Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

Nông nghiệp VN hiện nay không thể xuất cho ai ngoài TQ!

(Thị trường) - Một nền nông nghiệp đầu độc cả dân tộc một cách hợp pháp thì không có nước nào dám mua sản phẩm của nền nông nghiệp ấy.
PGS.TS Vũ Trọng Khải, chuyên gia độc lập về kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn, nguyên Hiệu trưởng trường Cán bộ Quản lý Nông nghiệp và Phát triển nông thôn II tại TP.HCM nhận xét.
Hám lợi chụp giật thì chỉ có thể bán cho Trung Quốc!
Theo Bộ NN&PTNT, 6 tháng đầu năm nay cả nước xuất khẩu được 33 nghìn tấn chè, với giá trị đạt 51 triệu USD, giảm 13,2% về khối lượng và giảm 10,7% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Việt Nam là một trong 5 nước sản xuất chè lớn nhất thế giới, tuy nhiên, giá xuất khẩu lại ở mức thấp nhất thế giới, thậm chí chè Việt Nam còn bị một số thị trường chê, trả lại hàng. Tình trạng của cây chè cũng giống như nhiều mặt hàng nông sản khác của Việt Nam như gạo, sắn, cao su... khi có một nền thương mại buôn chuyến, có gì bán nấy với giá rẻ.
Chè bẩn
Vụ việc chế biến chè bẩn tại một số tỉnh phía Bắc năm 2011 khiến ngành chè lao đao
Đây không phải là nghịch lý mà là điều đương nhiên bởi một nền nông nghiệp không được đảm bảo về vệ sinh an toàn thực phẩm là một nền nông nghiệp đầu độc cả dân tộc một cách hợp pháp thì không có nước nào dám mua sản phẩm của nền nông nghiệp ấy. Hàng ngày chúng ta đều buộc phải ăn chất độc.
Một nền nông nghiệp mà nông dân sản xuất một cách manh mún và tùy tiện, công nghiệp chế biến nông phẩm lạc hậu, doanh nghiệp làm ăn chộp giật, chỉ biết lợi ích trước mắt, không tạo dựng được liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp thì tất nhiên điều đó phải xảy ra.
Còn nhớ 1, 2 năm trước, hàng loạt lô chè xuất khẩu sang châu Âu bị trả về do có hàm lượng hóa chất vượt quá mức quy định. Điều đáng nói các hợp chất này vẫn được Việt Nam cho phép sử dụng nhưng lại cấm bị sử dụng ở các nước châu Âu. Chính vì thế những sản phẩm như vậy chỉ có thể xuất sang Trung Quốc. Tình trạng này kéo dài nhiều năm khiến người nông dân và doanh nghiệp cũng trở nên lười thay đổi, do đó chất lượng và khối lượng nông phẩm không thể đáp ứng được yêu cầu của thị trường các nước phát triển, buộc phải bán rẻ cho các thị trường dễ tính như Trung Quốc.
Có người từng hỏi, Bộ Nông nghiệp có thể đa dạng hóa thị trường để giảm xuất khẩu sang Trung Quốc được không? Câu trả lời có thể khẳng định là không, Việt Nam không thể xuất cho ai ngoài Trung Quốc với nền nông nghiệp hiện nay.
Ngành chè và nông dân Việt đã phải nhận nhiều "quả đắng" khi bị thương lái Trung Quốc chơi xấu. Đó là đầu những năm 2000, thương lái Trung Quốc đổ xô thu mua chè vàng nguyên liệu tại Việt Nam với giá quá cao rồi mang về Trung Quốc sản xuất chè vàng chính hiệu. Lợi nhuận trước mắt đã làm người trồng chè đổ xô đi hái chè không tuân theo kĩ thuật. Người dân còn trộn cả các loại chè khác không phải chè Shan Tuyết, bỏ lẫn tạp chất vào và thương lái Trung Quốc không thu mua.
Một bài học cay đắng khác là vào năm 2011 thương lái Trung Quốc cố tình thu gom chè bẩn khiến người dân đã trộn cả trộn phân lân, bột đá, bùn, chất thải làm ngành chè lao đao.
Đây không phải là hành vi thương mại bình thường mà là hành vi phá hoại mang tính chất lưu manh. Không phải tự dưng mà mấy thương lái Trung Quốc sang Việt Nam làm việc này, nếu không có chính quyền bảo lãnh họ chẳng dám làm.
Trong khi đó, cơ quan chức năng Việt Nam lại phản ứng quá yếu ớt. Thương lái Trung Quốc xúi nông dân Việt làm tầm bậy tầm bạ tại sao chính quyền Việt Nam không trừng trị theo luật pháp? Theo quy định của WTO, từ năm 2011, doanh nhân nước ngoài có quyền vào Việt Nam mua nông sản nhưng họ phải lập một pháp nhân có quốc tịch Việt Nam. Thương nhân Trung Quốc không lập pháp nhân mà họ đưa người len lỏi vào, thuê thương lái Việt Nam làm trung gian gom mua nên đã gây ra những hậu họa như nói ở trên.
Thương nhân bình thường không ai làm việc đó. Bởi điều đó không những không mang lại lợi nhuận mà còn gây bất an cho tính mạng của họ. Tiên trách kỷ, hậu trách nhân. Nông dân Việt Nam hám lợi, muốn kiếm tiền dù biết đó là tiền bẩn, tiền bất chính nên thương lái Trung Quốc mới có cơ hội làm bậy.
Phải có Nông dân lớn và Doanh nghiệp lớn
Nhiều người bảo nền kinh tế Việt Namn không muốn lệ thuộc quá nhiều vào nền kinh tế Trung Quốc thì phải xây dựng được thương hiệu. Muốn thế, nền nông nghệp phải thực hiện GlobalGAP. Khi đó, nông sản Việt Nam không cần bán cho thị trường Trung Quốc mà có thể bán thẳng cho thị trường EU, Nhật, Mỹ mang lại giá trị gia tăng cao hơn rất nhiều.
PGS.TS Vũ Trọng Khải
PGS.TS Vũ Trọng Khải
Muốn vậy phải xây dựng mối liên kết bền vững giữa nhà nông và nhà doanh nghiệp, tạo thành chuỗi giá trị ngành hàng từ trang trại đến bàn ăn. Trong đó, nhà nông phải là người sản xuất hàng hóa lớn nhờ tích tụ ruộng đất và thực hiện cơ giới hóa, hiện đại hóa nông nghiệp.
Doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ nông sản phải được áp dụng công nghệ cao. Doanh nghiệp phải đóng vai trò nhạc trưởng trong mối liên kết này, thể hiện qua việc: cung ứng giống xác nhận cho nông dân theo nhu cầu thị trường; hướng dẫn nông dân sản xuất theo quy trình GlobalGAP hoặc ít nhất là VietGAP; có thể cung ứng vật tư hoặc làm trung gian để ngân hàng cho nông dân vay tiền mua vật tư. Cuối cùng là doanh nghiệp phải mua hết nông sản cho nông dân và có công nghệ chế biến hiện đại.
Như vậy doanh nghiệp sẽ có chất lượng và khối lượng nông sản đủ đáp ứng nhu cầu của thị trường các nước phát triển như EU, Nhật Bản, Mỹ. Khi đó, doanh nghiệp mới chiếm lĩnh được những thị trường này và dần dần tạo dựng được thương hiệu của mình.
Mặt khác, Nhà nước phải có chính sách để khuyến khích phát triển liên kết giữa nhà nông và doanh nghiệp. Nhà nước phải có khung pháp lý để cho việc mua bán quyền sử dụng đất đai một cách thuận lợi. Đào tạo miễn phí cho thanh niên nông dân để họ trở thành những nông dân chuyên nghiệp, những “thanh nông tri điền” chứ không phải nông dân cha truyền con nối,“lão nông tri điền”.
Nhà nước có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ chế biến và bảo quản nông sản bằng việc tài trợ lãi suất khi họ đầu tư mua sắm các thiết bị công nghệ hiện đại và thực hiện liên kết với nông dân. Có thể giảm hoặc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong vài ba năm đầu khi họ thực hiện mối liên kết với nông dân ở những vùng sản xuất hàng hóa theo quy hoạch của Nhà nước. Làm được điều này Việt Nam sẽ có hàng nông sản chất lượng cao và ổn định.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nguyễn Văn Thiện - Cô hồn tháng bảy

Tôi định viết nhưng ngôn ngữ đã biến mất. Bực bội, tôi xô ghế đứng dậy định đi ra khỏi nhà nhưng chiếc ghế không nhúc nhích và tôi cũng không hề đổi vị trí, tôi đã bị mất tay và chân. Tôi định hét lên báo động tình trạng kỳ cục này nhưng âm thanh không còn nữa. Chính xác, tôi đã chết. Nhưng ai đã thí mạng tôi ngay giữa lúc này? Không ai biết. Tôi đã chết ngoài biên giới phía bắc, trong biên giới phía tây nam, chết ở trong đất liền, chết ở ngoài biển cả. Tôi bị thí mạng ở mọi lúc mọi nơi, như những hình nhân làm bằng vải bằng cỏ hoặc bằng giẻ rách. Tôi chết vất trên cạn, chết trôi trong nước, chết treo trên cây, chết vùi trong cỏ, chết cong queo trong giấc ngủ ban trưa.
Tôi chết vì ai? Cũng không ai biết. Chỉ biết đó là cái chết không ra gì. Vì thế, mọi người không ai buồn nhắc đến, hoặc khen, hoặc chê, hoặc biểu dương, hoặc phê phán. Trong những ngày hội lớn đông vui, không ai nhắc đến tôi. Trong những màn cầu siêu tập thể hoành tráng, cũng không ai nhắc tên tôi. Chỉ duy nhất một lần, trong một giấc mơ, có một người nào đó đã lẩm bẩm về trường hợp của tôi. “Nó phải thí mạng,” người đó nói nhấm nhẳn trong cái miệng mê ngủ đầy nước dãi của lịch sử.
Buồn bã, tôi lang thang như cô hồn tháng bảy. Tôi không bao giờ kể lại cái chết của tôi cho ai biết, đó là bí mật của riêng tôi. Trên những bước đường phiêu bạt, tôi phát hiện ra rằng không chỉ có một mình tôi rơi vào hoàn cảnh này. Đúng ra, có rất nhiều người bị thí mạng như tôi. Họ chết trên sông, trên biển, trên đảo, trên đất liền, trên biên giới, trên công trường và trên máy bay. Ai thí mạng họ? Không ai biết. Tháng bảy, họ đi lũ lượt trên những tán cây màu sẫm trong vườn. Họ vừa đi vừa chạy, vừa chạy vừa vấp ngã, vừa vấp ngã vừa dìu nhau dậy để đi tiếp, như ma.
Cũng có khi quá mệt, họ dừng lại bên đồi, ngồi đấm lưng, bóp chân và nhai cái gì đó trong những cái miệng đen ngòm thăm thẳm. Thỉnh thoảng, có một ai đó cất lên một câu hát, và sau đó, anh ta nổ tung xác pháo trong buổi chiều mưa phùn chạng vạng. Ví dụ, câu hát: “Bài ca tôi không quên tôi không quên... không thể nào quên...” Thỉnh thoảng, có ai đó cất giọng đọc một câu thơ, sau đó, anh ta cũng nổ tung xác pháo, miệng vỡ vụn ra như cám. Ví dụ, câu thơ: “Lời anh vọng mãi ngàn năm...”
Tôi nói: “Thôi chúng ta đừng hát hoặc đọc thơ nữa, nếu không thì...” Mọi người im lặng, nghe phía dưới chân đồi, tiếng nước réo đất sôi. “Tháng bảy năm nay mưa nhiều quá,” một giọng ai đó nói.
Tôi đã đi qua rất nhiều tháng bảy mưa, nhưng không nhớ năm nào mưa nhiều năm nào mưa ít, chỉ nhớ rằng năm nào cũng có mưa. Mà mưa thì buồn lắm! Mà buồn lại càng buồn hơn nếu ngồi chôn chân một chỗ. Vậy nên tôi đứng dậy cầm tay người bên cạnh và đi vòng quanh. Tay nối tay, chúng tôi thành một vòng tròn màu trắng, ngày càng rộng ra. Chúng tôi đi vòng quanh, lặng lẽ, không thơ không nhạc, không kinh kệ. Những bàn chân lướt trên cỏ, ngập trong nước, lún trong bùn, vẫn đi vòng tròn. Chúng tôi muốn nhìn vào mắt nhau, nhưng chúng tôi không có mắt, chúng tôi muốn ôm lấy nhau nhưng không có tay, chúng tôi muốn hôn nhau nhưng không có môi. Chúng tôi mù loà như cây cỏ, như đất đá, kết thành một số không to tướng trên đồi hoang ướt mưa.
Cũng có khi chúng tôi ngửi thấy mùi rượu nếp hoặc mùi khói bếp, nhưng xa lắm! Cũng có khi chúng tôi nhớ người thân -- nhớ một người mẹ mù loà chẳng hạn, nhưng cũng xa lắm!
“Lúc chưa thí mạng, chúng tôi đã từng nắm tay thành một vòng tròn y như thế này, trên đảo.” Tiếng ai đó nói.
“Lúc chưa thí mạng, chúng tôi đã từng nắm tay nhau thành một vòng tròng y như thế này, trên núi.” Tiếng ai đó tiếp lời.
Chúng tôi mệt nhoài, không đủ sức nắm tay nữa. Ngoài xa, biển động, đỏ ngầu như máu; trên núi cao, rừng động, đỏ quạch như máu. Tôi sợ, nếu cứ mãi lang thang, linh hồn chúng tôi sẽ rữa ra như câu hát, câu thơ, như cám. Chúng tôi cần bám vào đâu đó, một nơi thật vững chãi, chắc chắn. Nhưng biết tìm ở đâu ra? Vì vậy, chúng tôi lại nắm tay nhau đi lang thang như những đám mây len lỏi giữa bức tranh siêu thực nhoè nhoẹt.
Có khi chúng tôi màu trắng, có khi màu đen, có khi màu đỏ.
Nhạc rất nhiều, thơ cũng nhiều vô kể. Nhưng không ai nói rõ cho chúng tôi biết vì sao chúng tôi bị thí mạng.
Vì thế chúng tôi vẫn tiếp tục lang thang...



Phần nhận xét hiển thị trên trang

thơ Trần Vàng Sao

TAU CHƯỞI
 

tau tức quá rồi
tau chịu không nổi
tau nghẹn cuống họng
tau lộn ruột lộn gan
tau cũng có chân có tay
tau cũng có đầu có óc
có miệng có mắt
có ông bà
có cha mẹ
có vợ con có ngày sinh tháng đẻ
có bàn thờ tổ tiên một tháng hai lần
rằm mồng một hương khói bông ba hoa quả
tau đầu tắt mặt tối
đổ mồ hôi sôi nước mắt
vẫn đồng không trự nõ có
suốt cả đời ăn tro mò trú
suốt cả đời khố chuối Trần Minh
kêu trời không thấu
tau phải câm miệng hến
không được nói
không được la hét
nghĩ có tức không
tau chưởi
tau phải chưởi
tau chưởi bây
tau chưởi thẳng vào mặt bây
không bóng không gió
không chó không mèo
mười hai nhánh họ bây đem lư hương bát nước
giường thờ chiếu trải sắp hàng một dãy ra đây
đặng nghe tau chưởi
tau kêu thằng khai canh khai khẩn tam đợi mười đời
cao tằng cố tổ ông nội ông ngoại cha mẹ chú bác cô dì
con cháu thân hơi cật ruột bây tau chưởi
tau chưởi cho tiền đời dĩ lai bây mất nòi mất giống
hết nối dõi tông đường
tau chưởi cho mồ mả bây sập nắp
tau chưởi cho bây có chết chưa liệm ruồi bu kiến đậu
tam giáo đạo sư bây
cố tổ cao tằng cái con cái thằng nào móc miếng cho bây
hà hơi trún nước miếng cho bây
bây ỉ thế ỉ thần
cậy nhà cao cửa rộng
cậy tiền rương bạc đống
bây ăn tai nói ngược
ăn hô nói thừa
đòn xóc nhọn hai đầu
ngậm máu phun người
bây bứng cây sống trồng cây chết
vu oan giá hoạ
giết người không gươm không dao
đang sống bây giả đò chết
người chết bây dựng đứng cho sống
bây sâu độc thiểm phước
bây thủ đoạn gian manh
bây là rắn
rắn
toàn là rắn
như cú dòm nhà bệnh
đêm bây mò
ngày bây rình
dưới giường
trên bàn thờ
trong xó bếp
bỏ tên bỏ họ cha mẹ sinh ra
bây mang bí danh
anh hùng dũng cảm vĩ đại kiên cường
lúc bây thật lúc bây giả
khi bây ẩn khi bây hiện
lúc người lúc ma
lúc lên tay múa ngón sủi bọt mép gào thét
lúc trợn mắt khua môi múa mỏ đả đảo muôn năm
lúc như thầy tu vào hạ
lúc như con nít đói bụng đòi ăn
hai con mắt bây đứng tròng
bây bắt hết mọi người trước khi chết phải hô
cha mẹ bây ông nội ông ngoại bây tiên sư cố tổ bây
sống dai đời đời kiếp kiếp
phải quỳ gối cúi đầu
nghe bây nói không được cãi
phải suốt đời làm người có tội
vạn đợi đội ơn bây
đứa nào không nghe bây hớt mỏ chôn sống
thằng nào không sợ bây vằm mặt thủ tiêu
bây làm cho mọi người tránh nhau
bây làm cho mọi người thấy nhau nhổ nước miếng
đồ phản động
đồ chống đối
đồ không đá bàn thờ tổ tiên
đồ không biết đốt chùa thiêu Phật
thượng tổ cô bà bây
mụ cô tam đợi mười đời bây
tau xanh xương mét máu
thân tàn ma dại
rách như cái xơ mướp chùi trách nồi không sạch
mả ông bà cố tổ bây kết hết à
tụi bây thằng nào cũng híp mắt hai cằm
bây ăn chi mà ăn đoản hậu
ăn quá dã man
bây ăn tươi nuốt sống
mà miệng không dính máu
người chết bây cũng không chừa
năm năm mười năm hai mươi năm
xương chân xương tay sọ dừa vải liệm`
bây nhai bây khới bây mút
cả húp cả chan bây còn kêu van xót ruột
bao nhiêu người chết diều tha quạ rứt xương
khô cốt tàn dọc bờ dọc bụi giữa núi giữa rừng
để bây xây lăng đắp mộ dựng tượng dựng đài cho
cha mẹ cố tổ bây
hỡi cô hồn các đảng
hỡi âm binh bộ hạ
hỡi những kẻ khuất mặt đi mây về gió
trong am trong miếu giữa chợ giữa đường
đầu sông cuối bãi
móc họng bóp cổ móc mắt bọn chúng nó
cho bọn chúng nó chết tiệt hết cho rồi
bây giết người như thế
bây phải chết như thế
ác lai thì ác báo
tau chưởi ngày chưởi đêm
mới bét con mắt ra tau chưởi
chập choạng chạng vạng tau chưởi
nửa đêm gà gáy tau chưởi
giữa trưa đứng bóng tau chưởi
bây có là thiền thừ mười tám con mắt tau cũng chưởi
mười hai nhánh họ bây
cao tằng cố tổ bây
tiên sư cha bây
tau chưởi cho bây ăn nửa chừng mẻ chai mẻ chén
xương cá xương thịt mắc ngang cuống họng
tau chửi cho nửa đêm oan hồn yêu tinh ma quỷ
mình mẩy đầy máu hiện hình vây quanh bây đòi trả đầu trả chân trả tay trả hòm trả vải liệm
tau chưởi cho cha mẹ bây có chết cũng mồ xiêu mả lạc
đoạ xuống ba tầng địa ngục bị bỏ vào vạc dầu
tau chưởi cho cha mẹ bây có còn sống cũng điên tàn
đui què câm điếc làm cô hồn sống lang thang đầu đường xó chợ
bốc đất mà ăn xé áo quần mà nhai cho bây có nhìn ra
cũng phải tránh xa
tau chưởi cho con cái bây đứa mới đi đứa đã lớn
sa chân sẩy tay đui què sứt mẻ nửa đòi nửa đoạn
chết không được mà sống cũng không được
tau chưởi cho dứt nọc dòng giống của bây cho bây chết sạch hết
không bà không con
không phúng không điếu
không tưởng không niệm
không mồ không mả
tuyệt tự vô dư
tau chưởi cho bây chết hết
chết sạch hết
không còn một con
không còn một thằng
không còn một mống
chết tiệt hết
hết đời bây
 
TRẦN VÀNG SAO, 29 tháng 6 năm 1997


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Về một người Nhật nói một câu khó nghe và những việc sau đó:

“Tôi nghĩ Việt Nam là thuộc địa của Trung Quốc”

“Tôi nghĩ Việt Nam là thuộc địa của Trung Quốc”
Photo: Nick Nagornyj

Đây là câu nói của một ông giám đốc người Nhật, nói trước hàng chục quan khách Việt Nam trong một phòng hội thảo của một khách sạn 5 sao. Câu nói ấy làm hết thảy các vị doanh nhân, nhà khoa học, thậm chí là cả những viên chức nhà nước trong khán phòng sững sờ. Câu nói ấy không khác việc ông giám đốc người Nhật kia đã vả một cái tát vào mặt tất cả những con người Việt Nam ưu tú trong khán phòng đấy. Họ đều là những người Việt Nam thành đạt, là những người yêu nước, làm sao có thể chịu đựng được sự sỉ nhục ấy.
Thế nhưng, những lời nói tiếp theo đó của vị giám đốc kia đã phải khiến khán phòng gật đầu thừa nhận, thậm chí là vỗ tay. Ông chỉ vào chiếc màn máy chiếu, chỉ vào cặp đèn trên trần nhà, chỉ vào bộ quần áo mà mọi người đang mặc, thậm chí là cây bút và tờ giấy mà họ cầm trên tay, ông nói: “Made in China”.
Ông nói rằng, người Việt Nam giỏi lắm, thông minh lắm, kiên cường lắm. Lúc ấy người Nhật thua trận trước người Mỹ, cả nước Nhật thấy sỉ nhục, còn người Việt Nam thì lại thắng nước Mỹ. Nhưng 20 năm qua đi, Nhật Bạn có Toyota, có Honda, có Mitsubishi, Việt Nam có gì? Người Hàn Quốc chịu sỉ nhục trước người Nhật, họ có Huyndai, có Samsung, có LG, Việt Nam có gì?
Hàn Quốc có những bối cảnh lịch sử rất giống Việt Nam, đặc biệt khi phải chịu sự chia cắt giữa hai miền đất nước. Cả Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan đều chịu sự chèn ép, cạnh tranh to lớn từ người láng giếng Trung Quốc. Trung Quốc luôn tham vọng trở thành một cường quốc biển, những vụ đụng độ trên biển với Hàn Quốc hay tranh chấp đảo Điếu Ngư/Senkaku với Nhật Bản vẫn luôn không ngừng. Mọi sự so sánh đều là khập khiễng, nhưng không thể dùng sự ngụy biện ấy mà phủ nhận đi một sự thật là Việt Nam đang biện hộ quá nhiều cho sự yếu kém của mình.
Đừng nói nước ta có quá nhiều thế lực thù địch
Đừng nói chúng ta phải chịu nhiều mất mát do chiến tranh
Đừng nói chúng ta gặp phải quá nhiều thiên tai bão lũ
Nếu đã yếu, đã nghèo, ắt phải học khiêm tốn. Hào quang lịch sử, vinh quang quá khứ, dân tộc anh hùng, hai nghìn năm văn hóa sẽ chỉ là thứ huy hoàng cũ kỹ treo trên tường một căn nhà đã dột nát.
Cảm ơn cái dàn khoan
Có lẽ, nhiều người phải cảm ơn cái dàn khoan HD-981 của công ty CNOOC.
Nhờ có cái dàn khoan ấy, nhiều thanh niên mới bắt đầu tìm hiểu xem luật biển là gì, COC với DOC là gì, nhiều thanh niên khác lần đầu tiên nhìn lên bản đồ và ngó xem xem, Hoàng Sa gần đảo Hải Nam đến thế nào còn Trường Sa gần Philippines ra sao.
Nhờ có cái dàn khoan, sự anh dũng của các chiến sĩ được mọi người hiểu rõ hơn, trang fanpage của Việt Tân lẫn Đơn vị tác chiến điện tử đều tăng được cả trăm nghìn fan, talking about this tăng vọt. Ai nấy đều muốn tìm hiểu về quân sự của Việt Nam, bao người sẵn sàng gia nhập quân ngũ.
Nhờ có cái dàn khoan, người Việt hiểu được sức mạnh của dân tộc, sức mạnh ấy thể hiện qua hàng chục nhà máy của cả Việt Nam, Đài Loan lẫn Hàn Quốc, Nhật Bản bị đập, đốt tan tành, qua hàng chục nghìn chữ ký trên mạng hay hàng tỷ đồng tiền quyên góp cho Trường Sa.
Nhờ có cái dàn khoan ấy mới có lần đầu tiên một cuộc biểu tình mà những đoàn viên thanh niên giơ cao biểu ngữ ủng hộ nhà nước đi cùng các biểu ngữ đòi tự do cho nhiều tù nhân chính trị.
Kể từ ngày hôm ấy, cái ngày mà khói lửa bốc lên ở Bình Dương, có một điều gì đó lớn lao đã thay đổi ở đất nước này. Tôi không nói cụ thể được nó là gì, nhưng rõ ràng là mọi thứ không còn như trước nữa, một cỗ máy nào đó đã được vận hành.
Nhưng, có lẽ có nhiều thứ rồi cũng sẽ đi vào quên lãng. Có một mùa hè, người ta nói về sự gian trá trong những mùa thi, để rồi một mùa hè khác món chè khúc bạch lên ngôi thay thế cho những sự um xùm về nạn hôi của. Mùa hè năm nay, cái dàn khoan đè xuống cái bản đề xuất cải cách giáo dục 36000 tỷ của bộ giáo dục cũng như cái án dành cho ông Dương Chí Dũng.
Có thể, ngày mai, báo sẽ lại đưa tin, có một dàn khoan lạ xâm nhập vào vùng biển nước ta, hoặc là có tàu lạ đến cắt cáp dưới đáy biển.
Có thể lắm chứ, chủ trương mà.

Hoàng Đức Minh
26/5/2014
( Triết học đường phố )
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Dù gì thì đây cũng là một bài viết không nên đọc:

Càng sống lâu trong xã hội chủ nghĩa, con người càng thiếu đạo đức
Càng sống lâu trong xã hội chủ nghĩa, con người càng thiếu đạo đức
Featured Image: Pavel Horák

Người Việt Nam sống dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa ngày nay đạo đức ngày càng suy đồi, từ chuyện lừa đảo, đến chuyện ăn cắp ở khắp mọi nơi. Nguyên nhân chính là bản chất Xã Hội Chủ Nghĩa không coi trọng tinh thần đạo đức, thái độ cư xử gian trá. Con người XHCN sẵn sàng làm bất cứ điều gì để đem lại một chút lợi nhỏ cho bản thân.
Tuần báo The Economist vừa đăng một bài nghiên cứu về người Đức sống trong vùng Đông Đức trước đây, theo Xã Hội Chủ Nghĩa có thái độ chua cay, gian trá hơn người Đức sống bên Tây Đức theo Chủ Nghĩa Tư Bản.
Thời chủ nghĩa Xô Viết ở Nga, người ta có một câu nói mai mỉa: “Dưới chế độ Tư Bản Chủ Nghĩa, người bóc lột người. Dưới chế độ cộng sản thì ngược lại.” Tức là cũng bóc lột vậy thôi, chẳng khác gì, có khi còn tệ hơn. Thực tế cho thấy hệ thống xã hội chủ nghĩa theo kiểu Xô Viết xúi giục con người không những có tâm địa xấu mà còn ưa làm chuyện gian trá nữa. Cụ thể nhất là trường hợp người dân sống ở Đông Đức, chế độ cộng sản để lại dấu ấn sâu đậm trong cách xử thế của con người: Coi nhẹ vấn đề đạo đức, sự lương thiện.
Hồi năm ngoái, ông Lars Hornuf ở trường đại học University of Munich cùng với ba chuyên viên trường Duke University: Dan Ariely, Ximena Garcia-Rada và Heather Mann thực hiện một cuộc nghiên cứu xem coi người Đức sẵn sàng nói láo đến mức nào để thủ lợi cho cá nhân. Có khoảng 250 người dân Bá Linh được chọn một cách hú hoạ, để tham dự trò chơi, ai thắng được thưởng 6 đồng Euro, tức khoảng 8 đô la Mỹ.
Trò chơi rất đơn giản, mỗi người chơi được cầm con súc xắc thẩy lên 40 lần, và ghi xuống mảnh giấy mỗi lần ra con số nào thì ghi xuống. Ai có tổng số nút cao sẽ được giải nhiều. Trước mỗi lần thẩy con súc xắc lên, người chơi phải hứa tự mình ghi trung thực con số mình thảy ra: Số lớn nhất và số nhỏ nhất.
Tuy nhiên, người chơi không bắt buộc phải tiết lộ cho người khác biết họ đã ghi số nào, có thật hay không. Do đó, người chơi rất dễ ăn gian, muốn ghi số lớn cũng chẳng ai biết. Ví dụ nếu họ chọn số xấp, và trúng số hai. Nhưng nếu họ ăn gian chọn số ngửa là số năm cũng không ai biết. Người chơi thật thà, sẽ ghi đúng số mình thẩy ra. Có những người đưa ra kết quả toàn là số lớn, tức là người đó ăn gian.
Sau khi trò chơi kết thúc. Người tham dự được yêu cầu kê khai số tuổi của mình, và nơi họ cư ngụ trong những khoảng thời gian khác nhau. Nhà nghiên cứu tìm thấy kết quả là những người sống ở khu Đông Đức có máu ăn gian gấp đôi người sống ở Tây Đức sống dưới chế độ tư bản chủ nghĩa.
Nhà nghiên cứu cũng để ý đến số năm sống ở Đông Đức của người tham dự trò chơi trước khi bức tường Bá Linh sụp đổ. Người nào sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa lâu hơn có xu hướng ăn gian nhiều hơn. Bởi vì đa số họ đưa ra kết quả có những con số lớn đáng nghi ngờ.
Kết quả nghiên cứu không tiết lộ điều gì về bản chất của mối liên hệ giữa xã hội chủ nghĩa với sự bất lương. Có lẽ nó chỉ cho người ta thấy cuộc sống bên Đông Đức tương đối nghèo khổ hơn ở bên Tây Đức. Cùng lúc đó, khi nói về tinh thần đạo đức, luân lý, rõ ràng là những người được nuôi dậy, trưởng thành trong xã hội tư bản hơn hẳn những người sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.
Người Đức với nên tảng văn hoá khá vững vàng, thế mà xã hội chủ nghĩa đã làm suy đồi đạo đức con người như vậy, hỏi sao đối với người Việt, chủ nghĩa xã hội làm băng hoại xã hội Việt Nam đến mức nào.

Via Nhật Báo Calitoday
Bài tường thuật trên Business Insider ngày 18/7/2014
Nguyễn Minh Tâm dịch
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vậy mà có những quốc gia muốn nhà văn biến mất hoặc tồn tại theo cách riêng mà họ cho phép đấy!

Tại sao chúng ta cần nhà văn?

Tại sao chúng ta cần nhà văn?
Featured Image: Ellen

Tôi mới đọc trên tờ The Sydney Morning Herald bài viết của Elizabeth Farrelly với nhan đề “Tại sao chúng ta cần nhà văn?” (Why we need writers). Bài viết, từ một nhà báo, thành thực mà nói, không có gì sâu sắc. Nhưng tôi bị mê hoặc bởi cái nhan đề. Hình như, từ lâu, tự trong tâm thức, tôi cũng bị ám ảnh bởi câu hỏi ấy. Tại sao chúng ta cần nhà văn?
Cần, dĩ nhiên, không phải để giải trí. Đã đành, đọc sách cũng là một cách giải trí phổ biến, và khá lành mạnh (trừ những loại sách quá nhảm nhí). Nhưng đó không phải là lý do chính để người ta đọc sách. Với sự phát triển của chủ nghĩa tiêu thụ và của các kỹ thuật liên quan đến giải trí, người ta có thể tìm vui bằng vô số cách thức khác nhau, từ việc xem ti vi, nghe nhạc, chơi game trên internet hoặc tán dóc với bạn bè trên các diễn đàn mạng. Người ta không nhất thiết phải cắm cúi và cặm cụi đọc những cuốn sách dày cộm và nặng trịch hàng năm bảy trăm trang. Không, mục tiêu giải trí, tuy có thật, nhưng chắc chắn đó không phải là mục tiêu chính.
Tôi cho lý do chính khiến chúng ta cần các nhà văn là vì nhu cầu nhận thức hơn là giải trí, hoặc nếu muốn gọi là giải trí thì đó là một thứ giải trí “cao cấp” của đầu óc: Qua việc đọc sách, người ta được ngao du vào một thế giới khác, thế giới tưởng tượng của các nhà văn và nhà thơ. So với phim ảnh, thế giới ấy đa dạng, đa sắc và đa tầng hơn, ở đó, chúng ta không những nhìn thấy con người, những sự tương tác giữa con người cũng như các diễn biến quanh co phức tạp của cuộc sống, mà còn nhìn thấy được những chuyển biến tinh tế bên trong của những con người ấy.
Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta giao tiếp với người này người khác, kể cả những người thân yêu nhất của mình, nhưng chúng ta không bao giờ “đọc” được những ý nghĩ hoặc cảm xúc thầm kín của họ. Chúng ta chỉ cảm, và, khi cần, đoán, nhưng không thấy. Làm sao bạn có thể biết được những người sắp chết nghĩ gì; những người mới bắt đầu chớm yêu nhau cảm xúc ra sao? Trong đời sống, hầu như không ai kể cho chúng ta nghe những điều ấy cả. Tất cả những điều ấy chỉ có thể thấy được trong văn chương.
Chính vì có thể đọc được thế giới bên trong của con người như thế, lâu nay, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng văn chương giúp chúng ta hiểu rõ con người một cách sâu sắc hơn. Thực tình, tôi không dám chắc là những người đọc thơ văn nhiều sẽ am tường tâm lý nhân loại hơn những người ít đọc. Tuy nhiên, tôi tin chắc một điều: Việc đọc thơ văn nhiều sẽ giúp chúng ta hiểu được tâm hồn của một thời đại hoặc một thế hệ hơn. Cũng có thể nói, cách khác, một thời đại không có văn chương là một thời đại không có tâm hồn.
Cứ tưởng tượng giai đoạn 1930-45 mà không có tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn và Thơ Mới thì sao nhỉ? Thì chúng ta không biết gì về các diễn biến trong tâm hồn và ý thức của thế hệ ấy cả, chứ sao? Nhờ tiểu thuyết và thơ thời ấy, chúng ta biết được, giữa cơn đại suy thoái trên thế giới và Thế chiến thứ hai, ở Việt Nam, đã có sự xuất hiện của ý thức cá nhân chủ nghĩa và những khao khát về tình cảm gắn liền với ý thức ấy, từ những khao khát về tình yêu và hạnh phúc đến những khao khát khẳng định bản sắc cá nhân.
Trong mấy thập niên vừa qua, nhất là những năm đầu sau phong trào đổi mới tại Việt Nam, nếu không có những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, làm sao chúng ta có thể thấy được những đổ vỡ trong quan hệ giữa người và người trong xu hướng thương mại hoá; nếu không có các truyện ngắn của Phạm Thị Hoài, làm sao chúng ta thấy được những tác động dữ dội của xu hướng đô thị hoá đối với tính cách của con người cũng như quan hệ giữa họ với nhau; nếu không có các cuốn tiểu thuyết của Dương Thu Hương, làm sao chúng ta thấy được sự đổ vỡ niềm tin của cả một thế hệ từng hy sinh trong cuộc chiến tranh khốc liệt trước năm 1975?
Cũng vậy, sẽ không ai có thể hiểu được cộng đồng Việt Nam lưu vong sau năm 1975 nếu không đọc thơ của Cao Tần, Thanh Nam, Mai Thảo hay tuỳ bút của Võ Phiến và Nguyễn Bá Trạc: Tất cả đều cho chúng ta thấy không phải chỉ có những con số vô hồn của những người vượt biên, những nguy hiểm mà họ phải gánh chịu từ bão tố đến hải tặc mà còn cả những tâm trạng ngỡ ngàng, hoang mang của những người bỗng dựng bị đẩy tạt ra ngoại quốc, sống trong một môi trường hoàn toàn khác, từ cấu trúc xã hội đến ngôn ngữ và văn hoá.
Còn bây giờ? Hằng ngày chúng ta chứng kiến bao nhiêu biến cố, từ những biến cố nhỏ nhoi trong xã hội đến những biến cố lớn lao của đất nước; những biến cố ấy ít nhiều đã được nhiều người ghi chép và phân tích. Nhưng còn tâm trạng chung của mọi người khi đối diện với những biến cố ấy ra sao? Câu hỏi ấy, theo tôi, chỉ được trả lời khi có một cây bút thật tài hoa xuất hiện.
Nói một cách tóm tắt, có nhiều lý do khiến chúng ta cần nhà văn và nhà thơ. Ở đây, tôi chỉ tập trung vào một lý do chính: Chúng ta cần họ vì, qua tác phẩm của họ, chúng ta mới có thể nhìn thấy được tâm hồn của một thời đại, một thế hệ, trong đó có chính chúng ta. Không có họ, thời đại ấy, dù có nhiều sóng gió và bão táp đến mấy vẫn chỉ là một vùng quên lãng.

Nguyễn Hưng Quốc

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Việt Nam mua gì đầu tiên khi Mỹ bỏ cấm vận vũ khí?

Việt Nam mua gì đầu tiên khi Mỹ bỏ cấm vận?
Hiệp định 123 về hạt nhân dân sự Việt Nam-Hoa Kỳ được ký thì vấn đề dở bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam là không thể khác.
Tuy nhiên, khi đó, Mỹ không thể cho không mà Việt Nam phải trả bằng USD. Vấn đề là, muốn, cần thì nhiều, nhưng có tiền để mua hay không mới quan trọng, đặc biệt mua loại vũ khí nào cho phòng thủ hữu hiệu mới là quyết định.
Vũ khí âm thanh chính hiệu Hoa Kỳ
Mùa thu 2005, ngoài khơi bờ biển Somalia, hải tặc trên các tàu cao tốc bao vây tàu chở khách viễn dương “Seabourn Spirit”. Bọn hải tặc hoàn toàn tin tưởng vào sự vượt trội của chúng và yêu cầu thủy thủ đoàn thả thang dây, song chỉ vài phút sau, chúng buộc phải vứt lựu đạn và súng để ôm lấy đôi tai đau đớn. Hải tặc đã bị Thiết bị phát âm thanh tầm xa (Long Range Acoustic Device – LRAD) của Mỹ nện cho một đòn  nhớ đời.
Trong thông cáo được phát đi vào ngày 16/12/2013, Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết,  trong Biên bản chung về Hợp tác Hàng hải-Cảnh vệ Duyên hải giữa Việt Nam và Hoa Kỳ ký ngày 1/10/2013 giữa Thiếu tướng Cảnh sát Biển Việt Nam (VCG) Nguyễn Quang Đạm và Đô đốc Tư lệnh Cảnh vệ Duyên hải Hoa Kỳ (USCG) Robert J. Papp, để nâng cao năng lực của các đơn vị tuần tra biển nhằm triển khai nhanh các hoạt động tìm kiếm và cứu nạn, ứng phó thảm hoạ, và các hoạt động khác, bao gồm cả việc cung cấp 5 tàu tuần tra cao tốc vào năm 2014 cho lực luợng Cảnh sát Biển Việt Nam.
Vũ khí âm thanh LRAD 1000 Xi của tàu CSB Việt Nam 8001
Viện trợ cho Việt Nam 5 con tàu tuần tra cao tốc cho lực lượng CSB Việt Nam này chắc chắn không thể thiếu LRAD chính hiệu.
Điều ngạc nhiên thú vị là không hiểu tại sao trên các tàu hiện đại của CSB Việt Nam đều trang bị LRAD của Mỹ, thiết bị có thể tạo ra âm hưởng tối đa 146 dB, cao hơn giới hạn gây đau đớn cho con người (120-130 dB) và gây thủng màng nhĩ.
Đây là vũ khí “phi sát thương” được dùng trên biển để chống hải tặc hữu hiệu nhất. Vì vậy, với Việt Nam, dùng để đối phó với “50.000 vũ khí công nghệ cao” của Trung Quốc trên Biển Đông khi chúng cậy đông, ồ ạt xông vào vùng EEZ đánh bắt trái phép là một sự răn đe khủng khiếp sắp tới.
Trong sự kiện giàn khoan Hải Dương 981, có lẽ CSB Việt Nam giấu bài, hoặc LRAD chỉ có ở tàu lớn như 8001, nhưng dẫu sao CSB đã có loại vũ khí này.
Như vậy, vũ khí đầu tiên mà Việt Nam cần ở Mỹ với số lượng nhiều là đây, với chất lượng chính hãng và phạm vi tác chiến lớn hơn. Tất nhiên, Việt Nam vẫn có thể mua vũ khí này từ Pháp, nhưng độ tin cậy không cao vì chưa qua “trận mạc” so với LRAD của Mỹ như đã từng (nêu ở trên).
Mua 6 chiếc P-3C4 Orion đời mới của Mỹ
Sự xuất hiện của P-3C4 trên Biển Đông sẽ đe dọa nghiêm trọng đến sự sống còn của lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc còn hơn cả hạm đội tàu ngầm Việt Nam sắp triển khai. Rõ ràng, kế hoạch tác chiến của Hạm đội Nam Hải trên Biển Đông buộc phải hoàn toàn thay đổi.
Đây là điều Trung Quốc không bao giờ muốn, rất lo ngại, bởi lẽ, khi lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc trên Biển Đông bị “phơi lưng” thì không những có lợi cho Việt Nam (đương nhiên) mà Mỹ vẫn được lợi khi không có lực lượng săn ngầm của Mỹ có điều kiện hoạt động tại đây.
Máy bay tuần tra trinh sát, tác chiến chống ngầm P-3C Orion mà sự xuất hiện của nó trên Biển Đông có thể tạo nên một sự thay đổi địa chính tri, địa quân s
Việt Nam mua gì đầu tiên khi Mỹ bỏ cấm vận? ng phòng thủ biển của Việt Nam cực kỳ quan trọng, mang tầm chiến lược. Phải xây dựng 4 lực lượng gồm: mìn, thủy lôi chống ngầm; tàu mặt nước săn ngầm; tàu ngầm chống ngầm và máy bay chống ngầm là then chốt.
Do vậy, không có gì là ngạc nhiên khi Việt Nam có ý định mua của Mỹ hay Nhật Bản loại máy bay này từ trước và nếu thành công thì chắc chắn đây là cuộc mua bán mà đôi bên cùng có lợi. Mỹ lợi nhiều hơn khi không những thu được tiền mà quan trọng hơn họ còn biết được thông tin về tàu ngầm Trung Quốc.
Hải quân Việt Nam có 6 chiếc tàu ngầm và cần có thêm 6 chiếc P-3C4 Orion đời mới do Mỹ sản xuất là bảo đảm có một “vùng biển sạch” cần thiết nếu muốn cho nhu cầu tác chiến khác trên Biển Đông.
Thế là đủ. Trong tay Việt Nam có thêm 2 loại này nữa thì chẳng khác nào Rồng lửa Việt Nam có móng vuốt của Nga và lửa của Mỹ.
Theo Lê Ngọc Thống (Baodatviet.vn)


Phần nhận xét hiển thị trên trang