùng này.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những chủ đề kiêng kỵ ở châu Á



Từ rất lâu, đại văn hào Shakespeare đã viết rằng thận trọng thì quan trọng hơn là dũng cảm một cách hồ đồ. Ở châu Á, thận trọng cũng được coi là cách sống thích hợp hơn cả.
Có thể hiệu quả ở phương Tây, nhưng cách nói thẳng thừng lại rất dễ gây hiểu lầm ở phương Đông.
Nói ra những điều mình nghĩ có thể giúp quan hệ đồng nghiệp trở nên gần gũi hơn ở New York hay Newcastle nhưng lại làm sứt mẻ tình cảm nếu ở Nam Kinh.
“Tự do ngôn luận” theo cách hiểu ở Hyde Park, London lại có thể bị coi là nói năng linh tinh trong phòng họp ở Bắc Kinh.

Dù là chuyện gì đi nữa – chính trị, tôn giáo, văn hóa – thì vẫn có những chủ đề nhạy cảm. Thế cho nên tốt nhất là người nước ngoài không nên hỏi quá nhiều nếu muốn giữ quan hệ tốt.
Thế nhưng làm sao để tránh được những chủ đề nhạy cảm này thì còn khó hơn.
Làm sao để lấy lòng người châu Á? Có cách gì để tránh bị lỡ lời, vạ miệng? Làm thế nào để không động chạm đến những điều cần kiêng kỵ?

Dưới đây là 10 lời khuyên chung nhằm giữ cho những cuộc trò chuyện của bạn không làm mối quan hệ Đông – Tây bị rối tung lên. Tất nhiên việc áp dụng cụ thể còn tùy thuộc vào từng quốc gia nơi bạn đến.


1_ Nên góp ý khéo

image

Nếu bạn muốn góp ý về những thứ chưa hay trong công việc của đồng nghiệp người châu Á, hãy luôn kèm vào đó những ý tích cực.
“Ở Nhật Bản tôi từng chứng kiến mối quan hệ quan trọng của một người Mỹ với một quan chức Nhật bị tổn thương vì anh người Mỹ nói trước nhiều người rằng: “Ông chẳng hiểu chính ông đang nói cái gì,” Mark Michelson, Chủ tịch Diễn đàn CEO châu Á ở Hong Kong nói.
“Dù là văn hóa nào đi nữa thì bạn cũng không nên làm người khác mất mặt; bạn nên góp ý với tinh thần xây dựng. Ở châu Á, việc lên giọng hay xỉa tay vào mặt người khác sẽ gây hậu quả rất tai hại.”

2_ Đừng nhắc tới Thượng đế hay Chúa Trời một cách bừa bãi

Đừng chỉ trích Thượng đế của người khác.
“Ở Ấn Độ, có ba cấp độ mộ đạo khác nhau: mộ đạo, rất mộ đạo và cực kỳ mộ đạo,” nhà phê bình ẩm thực Marryam Reshi nói.
Ở nhiều vùng Hồi giáo, ví dụ như một số nơi ở Malaysia, nhiều lãnh tụ tôn giáo cho rằng loài chó rất bẩn thỉu và tiếp xúc với chó có thể bị coi là có tội. Một nhà tài trợ cho sáng kiến gần đây theo đó khuyến khích người Hồi giáo ở Malaysia hãy “vuốt ve chó” đã bị dọa giết.

3_ Tránh xa chủ đề nóng

image
Ngôi chùa Tây Tạng
Dù là người phiên dịch cho bạn trông có trẻ trung đến mấy đi nữa, hay vị lãnh đạo cơ quan nào đó ở Trung Quốc trông rất ngầu, “những nhận xét về ba địa danh” Tây Tạng, Đài Loan và Thiên An Môn – vẫn có thể bị hiểu lầm là can thiệp của nước ngoài vào chuyện nội bộ của Trung Quốc, theo Mike Chinoy, một nhà nghiên cứu ở Viện Mỹ - Trung.
Thêm vào đó, “đừng khen Nhật Bản khi bạn đang ở Hàn Quốc, hay khen Trung Quốc khi đang trên đất Nhật,” Micha Peled viết. Ông là đạo diễn của phim China Blue và nhiều bộ phim tài liệu khác.
“Ở Philippines, đừng đùa cợt về đồ ăn của Đức Giáo hoàng” trong lúc với người Nam Hàn, “nhắc đến Bắc Hàn cũng không được khuyến khích,” Nicholas Tse, giám đốc khách sạn Seoul JW Marriott viết trong một email.

4_ Đừng bình luận về chính sách chính trị

“Có lẽ tốt nhất là không nên nhắc tới hình phạt bằng roi ở Singapore,” Mitchell Farkas, giám đốc công ty FarFilms có trụ sở ở Trung Quốc nói.
“Một người Mỹ từng bình luận phản đối Bumiputra (Malaysia – chính sách phát triển các dân tộc bản xứ_ được nêu trong Hiến pháp Malaysia và quên mất rằng hệ thống của Hoa Kỳ đối với người da đỏ bản địa cũng tương tự,” A Najib Ariffin, giám đốc một viện nghiên cứu về văn hóa và ngôn ngữ ở Kuala Lumpur nói. “Điều này khiến chủ nhà giận dữ, và họ câu trả lời đơn giản của họ là không làm ăn tiếp với anh ta nữa.”
Một email khác của nhà làm phim Micha Peled, viết: “Ở Ấn Độ, đừng nói với họ rằng hệ thống phân biệt đẳng cấp của họ là lạc hậu hoặc hỏi vì sao họ không làm hòa với Pakistan.”

5_ Đừng nói lời bất kính

image
Phụ nữ Thái Lan với mũ mang hình vua.
Ở Thái Lan, đừng bao giờ đưa ra bình luận nào có thể gây hiểu nhầm là mang ý tiêu cực về quốc vương hay các vị hoàng thân quốc thích. Hãy luôn luôn bày tỏ lòng kính trọng. “Nếu bị hỏi bất ngờ, cứ nói là ông là người tuyệt vời,” Peter Muennig, phó giáo sư ở trường Y tế Cộng đồng Mailman của Đại học Columbiakhuyên.
Tất cả những gì được cho là xúc phạm và làm chủ nhà phật lòng đều có thể khiến bạn phải vào tù ở Thái Lan.

6_ Đừng bình luận về vẻ bề ngoài


Gu thẩm mỹ về thế nào là đẹp có thể khác nhau đến không ngờ. “Đừng bao giờ nhận xét về tóc của một doanh nhân Nhật Bản,” nhà chủng tộc học Meyumi Ono nói.
“Đừng đùa về chuyện bị hói, phải dùng tóc giả, hay kiểu chải ngược mấy sợi tóc mỏng ra đằng trước – mà người Nhật gọi là ‘mã vạch’. Và cũng đừng bình luận về mùi cơ thể của người ta.”

7_ Đừng khen bừa

Điều khiến Tse, người gốc Trung Quốc lớn lên ở Anh, khó chịu nhất là khi mọi người khen: “Bạn nói tiếng Anh giỏi quá!”. Người châu Á ngồi đối diện với bạn có thể được sinh ra ở Hoa Kỳ hay Anh Quốc hoặc đã nhiều năm đi học ở các nước này.
“Suy đoán là cả một vấn đề lớn,” Michelson ở Diễn đàn CEO châu Á nói. “Đừng cố khái quát hóa khi nói chuyện với người châu Á.”

8_ Hãy để ý tới cử chỉ, hành động

image
Đừng gắp miếng đồ ăn cuối cùng trên đĩa.
Khi chúc tụng nhau, dù bạn có nói những lời hoa mỹ đến mấy mà không để ý cử chỉ thì cũng bằng không.
“Nhớ là khi chạm ly, bạn phải giữ sao cho chiếc ly của mình thấp hơn ly của người lớn tuổi hơn hay cấp trên,” nhà chủng tộc học Ono nhắc.
Điều này đặc biệt đúng ở Trung Quốc. Quan trọng không kém là “chớ bao giờ từ chối các món đặc sản,” Ono nói thêm.
Thế nhưng bạn vẫn phải tỏ ra chừng mực khi ăn uống, theo ông Chinoy từ Viện nghiên cứu Mỹ-Trung, người đã có nhiều năm kinh nghiệm ăn tiệc.
“Không nên gắp miếng thức ăn cuối cùng trên đĩa – người chủ xị sẽ rủa thầm vì như vậy tức là họ sẽ phải gọi thêm đồ ăn.”
Cũng đừng cắm đũa thẳng đứng vào bát cơm. Ở Hàn Quốc và nhiều nơi khác, điều này trông giống như đang thắp nhang "bát cơm quả trứng" cho người vừa quá cố vậy. Nhưng húp canh soàn soạt thì lại được coi là khen đồ ăn ngon, ông Michelson chỉ ra.

9_ ‘Vâng’ không có nghĩa là đồng ý

Đây là một trong những vấn đề lớn nhất khiến hai bên có thể hiểu nhầm nhau.
“Tôi từng được nghe chuyện một nhà quản lý bị mất việc chỉ vì anh ta nghĩ công ty đối tác ở Hàn Quốc đã nói “vâng” về vụ bán 51% cổ phần – trong khi từ ‘vâng’ đó chỉ có nghĩa là họ đã nắm được vấn đề,” Chinoy kể.
“Ở Trung Quốc, khi từ ‘không’ được nói ra quá nhanh, có nghĩa là họ muốn bạn nằn nì thêm nữa, dù là chính thức hay không chính thức.”
Thế nhưng ở Nhật Bản, Thái Lan và phần lớn các nước châu Á khác, người ta không bao giờ thốt ra từ ‘không’.
Thay vì đó, họ tìm các lý do khác nhau để tránh né, trì hoãn và điều đó được coi là cách làm lịch sự hơn.
Đôi khi vấn đề chỉ đơn giản là có được một câu trả lời cụ thể.

10_ Khi nào cần im lặng

Ở Hong Kong, nơi những cuộc chuyện trò qua điện thoại nghe như hét vào tai nhau, vấn đề chính là làm sao bạn có thể hét át đi được tiếng nói chuyện của người khác.
Nhưng ở Nhật, “mọi cuộc trò chuyện qua điện thoại bị coi là xâm phạm một cách bất lịch sự không gian công cộng,” Ono nói. Với những cuộc hội thoại công việc, im lặng thường là cách tốt hơn cả.
“Người phương Tây luôn nghĩ rằng họ phải trò chuyện để lấp cái khoảng trống im lặng khó chịu ấy, Michelson nói, nhưng “cuối cùng thì những điều không được nói ra lại có giá trị hơn những gì đã được nói ra".



John Krich

Phần nhận xét hiển thị trên trang

"Ngứa đít vạn quốc" đọc qua phát khùng!

Việt Nam là nơi tốt nhất để sống: Một cách hiểu khác


Đến hôm nay mới đọc bài báo "Sốc vì Việt Nam vào tốp 20 nơi đáng sống nhất thế giới!" Nếu chỉ xem qua cái kết quả bình bầu và đối chiếu tình trạng môi trường xuống dốc thê thảm hiện nay thì đúng là sốc thật. Nhưng thật ra, nếu xem kĩ nguồn thông tin (2) thì cũng không đến nổi sốc đâu.



Nguồn thông tin là " The 20 Best Places To Live Overseas" (Hai mươi nơi tốt nhất để sống ở nước ngoài" trên BusinessInsider (2). Tại sao "nước ngoài"? Tại vì đây là một cuộc điều tra xã hội mà đối tượng tham gia là những thương gia làm việc cho các tập đoàn đa quốc gia. Những người này được công ti gửi đi khắp thế giới để làm ăn, nên họ có cơ hội trải nghiệm và so sánh. Nhóm thực hiện là ngân hàng HSBC. Họ hỏi đối tượng tham gia về trải nghiệm cuộc sống, tình hình kinh tế, nuôi con cái ở nước ngoài. Dựa vào các tiêu chí này, Việt Nam được bình bầu là một trong 20 nước tốt nhất để sống ở nước ngoài.

Đọc xong bản tin này tôi thử tưởng tượng mình là một doanh nhân (hạng "executive") đang sống ở Sài Gòn. Và, tôi sẽ bầu VN vào một trong 10 nước tốt nhất để sống như là một doanh nhân nước ngoài. Lương của tôi là khoảng 200K USD một năm, và tôi sống trong một nước mà thu nhập bình quân ~2K một năm thì dĩ nhiên là tôi thấy thoải mái quá đi chứ.



Này nhé, tôi đâu có sống ở những nơi chật chội trong nội thành như đám dân đen kia; tôi sống ở Phú Mĩ Hưng hay những khu đô thị mới, thoáng mát và có nhiều cây xanh. Tôi đi làm đâu phải bằng xe Honda để phải chật vật với "triều cường" như đám dân địa phương; tôi đi làm bằng xe hơi, "four-wheel car" cao ngông nghênh trên đường phố được thiết kế cho xe ngựa là chính. Tôi không cần lái xe như bọn Việt Nam; công ti mướn tài xế lo cho tôi từng bước đi, thậm chí đi ăn trưa và uống cà phê! Đến văn phòng thì máy lanh đã bậc xong, tôi không biết cái nóng hừng hực bên ngoài là gì. Thật ra, sống ở VN chứ tôi có biết cái nóng nhiệt đới là gì đâu, vì dù ở nhà hay office tôi đều có máy lạnh.

Vợ tôi không bận bịu với con cái như đám nữ nhân viên của tôi; tôi có đã oshin người Việt lo đưa đón con tôi đi học. Con tôi cũng cảm thấy thích đất nước này, vì chúng không chung đụng với đám học trò Việt Nam đầy cạnh tranh kia. Oshin Việt Nam thì rẻ bèo, chỉ 200 USD/tháng là có một cô gốc miền Tây phục vụ cực kì tốt, kể cả nấu ăn ngon. Chúng tôi chẳng cần sợ bọn Tàu đầu độc với những thực phẩm độc hại, vì oshin chúng tôi toàn mua cá sống, gạo hảo hạng, bánh mì nhập từ Singapore, bơ sữa nhâp từ Pháp, Úc, Mĩ. Chúng tôi không cần nấu ăn, vì oshin lo. Chúng tôi không biết đến mấy quán nhậu bầy hầy mà đám dân địa phương lui tới, vì chúng tôi đã quen với buffet ở Caravelle, New World, Pullman, InterContinental, Sheraton, Sofitel, Nikko. Rex? Ồ, đó là khách sạn của Nhà nước, tồi lắm. Chúng tôi không phải lo chuyện lau nhà hàng tuần, bởi vì hàng ngày đã có oshin làm việc đó. Vui vui, chúng tôi đi ăn ở ngoài quán, và dĩ nhiên, chúng tôi đâu có dám léo hánh đến mấy chỗ vớ vẩn và mất vệ sinh ở trong hẽm. Xe four-wheel của tôi làm sao vào được mấy cái hẽm đó?! Lương 200K USD/năm thì việc đi ăn tối ở hàng quán up-market ở VN chỉ là chuyện nhỏ. Mà, món ăn VN lại cực kì ngon, chắc chắn ngon hơn tất cả những nước như Mĩ, Úc, Canada, Ý, Saudi Arabia, v.v.

Tôi cũng chẳng quan tâm gì đến mấy chuyện quyền con người này nọ; chuyện đó chẳng dính dáng gì đến tôi, vì đó là chuyện của đám oshin và anh tài xế của tôi. Tôi đâu có lo VN sẽ lệ thuộc hay mất vào tay của Tàu ở phương Bắc, vì đối với tôi, chỗ nào cũng là kinh doanh, kiếm lời. Tôi đâu có hiểu mấy chương trình văn nghệ và những bản tin tức tuyên truyền vớ vẩn đó; tôi xem đài BBC, NBC, CNN. Trong khi đám dân đen đó chẳng biết gì tình hình đằng sau chính trường VN, tôi biết khá tốt! Vì thế, chẳng ai làm phiền tôi, và tôi thấy thoải mái về tinh thần. Ngày cuối tuần, chúng tôi bay ra Đà Nẵng chơi, xuống Hội An tắm biển, bay về Hà Tiên làm một chuyến du ngoạn sang Kampuchea, bay ra Hà Nội thưởng thức tô phở 800 ngàn đồng (chuyện nhỏ), và bay về sân golf ở Tân Sơn Nhất đánh một phát với mấy đồng nghiệp nước ngoài đang chờ. Buồn buồn, tôi đổi không khí bằng cách bay qua Singapore mua đồ điện tử, và dĩ nhiên tôi đời nào để ý đến cái Sim Lim Square chết tiệt đó. Tôi cũng chẳng cần chen lấn, vì tôi đi máy bay hạng 1 của Singapore Airlines, chứ Vietnam Airlines, thì xin lỗi, tồi quá. Nhìn như thế, tôi đang sống một cuộc sống vương giả, một cuộc sống mà nếu tôi ở Mĩ có mơ cũng không có được.

Ôi, tôi yêu cái đất nước Việt Nam này quá. Tôi thấy mình như anh thực dân Tây ngày xưa ở Sài Gòn. Thật ra, tôi còn hơn mấy anh Tây ngày xưa, vì ngày nay tôi có tất cả tiện nghi mà mấy ảnh không có trước kia. Mấy anh ấy thời đó còn bị xua đuổi liên miên, còn chúng tôi thời nay thì được chào đón nồng nhiệt. Môi trường làm ăn ở VN có phần khó khăn vì nạn tham nhũng ư? Ồ, chúng tôi chỉ cần áp dụng triết lí dùng tiền của Năm Cam, một người vĩ đại trong nhóm những triết gia vĩ đại. Có tiền là cái gì cũng có ở VN, và hàng rào nào cũng sẽ vượt qua dễ dàng. Bọn Bio-Rad còn chỉ 2.5 triệu USD, thì việc các tập đoàn Nhật chi 10 lần con số đó cũng chỉ là "bỏ con tôm bắt con cá" thôi. VN có câu "nhất thân, nhì thế, tam quyền, tứ chế", và tất cả 4 yếu tố đều có thể mua bằng tiền. Chúng tôi cũng áy náy khi dùng tiền cho mục tiêu như thế, nhưng thử hỏi, ở cái nơi này mà người ta có câu "rừng nào cọp nấy" thì chúng tôi cũng phải chơi theo luật chơi địa phương thôi.

Ngày xưa, Graham Greene ngồi uống cà phê ở Tự Do viết "Người Mĩ trầm lặng", ngày nay tôi viết những chương sách huy hoàng cho Samsung, LG, Hyundai, Kumho, Mercedes-Benz, BMW, Ford, Volvo, Toyota, Mitsubishi, Novartis, Merck, Pfizer, sanofi, novo nordisk, HSBC, Deutsche Bank, Huawei, IBM, v.v. Vinh quang thay, đội doanh nhân nước ngoài ở VN. Chúng tôi xứng đáng có một bài tráng ca! Có lẽ phải mướn một tay nhạc sĩ nghèo VN sáng tác thôi.

OK, tôi đã đóng vai doanh nhân nước ngoài ở VN, bây giờ tôi quay về tôi: một người Việt Nam. Tôi nghĩ với quan điểm của những doanh nhân nước ngoài sống ở VN, thì VN đúng là một trong những nơi sống rất thoải mái nhất. Do đó, cái kết quả survey của BusinessInsider không hề sốc chút nào. Tuy nhiên, thay vì kết quả đó nói Việt Nam là nơi tốt nhất để sống, tôi đề nghị nên hiểu một cách khác: Việt Nam là một trong những môi trường lí tưởng nhất cho doanh nhân nước ngoài, vì họ có thể khai thác con người Việt Nam hữu hiệu nhất.

====




Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nộn ruột!

Cần những tầm nhìn vượt thời gian
Hồ Vinh (TBKTSG) - Bài viết Lãnh đạo và tầm nhìn trên TBKTSG số 51-2014 nêu lên một số quan điểm về tầm nhìn của người lãnh đạo trong tổ chức, trong đó, tác giả đã có những phân tích sâu sắc về những rủi ro khi bổ nhiệm người lãnh đạo chưa sẵn sàng. Bài viết này chia sẻ thêm một góc nhìn khác về chủ đề này.
Trước hết, cần phân biệt chức năng, vai trò, tính chất của quản lý và lãnh đạo. Quản lý thiên về khoa học, đòi hỏi những phương pháp, công cụ khoa học, và năng lực tư duy logic. Lãnh đạo lại thiên về nghệ thuật, đòi hỏi sự khéo léo, tinh tế, sức thu hút…

Năng lực quản lý thường được hình thành và phát triển theo thời gian thông qua quá trình đào tạo, huấn luyện hoặc qua chính quá trình làm việc. Năng lực lãnh đạo lại phụ thuộc nhiều hơn vào tố chất, mặc dù việc đào tạo, học hành, kinh nghiệm làm việc cũng có đóng góp phần nào.

Người lãnh đạo, bằng uy tín, phong thái, hay một tố chất đặc biệt nào đó của mình, thường có sức ảnh hưởng lớn và có khả năng thu hút, lôi kéo được người khác đi theo con đường mà mình chọn để đạt được một mục tiêu nào đó. Nhà lãnh đạo không nhất thiết phải có những năng lực thực thi cụ thể như lập kế hoạch, phân công, phân nhiệm, tổ chức, kiểm soát... như nhà quản lý, mà chỉ cần có tầm nhìn để chọn đúng hướng đi, đúng mục tiêu, và biết cách thu phục những nhà quản lý khác để tổ chức thực thi.

Một người lãnh đạo giỏi có thể có một tầm nhìn rất xa, vượt qua giới hạn sức khỏe, tuổi thọ và năng lực thực thi của chính mình. Họ có thể “thấy” được tương lai hàng trăm năm; có thể hình dung được những sứ mệnh mà hàng triệu người phải thực hiện, và những mục tiêu chỉ có thể đạt được sau nhiều thế hệ. Khi đó, tầm nhìn không còn là “điểm giao nhau” giữa tiềm năng tổ chức và năng lực tối đa của người lãnh đạo nữa.
Những công ty hàng đầu thế giới đã có tầm nhìn (vision) được xây dựng cách đây hàng trăm năm, qua bao thế hệ giám đốc, tổng giám đốc, thành viên hội đồng quản trị; và bản thân những người lãnh đạo đưa ra tầm nhìn ngày ấy, giờ cũng đã không còn. Thế nhưng, bất chấp tuổi tác và chuyện sống, chết của người lãnh đạo, bất chấp việc người đó có đủ sức khỏe, thời gian hay năng lực để thực thi hay không, công ty vẫn phát triển và ngày càng tiến tới viễn cảnh đúng như dự đoán của người lãnh đạo thuở ấy. Và những nhà lãnh đạo giỏi ngày nay cũng luôn hướng đến những tầm nhìn vượt thời gian theo cách như vậy, không phụ thuộc vào tuổi tác, năng lực thực thi của bản thân mình.

Tầm nhìn là một hoài bão - một viễn cảnh được kỳ vọng - mà người lãnh đạo muốn (và tin) rằng tổ chức của mình sẽ vươn tới. Viễn cảnh đó có thể rất xa, có thể vượt thời gian, không gian; có thể đòi hỏi nhiều thế hệ lãnh đạo kế tục mới trở thành hiện thực. Viễn cảnh đó không nhất thiết phải nằm trong “tầm với” của người lãnh đạo hiện tại theo nghĩa người ấy phải có khả năng khai thác, xử lý ngay trong nhiệm kỳ của mình. Những mục tiêu doanh thu hay lợi nhuận trong vài ba năm thực chất chỉ là những mục tiêu ngắn hạn, thậm chí là rất ngắn so với tầm nhìn rất xa mà người lãnh đạo muốn nhìn thấy ở một công ty.

Một người lãnh đạo đúng nghĩa sẽ không dựa vào năng lực của riêng mình để đề ra tầm nhìn hay sứ mệnh. Một người lãnh đạo có tố chất thực sự phải thấy được viễn cảnh mà cả đội ngũ trong tổ chức sẽ phải theo đuổi, và có thể sẽ mất nhiều thế hệ lãnh đạo mới có thể vươn tới viễn cảnh này.

Một tầm nhìn ngắn hạn (cho phù hợp với năng lực của mình) sẽ làm cho người lãnh đạo bị mắc kẹt trong lối tư duy chụp giật, “ăn xổi, ở thì”, không thể đem lại điều gì lớn lao cho tổ chức và cũng không thể huy động được sức mạnh đội ngũ để cùng “phất cờ tụ nghĩa”.

Lãnh đạo và tầm nhìn

http://www.thesaigontimes.vn/124452/Can-nhung-tam-nhin-vuot-thoi-gian.html


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tại sao các nước giàu lại dân chủ?


Khi 22 tuổi, Adam Smith đưa ra một tuyên bố nổi tiếng, “Điều kiện tiên quyết để đưa một quốc gia từ mức độ man rợ thấp nhất đến phồn thịnh cao nhất là không gì khác ngoài hòa bình, thuế khóa vừa phải, và một chính quyền tôn trọng công lý: mọi điều còn lại là do quá trình tự nhiên của sự vật đem tới.”[1] Ngày nay, gần 260 năm sau, chúng ta biết điều đó là hoàn toàn sai lầm.

Việc chiếc máy bay mang số hiệu MH370 của hãng hàng không Malaysia Airlines biến mất đã chứng tỏ Smith sai lầm ra sao khi nó làm nổi bật sự tương tác phức tạp giữa nhà nước và nền sản xuất hiện đại.

Để đảm bảo đi lại bằng hàng không khả thi và an toàn, nhà nước đảm bảo phi công biết cách lái máy bay và chiếc máy bay đó phải vượt qua các bài kiểm tra nghiêm ngặt. Họ xây dựng sân bay và cung cấp hệ thống ra-đa và vệ tinh để theo dõi các máy bay, kiểm soát không lưu để giữ chúng bay cách xa nhau, và các dịch vụ an ninh để ngăn chặn những kẻ khủng bố. Và, khi có sự cố, người ta không cần đến sự hỗ trợ từ hòa bình, thuế khóa hợp lý, và công lý; mà cần đến các cơ quan chính phủ chuyên nghiệp, có nguồn lực dồi dào.

Mọi nền kinh tế tiên tiến hiện nay có vẻ cần nhiều hơn những gì Smith dự đoán hồi ông còn trẻ. Các chính phủ không chỉ lớn và phức tạp, bao gồm hàng ngàn cơ quan chịu trách nhiệm quản lý hàng triệu trang quy tắc và quy định; họ còn dân chủ – và không chỉ bởi họ tổ chức bầu cử thường xuyên. Tại sao?

Khi xuất bản cuốn The Wealth of Nations[2] ở tuổi 43, Smith trở thành nhà khoa học về sự phức tạp (complexity scientist) đầu tiên. Ông hiểu rằng nền kinh tế là một hệ thống phức tạp cần phối hợp công việc của hàng ngàn người chỉ để tạo nên những thứ đơn giản như một bữa ăn hay một bộ đồ.

Nhưng Smith cũng hiểu rằng trong khi nền kinh tế quá phức tạp để một người có thể tổ chức được thì nó lại có khả năng tự tổ chức. Nó sở hữu một “bàn tay vô hình,” thứ hoạt động thông qua giá cả thị trường để cung cấp một hệ thống thông tin có thể dùng để tính toán rằng liệu việc sử dụng những nguồn lực cho một mục đích nhất định là có đáng hay không – tức là có lợi nhuận hay không.

Lợi nhuận là một hệ thống động lực khiến các doanh nghiệp và cá nhân đáp ứng lại các thông tin mà giá cả cung cấp. Và thị trường vốn chính là một hệ thống huy động nguồn lực, nó cung cấp tiền bạc cho các công ty và các dự án được mong đợi ​​sẽ đem lại lợi nhuận – tức những dự án phản ứng hiệu quả với giá thị trường.

Thế nhưng sản xuất hiện đại lại đòi hỏi nhiều yếu tố đầu vào mà thị trường không thể cung cấp. Và như trong trường hợp của các hãng hàng không, các yếu tố đầu vào này – quy định, tiêu chuẩn, chứng nhận, cơ sở hạ tầng, trường học và trung tâm đào tạo, phòng thí nghiệm khoa học, các dịch vụ an ninh, và nhiều thứ khác khác – được kết hợp với những yếu tố có thể mua được từ thị trường. Chúng tương tác với các hoạt động mà thị trường tổ chức theo những cách phức tạp nhất.

Vậy vấn đề ở đây là: Ai kiểm soát việc cung cấp các yếu tố đầu vào được cung cấp cho công chúng? Thủ tướng? Cơ quan lập pháp? Thẩm phán hàng đầu đất nước nào đã đọc hàng triệu trang các quy định pháp luật hoặc xem xét chúng bổ sung hay mâu thuẫn lẫn nhau thế nào, chưa nói đến việc áp dụng chúng vào vô số hoạt động khác nhau bao gồm nền kinh tế? Ngay cả một tổng thống hành pháp (presidential executive)[3] cũng không thể nắm rõ những thứ được hay không được thực hiện bởi hàng ngàn cơ quan chính phủ và cách chúng ảnh hưởng đến từng phần của xã hội như thế nào.

Đây là một vấn đề cần nhiều thông tin, và cũng như các thách thức về mặt phối hợp xã hội mà thị trường giải quyết, nó không cho phép điều khiển theo hướng tập trung hóa. Điều cần thiết là một cơ chế tương tự bàn tay vô hình của thị trường: một cơ chế tự tổ chức. Bầu cử rõ ràng là không đủ, bởi chúng thường diễn ra hai hay bốn năm một lần và thu thập rất ít thông tin từ mỗi cử tri.

Thay vào đó, một hệ thống chính trị thành công phải tạo nên được một bàn tay vô hình thay thế – một hệ thống phi tập trung hóa quyền lực để có thể xác định được vấn đề, đề xuất giải giải pháp, và giám sát hiệu quả thực hiện, để các quyết định được đưa ra dựa trên nhiều thông tin hơn.

Để lấy một ví dụ, chính phủ liên bang Hoa Kỳ chỉ chiếm 537 ghế trong khoảng 500.000 vị trí dân cử của nước này. Rõ ràng, còn nhiều điều diễn ra ở những nơi khác.

Quốc hội Hoa Kỳ có 100 thượng nghị sĩ với 40 trợ lý cho mỗi người, và 435 dân biểu với 25 trợ lý cho mỗi người. Họ được tổ chức thành 42 ủy ban và 182 tiểu ban, có nghĩa là có 224 cuộc đàm thoại song song diễn ra cùng lúc. Nhưng nhóm gồm hơn 15.000 người này không tồn tại đơn lẻ. Đối mặt với họ là khoảng 22.000 chuyên gia vận động hành lang, mà một trong những nhiệm vụ của họ là cùng ngồi xuống với những nhà lập pháp để dự thảo các đạo luật.

Điều này, cùng với một nền báo chí tự do, là một phần của cái cấu trúc vốn giúp đọc hàng triệu trang luật và giám sát những gì các cơ quan chính phủ thực hiện hay không thực hiện. Nó tạo ra các thông tin và các động cơ để phản hồi lại nó. Nó ảnh hưởng đến việc phân bổ ngân sách. Nó là một hệ thống mở mà trong đó ai cũng có thể tạo ra tin tức hoặc tìm một chuyên gia vận động hành lang để được trợ giúp, cho dù đó là bảo vệ cá voi hay là ăn thịt chúng.

Nếu không có một cơ chế như vậy, hệ thống chính trị không thể cung cấp kiểu môi trường mà nền kinh tế hiện đại cần. Đó là lí do tại sao tất cả các nước giàu lại dân chủ, và tại sao một số nước, như của người viết bài này (Venezuela), đang trở nên nghèo hơn. Cho dù một số các nước này có tổ chức bầu cử, họ có xu hướng vấp ngã tại ngay cả những vấn đề phối hợp đơn giản nhất. Xếp hàng để bỏ phiếu không đảm bảo rằng người dân sẽ không còn phải xếp hàng để mua giấy vệ sinh.

Nguồn: Ricardo Hausmann, “Why Are Rich Countries Democratic?” Project Syndicate, Mar. 26, 2014.

Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Ricardo Hausmann là cựu Bộ trưởng Kế hoạch của Venezuela và cựu Kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ, giáo sư ngành Thực hành phát triển kinh tế tại Đại học Harvard, nơi ông giữ chức Giám đốc Trung tâm Phát triển Quốc tế.

(Nghiên Cứu Quốc Tế)
———————-

[1] Xem Adam Smith. The Theory Of Moral Sentiments (Lý thuyết về cảm tính đạo đức), Quyển II Phần II Chương III – ND.

[2] Tên đầy đủ là Tìm hiểu về bản chất và nguồn gốc của cải của các quốc gia, bản tiếng Việt hiện nay dịch là Bàn về của cải quốc gia, hay Quốc phú luận – ND.

[3] Hình thức chính thể tổng thống chế, trong đó tổng thống có quyền lực mạnh, chẳng hạn như ở Hoa Kỳ. Ngược lại là hệ thống tổng thống hình thức (figurehead presidents), nghị viện có quyền lực mạnh, chẳng hạn như ở các nước Cộng hòa đại nghị – ND.



Phần nhận xét hiển thị trên trang