Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 14 tháng 8, 2014

Hoan hô bác Kim Quốc Hoa - Cho dù là chánh thanh tra..sợ gì?


Thanh tra tỉnh Khánh Hoá ký giấy yêu cầu phóng viên, rồi Tổng biên tập Báo Người Cao Tuổi có mặt tại cơ quan này để làm việc. Theo tờ báo này, trong quá trình làm việc, ông Chánh Thanh tra tỉnh này đã "đe dọa nhà báo"...
Vừa qua, Báo Người Cao Tuổi (NCT) có thông tin về vụ cấp đất trái pháp luật ở xã Cam Lập, TP.Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, đã được thanh tra tỉnh kết luận từ cuối năm 2012. Tuy nhiên, kết luận chỉ rất rõ nhiều nội dung sai phạm và  thiếu trách nhiệm (có tính chất nghiêm trọng và phức tạp) để lại nhiều hậu quả xấu, nhưng đề xuất xử lí của Thanh tra không tương xứng.
Theo Báo NCT, sau khi báo xuất bản, Thanh tra gửi giấy báo yêu cầu tác giả bài viết đến làm việc vào ngày 1/7; đồng gửi giấy báo cho TBT. Ngày 30/6, phóng viên liên tục nhận được điện thoại từ cơ quan Thanh tra tỉnh Khánh Hòa cho biết thời gian làm việc cả sáng và chiều vì nhiều nội dung.
Buổi đầu không có ông Chánh Thanh tra Nguyễn Yên Sơn, Phó Chánh Thanh tra Hoàng Việt Dân và một số cán bộ tiếp. Ông Dân phàn nàn: Loạt bài của Nguyễn Xuân đăng trên Báo NCT nặng nề quá. Đầu đề là một câu hỏi nhưng nội dung là dấu chấm than làm anh em buồn.
Tác giả thẳng thắn nêu vấn đề rất hệ trọng, kết qủa Thanh tra cho thấy vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật, để lại hậu quả xã hội nghiêm trọng. Thực tế các nội dung cơ bản của Kết luận số 25/KL-TTr ngày 21/12/2012 và chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Chiến Thắng đã không thực hiện được hoặc thực hiện qua loa, đại khái.
Nhà báo Kim Quốc Hoa, TBT Báo Người Cao Tuổi
Nhà báo Kim Quốc Hoa, TBT Báo Người Cao Tuổi
Số tiền chính xác do chuyển nhượng đất trái pháp luật Thanh tra kết luận là 60, 270 tỉ đồng do lấy đất của người này cấp cho người khác, làm sổ đỏ để chuyển nhượng; lấy đất của Nhà nước quản lí cấp cho hộ gia đình, cá nhân làm sổ đỏ rồi chuyển nhượng ngay là vi phạm pháp luật nghiêm trọng, nhưng Thanh tra không làm rõ số tiền này hiện ở đâu?
Thanh tra cũng không kiến nghị thu hồi số tiền bất hợp pháp đó. Hành vi làm hồ sơ gỉa, chữ kí giả, không xác minh nguồn gốc đất, không niêm yết danh sách, không lập hội đồng thẩm định… là có dấu hiệu tội phạm, nhưng Thanh tra không kiến nghị chuyển cơ quan điều tra v.v… là thể hiện rõ ràng hành vi bao che. Quá trình làm việc phóng viên  nhiều lần chất vấn nhưng Thanh tra trả lời qua loa, bao biện.
Ông Hoàng Việt Dân đã lắng nghe và tiếp thu những vấn đề phóng viên nêu và đề nghị nhà báo làm việc buổi thứ 2 với Chánh Thanh tra Nguyễn Yên Sơn vào chiều 2/7.
Làm việc với phóng viên, ông Nguyễn Yên Sơn cho rằng loạt bài báo Thanh tra tỉnh Khánh Hòa bao che sai phạm trong vụ cấp đất trái pháp luật ở Cam Lập, Cam Ranh là sai sự thật và xúc phạm đến cơ quan Thanh tra tỉnh.
Tuy nhiên, khi phóng viên đề nghị ông Sơn chỉ rõ những điểm sai sót bằng văn bản để báo tiếp thu và cải chính theo Luật Báo chí, thì ông Sơn nói thẳng: Thanh tra tỉnh Khánh Hòa không làm điều đó, mà sẽ làm việc với TBT và sau đó sẽ gửi văn bản kiến nghị cơ quan bảo vệ pháp luật vào cuộc xử lý tác giả.
Ông Sơn cho lập biên bản, phóng viên kí với tư cách đại diện Báo NCT và yêu cầu được nhận biên bản thì ông Sơn không cho, trả lời đó là “tài liệu nội bộ”.
Vẫn theo Báo NCT, ngày 16/7/2014, Chánh Thanh tra tỉnh Khánh Hòa gửi công văn cho nhà báo Kim Quốc Hoa và lãnh đạo TW Hội NCT Việt Nam, yêu cầu TBT vào Nha Trang để làm việc.
Phó TBT Nguyễn Đăng Bằng phúc đáp đề nghị Thanh tra tỉnh Khánh Hòa cho biết những chi tiết báo phản ánh sai (nếu có) để có cơ sở cải chính theo Luật Báo chí.
Ông Sơn lập tức gửi công văn thứ 2 yêu cầu TBT đến làm việc vào ngày 30/7. Cuối công văn ông Sơn còn “đe dọa”: “Nếu TBT không đến làm việc, Thanh tra tỉnh sẽ xử lí theo quy định của  Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thanh tra và Luật báo chí.”
Sáng ngày 30/7, TBT Báo NCT cùng tác giả Nguyễn Xuân đến cơ quan Thanh tra tỉnh Khánh Hòa. Ông Nguyễn Yên Sơn thông báo nội dung làm việc.
Khi thấy phóng viên đặt máy ghi âm và chuẩn bị chụp ảnh, lúc đầu ông Sơn “đồng ý” cho ghi âm; nhưng khi phóng viên chuẩn bị chụp ảnh thì ông Sơn bắt dừng lại.
Ông Kim Quốc Hoa nói: “Việc ghi âm, chụp ảnh trong các buổi làm việc với cơ quan chức năng là chuyện bình thường của báo chí; pháp luật không cấm”.
Ông Sơn nói: “Tôi yêu cầu tắt máy ghi âm, nếu không tôi lập biên bản thu máy”.
Lúc này TBT Kim Quốc Hoa lên tiếng: “Ông thu đi, lập biên bản đi, máy ghi âm đây. Thanh tra tỉnhKhánh Hòa không phải khu quân sự, vùng cấm quay phim chụp ảnh. Chúng tôi đến đây là để tác nghiệp báo chí theo yêu cầu của Thanh tra tỉnh Khánh Hòa.
Ông Nguyễn Yên Sơn nhắc lại: “Các ông đến đây là theo yêu cầu của Thanh tra tỉnh Khánh Hòa nên không thể tự do tác nghiệp báo chí, mà làm việc theo yêu cầu của chúng tôi”.
Ông Kim Quốc Hoa đứng dậy: “Chúng tôi là nhà báo, không phải là đối tượng Thanh tra của các ông, ông chỉ quen bắt nạt dân chứ với chúng tôi thì không được!”.
Ông Kim Quốc Hoa tuyên bố không làm việc nữa.
Ông Nguyễn Yên Sơn “ đe dọa” luôn: “Không làm việc thì Thanh tra tỉnh Khánh Hòa sẽ xử lí Báo NCT”.
Trong ngày 30/7/2014, TBT Kim Quốc Hoa có cuộc làm việc với Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Chiến Thắng; lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Thông tin Truyền thông, Ban Pháp chế HĐND tỉnh phản ánh toàn bộ sự việc xảy ra vơi ông Chánh Thanh tra tỉnh KH Nguyễn Yên Sơn nói trên.
Tại buổi làm việc sau đó với Chủ tịch Khánh Hòa Nguyễn Chiến Thắng, TBT báo Người Cao Tuổi Kim Quốc Hoa bày tỏ "không hài lòng trước thái độ không hợp tác, thiếu khiêm tốn và không tôn trọng cơ quan báo chí của ông Nguyễn Yên Sơn tại những phút đầu làm việc sáng 30/7/2014".
Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa đã "lắng nghe, ghi nhận sẽ xem xét những vấn đề Báo nêu". Riêng thái độ của Chánh Thanh tra tỉnh, ông Chủ tịch lấy làm tiếc và không đồng tình".
Nguồn: Người Cao Tuổi/ BTV biên tập và đặt lại tiêu đề
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chỉ có nhớ vặt không có suy nghĩ

V.TR. N
Sơ với một trận lụt ở một thành phố, thì một cuộc chiến tranh là một cuộc khủng hoảng lớn hơn nhiều. Nhưng bảo tàng không phải là ngành văn hóa phát triển ở ta, nên sự đòi hỏi có thể không đáp ứng ngay được. Giá bây giờ tôi đòi hỏi VN phải có một bảo tàng chiến tranh ra trò, hẳn sẽ vô lý.
Thế còn văn học VN hậu chiến? Có thể yêu cầu một cái gì tương tự như cách dân Đức làm  cho vụ lụt ở thành phố Passau lắm chứ! Có điều nói ra chỉ thêm buồn. Gần chục năm hậu chiến đã trôi qua, có một tình hình mọi người đều thấy. Đó là chúng ta lãng quên rất nhanh, nhất là không chịu khai thác quá khứ và rút ra ở đó những bài học. Nói rằng hoàn toàn vô tình thì không hẳn, giờ đây nhiều dịp lễ lạt vẫn được tổ chức. Trong văn học, luôn luôn có những cuộc vận động để mọi người viết lại về chiến tranh. Nhưng điều làm được đã chẳng bao nhiêu, mà nhìn sâu vào tâm lý những người trong cuộc thì lại thấy chúng ta hiện ra như những kẻ rất bàng quan, rất nhạt nhẽo với quá khứ. Trong văn chương, thậm chí người ta có cảm tưởng nhiều nhà văn  không buồn để công làm kỹ một cái gì hết, mà chỉ chăm chăm tính xem có đơn đặt hàng của nhà nước thì lao vào, y như giành giật được một món bở. Những việc vụ lợi ấy sao không mang một chút tâm huyết nào hết, nhiều khi lại biến thành làm hàng giả. 

 Có mấy lý do khiến cho hình này ngày đang kéo dài và không biết bao giờ mới gỡ ra được.
Khi đặt tên cho cuốn hồi ký chiến tranh của mình là Nhớ lại và suy nghĩ, vị nguyên soái nổi tiếng của Liên xô G. Zhukov đã đưa ra một cái chuẩn cho hồi ký thời nay. 
Con người hiện đại không được phép dừng lại ở những nhớ nhung sướt mướt.
Nhớ và quên không chỉ là bản năng, tình cảm -  mà còn là vấn đề trí tuệ.
Trong khi đó, người Việt mình thường đối diện với các sự kiện xảy ra trong quá khứ một cách hời hợt. Chỉ có nhớ vặt không có suy nghĩ. Cả dân tộc kém tư duy lịch sử mà mỗi cá nhân cũng không bao giờ có mấy ai nghĩ tới chuyện làm cuốn sử của riêng mình. Tìm ra một người trong sự vội vã cuộc sống hàng ngày vẫn lo ghi chép về các sự kiện đã xảy ra xem chừng quá khó. 

Chẳng những ghi ít, trong xu thế ghi chép lại chỉ thiên về những cái tốt đẹp, mà không thích và không dám đối diện với cả đau thương và mất mát.
 Một cách tổng quát, tức là người mình trải qua các biến cố một cách quá nhẹ nhõm,  còn nặng về bản năng"tự nhiên nhi nhiên", mà thiếu sự tham gia của lý trí. Nhìn riêng các cá nhân cũng vậy mà nhìn chung xã hội cũng vậy.
  Một nguyên nhân khác, trong nhận thức của người Việt, giữa chiến tranh và hậu chiến đang có sự đứt đoạn. Lấy quá khứ để giải thích hiện tại là chuyện người ta cho là viển vông. Ta thường nghĩ cắt khúc từng đoạn chứ không nghĩ được cả giai đoạn lớn của lịch sử. Thiếu một tầm vóc trí tuệ trong việc làm sống lại quá khứ.

Những người mau quên đáng thương
và những kẻ nhớ lâu đáng ghét
 Có một quy luật tâm lý chi phối con người khi nhớ lại quá khứ.  Nhớ và quên là hai mặt của cùng một hiện tượng. Không ai đủ sức cái gì cũng nhớ. Nhớ cái này nghĩa là quên đi cái khác.
 Lỗ Tấn từng có một bài tạp văn nổi tiếng mang tên Kỷ niệm để quên đi,viết về Lưu Hòa Trân một đồng chí của ông.
Còn những người đang yêu ở bất cứ lứa tuổi nào đều biết câu danh ngônMuốn quên ai đi tức là đang nhớ người đó.

Mấy năm cuối đời, tuy mới ở tuổi ngoài bốn mươi, nhà thơ Xuân Quỳnh (1940-1988) có một vài bài thơ có tính chất tổng kết đời mình. Như bài thơ được phổ nhạc Thơ tình  cuối mùa thu.
Lại như bài Có một thời như thế (1985), trong đó, để nói về sự trưởng thành của mình, nhà thơ tự nhận với người yêu:
Em biết quên những chuyện đáng quên
Và biết nhớ những điều em phải nhớ.
Tôi đã nói ngay với tác giả khi chị còn sống, trên đời này loại người biết nhớ và quên như thế ít lắm, trong niềm tự hào nói trên đã bao gồm một ảo tưởng. 
Nếu có người nào đó đủ sức làm chủ mình đến độ đó thì một là một cái máy, hai là các ông thánh.
 Còn phần đông chúng ta, khi quên khi nhớ, lung tung tùy tiện.
Hôm nay đây, có một ví dụ mà giá Xuân Quỳnh còn sống tôi sẽ trình ra với nhà thơ: cái sự quên nhớ sai lạc chung quanh câu chuyện chiến tranh của cả cộng đồng ta. 
Gần bốn mươi năm đã qua, đối với chiến tranh, đang thấy có tình trạng nước đôi.
Cả quên và nhớ đều có cả.
Chỉ  có điều xẩy ra một sự lỗi nhịp.
Cái đáng nhớ thì ta quên và cái đáng quên thì ta nhớ. 
 
Hình như có ai đó, vào khoảng 1975-85 đã có lần tự hào nói rằng không có dân tộc nào biết quên đi chiến tranh nhanh chóng để bắt tay vào cuộc kiến thiết trong hòa bình như chúng ta. Do nhu cầu tái thiết đất nước, sự quên đi đó là cần thiết.
Nhưng nhìn vào một phương diện khác lại thấy hoàn toàn ngược lại.
Với chiến tranh lại có sự nhớ cũng đáng trách không kém, tức là gây hậu quả đình trệ.
 Theo sự quan sát của tôi, những người luôn luôn nhớ tới chiến tranh một cách dung tục ở ta có nhiều loại, bao gồm từ các chiến binh công trạng lẫy lừng tới các nhân vật dây máu ăn phần, đóng góp thì ít mà tự thổi phồng lên thì nhiều. Phần lý trí sáng suốt của họ đã bị chiến tranh lấy đi gần hết. Ở một số người trong họ chỉ còn cái phần bản năng. Họ nhớ chiến tranh với nghĩa ở đó cộng đồng đã mắc nợ họ. Thời hậu chiến là lúc họ đòi nợ. Họ muốn lu loa ăn vạ. Trong lúc thả sức làm giàu một cách bất lương, họ sống y như những người từng bị chiến tranh ám ảnh và không bao giờ ra khỏi nó. Họ luôn luôn nhắc tới chiến tranh và muốn xã hội nhắc tới chiến tranh chỉ cốt để biện hộ cho sự hư hỏng của mình.

 Trong chữ nghĩa của khoa kinh tế ở VN hiện nay, có khái niệm xí nghiệp nhà nước, bao trùm cả những ngành chủ đạo của kinh tế quốc gia. Thực chất của các xí nghiệp này là gì nếu không phải là hình thức sau chiến tranh, nhà nước trao quyền làm chủ xã hội cho các công thần.
 Người ta cho đó là việc đương nhiên không cần giải thích, ai không hiểu thì người đó là kẻ vong ơn bội nghĩa. 
Ẩn kín sau đó còn là quan niệm vô cùng sai lầm song lại ôm trùm trên phạm vi rộng lớn “ai đã biết làm chiến tranh thì làm gì cũng được” hoặc “kẻ chiến thắng trong chiến tranh là kẻ thành đạt trong mọi lĩnh vực khác – nói theo chữ nghĩa thời nay - tức là kẻ chiến thắng trong mọi mặt trận khác.”

Đây chính là cái lối sùng bái quá khứ để trục lợi. Cách tổ chức xã hội cổ lỗ lỏng lẻo vốn đã mở đường cho tham nhũng tồn tại, nay lại được lý luận về sự đền ơn trả nghĩa nói trên hỗ trợ, hỏi làm sao nó không phát triển đến mức đè cả xã hội bẹp dí như chúng ta đang thấy. 

Những người thích thú với tư tưởng sùng bái quá khứ kiểu này hay lý sự “kẻ nào bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào họ bằng đại bác”. Họ quên rằng tác giả câu danh ngôn trên,-- nhà thơ xô viết Rasul Gamzatov 1920-2003,-- là một người của nước Nga thời trì trệ, và tư tưởng của ông cũng nằm trong không khí trì trệ đó.
 Sống trong một thế giới bị cô lập, những người này không biết rằng quá khứ không phải chỉ có một khuôn mặt mà bao giờ cũng có nhiều khuôn mặt, và việc khám phá ra bài học cần thiết của quá khứ sẽ là cái biện pháp hiệu nghiệm nhất để đi tới tương lai chân chính.
 Trong bài thơ Có một thời như thế mà trên kia tôi nhắc,  Xuân Quỳnh cũng đã có  câu thơ dành để nói về thời chiến, theo tôi là vượt xa hơn cả R. Gamzatov:
Quá khứ đáng yêu, quá khứ đáng tôn thờ
Nhưng không phải là điều em ao ước.
Việc "quên đi" cái phần quá khứ nói như thế này cố nhiên cũng là kết quả của sự hiểu biết tương lai trên cơ sở khảo sát cả quá khứ lẫn hiện tại. 

Không thể bị cầm tù trong quá khứ
Một hướng suy nghĩ của nhiều dân tộc sau chiến tranh cũng bao hàm một thái độ hai mặt cả biết nhớ lẫn biết quên như trên. 
Tôi biết điều này nhân đọc bài thơ của   Wisława Szymborska do Thái Linh dịch.
 Theo lời giới thiệu trên mạng Lilia,  Wisława Szymborska ( 1923 – 2012) là nhà thơ lớn của Ba Lan. Năm 1996, bà được trao giải Nobel cho "những tác phẩm thơ tái hiện chân thực một thế giới trong đó cái thiện và cái ác đan xen, giành giật nhau chỗ đứng cả lẫn trong tư duy và hành động của con người. Bà đã thể hiện tấm lòng một công dân, một nghệ sĩ có nhân cách lớn và đầy trách nhiệm trước những thực trạng các giá trị tinh thần bị đảo lộn, trước nguy cơ suy đồi đạo đức trong cuộc sống hiện đại".
Bài thơ sau đây là một chứng minh cho nhận định đó.


Kết thúc và khởi đầu      
Sau mỗi cuộc chiến tranh
Phải có người dọn dẹp.
Một trật tự khả dĩ
không tự nó sinh ra.

Phải có người xúc đống gạch nát
sang lề đường
cho những chiếc xe chất đầy xác
đi qua.

Phải có người lăn xả
vào bùn đất, tro tàn,
giữa lò xo của những chiếc ghế bành,
những mảnh kính vỡ
và những tấm giẻ đẫm máu.

Phải có người khuân đi
thanh gỗ chống tường,
phải có người lắp kính cửa sổ
và lắp cánh cửa vào bản lề.

Những điều ấy lên hình không đẹp
và mất nhiều năm.
Mọi ống kính đều đã lên đường
tới cuộc chiến tranh khác.

Phải bắc lại cầu
và làm nhà ga mới.
Những tay áo sờn rách
vì bao lần xắn lên.

Có người cầm búa
ôn chuyện đã qua.
Có người lắng nghe
gật gù bằng cái đầu chưa mất.
Nhưng quanh họ
bắt đầu có những kẻ cảm thấy
những thứ đó chán ngấy.

Dưới bụi cây
đôi khi vẫn có người đào lên
những lý lẽ đã gỉ sét
và mang chúng ra đống rác.

Những người biết
về những điều từng xảy ra nơi đây
phải nhường chỗ cho những người
biết ít.
Biết ít hơn.
Và rốt cuộc gần như không biết.

Trên thảm cỏ
nơi mọc lên nhân quả
phải có người nằm lăn ra
nhấm cọng rơm

và ngây ngắm mây bay.

Với cả bạn đọc người sáng tác ở VN, bài thơ trên hẳn gây ngạc nhiên. Nó nêu lên một đề nghị vượt lên trên cách xử lý thông thường. 
Nhưng giá kể biết được văn học viết về chiến tranh ở VN  đang ở trong tình trạng thế nào, các nhà thơ và bạn đọc thế giới sẽ ngạc nhiên, không ngờ chúng ta bị cầm tù trong quá khứ chắc chắn đến thế, cách tiêu hóa quá khứ ở ta lại cổ lỗ đến thế. 
Biết bao giờ chúng ta mới gia nhập được vào thế giới hiện đại! 


Phần nhận xét hiển thị trên trang

TITATITOE | Phọt Phẹt

TITATITOE | Phọt Phẹt Phần nhận xét hiển thị trên trang

Roger Hilsman: Hoa Kỳ là đồng minh đầu tiên của Việt Minh


Roger Hilsman 1963
Roger Hilsman 1963Roger Hilsman giữ nhiều chức vụ cao cấp trong phòng Đông Á của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ từ 1961 tới 1964. Ông có ảnh hưởng quyết định tới chính sách chống nổi dậy (Counterinsurgency) của đầu những năm 60. Cuối 1962, tổng thống Kennedy gửi ông sang Việt Nam để lập một bản tường trình về tình hình mà sau khi đọc nó, chính phủ Hoa Kỳ đã bỏ rơi tổng thống Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm. Hilsman từ chức năm 1964.
Hoa Kỳ nguyên thủy là đồng minh của Việt Minh. Liên minh này ra đời dựa trên sáng kiến của Dean Rusk. Vào cuối Đệ nhị Thế chiến, ông gửi khoảng 100 sĩ quan liên lạc của mật vụ OSS (Office Strategic Services) sang Việt Nam, như là một phần của cơ quan trung ương Hồ Chí Minh, hỗ trợ cho cuộc đấu tranh chống người Nhật. Đó là một sự thật, người Mỹ đầu tiên chết tại Việt Nam là ở bên phía của Việt Minh. Cùng với OSS, họ cũng cứu thoát phi công Hoa Kỳ bị quân đội Nhật bắn hạ. Rusk lo ngại rằng sau chiến tranh, cửa sẽ mở rộng cho người Trung Quốc và người Nga. Hồ Chí Minh cực lực phản bác điều đó. Trả lời câu hỏi của một người được gọi là diều hâu, tại sao ông không muốn lôi kéo Trung Quốc vào trong cuộc chiến, ông trả lời. “Lần cuối cùng mà người Trung Quốc vào Việt Nam, họ đã ở lại 1000 năm. Đó có phải là điều ông muốn hay không?” Ông ấy sẽ không bao giờ để cho Trung Quốc đi vào nước. Ông ấy chấp nhận giúp đỡ nhân đạo, nhưng không chấp nhập giúp đỡ quân sự. Rusk không thể hiểu được điều đó.
Vào đầu những năm năm mươi, Hồ Chí Minh viết ba lá thư gửi cho chính phủ Truman xin được giúp đỡ.  Những lá thư này không bao giờ được trả lời (vì người Pháp). Roosevelt đã tuyên bố ủng hộ chấm dứt thời thuộc địa, nước Anh nên từ bỏ Ấn Độ và Miến Điện. Đó là tình huống duy nhất mà Roosevelt và Churchill thống nhất với nhau. Và nước Pháp còn tệ hơn nữa, nhất định muốn giữ chặt lấy Đông Dương. Chính sách của Truman có ý định chỉ giúp đỡ tối thiểu cho người Pháp, để cùng với họ tạo một mặt trận chống nước Nga trong NATO.
Một ngày trước khi Hội nghị Đông Dương ở Genève quyết định chấm dứt chiến tranh, quân lính Pháp kéo dây kẽm gai quanh các tòa nhà của họ ở Hà Nội
Một ngày trước khi Hội nghị Đông Dương ở Genève quyết định chấm dứt chiến tranh, quân lính Pháp kéo dây kẽm gai quanh các tòa nhà của họ ở Hà Nội
Qua đó mà cũng có liên quan tới thuyết Domino. Đó là ý tưởng của Eisenhower. Tôi không biết ông ấy có thật sự tin vào điều đó hay không, nhưng nó là một việc được báo chí thổi phồng lên. Eisenhower giải thích tại sao chúng tôi tài trợ cho Nam Việt Nam, mặc dù chúng tôi không có quân đội ở đó. Ông nói rằng các nước Đông Nam Á giống như một dãy domino: khi một quân cờ domino ngã xuống thì tất cả các quân cờ khác cũng sẽ ngã theo. Tôi không chắc chắn là Eisenhower có thật sự tin vào điều đó hay không. Thế nào đi nữa thì Kennedy chưa từng bao giờ coi trọng nó, vì ông luôn cười to về điều đó. Kennedy chỉ dùng những từ ngữ đó đúng một lần trong liên quan với trợ giúp và ủng hộ, không phải trong liên quan với chiến tranh.
Hội nghị Đông Dương diễn ra ở Genève năm 1954. Nhưng người Mỹ hầu như không tham gia vào các cuộc đàm phán. Đó là vì Bộ trưởng Bộ Ngoại giao John F. Dulles, một người chống cộng sản công khai. Ông xuất thân từ một gia đình sùng đạo và rất mộ đạo. Đối với ông, người cộng sản là một đám người vô thần, và điều đó là đủ để không ngồi vào cùng bàn với người Nga. Lúc nào cũng có những kẻ xuẩn ngốc trong chính trị.
Sau cuộc cải cách ruộng đất ở Bắc Việt Nam, người Công giáo chạy trốn ra khòi nước. Đó là sau Hiệp định Genève của năm 1954. Hiệp định này nói rằng vùng đất được chia ra thành Bắc và Nam Việt Nam ở vĩ tuyến 17. Một phần của hiệp định là việc mỗi một người Bắc Việt đều có thể đi vào miền Nam vào bất cứ lúc nào; Thủy quân Lục chiến Hoa kỳ sẽ chở họ. Điều này được quyết định theo áp lực của Dulles. Nhờ đó mà có khoảng một triệu người Công giáo đã có thể đi vào miền Nam. Thế rồi những người này trở thành sĩ quan và cố vấn của Diệm.
Bầu cử cần được tiến hành ở Bắc và Nam Việt Nam năm 1956. Eisenhower và Dulles lo ngại Hồ Chí Minh sẽ thắng cử và vì vậy mà sẽ mất Nam Việt Nam. Tôi cũng nghĩ là sẽ như thế. Tổng thống Ngô Đình Diệm là một người Công giáo, gia đình ông từ hàng thế kỷ đã là công giáo – và điều đó ở trong một đất nước mà 98 phần trăm người dân của nó theo đạo Phật.
Tổng thống Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm, 1961
Tổng thống Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm, 1961
Đó là một sai lầm to lớn, việc Hoa Kỳ hành xử như thế nào trong tình huống này. Theo tôi, John F. Kennedy là tổng thống duy nhất đã hiểu thấu được hoàn cảnh Việt Nam. Ông đã quen biết Diệm khi còn là một nghị sĩ trẻ tuổi, rồi sang thăm Việt Nam và kết bạn với một nhân viên đại sứ quán ở đó, người sau này còn là rể phụ cho ông nữa, và cũng là người Công giáo. Người này thuyết phục Kennedy, rằng Diệm như là một người Công giáo không thể nào mà thắng được trong một đất nước Phật giáo.
Sau này, dưới thời Kennedy, khi tôi là ủy viên cho Viễn Đông, kể cả Việt Nam, ông đã nói với tôi rằng tôi cần phải giữ cho nước Mỹ đứng ngoài cuộc chiến này. “Chúng ta không thể chiến thắng. Nhiệm vụ của anh là giúp người Nam Việt Nam, hỗ trợ họ, nhưng không bằng quân đội hay vũ khí.” Kennedy dứt khoát từ chối gởi quân đội sang Việt Nam.
Tôi nghĩ rằng ngay Truman và Roosevelt là cũng đã biết rằng ảnh hưởng của cộng sản ở Việt Nam mạnh cho tới đâu. Chính phủ Eisenhower đã bãi bỏ đường lối thông hiểu này, hẳn là vì niềm tin tôn giáo của Dulles mà việc chống cộng sản xuất phát từ đó. Chính sách của Kennedy mang dấu ấn của sự dè dặt và chờ xem. Lyndon B. Johnson, tổng thống kế tiếp, đối với tôi là một con người ngây thơ và không có học thức. Ông chẳng hề biết gì về chính trị Đông Nam Á, nhưng lại sợ cộng sản. Ông không muốn nghe các nhà cố vấn giàu kinh nghiệm của ông ấy, cũng như không nghe McNamara. Lúc đó, tôi lãnh đạo tình báo của Bộ Ngoại giao. Tất cả các bản báo cáo nghiên cứu mà chúng tôi thu thập được trong suốt diễn tiến của cuộc chiến cho tới thời điểm đó đã có sẵn. Dự đoán rất đen tối, tất cả đều cho thấy rằng chúng tôi không thể thắng cuộc chiến này được. Nhưng cả Johnson lẫn McNamara đều không đọc bản báo cáo của chúng tôi. Đối với hai người, một cuộc chinh chiến chống cộng sản là quan trọng hơn mọi việc khác.
Tôi nghĩ, quyết định của Eisenhower, đào tạo một quân đội Nam Việt Nam, là một sai lầm. Nhưng ai đó phải làm điều này. Và vấn đề thật sự chỉ xuất hiện với Johnson. Ông gửi lực lượng quân sự sang Việt Nam, ném bom đất nước này, gửi trên một triệu người Mỹ tới đó. Đó là bước leo thang. Tất cả những người đã từng là du kích quân từng trải và đã có thể thu thập kinh nghiệm ở Đông Nam Á, đều cùng nhau tuyên bố chống lại một cuộc chiến tranh của Mỹ, nhưng Johnson chỉ muốn thực hiện các mục tiêu riêng của ông.
Vịnh Bắc Bộ đối với ông là một lập luận được hoan nghênh để lôi kéo Quốc hội vể phía ông. Ông tin là thật sự đã có một cuộc tấn công tàu khu trục của Hoa Kỳ. Đối với ông, đó là phát súng báo hiệu để thực hiện chính sách Việt Nam của ông, vì bây giờ thì Quốc Hội đứng sau ông. Nghị quyết Vịnh Bắc bộ trao quyền cho chính sách của Johnson ở Việt Nam mà không cần tuyên bố chiến tranh. Ngày nay, chúng tôi chắc chắn rằng lúc đó không có cuộc tấn công nào xảy ra. Các anh chàng ở cạnh máy radar hẳn là có hơi căng thẳng một chút, nghĩ là đã nhìn thấy cái gì đó, và thế là khai hỏa. Nhưng ở đó không có gì cả.
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Robert S. McNamara trong lần sang thăm Việt Nam năm 1965
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Robert S. McNamara trong lần sang thăm Việt Nam năm 1965
Xin nói thêm một chút về tướng Westmoreland, từ 1964 tới 1968 là tổng tư lệnh Bộ chỉ huy Cố vấn Quân sự ở Việt Nam: ông là một người lính, không biết gì về những mối liên quan chính trị. Sau khi đập tan một vài đơn vị quan trọng của Việt Cộng, ông nghĩ rằng chiến tranh chẳng bao lâu sẽ chấm dứt. Lúc đó là trước trận tấn công Tết Mậu Thân. Giới báo chí bài tỏ sự hoài nghi. Việt Cộng rất mạnh, chúng tôi nên rút lui khỏi đất nước này. Nhưng Westmoreland chỉ nói về các đơn vị mà ông ấy đã loại ra khỏi vòng chiến đấu. Nhưng các đơn vị cộng sản ở miền Nam vẫn còn nguyên: chỉ trong vòng vài tuần, họ đã lại bù đắp đủ số tổn thất của họ với lính mới.
Westmoreland không bao giờ hiểu được điều đó. Năm 1967, ông phát biểu trước Quốc Hội và tỏ ra lạc quan vể kết cuộc của cuộc Chiến tranh Việt Nam. Ông nhìn thấy ánh sáng ở cuối đường hầm – đó chắc hẳn là một cái đèn pin của Việt Cộng! Bi kịch ở đây không phải là giới công chúng bị lừa dối, mà là Johnson đã thật sự tin vào chiến thắng, và bỏ ngoài tai tất cả những lời chỉ dẫn của các cố vấn của ông.
Việt Cộng – đó là những người nông dân – đã đánh lừa chúng tôi qua vẻ ngoài của họ. Người dân Việt Nam không quan tâm tới việc liệu cộng sản có nắm chính quyền hay không; người cộng sản đã đảm nhận trách nhiệm đó cho người dân. Người Mỹ không thể làm thay đổi điều đó, họ có làm điều gì cũng vậy. Sẽ không có gì thay đổi ngay cả khi chúng tôi chiếm đóng đất nước đó nhiều thế kỷ hay giết chết hết người Việt. Tôi nghĩ, Roosevelt, Truman và Kennedy đã hiểu điều đó, chỉ Johnson là không, vì ông không biết gì về lịch sử của dân tộc này cả.
Quyết định của Johnson năm 1968, từ bỏ chính sách cho tới lúc đó, là hoàn toàn bất ngờ. Tôi đã vui mừng về việc này. Sau đó, tôi có cảm giác như Nixon, tổng thống mới của Hoa Kỳ, và người cố vấn đặc biệt của ông và sau này là bộ trưởng Bộ Ngoại giao Kissinger, đã muốn kéo dài cuộc chiến thêm nhiều năm. Khi Nixon nắm quyền, đã có 15.000 người chết. Nhưng cho tới khi chiến tranh chấm dứt đã có tổng cộng 55.000 lính Mỹ hy sinh. 40.000 người Mỹ đã có thể vẫn còn sống nếu như Nixon và Kissinger hành động hợp lý.
Phan Ba trích dịch từ “Apokalypse Vietnam”
Đọc những bài phỏng vấn khác ở trang Chiến tranh Đông Dương

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc dọa mang 50 dàn khoan ra Biển Đông, cục diện an ninh khu vực sẽ thế nào?


BizLIVE - Nhân chuyến thăm Úc của Thủ tướng Nhật Bản, Shinzo Abe và các diễn biến tiếp tục tại Biển Đông, BBC vừa trích đăng một số ý kiến đánh giá cục diện an ninh và chính trị khu vực của các chuyên gia uy tín trên thế giới. Dưới đây là trích đoạn các ý kiến đó.
Hoa Kỳ muốn tăng sự hiện diện quân sự ở châu Á. Ảnh AFP
Trả lời BBC tiếng Trung về đối thoại chiến lược Mỹ - Trung tuần này ở Bắc Kinh và về chính sách xoay trục sang châu Á của Obama, ông Hugh White, cựu Thứ trưởng Quốc phòng Úc cho biết: Bằng việc dồn ép Philippines và Việt Nam, Trung Quốc đang muốn cho các đồng minh và bạn của Mỹ thấy là Hoa Kỳ không thể tin tưởng được. Bằng hành động đó, Trung Quốc hy vọng sẽ làm suy yếu ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực. Họ đang đánh cược rằng Mỹ sẽ không đối đầu với Trung Quốc.

Người ta có thể hiểu vì sao Bắc Kinh nghĩ vậy. Chúng ta có thể thấy bảng thành tích của Obama ở Trung Đông, rằng Mỹ rất do dự khi quyết định tham gia vào xung đột ở đây, ở Ukraine, và các nơi khác.

Nhưng có rủi ro là suy nghĩ đó có thể sai, bởi lợi ích của Mỹ ở châu Á là rất quan trọng. Ví dụ như nếu họ thất bại trong việc trợ giúp Nhật Bản trong cuộc khủng hoảng ở Senkaku/Điếu Ngư, điều này sẽ làm tổn hại quan hệ của Mỹ với Nhật, cũng như vị trí của Washington tại khu vực.

Trung Quốc có thể đã sai bởi Mỹ có thể muốn trợ giúp Nhật Bản. Đó là lý do vì sao rủi ro đối đầu là khá cao. Chúng ta có một tình huống cổ điển ở đây như hồi năm 1914 (thời điểm Thế chiến thứ nhất diễn ra).

Trung Quốc nghĩ có thể dồn ép bởi Mỹ sẽ lùi bước, còn Mỹ cũng nghĩ có thể dồn ép bởi Trung Quốc sẽ lùi bước. Cả hai có thể đều sai.

Ở châu Á, ông Obama muốn giữ vai trò chủ đạo của Mỹ, và phản ứng lại bất cứ thỏa hiệp nào với Trung Quốc. Đó thực sự là chính sách “xoay trục” của Obama.

Ngay chính giữa của chính sách xoay trục là ý tưởng rằng nước Mỹ phải sử dụng, như lời Obama, tất cả các yếu tố của sức mạnh Mỹ để bảo vệ hiện trạng, không chấp nhận nhượng bộ với Trung Quốc. Tôi nghĩ đó là chính sách sai lầm. Tôi cho là ông ấy không thực hiện nó một cách hiệu quả.

Cuối cùng, chính sách xoay trục đã không đưa lại nhiều sức mạnh Mỹ đến châu Á. Nếu nó làm được, sẽ khó để chỉ đơn giản là chấp nhận thách thức từ Trung Quốc và từ chối thỏa hiệp. Sau cùng, Trung Quốc hiện đang gần có một nền kinh tế lớn hơn Mỹ tính theo ngang giá sức mua (PPP).

Vì thế việc Trung Quốc đối đầu với Mỹ là mối nguy lớn nhất mà Mỹ từng đối mặt.

Về mặt kinh tế, họ mạnh hơn hẳn Liên Xô ngày xưa. Vì thế tôi nghĩ sẽ không thực tế cho chính sách ngoại giao của Obama khi cứ giả định rằng Mỹ có thể duy trì địa vị số một tại châu Á và từ chối thỏa hiệp với Trung Quốc.

Nhưng đó là điều mà Obama đã cố làm. Ông ấy đã thử và thất bại, kết quả là uy tín an ninh của Mỹ tại châu Á đã bị xói mòn.

Tôi nghĩ đó là những thứ mà chúng ta thấy trong việc Nhật Bản lo lắng về tương lai đồng minh của mình. Và đó là thứ đứng phía sau các thay đổi trong chính sách ngoại giao gần đây của Nhật Bản.

Còn cây bút Roger Mitton thì viết trên tờ Myanmar Times như sau: Sang thăm Việt Nam, Ủy viên Quốc vụ viện Dương Khiết Trì nói thẳng với lãnh đạo Việt Nam rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục "sử dụng mọi biện pháp có thể" để bảo vệ chủ quyền và hoạt động của dàn khoan dầu, mà theo quan điểm của Bắc Kinh, đang nằm hoàn toàn trong lãnh hải Trung Quốc.

Ông cảnh báo rằng Việt Nam sẽ hứng chịu nặng nề nếu hợp tác với các nước khác, ví dụ như Hoa Kỳ, nhằm chống lại tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc hay tham gia cùng Philippines để khiếu nại lên Liên Hiệp Quốc.

Một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói thêm "Việt Nam cần phải đình chỉ quấy nhiễu đối với sự tác nghiệp của Trung Quốc, đình chỉ thổi phồng bất đồng, gây ra tranh chấp mới, xử lý và khắc phục tốt hậu quả các vụ bạo lực nghiêm trọng gần đây."

Ông Edmund Malesky, chuyên gia quan sát Việt Nam tại Đại học Duke, Hoa Kỳ nói:
Một chuyến thăm dự tính xảy ra trong tháng này của Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh sang Hoa Kỳ đã bị xếp lại.

Về cơ bản, Hsẽ không có thêm cuộc biểu tình nào cả, cũng chẳng có chuyện khiếu nại gì lên Liên Hiệp Quốc, không có diễn tập quân sự với Hoa Kỳ và cũng không đi đầu một khối ASEAN thống nhất chống lại Bắc Kinh.

Trong khi đó, Trung Quốc đã đưa thêm một dàn khoan vào khu vực lãnh hải tranh chấp và nói họ có kế hoạch đưa thêm khoảng 50 dàn khoan nữa trong những năm tới. Và đó là điều Trung Quốc sẽ làm.

Tác giả Erin Zimmerman thì viết trên The Diplomat: Có nhiều lợi ích trong việc tăng cường gắn kết với Trung Quốc thông qua các diễn đàn đa phương.

Trước hết, đưa Trung Quốc vào các tiến trình khu vực sẽ tạo ra môi trường gắn kết mang tính xây dựng, khuyến khích Bắc Kinh chứng tỏ ảnh hưởng tích cực của họ đến khu vực.

Thêm vào đó, các nước châu Á nhỏ hơn có thể sử dụng các tiến trình đa phương như Hội nghị Thượng định Đông Á, Diễn đàn Khu vực ASEAN, và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM - Plus) để giảm thiểu ảnh hưởng của Trung Quốc và cho thấy một mặt trận thống nhất về những vấn đề an ninh.

Sự thật là Bắc Kinh đã tăng cường tham gia vào các đối thoại đa phương, mặc dù có quá khứ chống đối điều này.

Nó cho thấy sự cởi mở của Trung Quốc trong việc gắn kết khu vực, xu thế mà nên được khuyến khích bởi tất cả các quốc gia có lợi ích an ninh ở châu Á.

Nói tóm lại, các nhân tố chính trị ở châu Á cần hiểu rõ tình hình chính trị nội địa của Trung Quốc và nhỏ tiếng hơn trong các diễn đàn chung, nếu không họ sẽ làm tăng thêm sự bất ổn mà chính họ muốn tránh.

Các bên nên cho thấy nỗ lực công khai trong việc gắn kết Trung Quốc trong an ninh khu vực nhiều nhất có thể.

Làm như vậy, họ sẽ loại trừ được bất cứ lý do nào Bắc Kinh đưa ra cho những hành động đơn phương, và tránh kích động tình huống nội địa ở Trung Quốc mà dẫn đến cách hành vi khiêu khích.

Không nên im lặng các chỉ trích, nhưng nó nên được đưa ra một cách riêng tư hơn, qua đó cho phép Bắc Kinh phản ứng mà không chịu áp lực của chủ nghĩa dân tộc. Làm như vậy sẽ khiến sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc dễ đạt được hơn.

Trong khi đó, cây bút Celia Hutton đánh giá tình hình Trung Quốc như sau: Trong quá khứ, lễ kỷ niệm vụ Nhật tấn công Trung Quốc 7/7/1937 (biến cố Lư Cầu Kiều hay Marco Polo Bridge Incident) thường được tổ chức rất nhỏ.

Năm ngoái, truyền hình quốc gia Trung Quốc có chạy hai phút tin mô tả quan chức Đảng Cộng sản ở địa phương đặt hoa ở Lư Cầu Kiều.

Nhưng năm nay, cả một chương trình 90 phút trên truyền hình Trung Quốc về ngày kỷ niệm có mục tiêu gây sức ép lên Tokyo để buộc Nhật xin lỗi về các tội ác chiến tranh, gồm cả chuyện buộc phụ nữ Trung Quốc làm nô lệ tình dục, và vụ thảm sát Nam Kinh năm 1937.

Cả hai nước Trung Nhật cũng vẫn đang dính vào các vụ tranh chấp trong khu vực.
Cả hai đều đang tuyên bố chủ quyền ở các dãy đảo ngoài biển Hoa Đông, mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư và Nhật Bản gọi là Senkaku.

Tuần trước, Nhật Bản đã khiến nhiều người Trung Quốc nhột mình sau khi diễn giải lại hiến pháp cho phép lực lượng vũ trang của Nhật nhiều khả năng tham chiến ở nước ngoài hơn.

Buổi lễ hôm thứ Hai 7/7 là chủ đề chính cho hàng triệu người dùng mạng xã hội Weibo ở Trung Quốc.

Một lời bình điển hình: "Đây là sự sỉ nhục dân tộc mà chúng ta không thể nào quên.”

Hay là câu hỏi: ”Tình hữu nghị Trung – Nhật là cái gì thế?”.
“Sói luôn ăn thịt người, và làm bạn với kẻ thù là một tội ác.”

Trong hàng nghìn lời bình trên mạng, chỉ có một thiểu số rất nhỏ đặt câu hỏi về buổi lễ được truyền hình trực tiếp với 1000 khách gồm các lãnh đạo cao cấp nhất.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cuộc xung đột lớn trên Biển Đông

Việc Trung Quốc quyết định rút dàn khoan hiện đại ra khỏi khu vực đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 dặm của Việt Nam mới đây vì cảnh giác sau gần bốn tháng xô sát dữ dội trên biển giữa các lực lượng hải quân Trung Quốc và Việt Nam, vốn gây nên cuộc khủng hoảng ngoại giao lớn nhất giữa hai nước cộng sản kể từ cuối cuộc Chiến tranh Lạnh, đã được các quốc gia láng giềng và cộng đồng quốc tế rộng lớn hơn thận trọng hoan ngênh.
Trong suốt mấy tháng trời khủng hoảng vì Trung Quốc đơn phương triển khai dàn khoan Hải Yến 981 trị giá 1 tỷ bạc vào vùng biển tranh chấp với Việt Nam này, các quan chức ở Hà Nội phải đối mặt với một tình thế khó xử có tính sống còn: Một mặt, lo sợ sâu sắc với nhiệt tình ái quốc bùng nổ trên đường phố Hà Nội và khắp đất nước, dẫn đến bạo loạn tàn phá các nhà máy nước ngoài và cuộc di tản của hàng ngàn công dân Trung Quốc, một khác, phải đối mặt với viễn cảnh của một thách thức hải lực có tính tàn phá vì những hạm đội trang bị tốt hơn của các lực lượng bán quân sự Trung Quốc bảo vệ giàn khoan dầu.

Vẫn hoảng kinh bởi quyết định phá hoại các cuộc đàm phán song phương trước đây nhằm làm giảm căng thẳng cuộc tranh chấp ở biển Đông của Trung Quốc, chính phủ Việt Nam đã đặc biệt không yên tâm với việc Trung Quốc công bố kế hoạch rút giàn khoan dầu vào giữa tháng Tám. Như đại sứ Việt Nam ở Manila, Trương Triều Dương, gần đây đã nói với tôi, "các hoạt động của Trung Quốc vi phạm những thỏa thuận cấp cao của hai nước về việc không xâm lược và không làm phức tạp tình hình ở Biển Đông."

Người ta có thể nhận thấy một cảm giác bị phản bội trong nhiều nhà ngoại giao Việt Nam, những người từng không mệt mỏi tìm cách ngăn chặn cuộc đối đầu vũ trang, làm sâu sắc thêm những căng thẳng lãnh thổ với nước láng giềng hùng mạnh của mình. Việc triển khai giàn khoan dầu phần lớn đã được nhìn như một động tác có tính cơ hội để tăng cường tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc và xoa dịu các nhóm lợi ích dân tộc ở trong nước.

Có những mối lo ngại thật sự rằng Trung Quốc sẽ tính đến một sự hiện diện thường trực ở những khu vực tranh chấp, củng cố đòi hỏi của mình bằng cách gửi thêm các giàn khoan dầu đi kèm với một đội bảo vệ dày đặc của tàu hải quân và Cảnh sát biển Trung Quốc. Nói cho cùng, trong những thập niên cuối của Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc đã từng tỏ ra không chút do dự trong việc cưỡng chế trục xuất các lực lượng (Nam) Việt Nam ra khỏi chuỗi đảo Hoàng Sa và, sau đó là các lực lượng Việt Nam (thống nhất) ra khỏi vị trí chiến lược trong chuỗi quần đảo Trường Sa.

Căn cứ vào sức mạnh bất cân xứng ngày càng lớn giữa hai nước láng giềng trong những thập kỷ gần đây, Hà Nội lo lắng tự hỏi liệu có thể cản ngăn những hành động khiêu khích hơn của Trung Quốc. Đồng thời, Chính phủ Việt Nam đã quan tâm đến tính hợp pháp chính trị ở trong nước, đặc biệt là trong bối cảnh suy thoái kinh tế. Cũng có những mối quan tâm với triển vọng của một làn sóng mới những cuộc biểu tình chống Trung Quốc vốn có thể làm suy giảm hấp dẫn của Việt Nam, nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là giới doanh nhân Trung Quốc quan tâm đến chi phí lao động phải chăng và vị trí thuận lợi của đất nước.

Chắc chắn, quyết định rút giàn khoan dầu một tháng trước thời hạn của Trung Quốc khiến các chính phủ và các chuyên gia trong khu vực bối rối. Để giải thích thủ đoạn mới nhất của Trung Quốc, các nhà phân tích đã đề cập đến một số yếu tố thúc đẩy, từ mối đe dọa của việc duy trì khai thác hydrocarbon phức tạp giữa một mùa mưa bão trong khu vực đến các suy diễn về một món hời ngoại giao có thể đã đạt được giữa Hà Nội và Bắc Kinh. Nhưng lời giải thích tốt hơn chính là Trung Quốc đã (một lần nữa) có được cuộc tái kiểm tra tình hình lãnh thổ của mình để trở lại chiến lược sử dụng các biện pháp lâu nay của mình tạm thời làm giảm nhẹ căng thẳng để cải thiện áp lực quốc tế trong khu vực.

Đà dịch chuyển

Trong tác phẩm uy tín của mình, On China, Henry Kissinger đã thông minh nắm bắt được văn hóa chiến lược của Trung Quốc qua việc nhấn mạnh tầm quan trọng của các khái niệm như đà chiến lược và cân bằng sức mạnh trong các tính toán về chính sách đối ngoại của Bắc Kinh. Trung Quốc, như bất cứ diễn viên hiện thực khôn ngoan nào, dù đánh giá cao các sức mạnh cứng trong việc theo đuổi lợi ích quốc gia, nhưng các biến số tâm lý và nhận thức của đà dịch chuyển trong cấu hình quyền lực quốc tế cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành tư duy của các nhà lãnh đạo Trung Quốc.

Trung Quốc có thể có giá trị như một diễn viên bản xứ mạnh nhất ở châu Á, nhưng các nhà lãnh đạo của họ cũng biết rằng mình khó có thể đảm bảo được sự thành công trong cuộc tranh dành vai trò lãnh đạo trong khu vực. Nếu các nhà lãnh đạo Trung Quốc tìm cách thay thế Hoa Kỳ như một sức mạnh ưu việt ở châu Á, Bắc Kinh cũng không thể kham nổi việc hành động như một quyền lực hung hăng, nhất quyết thúc đẩy lợi ích của mình bằng chi phí của các quốc gia nhỏ hơn trong khu vực. Các tranh chấp đang diễn ra ở Tây Thái Bình Dương, đặc biệt là ở Biển Đông, đang phá hoại đáng kể hình ảnh của Trung Quốc trong các nước láng giềng và trong thế giới rộng lớn hơn.

Ví dụ, một cuộc khảo sát mới do Trung tâm nghiên cứu Pew cho thấy, đa số trong tám quốc gia châu Á đã báo động về hành vi gia tăng những tranh cãi lãnh thổ với các quốc gia yêu sách đối thủ của Trung Quốc trong vùng biển Nam và Đông Trung Hoa. Một số nước láng giềng đã bị hoảng kinh và cảm thấy ngày càng dễ bị tổn thương với năng lực hải quân và tính quyết đoán về lãnh thổ của Trung Quốc. Tại Philippines, quốc gia được xem như cầu thủ yếu nhất trong số các thành phần đang tranh chấp ở biển Nam Trung Quốc, 93 phần trăm số người được hỏi đã nói rằng họ đã "rất quan tâm" tới các tranh chấp đang diễn ra, tiếp theo là Nhật Bản (85 phần trăm) và Việt Nam (84 phần trăm). Những nước không tranh chấp, như Hàn Quốc, vốn phụ thuộc rất nặng nề vào hành lang di chuyển các sản phẩm dầu khí nhập khẩu qua vùng biển tranh chấp, cũng cho thấy một cảm giác cảnh giác sâu sắc, với 83 phần trăm số người được hỏi bày tỏ suy nghĩ tương tự. Ngay cả ở Trung Quốc, cầu thủ chiếm ưu thế trong các tranh chấp, hơn 60 phần trăm số dân được hỏi đã bày tỏ sự lo ngại về triển vọng của một cuộc xung đột vũ trang về các tính chất tranh chấp.

Đáng lo ngại, ác cảm đối với Trung Quốc đã trở nên chủ đạo: Các công dân Philippines, Việt Nam và Nhật Bản xem Trung Quốc là mối đe dọa lớn nhất đối với an ninh quốc gia của họ, làm phức tạp thêm triển vọng của bất kỳ thỏa hiệp ngoại giao có ý nghĩa nào trong tương lai gần. Trong khi đó, mối quan tâm trong khu vực về sự quyết đoán trong các tranh chấp lãnh thổ của Trung quốc đã tạo điều kiện cho việc phục hồi đáng chú ý hình ảnh toàn cầu của Hoa Kỳ, đặc biệt là ở châu Á, bất chấp những lo ngại về cam kết và khả năng tài chính của chính quyền Obama để đẩy lùi cường quốc đang lên như Trung Quốc nhằm bảo vệ các đồng minh của mình đang bị bao vây. Không nghi ngờ gì, Mỹ tiếp tục được xếp hạng rất cao, trong một số quốc gia châu Á.

Tất cả các lựa chọn đều có thể mặc cả được

Trong những tuần gần đây, các chuyên gia như Alexander Vuving và Zachary Abuza đã lịch sự tranh cãi rằng việc Trung Quốc rút giàn khoan dầu trước hạn định có thể do một thoả thuận có chủ ý đằng sau hậu trường ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc. Để (tạm thời) đổi lấy sự buông tha của Trung Quốc trong khu vực này, họ cung cấp khả năng rằng Việt Nam được cho là đã đồng ý xét lại việc tăng cường các quan hệ chiến lược với Hoa Kỳ và từ bỏ kế hoạch trước đó là đưa cuộc tranh trấp ở biển Đông ra một đệ tam nhân để phân xử - vốn sẽ củng cố thêm vụ khiếu kiện của Philippines ở The Hague.

Căn cứ vào cuộc nói chuyện của tôi với các quan chức Việt Nam, rõ ràng rằng Hà Nội đã không nhận ra bất kỳ dấu hiệu thỏa hiệp thực sự nào về phía Trung Quốc. Và cũng không ngạc nhiên, họ cương quyết phủ nhận việc đã có bất kỳ mặc cả nào với Trung Quốc như lập luận của Vuving và Abuza. Vì Trung Quốc có thời gian và một lần nữa đã chứng tỏ xu hướng đơn phương xây dựng các bằng chứng của mình ở Biển Đông, Việt Nam không thể làm gì khác hơn là giữ tất cả các lựa chọn trên bàn thương lượng, đặc biệt là những lựa chọn có liên quan đến sự cần thiết phải tăng cường quan hệ quốc phòng với các cường quốc bên ngoài như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ và Nga. Đối với kế hoạch của Việt Nam để nộp đơn khiếu nại pháp lý chống lại Trung Quốc, người ta có thể cho rằng Hà Nội có lý để thúc đẩy mối đe dọa về trọng tài pháp lý và cẩn thận quan sát nhằm rút ra bài học từ kết quả vụ khiếu kiện chống lại Trung Quốc của Philippines đang diễn ra. (Chưa kể đến việc tốn kém thời gian phức tạp cho việc tạo dựng một trường hợp khiếu kiện và lựa chọn các cơ quan trọng tài thích hợp để xét xử những tuyên bố và hành động của Trung Quốc.)

Trong khi chính sách ngoại giao chia nhỏ và dọa dẫm nhẹ của Trung Quốc ở Biển Đông đã được chứng minh là khá thành công, người ta phải xem xét đến thực tế rằng Bắc Kinh không phải hoàn toàn không nhạy cảm với các chi phí về ngoại giao từ các cách giải quyết tình hình lãnh thổ của mình. Bên cạnh những khó khăn về hậu cần trong việc duy trì hoạt động bán quân sự và quân sự rộng lớn trên vùng biển tranh chấp, nhà chức trách Trung Quốc cũng đang lo lắng với các phát triển chiến lược đồng bộ giữa các quốc gia yêu sách đối thủ trong khu vực Biển Đông, cụ thể là Việt Nam, Philippines và Malaysia, vốn đã nồng nhiệt chào đón một dấu chân chiến lược sâu sắc hơn của Mỹ trong khu vực.

Trong thực tế, ngay cả Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), dưới sự chủ trì của Myanmar, một đồng minh lịch sử của Trung Quốc, cũng đã nhiều lần bày tỏ sự "lo ngại nghiêm trọng" của mình đối với các tranh chấp đang diễn ra ở Biển Đông. Trong Hội nghị Bộ trưởng ASEAN vừa kết thúc (AMM), các nước thành viên rõ ràng ủng hộ một giải pháp giải quyết tranh chấp dựa trên nguyên tắc, hoàn thiện một luật có tính ràng buộc ứng xử (CoC) và chấm dứt những hành động đơn phương của các bên tranh chấp. Tất cả các tuyên bố này là một lời chỉ trích các hành động khiêu khích của Trung Quốc, khuyến khích các cầu thủ khác trở nên mạnh dạn và chiến lược như Ấn Độ, để làm sâu sắc thêm dấu chân của họ ở Đông Nam Á. Ấn Độ đã không chỉ tăng cường đầu tư dầu khí trong vùng biển tranh chấp với công ty quốc doanh ONGC Videsh (OVL) đạt được các hợp đồng thăm dò dầu mới (mà không phải đấu thầu) trong những tháng gần đây, mà còn trở nên mạnh dạn hơn trong việc bảo vệ lợi ích của mình ở khu vực biển miền Nam Trung Quốc và chỉ trích các hành động của Trung Quốc.

Đáng lo ngại hơn cho Trung Quốc là hành động của họ cũng đã khuyến khích Nhật Bản tái tạo lại tầm nhìn chiến lược, củng cố khả năng phòng thủ của mình và mạnh mẽ quyến rũ các sức mạnh ở Đông Nam Á và Thái Bình Dương, như Úc và Ấn Độ để đưa ra ra các dự án hợp tác quốc phòng. Bất chấp những nỗ lực của Trung Quốc trong việc tận dụng ảnh hưởng ngoại giao đối với quốc gia ngỗ nghịch như Bắc Hàn và cung cấp các thỏa thuận thương mại đầu tư quy mô lớn để quyến rũ đồng minh của Mỹ như Nam Hàn và Úc, có những dấu hiệu ngày càng tăng rằng các đối tác trong khu vực của Mỹ đều xác định sẽ tự bảo vệ mình chống lại Trung Quốc.

Trở lại vào giữa năm 2011, như cách giải thích ngắn gọn của Taylor Fravel, Bắc Kinh đã tìm cách làm giảm mối căng thẳng với các nước láng giềng qua việc đột nhiên quan tâm nhiều hơn đến cuộc tìm kiếm một giải pháp dựa trên nguyên tắc cho các tranh chấp ở Biển Đông. Điều này được đi kèm với cam kết song phương cấp cao với các quốc gia yêu sách khác, chẳng hạn như Việt Nam. Trong nhiều cách, đó là một biện pháp hiệu chỉnh để làm dịu nỗi lo lắng của các nước láng giềng và đối phó với sức thu hút của chính sách tái cân bằng của chính quyền Obama đối với khu vực. Khi Trung Quốc phải đối mặt với áp lực gia tăng bên ngoài và một vị trí chiến lược trong khu vực xấu đi, đất nước này đang xem xét một thủ đoạn tương tự, được thể hiện qua việc sớm rút giàn khoan dầu ra khỏi khu đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Nhưng vẫn còn phải xem liệu Trung Quốc sẵn lòng giảm thiểu quy mô lãnh thổ của mình đến mức nào. Phần lớn sẽ phụ thuộc vào các thủ đoạn chống trả của các quốc gia yêu sách đối thủ khác, cũng như ở mức độ và tính chất cam kết của Mỹ đối với khu vực.
14 Tháng 8 2014

Richard Javad Heydarian/The National Interest
Lê Quốc Tuấn chuyển Việt Ngữ
(FB. Tuan Le)


Phần nhận xét hiển thị trên trang