Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2014

Truyền thông ta chiến rất hay - Hơn các cụ già.. bắn rơi máy bay!

Báo Quân Đội Nhân dân ĐÁNH MỸ và ĐÓN MỸ:
Xẻ dọc tờ báo, nửa đưa chuyện Đánh Mỹ, nửa đưa tin Đón Mỹ 
 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Giao Blog: Nhìn lại đêm trước Đổi Mới và Đổi Mới - 4 (về đại ...

Giao Blog: Nhìn lại đêm trước Đổi Mới và Đổi Mới - 4 (về đại ...: Từ từ rồi ta sẽ thấy một điều sau: có rất nhiều trí thức thời đó đã ủng hộ mạnh cho đại phát kiến "làm chủ tập thể" do cụ Lê Duẩn... Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 8 tháng 8, 2014

Vì đâu có "lùm xùm" đêm nhạc Khánh Ly?


Trần Văn Minh 
VNN - Luật pháp đã coi tác phẩm là tài sản thì chủ sở hữu tài sản- tác phẩm đó hoàn toàn có quyền quyết định về giá tài sản. Người kinh doanh thấy giá đó không chấp nhận được (quá cao cho đầu vào, thì khó cho đầu ra) thì đừng kinh doanh.Luật pháp đã coi tác phẩm là tài sản thì chủ sở hữu tài sản- tác phẩm đó hoàn toàn có quyền quyết định về giá tài sản. Người kinh doanh thấy giá đó không chấp nhận được (quá cao cho đầu vào, thì khó cho đầu ra) thì đừng kinh doanh.

Mưa như trút nước vào lúc 7 giờ, đúng cái giờ vé có thể bán được rất nhiều cho những khán giả có thói quen “nghe thời tiết liếc đồng hồ”. (Cũng đúng thôi, giá vé không hề rẻ, nếu có sự cố gì không xem được, bỏ vé thì phí quá). Tôi nhìn thấy nhạc sĩ PĐP cùng mấy người nữa, ban đầu bảo vệ không cho vào phải  đứng chờ ở cổng, sau đó có lẽ bảo vệ nhận ra ông nên đã cho vào. Nhìn ông chạy dưới mưa ở cái tuổi bẩy mươi, xem ra thật ái ngại.

Tôi đã đọc báo mạng từ ban trưa nên biết, ông nói rằng ông phải đến để xem những nhà tổ chức biểu diễn đem tác phẩm (tài sản) của các tác giả (đã ủy thác quyền cho VCPMC đơn vị mà ông làm giám đốc) kinh doanh trái phép thế nào. Mặc dù, họ có giấy phép của cơ quan quản lý nhà nước cho phép, nhưng họ chưa được phép của các tác giả. Mà luật pháp đã quy định các tác giả có cái quyền cho phép ấy. Nếu chưa xin phép, chưa thỏa thuận được với tác giả coi như trái pháp luật.

Nghe mà não cả lòng. Sao ông nhạc sĩ nổi tiếng này phải vất vả thế? Sao ông không nhờ đến các cơ quan chức năng như thanh tra, như tòa án, như quản lý địa phương nơi diễn ra hoạt động này? Sao ông không để nhân viên dưới quyền ông đi đến đây?

Tôi và bạn gái vào nghe hát. Quả là một chương trình tổ chức có đẳng cấp. Hình như họ cũng là đơn vị tổ chức, hoặc đồng tổ chức đêm Khánh Ly 1 (9/05). Nếu đúng như vậy, xin dành tặng một lời khen cho họ, chương trình rất hấp dẫn, không chỉ là ca sĩ chính, mà tất cả những người lên sân khấu đều diễn trong một kịch bản mở nhưng rất ăn ý. Thật là chuyên nghiệp.

Tôi đã xem Khánh Ly 01, khán giả ngồi kín khán phòng, nghe nói chừng 3800 vé. Cũng chương trình đó nhà tổ chức đã trả đủ tiền bản quyền tác giả trước giờ diễn, số tiền tới hơn 260 triệu (cả thuế).

Số tiền bản quyền ngần đó, tôi cũng giật mình. Nhiều nhỉ. Vậy lấy đâu ra để trả. Cô bạn gái ngồi cạnh, một doanh nhân thành đạt, cười bảo, anh thật ngây thơ, nhìn giá vé đi rồi hãy giật mình. Chúng tôi đi xem lần 02, không chỉ vì mê những ca khúc da vàng của Trịnh mà còn thích nghe tiếng đàn của Nguyễn Ánh 9.

Thấy nhiều ghế còn trống tôi bảo cô bạn lần này thì nhà tổ chức chết thật rồi, ghế trống lấy đâu ra mấy trăm triệu trả tiền bản quyền, chưa kể tiền cát xê ca sĩ, tiền hòa âm phối khí,tiền âm thanh ánh sáng, hội trường, (nói tóm lại là chi phí đầu vào)? Cô bạn tôi lại cười, anh quên không kể, tiền bản quyền cũng là đầu vào à? Một chương trình ca nhạc là một sinh hoạt văn hóa nhưng cũng là một hoạt động kinh doanh. Đã kinh doanh phải tính hết, tính đủ đầu vào gồm những gì. Đã kinh doanh thì có thắng có thua.

Luật pháp đã coi tác phẩm là tài sản thì chủ sở hữu tài sản- tác phẩm đó hoàn toàn có quyền quyết định về giá tài sản. Người kinh doanh thấy giá đó không chấp nhận được (quá cao cho đầu vào, thì khó cho đầu ra) thì đừng kinh doanh. Mà nghe đâu tác giả cũng công khai giá, theo luật đấy chứ. Nhưng anh yên tâm đi, nếu chủ sở hữu tác phẩm hiểu được “sự đỏng đảnh của thời tiết” như thế này, sự rủi ro không lường trước thế kia, em chắc họ sẽ có ứng xử xứng đáng. Em tin họ cũng là người có văn hóa anh ạ.

Tôi bảo, em không nhìn thấy ông PĐP lúc nãy à? Vì không thống nhất được giá tiền bản quyền nên bên tổ chức biểu diễn tắt máy không nghe, còn ông ấy thì quyết định đến để “ăn vạ” như mấy ai đó nói đấy thôi. Cô ấy nhẹ nhàng bảo, em nhìn thấy lúc nãy rồi. Đó chính là điều em nói. Ông ấy đến để xem sự thể thế nào, để thay mặt tác giả hoặc gọi điện cho tác giả thương lượng mức giá cuối cùng khi tự mình chứng kiến “hoàn cảnh” của đối tác.

Ông ấy cũng bị sức ép của nhiều phía, chứ anh? Nếu ông không đến, không tận mắt để biết cụ thể, chỉ nghe nhân viên báo cáo, hoặc nghe đối tác nêu ra v.v. thì ông ấy sẽ bị quy là thiếu trách nhiệm với niềm tin của người đã ủy thác quyền cho mình. Anh dùng từ “ăn vạ” với ông ấy “hơi bị quá” đấy nhé. Em chỉ tiếc cho ông ấy, lẽ ra tài năng nên dành để làm nên những tác phẩm đã từng rất là hay thì hơn là đi làm một cái việc khó khăn như thế này?

Nghe cô ấy nói thế, tôi lại muốn nói thay ông PĐP, ông ấy giống tôi, hoặc tôi giống ông ấy, có khi bị giời đày, không thoát ra được những ý nghĩ, những quan niệm về sự dấn thân cho công bằng xã hội. Nhưng, đôi khi thật thê thảm.

Một ông thì vì “sở hữu trí tuệ- bản quyền là động lực, khuyến khích sản sinh ra tác phẩm” và sức ép của nhiệm vụ mà những người tin vào đó, tin vào ông gửi cho ông. Một bên là những người kinh doanh những tác phẩm đó. Giữa họ là tôi và những người như tôi, hưởng thụ tác phẩm, thông qua chiếc vé phải mua để vào cửa (gía bao nhiêu).

Thấy tôi băn khoăn, bạn gái tôi bảo: Anh cứ nghĩ thế này cho đơn giản, anh không có vé thì không vào cửa. Anh hãy mua vé đừng xin, đừng để ban tổ chức mời, vì mỗi chiếc vé là một phần giải đáp cái băn khoăn của anh. Không có tiền mua vé thì không hưởng thụ sản phẩm văn hóa có đẳng cấp (hoặc sản phẩm mà mình thích). Hãy hưởng thụ những sản phẩm cho không biếu không thôi xem có “đã” được không, những chương trình đó chẳng mất đồng bản quyền nào?

Nếu các nhà tổ chức muốn cống hiến cho đông đảo công chúng những tác phẩm đỉnh cao thì bán vé rẻ đi, tiền bản quyền chắc cũng sẽ nhỏ thôi. Nếu đã bán vé, thì gọi là kinh doanh. Đã kinh doanh thì phải chấp nhận giá vật tư đầu vào và tính lỗ lãi, không chịu được sức ép lỗ lãi thì nghỉ.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

"Những điều không thể không nói ra"

Mõ Làng: Bài viết dưới đây là của Tiến sỹ Vũ Cao Phan được đăng trên Amari Tx dưới tiêu đề "Những điều không thể không nói ra" 
Ảnh minh họa
Có thể khẳng định, quan hệ hai nước Việt Nam và Trung Quốc là một mối quan hệ đặc biệt. Nó đặc biệt ở sự gần gụi, tương đồng. Không chỉ tương đồng về chế độ chính trị, về phương thức tổ chức xã hội và phát triển kinh tế trong thời kỳ hiện đại mà trước hết ở sự gần gụi láng giềng, ở sự gần gụi văn hóa, lịch sử. Ít nhất mối quan hệ này đã tồn tại từ khi lịch sử thành văn được ghi lại, hơn hai ngàn năm trước. Một ví dụ là ngay từ thời Tần Thủy Hoàng đã lưu truyền câu chuyện về tướng Lý Ông Trọng, một người to lớn dị thường và có tài thao lược của đất Giao Chỉ, làm đến chức Tư lệ hiệu úy của nước Tần, giúp Hoàng đế dẹp loạn miền Tây Vực khiến quân Hung nô còn khiếp oai ngay cả khi ông đã nằm xuống.

Làm cho nhân dân hai nước hiểu được, hiểu đúng mối quan hệ lịch sử này là một việc làm cần thiết, thậm chí rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay, khi mà những sự tranh chấp về lợi ích lãnh thổ có nguy cơ vượt khỏi tầm kiểm soát và phủ mây đen lên mối quan hệ ấy. Trong tinh thần đó, chúng tôi hoan nghênh loạt bài viết dưới mái chung: “Những điều không thể không nói ra” mà Tạp chí “Tri thức thế giới” của Trung Quốc đăng tải vào dịp này năm ngoái. Đó là các bài: “Lịch sử và sự thật: Diễn biến quan hệ Trung – Việt trước năm 1949”(Tôn Hồng Niên, Nghiên cứu viên Trung tâm Nghiên cứu lịch sử biên cương, Viện KHXH Trung Quốc) –“Quan hệ Trung – Việt từ 1949 đến nay” (Vu Hướng Đông, Giám đốc Học viện Chủ nghĩa Mác, Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) – “Những biến thiên trăm năm qua trong chiến lược ngoại giao với các nước lớn của Việt Nam” (Tôn Hồng Niên, Vương Thâm, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) – “Viện trợ Trung Quốc cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ” (Lục Đức An, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) và “Vấn đề biên giới trên đất liền và trên biển giữa Việt Nam với các nước láng giềng Đông Nam Á” (Trương Minh Lượng, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Đại học Tế Nam).

Tất cả được đăng trong số 14, ra tháng 7 năm 2011. Như cách đặt vấn đề và như chúng tôi có thể hiểu, các tác giả muốn vẽ lên một bức tranh chân thực về những gì diễn ra trước hết trong quan hệ Việt – Trung, và sau nữa là trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, qua đó góp phần điều chỉnh nhận thức của người này người khác, ở phía bên này hoặc bên kia.Ý định ấy là tốt và cần thiết. Lời lẽ trong các bài viết cũng tương đối vừa phải, trừ vài ngoại lệ.

Chú thích: Những chữ để nghiêng trong bài này là trích từ “Những điều không thể không nói ra” hoặc từ các cuốn sách xuất bản ở Trung Quốc (TG).

Tuy nhiên, hoặc do quan điểm, nhận thức, hoặc do nguồn tư liệu dựa vào thiếu khách quan, nhiều nội dung trong loạt bài này đã không phản ánh sự thật, làm hỏng mục đích mà người viết có thể muốn đặt ra.

Vì một số lý do, trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chưa có ý định trao đổi toàn bộ và triệt để các vấn đề mà “Những điều không thể không nói ra” đã đề cập. Chúng ta còn có nhiều dịp và nhiều cách để cùng nhau tìm đến sự thật.


*

* *
Lịch sử thành văn của nước Việt – nghĩa là những điều được ghi lại trên giấy trắng mực đen – xuất hiện khá muộn, hàng ngàn năm sau công nguyên. Hai lý do chủ yếu: chữ viết xuất hiện muộn và cả một thiên niên kỷ mất độc lập được gọi là “thời kỳ Bắc thuộc” – một ngàn năm Bắc thuộc. Lịch sử Việt Nam trong những năm tháng này còn là một phần lịch sử Trung Hoa, điều dù muốn hay không cũng phải thừa nhận. Và dù muốn hay không cũng phải thừa nhận, với Việt Nam một ngàn năm ấy là một ngàn năm không bình yên, nói một cách khiêm tốn. Liệu có cần thiết phải nhắc lại những chuyện “sát phu, hiếp phụ”, “bỏ xác cho hổ đói lên rừng bắt chim chả, chặt ngà voi; chịu để giao long ăn thịt xuống biển mò ngọc trai, kiếm đồi mồi” cung phụng các quan cai trị? Rồi một ngàn năm độc lập, những cuộc xâm lược từ phương Bắc đã để lại những gì tưởng chỉ cần nhắc đến một câu của thi hào Nguyễn Trãi thế kỷ thứ XV, “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn / Vùi con đỏ dưới hầm tai họa”, viết trong “Đại cáo bình Ngô”. Những cuộc xâm lược của Tống, Nguyên, Minh, Thanh trong kỷ nguyên độc lập của Việt Nam đều hết sức khốc liệt, đâu có phải quan hệ giữa hai nước trong thời kỳ này “trên tổng thể là hòa bình, hữu nghị”. Tác giả của “Diễn biến quan hệ Việt – Trung trước năm 1949” chỉ thừa nhận một cuộc xâm lược đến từ phía Bắc, đó là cuộc xâm lược của nhà Nguyên trong thời kỳ này (và lịch sử chính thống của Trung Quốc cũng chỉ thừa nhận như vậy) còn thì “phần nhiều những cuộc xung đột và chiến tranh giữa hai nước là do giới phong kiến Việt Nam quấy nhiễu biên giới Trung Quốc gây ra”. Cần phải nói rõ những điều này. Một, chỉ một lần duy nhất nhà nước phong kiến Việt Nam có cuộc Bắc phạt và cũng chỉ với một mục đích duy nhất là phá cuộc chuẩn bị xâm lược Việt Nam của nhà Tống. Đó là vào ngay thời kỳ đầu sau Bắc thuộc, năm 1075, nhà Lý (Việt Nam) phát hiện nhà Tống (Trung Quốc) lập các tiền đồn tích trữ binh lương ở Quảng Tây nhằm chuẩn bị tiến đánh “Giao Châu” (nước Việt) nên đã xuất quân, đánh xong lập tức rút ngay về phòng ngự mà vẫn không tránh khỏi cuộc tiến quân ồ ạt sau đó của nhà Tống. Hai, có lẽ chỉ dựa vào chính sử do các triều đại phong kiến Trung Quốc để lại mà các tác giả của “Những điều không thể không nói ra” không thừa nhận có các cuộc xâm lược Việt Nam của Tống, Minh, Thanh. Bởi vì“chính sử” luôn tìm cách mô tả đấy là những cuộc hành binh khôi phục trật tự, lập lại ngôi vương chính danh được các triều đình phong kiến Trung Quốc thừa nhận (nhưng là những phế để, phế triều đã bị sóng triều lịch sử Việt Nam gom về bến rác). Sự thực như thế nào? Lấy ví dụ cuộc tiến quân dưới danh nghĩa “phù Trần, diệt Hồ” của nhà Minh đầu thế kỷ XV. “Phù Trần diệt Hồ” ở chỗ nào khi diệt xong cha con Hồ Quý Ly rồi liền bắt các kỳ hào, bô lão ký vào một tờ biểu dâng lên rằng: “Nay họ Trần không còn ai nữa, vả đất An Nam vốn là Giao Châu ngày trước, xin được đặt lại quận huyện như cũ” (theo “Minh sử”). Nhưng có một thực tế là con cháu nhà Trần vẫn nổi lên ầm ầm chống lại quân Minh, lập nên một triều đại được lịch sử gọi là “kỷ Hậu Trần” thì người Minh lại gọi là “giặc” và phái binh đàn áp! Một thời kỳ “Bắc thuộc mới” kéo dài 20 năm với chính sách đồng hóa quyết liệt (tất cả sử sách nước Nam đều bị thu hết về Kim Lăng), với sưu cao thuế nặng, bắt phu khai mỏ vàng mỏ bạc rồi “chim trả, ngà voi” tận thu tận diệt khiến dân tình vô cùng khổ sở. Phải một cuộc kháng chiến gian khổ máu xương dằng dặc 10 năm của Lê Lợi – Nguyễn Trãi cuối cùng mới đưa được “cuộc phù Trần” về bên kia biên giới. Làm sao có thể nói trong kỷ nguyên độc lập của Việt Nam ở thiên niên kỷ thứ hai, “giới thống trị Trung Quốc bấy giờ hoàn toàn không chủ động can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam” được? Và ngay trong thời kỳ được coi là giao kết hòa hiếu giữa hai nước trong quan hệ “tông phiên” thì các triều đình phong kiến Việt Nam vẫn luôn bị sách nhiễu, áp lực. Chỉ riêng việc đòi hỏi cung phụng, cống nạp – nhất là những sản vật quý hiếm – cũng trở thành gánh nặng tài chính cho nước Việt, gánh nặng khổ ải cho thứ dân, không thể nói là “không đáng kể”, “tổng giá trị (của các đồ cống nạp) luôn thấp hơn đồ “hồi tặng” (từ phía triều đình Trung Quốc)” được.

Năm 1950, khi đích thân tiếp và tiễn đoàn cố vấn quân sự của nước Trung Hoa nhân dân sang giúp Việt Nam kháng Pháp, Chủ tịch Mao Trạch Đông căn dặn: “Các đồng chí phải nói với nhân dân Việt Nam rằng tổ tiên chúng ta đã có lỗi với Việt Nam, chúng ta xin tạ tội và nguyện một lòng một dạ ra sức giúp Việt Nam đánh bại thực dân Pháp” (trích Hồi ký bằng tiếng Hán của các Cố vấn Trương Quang Hoa, Vũ Hóa Thẩm, Đặng Kim Ba). Thủ tướng Chu Ân Lai trong lần đầu tiên sang thăm Việt Nam năm 1955, việc đầu tiên mà ông làm là đến thắp hương Đền thờ Hai Bà Trưng, những nữ tướng Việt Nam kiệt xuất trong thế kỷ thứ nhất cầm quân nổi dậy chống quân xâm lược nhà Hán và đã anh dũng hy sinh. Thiết nghĩ không cần phải dẫn thêm những ý kiến phát biểu của các nhà lãnh đạo khác như Diệp Kiếm Anh, Vi Quốc Thanh… xung quanh vấn đề này.

Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định, mối quan hệ tổng thể giữa hai nước láng giềng Việt Nam và Trung Quốc suốt mấy ngàn năm lịch sử không phải là một bức tranh tối màu, nhất là quan hệ dân gian. Trong sự phát triển và trưởng thành của mình, người Việt, nước Việt đã tiếp thu và học tập được nhiều từ nền văn hóa – văn minh Trung Hoa. Đấy cũng là một trong nguyên nhân dẫn đến sự gần gụi, hiểu biết giữa nhân dân hai nước. Đấy cũng là thực tế hiển nhiên không thể phủ định. Không thể có chuyện giới nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lịch sử Việt Nam trong trăn trở tìm về nguồn cội lại bỏ qua những giá trị xác định để thay bằng những lập luận “khoác lác”, “hư cấu”? Càng không thể tưởng tượng ra rằng nó có mục đích “đưa vào nội dung giáo dục quốc dân” để làm băng hoại quan hệ hữu nghị giữa hai nước, hai dân tộc.

Nửa sau của thế kỷ trước (thế kỷ XX), Việt Nam đã phải liên tục chiến đấu chống lại hai cuộc chiến tranh không cân sức: Kháng Pháp và kháng Mỹ. Cùng với nhân dân toàn thế giới, Trung Quốc đã có sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn, có hiệu quả về cả vật chất lẫn tinh thần cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Vào thời kỳ cao điểm, khi Mỹ trực tiếp đổ quân vào tham chiến – có lúc lên đến hơn nửa triệu – nhiều chính phủ và tổ chức nhân dân trên thế giới đã tuyên bố sẵn sàng gửi quân chí nguyện đến giúp đỡ Việt Nam, nếu được phía Việt Nam chấp nhận. Với tinh thần tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính và cũng xét tới các hệ lụy, Chính phủ Việt Nam không chủ trương nhận quân tình nguyện chiến đấu, đặc biệt là bộ binh, và đã bày tỏ sự cảm ơn chân thành của mình đến thiện chí năm châu. Những quân nhân nước ngoài có mặt ở phía Bắc Việt Nam lúc ấy bao gồm một số lượng hạn chế các cố vấn và chuyên gia quân sự Liên Xô trong các binh chủng kỹ thuật (tên lửa phòng không, không quân… ), một vài biên đội không quân của CHDCND Triều Tiên mà lãnh đạo nước này mong muốn được đưa sang để thực tập chiến đấu. Chính phủ Trung Quốc cũng đã nhiều lần bày tỏ thiện chí sẵn sàng gửi quân tình nguyện đến Việt Nam trong các tuyên bố công khai cũng như trong những lần gặp gỡ trực tiếp lãnh đạo Việt Nam. Kết quả là đã dẫn tới các ký kết giữa hai nước về việc đưa bộ đội hậu cần (công binh) của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc vào giúp việc khắc phục giao thông bị phá hoại bởi cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ ở Miền Bắc. Trung Quốc cũng đề nghị đưa vào cả bộ đội pháo cao xạ để bảo vệ lực lượng công binh tác nghiệp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến lực lượng này. Người yêu cầu các nhà lãnh đạo Quân đội Việt Nam không đưa bộ đội Trung Quốc đến những vùng quá khó khăn ác liệt vì bạn chưa quen. Thời kỳ đó, không quân Mỹ chia chiến trường Bắc Việt Nam thành ba vùng tác chiến: Vùng đánh phá tự do suốt ngày đêm từ Thanh Hóa trở vào vĩ tuyến 17, là vùng ác liệt nhất. Vùng thứ hai, vùng đánh phá có trọng điểm bao gồm Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và các vị trí chiến lược phía nam đường số 5. Vùng thứ ba, đánh phá có chọn lọc, là các tuyến giao thông phía bắc đường số 5. Chấp hành chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bộ đội Trung Quốc đã được bố trí tác nghiệp trong vùng từ phía bắc đường số 5 đến biên giới Việt – Trung. Các lực lượng chí nguyện Quân Giải phòng Trung Quốc đã chiến đấu, phục vụ chiến đấu dũng cảm, quên mình vì nghĩa lớn, đồng cam cộng khổ với nhân dân Việt Nam, không chỉ góp phần khắc phục đường sá bị phá hoại, giúp Việt Nam làm mới nhiều con đường, nhiều công trình mà còn tham gia chiến đấu, trực tiếp bắn rơi hơn 100 máy bay Mỹ. Tổng cộng đã có hơn 310.000 lượt bộ đội Trung Quốc có mặt trên chiến trường miền Bắc Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1968 (nói chung, 6 tháng thay quân một lần) trong đó hơn 1000 chiến sĩ hy sinh (hơn 4000, bao gồm cả các chiến sĩ bị thương). Theo đề nghị của phía Trung Quốc, các liệt sĩ Trung Quốc đã được chôn cất tại trên 40 nghĩa trang ở Việt Nam và hiện nay vẫn được chính quyền và nhân dân các địa phương coi sóc, tu tạo.

3. Phía Trung Quốc từng xuất bản một cuốn sách công bố 7 lần xuất quân ra nước ngoài của Quân Giải phóng Nhân dân từ sau ngày thành lập nước CHND Trung Hoa, trong đó quá nửa là xuất quân sang Việt Nam. Điều đau lòng là, hầu hết những lần xuất quân đến Việt Nam ấy đều được mô tả là để “đánh trả”, “trừng phạt” cái quốc gia mà Trung Quốc từng coi là anh em (đến bây giờ có lẽ vẫn là “anh em” vì lãnh đạo hai bên nói chung vẫn ôm hôn nhau theo kiểu “các nước anh em” thường làm).

Chúng tôi sẽ không đề cập đến ở đây bản chất các cuộc “đánh trả” và “trừng phạt” ấy – xin trở lại một dịp khác, nếu cần thiết – mà chỉ xin trao đổi những gì liên quan được nêu ra từ các bài viết trong “Những điều không thể không nói ra”.

Thứ nhất, phải khẳng định rằng, trừ cuộc “tiến quân” trong giai đoạn 1965 -1968 nhằm chi viện nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ mà tôi vừa đề cập, tất cả các cuộc tiến quân khác (1974: đánh chiếm Hoàng Sa – Trung Quốc gọi là Tây Sa; 1979: Chiến tranh biên giới Việt – Trung; 1983 – 1984: đánh chiếm các điểm cao chiến lược ở tỉnh Hà Giang – Trung Quốc gọi là Lão Sơn (và xung quanh); 1988: đánh chiếm một số đảo ở Trường Sa – Trung Quốc gọi là Nam Sa) đều do Trung Quốc âm thầm khởi binh rồi bất ngờ đánh úp, nhằm lúc đối phương chưa sẵn sàng chuẩn bị. Tất cả đều giống nhau, không ngoại lệ. Làm gì có cái gọi là “sự xâm lăng, khiêu khích từ phía Việt Nam”? Mưu kế chiến tranh từ thời Tôn Tử đã chẳng lạ gì phương sách mà sau này L.Hart và nhiều tác gia quân sự đông tây phải ngả mũ, “Nguyên cớ ư? Ở ta!”.

Thêm nữa, sau năm 1975, mặc dù giành được nguyện vọng ngàn đời là độc lập dân tộc, thống nhất non sông, Việt Nam hoàn toàn bị kiệt quệ bởi ba mươi năm chiến tranh (nền kinh tế Việt Nam bị tụt đến đáy trong thập niên 75 – 85 là một minh chứng). Lo ăn, lo mặc cho dân mình còn chưa xong lẽ nào Việt Nam còn muốn mang sức kiệt đi đánh nước người? Mà đó lại là quốc gia hùng mạnh Trung Quốc và còn hơn thế nữa, một đất nước đã có sự ủng hộ to lớn cho Việt Nam trong kháng chiến! Ơn vừa mới đó mà đã quên được ư? Trọng ơn là truyền thống của dân tộc này, không ai có thể bới ra được chứng cứ ngược lại!

Và do đó phải thừa nhận là Việt Nam đã bị bất ngờ khi cuộc chiến tranh tháng 2/1979 xảy ra. Có thể có xung đột cường độ thấp nhưng là cả một cuộc chiến tranh với sự tiến quân ồ ạt của hàng chục sư đoàn đối phương trên toàn tuyến biên giới là điều chưa được phía Việt Nam tiên liệu.

Thứ hai, cần phải nói rõ một điều: Việt Nam chưa bao giờ tuyên bố Trường Sa và Hoàng Sa (Nam Sa và Tây Sa) là của một quốc gia nào khác ngoài Việt Nam. Và càng không có việc Việt Nam đã “hoàn toàn thay đổi lập trường” về vấn đề này. Câu chuyện như sau: Năm 1958, sau khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền về lãnh hải 12 hải lý, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi thư cho Thủ tướng Chu Ân Lai bày tỏ sự ủng hộ tuyên bố ấy, chỉ đơn giản như vậy. Sự ủng hộ đó là thiện chí nếu tính tới cuộc xung đột giữa nước Trung Hoa nhân dân với Đài Loan trong vùng Kim Môn, Mã Tổ lúc bấy giờ. Còn trong năm 1974, khi xảy ra sự việc Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa (Tây Sa), chính các bên đang quản lý thực tế vùng biển này là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối.

Thứ ba. Bắt đầu từ sự xâm lược của thực dân Pháp thế kỷ XIX lập nên xứ Đông Dương thuộc Pháp rồi tiếp đến là cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra giữa thế kỷ XX mà mà vận mệnh của ba nước Đông Dương gắn chặt với nhau: chung một kẻ thù, chung một mục đích giải phóng và độc lập dân tộc. Trong cuộc đấu tranh chung, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của nhân dân Lào, nhân dân Campuchia anh em và Việt Nam cũng hết lòng vì đất nước và nhân dân bạn. Làm theo lời dạy đầy ý nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Giúp bạn là giúp mình”, hàng chục vạn chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam đã không tiếc xương máu chiến đấu quên mình trên đất nước Lào và đất nước Campuchia, không nhằm một mục đích tiểu bá, đại bá hay Liên bang Đông Dương nào hết. Một khi chiến tranh kết thúc, tình hình yên ổn trở lại và được nhân dân bạn cho phép, tất cả các lực lượng này đã rút hết về nước, bao gồm cả những liệt sĩ đã nằm xuống trên đất Lào, Campuchia cũng được quy tập về đất mẹ Việt Nam (con số được quy tập đến nay đã là gần 50.000 liệt sĩ). Việt Nam, Lào, Campuchia ngày nay lại cùng đoàn kết, giúp đỡ nhau phát triển đất nước mình, với tư cách là những quốc gia độc lập, có chế độ chính trị riêng biệt, điều mà cả thế giới đều thấy rõ.

Đáng ngạc nhiên là trong bài “Vấn đề biên giới trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á”,tác giả gợi lại vấn đề không có thực là “lãnh thổ K.K.K” và “một phần đất đai Campuchia bị mất vào tay Việt Nam”. Với mục đích gì vậy? Tác giả có biết rằng trong tháng 8 năm 2012 vừa qua chính đại diện của nước CHND Trung Hoa tại Liên Hợp quốc đã bỏ phiếu bác bỏ yêu cầu được có tiếng nói tại tổ chức quốc tế này của cái gọi là“phong trào K.K.K”? Sự trung thực cộng sản – nếu có thể gọi như vậy – là ở chỗ nào?

Thứ tư. Có những sự thực ít người biết đến, nhưng chẳng lẽ những người chủ trì một tạp chí có tên tuổi trong ngành như “Thế giới tri thức” lại ở trong trường hợp như vậy? Tôi muốn đề cập câu chuyện về điểm cao khống chế 1509 mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn. Trong bài “Quan hệ Việt – Trung từ năm 1949 đến nay”, tác giả đã mô tả những trận đánh đẫm máu, ác liệt để giành khu vực này vào năm 1984 như là cuộc chiến đấu vinh quang chống lại sự xâm lược của quân đội Việt Nam. Hơn nữa, chúng tôi còn được biết, nơi đây nay đang trở thành một điểm du lịch của phía Trung Quốc với những trưng bày và thuyết minh bất chấp chân lý, bất chấp mọi sự nhẫn nhịn, trên thực tế phá hoại quan hệ Việt-Trung mà các bạn bày tỏ muốn vun đắp. Liệu có cần phải đánh thức “sự thật lịch sử”?

Cuối cùng, về câu chuyện hoang đường “Việt Nam bắt nạt Trung Quốc”, “Việt Nam luôn áp dụng phương châm đối đầu trực diện với Trung Quốc, một bước không lùi”, để thay lời kết luận, tôi xin kể hai chuyện nhỏ: Tháng 1/1979, khi quân đội Việt Nam mở chiến dịch phản công đánh trả cuộc xâm lấn toàn diện của chế độ Pôn Pốt với một tốc độ tiến quân mà các hãng thông tin trên thế giới mô tả là nhanh như điện sẹt, các mũi tiến công và vu hồi đã sẵn sàng khép chặt biên giới Campuchia – Thái Lan trong “tích tắc”, thì lập tức nhận được lệnh buông lỏng, nhờ đó mà bộ sậu lãnh đạo Khơme đỏ chạy thoát. Nhưng mục đích đã đạt được: Không để một ai trong số hàng ngàn chuyên gia cố vấn quân sự và dân sự “người nước ngoài” bị kẹt lại hoặc bị bắt giữ. Câu chuyện thứ hai là tháng 2 năm ấy (1979), bị bất ngờ bởi cuộc tấn công của Quân đội Trung Quốc, các lực lượng phòng ngự Việt Nam tạm thời bị đẩy lui khỏi tuyến biên giới. Nhưng ngay sau cuộc phòng ngự, bộ đội Việt Nam đã tổ chức phản công và một chiến dịch – chiến lược tiến công quy mô với lực lượng mạnh cả xung lực lẫn hỏa lực nhằm vào đối phương đang tập trung ở một thành phố biên giới đã được triển khai. Mọi sự đã sẵn sàng và đây chắc chắn là một đòn giáng trả mạnh mẽ, gây thương vong nặng nề. Chỉ ít giờ trước thời điểm nổ súng, chiến dịch được hủy bỏ khi phía Trung Quốc tuyên bố bắt đầu cuộc triệt thoái.

Thẳng thắn và mà nhìn nhận, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc bản chất là một mối quan hệ tích cực và cần phải như vậy. Xin được đề cập đến vào một dịp khác. Bài viết này của tôi không có mục đích tranh luận, ngay cả về phương diện học thuật. Nó đơn giản chỉ là“những điều không thể không nói ra”, không thể không làm rõ vậy thôi.
(Blog Mõ Làng)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 7 tháng 8, 2014

Kinh Tế Trung Quốc Vào Khúc Quanh

Hùng Tâm 

Và Có Thể Lật   

*  Kinh tế Trung Quốc vẫn lao vào hướng cũ *


Muốn hiểu rõ rủi ro của Trung Quốc trong giai đoạn tới, chúng ta cần biết 1) vài định lý kinh tế của mọi quốc gia hay thời đại, rồi 2) đối chiếu với thực tế chính trị của xứ này và rà soát lại 3) xem lãnh đạo Bắc Kinh có thể làm những gì để giải quyết các bài toán kinh tế xã hội tích lũy từ mấy chục năm nay. Kết luận hợp lý của tiến trình này là Bắc Kinh không có nhiều giải pháp, và có làm gì thì cũng đi vào một khúc quanh dễ lật. 

Trong giới hạn của một bài viết, "Hồ Sơ Người-Việt" sẽ cố trình bày một cách đơn giản một thực tế vô cùng phức tạp - đề tài của một cuốn sách!



BÀI TOÁN PHÁT TRIỂN


Bài toán kinh tế của nhân loại, ở mọi nơi vào mọi thời, là sự khan hiếm. Chúng ta có nhu cầu vượt quá khả năng sản xuất cho nên lúc nào cũng thấy thiếu thốn.

Từ thuở khai thiên lập địa, giải quyết sự thiếu thốn ấy là một tiến trình tự nhiên và được chúng ta mặc nhiên thực hiện hàng ngày hàng giờ mà không biết. Chỉ mới vài trăm năm trở lại, người ta mới tổng hợp những kiến thức về việc giải quyết sự khan hiếm và tìm ra một số nguyên tắc giải thích. Kiến thức đó được gọi là "kinh tế học", hay đúng hơn, do một phát minh của nhà tư tưởng Adam Smith, "kinh tế chính trị học".

Thí dụ cụ thể cho tiến trình trừu tượng này là tôi chỉ có 100 đồng, nhưng nếu lập gia đình rồi sinh con đẻ cái thì cần tiêu thụ nhiều hơn khoản lợi tức đó. Hoặc với lợi tức có hạn, tôi không muốn chỉ ăn cơm ăn cháo mà cần thêm thịt cá cho bữa cơm, và thay vì một tháng chỉ có 15 ký gạo tôi ước mơ có thêm ký thịt nên thấy rằng mình bị thiếu thốn.

Cách giải quyết sự thiếu thốn ấy là.... không xài hết trăm bạc mà cố dành dụm ba chục của khoản lợi tức đó đem đầu tư để tháng sau hay năm tới thì có thêm lợi tức khả dĩ thoả mãn nhu cầu. Tôi gọi khoản lợi tức ba chục bạc được tiết kiệm ấy là tư bản. Nếu sử dụng tư bản để giải quyết bài toán khan hiếm ấy mà thành công thì tôi có thể nghĩ đến chữ phát đạt.

Hoàn cảnh của một quốc gia cũng không khác. Tạo ra sự phát đạt ấy là tiến trình phát triển.

Giới nghiên cứu kinh tế có nghiệm thấy rằng nhiều quốc gia đã thành công trong phát triển để thành nước giàu mạnh, "đã phát triển" - developed. Nhưng đa số còn lại thì chưa, vẫn thuộc loại "đang phát triển", developing. Bí quyết thành công không chỉ là có thể tiết kiệm được 30 đồng, hay 50 đồng, trong số lợi tức trăm bạc để làm tư bản đem đi đầu tư. Bí quyết thành công không chỉ là gia tăng lợi tức, nghĩa là tăng trưởng, mà là sử dụng lợi tức đó để phát triển.

Bí quyết thành công không là số lượng, 30 hay 50% của lợi tức nguyên thủy, mà là cách sử dụng. Đây là bài toán thuộc về phẩm chất hơn là số lượng. Chữ "chất lượng" nhiều người trong nước đang dùng và ngoài này lười biếng dùng theo phản ảnh sự thiếu hiểu biết về kinh tế hay ngôn ngữ học vì không phân biệt phẩm với lượng!

Một Giáo sư kinh tế của Đại học MIT, Giải Nobel năm 1987, là Robert Solow đã nghiên cứu kinh tế Hoa Kỳ và tìm ra một đặc tính: là trong đà tăng trưởng lợi tức của dân Mỹ thì "sự sáng tạo" đóng góp tới hơn 80%. Phần còn lại, dưới 20%, là do số tư bản đem vào đầu tư.

Xin thêm vài chữ giải thích. Tư bản đưa vào tiến trình đầu tư có thể là hữu hình, như đất đai, máy móc, nguyên liệu hay sức lao động. Nhưng hoàn cảnh sử dụng nguồn tài nguyên đó mới quan trọng. Khái niệm innovation của Solow thuộc về phẩm hơn lượng và dẫn ta đến khái niệm khác, là "tư bản xã hội", hoặc tư bản vô hình: hệ thống luật lệ, quyền sở hữu, chế độ thuế khóa, quy ước sinh hoạt, tinh thần tín nhiệm trong kinh doanh, nền tảng chính trị, v.v....

Các yếu tố vô hình ấy mới giúp quốc gia sử dụng tư bản hữu hình một cách tốt đẹp, có hiệu năng, hiệu suất, v.v...

Nôm na là nhờ môi trường sáng tạo, dân Mỹ sử dụng 10 đồng tư bản cho đầu tư mà có hiệu năng cao hơn nhiều người huy động đến 30 đồng. Trung Quốc huy động đến 50 đồng mà thiếu môi trường sáng tạo, có loại tư bản xã hội lạc hậu nên sau hơn 30 năm tăng trưởng vẫn là một xứ "đang phát triển".

Nghiêm trọng hơn thế, còn trôi vào khúc quanh và có thể bị khủng hoảng.


TỪ TẦN THỦY HOÀNG ĐẾ, STALIN ĐẾN TẬP CẬN BÌNH


Tần Thủy Hoàng Đế đã thống nhất nước Tầu, thiết lập chế độ quận huyện, đặt ra quy ước sinh hoạt (một bước cải tiến hệ thống "tư bản xã hội") và huy động sức dân xây dựng Vạn lý Trường thành nguy nga vĩ đại. Nếu thời đó mà có khoa kinh tế chính trị học, thì công trình xây dựng này được gọi là "đầu tư", có giải quyết nạn thất nghiệp và tạo ra sự tăng trưởng. Nhưng không bền và sau đó nước Tầu có loạn!

Lãnh đạo Liên bang Xô viết thời Chiến tranh lạnh, Josef Stalin cũng có nhả năng huy động tư bản rất mạnh, đưa tài nguyên vô cùng giàu có và lực lượng lao động dồi dào vào đầu tư, với sự chỉ đạo tưởng là hợp lý của hệ thống kinh tế kế hoạch. Y như Tần Thủy Hoàng Đế, hay Mao Trạch Đông, hệ thống huy động của nhà nước Xô viết đã vơ vét tài nguyên quốc dân cho tăng trưởng, và bắn vệ tinh Sputnik lên trời, mà vẫn không có phát triển. Nước Nga vẫn nghèo, dân Nga vẫn khổ và Liên Xô tan rã.

Sau khi Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách, 35 năm về trước, nước Tầu đã ra khỏi tình trạng bần cùng và loạn lạc thời Mao và có đà tăng trưởng cao hơn trước. Chính thức là 10% một năm trong ba chục năm liền. Lãnh đạo xứ này, từ Đặng Tiểu Bình đến Giang Trạch Dân rồi Hồ Cẩm Đào, đã áp dụng một số quy luật của kinh tế thị trường nhưng vẫn nắm độc quyền huy động tư bản.

Lực lượng lao động, nguyên nhiên vật liệu và đủ loại tư bản hữu hình như đất đai, máy móc, hay hạ tầng cơ sở vật chất, đã được nhà nước tận dụng với số lượng kỷ lục - của lịch sử Trung Quốc – và tạo ra sự tăng trưởng về hình thức mà vẫn không có phát triển trong thực tế.

Như nhiều quốc gia khác, nước Tầu đã huy động tư bản cho phát triển với chiến lược gia tăng đầu tư về lượng mà thiếu phẩm, vì tư bản xã hội vẫn bị bó trong tư duy xã hội chủ nghĩa và thiếu các định chế cần thiết cho phát triển. Thiếu cái phần "sáng tạo" mà Solow đã thấy tại Hoa Kỳ.

Hậu quả vô hình về chính trị là tư bản xã hội bị bóp méo, lệch lạc và tạo ra đặc lợi cho những kẻ có đặc quyền, các "nhóm lợi ích. Tham nhũng chỉ là một cách gọi, chứ chế độ độc quyền trưng thu của nhà nước còn đè nén sức tiêu thụ của người dân và dẫn tới sự bất mãn lan rộng. Hậu quả hữu hình về kinh tế là nạn sản xuất thừa chỗ này mà thiếu ở chỗ khác, và hiện tượng bong bóng đầu cơ về gia cư, địa ốc. Quan trọng nhất và càng ngày càng tỏ lộ là những núi nợ khỗng lồ.

Nhiều nước "đang phát triển" đã từng bị như vậy. Nhưng Trung Quốc lại khác vì số lượng quá lớn được phân phối quá sai nên gây ra vấn đề về phẩm. Đấy là bài toán vừa kinh tế vừa xã hội và chắc chắn là chính trị của nhân vật đang lên là Chủ tịch Tập Cận Bình.


NAN ĐỀ CỦA TẬP CẬN BÌNH


Các chuyên gia kinh tế và nhiều tổ hợp đầu tư quốc tế đã chỉ ra bài toán của Tập Cận Bình ở mấy con số sau đây.

Kinh tế Trung Quốc vẫn lấy sức đẩy từ đầu tư và ức chế tiêu thụ của các hộ gia đình. Từ nhiều năm qua, tiêu thụ của tư nhân chẳng những không tăng mà còn giảm, tới năm ngoái thì chỉ có 34% của Tổng sản lượng, so với 52% của Nam Hàn, 57% của Đức, 61% của Nhật và gần 70% của Hoa Kỳ là nơi mà "giới tiêu thụ là vua".

Lượng đầu tư đến hơn 50% của Trung Quốc lại trút vào các dự án ít giá trị kinh tế, dẫn tới sản xuất thừa, dù có được bút ghi là tăng trưởng thì cũng chỉ là tồn kho ế ẩm, nhà không người ở, phi cảng vắng khách. Không những vậy, từ 2008, trong sáu năm qua, Trung Quốc còn tài trợ đà tăng trưởng đó bằng tín dụng, ào ạt chảy vào khu vực kinh tế nhà nước, các công ty đầu tư của đảng bộ ở địa phương.

Số tín dụng hay dư nợ từ 147% của Tổng sản lượng nay đã lên tới 251%. Một công ty đầu tư của Mỹ còn báo riêng cho các thân chủ là tổng số nợ của Trung Quốc, cả công lẫn tư, nay đã vượt 400% của Tổng sản lượng. Trong số này, những khoản nợ xấu được chính thức ước lượng là 1%. Thực tế thì có thể ở mức 25% hay thậm chí 40%. Tức là bằng hoặc còn hơn Tổng sản lượng.

Cả nước vay tiền gấp bốn lợi tức để một năm sản xuất ra tám ngàn tỷ đồng mà có thể mất nợ đến 10 ngàn tỷ - là ít. Kinh tế Trung Quốc có thể phá sản hay vỡ nợ vì khối nợ ung thối vĩ đại. Hậu quả sẽ là một vụ khủng hoảng lan ra toàn cầu, còn dữ dội hơn những gì xảy ra cho Hoa Kỳ và Âu Châu sau năm 2008.

Lên cầm quyền từ cuối năm kia, ban hành quyết định cải cách từ cuối năm ngoái (Nghị quyết Ba của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương vào Tháng 11 năm 2013), Tập Cận Bình ý thức được mối nguy trước mặt. Cho nên phải chuyển hướng kinh tế qua khu vực dịch vụ và chế biến cao cấp, gia tăng sức tiêu thụ cho tư nhân, v.v.... và chấp nhận một đà tăng trưởng thấp hơn. Giải pháp khả thể là phải có đà tăng trưởng khoảng 4-5% một năm mà thôi

Và muốn chủ động chuyển hướng như vậy, phải đánh bung những lực cản xuất phát ngay trong bộ máy đảng và hệ thống kinh tế nhà nước. Nhưng dù đã ráo riết tập trung quyền hành để bẻ tay lái hầu cỗ xe khỏi lao xuống vực - Tập Cận Bình vẫn bất lực.

Kinh tế Trung Quốc vẫn lao vào hướng cũ.

Tháng Tư vừa qua, Quốc vụ viện tức là Hội đồng Chính phủ, do Lý Khắc Cường làm Tổng lý, đã kín đáo thông báo một số quyết định kinh tế sau đây: 1) gia tăng công chi cho các dự án hỏa xa, chung cư rẻ tiền, và các vùng ngoại ô nhà tôn vách lá để bù vào sự giảm sút tiêu thụ của tư nhân; 2) cắt lãi suất trong một số khu vực nhất định để mở vòi tín dụng; 3) tung tiền chuộc nợ để tránh nạn doanh nghiệp bị phá sản; và 4) giảm thuế cho các doanh nghiệp loại nhỏ và vừa để nâng cao khả năng sản xuất của tư doanh trước sức nặng và trì trệ của hệ thống quốc doanh.

Nói cho dễ hiểu, lãnh đạo Trung Quốc không dám đạp thắng cho cỗ xe chạy chậm hơn hầu bẻ lái qua hướng khác. Ngược lại, họ vẫn châm thêm tín dụng và bảo đảm là kinh tế Trung Quốc vẫn đạt chỉ tiêu tăng trưởng năm nay là 7,5%. Mà bơm thêm tín dụng có nghĩa là chất thêm một núi nợ xấu. Biện pháp kích thích ngấm ngầm và nhẹ nhàng ấy tô điểm cho cái bề mặt là kinh tế vẫn tăng trưởng mà thực tế là đẩy cho cỗ xe chạy nhanh hơn.

Trong khi ấy, Tập Cận Bình ráo riết mở rộng chiến dịch diệt trừ tham nhũng và nắn gân cả thành phần đảng viên đã từng lên tới cấp lãnh đạo. Ông ta có thể đánh vào các trung tâm quyền lực đã gây ra nhiều vấn đề kinh tế nên đang phải cùng lúc giải quyết hai bài toán kinh tế và chính trị. Hai bài toán là hai mặt của một đồng bạc xã hội chủ nghĩa và phải cần cả chục năm sửa đổi thì mới có kết quả. Trong khi đó, khủng hoảng có thể xảy ra trong một vài năm.

Tập Cận Bình có đủ mọi quyền hành, nhưng không có thời giờ.

__________________________

Kết luận ở đây là gì?


Trung Quốc đang ở vào một khúc quanh cực nguy hiểm, mấy chục năm mới thấy một lần. Lần trước, cách nay 40 năm là vào cao điểm của cuộc Cách mạng Văn hóa điên rồ. Nhờ Đặng Tiểu Bình giỏi xoay trở nên sau năm năm thì đổi loạn thành trị và mua được 30 năm tăng trưởng.

Kinh tế Trung Quốc có những phương tiện lớn lao được đưa vào sản xuất nên gây ấn tượng phát triển mà chỉ có tăng trưởng ở bề mặt. Lý do là thượng tầng chính trị ở trên vẫn có một đảng độc quyền thâu tóm quyền lực. Quyền lực có thể đem lại tiền tài cho một thiểu số, nhưng là những cái vòi của con bạch tuộc đã giam hãm kinh tế và đang dẫn xứ này đến bờ vực. Muốn giải quyết bài toán kinh tế thì phải cải cách về chính trị.

Đảng Cộng sản Trung Quốc dùng thành quả kinh tế biện minh cho quyền lãnh đạo độc tôn. Khi thành quả ấy chỉ là chuyện ảo và khủng hoảng bùng nổ thì đảng có thể đổ.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Không khó tìm ra câu trả lời vì sao xảy ra vụ này!

5 phụ nữ Việt bị chém ở Quảng Tây

3 trong số 5 phụ nữ Việt thiệt mạng khi một vụ tấn công bằng dao xảy ra tại thành phố Phòng Thành, thuộc khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc.
p1-1382-1406117740.jpg
Cảnh sát có mặt tại hiện trường và đưa nạn nhân đi cấp cứu. Ảnh: Legal.
Vụ việc xảy ra vào khoảng 20h hôm qua. Các nhân chứng cho biết, sau khi gây án, kẻ giết người đi bộ ngang nhiên trên đường để tìm một vũng nước rửa sạch vết máu trên cơ thể trước khi bỏ đi. Hung thủ là một người đàn ông Trung Quốc khoảng 35 tuổi, tóc ngắn, cao khoảng 1m65.
Một cư dân mạng có tên Xiangshuiyoudu đăng lên trang Weibo nói rằng đã chứng kiến một người đàn ông cầm dao đâm chém vào 4 người phụ nữ. Sau đó, người này từ trong phòng lao ra đường rồi biến mất.
Tại hiện trường, hai nạn nhân tử vong tại chỗ, một người khác không qua khỏi trên đường tới bệnh viện. Hai người bị thương nặng đang được điều trị. Báo chí địa phương đưa tin những người bị chém là phụ nữ Việt.
Nhận được điện thoại thông báo, cảnh sát đã có mặt tại hiện trường và tỏa khắp thành phố để truy lùng hung thủ. Trang tin Thepaper.cn dẫn lời một nhân viên cảnh sát thành phố nhận định, nhiều khả năng đây là vụ án mạng thông thường, không liên quan đến khủng bố.
Bình Minh

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Một vai anh vác hỏa mai, một tay xách súng với hai quả mìn- Cố hương đăm đắm mắt nhìn - Trời tây xa vẫn nhớ tìm lọ ho!

Ảnh thật hiếm về binh lính người Việt trong Thế chiến. I


 

Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày mở màn Thế chiến I, xem lại một số hình ảnh về binh lính người Việt tham chiến trong thành phần Quân đội Pháp.

Khi  Pháp thực hiện việc xâm lăng và cai trị Việt Nam (khi đó họ gọi là An Nam), để bình định thêm các thuộc địa và gây chiến với nhiều quốc gia khác, lực lượng binh lính người Việt được chiêu mộ để phục vụ cho mục đích chiến tranh này, dấu chân của họ đã in khắp các chiến trường Âu Phi.
Tại cảng Lyon - Pháp, những binh lính người Việt đầu tiên đặt chân lên đất Pháp để rồi từ đó ngang dọc khắp các chiến trường, chiến đấu tại những nơi họ chưa hề biết tới
Năm 1915, những người lính An Nam cập cảng Marseille cùng binh lính Pháp tham gia Chiến tranh thế giới thứ I (CTTG I)
Lính An Nam tại Saint-Raphael, đây là những người lính thiện chiến nhất trong chế độ bảo hộ Pháp đang trên đường ra mặt trận
Năm 1916, lính An Nam nghỉ chân trong lúc đóng quân cạnh Ypres- Bỉ
Người Pháp dùng rất nhiều lính Việt tại chiến trường Ypres
Năm 1914 - 1918 tại mặt trận sông Marne, binh lính An Nam trong các chiến hào
Năm 1916, lính An Nam tại chiến trường Hy Lạp xa xôi
Văn hóa Việt vẫn được những người lính mang theo tới tận trời Âu
Một hình ảnh rất thuần Việt : hút thuốc Lào
 

Nghĩa trang dành cho binh lính Đông Dương tại Gironde, nơi những người con đất Việt yên nghỉ
Gửi thân nơi đất khách

Phần nhận xét hiển thị trên trang