Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 12 tháng 8, 2014

Nỗi niềm tác phẩm lớn


Hoài Nam
CAND - Lâu nay, một cách khá thường xuyên, vẫn nghe thấy trong giới văn học của chúng ta những lời phàn nàn, những tiếng cảm thán, thậm chí cả những giọng thống thiết về nỗi văn đàn Việt Nam đương đại thiếu vắng các tác phẩm lớn.

(Khi không thích, không mặn mà với khái niệm "tác phẩm lớn", người ta có thể thay thế nó bằng vài ba khái niệm khác- hẳn không đến mức quá xa nhau về nội hàm- như "tác phẩm đỉnh cao" hoặc "tác phẩm ngang tầm thời đại").

Trước thềm Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ VIII, dù không chắc đã ngây thơ đến mức đặt toàn bộ gánh nặng trách nhiệm về tình trạng sức khỏe của cả nền văn học trên vai Hội, nhưng với nhu cầu "tính sổ" một thời đoạn văn chương (5 năm), giọng thống thiết về nỗi thiếu vắng tác phẩm lớn lại trỗi lên, thống thiết hơn nữa trên các diễn đàn báo chí.

Bỏ qua các ý kiến bàn bạc, tranh luận- có lẽ không bao giờ đến hồi kết- trước những vấn đề: "Tác phẩm lớn" là gì? Tác phẩm văn học cần phải lớn đến đâu mới được gọi là "tác phẩm lớn"? Phải đạt tới giá trị như thế nào mới đáng được coi là "tác phẩm đỉnh cao"? Phải phản ánh thời đại ở quy mô ra sao thì được dán cái mác "tác phẩm ngang tầm thời đại"?

(Và, đến đây lại thêm một câu hỏi nữa nảy sinh: tầm thời đại là tầm như thế nào đây?) v.v... Vâng, bỏ qua những nỗ lực nhận thức- xét ra cũng rất "chính đáng"- ấy, người viết bài này muốn được "mạo hiểm" với một câu hỏi khác: Thật ra thì nền văn học đương đại của chúng ta, và chính chúng ta, những người đọc của thời hiện tại, có cần tác phẩm lớn (tác phẩm đỉnh cao, tác phẩm ngang tầm thời đại) đến mức thống thiết như vậy hay không?.

Phải dùng chữ "mạo hiểm" ở đây là bởi, hoàn toàn có thể, người đặt ra vấn đề cắc cớ như vậy rất dễ bị trách cứ là kẻ ủng hộ cho một nền văn học chỉ toàn những tác phẩm làng nhàng. Không phải như vậy sao? Tác phẩm lớn ư? Chúng ta luôn luôn cần đến nó. Bất cứ nền văn học dân tộc nào ở bất cứ giai đoạn nào cũng cần đến nó.

Xét cho cùng, nếu- trong nhận thức phổ biến- người ta sẵn sàng bỏ qua một giai đoạn nào đó của lịch sử vì nó không có sự xuất hiện của các cá nhân kiệt xuất, vì nó chỉ là lịch sử được tạo nên bởi số đông vô danh, thì cũng vậy, người ta sẽ sẵn sàng không tính đếm đến sự tồn tại của một giai đoạn văn học nào đó vì nó không có các tác phẩm lớn.

Tác phẩm lớn, đó là ngọn núi giữa bình nguyên, là cây đại thụ giữa rậm rịt những mớ thực vật dây leo, là ánh sáng huy hoàng lóe lên lúc trời đang chiều nhập nhoạng. Tóm lại, nó là một "cái gì đó" đầy khiêu khích và mang tính áp chế. Nó đập vào mắt người quan sát, bắt họ phải chú mục, thúc giục họ phải mở rộng trường nhìn hơn nữa để thấy được tầm vóc và vẻ đẹp của nó trong khung khổ không gian của nó.

Hiểu theo hướng này, tác phẩm lớn vừa là niềm vinh dự to lớn vừa là sự cứu vãn tuyệt vời cho một giai đoạn, thậm chí cho cả một nền văn học. Chúng ta vị tất đã phải nói đến thi ca Trung Quốc thời Đường một cách đầy ngưỡng mộ nếu ở đó không có thơ của Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Vương Duy.

Chúng ta vị tất đã phải thán phục và vô cùng yêu mến văn học Pháp thế kỷ XIX nếu ở đó không có những vần thơ "khuấy bão tố từ dưới đáy bình mực" của V.Hugo, không có công trình tiểu thuyết kỳ vĩ mang tên "Hài kịch nhân gian" của H.Balzac. Văn học cổ điển Đức sẽ là gì nếu thiếu đi "Faust" của Goethe và một loạt kịch phẩm xuất sắc của Schiller?

Và "thời đại vàng" của nền văn học Nga, liệu nó có được vẻ tráng lệ đến thế nếu không có những tác phẩm của L.Tolstoy, F.Dostoyevsky, N.Gogol, I.Turgenev trong gia tài của mình? Gần gặn hơn nữa, ta nói tới văn học Việt Nam thời kỳ trung đại: hãy thử hình dung sẽ ra sao nếu các tác phẩm của Nguyễn Trãi, thơ Nôm của Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến, thơ chữ Hán và "Truyện Kiều" của Nguyễn Du bỗng dưng như chưa bao giờ xuất hiện?

Lúc đó, liệu ông Thượng Chi đáng kính có thể cao giọng tuyên bố về niềm tự hào trước "Kinh Phúc âm" của dân tộc Việt? v.v và v.v... Những ví dụ kể trên có thể và cần phải được liệt kê ra gấp nhiều lần hơn thế mới mong đạt tới sự đầy đủ tương đối về các tác phẩm lớn và vị thế của chúng trong lịch sử của các nền văn học dân tộc.

(Đó là tôi còn chưa bàn đến vai trò của tác phẩm lớn trong nhu cầu của bản thân người đọc: với tính chất là sự kết tinh nghệ thuật ở mức cao nhất, chắc chắn rằng tác phẩm lớn luôn cho người đọc sự hưởng thụ tinh thần mà họ không sao tìm thấy được ở các tác phẩm làng nhàng). Và nếu là như vậy, hà cớ gì lại đặt vấn đề thắc mắc về sự cần thiết của tác phẩm lớn trong văn học hôm nay?

Câu trả lời, với người viết bài này, một phần nằm ở "gánh nặng" của tác phẩm lớn mà người đọc ngày hôm nay đang phải "chịu đựng"! Phải sống tới vài cuộc đời và phải đọc một cách thật chăm chỉ thì một người đọc "có văn hóa về văn học" mới có thể "ngốn" hết các tác phẩm lớn mà lịch sử văn chương của cái nhân loại già nua này đã sản sinh. Đó là việc làm bất khả.

(Cứ nói rằng thế giới bây giờ đã trở thành một cái làng, nhưng cộng đồng cư dân ở góc này của làng đâu phải đã biết cộng đồng cư dân ở góc kia của làng viết lách những gì. Với người Việt Nam, sự hiểu biết của chúng ta về văn học của thế giới Arab hoặc văn học của lục địa Đen chẳng hạn, là rất không đáng kể, nhưng ai dám quả quyết rằng ở đó không có những tác phẩm lớn?).

Những người có quyết tâm hành xác với việc đọc ở mức cao nhất cũng chỉ thực hiện được yêu cầu đó trong muôn một. Vậy mà, hãy thử hình dung xem sự thể sẽ thế nào nếu kể từ đây, một năm qua đi, một thập kỷ qua đi, một thế kỷ qua đi, các tác phẩm văn học lớn cứ tiếp tục sinh sôi nảy nở (ơn Chúa, nếu trong số đó có các tác phẩm của văn học Việt Nam hôm nay)?

Hẳn là người đọc của một ngày mai nào đó sẽ phải ngộp thở trước sự vây bủa của các tác phẩm lớn. Hẳn là anh ta sẽ sớm phải kiệt sức trên con đường chiếm lĩnh các tác phẩm lớn nếu anh ta muốn được yên tâm rằng mình là một người đọc- như tôi nói ở trên- có văn hóa về văn học!

Mặt khác, phải chăng khi đã được công nhận là tác phẩm lớn rồi, một cách nhất thành bất biến, tác phẩm văn học "cứ mãi lớn", mặc xác tất cả, như kim cương bất hoại? Cần phải thận trọng với điều này. Ngay trong nền văn học của chúng ta chẳng hiếm những ví dụ về các tác phẩm từng được suy tôn là lớn, nhưng chỉ vài ba chục năm sau, khi nói về phẩm tính "lớn" của chúng, người ta phải nói với ít nhiều sự châm chước, thậm chí pha cả thái độ chế giễu.

Văn học thế giới cũng vậy. "Hài kịch nhân gian" của H.Balzac vĩ đại là thế, nhưng đối với ông trùm của Tiểu thuyết Mới Alain Robbe Grillet, thì những sáng tạo nghệ thuật của Balzac ở bộ tiểu thuyết đó như "cốt truyện", "nhân vật" v.v... chỉ đáng để ông dán cho cái nhãn "những khái niệm đã lỗi thời".

Mới đây thôi, VnExpress đã đăng bài viết của một nhà phê bình văn học người Anh, kể tên 10 kiệt tác văn học mà người đọc của thế kỷ XXI không cần phải biết đến- trong số đó có "Chiến tranh và hòa bình" của L.Tolstoy và "Đi tìm thời gian đã mất" của M.Proust- với lý do là chúng dài dòng, thậm thượt, thừa thãi những miêu tả, những phân tích "không biết để làm gì".

Những phán đoán như vậy đúng hay sai? Tạm gác việc trả lời câu hỏi này sang một bên, ít nhất, điều mà chúng ta dễ đồng thuận với nhau là tác phẩm dù lớn đến đâu chăng nữa thì nó cũng chỉ đạt tới giá trị cao nhất trong một khoảng thời gian nào đó, với những yêu cầu xã hội và nhu cầu thẩm mỹ nhất định.

Người đọc ngày hôm nay không chắc đã thông minh giỏi giang hơn người đọc ngày hôm qua, nhưng họ khác (tôi nhấn mạnh), bối cảnh xã hội cũng vậy, và đó chính là lý do cho sự "xuống giá" (nếu có) của các tác phẩm lớn được viết trong quá khứ. Do vậy, nếu người viết của ngày hôm nay cứ nhăm nhăm đặt cho mình cái cao vọng phải viết cho được tác phẩm lớn- mà yếu tính của nó là siêu việt thời gian- thì xét cho cùng, cũng là "chẳng biết để làm gì".

Nhà văn NQT có lần tâm sự rằng, người đọc của 100 năm sau sẽ có lớp tác giả của riêng họ, những nhà văn của hôm nay chẳng việc gì phải lo cho người đọc 100 năm sau không có tác phẩm hay để đọc, anh hãy viết và hãy chinh phục những người đọc hôm nay bằng cái viết của mình, thế thôi.

Tôi chia sẻ với cách nghĩ (có vẻ thực dụng) này, và xin được thêm vào một suy nghĩ cá nhân: sứ mệnh của người cầm bút là khai thác đến tận độ năng lực sáng tạo trong bản thân mình, đi đến chót cùng xác tín nghệ thuật của mình, chứ không phải là sự lo lắng tác phẩm rồi đây sẽ lớn hay không lớn, sẽ sống muôn đời hay chỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn ngủi. Hy sinh cái ngày hôm nay rõ ràng, đo đếm được, cho một cái ngày mai mơ hồ và những độc giả còn chưa được biết đến, đôi khi, chỉ đơn giản là cách che giấu cho sự thiếu thốn tài năng!

Bớt đi sự sốt sắng về nỗi tác phẩm đỉnh cao trong văn học hôm nay còn có thể tránh cho chúng ta một vài điều không hay khác, xin nhấn mạnh rằng đó là những điều hết sức thực tế. Chuyện đầu tư tiền của để có các tác phẩm đỉnh cao chẳng hạn.

Người ta đưa cho nhà văn hai ba chục triệu và tin tưởng rằng với số tiền ấy, nhà văn sẽ biết cách thu xếp những điều kiện tốt nhất cho công việc sáng tác của mình, và rồi từ đó, biết đâu, tác phẩm đỉnh cao sẽ ra đời. Thưa rằng, với hai ba chục triệu được "đầu tư", nhà văn chắc chắn có thể tậu về cho gia đình một chiếc tivi LCD loại tốt hoặc cho phép mình có một đợt nghỉ dưỡng tại Vinpearl.

Còn tác phẩm đỉnh cao, có đầu tư gấp trăm lần số tiền như thế cũng chẳng lấy gì làm chắc! Không thể giải quyết vấn đề tác phẩm văn học đỉnh cao theo kiểu giải quyết một vấn đề kinh tế (nếu được, chắc diện mạo của văn chương nhân loại đã trở nên rất khác với những gì chúng ta từng biết).

Nói chung, tôi không phản đối việc người ta quan tâm lo lắng và muốn giúp cho cuộc sống của nhà văn bớt phần khó khăn- hai ba chục triệu đối với nhiều người cầm bút ở Việt Nam hiện nay quả là số tiền không nhỏ, có nó, nhà văn lo được nhiều chuyện.

Nhưng, hãy "gọi sự vật bằng tên của nó", đưa tác phẩm đỉnh cao vào như một sự biện minh trong trường hợp này là việc hai lần không nên: nó vừa tạo ra những phấn khích không cần thiết đối với người cầm bút, vừa làm giảm giá bản thân khái niệm "tác phẩm đỉnh cao"


Phần nhận xét hiển thị trên trang

ĐỎ & ĐEN!

Mạnh Quân

Một Thế Giới - Thông tin về việc ông Lê Trung Kiên, Phó trưởng ban Tổ chức Quận uỷ Cầu Giấy, thành phố Hà Nội bị Công an bắt giữ do có liên quan đến việc thuê “xã hội đen” giết người trên đường Phạm Văn Đồng, Hà Nội đang gây xôn xao dư luận. Vụ việc gây ồn ào, không chỉ về mức độ dã man, nghiêm trọng của những kẻ sát nhân, ở địa điểm không xa trụ sở Bộ Công an mà ở chỗ một cán bộ có chức sắc trong cơ quan nhà nước lại có thể tham gia vào một tội ác nghiêm trọng như vậy.
Nguyên nhân, mức độ phạm tội của ông Lê Trung Kiên đến đâu, cơ quan điều tra sẽ làm rõ (bước đầu, đã có thông tin cho biết, ông này đã cung cấp số liên lạc của các đối tượng xã hội đen cho người thuê chúng). Nhưng mức độ ảnh hưởng, gây mất lòng tin ở những người làm việc trong bộ máy, sống bằng ngân sách, tiền thuế của doanh nghiệp, của người dân đóng góp là không phải nhỏ.

Những kẻ sẵn sàng nhận tiền thuê, chỉ vài chục triệu để giết người đã gây nguy hiểm, làm mất sự bình yên cho cuộc sống của người dân, tội đã lớn. Nhưng là người trong cơ quan nhà nước như ông Phó ban tổ chức Quận ủy Cầu Giấy lại còn dính líu, tiếp tay cho chúng thì tác hại của nó không chỉ dừng lại ở vụ án, mà còn làm tổn thất niềm tin đối với chế độ.   

Không chỉ có ông Lê Trung Kiên, gần đây, đã xảy ra không ít vụ việc cho thấy, không ít cán bộ, nhân viên trong bộ máy, ở chỗ này, chỗ khác đã biến chất nghiêm trọng với cùng một hành vi: bắt tay với những kẻ lâu nay vẫn được gọi là “xã hội đen” để mưu lợi cá nhân.

Tại một hội nghị về an toàn giao thông hồi đầu tháng này, Bộ trưởng Giao thông vận tải Đinh La Thăng đã thẳng thắn nói rằng: “Có hiện tượng xã hội đen bảo kê dẫn đường cho xe quá tải, móc nối làm luật, dẫn xe quá tải tránh trạm cân. Trong khi đó một bộ phận cảnh sát giao thông và thanh tra giao thông làm nhiệm vụ có hành vi tiếp tay và móc nối tạo ra tiêu cực”.

Mặc dù cũng có ý kiến tranh luận trái chiều từ cơ quan khác, nhưng những bằng chứng bằng hình ảnh, vật chứng… mà người đứng đầu một Bộ lớn của Nhà nước đưa ra rất thuyết phục để khẳng định tình trạng những đoàn xe lớn, quá tải trọng “ung dung đi” trước mặc các cơ quan chính quyền, cảnh sát giao thông… là những hoạt động "nằm ngoài hệ thống pháp luật VN”.

Hay trước đó, đầu tháng 6.2014, cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP.HCM cũng đã khởi tố, bắt giữ 2 cán bộ hải quan TP.HCM vì có hành vi cấu kết với một nhóm buôn lậu, nhập lậu 10 lô hàng lớn… cho thấy, những vụ cán bộ, nhân viên nhà nước bắt tay với giới tội phạm để ăn, chia không còn là hiếm hoi mà nó có thể xảy ra ở nơi này, nơi khác. Một dấu hiệu rất đáng báo động.

Tất cả những vụ việc như vậy, chắc chắn gây mất lòng tin lớn của nhân dân vào hiệu quả, sự chính trực trong công việc của cán bộ nhà nước, của bộ máy nhà nước cho dù, tình trạng tham nhũng, tham nhũng vặt, tiêu cực… lâu nay, thường xuyên xảy ra ở nơi này, nơi khác, chưa ngăn chặn, đầy lùi được đã làm xói mòn đi khá nhiều lòng tin ấy.

Nhưng ở đây, là mức độ nguy hiểm hơn, có những cán bộ, công chức, thậm chí cả nhóm… ăn lương ngân sách lại đi bắt tay với những kẻ trực tiếp, thường xuyên phạm tội, thậm chí là tội ác để kiếm tiền bất chính. Cho nên, niềm tin của người dân vào những tổ chức, bộ máy có những cán bộ, công chức “lưu manh” ấy càng dễ tan vỡ.

Cho nên, biểu hiện gần đây, ở một số nơi, người dân đã có hành động tự xử như thấy kẻ bắt trộm chó thì đánh chết người nghi trộm; bắt được kẻ nghi trộm xe… thì lột trần, đánh “hội đồng”… tuy là những hành động cũng vi phạm pháp luật nhưng phải chăng, nó xuất phát từ sự thiếu tin tưởng của người dân ở những cơ quan công quyền, có những cán bộ thoái hóa, biến chất, không còn đảm bảo cho sự bình yên, an toàn cho cuộc sống của họ?

Cho dù, nói như lời một số lãnh đạo nhà nước, những cán bộ, công chức có hành vi vi phạm pháp luật là những “con sâu”, thậm chí có nơi có cả “bầy sâu”… thì với những cán bộ nhà nước như ông Lê Trung Kiên, những người bắt tay với “xã hội đen” bảo kê cho những đoàn xe vận tải… thì đó thực sự là những “con sâu” đã quá độc, cần sớm sàng lọc, phát hiện để đưa ra khỏi bộ máy. Nếu không, chúng tiếp tục gây hại, làm đổ vỡ lòng tin của nhân dân vào bộ máy công quyền.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tự dưng thấy buồn khi đọc một lá thư:

Đôi lời với nhà thơ Đỗ Minh Tuấn


Nhà thơ Đỗ Minh Tuấn ( đầu tiên bên trái) đi biểu tình



















Kính gửi nhà thơ, đạo diễn Đỗ Minh Tuấn…

Tôi chỉ là một người bình thường, nên rất mạo muội gửi thư cho anh, để lạm bàn về vấn đề của anh với Ban vận động thành lập Văn Đoàn Độc Lập (tạm gọi là VĐĐL)….Vấn đề hiện đang gây tranh cãi một cách không đáng…

Theo thiển ý của tôi thì vấn đề cũng không to tát gì hết, chỉ là câu chữ không khéo trong lá thư xin rút tên, anh gửi cho BVĐVĐ ĐL…Có một sự ngạc nhiên cho người đọc khi đọc lá thư gửi cho VĐ ĐL về lý do rút ra…

Trước hết là nếu không có những lý do riêng nào đó, mà tôi tin cũng chẳng có lý do riêng nào để anh là một con người đáng kính và những con người đáng kính trong một hội đoàn hoàn toàn đáng kính đó lại có chuyện riêng tư gì với nhau…Nên với một sự kính trọng, hướng thiện với cả hai bên, tôi cho rằng đây chỉ đơn thuần là một lá thư xin rút tên viết vội, với cảm xúc hơi thái quá của một con người bình thường như mọi người bình thường khác ở trên đời, dù có danh phận hay không, có đáng kính hay không ?

Anh Đỗ Minh Tuấn mến…Ta có thể xem lại bức thư của anh nhé. Một cách vô tình, thì bức thư đó cũng đã làm tổn thương không ít thì nhiều đến VĐĐL và những con người còn ở trong đó. Để tránh động chạm tôi xin ví dụ tương tự nhé, và cũng chỉ về một vấn đề thôi. Đó là anh không thể vào trong một ngôi nhà, mà ngôi nhà xây chưa xong, và lại rút ra với những lập luận tương tự như anh đã viết…Rằng tôi tưởng ngôi nhà đó được phép, hay đang được cấp phép…rằng tôi tưởng ngôi nhà đó xây xong thì sẽ làm việc thiện có ích cho xã hội đúng như tiêu chí của những người chủ ngôi nhà…Rằng, không ngờ sau đó thì nhiều người thân của tôi đã phản ứng tiêu cực với tôi, như thể tôi đang tham gia vào việc gì mờ ám, đen tối trong đó lắm…Rằng tôi đàng hoàng nhưng nay gặp những đe dọa quyết liệt mang tính sống còn, cho những người tham gia tổ chức đối kháng…v..v..khiến tôi bất ngờ không biết xử lý ra sao. Nay tôi xin rút lui khỏi ngôi nhà đó…

Cách nói đó rất làm buồn đau đến người chủ ngôi nhà, nhất là khi nó còn chưa được ăn tân gia. Và anh hoàn toàn có thể không gây đau buồn cho ai khi bước ra khỏi ngôi nhà đó, ngôi nhà cũng có thời điểm anh muốn xây dựng tốt đẹp...

Để rộng đường tôi xin trích chỉ một đoạn ngắn thư mà anh đã viết, và tương tự với những điều tôi giả dụ về ngôi nhà…. 

“Thật không ngờ sau khi ghi tên thì tôi đã nhận được rất nhiều phản ứng tiêu cực từ tổ chức, cơ quan, gia đình bạn bè…như thể tôi đang tham gia vào một tổ chức phản động, đối lập thậm chí còn nguy hiểm hơn cả Nhân Văn Giai Phẩm”

Anh ĐMT kính. Việc anh viết hoàn toàn là điều bình thường, và có thể là anh đã bị những “dư luận” trên làm anh bối rối. Những dư luận không ồn ào đao to nhưng lại quyết định rất nhiều đối với một con người chúng ta trong một thời đại mà chúng ta đang sống. Vì có những vòng Kim Cô vô hình treo lơ lửng trên đầu mỗi con người chúng ta khi phải sống trong thời đại này, chế độ này… Và không ai được quyền phán xét anh về việc này cả…

Và tôi hoàn toàn thông cảm với anh điều đó, nhưng với một điều kiện là anh không đem những điều mà ai đó vô hình đã nói riêng, đã áp lực riêng với anh ra để nói với những người ở nơi anh vừa rút chân ra, trong ngôi nhà giả dụ mà tôi đã nói. Vì đó là việc riêng của anh, không phải của ai và lại càng không phải của những người chủ ngôi nhà đó. Thì có hợp lý không khi anh lại nói công khai điều đó, thì khác nào anh nói rằng, người quen, bạn bè, gia đình tôi nói trong ngôi nhà đó có ma, ngôi nhà đó chưa được cấp phép xây và ngôi nhà đó mờ ám, và có thể sau này là sào huyệt của người xấu chẳng hạn…Người thân của anh có quyền suy nghĩ và nói như vậy, anh có quyền nghe như vậy nhưng anh không có quyền đem những điều đó nói với chủ nhân ngôi nhà và công khai như anh đã làm…Hậu quả là những người chủ ngôi nhà sẽ bị tổn thương, không phải vì họ làm gì sai mà chỉ vì có một người vừa ở trong bọn họ đi ra đã nói vu vơ với láng giềng những điều như thế, về một ngôi nhà mà họ đã cố gắng xây dựng lên không chỉ là vôi gạch mà cả là tâm huyết muốn có một ngôi nhà để giúp ích cho đời…

Chuyện ngôi nhà giả dụ là như vậy. Còn chuyện tham gia vào hay rút ra là một chuyện hoàn toàn tự nguyện của anh, không ai trong VĐ ĐL cấm cản anh cả. (Nhưng nếu nói vào rồi ra không có lỗi gì thì cũng không hẳn nhưng ta không đề cập đến) Anh có thể làm như mọi người nếu muốn rút, trên một tinh thần văn hóa, của người có tri thức, đồng đạo thơ văn, có tình người…chứ không thể và không nên làm lùm xùm một việc không đáng có như thế. Và với một hội đoàn văn hóa như thế, với những con người văn hóa như thế…

Vì đây là những con người chấp nhận dấn thân vào chốn mịt mù. Họ chẳng được gì, chẳng có tiền bạc gì, danh tiếng thì hiện họ đã có đủ rồi …Dấn thân vào họ thiệt thòi đủ đường, đủ thứ, thậm chí tù tội vô lý như các anh Điếu Cày, Basam…

Nhưng những con người có Tài, có Tâm và có cả Dũng nữa khi đã chấp nhận đánh đổi nhiều thứ mà chỉ được mỗi cái danh vô cùng đơn giản. Là Những Con Người Chân Chính…Những Con Người Chân Chính mà đa phần người dân Việt Nam chúng tôi kính phục và trân trọng… 

Rất mong anh hiểu và với tất cả sự trân trọng đến cá nhân anh…Đó là hãy cho qua chuyện này và nếu có thể thì một lời rút kinh nghiệm của anh...Và nó cũng đáng lắm khi chúng ta đang cùng đi trên một con đường.Đó là đem điều tốt đẹp hơn đến với tất cả....
Trân trọng...

12/8/2014


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Các tồng chí Cộng Hòa Nhân Dân Tàu chắc rất hài lòng!

Nga bất ngờ ra thông điệp về Biển Đông, hao hao giống Trung Quốc

BizLIVE - Nga phản đối sự tham gia của nước thứ ba trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông.

Nga bất ngờ ra thông điệp về Biển Đông, hao hao giống Trung Quốc
Tàu của Trung Quốc.
Tiếng nói nước Nga đưa tin, Nga phản đối sự tham gia của nước thứ ba trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông.

Moscow cho rằng sự can thiệp của nước thứ ba trong việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông là phản tác dụng.

Điều này đã được Thứ trưởng Ngoại giao Igor Morgulov, người đứng đầu phái đoàn Nga đến các sự kiện ASEAN tại thủ đô Naypyidaw của Myanmar công bố hôm 9/8.

Nhà ngoại giao Nga nhấn mạnh rằng Nga kêu gọi các nước có tranh chấp lãnh thổ giải quyết tất cả những bất đồng của họ thông qua phương tiện chính trị và ngoại giao trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Thứ trưởng Ngoại giao Igor Morgulov - Photo: RIA Novosti
Quan điểm này của Nga được đưa ra trong bối cảnh nước này bị Phương Tây trừng phạt trên diện rộng. Doanh nghiệp Nga bắt đầu phải bắt tay huy động vốn ở thị trường Trung Quốc.

Trước đó, hôm 15/5, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Alexandr Lukashevich nói rằng, Nga hy vọng hai nước Trung Quốc và Việt Nam sẽ khắc phục được những tranh chấp lãnh thổ ở biển Đông thông qua đàm phán.

Ông Alexandr Lukashevich cho biết, Moscow đang theo sát tình hình biển Đông và "hy vọng tất cả các bên sẽ thể hiện sự kiềm chế" trước tình hình căng thẳng hiện nay.

Như vậy, việc "Nga phản đối sự tham gia của nước thứ ba" là thông điệp mới của Nga về vấn đề Biển Đông. Điều này cũng giống quan điểm của Trung Quốc khi nước này luôn luôn tuyên bố như vậy bất chấp sự phản đối của nhiều nước, đặc biệt là Philippines.
Bắc Kinh cũng bác bỏ giải pháp đa phương của Mỹ đối với tranh chấp biển.
Tại hội nghị các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tại thủ đô Naypyidaw của Myanmar, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị tuyên bố Trung Quốc bác bỏ lời kêu gọi của Mỹ yều cầu Bắc Kinh ngưng các hành động khiêu khích tại Biển Đông đang tranh chấp.

Biển Đông đã trở thành trọng tâm của những cuộc thảo luận tại hội nghị vùng của ASEAN giữa lúc căng thăng gia tăng.

Bộ qui tắc ứng xử trong vùng năm 2002 được xem như một bước làm dịu căng thẳng nhưng hầu hết những nước đòi chủ quyền đều coi thường những hướng dẫn, đưa đến chia rẽ trong nội bộ ASEAN.

Tuy nhiên Trung Quốc bác bỏ sự dính líu của Hoa Kỳ.

Trong khi đó, Ngoại trưởng Kerry đã có mặt tại Myanmar để dự hội nghị các bộ trưởng ngoại giao Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á.

Ông John Kerry khuyến khích các đồng minh châu Á - Thái Bình Dương tránh điều ông gọi là “một vài hành động” có thể làm phức tạp cuộc tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông.

Ông Kerry nói các nước thành viên ASEAN cần làm việc với nhau để xử lý những căng thẳng một cách hòa bình và căn cứ trên luật pháp quốc tế.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trộm không thương người khó, không viếng nhà nghèo bởi họ đêk có gì thui!

Quan chức Việt Nam giỏi 'để dành' nên trộm 'mến' 
SÀI GÒN (NV) .- Trộm vừa đột nhập phòng làm việc của ông Đào Anh Kiệt, Giám đốc Sở Tài nguyên – Môi trường thành phố Sài Gòn, cuỗm mất của viên giám đốc này một tỉ đồng và 30,000 Mỹ kim. Biệt thự của của ông Đồng Xuân Thọ, Phó Ban Chỉ đạo Phòng - Chống tham nhũng tỉnh Đồng Nai, bị trộm cắt khóa, mở cổng, trộm xe hơi. (Hình: VietNamNet)
Trong vài năm gần đây, bọn trộm viếng phòng làm việc tại công sở hoặc “thăm” tư gia của các viên chức VN (đều là những ông bà có chức có quyền) để lấy tiền, vàng đã trở thành… phong trào. Nhờ phong trào này, công chúng mới biết có rất nhiều viên chức Việt Nam sở hữu vàng khối và tiền tỉ. Nạn nhân nào cũng bảo tài sản bị mất là nhở “để dành”!

Hôm Chủ Nhật 10/8/2014 vừa qua, ông Kiệt đã làm thủ tục khai báo mất trộm và nhờ công an truy tìm thủ phạm. Ông Kiệt giải thích, khoản tiền một tỉ đồng (tương đương gần 50,000 đô la) và 30,000 Mỹ kim tiền mặt của ông vừa bị trộm là nhờ… “để dành”.

Hồi tháng 5 vừa qua, nhờ có ba tên trộm viếng nhà ông Lăng Văn Hòa, Giám đốc Sở Giao thông – Vận tải tỉnh Bắc Kạn, người ta mới biết, ông Hòa “để dành” được 100 triệu đồng, 40,000 Mỹ kim, chưa kể vàng cây, nữ trang, tổng trị giá khoảng hơn một tỷ đồng.

Trước nữa vào tháng 9 năm ngoái, sau khi bị trộm đột nhập tư gia, ông Trần Cang, Phó Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Bình Định, khai báo, ông bị mất 500 triệu.

Cuối tháng 6 năm 2013, trộm buộc bà Trần Thị Anh Đào, 53 tuổi, cán bộ của Văn phòng UBND tỉnh Nghệ An, có chồng là Cảnh sát giao thông của Công an tỉnh Nghệ An, lúc đó vừa nghỉ hưu, phải khai báo rằng nhờ giỏi “để dành”, họ có 50 triệu đồng và 57 lượng vàng nhưng đã bị kẻ gian nẫng mất.

Hồi tháng 2 năm 2013, ông Phạm Minh Tú, Trưởng Ban Quản lý dự án huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu, khai báo bị trộm xâm nhập tư gia, lấy mất 1.5 tỷ đồng và 4,000 Mỹ kim. Người ta nhận định, thủ phạm vụ đột nhập tư gia ông Tú để ăn trộm, cũng là kẻ hoặc là những kẻ từng viếng nhà hàng loạt viên chức các tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng, Hậu Giang, Cần Thơ, Trà Vinh...

Xa hơn một chút, vào cuối năm 2012, trộm viếng tư gia ông Đặng Xuân Thọ, Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Kon Tum, có vợ là Trưởng Phòng Tổ chức của Cục Thuế tỉnh Gia Lai khi hai vợ chồng ông Thọ đi du lịch. Sau này khi công an bắt được băng trộm bốn tên đã xâm nhập tư gia của vợ chồng ông Thọ, người ta mới biết hai vợ chồng “để dành” được một va li vàng, số vàng chứa trong va li đó tương đương… 2.7 tỉ.

Cũng vào cuối năm 2012, trộm xâm nhập biệt thự của ông Đồng Xuân Thọ, Phó Ban Chỉ đạo Phòng - Chống tham nhũng tỉnh Đồng Nai, lấy một chiếc Toyota Altis trị giá khoảng 800 triệu.

Trong năm 2012, vụ trộm xâm nhập tư gia ông Trương Công Chiến, Đội trưởng Đội Đăng ký trước bạ của Chi cục Thuế quận Bình Tân, Sài Gòn làm nhiều người choáng khi số tiền, vàng, Mỹ kim mà hai vợ chồng ông để dành được lên tới 6 tỉ đồng.

Giữa năm ngoái, khi Tòa án thành phố Đà Nẵng đưa ông Đặng Ngọc Tân, thủ phạm hàng chục vụ xâm nhập phòng làm việc, tư gia của các viên chức thành phố Đà Nẵng ra xử, ông Tân giải thích lý do khiến ông chỉ đột nhập phòng làm việc hoặc tư gia của các viên chức là vì chỉ những chỗ đó mới nhiều tiền, vàng, nhà dân đâu có gì đáng để trộm. Ông Tân đột nhập bảy chỗ đã trộm được hơn 10 tỉ đồng. (G.Đ)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=193187&zoneid=1#.U-ncUOOSx2s

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hoan hô anh Tuấn đã ra! Thẻ bài vẫn đủ, áo hoa anh zề!



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tôi nghĩ khác với NĐB. Nghề văn là nghề không dễ làm, thậm chí nguy hiểm, nhưng không phải không thể có cách làm được. Chỉ có điều người viết đừng mong cầu từ nó quá nhiều. Cần chấp nhận thực tế, những giới hạn của thời gian và hãy kiên nhẫn!


Người cầm bút Việt Nam: Ý thức sáng tạo và ý thức công dân

Nguyễn Đình Bổn (Blog)

clip_image002

Một người cầm bút thực sự, dù chuyên nghiệp hay không, luôn có ý thức sáng tạo trong các tác phẩm của mình bởi sáng tạo là cứu cánh của văn chương. Nhưng một nhà văn còn là một công dân của một quốc gia, một người mà, ý thức xã hội luôn được cảm nhận đặc biệt tinh tường. Một nhà văn dù sáng tác theo trường phái nào, cũng không thể trốn chạy khỏi cái hiện thực xã hội mà anh ta đang đối mặt, do đó nhà văn không thể làm ngơ với hiện thực để theo đuổi những sáng tạo phi thực của mình.
Ở những nước có một nền chính trị dân chủ, có một xã hội yên bình, chất liệu để sáng tác nhàm chán, nhà văn cần có những ý tưởng cách tân để khỏi rơi vào lối mòn, sự tự do sáng tạo ở đây được đẩy lên mức tối đa, những trường phái ra đời, nhiều khi kỳ dị, xa rời thực tế, phản cảm nhưng vẫn được chấp nhận như một “món ăn lạ” trong nghệ thuật. Xã hội Việt Nam rất khác.
Hiện thực cuộc sống chưa được nhà văn mô tả đúng và đủ. Một thời gian dài văn học luôn lấy tụng ca chính trị làm đầu, nhà văn bắt buộc chỉ đi một con đường độc đạo đó nếu muốn có tác phẩm. Rồi sự cởi mở cũng đến, nhà văn có thể viết về tình yêu, thậm chí dung tục, có thể phản ảnh tiêu cực xã hội một cách tiết chế, nhưng tuyệt đối không thể đụng đến thượng tầng của chính trị, đó là thể chế chính trị. Một vùng cấm được thiết lập không phải bằng văn bản nhưng bất kỳ người cầm bút nào cũng biết, và muốn tồn tại, muốn có tác phẩm in một cách hợp pháp trong nước, tốt nhất là viết về tình yêu, tình dục và phải tự kiểm duyệt hoặc chấp nhận kiểm duyệt khi nói đến những hiện thực “nhạy cảm” như chính kiến, nông dân biểu tình, tự do sáng tác, tự do báo chí, tự do xuất bản, độc đảng và xã hội dân sự…
Những bản dịch từ những quốc gia có những trào lưu văn học mới khi được phát hành tại Việt Nam có khi được các nhà văn sinh sau 1975 coi như một lối thoát. Đã có những ảnh hưởng rất rõ và những thử nghiệm siêu văn bản tại ViệtNam bằng văn xuôi, bằng thơ, một số được gắn “mác” “hậu hiện đại”. Vậy nhưng không nhà văn nào thoát ly hoàn toàn khỏi hiện thực mình đang sống và với trình độ đọc văn bản của người Việt đọc tiếng Việt hiện nay, hiện thực vẫn là cách chọn lựa tốt nhất để đến với người đọc vì vậy những thử nghiệm trong sáng tạo đó hầu như thất bại về mặt công chúng. Một ví dụ là những nhà văn ảnh hưởng bút pháp hiện thực theo kiểu nhà văn Nhật Murakami Haruki, do tác phẩm ông được dịch và quảng bá rộng rãi tại Việt Nam. Tác phẩm của Murakami thường đề cập đến sự bất lực, nỗi cơ đơn, cái trống rỗng của tâm trạng và sự ám ảnh tình dục của giới trẻ Nhật Bản. Cuộc sống đô thị của Việt Nam có thể có những tương đồng với đô thị Nhật Bản, rất tiếc hiện thực lại không như vậy. Cái khát khao nhất của người viết là lòng tự do sáng tạo thì ở những xã hội khác là đương nhiên, tại Việt Nam hiện nay, nếu nghĩ rằng viết để in tại một nhà xuất bản trong nước, nhà văn phải tự kiểm duyệt, điều này giết chết ngay từ đầu ý tưởng về tự do, và ngay từ khi cái ý tưởng đó khởi thảo, tác phẩm đã chia sẻ những phần trăm thất bại.
Sự ngột ngạt trong một xã hội toàn trị, nơi giới nắm quyền giàu có một cách không tưởng trên sự khốn cùng của cuộc mưu sinh phía người nghèo đã góp phần vào sự quay lưng của công chúng đối với văn học được in trong nước. Những cách tân xa lạ và làm dáng càng đẩy tác phẩm đi xa hơn hiện thực, người đọc cảm thấy nhà văn đang mô tả một “xã hội nào đó” chứ không phải Việt Nam. Vấn đề đối kháng giữa tầng lớp cai trị và bị trị bị tránh né hoặc làm mờ đi. Nhà văn tự đánh mất ý thức xã hội của mình nên ý thức sáng tạo trở thành nửa vời, lạc lỏng. Trong bối cảnh đó, dù có tác động của truyền thông với mục đích quảng cáo cho các nhà xuất bản hay đơn vị bán sách, thì những lời tụng ca đao to búa lớn chỉ làm trò cười cho người hiểu biết, và có thể đánh lừa người đọc trẻ một vài lần, nhưng cái hệ quả cuối cùng vẫn là tác phẩm không có người đọc, mà rõ ràng nhất là thơ, nơi hầu như tác giả phải bỏ tiền túi ra in và đem tặng bạn bè.
Hiện thực trần trụi, như thật nếu được đưa vào tác phẩm, chắc chắc nó sẽ không được xuất bản hợp pháp trong nước ngay thời điểm này, nhưng trốn tránh, làm mờ đi cái khốc liệt nhất của hiện thực đang diễn ra cũng có nghĩa là nhà văn đã đánh mất ý thức công dân và như vậy ý thức sáng tạo cũng chỉ còn là “một nửa sự thật” chứ không thể đạt tới “sự thật hơn cả sự thật”, điều mà bất kỳ người viết nào cũng mong với đến!

Phần nhận xét hiển thị trên trang