Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 20 tháng 12, 2014

perestroika...

perestroika11337817362723
Nguồn: Archie Brown (2007). “Perestroika and the End of the Cold War”, Cold War History, Vol.7, No. 1, pp. 1-17.
Biên dịch: Nông Thị Nghi Phương | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Không ai trong năm 1985 có thể tưởng tượng được rằng chỉ trong vòng bảy năm mà sự thống trị của Chủ nghĩa Cộng sản sẽ kết thúc ở châu Âu, Chiến tranh Lạnh chấm dứt, và Liên Xô sẽ sụp đổ. Thế nhưng khi những sự kiện này xảy ra, không hề hiếm các nhà quan sát nhanh chóng tuyên bố rằng những kết quả này là không thể tránh khỏi. Chủ nghĩa cộng sản đúng là một hệ thống thiếu hiệu quả trên rất nhiều mặt (dù không phải là tất cả) nên sẽ không thể tồn tại mãi mãi, nhưng nó cũng là hệ thống đã giải quyết được hàng loạt mối đe dọa trong suốt 70 năm và tạo dựng được những khả năng phòng thủ chính trị và quân sự mạnh mẽ.
Rất nhiều sự đơn giản hóa quá mức hoặc hiểu lầm liên quan đến perestroika (cải tổ) và sự sụp đổ của Liên Xô đã trở nên quá phổ biến. Trong số đó có quan điểm cho rằng Liên Xô đã đứng trên bờ vực cuối cùng và đối mặt với sụp đổ sắp diễn ra vào những năm 1980; nhận định khác cho rằng sự thay đổi của hệ thống Xô-viết, sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh, và sự tan rã của Liên Xô chủ yếu bắt nguồn từ chính quyền Reagan; quan niệm ảo tưởng là Boris Yeltsin phải chịu trách nhiệm chính trong việc phá hủy hệ thống Chủ nghĩa Cộng sản ở Nga; cũng như quan niệm sai lầm ngày càng phổ biến rằng thời kỳ cầm quyền của Yeltsin là sự mở rộng của perestroika nhưng với một hình thức dân chủ hơn.1
Bài viết này tập trung vào mối quan hệ giữa perestroika và sự chấm dứt của Chiến tranh Lạnh. Tôi sẽ lập luận sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh là kết quả trực tiếp của tự do hóa và dân chủ hóa cục bộ tại Liên Xô trong nửa cuối thập niên 1980, và, đặc biệt hơn cả, là sự thay đổi mạnh mẽ trong chính sách đối ngoại của Liên Xô. Tuy nhiên, tôi cũng sẽ chú ý đến ý tưởng rằng những thay đổi này bắt nguồn chủ yếu từ chính quyền Reagan cũng như những cách lý giải có liên quan, nhưng rộng hơn, của một số người tự cho mình là người theo chủ nghĩa hiện thực hoặc tân hiện thực trong nghiên cứu quan hệ quốc tế.
Trong tiếng Nga, perestroika theo nghĩa đen có nghĩa là sự tái xây dựng hay hành động xây dựng lại. Nếu thuật ngữ này được dịch ra (và trên thực tế nó đã được sử dụng trong tiếng Anh) thì cách dịch ‘tái xây dựng’ (reconstruction) được ưa thích sử dụng hơn, bởi thuật ngữ đó có thể mang nghĩa rộng là xây dựng một công trình mới tại cùng một vùng đất cũ, hoặc ý nghĩa khác và hạn chế hơn là chỉ sửa chữa nhỏ các công trình đang tồn tại trên đó. Đối với hầu hết các nhà lãnh đạo Xô-viết, những người chỉ ủng hộ suông choperestroika, nó chính là cách hiểu thứ hai. Đối với Gorbachev và những đồng minh chủ chốt của ông trong việc đưa ra dự án chính trị này, gồm cả Aleksandr Yakovlev, perestroika, ngay từ đầu có ý nghĩa cực kỳ quan trọng – và nó ngày càng trở thành một khái niệm cấp tiến hơn rất nhiều.
Nó cũng mang ý nghĩa đạo đức. Học giả người Nga Dmitriy Furrman gần đây đã gọi Perestroika là ‘một kiểu Tin lành Mác-xít’.Một nhà cải cách hàng đầu và là trợ lý có ảnh hưởng của Gorbachev, Georgiy Shakhnazarov, nhiều năm trước đã so sánh nó với Cải cách Kháng cách (Reformation).3 Tuy nhiên, tình thế tiến thoái lưỡng nan của Gorbachev – và điều này thậm chí đã được nhắc đến trong suốt thời kỳ tiến hành perestroika – là nếu coi phong trào Cộng sản quốc tế là một thứ tôn giáo thế tục, được bổ sung bởi kinh thánh Marx – Lenin, thì ông vừa là Giáo hoàng vừa là Luther.
Trên nhiều khía cạnh, việc động lực cho sự thay đổi đến từ bên trên chứ không phải từ một bộ phận lớn công chúng là một bất lợi, bởi perestroika chỉ có một khoảng thời gian cực kỳ hạn chế để thiết lập các nền móng của nó. Elena Bonner đã trích dẫn lời người chồng quá cố của bà, Andrey Sakharov, rằng: “Chúng ta đã bắt đầu xây dựng ngôi nhà mới của mình, không phải từ móng mà từ trần nhà”.4
Như ngụ ý của Sakharov, đó còn lâu mới là một phương pháp lý tưởng để xây dựng một cấu trúc chính trị mới. Thế nhưng đó lại là con đường duy nhất mà những thay đổi ở quy mô như perestroika đã tạo ra có thể bắt đầu ở Liên Xô trong những thập kỷ cuối của thế kỷ 20. Một phong trào quần chúng từ dưới lên hay (chưa nói đến) một cuộc cách mạng đều khó có thể xảy ra. Chính quyền đàn áp các cuộc nổi dậy chính trị trái phép như thể chúng là mối nguy hiểm cho sự tồn vong của quốc gia. Mặc dù điều này không hoàn toàn cho thấy chế độ tự tin về tính chính danh và được lòng dân của mình, nó vẫn đủ để loại bỏ phe chống đối từ khi còn trong trứng nước. Như Furman từng nhận xét: ‘Tỉ lệ là cứ mỗi người bất đồng chính kiến thì có tới 1.000 nhân viên KGB….  Bất cứ nỗ lực tiến hành cách mạng nào đều sẽ bị dập tắt ngay từ đầu’.5
Có thể không có câu trả lời rõ ràng – chứ đừng nói đến ‘khoa học’ – cho câu hỏi ‘Chiến tranh Lạnh đã kết thúc khi nào?’, bởi rốt cuộc thì thuật ngữ ‘Chiến tranh Lạnh’ là một phép ẩn dụ. Tuy nhiên, đó không phải là một phép ẩn dụ ngờ nghệch – như “Cuộc chiến chống Khủng bố” – mà thực sự là một phép ẩn dụ. ‘Chiến tranh Lạnh’ bao gồm những sự kiện rất trọng đại và cũng cực kỳ nguy hiểm, nhưng nó vẫn không phải là một cuộc chiến tranh. Tuy nhiên, bởi đó là tên gọi cho sự căng thẳng giữa một bên là Hoa Kỳ và đồng minh, đặc biệt là Tây Âu, với bên còn lại là Liên Xô và khối Cộng sản, có lý do để lập luận rằng Chiến tranh Lạnh, với cách hiểu ý nghĩa nhất của thuật ngữ này, đã kết thúc vào năm 1989 khi khối Xô-viết tự bước vào giai đoạn thoái trào. Tuy nhiên do Chiến tranh Lạnh bắt đầu với sự kiện Liên Xô tiếp quản Đông Âu dưới hình thức các đảng Cộng sản do Moscow chi phối giành được chính quyền, nó kết thúc khi các quốc gia Trung và Đông Âu trở nên phi Cộng sản và độc lập.
Ý định chấm dứt truyền thống chính sách đối ngoại Liên Xô trước kia của Gorbachev đã thể hiện rõ khi ông bắt đầu nhậm chức Tổng Bí thư, dù lúc đó nó chưa ngay lập tức rõ ràng đối với các nhà lãnh đạo phương Tây. Thậm chí ngay trong đám tang của Chernenko vào tháng 3/1985, Gorbachev đã nói các nhà lãnh đạo Đông Âu mà ông tiếp xúc cá nhân rằng họ đừng mong đợi sự can thiệp quân sự của Liên Xô để giữ vững quyền lực của mình.Chính họ là người quyết định liệu có thể duy trì hay giành được niềm tin của người dân quốc gia mình. Sau đó, trong tài liệu sáu trang mà Gorbachev chuẩn bị cho hội nghị Bộ Chính trị tổ chức vào ngày 26/6/1986, ông đã chỉ trích tuyên bố của Liên Xô rằng nước này là thẩm quyền duy nhất trong việc diễn giải chủ nghĩa Marx-Lenin. Ông nói Liên Xô không nên áp đặt các chỉ dẫn cho Đông Âu, mà chỉ nên tạo dựng ảnh hưởng về hệ tư tưởng – chính trị. Mối quan hệ với ‘các nước xã hội chủ nghĩa’, như ông gọi, cần dựa trên nền tảng bình đẳng, và nó nên là hoàn toàn tự nguyện.Nói cách khác, Liên Xô nên là một ví dụ điển hình (force of example) (để Đông Âu noi theo) hơn là một ví dụ về sự áp đặt sức mạnh (example of force).
Chỉ trong vài tháng sau khi lên chức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, Gorbachev đã thay thế vị Bộ trưởng Ngoại giao lâu năm, Andrey Gromyko (nắm vị trí này từ năm 1957), bằng Eduard Shevardnadze, Bí thư Thứ nhất của Gruzia, người không hề có kinh nghiệm gì về các sự kiện quốc tế. Bằng cách đó, Gorbachev đã áp đặt quyền lực tối cao của mình lên quá trình hoạch định chính sách đối ngoại và cài một đồng minh của mình vào Bộ Ngoại giao. Shevardnadez, người cùng lúc đó cũng đang được tiến cử từ vị trí ủy viên dự khuyết lên thành ủy viên chính thức của Bộ Chính trị, cũng đã trở thành một người ủng hộ kiên định cho các cải cách đối nội của Gorbachev.
Gorbachev có lý do nào đó để tin tưởng vào tư duy của Shevardnadze. Hai nhân vật này đã có một cuộc gặp riêng tư ngay sau sự can thiệp quân sự của Liên Xô vào Afghanistan và, như Shevardnadze tiết lộ sau đó, họ ‘đã thống nhất đó là một sai lầm chết người sẽ khiến quốc gia phải trả giá đắt’.Quyết định đã được đưa ra và thi hành trước khi toàn bộ Bộ Chính trị được thông báo, và tất nhiên cả Gorbachev và Shevardnadze đều không công khai sự phản đối của họ ở đó. Bởi các quyết định chính sách đối ngoại thuộc thẩm quyền của giới lãnh đạo chóp bu trong Bộ Chính trị, mà cả Gorbachev và Shevardnadze đều không phải là thành viên, nên nếu chỉ trích cuộc xâm lược Afghanistan thì có thể dẫn tới việc họ nhanh chóng bị loại khỏi nhóm tinh hoa lãnh đạo đảng.
Một khi Gorbachev đã nắm được vị trí quyền lực nhất trong hệ thống chính trị Xô-viết, ông có thể làm gì đó với vấn đề Afghanistan, nhưng – và ta có thể so sánh với trường hợp Việt Nam và Iraq – ông lại muốn rút quân theo cách nào đó để nó trông giống như là một thỏa thuận dàn xếp chứ không phải là một thất bại. Trong hội nghị Bộ Chính trị vào ngày 17/10/1985, Gorbachev tuyên bố trước các đồng sự rằng ông đã làm rõ với nhà cầm quyền Afganistan, Babrak Karmal, rằng tới mùa hè năm 1986 người Afghanistan sẽ phải học cách ‘làm thế nào để tự bảo vệ cuộc cách mạng của chính họ’. Karmal, theo như ông nói, đã ‘hết sức ngạc nhiên’.9
Gorbachev nói với Karmal rằng ông ta sẽ phải mở rộng lực lượng ủng hộ chế độ. Anatoliy Chernyaev, người lúc đó là phó trưởng Ban Đối ngoại của Ủy ban Trung ương và là người, từ tháng 2/1986, chuẩn bị trở thành trợ lý chính về chính sách đối ngoại cho Gorbachev, cũng có mặt tại hội nghị Bộ Chính trị đó. Ông nói rằng Gorbachev đọc to ‘một số bức thư não lòng’ từ những người mẹ của các binh sĩ Liên Xô đã phục vụ, và một số đã chết, ở Afghanistan. Gorbachev đã đánh vào yếu tố tình cảm trong nỗ lực thuyết phục Bộ Chính trị rằng sự hiện diện của Liên Xô tại Afghanistan là một sai lầm rất lớn. Ông kết thúc bài tham luận với câu nói: ‘Có hay không có Karrmal, chúng ta sẽ vững chắc theo đuổi con đường này, tức phải dẫn đến sự rút lui của chúng ta khỏi Afghanistan trong một khoảng thời gian ngắn tối thiểu’.10 Quá trình này kéo dài hơn rất nhiều so với mong đợi của ông – một phần bởi Hoa Kỳ tỏ ra lãnh đạm với những lo ngại của Liên Xô về việc trao quyền lực vào tay các phần tử Hồi giáo chính thống tại Afghanistan – và những binh lính Liên Xô cuối cùng đã rời Afghanistan vào tháng 2/1989.
Về phần Tây Âu, trong bài phát biểu quan trọng của ông tại Đại hội Đảng lần thứ 19 mùa hè năm 1988, Gorbachev nói rằng mỗi quốc gia phải tự quyết định loại hình thể chế chính trị và kinh tế theo ý muốn của mình. Ông tiếp tục nhắc lại phát ngôn này trong bài phát biểu tại Liên Hợp Quốc vào tháng 12 năm đó, khi nó nhận được nhiều sự chú ý hơn từ phương Tây.11 Sự thay đổi về chính sách đối với Tây Âu thậm chí còn mạnh mẽ và ảnh hưởng sâu rộng hơn rất nhiều so với sự rút quân của Liên Xô khỏi Afghanistan. Khi từ bỏ ‘học thuyết Brezhnev’, vốn là cơ sở để Liên Xô tự cho mình quyền đưa ra quyết định về giới hạn của sự thay đổi ở Đông Âu, Gorbachev không lường trước một sự chối bỏ bất ngờ như vậy cả về thể chế và cả về mối quan hệ hợp tác với Moscow của các dân tộc ở Đông Âu. Song các công dân Trung – Đông Âu đã tin vào tuyên bố không can thiệp của Gorbachev vào năm 1988, và rồi giành độc lập vào năm 1989. Tiếp theo đó là sự thống nhất của Đức vào năm 1990.
Tư tưởng và lợi ích
Điều gì đã dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn của chính sách đối ngoại mà Liên Xô đã theo đuổi suốt từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai? Rất nhiều học giả đã đưa ra những lập luận nói rằng Liên Xô bị dồn vào thế phải từ bỏ các lợi ích của nó như vậy là bởi nó không thể chạy đua kịp với Mỹ. Một vài học giả trong số này đã đánh giá thấp tầm quan trọng của Gorbachev, cho rằng đã có một thỏa thuận trong giới lãnh đạo Xô-viết về nhu cầu cần thay đổi chính sách đối ngoại. Các học giả tương tự lại đánh giá thấp vai trò của các tư tưởng – ‘Tư duy mới’ – vốn nảy mầm trong các cơ quan hoạch định chính sách hàng đầu và được theo đuổi bởi Gorbachev và các đồng minh cũng như những người ủng hộ ông, như Yakovlev và Chernyaev.
Ví dụ, Stephen Brooks và Willian Wohlforth, trong bài viết trên tạp chí International Security (An ninh Quốc tế), đã bác bỏ việc nhấn mạnh tầm quan trọng của các tư tưởng đó, viết rằng:
Nếu ý nghĩa và hệ quả của các áp lực vật chất mà Liên Xô phải đối mặt phụ thuộc vào các chuyển biến trong hệ tư tưởng, thì con người với những tư tưởng khác nhau đã phải có những phản ứng chiến lược cực kỳ khác nhau đối với những dấu hiệu có thể quan sát được của các thay đổi vật chất. Nhưng trong trường hợp này thì không phải như vậy. Một số lượng lớn các nhà tư tưởng cũ trong giới quân sự, công nghiệp quốc phòng, bộ ngoại giao, bộ máy Đảng Cộng sản, và KGB về cơ bản đã nhìn thấy những áp lực vật chất tương tự như Gorbachev đã nhìn thấy, và do đó không những chấp nhận mà còn đồng lõa với phản ứng chiến lược của Gorbachev.12
Mặc dù việc nhấn mạnh vào các tư tưởng hay thay đổi lãnh đạo, vốn dẫn đến sự loại trừ một nhân tố quan trọng là sự suy yếu lâu dài về tốc độ tăng trưởng kinh tế của Liên Xô, cũng có thể là một sai lầm, nhưng nó vẫn còn đúng hơn cách lý giải trên. Sức nặng của bằng chứng liên quan đến tốc độ tăng trưởng suy giảm của Liên Xô từ những năm 1950 đến những năm 1980 đã chỉ ra rằng một nền kinh tế chỉ huy kém hiệu quả hơn so với một nền kinh tế thị trường – trừ những ngoại lệ quan trọng liên quan đến một số các lĩnh vực được hưởng nhiều ưu đãi, như công nghiệp quân sự, hàng không, và nghiên cứu không gian. Do đó, ta có thể lập luận rằng một loại hình cải cách kinh tế căn bản nào đó là lợi ích dài hạn của toàn bộ người dân Liên Xô. Tuy nhiên, điều không rõ là những cải cách này phục vụ lợi ích cụ thể của ai trong giới lãnh đạo Liên Xô. Câu hỏi này cũng hoàn toàn có thể áp dụng vào việc cắt giảm triệt để chi tiêu quốc phòng, bao gồm cả việc cắt giảm quân sự đơn phương. Tại một cuộc họp Bộ Chính trị sau khi Gorbachev và Reagan thất bại trong việc đạt được thỏa thuận tại Thượng đỉnh Reykjavik năm 1986, Chủ tịch KGB Viktor Chebrikov nói: ‘Người Mỹ chỉ tư duy dựa trên sức mạnh.’13
Quân đội Liên Xô và KGB đã được hưởng lợi từ nền kinh tế Xô-viết chưa cải cách. Các bộ ngành Liên Xô, đặc biệt là những bộ ngành liên quan đến tổ hợp công nghiệp – quân sự, đã có một vị trí an toàn trong hệ thống, vị trí vốn sẽ rơi vào nguy hiểm nếu cải cách thị trường hóa. Và bộ máy Đảng Cộng sản vốn đóng vai trò giám sát trong hệ thống kinh tế (kế hoạch) sẽ trở nên không cần thiết trong nền kinh tế thị trường. Còn đối với giới lãnh đạo của quốc gia này, Liên Xô trở thành cường quốc chỉ một phần là nhờ nó là quốc gia rộng lớn nhất hành tinh, và có nguồn tài nguyên thiên thiên giàu có. Nguyên nhân chính yếu hơn là do sức mạnh quân sự của nó. Chúng ta khó mà chắc chắn được các bộ phận đặc quyền nhất trong giới lãnh đạo Liên Xô có thể đạt được gì từ các cải cách kinh tế toàn diện hay từ những cắt giảm quân sự đơn phương.
Cán cân các nguồn tài nguyên quan trọng nghiêng về phía có lợi cho Mỹ và bất lợi cho Liên Xô rõ ràng hơn nhiều sau khi Stalin ép buộc các quốc gia Trung – Đông Âu nằm dưới sự cai trị kiểu Xô-viết và tiếp tục củng cố quyền bá chủ của Liên Xô khắp nửa phía đông của lục địa Châu Âu. Chỉ tới những năm 1970, Liên Xô mới đạt được một nền quân sự hùng mạnh tương đối ngang ngửa Mỹ. Mặc dù suy thoái kinh tế dẫn đến hậu quả dài hạn cho Liên Xô, và thậm chí nếu nước Mỹ của Ronald Reagan bỏ ra nhiều tiền xây dựng lực lượng quân đội hơn rất nhiều so với Liên Xô, thì Liên Xô vẫn sở hữu dư số vũ khí hạt nhân để có thể tiêu diệt Hoa Kỳ – và, thật ra, toàn bộ sự sống trên trái đất. Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược (SDI) của Tổng thống Reagan chỉ nằm trên bản vẽ.
Kể cả trong viễn cảnh cực kỳ tươi sáng mà Reagan đưa ra, theo đó những loại vũ khí có tính chất phòng thủ này có thể “biến vũ khí hạt nhân trở nên lỗi thời”, thì tiến trình phát triển đó sẽ phải kéo dài đến 20 năm.14 Mặc dù rõ ràng SDI đã làm cho Liên Xô phải lo lắng bởi nó có khả năng tạo nên các sản phẩm công nghệ phụ, giám đốc nghiên cứu không gian Liên Xô, Roald Sagdeev, đã chế giếu ý tưởng rằng SDI có thể cung cấp một loại khiên đỡ chống lại một cuộc tấn công tên lửa hướng vào Mỹ.15 Số lượng tên lửa đạn đạo xuyên lục địa của Liên Xô lúc đó với nhiều đầu đạn cùng lúc sẽ đủ khiến việc Mỹ dựa vào SDI trở nên một sự rủi ro cực kỳ nguy hiểm.
Dưới thời Brezhnev, Andropov và Chernenko, giới lãnh đạo Xô-viết đã phản ứng hoàn toàn tương tự như trong suốt nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên của Reagan với những gì họ nhìn nhận là mối đe dọa tăng cường bắt nguồn từ Mỹ. Kể cả với những giả thuyết của Reagan về tính khả thi của chương trình SDI, thì dựa trên thực tế khả năng hủy diệt lẫn nhau (mutually assured destruction – MAD) vẫn sẽ tiếp diễn trong hai thập kỷ nữa, sẽ là khá sai lầm khi tưởng tượng rằng giới lãnh đạo Liên Xô bị ép buộc phải thay đổi chính sách đối ngoại một cách toàn diện. Trên thực tế, nhà lãnh đạo đầu tiên của Liên Xô được lựa chọn (vào năm 1984) sau tuyên bố về chương trình SDI của Reagan năm 1983 là Konstantin Chernenko, và trong suốt nhiệm kỳ lãnh đạo của ông chính sách an ninh và đối ngoại Liên Xô hoàn toàn nằm trong tay các vị bộ trưởng kỳ cựu, Gromyko và Dmitriy Ustinov, Bộ trưởng Quốc phòng (cái chết của ông này vào tháng 12/1984 đã khiến Gorbachev phải cắt ngắn chuyến thăm Anh một ngày).
Mặc dù Gorcbahev lúc đó đã trở thành Tổng Bí thư Ủy ban Trung ương, có vai trò giám sát chính sách đối ngoại, và Grigoriy Romanov trở thành Bí thư giám sát quân sự và ngành công nghiệp quốc phòng, nhưng chừng nào Gromyko còn là Bộ trưởng Ngoại giao và Ustinov còn là Bộ trưởng Quốc phòng thì bề dày kinh nghiệm và thâm niên cũng đã tạo dựng cho họ những quyền lực tối cao trong hai lĩnh vực riêng rẽ nhưng có liên kết chặt chẽ này. Ta có thể đặt một câu hỏi chính đáng là: nếu chính sách mà Gorbachev theo đuổi (như nhiều ‘nhà hiện thực’ phương Tây đã khẳng định dù chỉ là sau khi mọi việc đã xảy ra) là lựa chọn nghiêm túc duy nhất đối với giới lãnh đạo Liên Xô, thì tại sao những ‘nhà hiện thực’ cứng rắn như Gromyko và Ustinov (hay cả Brezhnev, Andropov, và thậm chí Chernenko) lại không hề đề cập đến nó trong 5 năm đầu nhiệm kỳ tổng thống của Reagan?
Điều trớ trêu là khi nhấn mạnh tầm quan trọng của các nguồn lực vật chất, một số học giả phương Tây đã đưa ra cách giải thích duy vật lịch sử để lý giải cho sự thay đổi trong chính sách của Liên Xô trong nửa cuối thập kỷ 1980. Sự suy thoái tương đối của kinh tế Liên Xô so với các quốc gia phương Tây phát triển và các quốc gia mới công nghiệp hóa của châu Á rõ ràng là một trong số các nhân tố kích thích những giai đoạn ban đầu của cải cách sau 1985. Tuy nhiên, cải cách kinh tế Liên Xô trong thời kỳ chuẩn bị kết thúc Chiến tranh Lạnh thậm chí còn không theo kịp biến đổi của chính thể Xô-viết.
Điều ‘không hề ngẫu nhiên’ là phiên họp toàn thể của Ủy ban Trung ương về cải cách chính trị tháng 1/1987 lại diễn ra trước phiên họp về cải cách kinh tế, tổ chức vào tháng 7 cùng năm. Cải cách kinh tế được tiến hành kém triệt để hơn rất nhiều so với cải cách chính trị, trong khi cải cách chính trị chỉ có quan hệ ở mức cảm nhận được với suy thoái kinh tế. Các biện pháp dân chủ hóa được giới thiệu dưới thời Gorbachev – bao gồm đưa ra hàng loạt các quyền tự do và tổ chức các cuộc tranh cử dành cho một cơ quan lập pháp nghiêm túc, hoàn toàn khác với Xô-viết Tối cao trước đó vốn chỉ quen đóng dấu thông qua các quyết định của Đảng – là quan trọng hơn rất nhiều so với cải cách kinh tế trong mối quan hệ với sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh.
Cải cách chính trị trong nước, đến lượt nó, lại không được dứt khoát như thay đổi chính sách đối ngoại. Stephen Brooks và William Wohlforth, trong một bài báo khác, đã miêu tả các quốc gia phụ thuộc Liên Xô ở Đông Âu như là ‘trường hợp tồi tệ nhất về sự dàn trải sức mạnh đế chế trong lịch sử hiện đại’, cho thấy rằng giới lãnh đạo Xô-viết chẳng có lựa chọn nào khác ngoài từ bỏ chúng.16 Trên thực tế, một đế chế có lãnh thổ liên tục dễ quản lý hơn nhiều những vùng đất xa xôi của Đế chế Anh, bao gồm Ấn Độ và những vùng đất rộng lớn ở châu Á và Châu Phi. Về mặt quân sự và tâm lý, Liên Xô cũng gặp khó khăn hơn trong việc từ bỏ thứ có vẻ vừa là một khu vực đệm, vừa là phần thưởng cho chiến thắng trong Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Vlidimir Kryuchkov, người kế nhiệm chức Chủ tịch KGB của Chebrokov vào năm 1988, đã không liều lĩnh phản đối sự thống nhất của Đức vào thời gian đó, nhưng cuối cùng ông cũng thể hiện ý kiến của mình một cách rõ ràng:
Nói chung sự phản bội của M.S. Gorbachev là không có giới hạn. Khi số phận của Đông Đức đang được quyết định, M.S. Gorbachev đã dẫm đạp lên các lợi ích của Liên Xô giữa một cách công khai. Ông không cần phải chờ đợi lâu để nhận được lời ca tụng từ phương Tây cho bước đi đó. Năm 1990 cựu Bộ trưởng Ngoại giao Đức, H-D. Genscher đã nói như sau: ‘Người Đức sẽ luôn biết ơn Gorbachev vì những gì ông đã làm để biến sự thống nhất của chúng ta trở thành hiện thực’.17
Cái chúng ta đang nói đến ở đây không phải là lợi ích, mà là nhận thức về lợi ích. Tính chủ quan của việc đánh giá lợi ích quốc gia có thể được minh họa bởi sự tin tưởng rõ ràng của Kryuchkov rằng việc duy trì tình trạng chia cắt Đức và chống lại ý muốn của phần lớn nhân dân Đức (sau khi dân chủ hóa xuất hiện tại phần còn lại của Trung – Đông Âu) chính là lợi ích của Liên Xô và Nga. Ngược lại, Gorbachev lại tin rằng việc tạo điều kiện cho thống nhất, một khi đòi hỏi đó đã trở nên đủ cấp bách, sẽ có thể tạo ra những mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, dài lâu.
- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2014/12/21/perestroika-ket-thuc-chien-tranh-lanh/#sthash.A3JMud5x.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khói

Truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn

Mặt trời khuất sau ngọn núi cao nhất của cả một dải rừng. Trên đỉnh núi nhô lên như một cái vú bầu bĩnh ấy mọc những cây đại thụ, giờ đây không trông thấy chiều dầy của cành lá nữa mà giống như một bức màn mỏng đính vào nền trời xám. Ông Thản khoác khẩu AK đã lên đạn sẵn nhưng được khoá cơ bẩm và ngước nhìn về phía ấy. Chung quanh ông là rừng rậm. (Gọi "ông" Thản là gọi theo cách của tù. "Ông" Thản là một thanh niên chưa quá 19 tuổi).
Ông Thản biết trên đỉnh núi cao nhất kia, các đồng chí của ông đang đưa ống nhòm phóng tầm mắt ra bốn phía, tìm trong tán lá rừng già trải ở phía dưới những dấu hiệu khả nghi. Một bóng người lộ ra ở bìa rừng, lối xuống bản đồng bào Mán. Một sợi khói mỏng như tơ. Và lùng sục. Tay giữ chặt dây xích, ghì lại những con béc-giê giống Đức hăng hái lao đi phía trước. Cố tìm ra một dấu vết nào đó như một mẩu vỏ bí dúi vào bụi cây, một hạt cơm vãi bị lá rừng phủ lên, một cành cây gẫy đáng nghi, một chút hơi người trên thảm lá mục. Dân bản cho biết đêm trước một nhà bị mất một quả bí trong vườn, một nhà khác có nồi cơm nguội để dưới bếp bị vét sạch. Vậy là thằng Dương còn quanh quẩn vùng này. Cái tên tù trốn trại ấy. Nó chưa thể đi xa được. Một bán kính 15 ki lô mét quanh trại đã được bủa vây chặt chẽ. Các bến tầu, bến xe đều có người canh gác.
Nhưng thằng Dương vẫn bặt tăm hơi. Nó trốn trại vào ban đêm. Đi lối nhà mét (1). Cũng may, nó trốn cách ấy. Không ai bị quy trách nhiệm cả. Chứ nếu nó trốn trong lúc đi làm thì lôi thôi to. Hẳn bọn ông đã có người khốn khổ.
Có tiếng động phía sau lưng. Ông Thản quay lại, cúi nhìn. Không. Không có ai. Hình như là một cành cây gẫy. Còn sáng thế này nó chưa dám đi đâu. Còn chui rúc ở một hang hốc nào đó. Có khi nó lại leo lên cây, ngồi ngay trên đầu mình. Bất thần ông ngước mắt nhìn lên. Rừng rậm. Một thứ rừng quanh năm xanh tươi, không có mùa rụng lá. Những cành cây phủ đầy rêu ken dầy, quấn quít dây leo. Những dây leo vĩ đại lá to như lá cọ, im lặng để rơi những bông hoa hình loa kèn nặng nề, chín nẫu "bộp, bộp" xuống thảm lá mục. Một con chim lớn từ đâu bay tới, đỗ xuống ngọn cây, ông thấy thoáng đôi cánh rộng êm ru ở khoảng trời xám nhạt hiếm hoi lộ ra trên tán lá.
Ông lại khoác súng bước đi. Suối chảy róc rách dưới chân chỉ làm tăng thêm vẻ hoang vu tịch mịch của rừng. Ông đi không nghĩ ngợi và cũng chẳng biết mình đang đi đến nơi nào nữa.
Bất chợt ông nhìn thấy một nương sắn đã rỡ. Giữa nương sắn có một cái miếu nhỏ hoang tàn và một cây si cằn cỗi nhưng có rất nhiều rễ phụ toả xuống. Vậy là sắp tới nhà bò. Ông biết mình đang đi dần về phía trại. Ông dừng lại, nhìn ngắm. Những buổi chiều cô đơn trong rừng buồn tái tê. Đành rằng có rừng ở chung quanh đấy, nhưng cũng như người, rừng cô đơn. Và cũng như người, rừng im lặng với nỗi cô đơn của mình, không trò chuyện.
Ông lại đi. Ông nghĩ tới thằng Dương. Nó là sinh viên năm thứ tư, vào tù vì tội đánh nhau với thanh niên địa phương trường sơ tán. Án tám năm. Đã tù bẩy năm. Chỉ còn một năm nữa. Mà không cố được. Đã vượt qua bẩy năm. Rồi bỗng thấy không chịu đựng thêm nổi một ngày. Thật là khó hiểu. Và ngu xuẩn. Chỉ vì nó mà bao nhiêu người phải khổ. Năm ngày đêm rồi. Không biết năm ngày vừa rồi nó sống bằng gì. Tý cơm nguội. Quả bí non. Lẩn lút chui lủi trong rừng mãi sao nổi. Trước mắt nó chỉ có một con đường: Chịu sự cải tạo.
Tiếng suối vẫn khi gần khi xa. Bài ca muôn thuở của rừng. Ông lại nhìn lên đỉnh núi cao nhất như một cái bầu vú, tìm ánh mặt trời còn sót lại. Bỗng ông giật mình: Khói. Phía rừng bên kia có khói. Làn khói mỏng manh thẳng đứng lẫn trong sương tỏa trên tán cây rừng. Ông định thần nhìn lại. Đúng là khói. Phấn chấn hẳn lên, linh hoạt hẳn lên, ông bước sang phía rừng bên ấy, nhẹ nhàng như một con báo. Tay lăm lăm khẩu AK, ông bước khom khom, căng thẳng. Chốt hãm cơ bẩm được nhẹ nhàng kéo xuống. Nếu đấy là thằng Dương, nếu nó chạy, ông cũng không bắn đuổi theo đâu. Ông chỉ bắn chỉ thiên thôi. Vừa là để cảnh cáo bắt nó đứng lại, vừa để báo động cho đồng đội đến mà bắt mà trói nó, giải nó về trại. Nó phải hiểu rằng nó không thể trốn đâu thoát. Dù có ra  khỏi trại. Dù có vượt qua được những cánh rừng bạt ngàn này. Nó đã làm xáo động cả trại. Nó làm bọn ông xiết bao khổ sở. Hôm nay trời khô, còn đỡ. Mấy hôm trước trời đổ mưa dầm. Mỗi cái lá là bao nhiêu nước. Bọn ông lội suối, chui rừng. Người, chó ướt đẫm. Rét cóng. Đói nữa. Vắt bám cả trên gáy, cả dưới nách. Nó hành hạ bọn ông. Cái thằng khốn nạn ấy...
Tất nhiên nó phải vào xà lim. Cùm. Húp cháo loãng. Về tội trốn tránh cải tạo. Nhưng trước khi dong nó về trại phải cho nó biết thế nào là trốn trại... Đấy là bực lên thì nghĩ thế, nói thế thôi. Có khi bắt được nó, nhìn vẻ mặt thiểu não, tuyệt vọng, dáng vẻ tiều tuỵ của nó lại thương, lại kín đáo dúi cho nó mẩu lương khô chưa biết chừng.
Ông Thản tháo giầy lội qua suối. Nước cắn vào chân từng miếng. Người ông run lên. Chẳng đợi khô chân, ông xỏ vội vào đôi giầy vải. Và nhẹ nhàng rẽ bụi cỏ lau. Bước lên bìa rừng bên kia.
Thật sự ông không tin đó là thằng Dương. Chẳng tên tù trốn trại nào lại đi nổi lửa vào lúc trời còn sáng như thế này. Nhưng dù sao làn khói cũng là mục tiêu để ông đi đến. Để ông tìm hiểu. Để ông trò chuyện. Để ông chấm dứt cảnh cô đơn. Và biết đâu từ đám khói lại mò ra tung tích thằng Dương.
Trước mặt ông là một đống lửa nhỏ. Nhưng rừng rực than hồng. Hẳn là một loại củi chắc. Một người quần áo xanh xám, thứ mầu vải quá quen thuộc với ông. Mầu quần áo của bọn phạm. Thoáng nhìn ông đã biết ngay không phải thằng Dương. Đó là Thắng chăn bò. Anh ta ngồi trên gốc cây bị cưa cụt, gục đầu vào hai cánh tay, bất động. Lâu lâu nó lại giơ hai tay ra huơ huơ trên đống than hồng hoặc vun những mẩu củi ngắn vào đống lửa. Không thấy anh ta đun nước. Cũng không thấy nấu nướng cái gì đó. Anh ta chỉ ngồi sưởi. Mà cũng không phải là sưởi. Ngồi gục đầu im lặng trước đống lửa. Thế thôi.
Gần một năm trời lên đây, ông vẫn không hiểu được vì sao đám phạm rất thích lửa. Đi làm, việc đầu tiên là nổi lửa cái đã. Họ tản ra mỗi người một phía và trở về với những củi gộc, củi cành. Chỉ một thoáng đống lửa đã bốc lên rừng rực. Rét như thế này, họ đốt lửa đã đành. Về mùa nực cũng một đống lửa to không kém.
Nhìn đống lửa đã vạc, tự nhiên ông thấy rét run người. Ông thèm được sưởi, được trò chuyện. Ông Thản khoá nòng súng, bước thẳng về phía đống lửa.
Anh tù chăn bò giật mình khi thấy ông công an vũ trang khoác súng đi tới. Anh đứng lên, hai tay duỗi thẳng, ép vào đùi:
- Chào cán bộ.
Ông Thản ra hiệu cho anh chăn bò tự nhiên. Anh tù lễ phép ngồi xuống một cành củi gần đó, nhường gốc cây cụt cho ông vũ trang.
- Cho bò về chuồng rồi à?
- Báo cáo ông, vâng.
- Chưa về trại à?
- Thưa cán bộ, tôi sưởi một tý. Hôm nay rét quá.
- Anh tù bao lâu rồi?
- Thưa cán bộ, tám năm rồi.
- Án bao nhiêu?
- Hai mươi năm.
- Anh năm nay bao nhiêu tuổi?
- Thưa cán bộ, năm mươi hai ạ.
Được nói chuyện một tý ông Thản thấy vui vui, lại được hơi lửa hắt vào mặt, vào người dễ chịu quá. Ông định tiếp tục câu chuyện, muốn hỏi Thắng mắc tội gì, nói với Thắng rằng bọn ông cũng rất nhớ nhà và nếu ai cũng tự giác cải tạo như Thắng thì bọn ông đỡ vất vả, nhưng một hồi kẻng từ xa vọng lại. Tiếng kẻng đập vào vách núi này, hắt sang vách núi khác như tất cả rừng núi cùng ngân vang. Kẻng cấm một. Nghĩa là kẻng điểm danh. Anh chăn bò là tù tự giác không phải đứng trong hàng cho cán bộ đếm, nhưng cũng phải về trại. Anh tù đứng lên:
- Xin phép cán bộ, tôi về.
Ông Thản nhìn theo anh tù một tay khoác bị cói, một tay xách cặp lồng đi khuất vào trong rừng.
Còn lại một mình ông. Rừng càng hoang vắng, im lặng. Đã nom thấy sương dầy trên thảm lá mục, dưới những gốc cây. Sương hay hơi đất, hơi rừng bốc lên. Không một tiếng động. Chưa đến giờ thú đi ăn. Vậy cũng là chưa đến giờ thằng Dương mò ra khỏi ổ.
Ông Thản với tay nhặt những cành cây khô người tù chăn bò để lại cạnh đấy cho vào đống lửa. Ngọn lửa bùng lên. Khói bốc dầy hơn, quyện cùng sương. Ông nhìn lửa, nhìn sương, nhìn khói, nhìn rừng. Rồi ông gục đầu xuống hai cánh tay khoanh trên gối, nghe chiều sâu im lặng của rừng. Ông nghe lửa ấm quen thuộc trên da mặt. Lửa làm ông ấm áp cả trong lòng, giúp ông thấy mình không bị tách rời khỏi cuộc sống, tách rời khỏi gia đình, bố mẹ anh em đang ở một nơi nào xa lắm. Bởi vì lúc này ông nhìn thấy một cánh đồng mùa đông đã gặt xong chỉ còn trơ gốc rạ. Mặc cho những con trâu gặm cỏ, ông và các bạn chăn trâu nhổ gốc rạ, đổ thành đống, đốt lửa. Khói bốc lên. Tất cả ngồi chung quanh. Khói tạt về phía nào, đứa ngồi ở phía đó lấy tay xua, miệng nói:
Khói về đằng kia ăn cơm với cá
Khói về đằng này lấy đá đập đầu.
Gục đầu trên cánh tay, ông nhìn rõ cảnh ấy.
Gục đầu trên cánh tay, ông im lặng chờ tiếng chân thú đi kiếm mồi.
Đến lúc ấy, ông sẽ khoác súng đứng lên, đi sâu hơn  nữa vào trong rừng.
B.N.T

Phần nhận xét hiển thị trên trang

– Thời mạt kỳ, gien biến đổi gien, đường vạn nẻo lòng tin vào thuở trước ! - Nghiệp cầm bút, ngọc trau chuốt ngọc, năm hai nghìn chuyện kể với mai sau

(*)Thời biến đổi gien” và “Chuyện kể năm 2000″ là hai tác phẩm của nhà văn Bùi Ngọc Tấn
Ghi chép ngày phát tang (19/12/2014):
Tối muộn hôm thứ 4, một người bạn nhắn tin cho tôi hỏi cuối tuần có“đi Hải Phòng thăm chú Tấn” được không, còn đang nhì nhèo chị đi thứ 5 hoặc thứ 6 đi để cả hai đi cùng nhau, thì sáng sớm hôm sau đã thấy chị nhắn tin “chú Tấn mất rồi”. Kế hoạch đi thăm đổi thành đi viếng.
Sớm thứ 6, lúc đến 53 Nguyễn Du đã thấy nhà giáo Phạm Toàn, giáo sư Chu Hảo, nhà thơ Minh Hà cùng mấy người bạn trong nhóm Cánh Buồm sẵn sàng lên xe đi Hải Phòng. Chị bạn đưa cho tôi gói xôi, bảo ăn đi tí còn chào chú Tấn. … Một lát sau TS Nguyễn Xuân Diện, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, nhà giáo Vũ Thế Khôi tới. Nguyễn Xuân Khánh cười hiền như ông bụt:
- Tớ đến đây từ 6 giờ, không thấy ai lại đi bộ sang Hội nhà văn.
- Ôi bác ơi, 6h30 cơ mà!
- Thằng này (chỉ Phạm Toàn) nó hẹn tớ 6 giờ đấy chứ!
Hai ông cụ đã ngoài 80 trêu chọc nhau như trẻ nhỏ. Lúc trên xe, Phạm Toàn nói: “Tấn bảo ai đi trước là sướng! Cu cậu nhanh chân hơn chúng mình rồi!”
Xe đưa cả nhóm tới đầu ngõ 800, phố Thiên Lôi đã thấy từng nhóm cảnh sát giao thông túc trực, phân luồng. Nắng chói chang như mùa hè. Vừa xuống xe, đang loay hoay tìm biển chỉ dẫn chỗ để xe, đã thấy được chụp ảnh ghi hình từ xa, một người cười: “Ái chà, Hải Phòng chu đáo, tận tình ghê nhỉ!” Lúc đi gần, mình giơ máy ảnh lên chụp hình đáp lễ thì nhận được một cái lườm sắc lẻm, chắc người ta hay xấu hổ.
Đến đám tang không nghe thấy tiếng kèn trống ỉ eo ầm ĩ. Mấy vòng hoa nhóm đã đặt sẵn từ lúc còn đang trên đường được mang tới xếp ngay ngắn cạnh tường. Cả nhóm dừng lại chờ nhà thơ Dương Tường, nhà văn Nguyên Ngọc. Chuẩn bị vào viếng thì thấy chữ trên vòng hoa của Văn đoàn độc lập, Diễn Đàn Paris biến mất tự lúc nào [ngày hôm sau, 20/12, vòng hoa của Diễn đàn Xã hội Dân sự mà TS Nguyễn Quang A đặt viếng cũng chịu chung số phận – kịch bản hệt như trong đám tang luật gia Lê Hiếu Đằng một năm trước ở Sài Gòn – Văn Việt]. Mình ngẩn người, không biết chú Tấn có thấy buồn cười không nhỉ? Một người bạn bảo: thấy bác Nguyên Ngọc cầm vòng hoa là người ta biết của Văn đoàn rồi! Phạm Xuân Nguyên thì mang cả vòng hoa của Hội Nhà văn Hà Nội và vòng hoa đề tên riêng Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Quang Lập tới. Người gọi loa xướng to tên người vào viếng, gia đình Hoàng Hưng, rồi Nhóm Cánh Buồm đến Văn đoàn độc lập, Diễn đàn Paris thì thấy bên cạnh có người ơ lên rồi lại nghe một người bảo “Đọc rồi thì thôi, cứ kệ!” Dòng người lặng lẽ đi vào, cúi mình trước hương hồn nhà văn đất cảng.
Quay trở ra, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh băn khoăn “Mấy ngày cuối chắc Tấn đau lắm?” Bà Bích – vợ nhà văn Bùi Ngọc Tấn nhẹ nhàng: “May sao hai hôm cuối lại bớt đau anh ạ. Anh Tấn mừng là đã làm xong việc cần làm rồi, không còn lo lắng, nuối tiếc gì nữa!” “Thế là mừng rồi!”
Thật mừng cho Bùi Ngọc Tấn, và mừng cho chúng ta, bởi ông đã viết ra những điều muốn viết. Trên đường về, tôi lên lịch chờ ngày được đọc “Thời biến đổi gien”, hẳn sẽ sớm thôi.
Ảnh:
clip_image002
- Nhà văn Nguyên Ngọc đưa vòng hoa của Ban VĐ VĐ ĐL VN vào viếng nhà văn BNT
clip_image003
clip_image004
clip_image005
- Những vòng hoa bè bạn và bạn đọc: gia đình nhà thơ Hoàng Hưng, nhóm Cánh Buồm (bên cạnh là vòng hoa của Diễn Đàn Paris cũng bị giật mt băng kính viếng), bạn đọc trang web Hiệu Minh.
Bài và ảnh: Thảo Đinh

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lại một thông tin chẳng ra gì!

"Indonesia đang đùa với lửa trên Biển Đông"

Hồng Thủy 
(GDVN) - Jakarta sẽ cảm thấy thế nào nếu các nước khác trả đũa và đốt cháy tàu cá Indonesia?
Tân Tổng thống Indonesia Joko Widodo được cho là theo đuổi chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan với "liệu pháp sốc" với tàu cá láng giềng để tìm kiếm sự ủng hộ trong nước.
The Diplomat ngày 18/12 đăng bài phân tích của giáo sư Carl Thayer từ học viện Quốc phòng Úc bình luận, tân Tổng thống Indonesia Joko Widodo đang đùa với lửa trên Biển Đông. Ông Widodo có thể gây nguy hiểm cho mối quan hệ song phương giữa Indonesia với các nước láng giềng ASEAN vì giải pháp gây sốc của mình, đánh chìm các tàu cá nước ngoài bị Jakarta bắt giữ vì (họ cho là) đánh bắt trái phép trên vùng biển quốc gia này.
"Liệu pháp sốc" và những biện minh
Ngày 5/12 tân Tổng thống Indonesia ra lệnh cho các lực lượng chức năng nước này đốt cháy và đánh chìm 3 tùa cá Việt Nam (bị Indonesia cho là) đánh bắt bất hợp pháp trong vùng biển gần quần đảo Anambas. Sự cố này đã được các phương tiện truyền thông đưa tin rộng rãi. Ngày hôm sau Jakarta chính thức công bố chính sách mới của mình và gọi nó là "liệu pháp sốc cho những kẻ đánh bắt bất hợp pháp".
Ông Widodo nói với tờ Antara News Agency: "Chúng tôi đánh chìm 3 tàu của họ vào Thứ Sáu để dạy cho họ một bài học, để họ từ bỏ đánh bắt trộm trong vùng biển Indonesia." Theo Tedjo Edhy Purdijatno, Bộ trưởng Điều phối các vấn đề chính trị, pháp lý và an ninh, Jakarta đang có ý định chứng minh rằng, chính phủ hành động cứng rắn, thậm chỉ chuẩn bị đánh chìm 5 tàu cá Thái Lan bị họ bắt giữ gần West Kalimantan sau khi Widodo công bố "liệu pháp sốc".
Joko Widodo biện minh cho hành động của mình trong một loạt cuộc trả lời phỏng vấn với báo chí nước ngoài. Ông nói với tờ The Wall Street Journal: "Mỗi ngày có khoảng 5400 tàu cá nước ngoài hoạt động trong vùng biển của chúng tôi. 90% trong số họ hoạt động bất hợp pháp. Vì vậy phải có liệu pháp sốc đối với họ, tất nhiên chúng tôi được đánh chìm tàu của họ". Giới chức Indonesia  thì tính toán rằng nước này thiệt hại khoảng 20 tỉ USD một năm vì tàu cá nước ngoài đánh bắt trộm.
Tổng thống Indonesia cũng lưu ý rằng, Việt Nam không phải là trường hợp đặc biệt. Ông tuyên bố, tàu cá của bất kỳ quốc gia nào khi đánh bắt bất hợp pháp trên vùng biển nước ông đều bị xử lý như nhau, mà theo một đạo luật năm 2009 chính quyền Indonesia có thể đánh chìm tàu cá đánh trộm mà không có giấy phép.
Nếu nước nào cũng đốt cháy tàu cá Indonesia khi bắt quả tang họ đánh bắt trộm thì Jakarta sẽ nghĩ sao?
Trong cuộc trả lời phỏng vấn đài VOA, Joko Widodo tuyên bố: "Tôi đã chỉ thị cho các bộ, các chỉ huy quân sự không được để tình trạng đánh cá bất hợp pháp tiếp diễn. Tôi đã hướng dẫn họ 3 hoặc 4 tuần trước, cứ đánh chìm những tàu cá bất hợp pháp. Họ sẽ không dám quay lại. Thứ Sáu tuần trước, chúng tôi bắt đầu đánh chìm nhiều tàu". Ông Widodo cũng nói với hãng AFP: "Tôi đã yêu cầu Ngoại trưởng giải thích với các nước rằng đây hoàn toàn là một vấn đề hình sự, không liên quan tới quan hệ với các nước láng giềng".
Cảnh báo các nước trước khi đánh chìm tàu cá, nhưng quên Việt Nam
Bộ trưởng Bộ Hàng hải và thủy sản Indonesia Susi Pudjiastuti tiết lộ, một tuần trước khi đánh chìm 3 tàu cá Việt Nam bà đã cảnh báo Đại sứ các nước Malaysia, Philippines và Thái Lan, nhưng không thấy đề cập đến Việt Nam về việc Jakarta sẽ áp đặt các biện pháp trừng phạt cứng rắn hơn và quy định cụ thể hình phạt đối với hoạt động đánh bắt trái phép trong vùng biển Indonesia. 5 quốc gia có ngư dân thường xuyên bị cho là đánh bắt trái phép trong vùng biển Indonesia, gồm Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam.
Trong thời hạn 5 ngày kể từ khi công bố "liệu pháp sốc" của ông Tổng thống, Indonesia đã bắt giữ 155  tàu cá nước ngoài. Bà Susi Pudjiastuti nói rằng "liệu pháp sốc" của nước này đã làm giảm đáng kể số lượng tàu cá nước ngoài hoạt động xung quanh đảo Natuna. Bà cũng cho rằng không có ảnh hưởng xấu nào từ chính sách này đến quan hệ của Indonesia với các nước láng giềng.
Tuy nhiên "liệu pháp sốc" của Joko Widodo đang đặt ra câu hỏi về ứng xử với "đồng minh chính trị và ngoại giao lâu năm của Indonesia, đó là Việt Nam", giáo sư Carl Thayer bình luận. Ngày 27/6 năm ngoái, Indonesia và Việt Nam công khai tuyên bố 2 nước nâng mối quan hệ song phương lên đối tác chiến lược. Điều 10 và 11 của Tuyên bố chung công bố quan hệ đối tác chiến lược đã nêu rõ:
10. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận những tiến bộ trong hợp tác nghề cá và nuôi trồng thủy sản và nhấn mạnh sự cần thiết cho cả hai nước tiếp tục thực hiện Biên bản ghi nhớ về hợp tác hàng hải và Thủy sản (2010) để khai thác hơn nữa tiềm năng cao về hợp tác trong lĩnh vực này và để giải quyết vấn đề đánh bắt bất hợp pháp, không được kiểm soát và không được báo cáo (IUU), bao gồm cả việc sắp xếp trao trả ngư dân bị bắt.
11. Hai nhà lãnh đạo chỉ đạo nhóm kỹ thuật để tiến hành cuộc thảo luận nhằm sớm kết thúc hoạt động phân định vùng đặc quyền kinh tế. Và để không ảnh hưởng đến việc giải quyết cuối cùng của hoạt động  phân định biên giới trên biển, khuyến khích cả hai bên để tìm một giải pháp tạm thời để tạo điều kiện hợp tác trên biển và các vấn đề nghề cá.
Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết, hai bên đã đồng ý phối hợp chặt chẽ trong việc đối phó với các vấn đề liên quan đến ngư dân và tàu cá xâm lấn vùng biển của mỗi bên trên cơ sở nhân đạo và hữu nghị. Ngày 9/12 bà Phạm Thu Hằng, Phó phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết, Việt Nam đã liên hệ với Indonesia về vụ đánh chìm tàu cá mang quốc tịch việt Nam và kêu gọi Indonesia đối xử với các ngư dân phù hợp với luật pháp quốc tế, trên tinh thần nhân đạo.
Phô trương thanh thế đánh chìm tàu cá Việt Nam, né tránh bình luận về tàu cá Trung Quốc bị bắt
Giáo sư Carl Thayer lưu ý, trong năm qua chưa có con số nào về các tàu cá Trung Quốc hoạt động trái phép ở vùng biển nhạy cảm xung quanh đảo Natuna được công bố. Năm nay các nhà phân tích nước ngoài cho biết, tàu cá Trung Quốc tiến vào cả vùng lãnh hải, thậm chí vào tận cửa sông của đảo Natuna, Indonesia. Điều này khiến một số nhà quan sát cho rằng chính sách "liệu pháp sốc" của Joko Widodo là một tín hiệu đến Trung Quốc về việc nước này cần kiềm chế các hoạt động xâm nhập.
Các quan chức Indonesia né tránh bình luận về số phận các tàu cá Trung Quốc bị nước này bắt giữ.
Ngày 10/12, Hồng Lỗi, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra văn bản tuyên bố lưu ý rằng, quan chức 2 nước đã làm việc để xác minh các tàu cá Trung Quốc bị Indonesia bắt giữ. Bắc Kinh thúc giục Jakarta "đảm bảo quyền lợi cho ngư dân Trung Quốc và giải quyết đúng đắn vấn đề". Điều đáng nói là trong 2 tuần kể từ khi Joko Widodo công bố chính sách "liệu pháp sốc", không có người phát ngôn nào của Indonesia dám mạo hiểm bình luận về số phận 22 tàu Trung Quốc bị nước này bắt giữ vì đánh bắt trái phép ở vùng biển Arafura.
"Liệu pháp sốc" của Joko Widodo cũng đặt ra câu hỏi về chủ nghĩa dân tộc cực đoan hẹp hòi đang điều khiển chính sách. The Farish Noor bình luận trên tờ New Straits Times của Malaysia, những phiền toái từ sự việc Indonesia đánh chìm 3 tàu cá Việt Nam là một kiểu phô trương thanh thế có vẻ khắc nghiệt, vượt qua giới hạn và đi ngược lại tinh thần đối thoại của ASEAN.
Farish Noor chỉ ra 2 vấn đề. Đầu tiên ông lập luận rằng việc công khai đánh đắm 3 tàu cá Việt Nam để lại ấn tượng rằng Indonesia là nạn nhân duy nhất, trong khi điều này không đúng sự thật. Ông chỉ ra rằng, các ngư dân Indonesia cũng phạm tội đánh cá bất hợp pháp trong vùng biển của các nước láng giềng. Thứ hai Farish Noor lưu ý, trong quá khứ khi tàu cá bị bắt, các ngư dân bị bắt giữ và áp giải trở lại vùng biển nước họ. Đánh cá bất hợp pháp là vấn đề của cả ASEAN đang phải đối mặt chứ không riêng gì Indonesia. Jakarta sẽ cảm thấy thế nào nếu các nước khác trả đũa và đốt cháy tàu cá Indonesia?
Đốt cháy tàu cá nước ngoài là biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hẹp hòi
Farish Noor kết luận, Indonesia đã đi ngược lại tinh thần của hiệp hội ASEAN và có thể dẫn đến quan điểm cho rằng đây là động thái chủ nghĩa dân tộc cực đoan hẹp hòi được theo đuổi để tìm kiếm ủng hộ của cử tri Indonesia. Nhưng nếu tất cả các nước ASEAN cũng phản ứng như Jakarta, chạy theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan hẹp hòi, đốt cháy đánh chìm tàu hàng xóm thì ASEAN sẽ đi về đâu?
Chuyên gia pháp lý Indonesia Fans Hendra Winarta cũng đồng tình với quan điểm này. Ông cho rằng Tổng thống Joko Widodo  đã bất cẩn khi cho đốt cháy tàu cá nước ngoài vì điều này chỉ làm tăng căng thẳng chính trị với các thành viên khác của ASEAN ngay đêm trước của năm hình thành Cộng đồng ASEAN. Winarta xem vụ Indonesia đánh chìm 3 tàu cá Việt Nam là một kiểu biểu dương lực lượng và vận động chính trị tìm kiếm sự ủng hộ của cử tri trong nước.
Ông cho rằng đánh chìm tàu cá nước ngoài vi phạm chỉ nên là biện pháp cuối cùng và không phải là biện pháp chính. Winarta lo ngại về cái cách Indonesia đang làm, đó không phải là biện pháp có tầm nhìn xa. Trong khi đó không có dấu hiệu nào cho thấy Joko Widodo xem xét lại "liệu pháp sốc" của mình.
Ngày 15/12 khi đến Kotabaru dự lễ kỷ niệm ngày Indonesia tuyên bố là nhà nước của quần đảo, Joko Widodo thản nhiên thuật lại việc trước khi ông hạ lệnh đốt các tàu cá Việt Nam, nhiều nhà lãnh đạo nước ngoài đã gọi cho ông chất vấn tại sao lại sử dụng thuốc nổ đánh chìm tàu cá nước ngoài. "Tôi trả lời rằng, đây chỉ là những cảnh báo đầu tiên. Sẽ có một thông báo và cảnh báo thứ 2. Chỉ cần chờ đợi", Tổng thống Indonesia cho biết.
Một bài xã luận trên tờ The Straits Times của Singapore phân tích, sự phụ thuộc của Joko Widodo vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan hẹp hòi để chống đỡ cho chính phủ mới của ông có thể tốt trong nước nhưng sẽ gây ma sát không cần thiết trong quan hệ song phương lâu dài với các nước láng giềng và làm suy yếu quá trình xây dựng cộng đồng ASEAN.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thương tiếc Tấn!

Nguyễn Quang Thân
Tac gia voi Bui Ngoc Tan o Thanh Da 2013
Tác giả với Bùi Ngọc Tấn ở Thanh Đa 2013
Chỉ cách đây mấy ngày thôi, tôi vừa hỏi thăm chị Bích là bao giờ anh chị lại vào Sài Gòn chữa bệnh và trốn rét. Từ ngày xa Hải Phòng rồi Hà Nội, tôi chỉ còn chờ dịp ấy để gặp lại Tấn thôi. Nhưng anh đã đi rồi, đi thật rồi. Vậy là Tấn đã bước sang bên kia đường biên mà“không một du khách nào có thể quay đầu trở lại”. Cái chết sao mà ghê gớm. Nó quen thuộc, nó diễn ra hàng ngày hàng giờ bên ta nhưng không ai quen được với nó. Nó vẫn luôn ghê gớm và gây bàng hoàng dù tức tưởi hay được báo trước như cái chết của Tấn.
Từ năm 1964 thế kỷ trước chúng tôi đã quen nhau, cùng bước vào đời văn, cùng ở chung một thành phố, cùng chung những người bạn văn bạn đời. Hải Phòng, cái thành phố hồi đó còn nhỏ, hẹp nhưng không kém rộn rịp vì có bến Cảng và tàu bè ra vào. Anh Nguyên Hồng, người bạn lớn của chúng tôi hầu như vài tháng lại có mặt ở nơi anh khai sinh ra Tám Bính và Năm Sài Gòn. Những tên tuổi khác từ đây thành danh rồi ra đi, những Thế Lữ, Văn Cao, Nguyễn Đình Thi cũng làm chúng tôi ấm lòng, ngưỡng mộ. Không phải vô cớ mà mỗi lần về Hải Phòng anh Nguyên Hồng thỉnh thoảng rủ thêm Văn Cao. Những lần đó chúng tôi, hai đứa học trò nhỏ, bé tý nhưng vẫn được gọi đến chiếu rượu ở đâu đó vì dù sao thì cũng là thổ công, ít nhất cũng biết lòng lợn, thịt chó ở đâu ăn được, rượu lậu ở đâu uống được. Ít nhất cũng có cái xe đạp tàng mỗi đứa đèo một danh nhân trên chiếc poóc-ba-ga phía sau.
Tấn làm báo Hải Phòng, tôi thỉnh thoảng viết bài cho báo anh, nhờ anh và Nguyên Bình lĩnh hộ nhuận bút. Và cả ba đứa gặp nhau những dịp “đưa bài, chuyển nhuận bút” ấy. Ngồi uống trà, hết ấm này đến ấm khác ở nhà Nguyên Bình. Buôn dưa lê như những bà nội trợ chính hiệu. Chị Thịnh, vợ cũ của Nguyên Bình là một người tốt bụng, hiếu khách, làm ở Công ty công nghệ phẩm (tạp hóa). Hàng tháng mỗi nhà báo được một gói chè, ba bao thuốc lá Tam Đảo nhưng chúng tôi nhịn thèm đưa bán hết ngay khi vừa mua xong theo giá bao cấp rẻ như cho. Thịnh cho chúng tôi uống trà thơm thả cửa bằng “quyền lực” nhân viên công nghệ phẩm của chị, chị không bao giờ để vơi lọ trà. Thuốc lá khó kiếm hơn nhưng đã được thay bằng thuốc lào Tiên Lãng, nhãn hiệu nổi tiếng dù thời đó chưa có anh em Đoàn Văn Vươn.
Khi một nơi nào đó có ba thằng viết văn trẻ ngồi với nhau thì cả ngày không hết chuyện, âu cũng là lớp học trường đời. Học hài hước, học phản biện, học kiến thức và thu nhận thông tin. Tin vỉa hè. Tin nội bộ do ông anh ông chú nào đó rỉ tai. Khi tất cả mọi người chỉ có một kênh thông tin là những tờ báo ra hằng ngày thường giống nhau y chang thì ba thằng nhà báo mới tập tễnh viết văn ngồi bên ấm trà là chuyện gì cũng có thể thành tin hot.
Còn chuyện văn chương ư? Chúng tôi đã viết được vài cuốn sách, dăm bảy truyện ngắn in báo Văn Nghệ nhưng bây giờ nhìn lại thì chưa thể gọi đó là văn chương. Văn học tổ đội, văn học sản xuất. Cái này thì Tấn có sẵn đề tài vì anh làm báo, lại ở tổ công nghiệp. Nguyên Bình tổ nông nghiệp. Chuyện gì cũng biết. Mà chỉ là những chuyện sản xuất. Văn chương chúng tôi mới có trong tay là văn chương đề tài. Chúng tôi tự trào mình là nhà văn tổ đội với Người gác đèn biển, Cô gái Triều Dương hay đại loại như thế.
Chúng tôi chỉ nhìn thấy thành tích sản xuất chứ chưa nhìn thấy bóng dáng con người vậy mà cũng cho là văn chương. Cái bóng dáng mà nhà thơ Hữu Loan đã nhìn thấy từ năm 1947 trong tuyệt phẩm Đèo Cả khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang khốc liệt. “Sau mỗi trận đánh/ Ngồi bên suối đánh cờ/ kẻ hái cam rừng ăn nheo mắt/ Người vá áo thiếu kim mài sắt/ Người đập mảnh chai vểnh cằm cạo râu/ Suối mang bóng người trôi những về đâu?” Đọc thơ Hữu Loan. Đọc thơ Văn Cao. Đứa nào nhớ gì đọc nấy. Nhờ những buổi chuyên gẫu dài lê thê hết khôn dồn dại ấy mà chúng tôi tỉnh ra về văn chương từ khá sớm. Những nhà văn trẻ mồ côi ngơ ngác tựa gà trống. Mầm mống của những tìm tòi rụt rè nhưng không kém quyết liệt ít nhất với chúng tôi. Cũng là mầm mống của những đau khổ không thể hình dung nổi. Cái mầm mống ấy rồi sẽ giúp chúng tôi làm nên chút gì đó cho văn chương mãi mấy chục năm về sau, đặc biệt qua những tác phẩm nổi tiếng của Tấn. Nhưng… không ngờ.
Tấn là người vác cây thánh giá trong khu vườn văn chương đích thực nhưng chưa được hiểu, thường bị phủ nhận. Nguyên Hồng nghe. Văn Cao nghe. Các anh đã nhìn thấy cái mầm mống ấy vì nó chẳng lạ gì với tác giả tập thơ Cửa Biển hay Con hùm con mồ côi bị đánh tơi tả không còn manh giáp mà không hiểu vì lý cố gì. Nhưng cả hai anh chỉ nghe mà không khuyến khích, cũng không phản ứng gì với những chế giễu hài hước rất có sẵn của chúng tôi. Ai cũng mơ hồ sợ một cái gì mà không biết là cái gì.
Hải Phòng bị ném bom. Hải Phòng bị phong tỏa. Từ nơi sơ tán tôi lặng người (và sợ hãi nữa) nghe tin Tấn bị bắt. Hồi đó chỉ có Nguyên Bình thỉnh thoảng đi cùng chị Bích thăm nuôi Tấn. Không có mấy tin tức về anh. Cả chị Bích, cả Nguyên Bình và cả tôi cũng như nhiều anh em văn nghệ Hải Phòng không biết anh bị bắt về tội gì. Năm năm sau anh được thả cũng không biết vì sao được thả. Đến hôm nay cũng không biết chuyện gì. Tấn có biếm xưng để kể lại những chuyện đó trong Chuyện kể năm 2000. Nhưng đó là tiểu thuyết, tin hay không là tùy. Có lần anh bộc bạch, để làm hồ sơ lãnh chút lương hưu còm, anh đến xin giấy chứng nhận thời gian bị bắt để có được một cái “lý lịch rõ ràng và liên tục”. Anh bị từ chối vì những người bắt anh đã về hưu, những người đương nhiệm thì không rõ nên không chứng nhận được, ấy là họ nói thế. Có lẽ chính anh cũng không biết vì sao mình bị bắt rồi được thả mà không ra tòa. Tôi an ủi anh hãy coi như 5 năm tiềm sinh của gấu Bắc cực ngủ đông. Rõ ràng là cậu có bị bắt bao giờ đâu? Anh chỉ cười buồn.
Năm năm đầy khổ ải tưởng là hoài phí ấy làm nên một Bùi Ngọc Tấn hôm nay. Tiểu thuyết và truyện ngắn của anh là một tượng đài trong khu vườn văn chương tiếng Việt hiện đại. Có thể một vài trong số tác phẩm ấy chưa được phép in, chưa được phát hành trên quê hương anh yêu mến, hoặc chúng sẽ được in sau khi anh mất không chừng. Nhưng chữ nghĩa có số phận riêng, có sức mạnh riêng. Nó đã là của người đời. Tấn không mang theo đã đành mà người đang sống cũng không ai có quyền năng hủy diệt được chúng. Có thể hủy được người, đốt được sách chứ không hủy diệt được chữ. Xưa nay đều là thế.
Chết là hết. Tấn đã chết. Vì ung thư. Đời như anh không ung thư mới lạ. Nhưng anh khác một số người là hàng triệu con chữ, hàng ngàn trang sách của anh vẫn còn sống. Và nói anh đã chết có đành lòng không?
Thanh Đa ngày Tấn mất 18/12/2014
N.Q.T
Phần nhận xét hiển thị trên trang

vài ghi nhận về truyện ngắn của alice munro



Nam Dao NMH
Chân dung nhà văn Nam Dao

Khi nhận được thư mời tham gia một Bàn Tròn của Da Màu về nhà văn Alice Munro, tôi ngần ngừ, một phần vì tôi biết mình không là một người chuyên về phê bình lý luận văn học, một phần vì tôi đọc quá ít những tác phẩm của bà. Thú thật, tôi chỉ có đọc chừng ba, bốn truyện trong tập Real Life (2012) sau khi có tin Alice Munro đoạt giải Nobel 2013. Bà là nhà văn nữ ở Canada đầu tiên đã giành được đỉnh cao này. Với 14 tập truyện ngắn trong đời văn, bà từng được vinh danh nhiều lần trước đó, đoạt hàng tá giải thưởng, được đem so với Tchekhov, nhà văn người Nga nổi tiếng với thể loại Kịch và Truyện Ngắn, sống vào thời Nga hoàng cuối thế kỷ 19.
Đọc những câu hỏi Bàn Tròn đặt cho người tham dự, tôi thực tình thú vị về những gì liên quan đến hai thể loại truyện ngắn và dài, nhưng cho phép tôi đề cập đến vấn đề này sau. Tôi xin phép các bạn cho tôi theo một thứ tự khác với Bàn Tròn đặt ra.
Văn là người, chúng ta từng nghe, và sẽ còn nghe mãi. Nhưng có chỉ là người không? Và là người là thế nào? Vẽ, hoạ sĩ dùng mầu. Viết văn, nhà văn dùng ngôn ngữ. Mầu sắc đến từ nơi họa sĩ dừng chân. mở mắt nhìn khung cảnh chung quanh, đẩy cái bên ngoài vào nội tâm để sáng tạo. Với Gauguin chẳng hạn, cái bên ngoài Paris thật khác với quần đảo Haiti, và thật rõ trong những trước tác của người họa sĩ này thời gian ông làm bật ra những gam mầu ‘’ nóng’’ có sóng có gió. Còn ngôn ngữ nhà văn dùng để viết, nó là kết tinh của một nền văn hóa, qua những biến thiên xã hội và lịch sử, trong một địa bàn nhất định. Đọc Tình yêu thời thổ tảcủa Marquez, tiếng Tây Ban Nha, nghe ra âm điệu nóng cháy rất Latinh trên một lục địa hoang sơ, với sự đam mê mãnh liệt của những con người phiêu lưu khai phá. Còn như bạn mở Faust của Goethe, ngay đọc bản dịch chứ không qua Đức ngữ như trường hợp tôi, ôi chao là rối rắm những vấn đề linh hồn, ác quỉ … mà hẳn với văn phạm Đức-Phổ cộng thêm cái mầu u ám sám xì cuả Âu Châu vào đông khiến khó ai thoát được ám ảnh những câu hỏi về sự hiện tồn, về thảm kịch của dục vọng, vân vân và vân vân. Tóm lại thì văn là người, nhưng là người trong một nền văn hóa, ở một bối cảnh địa lý, và đèo bổng từ xuất phát điểm những vấn nạn chung và những giới hạn riêng tất là phải có trong văn nghiệp của mình.
Alice Munro sinh ở một miền quê bang Ontario. Bà viết văn khi còn rất trẻ, thường là về đời sống và tâm tình những thiếu nữ gốc Anglo-Saxon, và chỉ vào thập niên 70 bà mới sống tại thành phố London, khi bà nhận là writer-resident ở Đại học Western Ontario. Những năm tuổi xế tà, bà chuyển sang những nhân vật nữ trung niên, hoặc tuổi vào độ bóng xế, trong bối cảnh những phố thị an bình phẳng lặng của một thị trấn nhỏ. Văn bà xử dụng khá đơn sơ mộc mạc, nhuốm màu ảm đạm dửng dưng của tâm thế ‘’phớt tỉnh Ăng-lê’’, khá lạnh, trung tính, với giọng điệu ‘’làm như’’ vô tâm, thật ra đọc rất dễ gập sách xuống đề đánh một giấc. Vậy mà không được, bởi vì …. Và đây là nghệ thuật của bà: vòng vo, cà kê dê ngỗng, lăng quăng chẳng biết về đâu nhưng chính đó là kỹ thuật bà tạo sự tò mò của người đọc. Chịu không nổi, người đọc (như tôi) nhẩy cóc đến đoạn cuối, thường rất ngắn gọn. Và chỉ thế, cũng không hiểu. Thế là phải làm lại từ đầu, nhẩn nha gậm nhấm để…à ra thế. Thủ pháp Alice Munro là chăng màn nhện trong ¾ truyện, rồi thắt gút kết trong bất ngờ, thật ngắn, không phẩm bình, đánh giá , soi mói để mọi kết thúc đều ‘’cứ làm như’’ chuyện là chuyện tự nhiên: đời sống muôn vạn sắc mầu được nhà văn minh họa nhưng tuyệt không lý giải.
Truyện tôi moi trí nhớ kể lại một truyện chẳng quá 20 trang. Chuyện kể đời sống của một cặp vợ chồng luống tuổi, sáng ăn gì, trưa làm gì, trao đổi với nhau qua loa về những chuyện trời ơi đất hỡi, bà hàng xóm này ốm, ông hàng xóm kia sắp đi thăm con, chiều có mây, chắc sắp mưa, đợi mãi mà chưa có tin đứa con gái hẹn về thăm cha mẹ, cái xe liểu cổ để trong garage choán chỗ không biết nên vứt hay rao bán, có một bà góa phụ không biết ở đâu về, nay thuê căn hộ cuối con dốc dẫn đến cánh đồng bỏ hoang. Ông hứng chí sửa chiếc xe cũ, cái này phải thay, cái kia phải xiết ốc, và cứ thế, kề lể liên tu bất tận. Kỹ thuật chăng màn nhện là thế. Đọc, không kiên nhẫn, bỏ. Có chút kiên nhẫn thì phải tò mò, hỏi, bà nhà văn ơi, rồi sao? Đùng một cái, cái xe kiểu cổ đến nằm lù lù trong sân nhà bà góa phụ. Hỏi, đó là món quà ông tặng cho bà ấy, sau những ngày bỏ công ra sang sửa. Và bà góa phụ chính là mối tình đầu của ông. Điểm thắt gút như vậy, thật gọn, không thanh minh thanh nga, lặng lờ như chẳng có gì gọi là thảm kịch. Nhưng ngẫm nghĩ, thì không phải vậy, ít ra là đối với bà vợ ông già kia. Nhưng Munro không bình phẩm, đánh gíá, than van hộ ai. Bà làm chuyện đó đương nhiên như uống một ngụm cà phê. Đậm hay nhạt, tùy bạn, người đọc
Ngôn ngữ của Alice Munro theo truyền thống Anglo-Saxon “lạnh như tiền,’’ tránh biểu cảm quá đà, và sự khép kín trong văn bà trở thành khá tự nhiên với môi trường sống của bà, một tỉnh lẻ tịch mịch vắng lặng. Văn phong này rất hợp cách bà xây dựng và kể truyện. Có những nhà phê bình văn học cho rằng truyện ngắn của bà trong cái phong cách trên đều có thể viết dài ra để thành tiểu thuyết. Điều này tôi nghĩ nên bàn lại.
Thế nào là ngắn, thế nào là dài? Ulysse gần 1500 trang của Joyce khó gọi là ngắn. Truyện trong lòng một bàn tay của Kawabata đôi khi chỉ ½ trang làm sao gọi là dài. Vậy ta phiên phiến coi cứ dưới 30 trang là truyện ngắn, và cứ trên 150 trang là truyện dài, ở đoạn giữa 30-150 là truyện vừa để chuyện trò với nhau. Cách phân biệt dài ngắn này tuy thế quá “máy móc,’’ rồi có những nhà văn thêm thắt vào ngắn là một (hay số ít) không gian trong một thời đoạn nhất định, và dài là tác giả nới rộng không gian, đảo lộn thời gian, tất cả đa chiều biến hóa tương tác. Xin nhắc Joyce bỏ cả ngàn trang chỉ để viết về đâu chỉ 15 phút trong não trạng một nhân vật truân trải nhiều không gian tách biệt. Vai trò của không và thời gian, theo thiển ý, không phải là cái mốc định mức ngắn và dài. Thế thì cái gì đây? Tôi nhiều lần ‘’được’’ các tờ báo văn học đòi trích đoạn tiểu thuyết, vốn là thể loại tôi gắn bó. Một trích đoạn như thế tôi coi là một truyện ngắn. Dẫu không phải lúc nào cũng hài lòng, nguyên tắc trích đoạn của tôi là tìm những đoạn mà kết cục phải mang hình thái thắt gút một đoạn văn ngắn. Như vậy, truyện dài là tổng thể những truyện ngắn, hoặc vừa. Khi viết tiểu thuyết đầu tay Gió Lửa, tôi đã viết dưới dạng chương hồi, mỗi chương có thể đọc như một truyện ngắn, hoặc truyện vừa. Truyện dài thành ra tấm vải kết hợp những mảnh dệt; cái phải quan tâm là đường kim mũi chỉ phải thế nào để những mảng nhỏ kết cấu được với nhau một cách hài hòa, cơ hữu để thành một tổng thể. Quan trọng hơn cả là ngoài những thắt gút cho từng mảng, tổng thể đó phải chuyên chở một cái gì mà mỗi mảng cá biệt không tự mình làm được.
Trong thời đại sống hối hả với đầy ắp những media thông tin và internet, truyện dài mất dần ảnh hưởng, người đọc ít dần, mì ăn liền rẻ và ăn vội thì cũng nuốt được. Trong tương lai, truyện ngắn có lẽ chiếm thế thượng phong, nhưng văn viết chắc không còn có được vị trí như xưa, những phương tiện truyền thông khác sẽ lấn bước cạnh tranh. Ở Việt Nam, hay ở hải ngoại, cũng vậy. Thật mà nói, tình trạng hải ngoại gay hơn; thế hệ thứ 3 hầu như không đọc được tiếng Việt nữa. Về những thành quả đã có, văn học Việt Nam có thể tự hào với mảng truyện ngắn, trong cũng như ngoài nước. Trong nước, phải kể Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài. Sau là thế hệ Đỗ Phước Tiến, Nguyễn Thị Ấm, Bùi Hoàng Vị loé sang trong thập niên 90.… Những nhà văn miền Nam ở lại Sài Gòn có Cung Tích Biền, Nguyễn Viện, Trần Thị NgH…Ngoài nước, những tên tuổi mà Bàn Tròn đề cập đã có những tác phẫm sáng giá. Tôi cho rằng về truyện ngắn văn học Việt Nam từ 50 năm nay có thể ngửng cao đầu khi đứng cạnh những nền văn học khác. Nhất là với những tác phẩm của những nhà văn nữ. Kể ra, trước có NguyễnThị Hoàng, Thụy Vũ, Nhã Ca, Trùng Dương, Túy Hồng. Và sau này, Trần Thị NgH, Nguyễn Thị Ngọc Tư .…
Nhắc chuyện đem so Alice Munro với Anton Tchekhov. Ông này viết: “Nhà văn không được là quan tòa đem xử nhân vật mình mà phải là một nhân chứng không thiên lệch. Đánh giá nhân vật là công việc của thẩm phán đoàn, tức là người đọc. Người viết văn cần lọc lựa những chỉ dấu quan trọng trong vô số chỉ dấu vô để qua ngôn ngữ soi sáng nhân vật,’’ chép theo trí nhớ nay có phần lơ mơ của tôi. Có lẽ Munro không hẳn thế, dẫu người đọc có cảm tưởng nhà văn là một người quan sát xa cách đến độ đôi khi lạnh lùng vô cảm. Đọc kỹ, bà là kẻ nén cảm xúc, giả làm như vô tình, và chính thế mà tạo tác động ngược. Đó là nghệ thuật của bà. Nghệ thuật này đem áp dụng vào một xã hội Việt Nam đang trên đà triệt sản về mọi mặt liệu có sẽ tái sinh một cái gì ta gọi là tương lai chăng.

Phần nhận xét hiển thị trên trang