Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 15 tháng 9, 2014

Nỗi oan còn hơn vụ ông Chấn


Báo điện tử Pháp Luật Tp.HCM (PL) - Trên số báo hôm qua (14-9), chúng tôi đã thông tin VKSND Tối cao vừa kháng nghị đề nghị TAND Tối cao hủy án vụ án giết người, cướp tài sản xảy ra cách đây 16 năm về trước.
Như vậy là bị án Huỳnh Văn Nén, người từng bị kết án chung thân, có cơ may được minh oan sau khi đã ngồi tù hơn 16 năm trời, nhiều hơn gấp rưỡi thời gian thụ án của ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang.
Và nếu được minh oan, có lẽ ông Nén là trường hợp đặc biệt và hi hữu nhất trong lịch sử tố tụng ở Việt Nam: Người cùng lúc bị kết án oan trong hai vụ án giết người đặc biệt nghiêm trọng. Bởi trước đó ông Nén từng bị kết án oan bảy năm tù trong vụ án “vườn điều” cùng chín người thân bên gia đình vợ.
Tuy nhiên, khác với ông Chấn (được trả tự do ngay sau khi VKSND Tối cao kháng nghị), hiện ông Nén vẫn đang phải ngồi tù với tình trạng sức khỏe theo gia đình cho biết là rất kém, mắt trái bị mờ, rất cần được chữa trị.

Ông Huỳnh Văn Truyện (trái, cha ruột Huỳnh Văn Nén) và ông Nguyễn Thận, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ VN huyện Hàm Tân. Ảnh: PN

Vẫn theo lời gia đình ông Nén, từ khi thụ án đến nay ông vẫn chưa bị “bể án” (tù chung thân được giảm thành tù có thời hạn) và vì vậy ông cũng chưa được giảm án tù.
Ngày bị bắt giam, ông Nén chỉ vừa 36 tuổi và có ba đứa con trai, đứa lớn nhất 10 tuổi, đứa nhỏ chỉ vừa lên năm. Hơn 16 năm ông Nén ngồi tù, các con của bị án này lớn lên trong đói nghèo, thất học, bởi một gánh hàng rong của người mẹ đơn thân không thể một nách nuôi nổi ba miệng ăn, nói chi lo học hành, dạy dỗ.
Vì thế hai trong số ba đứa con của ông Nén đã sớm hư hỏng, tụ tập bạn bè hút xách. Thằng lớn phải đi tù hai năm vì hút chích, còn thằng giữa bức xúc vì có người đánh mẹ nên nó dùng hung khí gây thương tích, phải lãnh án ba năm tù. Cả hai đứa đều vào tù sau cha nhưng lại được ra tù sớm hơn vì đã thụ án xong, trong đó thằng lớn đã cai nghiện rồi lấy vợ và chí thú làm ăn.
Hai ngày trước, nghe tin VKSND Tối cao có kháng nghị đề nghị hủy án, cả ba đứa con trai đã vào trại giam thăm cha để báo tin cho cha biết. Bốn người đàn ông ôm nhau khóc nức nở với niềm tin ngày đoàn tụ không còn xa nữa…
Với những căn cứ kháng nghị khá vững chắc, hy vọng sắp tới ông Nén sẽ được trả tự do để về với gia đình.

PHƯƠNG NAM 
------------------------------ 

Được kháng nghị hủy án sau 14 năm thụ án chung thân 
Báo điện tử Pháp Luật Tp.HCM (PL) - Đó là bị án Huỳnh Văn Nén, người bị kết án chung thân về hai tội giết người và cướp tài sản, hiện vẫn còn đang thụ án. Ông Nén cũng là người bị oan trong vụ án “vườn điều” do cùng một điều tra viên thụ lý.
Ngày 14-9, một nguồn tin cho biết viện trưởng VKSND Tối cao đã ra quyết định kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đề nghị TAND Tối cao hủy bản án hình sự sơ thẩm (số 96/HSST ngày 31-8-2000) của TAND tỉnh Bình Thuận để điều tra, xét xử lại. Bản án này đã kết án chung thân Huỳnh Văn Nén (52 tuổi) về hai tội giết người và cướp tài sản. Quyết định kháng nghị này cũng sẽ được gửi đến Trại giam Z30A của Bộ Công an (ở Đồng Nai), nơi ông Nén đang thụ án 14 năm qua.
Như vậy, vụ án giết người, cướp của 16 năm trước gây chấn động ở Tân Minh, Hàm Tân (Bình Thuận) đã chính thức được lật lại.
“Phá án đúp”
Ngoài vụ án nói trên, Huỳnh Văn Nén còn là người bị kết án oan bảy năm tù về tội giết người trong vụ án “vườn điều” từng nổi tiếng cả nước. Trong vụ “vườn điều”, chín người bị kết án oan đã được trả tự do, được bồi thường, xin lỗi công khai, riêng ông Nén đến nay vẫn chưa nhận được lời xin lỗi nào. Ngược lại, ông vẫn đang ở tù vì vụ án khác mà viện trưởng VKSND Tối cao vừa kháng nghị.
Lật lại hồ sơ, đêm 23-4-1998, bà Lê Thị Bông ở xã Tân Minh bị hung thủ đột nhập vào nhà dùng dây dù siết cổ chết tại chỗ và cướp đi chiếc nhẫn một chỉ vàng 24K. Ngay sau đó, Công an tỉnh Bình Thuận đã khởi tố vụ án và cử điều tra viên Cao Văn H. tiến hành điều tra.

Bị cáo Huỳnh Văn Nén cởi áo tại phiên tòa sơ thẩm, tố cáo bị điều tra viên dùng nhục hình. Ảnh: PN

Thời điểm trên ai ở Tân Minh cũng đều biết Huỳnh Văn Nén là kẻ tưng tửng, suốt ngày lê la ngoài chợ, ai kêu gì làm nấy để kiếm tiền cơm rượu. Sau vụ án mạng nói trên xảy ra, trong khi cơ quan điều tra đang chưa tìm ra hung thủ, rượu vô, Nén thường vỗ ngực cho rằng chính mình là người đã giết bà Bông.
Gần một tháng sau ngày nạn nhân bị giết, Nén bị khởi tố, bắt giam. Sau này tại tòa, Nén đã khai rằng điều tra viên Cao Văn H. đã đánh đập, mớm cung, ép cung nhiều ngày liền để buộc Nén phải khai nhận tội.
Sau khi Nén nhận giết bà Bông, điều tra viên tiếp tục dấn thêm bước nữa bằng cách buộc Nén phải khai nhận đã cùng với gia đình bên vợ giết chết bà Dương Thị Mỹ trong vụ án “vườn điều” đã xảy ra năm năm trước đó.
Để thoát án tử hình, theo mớm cung của điều tra viên, Nén khai một mạch chín người trong gia đình vợ mình tham gia giết người trong vụ án “vườn điều”. Từ lời khai này, ba thế hệ trong một gia đình gồm chín người và cả Nén bị truy tố và kết án oan. Sau này cả chín người này đều được minh oan, còn hung thủ trong vụ án “vườn điều” mãi đến nay vẫn chưa ló dạng.
Chứng cứ mâu thuẫn vẫn kết tội
Trở lại vụ án giết bà Bông, hôm đưa Nén về dựng lại hiện trường, trước sự chứng kiến của hàng trăm người, Nén đứng đực mặt ngớ ngẩn và nói với điều tra viên: “Em có biết gì đâu!”. Nhưng rồi sau đó, ngày 31-8-2000, TAND tỉnh Bình Thuận đã tuyên phạt Nén tù chung thân cho cả hai tội giết người và cướp tài sản. Sau phiên tòa sơ thẩm, “hung thủ” ngớ ngẩn Huỳnh Văn Nén đã không biết làm đơn kháng cáo, bản án sơ thẩm vì vậy có hiệu lực pháp luật. Từ đó Nén thụ án chung thân cho đến nay.
Hồ sơ truy tố Huỳnh Văn Nén chỉ xem qua đã thấy hàng loạt mâu thuẫn. Cáo trạng ghi: “Phía hiên nhà chính hướng Tây Nam phát hiện một dấu bàn chân không dép in hằn dưới cát có kích thước 23 x 9 cm, gót rộng 4,5 cm (…). Phía trong nhà trên mặt ghế sa lông bọc da có ba dấu chân không dép, in đất trên mặt ghế, có kích thước 22 x 8 cm, gót rộng 4 cm”. Rõ ràng đã có hai dấu chân với hai kích cỡ khác nhau, trong khi Nén nhận một mình giết người. Một người có chút ít kinh nghiệm điều tra đã có thể phát hiện ra mâu thuẫn này. Thế nhưng điều tra viên đã không tiến hành so sánh trực tiếp dấu vết ở hiện trường và dấu chân của Nén.
Còn nữa, tại hiện trường, cơ quan điều tra và người dân phát hiện một con dao phay cán bằng gỗ tròn, mũi nhọn, dài khoảng 30 cm nằm sát hàng rào nhà bà Bông. Nhưng khi lập biên bản thu thập vật chứng thì con dao này không còn ở đó. Mặt khác, tại giếng nước nhà bà Bông còn có một con dao khác, mũi dao không nhọn, dài khoảng 20 cm. Có thể nào cùng một lúc Huỳnh Văn Nén sử dụng đến hai con dao để cắt dây dù làm hung khí gây án? Đương nhiên cơ quan tố tụng không hỏi câu này nên hồ sơ cũng không có câu trả lời.
Ngoài ra, theo lời khai của Nén, sau khi dùng dây dù siết cổ bà Bông chết, Nén cầm dây theo và ném bỏ gần đường mòn. Thực tế khi thu hồi tang vật, sợi dây dù nằm trên một bãi cỏ khác cách xa đường mòn nơi Nén khai hơn 100 m. Trong khi đó, tại phòng khách nhà bà Bông còn có thêm một sợi dây dù nữa dài 1 m! Vậy là cùng một lúc có hai sợi dây dù gây án, không biết dây nào là thật, dây nào là giả.
Chưa hết, theo lời khai của Nén thì giết bà Bông để lấy một chỉ vàng bọc vào túi áo và bị rớt khi bỏ chạy từ đường mòn ra bờ suối. Trong lúc tháo chạy, Nén còn lấy một ổ khóa trong nhà bà Bông để phòng vệ và sau đó đã ném ổ khóa vào lùm cỏ gần đường mòn. Tuy nhiên, cơ quan điều tra đã không thu được hai vật chứng trên.
Hung thủ là hai người khác?
Ngày 2-9-2000, hai ngày sau khi phiên tòa sơ thẩm xử Huỳnh Văn Nén, anh Nguyễn Phúc Thành (trú Tân Minh, lúc đó đang thụ án về tội cố ý gây thương tích tại trại giam Sông Cái ở Ninh Thuận) nghe loáng thoáng Nén đã bị kết án tử hình trong vụ giết bà Bông. Thành biết rõ hai người bạn thân của mình mới là thủ phạm giết chết bà Bông, còn Nén đã bị kết án oan.
Lương tâm trỗi dậy, lập tức Thành xin giấy bút viết ngay đơn tố giác gửi ban giám thị trại giam.
Theo đơn của Thành thì chính Nguyễn Th. và Hồ Văn V. (đều ngụ Tân Minh) đã giết chết bà Bông. Sau khi gây án, Th. và V. đã kể lại cho Thành biết ý định không phải là giết bà Bông mà là con gái bà vì cô này có đeo nhiều nữ trang. Sau khi đột nhập vào bếp, Th. lấy hai con dao đưa cho V. một con, sau đó ra giếng cắt dây dù rồi vào bếp mai phục con gái bà Bông đi bán về. Do ngấm rượu, cả hai đều ngủ say cho đến khi bà Bông bán ở chợ về phát hiện. Th. đã dùng dây dù siết cổ bà Bông cho đến chết mặc dù V. đã lên tiếng ngăn cản. Th. còn đưa chiếc nhẫn cướp được cho anh Thành xem và sợ anh Thành chưa tin, y còn chỉ vết máu dưới lai quần và cho biết đó là máu ngón tay của nạn nhân khi tháo nhẫn đã bị trầy. Sau đó Th. đã rủ anh Thành gọi xe ôm chở vào một tiệm vàng ở xã Xuân Hòa, Xuân Lộc (Đồng Nai) bán lấy tiền. Sau đó thì Th. đón xe đi biệt tích…
Đơn tố giác này hết sức phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, trùng khớp với việc quản lý nhân khẩu của Công an xã Tân Minh. Theo đó, Nguyễn Th. đã đi khỏi địa phương từ cuối tháng 4-1998, còn Hồ Văn V. rời khỏi địa phương từ đầu tháng 9-2000 (sau khi Nén bị xử tù chung thân).
Nội dung đơn tố giác của anh Thành đã được chuyển cho Cục V26 - Bộ Công an. Sau đó Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Thuận lại cử điều tra viên Cao Văn H. đi xác minh.
Theo luật sư Phạm Hồng Hải và Trần Vũ Hải thì ông H. đến trại giam gặp anh Thành chủ yếu là răn đe và lập biên bản nhưng không ghi đầy đủ, chính xác lời khai của anh Thành. Theo các luật sư trên, cơ quan điều tra giao cho ông Cao Văn H. đi xác minh là không đảm bảo khách quan. Một người đã được khen thưởng về “thành tích phá hai vụ án giết người nghiêm trọng” lẽ nào lại có thể xác minh công tâm đơn tố giác của anh Thành để điều tra theo hướng khác, tức là chối bỏ thành tích và kết quả điều tra trước đó của chính mình.
Vì vậy, đơn tố giác nói trên sau đó rơi vào im lặng âu cũng là điều dễ hiểu. Một thời gian sau, điều tra viên Cao Văn H. bị sa thải khỏi ngành công an do có sai phạm trong một vụ án ma túy…
Hy vọng từ kháng nghị của viện trưởng VKSND Tối cao, mọi chuyện sẽ được làm sáng tỏ.

PHƯƠNG NAM 
Những xác minh ban đầu 
Sau thời gian dài gia đình bị án Huỳnh Văn Nén kêu oan và báo chí vào cuộc phản ánh, tháng 12-2013, Tổng cục VIII - Bộ Công an đã cử cán bộ đến Tân Minh làm việc với gia đình. Ngày 16-4-2014, ông Đinh Khắc Tiến, lãnh đạo một đơn vị nghiệp vụ của VKSND Tối cao, cùng hai kiểm sát viên cao cấp vào Tân Minh làm việc với ông Nguyễn Thận, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQVN huyện Hàm Tân. Các cán bộ VKSND Tối cao cũng đã làm việc với anh Nguyễn Phúc Thành, người đứng đơn tố giác (đã ra tù) và ông HNN, người hành nghề chạy xe ôm, được cho là đã trực tiếp chở hai hung thủ giết bà Bông đi bán vàng. 
Ngoài ra, đại diện VKSND Tối cao cũng đã làm việc với chủ tiệm vàng TP ở Xuân Lộc (Đồng Nai), ông Bùi Minh Đăng (nguyên Phó Công an xã Tân Minh, hiện là phó chủ tịch Ủy ban MTTQVN xã Tân Đức, Hàm Tân, người đã khẳng định thời điểm xảy ra vụ án bà Bông, Th. và V. có mặt tại Tân Minh chứ không ngoại phạm như báo cáo của điều tra viên đã nêu)…
------------------------------------- 

Hành trình kêu oan của ông Huỳnh Văn Nén 
Báo điện tử Pháp Luật Tp.HCM (PL) - Không chỉ cha con ông Huỳnh Văn Nén, gia đình nạn nhân, anh Nguyễn Phúc Thành mà cả chủ tịch Ủy ban MTTQ huyện cũng hết lòng kêu oan cho ông Nén.
Như đã thông tin, sau hơn 16 năm ngồi tù, mới đây, ông Huỳnh Văn Nén được VKSND Tối cao kháng nghị đề nghị hủy bản án sơ thẩm của TAND tỉnh Bình Thuận kết án chung thân ông hơn 14 năm về trước. Có được kết quả bước đầu này là nhờ quá trình kêu oan bền bỉ của không chỉ ông Nén và gia đình.
Rơi vào thinh không
Sự việc bắt đầu từ một vụ án mạng xảy ra tại xã Tân Minh, huyện Hàm Tân (Bình Thuận). Nạn nhân là bà Lê Thị Bông bị kẻ thủ ác vào nhà dùng dây siết cổ đến chết rồi cướp một chỉ vàng. Trong khi cơ quan điều tra chưa tìm ra hung thủ, lúc rượu vào, Huỳnh Văn Nén nói tưng tửng rằng chính mình là thủ phạm. Ai ngờ sau đó Nén bị bắt. Nén khai quá trình điều tra ông bị điều tra viên Cao Văn H. ép cung, mớm cung và dùng nhục hình, buộc phải khai nhận tội.
Chưa hết, điều tra viên này còn “làm cho” ông Nén phải nhận mình cùng chín người khác bên gia đình vợ đã giết chết bà Lê Thị Mỹ trong vụ án “vườn điều” xảy ra từ năm năm trước đó. Từ đó ông Nén và chín người này bị kết án oan, sau đó cơ quan tố tụng phải xin lỗi, bồi thường oan cho chín người đó (chỉ có ông Nén là chưa được xin lỗi, bồi thường).
Trở lại vụ án bà Bông, sau ngày ông Nén bị TAND tỉnh Bình Thuận tuyên án chung thân (31-8-2000), anh Nguyễn Phúc Thành, một bị án đang thụ án về tội gây rối trật tự công cộng, đã viết đơn tố giác hai người bạn của mình mới chính là hung thủ, còn ông Nén bị oan.
Gần ba tháng sau, ngày 4-11-2000, điều tra viên Cao Văn H. đến Trại giam Sông Cái (Ninh Thuận, nơi anh Thành đang thụ án) để làm việc. Gặp anh Thành, điều tra viên H. cho rằng anh tố cáo sai và yêu cầu anh rút đơn, nếu không sẽ phải ở tù lâu hơn. Anh Thành phản ứng và yêu cầu được gặp các nhân chứng có liên quan nhưng điều tra viên không đồng ý. Vẫn theo lời anh Thành, khi anh đề nghị viết ý kiến của mình dưới biên bản, ông Cao Văn H. quát: “Ai cho mày viết hả, mày muốn chết tao cho mày chết!”.

Bị cáo Huỳnh Văn Nén tại phiên tòa sơ thẩm 14 năm về trước. Ảnh: PN

Toàn bộ thái độ hung hăng của điều tra viên sau đó đã được anh Thành báo cáo cho cán bộ trại giam. Tuy nhiên, theo anh Thành, từ đó đến nay không thấy có cán bộ nào đến hỏi anh về vụ việc trên.
“Trời cao có mắt”
Lá đơn tố giác khá xác đáng của anh Nguyễn Phúc Thành lẽ ra đã là tình tiết mới, căn cứ để cơ quan tố tụng kháng nghị, xem xét lại vụ án. Tuy nhiên, điều này đã không xảy ra. Vụ án tạm thời khép lại, ông Nén tiếp tục ngồi tù.
Điều lạ là mặc dù án mạng đã điều tra xong, tòa đã kết án, “hung thủ” đã ngồi tù nhưng gia đình nạn nhân không hề tin tưởng vào kết quả phá án ấy. Vì vậy ngày 25-3-2006, chị Phạm Thị Hồng, con ruột của nạn nhân Lê Thị Bông, đã gửi đơn đến các cơ quan tố tụng trung ương và địa phương yêu cầu làm rõ hung thủ thật sự đã giết chết mẹ chị vì gia đình không tin Nén là thủ phạm. Tuy nhiên, cũng như đơn tố giác của anh Thành, đơn của chị Hồng đã không thể xoay chuyển vụ việc.
Lại nói về anh Nguyễn Phúc Thành, sau khi ra tù, biết ông Nén vẫn còn ngồi tù oan trong khi hung thủ thật sự của vụ án vẫn cứ nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, lương tâm anh Thành vô cùng cắn rứt. Ngày 20-11-2013, anh Thành tiếp tục viết đơn tố giác gửi đến TAND Tối cao và VKSND Tối cao. Lá đơn này một lần nữa khẳng định Huỳnh Văn Nén không phải là hung thủ giết bà Bông. Lần này thì “trời cao có mắt”, nội dung đơn của anh bước đầu đã thuyết phục những người có trách nhiệm. Và rồi đại diện Tổng cục VIII Bộ Công an và VKSND Tối cao đã đến gặp anh làm việc. Và mới đây nhất, VKSND Tối cao đã kháng nghị yêu cầu lật lại vụ án.
“Thú thật, khi nghe tin này tôi đã bật khóc vì mừng. Vậy là anh Nén đã có cơ may được minh oan” - ông Nguyễn Thận, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ VN huyện Hàm Tân, nói. Ông Thận chính là người tích cực kêu oan giùm cho ông Nén. Trước đó khi biết tin chín người trong vụ án “vườn điều” được trả tự do, ông Thận cũng đã bật khóc vì mừng.
Từng là chủ tịch UBND xã Tân Minh hơn chục năm, khi cơ quan điều tra bắt giam những người trong hai vụ án trên, ông đã trực tiếp thảo công văn, ký tên, đóng dấu gửi đi khắp nơi để kêu oan giúp họ. Chính ông Thận đã xin nghỉ phép để đưa cha ruột Huỳnh Văn Nén là ông Huỳnh Văn Truyện (90 tuổi) từ Cà Mau đi Hà Nội gõ cửa các cơ quan chức năng để kêu oan cho con trai. Để có chi phí, ông già 90 tuổi này đã phải cầm cố sáu công đất ở xã Thới Bình, huyện Thới Bình, Cà Mau lấy tiền cùng ông Thận ra Hà Nội.
“Tôi biết khi tôi làm đơn kêu oan cho những người dân chẳng thân thuộc, họ hàng là tự mang rắc rối vào người. Suy cho cùng khi minh oan được cho người này là chứng minh sai phạm của những người từng cầm cân nảy mực nhưng lại kết án oan cho người vô tội. Đó là chưa nói, với kẻ thủ ác thật sự, tôi sẽ là cái gai trong mắt họ…” - ông Thận tâm sự.

PHƯƠNG NAM 
Hai người được cho là hung thủ thật sự giờ ra sao? 
Trong đơn tố giác, anh Nguyễn Phúc Thành nêu rõ đích danh hai người giết chết bà Lê Thị Bông. Đó là Nguyễn Th. và Hồ Văn V., người cùng địa phương với bà Bông và ông Nén. Theo tìm hiểu của chúng tôi, hiện Hồ Văn V., một trong hai người nói trên, đã chết. 
Theo báo cáo của UBND xã Tân Minh (Hàm Tân, Bình Thuận) gửi chánh án TAND Tối cao, viện trưởng VKSND Tối cao và bộ trưởng Bộ Công an thì cả Nguyễn Th. và Hồ Văn V. đều nằm trong băng nhóm hút bồ đà (một chất gây nghiện). Băng nhóm này có gần chục thanh niên thường xuyên tụ tập ăn nhậu, trộm cắp, gây rối và dùng hung khí đánh nhau. Năm 1997, Công an xã Tân Minh đã lập hồ sơ để đưa đi trường giáo dưỡng. Sau khi vụ án bà Bông xảy ra và bị cáo Huỳnh Văn Nén bị đưa ra xét xử, ngày 8-9-2000, V. cùng hai thanh niên khác dùng vỏ chai bia đánh vào đầu một nhân viên Lâm trường Tánh Linh gây thương tích. Do sợ bị bắt, gia đình đã đưa V. đi trốn tại nhà chị ruột ở Quảng Nam một thời gian dài. Sau đó V. về lại Tân Minh và năm 2011 thì qua đời do bị bệnh. 
Riêng Nguyễn Th., người được cho là hung thủ dùng dây siết cổ bà Bông đến chết và trực tiếp tháo chiếc nhẫn trên tay bà mang đi bán, đã bỏ trốn khỏi địa phương từ cuối tháng 4-1998 ngay sau khi gây án. Thời gian đầu, Th. phụ với người cậu ruột ở Cần Thơ làm nghề sản xuất kem. Sau đó Th. bỏ trốn lên Gia Lai và gần đây có thông tin Th. đang ở Quảng Trị tại một địa phương giáp biên giới với Lào.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tản mạn về bệnh vô cảm

Đào Tiến Thi


Một chiều nọ đi tập thể dục, tôi bị ngã trẹo chân. Thấy chỉ đau nhẹ nên hôm sau tôi vẫn đi làm. Ai ngờ càng lúc càng đau. Cho đến chiều tối ra về thì chỗ đau đã trở nên trầm trọng, ngồi được lên xe máy đã khó, đi được còn khó hơn, nhưng khó nhất là lúc về đến nhà, không biết làm sao bước xuống xe được. Mặt méo xệch, răng nghiến chặt, chân cố nhích từng tí, nước mắt muốn trào ra. Trong lúc ấy ở tầng hầm nhà xe có ba bốn bạn trẻ cùng toà nhà, đều mục kích sự khó khăn đó của tôi nhưng không một cô cậu nào giúp đỡ hay hỏi lấy một câu.

Họ chăm chú đi nhanh về phía thang máy, sợ lỡ chuyến lên.

Cuối cùng thì tôi cũng xuống xe được và cố gượng đi cà nhắc, vai vẫn khoác chiếc cặp đi làm to đùng. Một cô gái chừng 25 – 30 tuổi dáng cao lớn, khoẻ mạnh, lướt qua tôi rất thản nhiên. Trong lúc cô ta đứng chờ thang máy, tôi cũng kịp cà nhắc đến và cùng lên. Suốt thời gian đi chung thang máy, cô ta cũng không thăm hỏi tôi một câu.

Những người ở cùng một toà nhà còn như thế, với những người ở cùng khu chung cư thì còn lạnh nhạt hơn. Cách đây hơn ba tháng, con trai tôi đi ngược chiều đoạn đường chỗ cổng ra của chung cư và bị công an giao thông bắt. Tuy nhiên do hai anh công an bắt bằng cách đâm xe máy chặn đầu nên con tôi phê bình. Hai bên còn đang tranh luận thì một thanh niên lạ mặt xông vào tát luôn con tôi rồi thản nhiên lên xe, trước mặt hai anh công an. Sự việc xảy ra ngay cổng khu chung cư, cho nên người trong chung cư kéo ra xem rất đông và vợ chồng tôi cũng kịp đến. Chúng tôi không cãi gì việc con tôi vi phạm giao thông mà chỉ yêu cầu lập biên bản về việc kẻ lạ mặt ngang nhiên đánh người. Thế nhưng hai anh công an (về sau có cả sếp trưởng, sếp phó của họ đến), tìm mọi cách để từ chối việc lập biên bản. Hai bên tranh cãi cả hai tiếng đồng hồ. Đáng buồn là người trong chung cư đổ ra đông như thế (trong đó có cả một số người là hàng xóm khá thân quen) và yêu cầu của chúng tôi chính đáng như thế, nhưng chỉ đúng có một bà có tuổi ủng hộ chúng tôi và một thanh niên giúp chúng tôi viết biên bản. Nhưng trước sự đe doạ của công an mà hai người này rồi cũng phải rút lui. Cuối cùng chỉ còn đúng ba người của gia đình chúng tôi đương đầu với công an, mà công an thì mỗi ngày được tăng thêm lực lượng, cả sắc phục lẫn trong vai “quần chúng tự phát” để áp đảo chúng tôi.

Ấy là chuyện của chính chúng tôi và vừa mới xảy ra gần đây. Còn trên báo chí hằng ngày, ta bắt gặp vô vàn các câu chuyện về các hành vi sai trái hoặc tội ác nhưng những người có liên quan lại thản nhiên mặc kệ hoặc thậm chí kiếm chác ngay trên sự rủi ro của đồng loại. Nào cảnh kẻ gây tai nạn bỏ mặc nạn nhân. Nào cảnh người ngã xe máy, tiền rơi ra bị người đi đường lao đến tranh cướp. Nào cảnh tài xế chở bia bị đổ, dân hai bên và người đi đường đổ đến hôi bia. Nào cảnh người bị cướp đồ giữa phố nhưng không một ai giúp đỡ. Nào cảnh công an giao thông đuổi đánh người không có mũ bảo hiểm dẫn đến trọng thương hoặc chết. v.v và v.v.

Khoảng năm 1987, khi mới có trào lưu đổi mới ở các nước xã hội chủ nghĩa, tôi đọc một bài báo của nhà văn Liên Xô nhan đề là “Lòng nhân ái”, trong đó ông kể một lần ông bị ngã trên đường phố mà không một ai đỡ ông dậy. Rồi ông nghĩ đến hiện tượng người ăn xin bị hoàn toàn bỏ rơi trong chế độ Xô viết, trong khi đó ông nhớ lại thời niên thiếu (dưới chế độ Nga hoàng), mỗi khi theo cha đi ra phố mà gặp ăn xin, người cha đều đưa tiền cho cậu bé đem đến biếu người ăn xin một cách cung kính.

Cũng thời gian đó, tôi đọc một bài ký của một nhà văn Việt Nam trong đó tác giả kể một lần đi qua phà, gặp một người ăn xin, ông lấy tiền ra cho liền bị người bạn đi cùng, một cán bộ lãnh đạo, phê bình. Vì người cán bộ ấy cho rằng việc này cần chờ chính sách của Đảng và Nhà nước, chứ không được làm từ thiện tuỳ tiện, dễ bị lợi dụng!

Phải chăng mọi thứ “đã có Đảng và Nhà nước lo” nên mỗi người không có trách nhiệm gì hết và “lòng nhân ái” là cái “vớ vẩn” của “xã hội tư bản thối nát”? Và đây là một ví dụ về lòng nhân ái “vớ vẩn” ấy.

Cách đây mấy năm, tôi có đọc một bài báo của một Việt kiều (nếu tôi không nhầm thì bài đăng trên báo Văn nghệ) trong đó tác giả kể một vụ tai nạn của chính ông ở nước sở tại. Khi tai nạn xảy ra, tất cả mọi người đi đường đều dừng lại để giúp đỡ. Xe cảnh sát, xe cứu thương, xe cứu hoả tíu tít xuất hiện làm nhiệm vụ. Cho nên tại nạn được khắc phục kịp thời và rất hiệu quả.

Trở lại xã hội ta hiện nay, trên báo chí hằng ngày, ta thấy tràn lan các chuyện tai nạn giao thông và chuyện “cướp – giết – hiếp” nhưng không có sự sốt sắng của lực lượng chức năng cũng như của xã hội. Phải chăng vì nó xảy ra quá nhiều? Nhưng điều nguy hiểm hơn, là người ta lại như là quảng bá các sự việc ấy. Những người bán báo rong mở loa hết cỡ khắp các phố để quảng cáo các câu chuyện tai nạn và chuyện “cướp – giết – hiếp”, coi đấy là nội dung hay nhất của số báo. Báo giấy đã nhiều chuyệ giật gân, báo mạng còn nhiều hơn. Mà toàn là các báo mạng chính thống, “lề phải”.

Quan sát xung quanh, tôi có cảm giác người ta coi những câu chuyện về tội ác (kẻ phạm tội lẫn nạn nhân) như các câu chuyện giải trí. Hoặc có ai đó bức xúc thì chỉ chửi rủa kẻ thủ phạm chứ không chịu tìm hiểu ngọn nguồn. Nghĩa là sau những kẻ vô cảm làm điều ác thì đến lượt báo chí vô cảm đăng bài, và sau đó cả thiên la địa võng người đọc cũng hầu như vô cảm: nghe mà không phản ứng gì. Trong số người đọc đó có hàng nghìn cán bộ lãnh đạo, hàng vạn thầy cô giáo, giảng viên, tiến sỹ, giáo sư, văn nghệ sỹ,… nhưng thử hỏi có được mấy phần trăm còn động lòng đau đớn? Như vậy thì HIỆN TƯỢNG VÔ CẢM đã trở thành BỆNH VÔ CẢM vô cùng trầm trọng và có lẽ vô phương cứu chữa!

Sự vô cảm của con người thì thời nào cũng có và xã hội nào cũng có. Nhưng ở xã hội xã hội chủ nghĩa nó có màu sắc khác thường như trên kia đã mô tả. Con người đã đến độ bất lực, chấp nhận cái ác và thờ ơ trước cái đáng thương. Có một gia đình nọ, ông bố là một sỹ quan cao cấp của ngành công an, luôn dặn con rằng: khi đi đường, dù gặp bất cứ chuyện bất công ngang trái nào, dù nó xảy ra với chính con, thì con hãy nhẫn nhịn và nhanh chóng thoát khỏi, dứt khoát không đấu tranh đúng sai thua được, đấy là cách duy nhất để bảo toàn cho mình.

Mới nghe thì ta trách người sỹ quan công an nọ. Nhưng ta có thể thông cảm cho ông vì sự vô cảm ở đây là sự vô cảm “bắt buộc”, là cách tự bảo vệ duy nhất, bởi ông ấy biết rõ luật pháp vô nghĩa như thế nào.

Trong sách Tiếng Việt lớp 3 hiện hành có bài “Khuất phục tên cướp biển” (truyện của Xti-ven-xơn). Truyện kể rằng có một tên cướp biển hung hãn say rượu có những hành vi ngang ngược ở một quán trọ mà không ai dám động đến hắn. Nhưng bác sỹ Ly, người đang thăm bệnh ông chủ quán, dám yêu cầu hắn đi nơi khác. Tên cướp biển rút dao ra đe doạ. Bác sỹ không lùi bước, dõng dạc tuyên bố rằng: “Nếu anh không cất dao, tôi quyết làm cho anh bị treo cổ trong phiên toà sắp tới”. Hai người gườm gườm nhìn nhau, và cuối cùng tên cướp biển phải tra dao vào vỏ và ngồi im. Tại sao ông bác sỹ “trói gà không chặt” lại thắng tên cướp biển? Ấy là nhờ có chỗ dựa là toà án, nơi thực thi công lý, không tha cho bất cứ kẻ phạm tội nào.
Nếu câu chuyện trên xảy ra ở xã hội ta hiện nay thì rõ ràng không ai dám hành động như ông bác sỹ, vì người ta không tin tưởng ở toà án.
Trong những cuộc làm việc chính thức và không chính thức với các anh an ninh, họ thường dùng tình cảm để khuyên tôi đừng tham gia vào các hoạt động xã hội. Lý do là “sức khoẻ chú/ anh kém rồi”, là “nên tập trung lo cho gia đình”. Như vậy từ một chế độ người ta tìm mọi cách tước bỏ các nhu cầu cá nhân để hướng nó phục vụ cho xã hội (“mỗi người vì mọi người”, “tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”,…) thì ngày nay người ta lại làm ngược lại, là khuyến khích lòng ích kỷ, phê phán và ngăn chặn các hoạt động hướng tới lý tưởng xã hội.
Cho nên chúng tôi đặt ra khái niệm “vô cảm xã hội chủ nghĩa” thiết nghĩ là không “oan” chút nào, vì nó có những đặc trưng rất rõ rệt của thói vô cảm trong chế độ này. Vả lại, đã có các khái niệm như “đạo đức xã hội chủ nghĩa”, “lòng nhân ái xã hội chủ nghĩa” (hay “nhân ái vô sản”), “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”,… thì khái niệm “vô cảm xã hội chủ nghĩa” là hoàn toàn hợp logic và thực tế đã chứng minh rõ ràng.

Và như vậy bệnh vô cảm có nguyên do từ thể chế chính trị chứ không thể giải thích loanh quanh từ những khía cạnh đạo đức truyền thống hay của nền giáo dục. Còn nếu cắt nghĩa từ giáo dục thì cuối cùng vẫn phải quay về chính thể để lý giải. Chúng ta hãy nghe Montesquieu[1] nói về hai nền giáo dục như sau:

Giáo dục trong chính thể chuyên chế

“Trong chính thể quân chủ, giáo dục chỉ tìm cách nâng cao trái tim. Trong chính thể chuyên chế, giáo dục chỉ tìm cách hạ thấp trái tim. Ở đây giáo dục phải là một công cụ nô dịch. Cái đó cũng sẽ là một điều hay ngay trong hệ thống những người chỉ huy, không một ai vừa là kẻ độc tài mà lại không đồng thời là người nô lệ. Sự phục tùng tuyệt đối đòi hỏi sự ngu dốt của người thừa hành, và cả sự ngu dốt của người chỉ huy. Anh ta không cần phải hiểu rõ, không cần phải hoài nghi, không cần phải lý giải. Anh ta chỉ cần muốn”.

“Trong một nước chuyên chế, mỗi gia đình là một vương quốc riêng rẽ. Giáo dục ở đây chủ yếu nói về cách ăn ở với người khác nên rất hạn chế, chỉ quy vào một điểm là đưa sự sợ hãi vào trái tim và đưa ít nhiều nguyên tắc thật đơn giản của tôn giáo vào đầu óc […] Giáo dục ở đây, theo một cách nào đó, là con số không. Phải tước bỏ tất cả để đưa vào đầu óc người ta một cái gì, và bắt đầu biến một thần dân xấu thành một nô lệ tốt”.

Giáo dục trong chính thể cộng hoà

“Trong chính thể cộng hoà, người ta cần đến tất cả sức mạnh của giáo dục. Sự sợ hãi trong chính thể chuyên chế là do sự trừng phạt và đe doạ mà sinh ra […] Nhưng đạo đức trong chính thể cộng hoà lại là sự đấu tranh với bản thân mình”.

“Có thể định nghĩa đạo đức chính trị là tình yêu luật pháp và tình yêu tổ quốc. Tình yêu ấy đòi hỏi luôn luôn đặt lợi ích chung lên lợi ích cá nhân. Tình yêu ấy đặc biệt phù hợp với các chính thể dân chủ. Ở đây, vận mệnh của chính thể được giao cho mỗi công dân, mà chính thể là đủ mọi thứ trên đời, muốn bảo vệ nó thì phải yêu mến nó”.

“Trong chính thể cộng hoà, tất cả tuỳ thuộc ở tình yêu trong sáng nói trên, do đó mà phải quan tâm đến giáo dục. Muốn cho trẻ có được tình yêu luật pháp và tình yêu tổ quốc thì điều chắc chắn là các ông bố trong gia đình phải có tình yêu ấy đã”.

“Thầy giáo truyền kiến thức cho học trò, thì phải gợi cho các em sự đam mê, hứng thú. Người ta không làm được điều này là vì sự giáo dục trong gia đình đã bị huỷ hoại bởi những tình cảm ngoại lai. Không phải người ta sinh ra đã mất gốc mà vì những con người thành nhân[2] trước đó đã bị hư hỏng”.

Có lẽ với những diễn giải dễ hiểu của Montesquieu như trên thì không cần phân tích gì thêm. Nếu những nhà lãnh đạo nhà nước cộng sản Việt Nam hôm nay vẫn nhận thể chế hiện hành là chính thể cộng hoà (thể hiện ngay ở tên nước) thì phải xây dựng nền giáo dục trong đó “đạo đức chính trị là tình yêu luật pháp và tình yêu tổ quốc”, một thứ luật pháp mà bản chất là khế ước xã hội (chứ không phải do nhà cầm quền tự ý đặt ra) và một tổ quốc của nhân dân (chứ không thể bắt ép thành một một thứ “tổ quốc xã hội chủ nghĩa”). Nhà nước cộng sản muốn người dân phải bảo vệ chế độ (như ông Tổng Bí thư thường nhắc nhở) thì “vận mệnh của chính thể” phải được “giao cho mỗi công dân”. Còn nếu ngay cả tình yêu tổ quốc cũng “đã có Đảng và Nhà nước lo” thì tất yếu các công dân sẽ hoàn toàn vô cảm và cũng không có lý do gì để chê trách họ.
***

[1] Các đoạn trích dưới đây đề lấy từ cuốn Bàn về tinh thần pháp luật, Hoàng Thanh Đạm dịch, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, 2006.
[2] Thành nhân: cha mẹ (chú thích của người dịch).

Nguồn: Văn Việt

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Blg 5 xu viết về Đèn Cù như sau:

Đọc Đèn Cù thế nào?

Cách đây mấy năm tôi có nói chuyện với chú Trần Đĩnh. Chú ấy rất thích trinh thám (cái này giống chú Tạ Chí Đại Trường quá) và rất thích thể loại “nonfiction novel” của Truman Capote. Đây có lẽ là lý do chú ấy già rồi mà vẫn dịch cuốn In Cold Blood của Capote cho Nhã Nam (Máu Lạnh). Chú Đĩnh cũng là người viết Bio cho các nhân vật cộng sản (điển hình hoặc lãnh tụ), trong đó có Bất Khuất. Đọc Đèn Cù, sẽ thấy chú Đĩnh còn rất thích các tự truyện mà được đánh giá như là tiểu thuyết (ví dụ của M. Gorky). Không phải vô cớ mà chú Đĩnh đặt Đèn Cù của mình vào thể loại sách mà chú gọi là “truyện tôi”. Nó là truyện (chứ không phải sử, không phải ký), nhưng mà của và về tôi.
Về cách viết. Chú Đĩnh nhận mình là bồi bút (trong sách tự nhận mấy lần). Thực chất chú ấy là “cây bút của chế độ”. Được chế độ sủng ái. Lý do không phải chú ấy đỏ rực. Mà, cái này tôi đoán, là văn phong của chú ấy rất hợp với việc tô hồng, anh hùng hóa, điển hình hóa các nhân vật của chế độ. Trong sách chú có kể mình được một nhà văn khác khen là viết muscle. Tức là văn chương cơ bắp cuồn cuộn. Lúc kể cho tôi chi tiết này, chú còn diễn lại hành động của nhà văn kia, bằng cách chụp lấy vai và bắp tay tôi lắc lắc rồi nói cái câu ấy. Giờ ta nhìn lại, quả thấy cái giọng văn chắc nịch, mà tôi thấy có nhiều câu bỏ cả giới từ, đọc khó hiểu, nhưng rắn chắc như lưỡi mai xắn vào đất thịt, lại rất hợp với các kiểu anh hùng ca để tô hồng cách mạng. Lê Đức Thọ ve vãn chú Đĩnh viết Bio cho mình, chắc cũng mơ màng mình đi vào sách với sự cứng cáp oai hùng (nhờ ngòi bút của cây bút được Trường Chinh và Hồng Hà ái mộ). Qua đây mới biết nhân tài cầm bút dưới bóng của chế độ ấy hiếm như thế nào. Tầm cỡ Sáu Búa phải đi ve vãn tác giả của Bất Khuất, có thể thấy chất lượng đội ngũ cầm bút phục vụ tuyên truyền của chế độ xoàng đến thế nào.
Vậy nên cuốn Đèn Cù ta nên đọc như một cuốn tiểu thuyết của tác giả Trần Đĩnh viết về cuộc đời nhân vật Trần Đĩnh.
Nếu đọc như vậy, ta sẽ thấy nhiều cái hồn nhiên, đáng yêu và cả hào sảng nữa, đằng sau sự bức bối, bất mãn và cay đắng của nhân vật chính.
Nhân vật chính này, theo như tôi thấy, là một người rất yêu mẹ. Mở đầu sách là khoe Trường Chinh lúc đó là TBT đã thích Trần Đĩnh trẻ măng mới 19 tuổi. Vài trang sau khoe …thư của mẹ. Dặn phải ngoan, không được hút thuốc lá.
Viết về cải cách ruộng đất đẫm máu, con giết cha, thì Trần Đĩnh kể về ông họa sỹ Nguyễn Tư Nghiêm không chịu đấu tố, không chịu phản bội mẹ mình. Dù đàn áp thế nào, Nghiêm cũng không thể “căm thù” mẹ mình được. Rồi kể những nhân vật khác, tìm cách cứu mẹ khỏi sự tàn sát trên diện rộng của cải cách ruộng đấy, bất chấp việc cứu mẹ là giết mình. Chưa hết, những lúc bi quan nhất, bị mật vụ thẩm vấn, quay cung, nhân vật Trần Đĩnh toan tìm đến cái chết, anh lại nhớ đến tuổi thơ, với mẹ hiền, trên sân thượng của gia đình. Nhớ tiếng mẹ gọi, mà đến cửa chết để trốn hiện thực đen tối lại quay bước trở về.
Đọc sách của Trần Đĩnh, bỏ qua các xấu xa, của con người bị tha hóa, cá nhân tôi vẫn thấy nhiều cái đáng đọc, và đáng học nữa. Yêu mẹ như vừa nói ở trên chỉ là một. Ngoài ra, còn yêu cái đẹp, còn tình bằng hữu, còn những rung động với gái …ngon, và với cả những cú vọng về day dứt của lịch sử nữa.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Obama, Putin và Tập Cận Bình đều là nạn nhân của chính nước mình


Ai cũng thấy, hiện nay các nước Mỹ, Nga và Trung Quốc đang đứng trước một “núi” các vấn đề nan giải. Mà những người đứng đầu các quốc gia này phải gánh chịu trách nhiệm là Obama, Putin và Tập Cận Bình. Tại sao lại có nghịch lý một số nước giầu có hùng mạnh nhất thế giới lại đang “lâm nạn”? 
Lý giải vấn đề này không đơn giản. Nhưng cần thiết, dù đúng, dù sai, bao nhiêu phần trăm, cũng có ích cho các nước Mỹ, nước Nga, Trung Quốc và cho cả những nước đang đứng ở phía sau. Nhưng không phải quá khó để lý giải, nên tôi chỉ nêu ra các nội dung ngắn gọn.

Điểm xuất phát cho suy nghĩ của tôi là điều răn đầu tiên trong 10 điều răn của Đức Phật Thích ca: “Kể thù lớn nhất của mỗi đời người là chính mình”. Đây là lời giải chính xác 100% cho câu hỏi, tại sao các nước hùng mạnh nhất thế giới lại đang lâm nạn! Đương nhiên có thể nói ngay: Còn có thể có nhiều kẻ thù lớn nhỏ khác, ngoài bản thân mình, theo quan niệm của Đức Phật. Người ta còn lưu ý đến những đúc kết khác, như “Quy luật nhân quả”, “Ác giả ác báo”, hay Bụt trên tòa, khi nào gà lại mổ mắt?

Trên những quan điểm ấy, chúng ta có thể chỉ ra những ví dụ về mặt “thuận” trên thế giới, nghĩa là có rất nhiều những nước mà bản thân mình không là kẻ thù của chính mình, hơn thế, bản thân minh không làm hại ai, do đó khi “nhân” là thiện, thì “quả” là tránh phải nhận điều ác, được sống hòa bình hạnh phúc. Nhưng thí dụ về mặt “nghịch” của câu chuyện thì cũng khá nhiều, ví dụ các đế chế xâm lược thời xưa, các nước thực dân đế quốc thế kỷ trước, rồi mấy nước phát xít đã bị thế giới xúm vào tiêu diệt. Đối với mấy cường quốc đang gặp rất nhiều rắc rối khó khăn nguy hiểm hiện nay như đã nêu trên có nằm trong phạm trù lời dậy nói trên của Đức Phật? Có phải “Kẻ thù lớn nhất của Mỹ, Nga, Trung Quốc là chính họ” hay không? Và sau đó chính họ mới là kẻ thù tiềm tàng của nhau, và những dân tộc, những cộng đồng bị họ làm hại, từ vô tình đến có chủ ý sẽ chống trả lại họ.

Các ông Obama, Putin và Tập Cận Bình đang phải gánh nặng hậu quả sai lầm của chính nước mình trước đây. Thiết tưởng không cần chứng minh. Để có đầu, có đuôi, tôi chỉ xin nêu tóm tắt mấy kết luận.

Trên thang bậc của sự tiến hóa văn minh của Loài người, thì cho đến nay Nước Mỹ (dù vẫn còn khá nhiều khuyết tật) đang ở bậc cao nhất, sau đó một đoạn (cách nhiều nước) rồi mới đến nước Nga (vì mới qua một cuộc đổi đời vĩ đại chưa kịp hoàn hồn), còn nước Trung Quốc, tuy sức mạnh kinh tế và quân sự cũng ngang ngửa với các cường quốc thế giới, nhưng về tổng thể, trước hết là căn cứ những yếu tố quan trọng nhất, như cấu trúc chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... thì còn khá lạc hậu (nhiều người đã lóa mắt khi đứng trước một số thành phố lớn của nước này, mà quên rằng 8-90 % dân số TQ đang sống ở nông thôn nghèo nàn lạc hậu).

Đối với Hoa Kỳ, mọi thứ tốt xấu đã xẩy ra là hậu quả của quan điểm tự do thiếu kiềm chế đã tạo những sai lầm kéo dài và đụng độ rộng khắp thế giới trong quá trình trở thành siêu cường số một toàn cầu, rồi chúng tích tụ lại. Thông thường, lòng tham tự nhiên của yếu tố CON (trong con người), đầu óc u mê do say sưa thắng lợi và sự kiêu ngạo chỉ đến mức nào đó là còn được an toàn. Nước Mỹ đã để cho mấy nhiệm kỳ tổng thống trước Obama hung hăngvượt quá những cái ngưỡng an toàn đó mà không biết. Rất may, do chế độ Tự do Dân chủ độc quyền đảng trị theo nhiệm kỳ của Mỹ (đã là cái văn minh nhất thế giới hiện nay, tuy chưa là đủ và văn minh nhất của Loài người) nhưng cũng đã tạm đủ để giúp nhân dân Mỹ kịp thời “stop” ngay những sai lầm nặng nề của Buss và Regan lại. Khi lên nhận trách nhiệm Tổng thống Hoa Kỳ, Obama, đáp ứng lòng dân, đã định bụng sẽ “Tìm lại giấc mơ Mỹ”, những điều mà khi thành lập nước, mà Hiến pháp Hoa Kỳ đã ghi nhận, và suốt mấy chục năm sau đó giới ưu tú nước Mỹ đã từng bước chỉ đạo thực hiện được. Nhưng do sai lầm khá nặng nề và kéo dài chủ yếu của đảng Cộng hòa trước đây, thì 2 nhiệm kỳ chưa đủ để Obama tìm lại được những năm tháng hoàng kim thủa xưa của nước này. Hơn thế, những kẻ thù bên ngoài nước Mỹ ngày nay không những biết khôi phục sức mạnh truyền thống lạc hậu xấu xa trước đây của họ (mà nước Mỹ đã từng chiến thắng chúng) mà còn biết hiện đại hóa và liên kết lại với nhau để chống lại kẻ thù chung (trong đó số 1 là kẻ thù của lợi ích dân tộc, là sự kiêu ngạo, sự kém nhân đạo, sự thiếu văn minh). Obama được coi là một người hùng của nước Mỹ, nhưng vẫn tỏ ra chưa đủ thông minh, tài nghệ và khả năng vượt qua được mưu mẹo, sự xảo trá và các cái “bẫy” của nhiều đối phương. Đáng nhẽ, đối với những kẻ thù được Mỹ tự tạo ra bởi sự ức hiếp quá đáng của chính nước Mỹ trước đây, thì nước Mỹ không nên dùng sức mạnh vượt trội của mình để tiêu diệt chúng, bởi điều đó tuy là trong tầm tay, là làm được, nhưng càng ngày lại càng gây thêm thù oán sâu sắc không đội trời chung hơn đối với những người chẳng còn gì để phải giữ “đúng mức” hay nhân đạo với nước Mỹ, và vì thế có thể đẩy nước Mỹ vào ngõ cụt, thậm chí thất bại... Điều đó đúng như lời phán truyền, lời răn của Phật và của Chúa.

Đối với nước Nga, một dân tộc có truyền thống văn hóa vĩ đại. Chỉ “sai một ly, là đi một dặm”. Đúng như Mao Trạch Đông đã có lần nói, đại ý: Giới trí thức rất giỏi đề xuất những sáng kiến hay, nhưng không kiên nhẫn đấu tranh tổ chức thực hiện, và khi người ta lên đạn, thì bỏ chạy. Giới trí thức Nga trước đây không phải là không sớm nhận ra sai lầm (lạc đường) của CNCS cực đoan, bởi nó chỉ có thể duy trì sự tồn tại bằng đàn áp tù tội. Nhưng phải đợi đến sau 70 năm, bản thân cả xã hội Nga không chịu đựng được nữa, nhân dân và lãnh đạo bấy giờ mới chịu nghe ý kiến giới ưu tú của nước này. Khác với Mỹ, dạng di chứng hậu quả sai lầm tồi tệ của nước Nga không đem đến từ bên ngoài. Nếu nước Mỹ quá tả hết sức về đường lối tự do (cạnh tranh mạnh được yếu thua) đã tạo ra thù ngoài điên dại mà họ không ngờ, thì nước Nga, ngược lại 100%, đã quá cuồng nhiệt về đường lối bình đẳng ảo tưởng (làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu) nên đã tạo ra những khuyết tật hệ thống cuối cùng đã hình thành tự nhiên một xã hội u mê, trì trệ, xấu xa đến mức tự nó phải tan rã. Putin là anh hùng thời đại của nước Nga, là một trong những người đi tiên phong vạch ra kẻ thù. Những khuyết tật do thể chế chính trị kinh tế xã hội Nga gây tai họa lớn đến mức chính những người CS nòi và có đầu óc cũng không chịu nổi, hỏi rằng chỉ trong hơn chục năm thì tài gì mà ông Putin khắc phục hết được? Cái dư âm, quán tính của hệ thống những sai lầm kéo dài – cả quốc nội lẫn láng giềng - nó ép ông Putin phải tính đến, uốn theo, sửa từng bước một, thậm chí chấp nhận tiêu cực, nếu không muốn hy sinh cả một dự kiến vĩ đại khôi phục lại vị trí nước Nga hùng cường và có đủ nền tảng để trở thành một siêu cường văn minh trong tương lai.

Nếu Hoa Kỳ và Nga là 2 cường quốc đã đi cùng một hướng văn minh về thể chế chính trị kinh tế văn hóa xã hội (Tự do, dân chủ, đa nguyên, nhân quyền và pháp quyền... ), tuy ở những trình độ khác nhau, thì Trung Quốc, ngược lại còn đang đắm chìm trong những tư duy còn lạc hậu, cổ hủ hơn nhiều. Chính thể tại Trung Hoa hiện nay còn sặc mùi phong kiến đại bá (chinh phục thế giới) mà chính Mao Trạch Đông đã khơi dậy. Nếu trước đây chỉ đại bá trên giải đất Trung Hoa, thì bây giờ lãnh đạo và một bộ phận không nhỏ dân TQ muốn đại bá ra toàn cầu, bước đầu tiên là từng bước thống trị Châu Á. 


Hiện nay, trong xã hội TQ đang tồn tại pha trộn mấy tư tưởng chiến lược sau đây: Phong kiến bá quyền Đại Hán/ Trung Quốc, XHCN độc đảng toàn trị mất dân chủ kiểu Stalin, xã hội Tiền TBCN... Nên nhớ rằng, Liên Xô trước đây chỉ có một cái gông XHCN kiểu Stalin thôi mà xã hội đã có thể nói là thối nát (vừa rồi, để cẩn thận tránh hiểu sai, tôi đã hỏi trực tiếp thêm mấy vị đã công tác nhiều nhiệm kỳ tại đại sứ quán VN tại Nga thời Bre dơ nhep, thì họ nói đúng là như vậy), vậy mà tại Trung Quốc hiện nay mấy cái “gông” sặc mùi lạc hậu và cực đoan nói trên cùng lúc tác động vào toàn xã hội và giới lãnh đạo, hỏi rằng ông Tập Cận Bình làm sao mà không lúng túng, “thôi thì (tôi) cũng không rõ nên thế nào”, “không màng sống chết” vì “Đại cục”. 

Trên thực tế hiện nay, chỉ còn mỗi một cái ước mơ hão huyền “Giấc mộng Trung Hoa” là sợi dây liên kết được lỏng lẻo toàn đảng, toàn dân TQ mà thôi, như một niềm hy vọng an ủi toàn dân là “Nếu Trung Quốc trở thành cường quốc (thống trị) thế giới, thì toàn dân cũng được lợi” (!) (trích trong “Giấc mộng TH”). Nếu cái khó của ông Obama và ông Putin là do di sản, di chứng nặng nề, thậm chí tồi tệ của các thế hệ chính quyền đi trước để lại, và nhân dân Mỹ và Nga đã tin tưởng quàng lên cổ các ông ấy một nhiệm vụ quá tải là lập lại trật tự và khôi phục địa vị danh giá vinh quang trước đây của 2 đất nước này, thì ông Tập Cận Bình xem ra có cái khó lớn hơn nhiều: Nước Trung Hoa trong khoảng 2 thế kỷ gần đây chưa có được một vị thế vinh quang nào, bây giờ mới định hướng vĩ đại là bằng mọi cách, mọi thủ đoạn dã man, tàn bạo, xảo quyệt, bất chấp luật pháp quốc tế... để “tự tin” bước vào những giai đoạn sai lầm trước đây hàng thế kỷ của Mỹ, Nga và nhiều nước TBCN và XHCN kiểu Stalin đi trước. 

Nhưng cái khó quan trọng bậc nhất của ông Tập Cận Bình là ở chỗ, hiện nay thế giới đã đang sống ở thế kỷ XXI. Có nghĩa, thông qua kinh nghiệm chống chọi với chính sách đế quốc của Mỹ và tư tưởng bá quyền XHCN của Liên Xô, thì ngày nay nhân dân Châu Á và Thế giới đã biết tỏng những “món võ” của một cường quốc đang vươn lên, và biết cách tránh những dại dột đã mắc phải ở thế kỷ trước. 

Cái mà ông Tập Cận Bình còn có thể hy vọng là những món đòn đại hiểm và xảo quyệt hơn, chưa từng có trên thế giới mà TQ đã và sẽ dở ra. Những hiện tượng đang diễn ra chung quanh TQ, giữa TQ với thế giới hiện nay đã nói lên điều đó. Một trong những món võ đó là “Tọa sơn quan hổ đấu”, là bằng mọi cách, bằng mọi thủ đoạn, mọi phương tiện và khả năng “kích động” để thế giới đại loạn, thì “Trung quốc mới đại trị” được. Nhưng xin nhắc ông Tập Cận Bình là, cũng như kinh nghiệm của Mỹ và Nga vừa qua, lời dậy của Phật quả là không sai: “Kẻ thù lớn nhất của mỗi nước là chính mình”. Một số nước có thể xa chân mắc vào thủ đoạn nham hiểm của TQ, nhưng điều đó càng tăng thêm lòng căm thù âm ỷ sâu sắc truyền đời để đến khi có điều kiện là nó sẽ bùng lên.

Như vậy là, nguyên nhân mấy nước Mỹ, Nga, Trung Quốc bị rơi vào bi kịch hiện nay, có những cái giống nhau, lớn nhất là, như trên đã nói, là tự các nước làm hại bản thân mình mà không biết,hoặc biết mà không dũng cảm sửa chữa, khắc phục, hoặc vẫn bị sức cản của lòng tham không đáy, hèn nhát, của môi trường, của quán tính, của tập tục còn quá lớn,... Có lẽ cái giống nhau lớn nhất là cả 3 siêu cường thế giới này là đều chưa đủ thông minh và/ hoặc dũng cảm để nhận ra những vấn đề lạc hậu kém minh triết so với Thời đại mà bản thân mình đáng lẽ phải dẫn đầu.

Không nên mạo muội mà nêu ra lời khuyên với 3 Vị đứng đầu mấy cường quốc thế giới. Tôi chỉ nói thêm ước mơ của một công dân hành tinh, là mong các Quý Vị hãy dừng tay dao tay kiếm và mọi xảo thuật, mà nên sử dụng trí tuệ, sự minh triết và lòng nhân đạo để giải quyết nhiệm vụ. Ai dám bảo là sẽ không có những sự kiện tương tự như “sự kiện 11 tháng 9” khác nữa tại Mỹ, Nga và Trung Quốc? Quý Vị có thể điên lên tiêu diệt tận gốc nguyên nhân gây ra tai họa, nhưng để làm gì? Đã đến lúc lòng căm thù sôi sục làm CON NGƯỜI bị chèn ép không còn sợ cái chết là gì. Vậy Quý Vị sẽ chiến thắng được mấy trăm phần trăm những tư duy trả thù được coi là điên dại ấy để đổi tai họa lớn hơn? Vấn đề là làm thế nào để nước Mỹ, nước Nga, và nước TQ được sống hòa bình yên vui, chứ không phải để tiêu diệt kẻ thù do mình tự tạo ra rồi cùng họ tự hủy diệt!

Tóm lại: Kẻ thù lớn nhất của mỗi nước là chính mình. Hãy tinh tấn để loại bỏ kẻ thù trong chính bản thân trước đã.

Hà Nội, ngày 14, tháng 9, 2014
Vũ Duy Phú
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thủy điện Vân Nam - kẻ hủy diệt sông Mekong

Tôn Phi, Tác giả gửi bài trực tiếp cho VNTB
Điều đáng buồn là để trẻ con Vân Nam sung sướng, nhà nước Trung Hoa đã không ngó ngàng gì tới trẻ con đồng bằng Sông Cửu Long. Một lời trách móc nhẹ nhàng nhưng đủ làm cộng đồng trí thức Trung Quốc suy nghĩ.

Đập Manwan
Con sông Mekong dài 4800 km từ cao nguyên Tây Tạng đổ xuống biển Đông. Do những điều kiện địa lý, tự nhiên lẫn lịch sử, các quốc gia ven sông thi nhau khai thác con sông này, trong đó Trung Quốc lại lạm dụng con sông quá mức và gây ra những thảm kịch môi trường cho các quốc gia dưới nguồn. Một bức tranh kinh hoàng về những gì các con đập Vân Nam Trung Quốc tác động trên con sông thân yêu này đang hiện hữu trước mắt. Chính quyền Trung Quốc dùng sức mạnh tài chính để dập êm những tội lỗi mà thủy điện Vân Nam gây ra đối với thiên nhiên và cư dân dọc con sông lớn.

Nhiều nhà khoa học đã dấn thân cho 65 triệu dân sinh sống ở lưu vực sông Mekong. Việc khai thác dòng sông đã đưa tới một phản ứng dây chuyền như phá hủy hệ sinh thái, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, và gây ô nhiễm môi trường. Những hậu quả ấy đã diễn ra sớm và nhanh hơn cả sự kiện. Cộng đồng cư dân Đông Nam Á đã lên tiếng nhưng vì luật bảo vệ con sông này chưa có, và cũng không thể tin tưởng vào lương tâm của chính quyền Hoa Lục.

Không những vậy, nhà nước Trung Quốc còn cấm thực hiện các chuyến du khảo tới vùng núi rừng cấm xa xôi trên Vân Nam, Trung Quốc.Vì vậy, đa số nghiên cứu bắt đầu từ những con đập thủy điện ở Lào, tới các khu rừng Biển Hồ Cam Bốt và châu thổ Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Từ đó, các nhà khoa học dùng phép suy luận ngược để tìm ra những việc làm của chính quyền Bắc Kinh.

Đập Mạnh Loan - nguyên nhân thảm họa


Đập Manwan ( tên Hán Việt là Mạnh Loan) là con đập thủy điện lớn đầu tiên của tỉnh Vân Nam với công suất 1500 Megawatt nằm ngay khúc giữa con sông Lan Thương. Cũng là con đập thủy điện lớn đầu tiên điều hành theo phương thức liên doanh (Joint Venture) giữa trung ương Hoa lục và chính quyền Vân Nam với số vốn đầu tư 3800 triệu nhân dân tệ, tức là hơn nửa tỉ USD.

Phải nói là con đập Mạn Loan đã đóng một vai trò quyết định trong kế hoạch điện khí hóa, kỹ nghệ hóa, đô thị hóa cả một vùng tây nam Trung Quốc từ kém phát triển đã mau chóng tiến kịp và sánh vai với các tỉnh trù phú miền đông và đông bắc. Con đập cao tới 99 mét chắn ngang khúc sông giữa hai ngọn núi với bức tường thành cao tới 35 tầng. Đơn vị phát điện đầu tiên bắt đầu sản xuất điện từ ngày 30 tháng 06 năm1993 và chỉ hai năm sau đó, ngày 28/06/1995, tất cả 5 đơn vị phát điện cùng hoạt động đúng theo như tiến trình giai đoạn 1 của dự án.

Tưởng cũng nên nhắc lại ở đây một sự kiện đáng ghi nhớ và gây nhiều tranh cãi là vào giữa năm 1993, xảy ra một hiện tượng được coi là bất thường: Mực nước sông Mekong phía hạ lưu đột ngột tụt xuống thấp mà không vào mùa khô, chỉ lúc đó người ta mới biết là Trung Quốc đã xây xong con đập Mạn Loan và đó là thời điểm bắt đầu lấy nước từ con sông Mekong vào hồ chứa và họ cũng chẳng thèm thông báo gì cho các quốc gia dưới nguồn. Chỉ riêng đập Mạn Loan đã giữ tới 20% nguồn nước trên dòng chính khúc sông Mekong chảy qua tỉnh Vân Nam Trung Quốc.

Sau biến cố đó phải nói là càng ngày càng có mối lo âu ảnh hưởng của chuỗi đập bậc thềm Vân Nam. Mối quan tâm đó ngày càng gia tăng do nguyên nhân thiếu hẳn nguồn thông tin cung cấp bởi Trung Quốc. Chính quyền Trung Quốc xưa nay vẫn duy trì nền ngoại giao lì lợm và vô trách nhiệm như thế, và thực tế cả thế giới đang lên án Bắc Kinh vì điều này.

Nhà nước Trung Hoa được lợi nhuận khổng lồ từ việc khai thác trắng con sông này, và họ tìm mọi cách ca tụng nó để che lấp những tác hại nhiều thế hệ với các nước láng giềng cùng chung sống với sông Mekong. Nhà máy thủy điện Mạn Loan vẫn được Đảng ủy và Chánh quyền Vân Nam chọn là đơn vị tiên tiến trong 5 năm liền. Tháng 4 năm 1998, Mạn Loan lại nhận danh hiệu từ Bộ Điện Lực Trung Quốc, là “Một trong 400 đơn vị tiên tiến toàn quốc trong nỗ lực trồng cây gây rừng”!! Tháng 3 năm 1999, Mạn Loan lại được Tổ hợp năng lượng nhà nước công nhận là “xí nghiệp sáng tạo hàng đầu / nhà máy thủy điện hàng đầu ”, là niềm tự hào của Trung Quốc khi là một công trình lớn hoạt động nhiều năm mà vẫn an toàn với những thiết bị chế tạo trong nước (Made in China).

Thảm họa với các quốc gia dưới nguồn

Một trong những nước nhận viện trợ nhiều nhất của Trung Quốc là Cam Bốt nay đã nhận thức đầy đủ và quay trở lại tố cáo việc chặn dòng làm thủy điện của Vân Nam. Thảm họa đối với người Cam Bốt là rõ ràng: Nếu Biển Hồ xuống thấp 1 mét thì hậu quả tức thời là sẽ mất đi 2000 km2 diện tích rừng lũ. Rừng lũ đóng vai trò sinh tử trong việc nuôi dưỡng và tái sinh các nguồn sinh vật, có tác dụng cộng sinh (symbiosis) hoox tương như chỗi thực phẩm khổng lồ. Số lượng cá trong biển Hồ (vốn chiếm tới 60% sản lượng cá nước ngọt của Cam Bốt) ngày một sút giảm, số cá lớn ngày một ít đi. Nhiều nơi trong Biển Hồ ngày xưa ngập nước giờ chỉ nhấp nhô những bụi cây thấp.

Bắc Kinh từ chối đối thoại!

Kể từ sau hội nghị về môi sinh và phát triển tại Rio De Janeiro năm 1992, Liên Hợp Quốc đã quyết định chọn ngày 22 tháng 03 hàng năm là Ngày nước Thế Giới ( World World Water Day). Chủ đề được bàn tán sôi nổi nhất vẫn là là Nạn khan hiếm nước đang diễn ra trên toàn cầu với những đang cạn dòng, trong đó Lưu Vực Lớn sống MeKong, hay còn có tên gọi khác là Tiểu Vùng Mekong Mở Rộng (GMS/ Greater Mekong Subregion), không là một ngoại lệ.

Năm 2007 là đúng nửa thế kỷ (1957-2007) Liên Hợp Quốc thành lập Uỷ Ban Sông Mekong (Mekong River Commission) vẫn chỉ gồm 4 qu ốc gia vùng hạ lưu: Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam; trong khi Trung Quốc thì vẫn hoàn toàn đứng ngoài và tận dụng khai thác khúc thượng nguồn mà không kể gì tới hủy hoại môi sinh nơi các quốc gia ven sông.

Kinh nghiệm của người xưa về “thượng nguồn tích thủy hạ điền khan” tưởng như là hiển nhiên, nhưng vẫn cứ bị Bắc Kinh và cả một số ít người nhân danh khoa học phủ nhận. Nhưng rồi thời gian sẽ cho chúng ta “một bài học”, và sẽ là quá trễ nếu hệ sinh thái sống Mekong đã suy thoái đến mức không còn có thể đảo nghịch. Nói tới sông Mekong và Đồng bằng sông Cửu Long trước nguy cơ là còn thời gian phấn đấu để “giảm thiểu tổn thất”, nhưng đó là khoảng thời gian chúng ta phải chạy đua với vòng xoay của chiếc kim đồng hồ. Thời gian ấy chính là cơ hội, nhưng sẽ không kéo dài mãi mãi.

Tờ báo Nation Bangkok ngày 04-11-2007 có đăng một tin chấn động: Bộ Năng Lượng Hoàng Gia Thái Lan công bố kế hoạch xây một đập thủy điện khổng lồ 1800 MW (lớn hơn đập Mạn Loan Vân Nam 1500 MW) chắn ngang dòng chính sông Mekong phía đông bắc tỉnh Ubon Ratchathani, tiếp sau kế hoạch chuyển dòng lấy nước sông Mekong cũng của Thái Lan từ thập niên 1990. Nhưng không phải chỉ có một, mà còn có thêm 5 dự án thủy điện hạ lưu khác đang được phục hoạt, chắc chắn sẽ gặp sự chống đối của các nước lân bang. Trong đó, Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất vì ở cuối nguồn. Nhưng sự thể sẽ ra sao khi không có một quốc gia nào có quyền phủ quyết. Rồi thì tiếng nói sau cùng để bảo vệ mạch sống Mekong phải là từ chính những cư dân ven sông.

Có một nhà báo Trung Quốc đã viết trên China Times rằng, ông suy nghĩ nhiều khi trẻ con Vân Nam ăn mặc lành lặn cắp sách tới trường đi học, trong khi đó trẻ con ở Đồng bằng sông Cửu Long phải đi chân đất tới trường. Điều đáng buồn là để trẻ con Vân Nam sung sướng, nhà nước Trung Hoa đã không ngó ngàng gì tới trẻ con đồng bằng Sông Cửu Long. Một lời trách móc nhẹ nhàng nhưng đủ làm cộng đồng trí thức Trung Quốc suy nghĩ.

http://www.ijavn.org/2014/09/thuy-ien-van-nam-ke-huy-diet-song-mekong.html
Phần nhận xét hiển thị trên trang

CON NHÀ VÔ PHÚC

bLG  GIÁO LÀNG
CON NHÀ VÔ PHÚC
Cái chết là quy luật của muôn đời với muôn loài, chẳng ai có thể cưỡng nổi.  Mỗi người, tùy theo tín ngưỡng, tôn giáo có những quan niệm khác nhau về cái chết. Có người coi chết là hết, là trở về với cát bụi; có người coi chết chỉ là kết thúc cuộc đời ở kiếp người để đầu thai sang một kiếp khác với hy vọng sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn; lại cũng có người lo lắng chết đi, không biết sẽ được lên Thiên đường nơi hằng tồn tại cuộc sống đầy hoan lạc hay phải xuống Địa ngục sống chung với vạc dầu, quỷ sứ. …
     Nhưng dù lý giải về cái chết ra sao,  mỗi người đều có những ý nguyện cuối cùng, thể hiện cái ước muốn sau hết trước khi từ giã cõi đời. Người bình thường thì là vài lời trăng trối với cháu con trước khi nhắm mắt, người có chút chữ nghĩa thường ghi lại bằng giấy mực. Tờ giấy ghi lại tâm nguyện cuối cùng ấy được gọi là Di chúc, hay Chúc thư. Với các bậc đế vương, những nguyện vọng ấy được gọi là Di Chiếu. Dù là vài lời trăng trối, hay Chúc thư, Di chiếu, tựu trung cũng thường nói tới ba việc.
     Trước hết là thể hiện nguyện vọng của người chết về cách thức lo chuyện tang ma. Nguyễn Khuyến đã di chúc bằng thơ cho con cháu, thể hiện đúng nguyện vọng của con người suốt đời sống thanh bạch và hóm hỉnh nhưng luôn coi trọng khí tiết nhà Nho:
Việc tống táng lăng nhăng qua quýt,
Cúng cho thầy một ít rượu hoa
Đề vào mấy chữ trên bia
Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu.
    Điều thứ hai Di chúc thường nói tới là việc phân chia gia sản (với người bình thường) hoặc người được kế vị (với các bậc vương giả). Có điều này, anh em con cháu  còn sống sẽ hạn chế những bất hòa, tranh cạnh; đất nước sẽ tránh cảnh huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt.  
    Và cuối cùng là những lời căn dặn con cháu cùng những người còn sống về lẽ ăn ở trong đời, những hoài bão ước mong người chết chưa thể thực hiện muốn con cháu nối gót….
      Dù là của các bậc vương giả hay những kẻ nghèo hèn, những tâm nguyện trước khi chết ấy bao giờ cũng được coi là tuyệt đối thiêng liêng, là bất khả xâm phạm và những người còn sống phải thực hiện bằng mọi giá. Bởi vì những Di chúc, Di chiếu này thường được làm từ nhiều năm trước, những điều ấy đã được người chết suy ngẫm, cân nhắc đắn đo tới từng câu từng chữ, thậm chí có thể tới từng dấu chấm dấu phẩy, có khi còn lắng nghe ý kiến của con cháu, lại tham khảo thêm ý kiến của những người hiểu biết đáng tin cậy. Thêm nữa, người Việt ta có truyền thống coi “nghĩa tử là nghĩa tận”. Một chút gì của người đã khuất bao giờ cũng được người còn sống vô cùng trân trọng. Những ước nguyện ấy sao con cháu có thể coi thường?
     Nhưng cuộc đời không phải lúc nào cũng như thế. Dù Di chiếu hay Di chúc cũng vẫn có khi bị coi như một trò chơi. Ngay như bậc đế vương, cũng có những Di chiếu bị xuyên tạc. Trong lịch sử, điển hình người ta thường nói tới Di chiếu của Tần Thủy Hoàng đã bị Triệu Cao cùng Hồ Hợi làm giả để tìm cách thao túng chính sự, để có thể tự tung tự tác “chỉ hươu nói ngựa”. Những kẻ như Triệu Cao, Hồ Hợi bị người đời lên án là “loạn thần nghịch tử”.
     Người dân thường cũng có những đứa con bất hiếu dám tìm cách làm trái lời Di chúc của ông cha để giành quyền lợi cho mình, cho những người thuộc phe nhóm với mình. Từ đó dẫn tới cảnh anh em cốt nhục tương tàn.
     Tôi hiểu biết hạn hẹp, suy nghĩ nông cạn, không dám bàn tới Di chiếu và việc thực hiện Di chiếu của các bậc đế vương.
Chỉ nhớ lại sinh thời Bố tôi, mỗi khi nghe ai nhắc tới những kẻ dám làm trái lời Di chúc của Ông Cha, dẫn tới cảnh  anh chị em chia đàn xẻ nghé, Cụ chỉ đưa ra một lời bình phẩm:
- Con nhà vô phúc!
Bao nhiêu năm rồi, chỉ nhớ lại cái giọng của Cụ khi nói những lời ấy, tôi vẫn còn xanh cả mắt! 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Báo Thanh Niên Online chỉ đăng một phần sự thật..Trần Đĩnh còn là tác giả "ĐÈN CÙ" đang xôn xao dư luận trong và ngoài nước:


Phần nhận xét hiển thị trên trang