Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 7 tháng 8, 2014

Việt Nam, Trung Quốc và cuộc khủng hoảng giàn khoan dầu: Ai đã dao động?

GS Carl Thayer/The Diplomat

Người dịchHuỳnh Phan

h52
Việt Nam bị quật ngã dưới sức ép của Trung Quốc hoặc Trung Quốc đã dao động?Thông báo ngoài dự kiến của Trung Quốc vào ngày 15/7 rằng họ đã rút giàn khoan dầu khủng của mình khỏi vùng biển Việt Nam sớm hơn dự kiến, đã dẫn đến một cuộc tranh luận giữa các chuyên gia học thuật về lý do của việc này.
Zachary Abuza, giáo sư Đại học Simmons ở Boston, cho rằng Việt Nam đã bị quật ngã dưới sức ép của Trung Quốc, trong khi Alexander Vuving (Vũ Hồng Lâm), giáo sư tại Trung tâm châu Á-Thái Bình Dương về Nghiên cứu An ninh tại Hawaii, cho rằng Việt Nam vẫn đứng vững, còn Trung Quốc thì dao động.
Phân tích của Abuza xuất hiện trong phần “Phát biểu tự do” của Asia Times ngày 29/7. Phân tích của ông độc đáo, có tính khiêu khích và nhiều suy đoán.
Abuza cho rằng việc đặt giàn khoan dầu của Trung Quốc “đã bày ra mối đe dọa chia rẽ nhất trong nhiều năm trong ban lãnh đạo Đảng Cộng sản ở Hà Nội”. Không những các uỷ viên Bộ Chính trị chia rẽ sâu sắc mà phe đa số còn chọn cách xuống thang cuộc khủng hoảng bằng việc chiều theo sức ép của Trung Quốc. Abuza viết “Quyết định lùi bước của Hà Nội hàm chứa nhiều điều nghiêm trọng. Việt Nam đã ve vuốt TQ có hiệu quả, điều đó có rất nhiều khả năng sẽ dẫn đến bị gây hấn nhiều hơn”. Abuza kết luận rằng, một chính sách ve vuốt “sẽ gây nguy hiểm cho bản thân chính chế độ … [và] cho tính chính đáng của chế độ”.
Để hậu thuẫn cho lập luận của mình, Abuza đưa ra một số thông tin rất chi tiết về quá trình ra quyết định thường thiếu minh bạch của lãnh đạo Việt Nam. Lập luận của Abuza có thể được tóm tắt trong bốn điểm:
Thứ nhất, phản ứng với sự quyết đoán của Trung Quốc qua việc đặt giàn khoan HYSY 981 trong vùng biển Việt Nam vào đầu tháng 5, Abuza quả quyết rằng ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (BCHTW) đã họp vào tháng 6 và “nhất trí lên án sự gây hấn và xâm lấn của Trung Quốc”.
Thứ hai, chuyến đi Hà Nội của Ủy viên Quốc vụ viện TQ Dương Khiết Trì (DKT) vào ngày 18/6 đã cho thấy là then chốt. Trước chuyến đi này lãnh đạo Việt Nam hy vọng rằng DKT sẽ có những nhượng bộ ngoại giao. Theo Abuza, điều ngược lại đã xảy ra. DKT “làm bất cứ thứ gì ngoại trừ hòa giải,” ông “mắng mỏ chủ nhà vì ‘thổi phồng’ tình hình” và cảnh báo “thẳng thừng rằng TQ sẽ ‘sử dụng mọi biện pháp cần thiết’ để bảo vệ giàn khoan”.
Thứ ba, do kết quả của chuyến thăm của Ủy viên DKT đa số uỷ viên của Bộ Chính trị 16 người đã đảo ngược nghị quyết tháng 6 của BCHTW. Theo Abuza, phe thiểu số gồm 6 uỷ viên nghiêng về “một chiến lược nhiều mặt” đối đầu với Trung Quốc, trong khi phe đa số gồm 10 uỷ viên ủng hộ việc xuống thang cuộc khủng hoảng để chiều theo Trung Quốc.
Khía cạnh có tính suy đoán nhất trong phân tích của Abuza là việc ông phân loại từng uỷ viên Bộ Chính trị vào hai nhóm này. Theo Abuza, phe thiểu số bao gồm 6 uỷ viên: Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Bí thư Thành uỷ Hồ Chí Minh đồng thời là “nhà ủng hộ cải cách” Lê Thanh Hải, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, và Phó tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân và Tòng Thị Phóng.
Phe đa số 10 uỷ viên gồm: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, uỷ viên Ban Bí Thư Tô Huy Rứa và Lê Hồng Anh, trưởng ban Kiểm tra Trung ương Ngô Văn Dụ, trưởng ban Tuyên giáo Đinh Thế Huynh, bí thư thành uỷ Hà Nội Phạm Quang Nghị, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Nguyễn Thiện Nhân, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh, “có thể là” Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang, và “rất có thể là” Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.
Thứ tư, do việc đảo ngược chính sách này, Bộ Chính trị gác lại quyết định trước đó về tiến hành hành động pháp lý chống lại Trung Quốc, hạ giọng trong việc đòi hỏi về Bộ Quy tắc ứng xử có tính ràng buộc ở biển Đông, và hủy “chuyến đi đã công bố rõ lịch trình tới Washington” của Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh.
Bộ Chính trị quyết định dò hỏi Washington về “mức độ cam kết trong việc giữ một vai trò trong cuộc xung đột tiềm năng với Trung Quốc ở biển Đông” bằng cách phái bí thư thành uỷ Hà Nội và là uỷ viên Bộ Chính trị Phạm Quang Nghị thay chỗ của Phạm Bình Minh sang Mỹ.
Abuza kết luận rằng phe đa số trong Bộ Chính trị “không sẵn sàng đối đầu với TQ” và rằng “có một niềm hy vọng ở một số rằng qua việc nhượng bộ về quần đảo Hoàng Sa thì Trung Quốc sẽ đáp trả trong quần đảo Trường Sa”.
Alexander Vuving đưa ra một cái nhìn ngược lại trong một bài bình luận có tiêu đề “Có phải Trung Quốc đã dao động ở biển Đông”, công bố trên báo The National Interest. Vuving viết rằng cuộc khủng hoảng giàn khoan dầu là “một cuộc đấu trí … Bên nào có quyết tâm hơn thì có thể giành chiến thắng ngay cả khi đó là bên yếu hơn. Với chủ quyền của mình bị đe dọa, hai nước đọ quyết tâm với nhau để xem ai sẽ dao động trước”.
Ngay sau khi Trung Quốc đặt giàn khoan dầu ở vùng biển Việt Nam, các nhà lãnh đạo Hà Nội tìm cách thương lượng với Bắc Kinh. TQ đã đáp trả với bốn điều kiện tiên quyết: Việt Nam phải chấm dứt sách nhiễu giàn khoan dầu; Việt Nam phải từ bỏ tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa; Việt Nam không được theo đuổi hành động pháp lý chống Trung Quốc; và Việt Nam không được dính dáng với các bên thứ ba, chẳng hạn như Hoa Kỳ.
Theo Vuving, tập thể lãnh đạo của Việt Nam đáp ứng bằng cách bỏ kế hoạch tiến hành hành động pháp lý chống Trung Quốc và dời chuyến thăm Washington của Ngoại trưởng Minh lại. Điều này tạo tiền đề cho Trung Quốc thực hiện “hành động xuống thang đáp trả”.
Ngày 15/7 TQ thông báo rằng họ đã rút giàn khoan Hải Dương 981 khỏi vùng biển Việt Nam và, trong một tuyên bố riêng biệt, thả 13 ngư dân Việt Nam mà họ đã bắt giữ trước đó. Vuving kết luận rằng “hành động của Bắc Kinh có thể trông giống như việc mặc cả ngầm, nhưng bản chất thực sự của nó là một cái gì khác hơn”. Vuving lưu ý tính chất đối xứng và sự mong manh trong việc nhượng bộ nhau của cả TQ lẫn Việt Nam. Nói cách khác mỗi bên có thể đảo ngược hành động của mình bất cứ lúc nào.
Trái với Abuza, Vuving xem xét động lực của cả TQ lẫn Việt Nam trong phân tích của mình. Vuving kết luận rằng sự hạ mình của Hà Nội đối với Bắc Kinh chỉ là “một phần nhỏ của toa thuốc, nếu có phần nào đó”.
Vuving lập luận rằng cho đến cuộc khủng hoảng giàn khoan dầu nổ ra, Trung Quốc đã theo đuổi chiến thuật “tầm ăn dâu” (salami-slicing) qua đó Bắc Kinh theo đuổi “cách cân bằng tinh tế giữa quyết đoán và kiềm chế để các hành động [của họ] là vừa đủ để thay đổi sự kiện trên hiện trường nhưng chưa đủ để tạo ra một lý do mạnh cho các nước khác quay ra chống lại” họ.
Trái với Abuza vốn khẳng định rằng các nhà lãnh đạo của Việt Nam chịu thua Trung Quốc và “Hoa Kỳ … đã không can dự vào một cách có ý nghĩa”, Vuving kết luận ngược lại. Theo Vuving, việc TQ bắt nạt đã dẫn đến một sự thay đổi chưa từng có trong nhận thức của Việt Nam về Bắc Kinh và “cùng với mối đe dọa về một liên minh trên thực tế với Hoa Kỳ, chúng cho thấy một sự thay đổi rất lớn trong cách Hà Nội tiếp cận Bắc Kinh”.
Hơn nữa, Vuving lưu ý “xu hướng chung … đã thêm vào nhiều động lực hơn cho nhiều nước, bao gồm Nhật Bản, Philippines, Australia, Ấn Độ và Việt Nam trong việc điều chỉnh tư thế quân sự của mình và việc phối hợp chính sách đối ngoại với nhau để chống lại hiệu quả hơn sự hung hăng của Trung Quốc”.
Trong kết luận của mình, Vuving lập luận rằng trong quá khứ, rất nhiều quốc gia, kể cả Việt Nam và Hoa Kỳ, đã tạo ra một “trần thuỷ tinh” (rào cản không nhìn thấy) và “áp dụng chính sách kềm chế vì sợ khiêu khích con rồng khổng lồ đó”. TQ “khéo léo khai thác nỗi lo sợ này với chiến thuật tầm ăn dâu”. Do cuộc khủng hoảng giàn khoan dầu, trần thủy tinh đã bị vỡ và TQ đã lộ ra cho thấy là “không có nhiều khác biệt so với các diễn viên khác” trong nỗi lo sợ leo thang. Nói cách khác, Trung Quốc đã bị dao động.
Điều Abuza nêu về việc ra quyết định của VN có thể bị thách thức trên cơ sở tính hợp lý và tính chính xác thực tế.
Thứ nhất, không có ghi nhận công khai nào về việc BCHTW đã họp vào tháng 6. Như một nhà quan sát tại Hà Nội lưu ý trong trao đổi cá nhân, “chưa nghe lời thì thầm nào tại Hà Nội về một cuộc họp như vậy … cũng khó có thể che giấu một cái gì đó lớn như một cuộc họp BCHTW”. Một quan chức cấp cao chính phủ xác nhận vào cuối tháng 7 rằng không có cuộc họp nào của BCHTW được tổ chức kể từ Hội nghị toàn thể lần thứ chín (8-14/5).
Hơn nữa, như một nhà ngoại giao tại Hà Nội ghi nhận riêng với The Diplomat, “nếu thực sự cuộc họp BCHTW tháng 6 ‘nhất trí lên án TQ xâm lược và xâm lấn, tại sao Đảng không đưa ra bất kỳ nghị quyết nào về điều này sau cuộc họp. Điều này không phục vụ một mục đích trấn an công chúng trong nước về việc Đảng xử lý tình hình hay sao”.
Thứ hai, thông tin về chuyến đi Hà Nội của DKT ngày 18/6 tập trung quá hẹp vào tư thế công khai của ông ta. Cho đến khi DKT viếng VN, TQ đã từ chối khoảng ba mươi lần khi VN tiếp xúc để mở các cuộc đàm phán về cuộc khủng hoảng giàn khoan dầu, còn DKT chỉ đến dự cuộc họp thường niên đã lên lịch từ lâu của Ban chỉ đạo chung về hợp tác song phương. Đây là một chỉ dấu quan trọng của việc TQ sẵn sàng tham gia với Việt Nam.
Đọc kỹ lưỡng các báo cáo chính thức của Bộ Ngoại giao Việt Nam, sẽ thấy rằng khi DKT gặp TBT Trọng thì đã có một thỏa thuận chung để “tiếp tục thảo luận về các cách để giảm bớt căng thẳng và giải quyết các vấn đề trên biển“. Sau chuyến thăm của DKT, các phương tiện truyền thông Trung Quốc miêu tả kết quả với những từ ngữ tích cực hơn rất nhiều so với các phương tiện truyền thông phương Tây mà Abuza trích dẫn. Theo ghi nhận của Vuving, chuyến thăm của DKT chuẩn bị cho một mặc cả ngầm để xuống thang cuộc khủng hoảng.
Thứ ba, Abuza không cung cấp nguồn cho khẳng định của ông rằng Bộ Chính trị đã họp sau chuyến thăm của DKT và lật ngược một nghị quyết của BCHTW lên án TQ xâm lược. BCHTW là cơ quan quyền lực cao nhất của đảng giữa hai kỳ đại hội Đảng toàn quốc. Như đã chứng kiến chính trị trong nước vào năm 2013, BCHTW đã nhiều lần đảo ngược quyết định của Bộ Chính trị.
Được biết, Bộ Chính trị đã họp nhiều lần trong cuộc khủng hoảng giàn khoan dầu cả trước lẫn sau chuyến thăm của DKT. Trong chuyến thăm Việt Nam vào cuối tháng 7, tác giả đã được nghe các nguồn tin ngoại giao và từ người Việt Nam rằng Bộ Chính trị đã bỏ phiếu với tỉ lệ 9-5 “chấp thuận đề xuất đi tới với việc đưa ra trọng tài quốc tế”.
Các nhà ngoại giao tại Hà Nội theo dõi chặt chẽ các sự kiện này cho rằng phiên họp quyết định của Bộ Chính trị diễn ra vào đầu tháng 7. Tức là trước khi Trung Quốc tuyên bố rút giàn khoan Hải Dương 981.
Không thể biết chắc chắn cá nhân các uỷ viên Bộ Chính trị tại cuộc họp đầu tháng 7 biểu quyết phân chia như thế nào. Việc dò la trong giới quan sát viên Việt Nam và nước ngoài thạo tin tại Hà Nội gợi ra như sau:
Phe đa số như được biết gồm: Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng, Lê Thanh Hải, Lê Hồng Anh, Tòng Thị Phóng, Nguyễn Xuân Phúc, Nguyễn Thiện Nhân và có khả năng là Phùng Quang Thanh.
Phe thiểu số gồm 5 uỷ viên như được biết gồm Nguyễn Phú Trọng, Tô Huy Rứa, Phạm Quang Nghị, Ngô Văn Dụ và Đinh Thế Huynh.
Các tin tức cho rằng có hai uỷ viên Bộ Chính trị bỏ phiếu trắng là không chính xác. Đầu tháng 7 hai uỷ viên Bộ Chính trị đã đi nước ngoài và không thể tham dự cuộc họp. Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang thăm Đức từ ngày 3-4/7, trong khi Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thăm Argentina và Chile từ 30 /6 – 5/7.
Thứ tư, Abuza quả quyết rằng chuyến đi của Ngoại trưởng Minh sang Mỹ đã bị hủy bỏ và uỷ viên Bộ Chính trị Phạm Quang Nghị đã được cử thay vào. Chuyến đi của ông Minh đã bị dời lại tới tháng 9. Hiện nay, Đại sứ quán Việt Nam tại Washington và Bộ Ngoại giao đang thảo luận về thời gian của chuyến đi của ông Minh.
Chuyến đi của Phạm Quang Nghị theo báo cáo là để đánh bóng khả năng đối ngoại của ông và cung cấp một thăm dò về hiện trạng mối quan hệ với Mỹ trước chuyến thăm của bộ trưởng Minh.
Có vẻ như không chắc rằng Bộ Chính trị gác lại quyết định phải có hành động pháp lý chống lại TQ hay Việt Nam hạ giọng trong đòi hỏi Bộ Quy tắc ứng xử có tính ràng buộc ở biển Đông. Ngày 26/7 trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức một hội nghị quốc tế các chuyên gia cấp cao về “Những vấn đề pháp lý liên quan đến việc Trung Quốc đặt giàn khoan dầu Hải dương thạch du 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam”. Những người tham dự phía Việt Nam lưu ý riêng rằng các khuyến nghị của hội nghị này sẽ được chuyển tới các nhà lãnh đạo cấp cao trước cuộc họp của BCHTW dự kiến một thời gian nào đó trong tháng 8.
Việt Nam vẫn toàn tâm với Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) và ủng hộ cho một Bộ Quy tắc ứng xử (COC) có tính ràng buộc ở biển Đông. Năm ngoái, TQ đã quay một góc 180° và đồng ý gặp với các quan chức ASEAN để thảo luận về COC trong khuôn khổ các cuộc thảo luận về việc thực thi Tuyên bố ứng xử của các bên ở biển Đông. Không chắc là Việt Nam giảm bớt sự ủng hộ cho COC để cầu cạnh TQ. Hai bên đều dốc lòng với tiến trình ngoại giao. Việt Nam có thực sự tin hay không tin rằng COC sẽ được đàm phán là vấn đề khác. Theo một quan chức cấp cao Việt Nam nói với The Diplomat, “chuyến đi quan trọng hơn đích đến”.
Các cuộc họp hàng năm sắp diễn ra của các Bộ trưởng ngoại giao ASEAN, Diễn đàn khu vực ASEAN và các cuộc họp liên quan giữa ASEAN và các đối tác đối thoại của nó đều sẽ thảo luận về cuộc khủng hoảng giàn khoan dầu và từ chỗ đó sẽ đi tới đâu. Rõ ràng là TQ sẽ phải chịu sức ép ngoại giao cao để kềm lại hành vi khiêu khích của mình ở biển Đông.
Cuộc khủng hoảng giàn khoan dầu đã chứng minh rằng Việt Nam có khả năng đứng lên chống lại TQ và thể hiện quyết tâm. Khó có khả năng VN tự trói tay với bất kỳ lựa chọn nào kể cả hành động pháp lý chống lại Trung Quốc. Chính vì lợi ích của Việt Nam để giữ lựa chọn này làm dự phòng.
Khả năng các nhà lãnh đạo thận trọng của Việt Nam bị quật ngã dưới sức ép của TQ cũng hiếm như việc họ chao đảo bước vào một liên kết với Hoa Kỳ. Việt Nam và TQ có nhiều công việc ngoại giao phải làm để sửa chữa quan hệ song phương bị hư hại và khôi phục lòng tin chiến lược của họ. Việt Nam cũng có khả năng dấn sâu hơn vào quan hệ đối tác toàn diện với Hoa Kỳ.
Có nhiều khả năng chính sách đối ngoại Việt Nam sẽ liên tục hơn là thay đổi. Việt Nam sẽ tiếp tục vận dụng Nghị quyết 8 BCHTW để đấu tranh và hợp tác với các cường quốc nhằm đẩy mạnh lợi ích quốc gia của mình và theo đuổi cách tiếp cận đa phương trong quan hệ đối ngoại của mình.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cùng khám phá vẻ đẹp kỳ vĩ của những kỳ quan thế giới từ cổ chí kim.

Với mong muốn làm sống lại ý tưởng của người Hy Lạp từ thế kỷ thứ 2 TCN khi tổ chức bình chọn bảy kỳ quan thế giới cổ đại, tổ chức New Open World Corporation (NOWC) tại Thụy Sĩ đã kêu gọi bình chọn bảy kỳ quan thế giới mới trên phạm vi toàn cầu.
Cuối cùng, sau nhiều vòng lựa chọn, NOWC cũng đã chọn ra được bảy kỳ quan thế giới mới. Dù mọi sự so sánh đều là khập khiễng nhưng hãy cùng khám phá vẻ đẹp và sự kỳ vĩ của bảy kỳ quan thế giới cổ đại với bảy kỳ quan thế giới mới qua tổng hợp của National Geographic.
Bảy kỳ quan thế giới cổ đại 1. Tượng thần Zeus ở Olympia (Hy Lạp)
So sánh 7 kỳ quan thế giới ở thời cổ đại và hiện đại
Bức tượng vàng khổng lồ của vua của các vị thần Hy Lạp được xây dựng để tôn vinh những kỳ thi Olympic đầu tiên, khởi nguồn từ thành phố cổ Olympia. Bức tượng được hoàn thành vào khoảng năm 432 TCN, khắc họa vị thần ngồi trên ngai vàng bằng gỗ ngọc nạm bên trong một đền thờ nhìn ra thành phố.
Tượng cao 12m, rộng 7m, một tay cầm vương trượng, tay kia cầm một bức tượng nhỏ của nữ thần chiến thắng đều được làm từ ngà voi và kim loại quý giá. Bức tượng tượng trưng cho quyền lực tối cao của vị vua trong các vị thần.
Nhiều nhà sử học tin rằng, Tượng thần Zeus đã được chuyển đến Constantinople (nay là Istanbul) ở Thổ Nhĩ Kỳ nhưng sau đó cũng bị thiêu cháy trong lửa.
2. Tượng thần Mặt trời Rhodes (Hy Lạp)
So sánh 7 kỳ quan thế giới ở thời cổ đại và hiện đại
Trái ngược với các kim tự tháp, Tượng thần Mặt trời ở Rhodes có thời gian tồn tại ngắn nhất trong bảy kỳ quan của thế giới cổ đại. Được hoàn thành vào năm 282 TCN sau 12 năm xây dựng, bức tượng khổng lồ này đã bị sụp đổ bởi một trận động đất diễn ra 56 năm sau đó.
Tượng thần Mặt trời cao 33m và là bức tượng cao nhất được biết đến của thế giới cổ đại, được làm bằng đá và sắt với bề ngoài bằng đồng. Bức tượng đại diện cho thần Mặt trời Hy Lạp Helios – vị thần bảo hộ của hòn đảo.
3. Đại kim tự tháp Giza (Ai Cập)
So sánh 7 kỳ quan thế giới ở thời cổ đại và hiện đại
Khoảng năm 2560 TCN, Pharaoh Ai Cập Khufu đã xây dựng khu lăng mộ của mình gồm 3 kim tự tháp chính và các kim tự tháp vệ tinh nhỏ ở Giza, giáp biên giới của Cairo hiện nay.
Cấu trúc bằng đá khổng lồ này cao 146m với diện tích bề mặt vào khoảng 1.300m2. Đại kim tự tháp Giza được coi là công trình nhân tạo cao nhất của hành tinh suốt hơn 4 thiên niên kỷ.
Một điều khó tin là thời gian để hoàn thành kim tự tháp này chỉ là 20 năm. Theo đó thì mỗi phút, những người nô lệ theo trung bình sẽ phải xếp được 4 tấm đá vôi (nặng từ 2-5 tấn). Đây cũng là kỳ quan lâu đời và duy nhất còn sót lại trong danh sách ban đầu của bảy kỳ quan của thế giới cổ đại.
4. Lăng mộ Mausoleum (Thổ Nhĩ Kỳ)
So sánh 7 kỳ quan thế giới ở thời cổ đại và hiện đại
Lăng mộ được nữ hoàng Artemisia II xây dựng cho chồng là vua Mausolus của Caria (khu vực ở phía Tây Nam Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) vào khoảng năm 370 – 350 TCN.
Công trình đồ sộ dài 40m, cao 45m này với sự đóng góp của 1.200 lao động, làm việc miệt mài trong 17 năm. Nhiều người vô cùng ngưỡng mộ trước vẻ đẹp kiến trúc và sự tráng lệ của lăng mộ.
Phòng chôn cất ở trung tâm được trang trí bằng vàng, trong khi bên ngoài được tô điểm bằng những trụ gạch đá cầu kỳ và nhiều tác phẩm điêu khắc. Đến thế kỷ XV, hiệp sĩ của cuộc Thập Tự Chinh – Christian Crusaders đã tháo dỡ một khối đá cẩm thạch ở phần nền ngôi mộ để xây dựng một lâu đài mới ở khá gần ngôi mộ của vua Mausolus.
5. Ngọn hải đăng Alexandria (Ai Cập)
So sánh 7 kỳ quan thế giới ở thời cổ đại và hiện đại
Ngọn hải đăng là kỳ quan cổ đại duy nhất được sử dụng có ích như một đèn hiệu cho các tàu trong vùng biển nguy hiểm ra khỏi thành phố cảng Alexandria của Ai Cập. Được xây dựng trên một hòn đảo nhỏ của Pharos từ năm 285 và 247 TCN với chiều cao 117m, ngọn hải đăng này là một trong những công trình cao nhất thế giới trong nhiều thế kỷ.
Ngọn hải đăng được vận hành bằng cách sử dụng lửa vào ban đêm và gương đồng được đánh bóng để phản chiếu Mặt trời trong ngày. Người ta nói rằng, ánh sáng từ ngọn hải đăng có thể được nhìn thấy từ khoảng cách 50km ngoài biển.
Cấu trúc khổng lồ này đã đứng sừng sững bên bờ biển Địa Trung Hải trong hơn 1.500 năm trước khi bị hư hỏng nghiêm trọng bởi trận động đất vào năm 1303 và 1323.
6. Vườn treo Babylon (Iraq)
So sánh 7 kỳ quan thế giới ở thời cổ đại và hiện đại
Vườn treo Babylon là một công trình do vua Nebuchadrezzar II xây dựng năm 603 TCN nhằm làm thỏa nỗi nhớ quê hương xứ Medes của người vợ. Trong vườn treo có một hệ thống đài phun nước gồm hai bánh xe lớn liên kết với nhau bằng dây xích có gắn thùng gỗ.
Khi bánh xe quay, dây xích và thùng nước cũng chuyển động đưa nước ở một cái bể phía dưới lên trên cao tưới nước cho cây. Để tưới nước cho hoa và cây của khu vườn, các nô lệ phải luân phiên nhau đưa nước từ dòng sông Euphrates lên khu vườn.
7. Đền Artemis (Thổ Nhĩ Kỳ)
So sánh 7 kỳ quan thế giới ở thời cổ đại và hiện đại
Ngôi đền bằng đá cẩm thạch tuyệt vời dành riêng cho các nữ thần Hy Lạp Artemis được hoàn thành khoảng 550 TCN ở Ephesus, gần thị trấn Selçuk ngày nay ở Thổ Nhĩ Kỳ.
Ngôi đền dài 115m, rộng 55m, gồm 120 cột đá, mỗi cột cao 20m được cho là cất giữ rất nhiều tác phẩm nghệ thuật tinh tế, trong đó có bức tượng đồng của Amazon.
Vào năm 356 TCN, người đàn ông tên Herostratus đã đốt cháy ngôi đền với mong muốn trở nên bất tử. Vào năm 262, người Goths đã đốt ngôi đền lần thứ hai và tới năm 401, ngôi đền bị phá rối bởi các nhà Kito giáo. Chỉ phần nền và một số phần khác của ngôi đền thứ hai còn tồn tại đến ngày nay.
Bảy kỳ quan thế giới mới 1. Tượng Chúa Cứu thế (Brazil)
So sánh 7 kỳ quan thế giới ở thời cổ đại và hiện đại
Bức tượng Chúa Cứu thế cao 38m đứng trên đỉnh núi Corcovado tại thành phố Rio de Janeiro của Brazil. Tượng được dựng năm 1931 nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày Brazil độc lập.
Đây là tượng Chúa Jesus nổi tiếng nhất và cũng là công trình theo kiến trúc Art Deco lớn nhất trên thế giới. Với vòng tay dang rộng như muốn ôm lấy toàn thành phố Rio de Janeiro, bức tượng đã trở thành một biểu tượng hòa bình và lòng hiếu khách của người dân Brazil.
2. Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc)
So sánh 7 kỳ quan thế giới ở thời cổ đại và hiện đại
Kỳ quan thế giới mới này nằm dọc theo biên giới phía Bắc của Trung Quốc qua rất nhiều thế kỷ nhằm ngăn chặn sự xâm lược của quân Mông Cổ. Được xây dựng từ khoảng thế kỷ thứ 5 TCN đến thế kỷ thứ XVI, Vạn Lý Trường Thành là công trình nhân tạo dài nhất thế giới, trải dài 6.400km.
Phần nổi tiếng nhất có thể kể đến ở Vạn Lý Trường Thành là phần tường thành do Hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc – Tần Thủy Hoàng ra lệnh xây vào khoảng năm 200 TCN. Người Trung Quốc có câu nói nổi tiếng: “Nếu chưa đi Vạn Lý Trường Thành thì không phải là một người đàn ông thực thụ”.
3. Đấu trường La Mã (Ý)
So sánh 7 kỳ quan thế giới ở thời cổ đại và hiện đại
Đấu trường Colosseum hay thường được biết đến với tên gọi Đấu trường La Mã được xây dựng tại thành phố Roma của Ý từ khoảng năm 70 và 72 dưới sự trị vì của Hoàng đế Vespasian.
Với chiều cao lên đến 50m, dài 189m, rộng 156m và 3 tầng ghế ngồi, đấu trường này đã có lần đón nhận 50.000 khán giả đến xem các trận đấu đẫm máu của đấu sĩ xưa. Đấu trường Colosseum được coi là một trong những biểu tượng của Đế chế La Mã và là một trong những mẫu kiến trúc La Mã đẹp nhất còn sót lại.
4. Đền Taj Mahal (Ấn Độ)
So sánh 7 kỳ quan thế giới ở thời cổ đại và hiện đại
Đền Taj Mahal ở Agra (Ấn Độ) là lăng mộ hoành tráng được xây dựng bởi Hoàng đế Mughal Shah Jahan để tưởng nhớ người vợ quá cố thân yêu của mình – Mumtaz Mahal. Công trình bắt đầu được xây dựng năm 1632 và mất khoảng 15 năm để hoàn thành.
Lăng mộ lộng lẫy với mái vòm đặt trong khu vườn có tường bao quanh được coi là ví dụ tiêu biểu của nghệ thuật và kiến trúc Mughal.
Đền Taj Mahal bao gồm 4 tháp, mỗi tháp cao hơn 13 tầng. Sau khi bị lật đổ ngai vàng, nhà vua đã dành những ngày còn lại của cuộc đời chỉ để nhìn về Taj Mahal từ một ô cửa sổ.
5. Thành phố cổ Petra (Jordan)
So sánh 7 kỳ quan thế giới ở thời cổ đại và hiện đại
Nằm ở rìa sa mạc Ả Rập, Petra là thủ đô của vương quốc Nabataeans của Vua Aretas IV (năm 9 TCN – năm 40). Petra nổi tiếng với những cấu trúc bằng đá, đặc biệt là ngôi đền cao 42m được chạm khắc mặt tiền cổ điển bằng đá màu hồng.
Thành phố cổ xây dựng các đường hầm, bể chứa nước và một giảng đường với sức chứa 4.000 người. Khu di tích này được mô tả là một trong những tài sản văn hóa quý giá của nhân loại.
6. Pháo đài Machu Picchu (Peru)
So sánh 7 kỳ quan thế giới ở thời cổ đại và hiện đại
Machu Picchu là một khu định cư trên núi được xây dựng vào thế kỷ XV ở khu vực Amazon của Peru. Thành phố đổ nát này là một trong những tàn tích nổi tiếng nhất của nền văn minh Inca, phát triển mạnh mẽ trong khu vực dãy núi Andes ở phía Tây Nam Mỹ.
Dù đã bị lãng quên từ nhiều thế kỷ, Machu Picchu đã trở lại và thu hút sự chú ý của thế giới nhờ công của nhà khảo cổ Hiram Bingham vào năm 1911. Năm 1983 địa điểm này đã trở thành Di sản Thế giới do UNESCO bầu chọn.
7. Khu di tích Chichen Itza (Mexico)
So sánh 7 kỳ quan thế giới ở thời cổ đại và hiện đại
Chichen Itza là một địa điểm khảo cổ thời tiền Colombo, do nền văn minh Maya xây dựng và nằm ở trung tâm phía Bắc Bán đảo Yucatan (Mexico). Địa điểm này chứa đựng vô số phong cách kiến trúc lớn, khác nhau như El Castillo (đền thờ của Kukulkan) và đền thờ của Warriors.
Chichen Itza được xây dựng bởi một bộ tộc người Maya là Itzáes trong thế kỷ thứ IX và phát triển thành một thủ đô trong khu vực cho đến thế kỷ thứ XII. Hiện tại, nguồn gốc thực sự của người Itza vẫn còn là một bí ẩn.
(Theo khoahoc.com.vn

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay

Kỳ 36: Từ vụ án Cao Cương đến dự trữ ngoại tệ 'bốn số không'

Đăng Bởi  - 
Đặng Tiểu Bình và tổng thống Mỹ Jimmy Carter tại Washington năm 1979
Đặng Tiểu Bình và tổng thống Mỹ Jimmy Carter tại Washington năm 1979

Liên Hiệp Quốc triệu tập hội nghị đặc biệt (Kỳ họp thứ VI - 4.1974) gồm các nguyên thủ quốc gia (tổng thống) hoặc người đứng đầu chính phủ (thủ tướng) các nước…
Mao Trạch Đông muốn cử Đặng Tiểu Bình đi (thay vì Chu Ân Lai), có ý phát tín hiệu để thế giới biết “Đặng sẽ thay Chu” (lúc ấy Mao còn giữ ý định móc Đặng vào chân ghế của mình).
Để tránh tiếng, Mao khẩu dụ Bộ Ngoại giao viết đề nghị đưa lên Bộ Chính trị bàn bạc. Tại cuộc họp, Giang Thanh quyết liệt phản đối, không đồng ý cử Đặng Tiểu Bình làm Trưởng phái đoàn Trung Quốc tại diễn đàn LHQ. Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên lên tiếng ủng hộ ý kiến Giang.
Thấy áp lực của “tứ nhân bang” đang trỗi mạnh, những người khác ngồi im. Mao hay tin, buộc phải nói thẳng ý mình, viết thư gởi Giang Thanh: “Cử đồng chí Đặng Tiểu Bình xuất ngoại là ý kiến của tôi, bà hãy thận trọng, không được phản đối đề xuất của tôi” (Trần Trường Giang -sđd Kỳ 8, tr. 318).
Nhận thư, Giang im luôn.
Chỉ còn đúng 10 ngày nữa lên đường, Đặng mới được chính thức “thông qua” đề cử trưởng đoàn (26.3.1974). Việc chuẩn bị khá lụp chụp và lại phát hiện thêm một “chuyện khó tin” trong hoạt động tài chính quốc gia. Chuyện do Chương Hàm Chi kể và tài liệu Tân Tử Lăng ghi:
“Mọi việc sắp xếp xong xuôi, đột nhiên nhớ đến sang Mỹ phải dùng đô la Mỹ, không thể dùng NDT, liền khẩn cấp lệnh cho các ngân hàng trong cả nước tập hợp USD. Được bao nhiêu? 38.000 USD ! Đó là toàn bộ dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc hồi ấy. Tôi không tin, tra “Tổng biểu dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc những năm qua”, thấy số liệu trong biểu năm 1974 là 0000 (vì dưới 100.000 không tính, nên là 4 con số 0)”.
Lần đó Đặng Tiểu Bình dẫn đoàn đại biểu sang New York đã mang toàn bộ dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc theo ! Đoàn ở khách sạn sang trọng, nảy sinh chuyện khó xử là “không có tiền “boa” nhân viên phục vụ, trưởng đoàn Đặng Tiểu Bình phải đem toàn bộ kinh phí cá nhân của mình cho nhân viên phục vụ khách sạn, khi về nước chỉ có một thanh socola làm quà cho cháu gái. Dự trữ ngoại tệ của nước ta (đầu thế kỷ 21) hiện nay bao nhiêu ? 1.200 tỉ USD, vượt Nhật Bản, đứng đầu thế giới. Cải cách mở cửa đã cứu vãn nền kinh tế quốc dân đang trên bờ vực thẳm sụp đổ. Nay có người nói: “Đại cách mạng văn hóa không đẩy kinh tế quốc dân tới bên bờ vực thẳm, xây dựng kinh tế trong Đại cách mạng văn hóa đạt thành tựu lớn biết chừng nào” - toàn là những lời lẽ làm như chữa lành vết thương rồi quên ngay những đau đớn đã qua”.
Cùng thời (tháng 5.1974): “sản xuất bị giảm mạnh, theo công bố - chỉ số sản xuất giảm 6,2%, vận tải giảm 2,5%, sản xuất thép giảm 9,4%, bội chi ngân sách lên tới 2,5 tỷ NDT. Một số cán bộ lâu năm đứng ra làm việc lại bị lật đổ, rất nhiều ban lãnh đạo bị rơi vào tình trạng tê liệt (…) Giang Thanh càng trở nên quá quắt, bà ta vừa tuyên truyền, đưa tài liệu, vừa kích động khắp nơi “đốt sạch”, “phá sạch”, nhà máy đình công, sản xuất nông nghiệp đình trệ” (Trần Trường Giang - sđd, tr. 321).
Dự trữ ngoại tệ “bốn số không” cùng nền kinh tế bị suy sụp do quốc sách sai lầm của Mao và còn vì những cuộc thanh trừng đấu đá diễn ra triền miên ngay từ những năm đầu thành lập nước. Điển hình là vụ án Cao Cương.
Theo tài liệu Tân Tử Lăng: “Cao Cương phụ trách 3 tỉnh Đông Bắc, là ngôi sao mới nổi lên thời kỳ đầu thành lập CHND Trung Hoa, thuộc phái thân Liên Xô, Mao cần dựa vào ông ta để khai thông quan hệ với Stalin. Tháng 6.1949, khi cùng Lưu Thiếu Kỳ và Vương Gia Tường sang Liên Xô thông báo tình hình và xin viện trợ, Cao Cương đã đề nghị sáp nhập 3 tỉnh Đông Bắc thành nước Cộng hòa thứ 17 của Liên Xô”.
Mao giận, gọi Cao về nước gấp. Muốn khai trừ Cao, nhưng Mao nén giận, tạm thời giấu kín “bản án tử hình”, ra vẻ thưởng công cho Cao, điều Cao lên Trung ương giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban kế hoạch nhà nước, nắm trong tay quyền điều động 15 cán bộ cấp cao trong đó có cả Đặng Tiểu Bình và Bành Chân.
Để Cao thêm yên tâm, Mao vẫn giao Cao kiêm nhiệm một lần 4 chức vụ chủ chốt vùng Đông Bắc: “Bí thư thứ nhất Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban quân chính, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu”.Tất cả những động thái đó nhằm để Cao Cương lầm tưởng đang được Mao trọng dụng, vì Mao có xu hướng đi theo đường lối thân Liên Xô: “mưu toan dựa vào Stalin để củng cố thế đứng cho mình”.
Cao Cương và bạn đồng minh chủ yếu là Trưởng ban Tổ chức trung ương Nhiêu Thấu Thạch tưởng đã “nắm được Mao”. Nào ngờ “Stalin vừa qua đời (1953) Mao liền tính sổ họ ngay, dựng lên vụ án “Tập đoàn chống đảng: Cao Cương - Nhiêu Thấu Thạch”, thủ đoạn của Mao lợi hại và đáng sợ đến mức các cán bộ cấp cao run rẩy” - dầu “được Mao tin cậy hay bị Mao nghi ngờ”họ cũng luôn phải cẩn trọng “ngó trước dòm sau”. Vì đi bên Mao khác nào “đi trên lưỡi dao cạo” (còn nữa)
Giao Hưởng

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TỄU - BLOG: Huỳnh Ngọc Chênh: VINH DANH HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ

TỄU - BLOG: Huỳnh Ngọc Chênh: VINH DANH HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ:

Vinh danh Hội nghị Thành Đô  Huỳnh Ngọc Chênh Ảnh những người tham dự hội nghị Thành Đô được phía nhà cầm quyền Bắc Kinh ... Phần nhận xét hiển thị trên trang

THỦ ĐOẠN NGHI BINH, ĐÁNH LỪA DƯ LUẬN CỦA TRUNG QUỐC



Ải Nam Quan, nơi cha con Nguyễn Trãi tiễn đưa nhau, nay đã thuộc về đất Tàu 



VI MƯU Đ BÁ CH TH GII,
TRUNG QUC ĐANG ÂM MƯU BIN BIN ĐÔNG 
– THÁI BÌNH DƯƠNG THÀNH AO NHÀ

TS. NGUYỄN HOÀNG ĐIỆP


Phần B. THỦ ĐOẠN NGHI BINH - ĐÁNH LỪA DƯ LUẬN ĐỂ THỰC HIỆN MƯU ĐỒ BIẾN BIỂN ĐÔNG THÀNH “AO NHÀ” CỦA TRUNG QUỐC.

Trên biên giới đất liền thì như thế, còn đối với Biển Đông và hải đảo, họ đã định một kế hoạch dã tâm thôn tính từ lâu.

Năm 1988, Trung Quốc cho hải quân gây hấn ở Trường Sa, chiếm Đảo Gạc Ma, giết hại 64 chiến sỹ, sỹ quan hải quân của QĐND Việt Nam, chiếm đoạt một số hòn đảo thuộc Quần đảo Trường Sa của nước ta. Song về phía Việt Nam vẫn kiên trì, kiềm chế đấu tranh bằng hòa bình. Vì dân tộc Việt Nam đã quá mất mát đau thương về chiến tranh. Chiến tranh đã gõ cửa từng gia đình với bao sự hy sinh xương máu, sinh mạng để bảo vệ sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Nền hòa bình đối với chúng ta là vô cùng quý giá để xây dựng đất nước. Nhưng về phía các nhà cầm quyền Bắc Kinh, họ vẫn tham vọng một chủ nghĩa bá quyền. Đất liền đã lấn chiếm hết, nay phải tiến ra biển.

Vào năm 1982, họ đưa vào Nghị quyết Quốc hội của Nhà nước Trung Hoa một chiến lược khai thác Biển Đông và dự kiến Thế kỷ XXI sẽ đưa hàng tỷ người ra sinh sống trên Biển Đông. Từ ý đồ trên, Trung Quốc với tham vọng trong vài năm tới cho hạ thủy hàng loạt Tàu sân bay, tàu hàng không mẫu hạm và nhiều giàn khoan lớn gấp nhiều lần Giàn khoan Hải Dương 981. Họ nhập những thiết bị kim loại chống ăn mòn muối biển của Mỹ. Khi cắm được 3 cột kim loại này xuống đáy biển là có thể dựng lên một pháo đài hay hòn đảo nhân tạo án ngữ Biển Đông. Hiện nay, Trung Quốc đang đầu tư gấp rút một nguồn ngân sách khổng lồ cho Quốc phòng mà họ đang lừa dối Thế giới khi công bố một con số nhỏ gấp nhiều lần so với sự thật, trong đó có hải quân đang được đặt lên cấp bách hàng đầu. Đồng thời, họ tranh thủ xây dựng nhiều hòn đảo nhân tạo thành những pháo đài quân sự được trang bị vũ khí, khí tài, trong đó, theo dư luận tình báo có cả đầu đạn hạt nhân, và từ đấy hỗ trợ cho mục đích muốn xây dựng một hạm đội mạnh nhất Thái Bình Dương, biến Biển Đông – Thái Bình Dương thành ao nhà của họ. Bởi vì, khi đã có đủ sức mạnh về quân sự và hải quân, họ tiến tới khống chế các đường bay và hàng hải Quốc tế qua khu vực Biển Đông – Thái Bình Dương.

Đấy là chưa kể trong nhiều năm qua, họ tùy tiện bất chấp luật pháp Quốc tế, cho tàu thăm dò tài nguyên, khoáng sản dưới thềm lục địa và vùng biển thuộc hải phận đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Về mặt ngoại giao, Trung Quốc ra sức cản trở và phá hoại những đối tác khi Việt Nam mời tới thăm dò.

Trung Quốc là nước hơn ai hết biết được giá trị nguồn tài nguyên vô cùng phong phú nằm dưới đáy Biển Đông. Đó là những mỏ kim loại quý khổng lồ, trữ lượng dầu mỏ lớn nhất nhì Thế giới còn ngủ yên dưới đáy biển. Theo nguyên lý nơi nào có dãy núi cao nhất (như dãy Himalaya) thì nơi ấy có gấp khúc địa tầng lớn nhất và sẽ có mỏ dầu trữ lượng nhiều nhất. Dưới đáy biển nơi đây có những khu rừng thực vật phong phú hơn mặt đất và có tới gần 3000 loại cá sinh sôi nảy nở với mật độ cư trú dày đặc. Tài nguyên khoáng sản của nó, theo các nhà khoa học Thế giới cho biết, có thể nuôi sống 10 tỷ người hàng trăm năm sau. Và cũng nhiều năm qua, tàu của ngư dân Trung Quốc và nhiều tàu lớn của nước này đã dùng ánh sáng nhân tạo, hợp chất hóa học để khai thác và dụ đàn cá từ vùng biển nước ta về nước họ với khối lượng khổng lồ không sao kể xiết.

Biển Đông với nguồn tài nguyên khoáng sản khổng lồ, vĩ đại như đã nói ở trên, nên Trung Quốc càng nổi lòng tham, muốn vươn vòi bạch tuộc chiếm đoạt tất cả, bất chấp luật pháp Quốc tế. Rồi đây, không sớm thì muộn, để thực hiện ý đồ tham vọng này, Trung Quốc càng hung hăng dùng sức mạnh quân sự để thôn tính các nước có vùng biển liền kề. Việc đưa ra những luận điệu hợp tác song phương chỉ là mưu ma, chước quỷ, kế sách“mèo vờn chuột” mà thực chất là những mưu đồ, thủ đoạn muôn thủa: Mở bàn tiệc Hồng Môn Điếm [1] khoản đãi yến tiệc linh đình rồi giữa tiệc say sưa, lừa giết đi để chiếm đoạt cái gì mình muốn lấy. Bài học về Bãi đá Cạn của Phillipines là một vụ việc điển hình về sự lừa đảo của Trung Quốc. Ngày nay, nhiều nước trên Thế giới đã tổng kết: “Đừng nghe Trung Quốc nói, hãy nhìn vào hành động và việc làm của họ.” Người ta đã dần nhận ra bộ mặt thật của một nước láng giềng khổng lồ chuyên đi “lấy thịt đè người, cạy nước lớn hiếp đáp nước nhỏ”.

Một nước có bộ máy thông tin tuyên truyền khổng lồ luôn luôn gây đảo điên thị phi sự thật, thay trắng đổi đen, vu khống trắng trợn. Lấy Giàn khoan Hải Dương 981 là một minh chứng. Họ đặt giàn khoan trái phép, xâm phạm hải phận và thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế, chủ quyền vùng biển và tài phán của Việt Nam lại còn dùng trên 100 tàu hộ tống: tàu hải cảnh, tàu hải tuần, tàu hải giám, tàu quân sự, tàu vận tải lại dắt thêm tàu kéo, tàu cángày đêm hoành hành trên vùng biển Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam và còn có cả máy bay tuần tiễu trên không yểm trợ. Họ dùng vòi rồng công suất lớn tấn công các tàu cảnh sát biển, giám ngư Việt Nam làm nhiệm vụ bảo vệ hải phận của nước ta, thậm chí tàu của họ còn lao thẳng đâm chìm tàu của ngư dân đánh cá Việt Nam. Họ làm đảo lộn cuộc sống của hàng vạn ngư dân Việt Nam bao đời gắn bó với Biển Quần đảo Hoàng Sa. Tất cả hành động đó còn đầy đủ tang vật làm chứng và hàng nghìn bức ảnh chụp, băng video quay tại chỗ về hành vi hung hăng, điên cuồng, dã man của tàu Trung Quốc ra sức gây hấn. Ấy thế mà tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Đại sứ Trung Quốc là Vương Dân lại gửi Công hàm lên Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc và 193 nước vu cáo Việt Nam gây sự, tấn công tàu Trung Quốc hơn 1500 lần, khi họ đang đặt giàn khoan trên vùng lãnh hải của họ? Đây là hành vi như tục ngữ Việt Nam thường nói “vừa ăn cướp, vừa la làng”. Hỏi còn đâu là công lý với đất nước hay lừa đảo, ăn gian nói dối, hay vu khống này? Tương tự như vậy, họ cho hai máy bay quân sự (cách 30m) đi kèm sát máy bay tuần tiễu trên vùng trời Đảo Điếu Ngư/ Senkaku của Nhật, có hàng trăm bức ảnh của vệ tinh chụp được minh chứng. Thế rồi họ vẫn “to miệng” tố cáo Nhật Bản xâm phạm vùng trời và đe dọa máy bay của họ.

Việc đặt Giàn khoan Hải Dương 981 trên vùng thềm lục địa thuộc vùng đặc quyền kinh tế, quyền hải phận tài phán của Việt Nam, Trung Quốc muốn bắn một mũi tên nhắm hai đích với âm mưu:

a. – Thăm dò phản ứng của Việt Nam và cộng đồng Quốc tế. Sau đó, xem xét mức độ phản ứng để có bước đi tiếp theo nguy hiểm hơn. Trung Quốc luôn luôn chủ động tạo ra các sự kiện đã rồi để làm tiền lệ tiến tới xâm chiếm các hòn đảo, quần đảo, lãnh hải của các nước láng giềng trong khu vực Biển Hoa Đông như Nhật Bản, Hàn Quốc... và Biển Đông như Việt Nam, Phillipines, Indonesia, Malaysia... Trong đó, Việt Nam sẽ là miếng mồi ngon béo bở mà Trung Quốc muốn “nuốt” trọn.

b. – Trung Quốc muốn hướng dư luận vào Giàn khoan Hải Dương 981 để đánh lừa nhân dân Thế giới. Trong đó, mục tiêu hành động đằng sau sự kiện này: Họ muốn tranh thủ xây dựng các đảo nhân tạo ở vùng Biển Đông với phương châm càng nhiều càng tốt. Đây là âm mưu cực cực kỳ nguy hiểm và khi Thế giới biết đến thì sự đã rồi. Họ đã thách thức loài người để độc chiếm Biển Đông, khống chế Thái Bình Dương. Chúng ta đều biết rằng mỗi hòn đảo nhân tạo mọc lên là một pháo đài quân sự: không chế các đường giao thương hàng hải và vùng trời hàng không Quốc tế qua khu vực Thái Bình Dương. Những hòn đảo nhân tạo này là nơi neo đậu của các hạm đội, nơi dự trữ, cung cấp xăng dầu và kho chứa vật tư, thiết bị. Nó cũng là nơi xây dựng chế biến nguồn nước ngọt cung cấp cho tàu thuyền và các hạm đội, hoặc xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Đồng thời, nó có thể tạo ra các sân bay phục vụ cho mục đích quân sự của Trung Quốc như Đài Loan đã xây dựng sân bay ở Đảo Ba Bình, thuộc vùng Quần Đảo Trường Sa của nước ta.

Ngày nay, trước thực trạng Trung Quốc đã gây hấn ở Biển Đông, nó đã báo hiệu trước sau họ sẽ còn nhiều âm mưu sâu xa và hiểm độc hơn nữa để cướp Biển Đông của chúng ta. Vì đó là kho tài nguyên vô cùng giàu có và quý giá, có thể khai thác qua nhiều thế hệ, nuôi sống nhiều tỷ người. Đây là nguồn kinh tế, tài sản thiêng liêng của Quốc gia mà thế hệ hôm nay để lại mãi mãi mai sau cho con cháu muôn đời của nước Việt Nam trường tồn. Ngày nay, dù một m2 hải phận, một hải lý chúng ta cũng phải giữ lấy, không để lọt vào tay bọn xâm lược. Nếu để mất một tấc đất, một hải lý của Tổ quốc là thế hệ hôm nay có tội với Tổ tiên và Lịch sử mai sau sẽ nguyên rủa và lên án chúng ta!!!

N.H.Đ
_______________
[1] Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ mở bàn tiệc tại Hồng Môn Điếm mời Lưu Bang (Hán Cao Tổ) đến dự với âm mưu đến khi tiệc say, ném chén, hô giáp sỹ phục binh đổ ra định giết chết Lưu Bang, độc chiếm thiên hạ. Quân sư của Lưu Bang là Trương Lương biết trước âm mưu này nên đã lập kế giúp cho Lưu Bang dự yến được bình an quay về. – TG.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 6 tháng 8, 2014

Chủ tịch nước mời Tổng thống Mỹ thăm Việt Nam

VNExpress - Chủ tịch nước Trương Tấn Sang chuyển lời mời thăm Việt Nam tới Tổng thống Mỹ Barack Obama qua Đại sứ David Shear nhân dịp ông đến chào từ biệt, kết thúc nhiệm kỳ tại Việt Nam.

Đại sứ Mỹ David Shear đến chào từ biệt Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. TTXVN

Trao đổi với ông Shear, Chủ tịch nước đề nghị hai bên tiếp tục duy trì trao đổi đoàn cấp cao, gửi mời Tổng thống Mỹ sang thăm Việt Nam trong dịp hai nước kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, theo TTXVN.

Chủ tịch nước nhấn mạnh quan hệ ngoại giao hai nước đang ngày càng đi vào ổn định. Từ khởi điểm xác lập quan hệ thương mại ban đầu năm 1995, đến nay nhiều nội dung hợp tác đã được Việt Nam và Mỹ thẳng thắn trao đổi.

Ông Shear đánh giá cao việc hai nước nâng tầm quan hệ lên toàn diện trong chuyến thăm cấp nhà nước của Chủ tịch nước đến Mỹ. Với tư cách trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng khi trở về Washington, ông Shear bày tỏ khẳng định tiếp tục có những đóng góp cho quan hệ hai nước.

Chủ tịch nước hoan nghênh Mỹ đã tạo điều kiện để hàng hóa Việt Nam tiếp cận thị trường, góp phần nâng kim ngạch thương mại, đồng thời đề nghị Mỹ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam rà phá bom mìn, khắc phục hậu quả chiến tranh. Việt Nam cũng sẵn sàng tổ chức các chuyến thăm cấp cao đến Mỹ để tăng cường hiểu biết. 

Đại sứ Shear cho biết, hãng Boeing đang xúc tiến các chương trình hợp tác với đối tác Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh ý nghĩa việc Vietnam Airlines khai trương đường bay thẳng đến Mỹ bằng máy bay Boeing đúng vào dịp hai nước kỷ niệm 20 năm quan hệ ngoại giao sắp tới.

Ông David Shear kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam sau ba năm công tác. Giữa tháng 5, Tổng thống Mỹ Barack Obama đề cử ông Ted Osius làm đại sứ tại Việt Nam thay ông Shear trong nhiệm kỳ 2014-2017.

Khánh Lynh
Nguồn: VNE

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lời nguyền Tây Nguyên không phải là lời của tác giả của 'Đất nước đứng lên' và 'Rừng xà nu'.

Chính xác hơn ông Nguyên Ngọc nói về "lời nguyền tài nguyên".Nhưng tôi không khỏi có cảm giác đó chính là những gì ông muốn nói khi được hỏi về sự phát triển của vùng cao nguyên ở Việt Nam trong cuộc gặp tình cờ tại miền nam nước Pháp.
"Cái quan điểm phát triển lấy tài nguyên làm chính vẫn chưa thay đổi trong phát triển ở Việt Nam và chúng tôi khẳng định đó là con đường phát triển sai," ông nói.
"Người ta có cái gọi là ‘lời nguyền tài nguyên’ thì Việt Nam hiện đang lâm vào lời nguyền tài nguyên.
"… Một là dựa vào đó là đường lối phát triển rất dở. Hai là thường anh có cảm giác vô tận [về tài nguyên].
"Nhưng những phát triển trong những năm vừa qua cho thấy nó không vô tận chút nào.
"Rừng Tây Nguyên bây giờ hết rồi, không còn gì cả, không vô tận tí nào cả."
Chúng tôi bắt đầu câu chuyện sau bữa ăn trưa tại khuôn viên một trường đại học ở Toulouse, nơi ông và một số bạn bè gặp mặt.
"
Tôi hỏi ông về việc thí điểm khai thác bauxite ở Tây Nguyên với nhà máy ở Tân Rai, Lâm Đồng đã đi vào hoạt động trong khi nhà máy ở Nhân Cơ, Đắk Nông cũng đang chuẩn bị hoàn thành.
Nhà văn nói 10 lý do không nên làm bauxite mà ông và kỹ sư mỏ Nguyễn Thành Sơn đưa ra trong một bài viết phản đối khai thác bauxite "đang dần dần bộc lộ hết".
Về kinh tế đang "rất lỗ" do cách tính chi phí đầu vào mà ông gọi là "ăn gian", không liệt kê đủ các chi phí trong tính toán ban đầu.
Vì thế việc khai thác bauxite không mang lại hiệu quả kinh tế dù đã được giảm một số loại thuế.
Về vận tải, việc vận chuyển đang diễn ra trên đường 20, đường "dân sinh" từ Đà Lạt qua Lâm Đồng và về thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Nguyên Ngọc nói mỗi ngày có hàng trăm chuyến xe với trọng tải thiết kế 40 tấn đi trên đường với những cây cầu chỉ chịu được 25 tấn.
Sự lưu thông của các xe tải hạng nặng này cũng dễ gây tai nạn.
Về môi trường, ông nói, đã có "tai nạn bùn đỏ gây chết người."
Đắc Nông và Lâm Đồng có lượng mưa nhiều nhất ở Tây Nguyên và thêm nữa mưa dồn dập trong 2 tháng trong năm gây nguy cơ vỡ hồ chứa bùn đỏ.

Khách hàng Trung Quốc

Nhưng điều khiến nhà văn gắn bó và hiểu biết Tây Nguyên lo ngại không kém là sự liên quan của Trung Quốc tới khai thác bauxite.
Ông Nguyên Ngọc nói con người đã gây "tội ác" ở Tây Nguyên
Hiện Bắc Kinh là khách hàng duy nhất của Hà Nội trong việc bán nguyên liệu sản xuất nhôm từ hai nhà máy thí điểm khiến việc ép giá có thể xảy ra.
Bên cạnh đó nhà văn cũng có những lo ngại về an ninh khi nói về khai thác bauxite:
"Về mặt quốc phòng rất nguy hiểm. Từ xưa người ta đã nói ai làm chủ Tây Nguyên sẽ làm chủ toàn bộ khu vực Nam Đông Dương…
"Một mặt Biển Đông như thế, một mặt ở phía tây mà có bất ổn nữa thì rất nguy hiểm.
Ông nói việc Trung Quốc đưa giàn khoan vào Biển Đông vừa qua cũng là dịp nhìn lại vấn đề bauxite.
"Vì sao họ cứ chăm chăm họ đòi vào làm bauxite? Thực ra vì bauxite ở Tây Nguyên. Nếu bauxite ở chỗ khác chưa chắc họ đã vào đâu.
"Và có điều rất lạ là trong ký kết giữa ông Nông Đức Mạnh với Trung Quốc thì nói từng nhà máy ở Tây Nguyên… như vậy tỏ ra Trung Quốc rất ráo riết vào mấy nhà máy bauxite ở Tây Nguyên.
"Trong khi đó nhu cầu về bauxite của họ ở Tây Nguyên là không lớn, thì họ có mục đích khác."
Ông nói ông hy vọng các nhà lãnh đạo Việt Nam thấy rõ "âm mưu" của Trung Quốc ở Tây Nguyên hơn qua việc họ hạ đặt giàn khoan.

'Dân tộc điêu tàn'

Về tái định cư người dân tộc thiểu số bị ảnh hưởng bởi các dự án bauxite, ông Nguyên Ngọc nói Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có yêu cầu nơi tái định cư phải tốt hơn chỗ cũ hoặc ít nhất bằng chỗ cũ nhưng điều này không được thực hiện trên thực tế.
Ông nói với BBC:
Nhà văn Nguyên Ngọc nói Trung Quốc 'ráo riết' vào các dự án bauxite
"Tôi đã đến mấy làng, ví dụ làng của Tập đoàn Than khoáng sản làm cho người K’Ho ở đây thì không tài nào mà sống được.
"Mình thấy cũng không sống được chứ chưa nói là họ với văn hóa của họ.
"Ví dụ ở những nhà xây bê tông chật hẹp, xa nơi chăn nuôi… thậm chí gà vịt cũng không chăn được.
"Rẫy của họ rất xa, họ đi làm café, cao su, lúa …. rất xa.”
Nhà văn cũng lo ngại việc mất môi trường sống và văn hóa của người thiểu số sẽ để lại hậu quả "nguy hiểm."
"Ta biết một dân tộc mất văn hóa thì sẽ điêu tàn," ông nói.

'Tội ác' của con người

Trên thực tế việc khai thác bauxite chỉ là một trong các lý do khiến văn hóa của người thiểu số ở Tây Nguyên lụi tàn.
Ông Nguyên Ngọc nói cuộc "đại di dân" lên Tây Nguyên khiến người Kinh từ chỗ là người thiểu số trước đây giờ chiếm tới 80% dân số và nói thêm về ảnh hưởng của việc di dân này:
Người Kinh đã khiến người dân tộc thành thiểu số trên quê hương họ
"Từ tập quán canh tác, văn hóa, cách sống đều thay đổi hết.
"Nó đảo lộn đột ngột như vậy tai hại vô cùng cho tất cả các phương diện ở đó.
"Người Tây Nguyên hàng ngìn đời đã có phương thức canh tác để giữ gìn tự nhiên…
"Nhưng người Kinh có tập quán canh tác khác – đó là phá rừng.
"Người Tây Nguyên nhìn rừng là môi trường sống của họ.
"Thực ra cũng không phải là môi trường nữa mà là toàn bộ cuộc sống của họ.
"Người Kinh nhìn vào rừng là thấy gỗ."
"
Theo nhà văn, việc tàn phá rừng đã khiến "về cơ bản rừng tự nhiên không còn ở Tây Nguyên" và điều này ảnh hưởng cả tới đồng bằng sông Cửu Long do nước ở phía tây Tây Nguyên đổ vào sông Mekong.
“Ở đời cái gì cũng có cái ngưỡng, khi nào chưa đến cái ngưỡng đó thì mình có thể quay lại," ông nói.
“Nhưng mà vượt qua ngưỡng đó thì không thể quay lại được nữa.
“Tôi nghĩ ở Tây Nguyên có những điều hoặc là mấp mé ngưỡng, hoặc là quá ngưỡng rồi.
“Ví dụ rừng tôi sợ không khôi phục được nữa, văn hóa tôi sợ không khôi phục được nữa, tự nhiên ở đó rất khó.
“Thí dụ tôi nói thế này, voi, tôi ở trong rừng mấy chục năm tôi biết mà, voi nó hiền lành lắm, con vật rất hiền lành, voi nó quay lại nó tấn công con người.
“Bây giờ voi rất nguy hiểm, không còn bao nhiêu. Thỉnh thoảng cả vùng rộng lớn chỉ còn một con voi mà nó phá và giết người nữa cơ.
“Thì vì sao? Vì nó mất môi trường sống.
“Mình làm cho thiên nhiên trở nên thù địch với con người. Nó cực kỳ nguy hiểm.
“Tôi sợ Tây Nguyên vượt ngưỡng, khó quay trở lại.”
Ông coi những gì xảy ra ở Tây Nguyên là "tội ác" của con người.

Thay đổi 'bất ngờ'

Nhưng cũng không vì thế mà nhà văn bi quan về khả năng có thay đổi tích cực ở Việt Nam.
Biểu tình phản đối Trung Quốc nhân kỷ niệm 35 năm cuộc chiến Việt - Trung
Thay đổi bất ngờ có thể diễn ra ở Việt Nam theo nhà văn Nguyên Ngọc
Ông nhận định:
"Thường khi mình thấy nó càng bế tắc đến cùng cực thì lúc đó rất dễ xảy ra thay đổi.
"…Thứ hai thường thay đổi nó cũng rất bất ngờ…
"Bây giờ thấy rất bế tắc, chưa thấy có nhân tố nào, nhân vật nào, chưa thấy biểu hiện nào để thay đổi.
"Nhưng thường thường nó diễn ra thì một là nó diễn ra theo những cách bất ngờ, ở những nơi bất ngờ và vào những lúc bất ngờ."
Ông cũng nhìn điều mà ông gọi là sự "bành trướng trắng trợn hơn và hung hăng hơn" của Trung Quốc như một cơ hội để Việt Nam thay đổi.

"Thách thức đó bộc lộ ra hết những nhếch nhác, hư hỏng của cơ chế, những vấn nạn của xã hội và chính cái đó thúc đẩy sự thay đổi," ông nói.

Phần nhận xét hiển thị trên trang