Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

Những chuyển động và trì trệ - Nghệ thuật Việt Nam những năm 1990 - đầu 2000*

Nguyễn Quân

1.Chuyển động
Nghệ thuật giai đoạn này mang tính đổi mới căn bản vì nó khắc phục hay khác rất nhiều so với 2 giai đoạn quan trọng nhất trước đó là nghệ thuật chiến tranh, cách mạng (1945-85) và nghệ thuật Đông Dương (1925-45). Đặt các tác phẩm đối sánh nhau không khó để ta nhìn thấy ngay những khác biệt.
1.1 Hội họa Đông Dương là hình thức nghệ thuật mới tinh của lớp tinh hoa thị dân nhỏ của một thuộc địa lớn nơi giao thoa văn hóa Pháp-Việt là sâu rộng, nền tảng. Phong cách nghệ thuật ấn tượng, art nouveau, tả thực với các chủ đề nhân vật khá thống nhất nên được gọi chung là Phong cách-Trường phái Đông Dương. Các họa sĩ Pháp giảng dạy tại trường Mỹ thuật Đông Dương hoặc tới Việt Nam sáng tác cũng như các họa sinh người bản địa tìm nhiều cách thể hiện khác nhau như tả thực tượng trung, ấn tượng thậm chí là biểu hiện chủ nghĩa hoặc với những cảm hứng từ nghệ thuật tranh dát vàng và khắc gỗ màu Nhật Bản. Song nhìn chung, với các tác giả người Việt trường phái mỹ thuật Đông Dương để lại vẻ đẹp nhất quán, đặc trưng Việt Nam tựa như impressionism với người Pháp vậy. Hình tượng đáng yêu, dễ nhớ nhất là người đán bà trẻ mặc áo dài tân thời bên hoa, trong vườn đẹp với tâm tư nhẹ nhõm thanhh bình hoặc phảng phất một nỗi u hoài vô cớ.
Tranh Lê Phổ (Trường Mỹ thuật Đông Dương)
1.2 Hội họa giai đoạn Kháng chiến ở miền Nam và nhất là ở miền Bắc (hiện thực XHCN) là nghệ thuật dấn thân cách mạng, tuyên truyền và thấm đẫm chủ nghĩa dân tộc, về hình thức nó tiếp nối phong cách của trường Đông Dương cộng thêm tính minh họa tư tưởng, đại chúng dễ hiểu và cổ vũ động viên của Liên Xô, Trung Hoa. Từ 1945 đến 1975 nước Việt Nam bị chia cắt thành các vùng khác nhau: Đến năm 1954 là sự phân biệt giữa ‘vùng tự do’ căn cứ cách mạng chống Pháp và ‘vùng tạm chiếm’ do Pháp quản lý. Ở vùng thứ nhất phát triển mạnh xu hướng hiện thực với việc mở trường Mỹ thuật kháng chiến bởi Tô Ngọc Vân và cuộc sống ba cùng - cùng ăn cùng ở cùng làm việc - với các tầng lớp công, nông, binh. Xu hướng hiện thực bình dân này trở thành nòng cốt để phát triển nghệ thuật ‘hiện thực XHCN’ ở miền Bắc (Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa) sau 1954. Ở vùng tạm chiếm cho đến 1954 và ở miền Nam (Việt Nam Cộng hòa) đến 1975 không có chủ trương đường lối rõ ràng như nghệ thuật cách mạng hội họa vẫn chủ yếu tiếp nối phong cách mỹ thuật Đông Dương. Đồng thời khuynh hướng tả chân đề cập đến đời sống và thân phận những con người bình dị cũng thấm đẫm tinh thần dân tộc chủ nghĩa và chủ nghĩa yêu nước. Trong khi ở miến Bắc chỉ có giao lưu nghệ thuật với khối XHCN và du nhập phương pháp sáng tác ‘hiện thực XHCN’ thì các nghệ sĩ ở miền Nam có nhiều cơ hội tiếp cận nghệ thuật hiện đại phương Tây hơn. Năm 1962 từng có một Triển lãm nghệ thuật quốc tế lớn ở Sài Gòn và đầu những năm 1970 có một Hội họa sĩ trẻ năng nổ tìm những con đường để thoát ra khỏi cái bóng của mỹ thuật Đông Dương. Cùng lúc cũng có các thể nghiệm hiện đại chủ nghĩa ở miền Bắc chỉ khác là những tác phẩm đó không được trưng bày như ở miền Nam. Những điều này lý giải vì sao sau khi thống nhất đất nước năm 1975 các họa sĩ hai miền Nam Bắc dễ nhanh chóng hòa hợp hầu như không có mâu thuẫn hay đối đầu về tư tưởng hoặc thẩm mỹ (như trong văn học chẳng hạn).
Song nhìn chung thì dòng chính chịu sự lãnh đạo của Đảng, được nhà nước tài trợ, công nhận và số đông nghệ sĩ tham gia là rất đồng nhất về phong cách, chủ đề (cánh mạng), nhân vật (công, nông, binh và lãnh tụ). Nó thậm chí được gọi chính thức là phương pháp sáng tác và phong cách hiện thực XHCN.
Tranh cổ động miền Bắc trước 1975
1.3 Từ đầu những năm 1980 sự thống nhất (cũng là đơn điệu và giáo điều) về phương pháp-làm nghệ thuật, nội dung và hình thức ấy không còn nữa để đến cuối những năm 1980, nhất là những năm 1990 bùng nổ thứ hội họa được gọi là ‘hội hoa đổi mới’ ở Việt Nam. Hội họa như một thân cây đột nhiên phần tần cấp, đâm vô số cành nhánh về mọi phía khiến cho việc vạch một tuyến tính không thể mô tả được sự tiến triển,trù phú và đa dạng của nó nữa. Các triển lãm lớn giới thiệu hội họa được gọi là ‘Doimoi Paintingp - Hội họa đổi mới được tổ chức dồn dập ở nước ngoài từ Hongkong, Sydney, Singapore tới Paris, Brussel, Amsterdam rồi Washington D.C, Boston và California cũng như sự ‘đổ bộ’ ồ ạt các nhà sưu tầm, nhà buôn tranh nước ngoài vào Việt Nam đã làm cho việc ‘phát hiện ra hội họa doimoi’ đầu những năm 1990 thành một hiện tượng sôi động nhất trong khu vực. Điều đó cũng kích thích sự xuất hiện ồ ạt của hàng trăm galleries (mà chủ nhân là người Việt hoặc người nước ngoài) ở Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh và Huế. Lần đầu tiên các họa sĩ Việt Nam tham gia các biennale, art fair và các cuộc đấu giá lớn nhỏ. Hội họa Việt Nam ghi tên mình vào bản đồ nghệ thuật quốc tế từ đây. Nếu việc gọi tên các đặc điểm nào làm nên cái gọi là bản sắc Việt Nam của hội họa giai đoạn mới mở cửa này khiến nó được chào đón và kỳ vọng như vậy là khó khăn thì việc nhận ra những khác biệt rõ ràng giữa hội họa Việt Nam với hội họa Trung Quốc (cũng mới mở cửa và bùng nổ ở một nước cộng sản như Việt Nam), với nghệ thuật ở các nước ASEAN như Thái Lan, Philippien, Malaysia hay Indonesia là quá dễ dàng. (Tiếc rằng sau năm 2000 thì không còn dễ như thế nữa!) Thế hệ họa sĩ trên dưới 40 tuổi khi đó đã làm thay đổi hoàn toàn khung cảnh và diện mạo hội họa.Hai thế hệ nữa sẽ tiếp nói họ tới khoảng đầu thiên niên kỷ mới.
Một vài đặc điểm chính hội họa đổi mới là:
- Cửa mở hai chiều: Các nghệ sĩ mở ra tiếp nhận và tiêu hoá các thành tựu của toàn bộ modernism Tây Âu từ Picasso tới Warhol. Giao lưu quốc tế và thông tin đa chiều cởi mở giúp họ tiếp xúc với nghệ thuật bên ngoài và nhận ra rằng có vô vàn cách thể hiện nghệ thuật miễn giúp mỗi nghệ sĩ tìm ra tiếng nói của riêng mình. Chiều thứ hai là trở về với nghệ thuật tiền thực dân, nghệ thuật của các dân tộc Việt Nam từ TK19 về trước: nghệ thuật Làng của người Kinh, nghệ thuật Chăm, Kh’mer và Tây Nguyên giầu… tính Đông Nam Á. Một số sách lịch sử mỹ thuật Việt Nam và các công trình nghiên cứu nghệ thuật, khảo cổ được công bố. Khoa lý luận và lịch sử nghệ thuật được thành lập. Sinh viên được học lịch sử nghệ thuật dân tộc nhiều hơn. Các nghệ sĩ trẻ hứng khởi nhận ra rằng nghệ thuật dân tộc rất phong phú, đáng tự hào và cũng rất gần gũi với modernism mà họ ngưỡng vọng. Những điều đó đưa các họa sĩ doimoi tới chỗ dứt khoát chia tay với hai phong cách Mỹ thuật Đông Dương và Hiện thực XHCN.
- Chuyển sang các chủ đề về tự do cá nhân, thân phận con người, đô thị hóa, gia đình, tình yêu, tính dục và giới cũng như vấn đề hội nhập quốc tế, dân chủ, nhân quyền… Vì thế phong cách cá nhân đa dạng. Có nhà báo nghệ thuật châm biếm rằng công, nông, binh và lãnh tụ được thay bằng ‘chim, hoa, cá, gái’ song những thứ phi chủ đề như vậy là sự giải tỏa cá nhân. Các cấm kị được dỡ bỏ. Khỏa thân, trừu tượng lần đầu được trưng bày, tự họa bùng nổ thay cho tranh cổ động. Hội họa Việt Nam lần đầu có đủ mọi thứ trong menu của hội họa thế giới từ hiện thực, siêu thực, biểu hiện đến pop và minimalism. Phi chính trị và gột bỏ mọi giá trị tuyên truyền là điều khác hẳn với hội họa Post-Tiananmen đầy phản kháng và dân tộc ‘đại Hán’ ở Trung Hoa cùng thời. Có vẻ như đã quá nhàm chán và mệt mỏi với các chủ đề tuyên truyền, dấn thân chính trị hội họa doimoi tìm đền những giá trị nhân văn bao quát hơn đồng thời cá nhân hơn.
- Xuất hiện loại tranh giấy Dó, một loại gấy thủ công truyền thống phổ biến ở Việt Nam và thư pháp. Điều ngạc nhiên là đây là lần đầu tiên hội họa Việt Nam có chút liên hệ với truyền thống quốc họa Trung Hoa cũng với thuật viết chữ đẹp bằng bút lông tròn và mực tầu. Hiện nay tranh giấy dó thường xuyên xuất hiện trong các triển lãm bên cạnh lụa và sơn mài như một đặc sản Việt Nam. Còn thư pháp chữ cái latin trở thành một môn nghệ thuật đại chúng rất đước ưa thích trong nhân dân mọi tầng lớp.
- Hình thành lớp nghệ sĩ độc lập, không làm công chức, cán bộ Đảng, không sáng tác theo đường lối của đảng phái nào. Sự bùng nổ các galleries đầu những năm 1990’, hoạt động triển lãm sôi nổi, việc công chúng bên ngoài ‘phát hiện’ ra hội họa Việt Nam đã manh nha một thị trường nghệ thuật nhỏ khiến một số nghệ sĩ có thể sống bằng tiền bán tác phẩm. Đảng và nhà nước công nhận tự do sáng tạo và thị trường đã giúp một bộ phận nghệ sĩ thực sự được ‘cởi trói’. Những năm đầu của kinh tế thị trường hội họa đổi mới là cửa sổ tự do của Việt Nam mở cửa .
- Tính dân tộc chủ nghĩa và cổ động cách mạng mờ nhạt đi lại làm cho hội họa có bản sắc độc đáo. Mỗi họa sĩ đổi mới đều quyết chí tìm một tiếng nói riêng, cách biểu hiện riêng. Thứ ‘chủ nghĩa cá nhân’ hối hả này như là đối trọng, bù lại thứ ‘chủ nghĩa tập thể’ thống trị suốt mấy chục năm trước. Bởi trước đổi mới nghệ sĩ buộc phải vẽ giống nhau về những thứ giống nhau, cho các công chúng giống nhau nên giờ đây họ chán ghét những thứ đồng phục trói buộc đó. Sự tôn thờ tự do cá nhân, tôn vinh phong cách cá nhân độc đáo, đòi quyền được chỉ là riêng mình không theo chỉ đạo mệnh lệnh của ai cả mà các họa sĩ doimoi giành được và thực hiện được trong sáng tạo của họ vào cuối những năm 1980 đầu 1990 (là bình thường ở các xã hội dân chủ) là đột phá mới lạ trong trong giới trí thức xã hội chủ nghĩa, vì vậy nó có tác động lan truyền cảm hứng tự do về văn hóa, tư tưởng tới toàn xã hội.
Gs Văn học Phạm Vĩnh Cư trong một hội thảo quốc tế của Viện Văn học đã nêu quan điểm: Thành tựu văn hóa lớn nhất nửa đầu TK 20 ở Việt Nam là văn xuôi-báo chí và tiểu thuyết, ở nửa cuối thế kỷ là là hội họa với ba bậc thầy Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm và hội họa đổi mới (kèm theo một danh sách dài). Lạ là văn xuôi và hội họa là hai thứ hầu như chưa có ở Việt Nam suốt 19 thế kỷ trước. Các nhà văn nổi tiếng như Lê Đạt, Nguyên Ngọc … cũng đều khẳng định vai trò tiên phong và tác động kích thích đổi mới văn hóa nghệ thuật của hội họa những năm 1990. Đó cũng là lần đầu tiên trong thế kỷ này mỹ thuật đó vai trò đi đầu trong sáng tạo văn nghệ.
Tranh Nguyễn Quân
Hội họa đổi mới kéo dài khoảng 15 năm, tới khoảng 2000 thì nó lụi tàn. Ít nhất có ba thế hệ hội họa doimoi. Thế hệ thứ nhất có Đặng Thị Khuê, Nguyễn Trung,Trịnh Cung, Đỗ Quang Em, Nguyên Khai, Nguyễn Phước, Đỗ Thị Ninh, Nguyễn Quân, Lương Xuân Đoàn, Ca lê Thắng, Đào Minh Tri, Bửu Chỉ, Hoàng Đăng Nhuận, Trương Bé, Vũ Dân Tân, Nguyễn Bảo Toàn, Thành Chương, Lý Sơn, Lê Huy Tiếp… Thế hệ thứ hai: Đặng Xuân Hòa, Đỗ Hoàng Tường, Trần Lương, Trần văn Thảo, Nguyễn Tấn Cương, Đỗ Minh Tâm, Lê Anh Vân, Lê Thiết Cương, Hà Trí Hiếu, Lê Quảng Hà, Hồng Việt Dũng, Nguyễn Thanh Bình,Hứa Thanh Bình, Phan Cẩm Thượng, Nguyễn Xuân Tiệp, Quách Đông Phương, Vũ Thăng, Trương Tân… và thế hệ thứ ba với Nguyễn Minh Thành, Lê Hồng Thái, Bùi Hữu Hùng, Đinh Ý Nhi, Thắm Poong, Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Quang Huy, Phạm Ngọc Dương, Hà Mạnh Thắng… Các nhà phê bình nghệ thuật còn có thể kéo dài danh mục này tùy theo cách nhìn riêng.
1.4 Điêu khắc là chủ đạo trong mỹ thuật Việt Nam suốt 2000 năm với thành tựu tầm quốc tế nhưng TK 20 lại hoàn toàn trống vắng. Những thập niên 1970-80 đã có vài nghệ sĩ làm điêu khắc hiện đại song chỉ với TL New Space ở BT Mỹ Thuật Việt Nam ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh 1999 ta mới thấy thực sự có điêu khắc hiện đại với nhiều điểm tương đồng với hội họa 15 năm trước đó. Nhiều Symposium mang điêu khắc quốc tế vào Việt Nam, tạo ra nhiều vườn tượng ở các địa phương khá đa dạng nhưng chất lượng chưa cao do hạn chế của các curator và khả năng chọn lựa , bày đặt tác phẩm của nhà tổ chức. Cuối cùng chúng được coi như những dự án nghệ thuật du lịch vô hại!
1.5. Từ 1995 - 2005 xuất hiện và phát triển Contemporary Arts khá nhanh với sự hỗ trợ của các đại sứ quán (embassy), Việt kiều, các quỹ phi chính phủ… Mặc dù TL Toàn Quốc chưa bày và Bảo tàng quốc gia chưa mua các tác phẩm video, installation, performance, multimedia-arts… hiện có cả trăm người làm contemporary arts ở các trung tâm nghệ thuật tư nhân nhỏ, thường có yếu tố nước ngoài (tài trợ,nghệ sĩ lưu trú, workshops) tạo nên phần sôi động nhất của nghệ thuật hiện nay, có tiếng vang trong khu vực, và giao lưu nhộn nhịp với nước ngoài.
Installation của Văn Thạo
2.Trì trệ:
2.1 Đảng và Chính quyền vẫn quản lý chặt nghệ thuật theo quan điểm hiện thực XHCN những năm 1970-80 nặng tính quan liêu, chính trị và tuyên truyền. Tuy nhiên trong khi Hội Mỹ thuật Việt Nam (hội chính trị xã hội nghề nghiệp duy nhất do nhà nước quản lý) chỉ nhận được kinh phí 2 tỷVND/năm thì người ta chi tới 400 tỷ cho một tượng đài. Hiện có gần 400 cụm tượng chất lượng kém đã được xây dựng. Việc sản xuất hàng loạt thứ kitsch-chính trị này là một lãng phí lớn bởi giới quản lý không biết dùng tiền cho nghệ thuật vào đâu khác. Thực chất các ngành văn nghệ ở Việt Nam vẫn tồn tại 3 thành phần rời rạc: Nghệ thuật do nhà nước tài trợ, Đảng lãnh đạo, nghệ thuật của các nghệ sĩ độc lập và nghệ thuật ‘có yếu tố nước ngoài’ - còn được gọi châm biếm là Embassy Art.
2.2. Không hình thành được một thị trường nghệ thuật nội địa tương thích với nền kinh tế thị trường trong khi giới sưu tầm nước ngoài dần xa lánh. Các galleries bùng nổ đầu những năm 1990 nhanh chóng lụi tàn và biến thành các cửa hàng lưu niệm du lịch bệ rạc .Hoàn toàn không có các quỹ văn hóa của Việt Nam tài trợ cho nghệ thuật. Không có giới sưu tầm nội địa. Có thể tới 99% người mua tranh là người nước ngoài! Tình hình thị trường nghệ thuật Việt Nam so với Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan hay Philipin… một sự tụt hậu rất xa. Từ kinh nghiệm Indonesia, một nhà sưu tập Hà Lan của tôi nói họa sĩ Việt Nam sẽ còn phải đợi 3 thế hệ nữa vì thế hệ 1 làm cách mạng, thế hệ 2 củng cố quyền lực, thế hệ 3 lo làm giầu cho con đi học rồi thế hệ 4 mới sưu tầm!
2.3. Các nghệ sĩ tự du lịch hóa, chép lại chính mình, sao chép tác phẩm của người khác. Chủ gallery bày bán tranh giả, tranh nhái. Các tài năng vẫn xuất hiện đều đều, kinh tế thị trường và xã hội thông tin mang lại nhiều điều thuận lợi nhưng cũng nhiều áp lực với nghệ sĩ trẻ. Chu kỳ biến mất của những cái tên đáng nhớ cứ ngắn dần từ 20-15 xuống 5 thậm chí chỉ 2 năm sau khi họ ‘nổi tiếng’ và ‘bán chạy’.
2.4 Các embassy, foundations, Việt kiều, các tổ chức giao lưu văn hóa tiếp nhiều động lực cho nghệ thuật. Song do những định kiến và sự thiếu tự tin của các nghệ sĩ ta cũng thấy những hạn chế đáng tiếc. Một Việt kiều sống ở Sài Gòn 16 năm không sõi tiếng Việt, không bày triển lãm ở Việt Nam dù anh làm toàn đề tài Việt Nam và bán tốt, được nhiều giải thưởng của nước ngoài. Anh nói tác phẩm của anh ở documenta gần đây giúp anh và khán giả phát hiện ra rằng: Tranh Việt Nam vẽ về chiến tranh không hề có bạo lực, đau khổ mà rất lạc quan, điều ai cũng biết và đã được dạy trong giáo trình lịch sử Mỹ thuật từ 30 năm nay! Phát hiện này giống như người Pháp phát hiện ra Phở và người Việt phát hiện ra Champagne. Hội nhập ở tầm đại chúng nhất nhiều khi giống như các thảo luận của những người vỡ lòng về ngoại ngữ. Và ở sân chơi này nếu bạn là nhà nữ quyền, đồng tính, Việt kiều, người dân tộc thiểu số… bạn sẽ có nhiều lợi thế. Nếu bạn phản đối chính phủ, đòi nhân quyền, bị công an bắt hay dọa bắt bạn sẽ có thêm cơ hội được đề cao thậm chí tặng huân chương! Ở khía cạnh nào đó thứ nghệ thuật phi lợi nhuận, phi chính phủ, phi chính trị này cũng bị chính trị hóa!
Bài học chung cho sự trì trệ từ nghệ sĩ là không có nhân cách, năng lực của con người tự do thì tự do người ta ban cho mình cũng không để làm gì!
3. Tóm lại thể trạng và đời sống nghệ thuật 15 năm này là rất thú vị với các làn sóng lên xuống ngoạn mục, nhiều đổi thay rất căn bản chứa đựng những thứ mà trong tương lai xa giới sưu tầm, am hiểu nghệ thuật cùng giới nghiên cứu nghệ thuật và Việt Nam học còn thích thú quan tâm. Tôi không có ghi chú gì về đời sống mỹ thuật 10 năm gần đây. Một chân tôi đã ở trong quá khứ, khó theo kịp bước thời nay nên không tránh khỏi những phát biểu hồ đồ xin được thông cảm.
HCMC Tháng 7 năm 2014
*Tham luận đọc tại Hội thảo quốc tế Tại Paris-Sorbonne tháng 9/ 2014 Arts Du Vietnam Nouvelles Approches. Colloque scientifique international du 4 au 6 Septembre 2014. Organisé par le Centre de Recherche sur l’Extrême-Orient de Paris Sorbonne au Musée des arts Asiatique Guimet, à l’Institut National d’Histoire de l’Art (INHA), et au muse du quai Branly, Paris

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ly kỳ chuyện Cao Biền trấn yểm long mạch đế vương ở Việt Nam

(Văn hóa) - Vâng lời vua Đường, Cao Biền đến nước ta bỏ công đi khắp nơi, xem xét núi non, rừng biển, sông hồ, chỗ nào địa thế tốt, có khí địa linh, thì đều yểm cả.
    Phép phong thủy phân biệt hình thế của đất làm năm loại: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Tùy theo thế đất và hình dáng của cuộc đất (giống con vật gì) để theo đó đặt tên, tiên đoán lành dữ cho những ai sử dụng cuộc đất ấy, như: lục long tranh châu, phượng hoàng ẩm thủy, hổ trục quần dương, hoặc quần tiên hội ẩm (được xem là những cuộc đất quý).
Thực hư Cao Biền trấn yểm thành Đại La
Theo tư liệu lịch sử và phong thủy, Cao Biền khi sang xâm lấn nước ta đã tiến chiếm thành Đại La và cho đắp lớn thành này cao đến 2 trượng 6 thước, chu vi hơn 1982 trượng, trên thành xây 55 vọng gác, với nhiều điểm phòng vệ quân sự. Để làm rào chắn cho thành Đại La, Cao Biền đã tập trung các hộ ở vây quanh với bốn vạn căn nhà. Là người giỏi về thuật phong thủy, xem địa lý, đoán cát hung, nên Cao Biền đã dò xét rất kỹ vị trí để xây thành Đại La (mà sau này vua Lý Thái Tổ khi dời đô về Thăng Long đã cho xây mới lại) và dò tìm đầu mối long mạch nước ta.
Nhắc đến vua Lý Thái Tổ (tức Lý Công Uẩn), nhắc đến thành Đại La và kinh đô Thăng Long, vì đều liên quan đến việc Cao Biền sử dụng những thuật lạ của phong thủy để trấn yểm và tiêu hủy khí tượng đế vương ở nước ta thời ấy theo lệnh của vua Đường Ý tông (860 – 873). Tài liệu ghi, khi Đường Ý tông quyết định cử Cao Biền sang nước ta, đã ngầm bảo: “Trẫm nghe An Nam có nhiều ngôi đất thiên tử, ngươi tinh thâm về địa lý, nên hết sức yểm đi và vẽ hình thế đất ấy đem về cho trẫm xem”.
Vâng lời vua Đường, Cao Biền đến nước ta bỏ công đi khắp nơi, xem xét núi non, rừng biển, sông hồ, chỗ nào địa thế tốt, có khí địa linh, thì đều yểm cả. Riêng núi Tản Viên là Cao Biền không dám đụng tới vì cho rằng đó là chỗ thiêng liêng của chư thần thường ngự, không thể yểm được.
Trong những nơi mà Biền nhắm đến có một điểm khá quan trọng, đó là làng Cổ Pháp – nơi sẽ sinh ra bậc đế vương của trời Nam. Vì thế, sau nhiều ngày chú tâm xem xét về cuộc đất toàn vùng, Cao Biền cùng các thầy pháp và thầy địa lý của Trung Quốc đã ra tay “cắt đứt long mạch” bằng cách đục đứt sông Điềm và 19 điểm ở Phù Chấn để yểm.
La Quý nối chỗ đứt long mạch
Nhưng mưu thâm độc của vua Đường và Cao Biền trong việc phá hủy thế phong thủy và làm tan khí tượng đế vương ở nước ta đã bị một thiền sư thời ấy là ngài La Quý phá tan.
Ngài La Quý là trưởng lão tu ở chùa Song Lâm, thuở nhỏ du phương tham vấn khắp nơi, sau đến gặp pháp hội của thiền sư Thông Thiện liền khai ngộ. Khi đắc pháp, ngài La Quý tùy phương diễn hóa, nói ra lời nào đều là lời sấm truyền. Ngài rất thông tuệ, nhìn xuyên sông núi, biết rõ nguồn gốc phong thủy, biết quá khứ và tiên đoán được tương lai.
Trước khi mất, vào năm 85 tuổi (năm 936), ngài gọi đệ tử truyền pháp là Thiền Ông đến căn dặn: “Ngày trước, Cao Biền đã xây thành bên sông Tô Lịch, dùng phép phong thủy, biết vùng đất Cổ Pháp của ta có khí tượng đế vương, nên đã nhẫn tâm đào đứt sông Điềm và khuấy động 19 chỗ trấn yểm ở Phù Chẩn. Nay ta đã chủ trì lắp lại những chỗ bị đào đứt được lành lặn như xưa”.
“Trước khi ta mất, ta có trồng tại chùa Châu Minh một cây bông gạo. Cây bông gạo này không phải là cây bông gạo bình thường, mà là vật để trấn an và nối liền những chỗ đứt trong long mạch, mục đích để đời sau sẽ có một vị hoàng đế ra đời và vị này sẽ phò dựng chính pháp của chư Phật”.
Vị hoàng đế mà ngài La Quý báo trước là Lý Công Uẩn. Lý Công Uẩn mồ côi từ nhỏ, được sư Khánh Vân đem về chùa nuôi, lớn lên Lý Công Uẩn được thiền sư Vạn Hạnh nuôi dạy và sau này lên ngôi tức vua Lý Thái Tổ, mở ra thời đại hộ pháp hưng thịnh trong lịch sử Việt Nam… Như vậy, thuật phong thủy với khí tượng đế vương của các vùng đất đã liên quan nhiều đến lịch sử Việt Nam từ xa xưa.
Đến đời Lê, có ngài Nguyễn Đức Huyên sinh tại làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tỉnh, là người lặn lội học khoa địa lý phong thủy tận nơi khai sáng của khoa này trên đất Trung Hoa và cũng là người Việt Nam đầu tiên viết sách địa lý lưu truyền đến nay. Ngài là danh nhân có tên gọi quen thuộc không những trong dân gian mà cả giới nghiên cứu nữa: Tả Ao.
Tả Ao đã phân tích, nêu rõ hình các cuộc đất kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, cũng như việc tìm long mạch ra sao. Xin nêu ra đây đoạn nhỏ trong sách “Tả Ao địa lý toàn thư” do Cao Trung biên dịch, đại ý nêu hai mạch: Mạch dương cơ và Mạch âm phần. Mạch dương cơ nếu nhỏ thì dùng làm nhà, nếu lớn hơn làm doanh trại, hoặc rộng và tốt có thể dùng làm thị trấn, xây kinh đô. Còn Mạch âm phần dùng chôn cất.
Đại cương là vậy, về chi tiết còn có nhiều loại mạch khác, như Mạch mã tích tức mạch chạy như vết chân ngựa, lúc cạn lúc sâu; Mạch hạc tất tức mạch ở giữa nhỏ, hai đầu to ra dần, như gối của con hạc; Mạch phong yếu tức mạch nhỏ nhắn, phình ra to dần như lưng con ong; Mạch qua đằng tức mạch không chạy thẳng mà ngoằn ngoèo như các thân cây bí cây bầu, có khả năng kết được bên trái hoặc bên phải đường đi của mạch nên được xem là loại mạch quý. Đất kết có hai loại: một loại dùng chôn xương người chết và một loại để người sống ở đều tốt.
Riêng đất để người sống ở, sách Tả Ao địa lý toàn thư đã đề cập đến đất dương cơ liên quan tới lịch sử nước ta: Trừ nhà Hùng Vương được đất quá lớn ra, thì sau đó, nhà Đinh và tiền Lê trở về trước, những triều đại thịnh trị thật ngắn ngủi, không được tới ba đời, nên quốc sư Vạn Hạnh phải tìm một đại địa khác làm kinh đô. Đó là Thăng Long hay Hà Nội. Lý Công Uẩn nghe theo, dời kinh đô về Thăng Long nên nhà Lý làm vua được tám đời; và sau đó nhà Trần và hậu Lê (Lê Lợi) cũng nhờ có đại địa đó làm kinh đô, nên bền vững lâu dài hơn”.
Hôn nhân và Pháp luật

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc sẽ châm ngòi cho khủng hoảng toàn cầu tiếp theo


"Sự kết hợp tồi tệ" giữa tăng trưởng chậm và khối nợ khổng lồ của Trung Quốc cùng nhóm nước mới nổi được giới chuyên gia nhận định là nguy cơ lớn với kinh tế thế giới.

  Quang cảnh Phố Đông, Thượng Hải nhìn từ trên cao. Ảnh: SCMP
Quang cảnh Phố Đông, Thượng Hải nhìn từ trên cao. Ảnh: SCMP
Thông điệp này đã được đưa ra trong báo cáo mới công bố - Geneva Report của Trung tâm Nghiên cứu Tiền tệ và Ngân hàng quốc tế (ICMB). Họ cho biết mức nợ trên toàn cầu vẫn đang tiếp tục tăng lên, đặc biệt ở những nước đang phát triển.
"Trái với suy nghĩ của nhiều người, thế giới vẫn chưa vơi gánh nặng nợ nần. Tỷ lệ nợ trên GDP toàn cầu vẫn đang tăng và lập nhiều đỉnh mới. Bên cạnh đó, vì sự kết hợp chết chóc này, tăng trưởng và lạm phát toàn cầu đều đang thấp hơn kỳ vọng", Vincent Reinhart - một trong các tác giả của báo cáo, từng cựu nhân viên Cục Dự trữ liên bang  Mỹ (FED) cho biết.
Báo cáo thường niên Geneva Report lần thứ 16 ước tính trừ lĩnh vực tài chính, nợ toàn cầu chiếm 212% nền kinh tế năm 2013. Trong khi đó, tỷ lệ này năm 2008 chỉ là 174%. Geneva Report cũng chỉ ra trước năm 2008, nợ tích lũy chủ yếu tới từ các nước phát triển, nhưng sau đó lại chuyển hướng sang các quốc gia đang phát triển.
"Vòng luẩn quẩn của việc dùng đòn bẩy tài chính, rồi lại tung chính sách giảm đòn bẩy, kết hợp với tăng trưởng GDP danh nghĩa giảm dần, một là có thể châm ngòi cho giai đoạn thoái nợ khó khăn và chậm chạp. Hai là gây ra một cuộc khủng hoảng khác, xuất phát từ các nước mới nổi, mà nguy cơ cao nhất là Trung Quốc. Theo quan điểm của chúng tôi, việc này đã khiến kinh tế thế giới chưa thể ổn định sau nhiều cuộc khủng hoảng tài chính suốt 2 thập kỷ qua", báo cáo nhận xét.
Tỷ lệ nợ trên GDP của Trung Quốc hiện ở mức 217%, theo Geneva Report. Con số này cao hơn hầu hết các nước mới nổi, song vẫn ở mức thấp so với những nước phát triển như Anh, Mỹ và Nhật.
Mức nợ đang tăng lên ở nhóm 8 nước dễ tổn thương (Fragile Eight), gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Brazil, Argentina, Chile, Thổ Nhĩ Kỳ và Nam Phi. Đây là những thị trường mới nổi lớn đang xảy ra bong bóng tín dụng và thâm hụt vãng lai tăng sau thời kỳ nới lỏng định lượng của FED.
Năm ngoái, tất cả các nước Argentina, Nam Phi, Ấn Độ, Brazil và Thổ Nhĩ Kỳ đều có khối nợ lớn hơn GDP (đã trừ khối tài chính). "Nhóm nước này đang là mối lo chính của thế giới, đặc biệt là Trung Quốc. Đây là những quốc gia nhiều khả năng châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu", báo cáo cho biết.


Tin tức nguồn: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=983511#ixzz3KvajY5G6
doc tin tuc www.xaluan.com

Phần nhận xét hiển thị trên trang

‘Thế giới đón đợi thảm họa chính trị khi giá dầu xuống quá thấp’


Theo Đài Tiếng nói nước Nga, các chuyên viên không loại trừ khả năng giá dầu sẽ ở mức dưới 40 USD/thùng, và thế giới sẽ thấy tái diễn những sự kiện của 30 năm trước đây từng dẫn đến mặc định sụp đổ của Mexico và đặt dấu chấm hết sự tồn tại của Liên bang Xô Viết.

‘Thế giới đón đợi thảm họa chính trị khi giá dầu xuống quá thấp’
ảnh minh họa
Theo Bloomberg, trong những điều kiện như vậy, nguồn thu từ dầu mỏ sẽ không thể bảo vệ Nga - nước sản xuất dầu mỏ lớn nhất thế giới - trước đòn trừng phạt của Liên minh châu Âu (EU) và Mỹ. Một quốc gia khác cũng phải đương đầu với trừng phạt quốc tế là Iran sẽ buộc phải cắt giảm các khoản trợ cấp mà trước đó phần nào bảo vệ được cư dân trước sức ép ngày càng tăng từ các biện pháp của Phương Tây.

Trong số những nước sẽ chịu thiệt hại tối đa do sụt giảm giá dầu còn có Nigeria - quốc gia đang chống chọi không mấy thành công với các chiến binh Hồi giáo, và Venezuela - quốc gia có nền kinh tế suy yếu vì những quyết định chính trị không thích hợp.

Trên thực tế, các nhà sản xuất dầu đã quen với thực tế mức giá khoảng 100 USD/thùng nên đã không đa dạng hóa kinh tế, hoặc thực hiện động thái này quá chậm chạp.

Chuyên viên Paul Stevens thuộc Hãng Chatham House (Anh) tuyên bố rằng trong trường hợp duy trì giá thấp với dầu mỏ, những nước này và sau đó là cả thế giới sẽ phải đón đợi thảm họa chính trị và xã hội nghiêm trọng


Tin tức nguồn: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=1036569#ixzz3KvYg3lI7 
doc tin tuc www.xaluan.com


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện gian tham bên Tàu:

Trung Quốc: Nữ quan tham 'thăng chức trên giường'

Thu Thủy/ Tiền Phong
Ảnh bên:Nữ quan tham Trương Tú Bình và Ủy viên thường vụ Kim Đạo Minh
Ngày 26/11 vừa qua, Ủy ban Kiểm tra kỷ luật trung ương ĐCS Trung Quốc (UBKTKLTW) ra thông báo khai trừ đảng và cách chức, cách ly điều tra 2 nữ quan chức cao cấp tỉnh Sơn Tây là Trương Tú Bình, Phó bí thư thành ủy Tấn Trung và Dương Hiểu Ba, Thị trưởng thành phố Cao Bình do phạm một số tội, trong đó có “thông gian với người khác”.

Đây là lần đầu tiên đoản ngữ “thông gian với người khác” được sử dụng trong văn bản chính thức của cơ quan KTKL để chỉ việc nữ quan chức dùng thân xác hối lộ cấp trên để được thăng chức, hay nói theo kiểu dân dã là “thăng quan trên giường”. “Cấp trên” của Trương Tú Bình là Kim Đạo Minh, Ủy viên thường vụ, Bí thư UBKTKL tỉnh ủy, còn đối tác của Dương Hiểu Ba là Tạ Khắc Mẫn, nguyên Bí thư thị ủy, hiện là Phó Giám đốc Sở giám sát tỉnh Sơn Tây. 
Năm nay 49 tuổi, Trương Tú Bình từng giữ các chức Ủy viên thường vụ Ủy ban, Phó tổng thư ký Ủy ban KTKL tỉnh ủy. Sau gần 7 năm là cấp dưới trực tiếp và phục vụ chăn gối cho Kim Đạo Minh, năm 2013, Trương Tú Bình được người tình trao cho chức Phó Bí thư thành ủy Tấn Trung. 
Ngày 27/2 năm nay, Kim Đạo Minh bị bãi chức và bị bắt để điều tra về liên quan đến vụ án đường dây mua quan bán chức do Chu Bân, con trai Chu Vĩnh Khang cầm đầu. Khi tiến hành điều tra về tội lỗi của Kim Đạo Minh, người ta phát hiện Kim là quan tham sống trụy lạc, có hàng tá tình nhân, trong đó có cả những cặp chị em sinh đôi.
Dư luận cán bộ và dân chúng Sơn Tây còn khẳng định, Trương Tú Bình đã sử dụng “vốn tự có” để tiến thân với hai quan trên, người trước đây là Kim Ngân Hoán (nguyên Bí thư UBKTKL tỉnh ủy, đã chết vì tai nạn giao thông năm 2008). Khi đó Trương là thư ký riêng của Kim Ngân Hoán. Khi Kim Đạo Minh về thay, ả không ngần ngại quay sang chiều chuộng sếp mới để được tiến thân.
Quan trên, người tình của Dương Hiểu Ba chính là Tạ Khắc Mẫn, nguyên Bí thư thị ủy Cao Bình, sau được đưa lên làm Phó giám đốc Sở giám sát tỉnh. Trong thời gian lãnh đạo Cao Bình, Tạ và Dương đã quen biết rồi gian dâm với nhau. Từ một cán bộ đoàn, Dương được Tạ đưa lên làm Trưởng ban tuyên huấn rồi trao cho ghế Thị trưởng Cao Bình (chủ tịch thành phố thuộc tỉnh). Ngoài Tạ Khắc Mẫn, ả thị trưởng 43 tuổi xinh đẹp này còn bị kết luận “có quan hệ tình ái trong thời gian dài với nhiều cấp dưới” khác. Dương Hiểu Ba đã trở thành đề tài cho các câu chuyện “trà dư tửu hậu” ở Cao Bình và Sơn Tây.
Tuy nhiên, Trương Tú Bình và Dương Hiểu Ba không phải là những nữ quan tham đầu tiên dính vào bê bối tình ái, trước đó đã có hàng chục người bị mất chức, thậm chí ra trước vành móng ngựa về những tội lỗi liên quan đến “thăng chức trên giường”.

Nữ Cục trưởng chỉnh hình để thăng chức 
Lưu Quang Minh, Cục trưởng Thuế thành phố An Sơn để tăng thêm sức quyến rũ quan trên tiện bề thăng tiến đã chi tới 5 triệu tệ (18 tỷ VNĐ) để sang Hongkong chỉnh hình, riêng đắp mông đã mất nửa triệu.
Với nhan sắc nhân tạo, đã hơn 50 tuổi, nhưng bà quan cao 1m72 nom trẻ như thanh nữ 28 tuổi. Lưu Quang Minh đã làm đẹp lòng các quan trên để “thăng tiến kiểu tên lửa”: trong vòng 5 năm, từ một phó chi nhánh (ngang cấp phòng) đã “vọt” lên ngồi vào ghế Cục trưởng (Giám đốc sở).

Thăng quan trên giường với Bí thư thành ủy
  
Nữ quan tham Dương Hiểu Ba và nguyên Bí thư thị ủy Cao Bình Tạ Khắc Mẫn
Tháng 6/2014 vừa qua, Kim Thu Phần, sinh 1962, Cục trưởng Bảo vệ môi trường thành phố Dương Châu (Nam Kinh) bị Ủy ban KLKT đình chỉ chức vụ để điều tra vì “vi phạm kỷ cương nghiêm trọng” khiến nhiều người bất ngờ. Đến ngày 7/8, Kim Thu Phần bị chuyển giao cho cơ quan tư pháp để điều tra xét xử. Bà ta liên đới đến vụ án tham nhũng của nguyên Bí thư thành ủy Nam Kinh Lý Kiến Nghiệp. Trong thời gian Lý làm Bí thư Dương Châu, Kim được bổ nhiệm làm Cục trưởng. Sau khi Lý Kiến Nghiệp mất chức Bí thư Nam Kinh, qua điều tra ông ta bị phát hiện có nhiều người tình, một trong số những ả được ông ta nâng đỡ là Kim Thu Phần. Đến đây, sự nghiệp của Kim coi như chấm hết.

Quan nữ “bo” thượng cấp trên giường
Ngày 9/11/2011, La Á Bình, nguyên Cục trưởng Đất đai và Tài nguyên khu (quận) Thuận Thành, thành phố Phủ Thuận, tỉnh Liêu Ninh bị tử hình vì phạm tội nghiêm trọng. Báo chí khi đó gọi La Á Bình là “quan tham 3 nhất”: “cấp thấp nhất, tham nhiều nhất, thủ đoạn xấu nhất”. Tham nhũng nhiều tiền, La Á Bình đã vung tiền để bắt nhiều đàn ông phục vụ chăn gối. Cặp bồ với một cấp dưới kém 12 tuổi, La đã chi 1 triệu tệ cho vợ người tình để được độc chiếm thân xác chàng trai khỏe mạnh này. 
Khi đã chán người này, La chuyển mục tiêu sang một vị lãnh đạo khu (cấp trên của ả). Theo báo chí, một hôm hết giờ làm việc, ả đến phòng làm việc của ông này, nói thẳng: “Tối nay, đi chơi với em, em sẽ cho anh tiền”. Sau khi đưa ông này vào phòng bao tại một khách sạn sang trọng, La đã đặt lên giường cục tiền 50 ngàn tệ (180 triệu VNĐ) và nói: “Chiều em đêm nay, số tiền này là của anh”. Từ đó, lúc nào nổi hứng là ả lại đưa vị quan trên này đến phòng bao trong khách sạn để thỏa mãn rồi “bo” tiền. Câu chuyện bi hài này đã lan truyền khắp Phủ Thuận.
Theo Tân Kinh báo, ông Dương Tĩnh, Vụ trưởng Phòng chống tội phạm chức vụ thuộc Viện KSND tối cao cho biết, trong vòng nửa năm qua, trong số các quan tham ngã ngựa đã có tới 31 quan nam bị kết thêm tội “thông gian với người khác”, nhưng với các quan nữ bị kết tội này thì hai người kể trên là trường hợp đầu tiên.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Muốn thành người hoàn hảo, hãy sống ở... Sài Gòn


Mặc dù giờ đây còn sống chung với lụt, với kẹt xe, ô nhiễm môi sinh, với nhiều bất cập từ quy hoạch treo và quản lý thiếu đồng bộ, nhưng cư dân Sài Gòn cũng đang mơ mộng về thành phố trong tương lai.
Sài Gòn, triều cường, thành phố, TP Hồ Chí Minh, kẹt xe, khẩu trang, chống nắng, ngập, xe máy, ô tô, quy hoạch
Đường ngập, phụ huynh phải thuê xe ba gác đón con về. Ảnh: Tuấn Kiệt
Từ lâu, Sài Gòn vốn là nơi hội tụ, sinh sống, làm ăn của người dân bốn phương. Nhưng trụ lại vùng đất này chẳng hề dễ, bởi bạn sẽ mất ít nhất 2 năm để học kỹ năng "sinh tồn" tại đô thị lớn nhất nước này. Và rồi, bạn sẽ có biết bao phẩm chất tuyệt vời.
Sài Gòn giúp bạn khỏe và lãng mạn hơn
Trang phục phổ biến của người Sài Gòn mùa khô là áo che nắng, khẩu trang bịt mặt, kính râm, quần áo dài, vớ chống nắng. Phải có bộ đồ "bảo hộ toàn diện" này bạn mới có thể di chuyển trên những con đường trưa hè nắng cháy bỏng như sa mạc. Trong bộ đồ "Ninza", khó ai nhận ra nổi bạn, nên nếu bạn có vui vẻ chào ai, họ ắt cũng thấy... kỳ quặc.
Còn mùa mưa, bạn cần vui vẻ khi những cơn mưa ào ạt trút xuống mỗi chiều, xe chết máy, cả người và xe lội bì bõm trong nước bẩn, cố gắng để tránh "sóng dữ" do ô tô qua lại tạo ra. Nhà của bạn có thể cũng ngập đầy nước vào ngày triều cường. Cả nhà tha hồ tát nước oàm oạp, dọn đồ lên cao, "tao nhã" gặm bánh mì chờ nước rút. Rồi sau đó lại một màn cọ rửa, phơi phóng, kê dọn để rồi mai kia lại tiếp tục... chạy triều cường. Đấy, chẳng cần đến miền Tây bạn cũng sẽ được trải nghiệm mùa nước nổi.
Sài Gòn là nơi có nhiều xe máy nhất VN. Kẹt xe là chuyện thường tình, nên bạn cần học cách thư giãn ngắm biển người và xe nhích lên từng chút trong màn khói nồng hơi xăng và nóng nực. Hãy cố gắng hít thở tốt nhất qua khẩu trang dày bịch, hãy căng mắt tìm một khe hở có thể luồn lách trở về. Còn khi kẹt xe quá lâu, bạn nên học cách nghĩ về một câu chuyện hấp dẫn, dễ chịu nào đó, càng dài... càng tốt.
Sài Gòn giúp nhà bạn cao lên, cao mãi
Hiện thành phố có 50 điểm ngập, mà mỗi năm khả năng ngập lại cao hơn, vì sau khi xóa đi một số điểm thì lại có những điểm mới gia tăng. Hơn nữa, không chỉ vùng ven, ngoại ô, mà hầu như khắp các quận trong thành phố đều có thể ngập khi mưa lớn, triều cường. Vì thế, có thể nói "xây cho nhà cao, cao mãi" chính là sự lựa chọn thông minh của bạn.
Điều quan trọng là bạn cần tìm hiểu xem nên xây nhà cao đến mức nào. Trước đây người Sài Gòn thường xây nhà cao hơn nền cũ từ 30-50 cm. Hãy tưởng tượng phải dắt xe máy lên một cây cầu nhỏ dẫn từ hè đường vào nhà cao hơn chừng đó là mệt thế nào. Nhưng bù lại bạn sẽ an tâm khi đường xây cao lên thì nước không lọt vào nhà.
Thế mà, con số này giờ cũng không còn an toàn. Sài Gòn đã có những căn nhà đang ở lộ thiên, bỗng biến thành hầm vì thấp hơn đường cả 1m. Những căn nhà này có thể thấy dễ dàng trên đại lộ Phạm Văn Đồng vừa được khơi thông. Mà cư dân muốn sống được thì chỉ còn cách bắc ghế hay làm thang để chui qua một ô cửa nhỏ xíu.
Tuy nhiên, kỷ lục ấn tượng hơn dành cho những căn nhà mà sau khi nâng đường thì hầu như toàn bộ tầng 1 đã biến mất dưới nền đường mới tại Quốc lộ 50, từ đường Nguyễn Văn Linh đến huyện Bình Chánh... Như vậy, muốn sống tốt ở những nơi này, nhà bạn nên biến thành nhà "cao cẳng", hay nhà sàn.
Khả năng vươn cao này chưa biết khi nào sẽ dừng, khi cho đến nay các nhà quản lý ngành xây dựng thành phố này vẫn chưa công bố code nền chuẩn xác để cư dân và tổ chức lấy căn cứ để  xây dựng. Đồng thời thành phố vẫn sử dụng cách chống ngập nước bằng nâng cao đường, hoặc là do các đơn vị thi công đường mới, để đỡ tốn công, thay vì bóc lớp đường cũ, trả lại cao trình thì cứ tiếp tục làm thẳng trên mặt đường hiện hữu. Mỗi lần làm là mỗi lần đường cao hơn nhà, để chống lại, nhà phải cố vươn cao hơn đường. Y như là... Sơn Tinh và Thủy Tinh vật lộn nhau.
Sài Gòn, triều cường, thành phố, TP Hồ Chí Minh, kẹt xe, khẩu trang, chống nắng, ngập, xe máy, ô tô, quy hoạch
Nhà thấp hơn so với mặt đường. Trong ảnh một công nhân đang ngồi uống cà phê như đang ngồi trong quán bar. Ảnh: Tuấn Kiệt
Sài Gòn rèn sức chờ đợi và hy vọng
Dù sao thì Sài Gòn vẫn đang chuyển mình. Hãy nhìn kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè, sau hàng chục năm ròng rã, thành phố đã hoàn tất việc cải tạo tuyến kênh đen này, trả lại một phần môi trường sạch cho cư dân. Hãy nhìn vào đô thị mới Phú Mỹ Hưng. Hãy nhìn vào hầm Thủ Thiêm và đại lộ Võ Văn Kiệt, cầu Phú Mỹ, cầu Bình Triệu, cầu Sài Gòn... Thành phố vẫn đang có nhiều công trình mới. Tuy rằng nhiều công trình kéo dài tiến độ xây dựng.
Vấn đề là cần kiên nhẫn mà thôi. Nếu cha mẹ bạn chưa được đi Metro thì có thể bạn và con cháu bạn sẽ có ngày được đi. Nếu ngày nay bạn phải bì bọp lội trong triều cường, thì biết đâu có ngày phải cố gắng lắm mới nhớ nổi ký ức chạy lụt "xưa như Diễm" chăng...
Vậy đấy, là người Sài Gòn, bạn sẽ được tăng khả năng chờ đợi và hy vọng. Có câu "Hà Nội không vội được đâu", nhưng câu này áp dụng với SG, chắc cũng chẳng chệch.
Một giấc mơ
Nếu bạn vào bảo tàng Quy hoạch kiến trúc TP Thượng Hải, bạn sẽ ngạc nhiên khi bất cứ cư dân Thượng Hải nào cũng có thể tìm ra căn nhà của mình trên sa bàn thành phố. Rộng 6.340 km2, gồm 20 triệu cư dân, Thượng Hải vẫn có thể quản lý chi tiết từng căn nhà, từng góc phố, từng khu quy hoạch và đặc biệt là toàn bộ hệ thống các tầng ngầm dưới lòng thành phố với những đường hầm rộng lớn dành cho hạ tầng điện, nước, thoát nước và cáp viễn thông...
Mặc dù giờ đây còn sống chung với lụt, với kẹt xe, ô nhiễm môi sinh, với nhiều bất cập từ quy hoạch treo và quản lý thiếu đồng bộ, nhưng cư dân Sài Gòn cũng đang mơ mộng về thành phố trong tương lai. Khi mà bạn được trở lại không khí trong lành của Hòn Ngọc Viễn Đông xưa với những nhà vườn rộng rãi, các biệt thự xinh đẹp, cộng thêm các khu đô thị mở rộng với các khu quy hoạch khoa học, hạ tầng hoàn thiện, hệ thống kênh rạch trong lành, nhiều cây xanh và thoáng đãng.
Là đại đô thị, một Megacity của thế giới với hơn 2.000 km2 và 10 triệu cư dân, Sài Gòn cũng có cơ hội đến ngày được hưởng tương lai tốt đẹp ấy, nếu các nhà quản lý đô thị nơi đây cũng nuôi một giấc mơ như vậy và thực sự hành động mạnh mẽ để biến nó thành hiện thực.
http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/204922/muon-thanh-nguoi-hoan-hao--hay-song-o----sai-gon.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sài Gòn 1965/1966 (Tư liệu nhặt trên Net)


















































Phần nhận xét hiển thị trên trang