Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 16 tháng 7, 2014

Khoa học nước nhà đã đạt 'cảnh giới' siêu thực?


Một nhà khoa học nói rằng khi xem bài chép trên lớp của người con vốn theo học cùng ngành ở đại học, cùng thầy dạy, anh giật mình khi nhận ra chẳng có gì khác biệt so với những gì anh được học gần 40 năm về trước!
Trong vòng 20 năm trở lại đây, trên sách báo, tạp chí chuyên ngành hay diễn đàn khoa học, dường như thiếu cái gì đó để cởi bỏ sự "bàng bạc" hay thay đổi cái "phẳng, lặng" đi xuyên qua hàng thập kỉ. Sự "phẳng lặng này" gợi lên điều gì? Đó có phải là tín hiệu tốt và làm thế nào để phá tan thực trạng này?

Sự phẳng lặng quá lâu cũng có thể khiến đâu đó lầm tưởng khoa học xã hội nước nhà toàn phát hiện ra chân lí, toàn giải quyết nhanh chóng, tròn trịa, toàn mĩ những vấn đề của xã hội, đến độ người ta chẳng có nhu cầu trao đi, đổi lại?

Sự phẳng lặng quá lâu cũng có thể khiến đâu đó lầm tưởng khoa học xã hội nước nhà toàn phát hiện ra chân lí, toàn giải quyết nhanh chóng, tròn trịa, toàn mĩ những vấn đề của xã hội, đến độ người ta chẳng có nhu cầu trao đi, đổi lại?

Bên dưới sự phẳng lặng

Một nền khoa học, nhất lại là khoa học xã hội phát triển, lành mạnh thường luôn ăm ắp những phát hiện, kiến giải mới. Chúng có thể đúng, có thể sai, có thể tuyệt đối, có thể tương đối, có thể nhận được đồng thuận cao, khen ngợi hoặc ý kiến trái chiều phản biện hay phản bác lại. Sự khác biệt, tranh luận thậm chí là phủ nhận trên tinh thần thượng tôn khoa học ấy là cần thiết. Nó minh chứng sức sống, sự vận động, phát triển cũng như nỗi nhọc nhằn của những người LÀM khoa học chân chính.

Còn khi sự "im lặng" hay "phẳng lặng" ngự trị trong hàng thập kỉ, điều đó khiến người ta phải đưa ra nhiều giả thiết, nhiều phán đoán hay thậm chí hoài nghi về một căn bệnh nào đó. Và nếu vậy, thì cần thiết phải nhìn lại chương trình đào tạo ở mọi bậc học, xem tính sáng tạo có được đề cao trong trường học hay không. Tôi đã được nghe lời than thở từ một nhà khoa học rằng khi xem bài chép trên lớp của người con vốn theo học cùng ngành ở đại học, cùng thầy dạy, anh giật mình khi nhận ra chẳng có gì khác biệt so với những gì anh được học gần 40 năm về trước!

Phải chăng, đây phần nào cho thấy kết quả của sự "tụt hậu" ở người làm khoa học đối với những biến đổi vốn luôn ồn ào, gấp gáp từ cuộc sống? Liệu có phải vì thế mà ngòi bút của một số nhà khoa học chỉ quẩn quanh bên những đề tài xáo mòn, những luận giải theo kiểu "nước đôi, nửa vời" hay những "kiến nghị" chung chung mà người làm chính sách có đốt đèn đọc thâu đêm cũng chẳng rút ra được điều gì cụ thể, bổ ích. Tôi đã nghe hơn một lần phàn nàn rằng sao bây giờ các công trình khoa học cứ công thức thế, cứ "dầm mình", giống nhau đến kì lạ trong những chủ đề, lối mòn "xưa như Diễm" đến thế?

Có phải ở ngoài kia đang vẫy gọi nhiều điều khác quan trọng, ý nghĩa hay thiết thực hơn đối với nhà khoa học (nhất là nhà khoa học trẻ), khiến có những người mải mê chạy theo để rồi thờ ơ với công việc nhọc nhằn trên cánh đồng tri thức còn đang bộn bề với bao dấu hỏi?

Các thế hệ tiền bối của tôi từng chia sẻ nỗi niềm đau đáu về một cuộc "khủng hoảng" thế hệ khi họ ngờ có những người trẻ trong giới không còn đủ "máu lửa", say mê và độ cần mẫn để nối bước tiền nhân. Họ chỉ ra có những đồng nghiệp trẻ đã không mấy khi đọc nghiêm túc các công trình khoa học của người khác, những cuốn sách tặng dường như chẳng được giở ra để đọc bao giờ.

Có phải chúng ta chưa xây dựng đủ chính sách khuyến khích, khen thưởng, cổ vũ thậm chí là bảo vệ, đảm bảo không khí lành mạnh, dân chủ, thượng tôn khoa học trong phản biện khoa học? Liệu chúng ta đã thực sự cổ súy những công trình đề cao tính phản biện, lấy phản biện làm bệ phóng cho việc tìm tòi các vấn đề, hướng đi mới trong khoa học? Từ lâu, tồn tại một cách nói vui trong giới khoa học rằng đề tài nghĩa là "tài" chọn "đề". Nghĩa là đừng có dại gì mà lao vào những vấn đề thời sự, hóc búa. Hãy cứ chọn vấn đề nào đó người khác đã làm, đã được nghiệm thu, đánh giá, chấm điểm cao. Rồi thì "men" theo đó mà đi.

Cho và nhận

Bản chất của phản biện khoa học không phải là so tài "cao, thấp", phân định rạch ròi "trắng đen" hay quy kết "lập trường chính trị" của ai đó. Trái lại, phản biện nhằm kiểm chứng tính logic, chính xác, phổ quát và khách quan mà thông tin, nhận định, kết luận được rút ra từ một công trình khoa học cụ thể. Chính vì thế, phản biện cần phải coi là một phần tất yếu trong nghiên cứu khoa học bởi chẳng có nền khoa học nào mà không tồn tại phản biện.

Người nhận được ý kiến phản biện vì thế cần phải biết cầu thị, lắng nghe và tôn trọng ý kiến phản biện. Có đồng nghiệp trẻ của tôi từng tâm sự họ rất khó xử khi thầy dạy hay lãnh đạo của mình quá "thù dai" trước những phát biểu trái chiều mà họ đưa ra thảo luận trong các buổi sinh hoạt khoa học. Sau những lần ấy, họ cảm thấy mình dường như bị "ghẻ lạnh", thậm chí bị "cô lập".

Người nhận được ý kiến phản biện có quyền đồng ý hay phản đối ý kiến phản biện, chừng nào họ có đủ bằng chứng, lí lẽ để bảo vệ quan điểm của mình. Ngay cả trong trường hợp đó, ý kiến phản biện vẫn có ích, bởi nó giúp bạn nhìn lại kĩ hơn công trình của mình. Chính vì thế, sẽ là không cần thiết khi ném "cái nhìn hình viên đạn" hay thái độ bực dọc, kẻ cả trước một ý kiến phản biện nào đó.

Một nhà khoa học tỉnh táo, bản lĩnh luôn hiểu rằng, chứng minh quan điểm của người khác sai không nhất thiết có nghĩa quan điểm của mình là đúng.

Sẽ là tuyệt vời nếu người phản biện đủ dũng cảm để không đồng nhất ý kiến phản biện của mình với "chân lí", "sự thật" hay "con đường duy nhất". Sẽ là thuyết phục hơn nếu quan điểm phản biện ấy được đưa ra như một gợi ý, một lựa chọn khác thay vì "đóng đinh" chúng như chuẩn mực, buộc người khác phải đi theo. Bởi chẳng có giới hạn trường tồn nào trong khoa học cả.

Người phản biện sẽ thật khôn ngoan khi không tự đặt mình ở thế đối lập, đối đầu với người mình phản biện. Bởi thực chất, công việc phản biện cũng là hoạt động khoa học, nó có thể được hoặc không được chấp nhận từ người khác. Bởi lẽ nếu ai cũng làm vậy, cuộc tranh luận khoa học sẽ chẳng đi về đâu cả. Khi cái "Tôi" của mỗi người quá lớn, phản biện khoa học dễ biến thành nơi người ta khoe hơn là lắng nghe.

Câu hỏi chưa có lời giải

Sự phẳng lặng quá lâu cũng có thể khiến đâu đó lầm tưởng khoa học xã hội nước nhà toàn phát hiện ra chân lí, toàn giải quyết nhanh chóng, tròn trịa, toàn mĩ những vấn đề của xã hội, đến độ người ta chẳng có nhu cầu trao đi, đổi lại? Người ta có thể lầm tưởng mọi công trình khoa học nước nhà đã đạt đến trình độ cao, ở "cảnh giới" siêu thực đến độ việc phản biện là không cần thiết nữa.

Hoặc giả người ta cũng có quyền nghi ngờ vào việc liệu nền khoa học ấy có đang tồn tại, vận động, phát triển, song hành với biến chuyển của thời cuộc và thực sự có ích cho xã hội như nó vốn từng có trong suốt nửa đầu thế kỉ 20? Người ta cũng có quyền nghi ngờ tại sao lại cần đến nhiều đề tài khoa học các cấp, nhiều chương trình, dự án, luận chứng, luận cứ đến thế khi mà có quá ít nhu cầu trao đổi, phản biện? Người ta cũng có quyền nghi ngờ về tính cần thiết, hiệu quả của việc đầu tư cho các tạp chí khoa học chuyên ngành, mà đa phần in xong thì cất vào kho, giống như nhiều báo cáo khoa học ngủ vùi trong bụi?

Người ta cũng có thể đặt câu hỏi cho việc liệu có cần phải xem xét lại các tiêu chí đánh giá đóng góp cho xã hội của một công trình khoa học. Giữa một công trình "an toàn" ngủ yên trên giá sách hàng thập kỉ và một công trình gây ra nhiều "ồn ào" với cả lời khen ngợi và chê bai, người ta nên cổ súy cho phía nào?


Nguyễn Công Thảo
(Tuần Việt Nam)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Muốn thoát Trung, phải trung thực

Muốn làm người tử tế, muốn làm bất cứ cái gì có ích cho xã hội, đều cần phải trung thực.
Đầu năm 2000, là “phóng viên đặc biệt” của báo Lao Động, tôi có phỏng vấn chị TS Tâm lý học Phạm Bích Hợp, người đàn bà bản lĩnh đã tự mở một trung tâm Nghiên cứu Tâm lý Dân tộc và tổ chức hai cuộc hội thảo động trời về chủ đề tâm lý người Việt. Báo Lao Động của tôi đã xiểng liểng vì bài phỏng vấn ấy, do không “kiểm duyệt bỏ” một vài ý kiến phát biểu quá “nhạy cảm”. 
Trong đó, Giáo sư Phan Ðình Diệu, đại biểu Quốc hội, Uỷ viên Chủ tịch đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đưa ra lời khái quát giật mình: “CÁI GIẢ chẳng những đang là một thói quen mà còn trở thành một đạo lý“. TS Phạm Bích Hợp bình luận thêm: “Trên diễn đàn, trong hội nghị, ở nhà trường… lắm khi người ta nói giả hơn là nói thật và hài lòng với việc cùng nhau che đậy những sự thật ai cũng biết nhưng chẳng ai nói ra. Tinh thần tôn trọng sự thật có lẽ là một giá trị thấp kém nhất trong đời sống tâm lý của không ít người Việt Nam hôm nay, trong khi nó lại là cần thiết để đồng thuận và phát triển".

và "Bởi vì người ta chỉ có thể đồng thuận trên căn bản cùng thừa nhận những sự thật. Và sự phát triển tự nó không thể chấp nhận một tình trạng vờ vịt làm giả vờ và nói dối lẫn nhau. Cũng đã có một vài chính khách tung ra lời kêu gọi “hãy nhìn thẳng vào sự thật”, nhưng sau đó sự thật vẫn là cái người ta biết rõ nhưng lại tự thấy nên tránh là hơn. Nếu không vượt qua được nghịch lý này thì không thể nói đến lòng tự tin và tự trọng cho chúng ta và cho con em chúng ta. Bởi vì trọng sự thật là thước đo đầu tiên của lòng tự trọng.”

Từ đấy đến nay đã 14 năm. Mặc kệ lời cảnh báo của các trí thức tâm huyết, CÁI GIẢ ngày càng chiếm địa vị ngự trị mọi lĩnh vực của đời sống, không những chỉ ảnh hưởng đến lòng tự trọng mà còn tác hại nhãn tiền đến sự sống còn của dân tộc.

Nguồn cơn là từ đâu? Tôi cho rằng GIẢ DỐI là một trong những đặc tính văn hoá căn bản mà giới lãnh đạo China Cộng đã xây dựng thành công trong xã hội của nước họ và cũng truyền nhiễm khá thành công sang xã hội Việt Nam qua nhiều năm hai đảng khăng khít “môi răng”.

Biểu hiện giả dối thì rất nhiều, hôm nay tôi chỉ nói đến cái giả dối trọng yếu nhất, tổ sư nhất, bao trùm nhất, hệ lụy ghê gớm nhất đối với việc bảo vệ độc lập và phát triển đất nước Việt Nam ta.

Đó chính là sự GIẢ DỐI về lý tưởng, mục tiêu, chủ thuyết phát triển đất nước. Cho đến hôm nay, cả thế giới không còn ai tin vào lý tưởng “Cộng sản”, vào học thuyết “Mác-Lênin”, vào con đường “xã hội chủ nghĩa” (theo kiểu được gọi là “Chủ nghĩa xã hội khoa học” mà cực kì phản khoa học – tức là dựa trên chuyên chính vô sản, do Đảng của “giai cấp công nhân” độc quyền lãnh đạo toàn diện, công hữu tư liệu sản xuất, kinh tế tập trung kế hoạch hoá…); kể cả những người đang cố sức “kiên định” chúng trong các phát biểu, các văn bản cương lĩnh… tôi cam đoan trong lòng họ cũng chẳng tin. Bản thân China, kể từ khi họ Đặng tuyên ngôn “mèo trắng, mèo đen”, thì đã bắt đầu “thoát Cộng, thoát Mác-Lê” rồi, đến hôm nay xã hội China rõ ràng là xã hội của chủ nghĩa tư bản (CNTB) man rợ, CNTB thân hữu, Đảng Cộng sản China rõ ràng là một thế lực độc tài bảo vệ quyền lợi của một giai tầng đặc quyền thống trị. Thế mà Đảng Cộng sản China vẫn rêu rao “chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông” (tư tưởng Mao thì họ bỏ phần “lấy nông thôn bao vây thành thị”, nhưng vẫn giữ một yếu tố căn bản, đó là chủ nghĩa bành trướng Đại Hán).

Việt Nam đang đi theo đúng mô hình China Cộng, và quán triệt cái VĂN HOÁ GIẢ DỐI, nói một đằng làm một nẻo: Nói “Mác-Lênin”, “định hướng xã hội chủ nghĩa”, mà làm thì cướp đất nông dân trao cho các tập đoàn tư bản nhà nước và tư bản thân hữu, hạn chế tối đa quyền đình công và làm lơ những quyền lợi thiết yếu của công nhân, mặc cho các công ty độc quyền thả sức tăng giá các nhu yếu phẩm như điện, xăng dầu, thuốc men, sữa… Tất cả nội dung của cái gọi là “Mác-Lênin” và “định hướng xã hội chủ nghĩa” chỉ còn lại điều duy nhất: Độc quyền toàn trị của một đảng tên gọi là cộng sản, nhưng bây giờ chủ yếu là đảng của tầng lớp “cán bộ quan liêu”, đâu còn liên quan gì đến công-nông! Cứ so sánh thực tế đời sống công nhân với các tầng lớp khác trong xã hội là biết ngay giai cấp nào đang nắm quyền lãnh đạo đất nước!

Trên diễn đàn này, có tác giả cho rằng “thoát Trung là thoát “Mác-Lênin”, nhưng nói cho đúng, chính Trung (China) đang “thoát Mác-Lênin”, và Việt Nam cũng đang dần dần “thoát Mác-Lênin” mà không dám tuyên bố thôi. Chỉ cần nghĩ về cái mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” mà ai cũng tán thành, chỉ cần nghe các nhà lãnh đạo ra sức cầu xin các nước tư bản công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường, ta đủ thấy họ thèm muốn “thoát Mác-Lênin” ra sao rồi.

Thế nhưng, lại nhưng, trên các văn bản chính thức, người ta vẫn bắt mọi người phải nhận “Chủ nghĩa Mác-Lênin” là nền tảng tư tưởng! Trên đường lối kinh tế cơ bản, người ta vẫn đòi “kinh tế nhà nước chủ đạo”, “đất đai sở hữu toàn dân”. Thật mâu thuẫn, tréo ngoe! Từ đó sinh ra bao nhiêu điều lộn xộn, tay phải chém tay trái, xã hội nháo nhào! Từ đó sinh ra đủ thứ GIẢ: đầy tớ giả, dân chủ giả, nhân quyền giả, luật pháp giả, tự do ngôn luận giả, cho đến bầu cử giả, đấu thầu giả, bằng giả, làm việc giả, thậm chí cả… tù giả, và mới đây phát hiện cả… “lính đảo” giả, thì nguy quá rồi!

Có không ít người biện bạch: Biết “Mác-Lênin” là sai rồi, nhưng phải nói thế, nếu không thì loạn à? Cứ nói thế để “ổn định”, rồi ta cứ ngầm ngầm “thoát” cũng được chứ sao?

Song, chính chỗ KHÔNG TRUNG THỰC ấy ngày càng là vấn đề, nó là cái mầm loạn lớn lên nhanh như Tháng Gióng trong thời đại toàn cầu hoá và Internet! Bởi vì thông tin đã không thể bưng bít, mà còn khăng khăng NÓI DỐI theo bài bản Goebbels những năm 1940 thì thật là cố đấm ăn xôi!

Vừa rồi, tôi có dịp bất ngờ chứng kiến những doanh nhân trí thức thành đạt phát biểu trên một diễn đàn công khai. Ông A. nói: “Hồ Chí Minh là nhà ái quốc, nhưng khi tôi thấy ông chọn chủ nghĩa Mác thì tôi buồn lắm, vì chủ nghĩa ấy các nước trên thế giới không thích, và đó chính là nguyên nhân khiến cho Việt Nam chiến tranh liên miên!”. Ông B: “Người Việt Nam chia rẽ quá. Có ba triệu người Việt ở nước ngoài mà họ không chịu về giúp nước. Nhưng nếu Việt Nam có một chính thể đúng, họ sẽ về!”. Người dân bây giờ đã chẳng sợ nói toạc ra như thế đấy, các vị lãnh đạo có biết không?

Một khi đã GIẢ DỐI từ những điều thiêng liêng nhất, thì nói còn ai nghe: lòng dân không tin, không phục, ấy là mầm loạn lớn nhất; và trong khí quyển giả dối ấy, chỉ những kẻ bất tài cơ hội man trá mới có đất dụng võ, người trung thực sẽ bị vứt bỏ, bộ máy nhà nước sẽ suy yếu nhanh chóng, ấy là mầm loạn lớn thứ nhì. Đó là ở bài này, mới chỉ nói trong phạm vi những vấn đề thời sự, tôi chưa muốn bàn đến hệ lụy lâu dài mà SỰ GIẢ DỐI thống trị gần nửa thế kỷ trên cả nước đã phá hủy rất căn bản nền tảng đạo đức xã hội của người Việt, mà tôi coi đó là một tội ác lớn nhất của chủ nghĩa Stalin + Mao đối với dân tộc ta.

Vẫn biết thừa nhận cái sai kéo dài, tích tụ quá lâu quả là cực khó, cực đau đầu đau tim, và… tôi cho rằng cái chính là người ta QUÁ SỢ hậu quả khó lường! Tôi cũng biết nhiều đảng viên lâu năm, những người rất tốt, rất cấp tiến, rất “phản biện”, thấy rõ đảng đã biến chất, đã thành “đảng khác”, mà vẫn quyến luyến không chịu ra đảng, vì rất nhiều lý do khó nói!

Song, việc China Cộng đã bước sang giai đoạn trắng trợn xâm lược, xé bỏ mặt nạ “16 chữ vàng” trong đó có “lý tưởng tương thông”, vừa là tình thế bắt buộc Đảng Cộng sản Việt Nam phải dũng cảm công khai đoạn tuyệt với tất cả những thứ “viển vông” (không biết đến hết thế kỷ có đạt được không, như Ngài Tổng Bí thư thú nhận trong “phút buột miệng”) như một giải pháp căn cốt để “thoát Trung”, vừa là cơ hội ngàn vàng để đảng có thể làm việc ấy mà còn giữ được tính chính danh, mà xã hội vẫn ổn định, không sợ loạn!

Bởi vì lịch sử đang lặp lại một mối tương quan chặt chẽ giữa bảo vệ độc lập và lựa chọn chế độ: 130 năm trước (tính từ 1884), CNTB Pháp là kẻ thù xâm lược nước ta, điều đó dẫn đến tâm lý: muốn chống Pháp, phải chọn một chủ thuyết đối lập với nó. Đó là động cơ khiến Nguyễn Ái Quốc chọn Đảng Cộng sản Pháp ở hội nghị Tours và đi theo Quốc tế vô sản. Vậy bây giờ: muốn chống China Cộng, con đường tất yếu phải là chọn mô hình phát triển đối lập với đường lối Độc tài toàn trị phát xít hoá của tư bản man rợ giả danh Cộng sản: đó chính là nền CHÍNH TRỊ DÂN CHỦ PHÁP QUYỀN + KINH TẾ THỊ TRƯỜNG + XÃ HỘI DÂN SỰ.

Tôi tin rằng, chỉ cần Đảng Cộng sản Việt Nam dứt khoát, dũng cảm TRUNG THỰC thừa nhận con đường thoát độc tài nói trên, để Việt Nam đàng hoàng gia nhập thế giới dân chủ văn minh, sẽ tạo được một bước ngoặt hết sức quyết định trên đường “thoát Trung” và quy tụ được lòng dân trong nước cùng với các đồng minh quốc tế hợp thành sức mạnh vô địch chống xâm lược China Cộng! Và dân sẽ “miễn trừ” những tội lỗi sai lầm của họ trong quá khứ, và họ sẽ vẫn có chỗ đứng xứng đáng trong lòng dân tộc! Chắc chắn sẽ có rất nhiều người tự nguyện vào đảng để chống xâm lược nếu Đảng Cộng sản đổi tên thành Đảng Lao động hay Đảng Dân tộc chẳng hạn!

Mặc dù có rất nhiều sự việc khiến người ta phải nghi ngờ, tôi vẫn không tin, hoặc không muốn tin rằng Đảng Cộng sản Việt Nam KHÔNG MUỐN THOÁT TRUNG vì đã gắn chặt quyền lợi ích kỷ của mình với bọn xâm lược. Cầu mong tôi không bị ngây thơ như các nhà thơ thường vốn thế! Còn nếu như mọi việc sẽ diễn ra cho thấy tôi quá ngây thơ, thì tôi chỉ còn biết khóc cho đất nước này, cho bản thân mình, cho dân tộc Việt, và thảm hoạ sẽ giáng xuống cho tất cả, không trừ một ai, kể cả những kẻ NGU TRUNG VỚI TRUNG! 

Hoàng Hưng
Tác giả gửi Văn Việt.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 15 tháng 7, 2014

Nếu đề nghị này được "Xét đến", sẽ có bao nhiêu người đi tù và bao nhiêu người sợ đến đái ra quần?

XIN ĐƯỢC ĐI... TÙ

Mấy ngày vừa qua có bàn tán xôn xao về giả thiết sau khi giàn khoan Trung Quốc rút, tình cảm lãnh đạo 2 nước lại nồng hậu như xưa, khi đó sẽ có hàng vạn người bị bắt vào tù vì... chống Trung Quốc.
Không ít kẻ buộc mõm chờ thời hể hả trước giả thiết này và tự đắc mình mới là kẻ thức, mình sẽ không bị đi tù.

XIN ĐƯỢC ĐI... TÙ


Nếu giả thiết dư luận đưa ra đúng, tôi xin là người đầu tiên được đi... tù vì lý do tôi là người hăng hái chống những hành vi “sai trái”, “điên cuồng” của lãnh đạo Trung Quốc lên lãnh thổ Việt Nam, lên người dân Việt Nam.

Tôi là người đi in băng rôn khẩu hiệu, vận động vợ con xuống đường biểu tình phản đối Trung Quốc theo lời kêu gọi của Hội luật gia thành phố.

Tôi ủng hộ hết mình quan điểm của lãnh đạo đảng, nhà nước rằng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là thiêng liêng, là trên hết. “Không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc”.

Tôi đã viết hơn 50 bài phân tích về động thái “đê hèn” của lãnh đạo Trung Quốc; tiên lượng những ý đồ “nham hiểm”, “xấu xa” lãnh đạo Trung Quốc sẽ làm với Việt Nam trong tương lai; vạch ra biện pháp, đối sách tối ưu để Việt Nam giữ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ bền vững.
Tôi đã chia sẻ trên facebook hàng nghìn đường dẫn bài viết lật tẩy, phản đối “thủ đoạn”, “dã tâm” “bành trướng”, “xâm lược” của Trung Quốc trên các báo điện tử do đảng, nhà nước quản lý.

Tôi đã viết lời cảm ơn, cổ vũ tất cả các quốc gia, người dân trên thế giới vì họ có hành vi đúng đắn là đứng về phía chính nghĩa (Việt Nam), phản đối hành vi sai trái, bênh vực kẻ yếu. Cho tới giờ phút này, tôi vẫn luôn mong mỏi họ tiếp tục dành cho Việt Nam những tình cảm ấy.
Tôi đã lên án lãnh đạo những nước từng có mối hữu hảo thâm giao với lãnh đạo nước ta nhưng khi toàn vẹn lãnh thổ chúng ta bị xâm phạm, họ đã lặng lẽ quay mặt, không dám tỏ thái độ, không dám đứng về phía lẽ phải, chính nghĩa.

Thêm lý do nữa là cho dù Trung Quốc có rút giàn khoan về, tôi vẫn giữ nguyên thái độ, lập trường với lãnh đạo quốc gia luôn “nhăm nhe” “mánh khóe” “thôn tính” Việt Nam.

Tôi ủng hộ “Thoát Trung” vì mong ước, tin tưởng điều đó chắc chắn hướng đến tương lai dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam phát triển tươi đẹp.

Và nếu lãnh đạo đảng, nhà nước lại bang giao ấm nồng với đội ngũ lãnh đạo “tráo trở” “ngạo ngược”, “bạo tàn” đó thì hãy cho tôi được đi tù.

Nguyễn Văn Hoàng



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hiểm họa tiềm ẩn từ các dự án đầu tư Trung quốc


Việc các nhà đầu tư TQ trúng thầu quá nhiều các công trình trong lúc công tác quản lý về phía VN đã có quá nhiều sơ hở, điều đó không chỉ dẫn đến tình trạng làm cho kinh tế VN phụ thuộc vào kinh tế TQ, mà còn có thể tạo nên những nguy cơ về an ninh quốc phòng . Anh Vũ có thêm chi tiết.
Một công trình trong khu vực dự án Formosa được rào kín chung quanh có gần cả ngàn lao động người Trung Quốc làm việc. Source nld.com


Việt Nam – Trung quốc là hai quốc gia láng giềng có chung đường biên giới, do các đặc điểm địa chính trị mang tính đặc thù đã khiến cho hai quốc gia có các quan hệ về kinh tế chính trị khá mật thiết.

Cảnh báo các gói thầu lớn đều vào tay TQ

Hiện tượng hầu hết các gói thầu lớn của Việt Nam đều rơi vào tay các nhà thầu Trung Quốc là biểu hiện hết sức đáng lo ngại. Đáng chú ý, các doanh nghiệp Trung Quốc được ưu đãi đến mức độ biệt đãi, không còn gì để ưu đãi hơn. Một hiện trạng đang bị báo chí trong nước nêu ra là trong khi người Việt thiếu công ăn việc làm, thì các doanh nghiệp Trung Quốc đã không sử dụng lao động VN mà lén lút đưa rất nhiều lao động phổ thông từ nước họ sang.

Đánh giá về thực trạng đầu tư của TQ vào VN hiện nay, T.S Ngô Trí Long thấy rằng sở dĩ nhà thầu TQ trúng thầu nhiều, lý do chính là do phía VN thiếu vốn nên phải vay từ nguồn quỹ vốn xuất khẩu từ phía TQ. Nhưng hầu hết các dự án đều thi công chậm tiến độ, rất nhiều công trình chậm đến 2 - 3 năm, chất lượng thiết bị không đồng đều, một số phải thay thế. Một điểm đáng chú ý là các nhà thầu TQ thường dùng thủ đoạn đút lót các doanh nghiệp VN để trúng thầu.

Từ Hà nội, T.S Ngô Trí Long cho biết:

“Đầu tư trực tiếp và gián tiếp của TQ vào VN  không nhiều, đặc biệt, họ hay đưa công nghệ lạc hậu vào VN. Thường thường họ bỏ thầu giá thấp, mà VN  trong giai đoạn đầu lại chủ yếu coi trọng về giá, hơn nữa thủ đoạn của TQ làm ăn, theo cách hối lộ, mua chuộc “có nghề” của họ. Thường thường tiền lệ của nhà thầu TQ đối với VN là: bỏ giá thấp, thi công chậm trễ, kéo dài, rồi yêu cầu đội vốn lên, đưa công nghệ lạc hậu vào, đưa lao động phổ thông vào nhiều, gây bất lợi cho VN.”
Đầu tư trực tiếp và gián tiếp của TQ vào VN không nhiều, đặc biệt, họ hay đưa công nghệ lạc hậu vào VN. Thường thường họ bỏ thầu giá thấp, mà VN trong giai đoạn đầu lại chủ yếu coi trọng về giá, hơn nữa thủ đoạn của TQ làm ăn, theo cách hối lộ, mua chuộc “có nghề” của họ - T.S Ngô Trí Long
Điều đó đã dẫn đến việc các ngành cơ khí, dệt may và ngay cả ngành hàng nông sản xuất khẩu… cũng đang phải gánh chịu hậu quả do phụ thuộc quá nhiều vào TQ. Không chỉ thế, việc đầu tư kinh tế của TQ cũng được dư luận cho là hình thức núp bóng để phục vụ cho các mục tiêu quân sự và quốc phòng đối với VN.
Thậm chí người Trung Quốc còn đặt nhiều tên đường VN bằng tiếng Hoa. Ảnh: đường Dong Fang, được tập đoàn điện khí Dong Fang Trung Quốc, trúng thầu xây dựng nhà máy nhiệt điện Hải Phòng, đặt tên. Ở công trình này, tên các con đường nội bộ đều do nhà thầu T
Thậm chí người Trung Quốc còn đặt nhiều tên đường VN bằng tiếng Hoa. Ảnh: đường Dong Fang, được tập đoàn điện khí Dong Fang Trung Quốc, trúng thầu xây dựng nhà máy nhiệt điện Hải Phòng, đặt tên. Ở công trình này, tên các con đường nội bộ đều do nhà thầu Trung Quốc đặt.
Theo truyền thông của nhà nước cho hay, trung tướng Đồng Sỹ Nguyên một quan chức cao cấp đã từng đặt câu hỏi, vì sao các doanh nghiệp TQ lại chọn thuê đất và đầu tư chủ yếu ở các tỉnh khu vực biên giới phía Bắc, hoặc các vị trí chiến lược trọng điểm như Tây nguyên, Cam ranh… Đặc biệt ở khu vực Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, nơi có trục đường 7, đường 8 sang Lào, đường đi lên Tây Nguyên và họ đưa công nhân của họ vào với số lượng rất lớn?

Những lãnh địa riêng của Trung Quốc trên đất Việt

Cụ thể hàng loạt các cơ sở kinh tế lớn cùng hàng trăm kho bãi của các công ty Trung Quốc chạy dọc bờ sông Ka Long - Móng Cái, một địa điểm quan trọng cho an ninh quốc phòng vùng Đông Bắc. Hay Đặc khu kinh tế Vũng Áng được thuê trong 70 năm, hiện tại Trung Quốc đang biến nó thành một lãnh địa riêng, khi xây tường bao xung quanh, người Việt không thể vào được. Điều đó đã tạo ra một tiền lệ nguy hiểm rằng, ở chỗ nào người Trung Quốc đầu tư, thì người Việt không được vào.

Đáng chú ý, khu vực Vũng Áng nằm đối diện và cách đảo Hải Nam -Trung Quốc chỉ khoảng vài trăm km. Về phía tây, từ cảng Vũng Áng đi qua Lào chỉ có 50km, đây là khu vực có con đường chiến lược do Trung Quốc xây dựng, đồng thời di dân sang ở và phục vụ làm đường. Kết nối con đường này với Vũng Áng và căn cứ quân sự Tam Á trên đảo Hải nam là rất nguy hiểm.
Tôi cũng không hiểu tại làm sao mà trên lãnh thổ Việt Nam lại có các đơn vị Trung Quốc kinh doanh đóng kín, mà như người dân ở đấy nói lại, như ở Hà Tĩnh công an vào họ cũng không cho vào - TS. Lê Đăng Doanh
Bình luận về vấn đề này, TS. Lê Đăng Doanh nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TW bày tỏ sự lo ngại và thấy rằng đây là một mưu đồ có tính toán rất nguy hiểm, đồng thời là hiểm họa rất lớn về lâu dài của TQ. Điều này nếu không được giải quyết sẽ dẫn đến việc bảo vệ kiều dân như trường hợp đã xảy ra ở Ukraina vừa qua.

TS. Lê Đăng Doanh nói:

“Tôi cũng không hiểu tại làm sao mà trên lãnh thổ Việt Nam lại có các đơn vị Trung Quốc kinh doanh đóng kín, mà như người dân ở đấy nói lại, như ở Hà Tĩnh công an vào họ cũng không cho vàoHọ xây một khu riêng và dựng hàng rào lên kín mít và trong đó người dân không biết trong đấy họ làm cái gì và đấy là công nhân hay là lính hay là họ định chuẩn bị cái gì đây.  Nếu như vậy ở đấy đã thành ra lãnh địa của Trung Quốc rồi chứ còn gì nữa!”

Nói về thực trạng và các nguyên nhân chủ quan dẫn đến tình trạng trên, bà Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ cho rằng phía VN đã rất mất cảnh giác. Theo bà công tác quản lý địa bàn của các cơ quan chức năng địa phương hiện rất lỏng lẻo, để mặc người Trung Quốc vào đầu tư hoặc làm việc tại các địa bàn trọng yếu mà không có giấy phép. Điển hình trong số này là vụ việc dân Trung Quốc nuôi tôm rất nhiều năm ở sát cảng Cam Ranh 300m, mà trong một thời gian dài các cơ quan chức năng thành phố này không hề biết.

Bà Phạm Chi Lan nói:

“Thực tế có nhiều doanh nghiệp hoặc cá nhân Trung Quốc vào làm ăn ở Việt Nam theo kiểu không có phép tắc gì cả và gây ra những nhiễu loạn trong xã hội cũng như gây thiệt hại cho người Việt Nam rất nhiều. Như chuyện họ đi nuôi tôm, nuôi cá ở vùng biển Khánh Hòa, hoặc đi thuê người dân trồng khoai lang ở Vĩnh Long hoặc là đi thu mua các loại rễ cây, sừng móng trâu bò v..v.. Những câu chuyện gần như là những câu chuyện thường kỳ trên báo chí rồi.”

Trong bài “Ai nguy hiểm hơn ai ?”, tác giả Nguyễn Hưng Quốc đã cảnh báo hiểm họa không thể lường hết được của lực lượng lao động chui người TQ đang có mặt rất đông từ Bắc chí Nam ở VN và cho rằng : "Đáng nói hơn nữa là những người Trung Quốc này làm gì ở Việt Nam? Nếu họ chỉ làm lậu không thì về phương diện kinh tế và xã hội, hậu quả đã rất đáng lo ngại. Còn nếu họ làm thêm việc gì khác nữa thì hậu quả thật không thể lường hết được. Nhất là khi tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc không còn kìm giữ được nữa. Trong trường hợp ấy, rõ ràng là Trung Quốc đã có sẵn một lực lượng nằm vùng khổng lồ".

Cảnh báo của giới chuyên gia như vừa nêu được đưa ra lâu nay; thế nhưng rồi các nhà thẩu Trung Quốc vẫn nhận được dự án tại Việt Nam. Mới đây là dự án đường cao tốc Đà Nẵng- Quảng Ngãi. Nhiều người thắc mắc tại sao chính quyền Hà Nội vẫn tiếp tục mất cảnh giác đến như thế!

Vũ Thông
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thực lực quân sự của Trung Quốc và Việt Nam


The New York Times: Khi bất đồng giữa Trung Quốc và Việt Nam về biển Đông [nguyên văn: biển Hoa Nam] gia tăng, một vấn đề quan trọng là quân lực Việt Nam đã nổi danh từ nhiều thập niên trước đây về sự kiên cường và về binh pháp du kích, nay đã đạt đến chuẩn mực nào. 
Photo: Credit Agence France-Presse — Getty Images
Trong hai tháng vừa qua, các chiến hạm của hai Lực Lượng Hải Giám Hoa Việt đã tranh dành nhau về một giàn khoang dầu tiền tỷ của Trung Quốc mà Việt Nam cho là Trung Quốc đơn phương áp đặt trên lãnh hải của mình. (Trung Quốc nói đây thuộc về lãnh hải của Trung Quốc). Các chiến hạm của hai nước gầm gừ nhau trong khoảng cách, và đôi khi Trung Quốc gởi các chiến đấu cơ thuộc không lực đến gần giàn khoang để phô trương bảo vệ cơ sở.

Giáo Sư Lyle J. Goldstein, China Maritime Studies Institute thuộc Naval War College tại Rhode Island là người có thẩm quyền chuyên môn để khảo sát khả năng quân sự của Trung Quốc và Việt Nam. Hai quân đội đã hợp tác nhau tại Việt Nam để đánh đổ Pháp trong thập niên 1950 và đánh bại Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Năm 1979, Trung Quốc xâm lăng Việt Nam mà Đặng Tiểu Bình nói là để dạy cho Việt Nam một bài học về việc xâm chiếm Kampuchia, và Trung Quốc triệt thoái trong không hơn một tháng với tổn thất nặng nề. Kinh nghiệm nhục nhã này thúc đẩy Trung Quốc bắt đầu hiện đại hoá các lực lượng vũ trang của mình.

Giáo sư Goldstein thông thạo Hoa ngữ và Nga ngữ. Ông tốt nghiệp trường John Hopkins School of International Studies về ngành Nghiên Cưú Chiến Lược với học vị M. A. Trong thời gian làm luận án tiến sĩ tại Princeton, ông chuyên khảo cứu về Trung Quốc và có theo học tại Beijing City College. Ông gia nhập Naval War College vào năm 2001 và giúp thành lập China Maritime Studies Institute vào năm 2006 mà ông là Giám Đốc đầu tiên cho đến năm 2011. Học viện này thành lập để chuyên khảo cứu cho Hải Quân Hoa Kỳ về sự lớn mạnh của Hải Quân Trung Quốc. Năm 2012 Giáo sư Goldstein, một nhà nghiên cứu say mê các các tạp chí quân sự của Trung Quốc, làm việc cho đề án "Research on Chinese Military Assessments of Selected East Asian Regional Powers". Ông nhận ra rằng Trung Quốc coi thường Hải Quân Việt Nam nhưng lại nể trọng đặc biệt đối với Không Lực Việt Nam. (Janes Perley)

* * *
Hỏi: Việt Nam dường như muốn tìm một đường lối để duy trì mức độ độc lập với Trung Quốc và Hoa Kỳ. Việc này xảy ra như thế nào trong lĩnh vực quân sự?

Đáp: Việt Nam là một đất nước có truyền thông mạnh về quân sự. Hiển nhiên, chính sách ngoại giao đương đại và chiến lược quân sự bị ảnh hưởng nặng nề bởi lịch sử hiện đại của Việt Nam như là "kẻ sát nhân khổng lồ". Việt Nam thành công trong việc loại thực dân Pháp trong những năm 1950, rồi đánh bại Mỹ (1965-73) và cuối cùng quyết liệt với Trung Quốc trong chiến tranh biên giới ngắn ngủi nhưng đẩm máu (1979). Lịch sử dường như đã làm thấm nhuần Việt Nam với niềm tin phát triển một đường lối độc lập hơn là chính sách ngoại giao. Việc này dường như thúc đẩy Việt Nam đầu tư nặng nề về quốc phòng - chuyển hướng chủ yếu về người đối tác truyền thống là Liên Xô trong nỗ lực này. Không giống như một vài nước khác của Đông Nan Á (thí dụ như Phi Luật Tân) Việt Nam không có khuynh hướng lơ đễnh quốc phòng. Một mặt, chiến lược hứa hẹn nhất của Việt Nam đối chọi vơí Trung Quốc là hy vọng rằng Việt Nam có đủ sức ngăn chận, trong khi đồng thời theo đuổi chính sách ngoại giao để giải quyết các tranh chấp.

Hỏi: Ông đã làm nhiều nghiên cưú về việc người Trung Quốc nhìn như thế nào về Việt Nam và về các lực lượng vũ trang của Việt Nam. Người Trung Quốc có nể trọng quân đội Việt Nam không? Họ có còn giữ lại những kỷ niệm tệ hại trong trận chiến chống Việt Nam vào năm 1979 không? Hiện nay Trung Quốc mạnh hơn nhiều, họ nghĩ gì về khả năng quốc phòng của Việt Nam?

Đáp: Trung Quốc theo dõi rất chặt chẽ về khả năng quốc phòng của Viêt Nam đang tăng lên. Điều thú vị là trong một mức độ nào đó cả Bắc Kinh và Hà Nội đã dựa vào vũ khí của Liên Xô - tàu ngầm, khu trục hạm và hộ tống hạm, cũng như không lực - nhằm gia tăng nỗ lực hiện đại hoá quốc phòng. Dường như kinh nghiệm chung này là nguồn tin giúp cho Trung Quốc nhiều hơn để nhận định tổng quát về khả năng quân sự của Việt Nam. Điều mỉa mai trong sự kiện này là cả hai có cùng những loại vũ khí và chiến lược mà Trung Quốc có thể, về phương diện giả thuyết, điều động để chống Nhật hoặc Hoa Kỳ trong bất kỳ xung đột vũ trang nào, thì cũng có thể được Việt Nam dùng để chống Trung Quốc.

Mặt khác, Trung Quốc cũng hiểu rằng vũ khí nhập từ Liên xô không nhất thiết là một tình trạng lý tưởng, bởi vì nó có thể dẫn đến một điều không thể tránh được là có những lầm lạc trầm trọng và người ta thường thấy ngay cả trong việc huấn luyện và bảo trì. Tai nạn nghiêm trọng gần đây tại Ấn Độ, liên hệ đến tàu ngầm chạy bằng dầu Diesel loại Kilo nhập từ Liên Xô, đã minh chứng những nguy hiểm liên quan. Về điểm này, so với Trung Quốc, Việt Nam có độc lập nhiều hơn về vũ khí và khả năng chuyên môn quốc phòng của Liên Xô. Trung Quốc có thể dựa nhiều hơn về khả năng quân sự từ bản địa.

Trong khi cuộc chiến 1979 không là một đề tài chủ yếu của các cuộc thảo luận công khai và nghiên cưú tại Trung Quốc, thì dường như Trung Quốc kiêng nể đặc biệt Việt Nam về sự thành thạo chiến đấu toàn diện. Tuy nhiên, những nhà nghiên cứu quân sự Trung Quốc chỉ ra những yếu kém khác nhau trong chiến lược phát tirển quân sự của Việt Nam. Họ ghi nhận đặc biệt nhất là tàu ngầm có thể là một lực ép chính về nỗ lực của Việt Nam, nhưng các nhà phân tích Trung Quốc nhận định là Việt Nam thiếu trầm trọng về kinh nghiệm chủ yếu trong việc điều hành những hệ thống vũ khí phức tạp không thể tưởng nổi. Một sự yếu kém khả dĩ khác trong khả năng phòng vệ của Việt Nam mà các nhà phân tích Trung Quốc xác định được là các vấn đề thuộc về kiểm tra, xác định mục tiêu và phương cách chiến đấu. Dường như có một cảm tưởng chung cho là Trung Quốc có thể chiếm ưu thế trong bất cứ một trận đụng độ có vũ trang nào, dựa theo điểm mà giới quân sự Trung Quốc tham chiếu gọi là "mô hình 3.14". Mô hình này được đề cập tới trong trận đụng độ vào ngày 14.3.1988 tại quần đảo Trường Sa mà một chiến hạm nhỏ của Hải Quân Trung Quốc nhận chìm vài tàu chiến của Việt Nam trong một cuộc giao tranh nhỏ nhưng quyết liệt.

Hỏi: Việt Nam đã mua sáu tàu ngầm loại Kilo của Liên Xô. Tại sao họ chọn loại tàu này? Liệu Việt Nam sẽ có đoàn thủy thủ đuợc huấn luyện đầy đủ để điều khiển không? Các tàu này có hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của Việt Nam không?

Đáp: Một vài nhà phân tích hải quân đồng ý là tàu ngầm là một loại tàu chủ yếu cho bất cứ hải quân hiện đại nào. Trong khi những loại tàu nổi trên mặt càng dễ bị tổn thương hơn do việc phát hiện từ xa và do trận đánh chính xác, tàu ngầm hoàn toàn có khả năng sinh tồn bởi vì việc săn tìm tàu ngầm có những khó khăn cố hữu. Tàu ngầm có khả năng tác chiến hoàn toàn độc lập, nhưng mang tới những cú đánh chết nguời với phóng ngư lôi hoặc là với tên lửa của tuần dương hạm chống chiến hạm (antiship cruise missile, ASCM).

Loại tàu ngầm Kilo của Liên Xô chạy bằng dầu Diesel là một mặt hàng xuất khẩu phổ biến khắp thế giới, kể cả cho hải quân Trung Quốc và Ấn Độ. Theo giới Hải Quân Hoa Kỳ thì tàu ngầm được coi trọng, vì là một loại vũ khí chống trả kinh khiếp, không phải bởi vì nó chỉ được ước tính bằng tín hiệu truyền âm, làm cho việc phát hiện cực kỳ khó khăn, mà còn bởi vì hiệu năng của các hệ thống vũ khí được trang bị kết hợp, thí dụ như loại Klub S-ASCM, nó có tầm bắn đầy ấn tượng, tốc độ nhanh hơn tiếng động và huy động thiết bị trung ương. Hiển nhiên, những vũ khí này tăng thêm khả năng quốc phòng của Việt Nam một cách đáng kể. Sau cùng, từ lâu Việt Nam thể hiện là có khả năng sử dụng hữu hiệu lực lượng bộ binh, nhưng khả năng về không quân, đặc biệt vể hải quân còn bị hạn chế, ít nhất là đến thời điểm này.

Hơn nữa, từ lâu các nhà phân tích hải quân nghiên cứu là Trung Quốc cực kỳ yếu kém trong binh pháp chống tàu ngầm. Vì thế mà có thể nói rằng Hà Nội tìm thấy điểm yếu của Trung Quốc mà họ đang tìm cách tận dụng. Tuy nhiên, phải nói là hiện nay Hải Quân Trung Quốc ý thức được điểm yếu kém này còn trong nhiều năm và tận tình nỗ lực trong một trận tuyến quy mô hơn để cải thiện khả năng binh pháp chống tàu ngầm, thí dụ như bằng cách họ huy động một số lượng lớn các loại hộ tống hạm nhỏ, mới và có khả năng trong hai năm qua.

Như đã ghi nhận bên trên, có nhiều quan ngại chủ yếu trong khía cạnh huấn luyện và bảo trì liên hệ đến việc mua tàu ngầm. Điều này có lẽ đúng khi những hệ thống kiểm soát tác chiến hiện đại cho phép những đoàn thủy thủ tương đối thiếu kinh nghiệm thành đạt những kết quả chiến đấu nhất định. Nhưng cũng không thể nghi ngờ rằng điều động những lực lượng tàu ngầm là phức tạp nhất trong bất cứ quân lực nào, do đó để xây dựng những lực lượng thực sự có khả năng và tin cậy dường như không phải tính bằng một vài năm, mà là nhiều thập niên.

Hỏi: Nếu như hiện nay có xung đột quân sự giữa Trung Quốc và Việt Nam, ai sẽ thắng?

Đáp: Trong hầu hết mọi kịch bản có thể nhận thức được thì Trung Quốc dường như sẽ thắng. Việt Nam đã có nhiều đầu tư sáng suốt như đã mô tả ở trên và có thể gây tổn thất cho Hải Quân và Không Quân Trung Quốc. Trung Quốc hiện đang tham gia vào tiến trình hiện đại hoá cấp tốc cho quân đội trong hai thập niên và đang gặt hái thành quả. Trong khi đang chuẩn bị cho những kịch bản xung đột có thể dính líu với Hoa Kỳ và hoặc với Nhật Bản, Trung Quốc đã xây dựng những lực lượng được trang bị hoàn chỉnh và huấn luyện chu đáo. Trong những lĩnh vực còn khó khăn của tàu ngầm, binh sĩ trên mặt biển và những lực lựơng tấn công chớp nhoáng, Trung Quốc có thể dựa vào một số ưu thế đáng kể và có thể cho phép Trung Quốc thắng thế dù phải chịu tổn thất.

Chắc một điều là có một vài mức độ thi đua quân sự mà Hà Nội có thể đạt ưu tiên. Thí dụ như Trung Quốc không hoàn toàn mạnh trong phạm vi tiếp tế nguyên nhiên vật liệu trên không, để mà Việt Nam có thể đua tài về ưu thế không quân, đặc biệt nhất là trong những khu vực biển Đông [nguyên văn: biển Hoa Nam] cách quá xa không phận Trung Quốc. Hơn nữa, ở trong một tình trạng nghiêm trọng, Hà Nội có thể nghiên cứu leo thang đụng độ trên biển lan rộng trở thành xung đột trên mặt đất rộng lớn hơn trong vùng biên giới, bởi vì các lực lượng bộ binh Việt Nam có thể đối đầu ngang tầm với các lực luợng bộ binh Trung Quốc. Tuy nhiên, đó sẽ là bước đi ban đầu nguy hiểm, bởi vì Hà Nội tương đối gần biên giới Trung Quốc. Hơn thế, Trung Quốc cũng có khả năng nhất định để dùng cho việc leo thang. Thí dụ, Trung Quốc có thể làm suy yếu các cuộc không tập, tấn công bằng tên lửa chống lại các căn cứ hảì quân và không quân Việt Nam.

Nhìn chung, phải nói rằng tiên đoán kết quả quân sự có tiếng là khó và thế giới đã không chứng kiến một cuộc hải chiến hiện đại đích thực kể từ xung đột tại Falkland năm 1982. Vì thế, phân tích trên đây cần được nghiệm xét với tất cả sự cẩn trọng

Hỏi: Ted Osius, vị đại sứ kế nhiệm tại Việt Nam đang chờ Thượng viện chuẩn nhận. Ông trình bày tại buổi điều trần là hiện nay có thể là thời điểm cho phép Hoa Kỳ giải toả các cấm vận vũ khí. Liệu nói "cho phép có thể" là lịch sự quá không, và thực ra Lầu Năm Góc có sẳn sàng bán cho Việt Nam chưa? Ông nghĩ gì nếu Hoa Kỳ phải bán cho Việt Nam không, nếu cấm vận được giải toả?

Đáp: Theo thiển ý, Hoa Kỳ phải cẩn trọng việc bán vũ khí cho Việt Nam. Trong khi thương vụ này có thể có vài giá trị nhỏ và biểu tượng cho việc ngăn chận, nhưng mối lợi này có thể dễ dàng tạo giá trị nhiều hơn do tiềm năng thúc đẩy leo thang xung đột giữa Trung Quốc và Việt Nam. Cùng một cách này, Hoa Kỳ sẽ phản ứng cực kỳ bất lợi đối với việc bán vũ khí cho châu Mỹ La tinh, thí dụ như cho Cuba hay Venezuela, Bắc Kinh hiểu những thương vụ này là một phần trong nỗ lực của Washington trong việc đẩy mạnh ngăn chận Trung Quốc. Làm như thế dường như Washington không những sẽ khích động xung đôt giữa Trung Quốc và Việt Nam, mà còn gây tác hại cho mối quan hệ Trung Quốc và Hoa Kỳ đã căng thẳng.

Trong khi đối với đồng minh khác, thí dụ như Nhật Bản hay với Phi Luật Tân, Hoa Kỳ đã có những thoả ước lâu đời về quốc phòng liên hệ đến việc mua vũ khí và thao diễn huấn luyện hỗn hợp từ nhiều thập niên, mối quan hệ như thế đối với Việt Nam đang còn trong giai đoạn khởi đầu. Một vài hình thức chung thí dụ như hải giám có thể đem lại nhiều hữu ích cho quân lực Việt Nam, đây là chuyện khả thi. Tuy nhiên, Hà Nội sẽ đối đầu thách thức khó khăn khi cố kết hợp hệ thống của Hoa Kỳ cho phù hợp với công xưởng vũ khí quan trọng mà Việt Nam đã mua của Liên Xô. Việc này đặt ra thách thức chính về kỹ thuật.

kerry_tandung.jpg

Photo: Credit Brian Snyder/Reuters

Hỏi: Ngoại Trưởng Hoa Kỳ John Kerry thông báo có 18 triệu cho Việt Nam trong vấn đề an ninh hàng hải trong tháng Chạp vừa qua. Viện trợ này sẽ dùng vào mục tiêu gi?

Đáp: Còn nhiều vấn đề chưa rõ, nhưng theo thông tin khả dụng cho biết là những qũy này có thể sử dụng để mua tàu tuần tiểu trang bị nhỏ theo loại đã từng chống Trung Quốc trong trận đụng độ tại quần đảo Hoàng Sa từ tháng năm. Cũng nên ghi nhận thêm là Việt Nam kết ước trong một chương trình đào tạo tấn công để cố ngang tầm với lực lượng hải giám mở rộng của Trung Quốc, những qũy này có thể giúp những nỗ lực này. Nhật Bản dường như đang đóng vai trò trong nỗ lực này nhằm nâng cấp những lực lượng hải giám của Việt Nam.

Nhưng qũy này có thể dùng để nâng cấp những điểm yếu trong trang bị của Việt Nam, thí dụ như đối với trang bị lá chắn phòng ngự và thiết bị truyền tin. Tuy nhiên, số tiền nhỏ này có thể đựơc xem đúng hơn là có tính tượng trưng. Thí dụ như môt loại mẩu tàu khổ trung bình, thuộc lực lượng hải giám của Hoa Kỳ hiện nay (loại Sentinel) khoảng 141 feet, giá trên 80 triệu cho cho từng chiếc, vì thế mà số lượng viện trợ sẽ khó mà quyết định trong cuộc tranh đua về hàng hải giữa Bắc Kinh và Hà Nội.

Hỏi: Ông nghĩ trong những năm sắp đến Việt Nam sẽ đối phó với Trung Quốc ra sao, kẻ cựu thù và đôi khi là bạn?

Đáp: Việt Nam và Trung Quốc có những mối quan hệ thông qua một loạt các loại chủ đề, mà người ta có thể chờ đợi nơi các lân quốc khổng lồ. Nhưng ưu điểm thuộc về kinh tế và văn hóa xã hội trong sự kết hợp sâu xa giữa hai nước là hiển nhiên. Thực vậy, cường độ của các mối tương tác này, cho dù chỉ ở trình độ văn hoá hay giữa các giới chức cao cấp giữa hai đảng, có lẽ ít được tường thuật ở phương Tây. Tuy nhiên, trong một số vấn đề nhạy cảm nhất giữa Bắc Kinh và Hà Nội vẫn còn có một khuynh hướng theo một chính sách tạo nên một tình trạng nguy hiểm, đó là chuyện cũng đã thể hiện rõ nhưng thật đáng tiếc.

Một sách lược ngoại giao gây lo âu này có tiềm năng dẫn đến một tình trạng lọt ra ngoài vòng kiểm soát, nó đã thể hiện rõ cho cả hai phiá trong các vụ động loạn hồi tháng năm tại Việt Nam. Những vụ động loạn làm tổn thương hai phía, hy vọng là nó giúp cho lãnh đạo hai nước nhớ lại điểm tiên quyết phải đạt đến là thoả hiệp cho những vấn đề nhạy cảm trong vùng biển Hoa Nam. Trong chiều hướng này, Washington cần phải giữ quyền lợi to lớn hơn của mình. Quyền lợi này gắn bó mật thiết và bất biến đối với mối quan hệ ổn cố và toàn diện giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Trong việc thương thảo với Hà Nội, Washington phải tránh lọt vào bẩy xập của một “loại hội chứng thành bạn xấu”, thúc đẩy Hà Nội thiếu cân nhắc khẩn trương lao vào con đường đối đầu với Bắc Kinh mà Hà Nội không thể hy vọng thắng. Thực vậy, Hà Nội sẽ xem xét nghiêm túc vận mệnh gần đây của Ukraine để so sánh những tình huống tương tự một cách nào đó.

Thay vì chuẩn bị cho một cuộc xung đột vũ trang, Việt Nam cần sử dụng một sách lược ngoại giao sinh động để tìm ra một thoả ước tạm thời với siêu cường phương bắc đang trổi dậy. Chắc một điều, đây là một tiến trình khó khăn và nguy hiểm, nhưng nó sẽ đảm bảo tốt nhất về thịnh vượng và an ninh lâu dài cho Việt Nam trong tình lân quốc có khó khăn.

Nguyên tác: Q. and A.: Lyle Goldstein on China and the Vietnamese Military by Jane Perlez, July 5, 2014, The New York Times.
Đỗ Kim Thêm dịch
Tựa đề bản dịch là của người dịch.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tôi yêu quê hương Việt Nam!

Sống mòn giữa Thủ đô: Tôi đi làm cửu vạn chợ Long Biên
Để có cái nhìn cận cảnh về cuộc sống của những lao động nông thôn lên Thủ đô kiếm sống, tôi lân la đến khu ổ chuột nằm dưới gầm cầu Long Biên (phường Phúc Xá, quận Ba Đình) xin gia nhập vào đội quân bốc vác.

Cửu vạn chợ Long Biên
Cực nhọc, rủi ro, cạm bẫy
Người đàn ông có thâm niên gần 10 năm làm cửu vạn ở chợ Long Biên tên là Nguyễn Văn Tâm (53 tuổi) quê ở xã Quảng Lãng (huyện Ân Thi, Hưng Yên) đồng ý cho tôi tham gia với điều kiện: Khổ tự chịu, tai nạn tự chịu, bị chửi bới, đánh đập, cướp bóc cũng tự mà chịu lấy.

Giao kèo chán chê, 8 giờ tối, ông Tâm đã kéo tôi cùng với 10 người cùng làng kéo xe đẩy ra bãi hàng chợ Long Biên, bắt đầu một đêm trắng làm cửu vạn.

Chợ đầu mối Long Biên ban đêm thực sự là chợ người khổng lồ, tập trung mấy trăm lao động nông thôn từ nhiều vùng quê khác nhau bán sức kiếm sống. Đông đúc, nhốn nháo. Nghe nói, có những lúc cao điểm, ở khu vực này có gần 500 lao động từ các vùng quê làm nghề bốc vác, gồng gánh, đẩy xe...

Từ khoảng 9 giờ tối trở đi, giới cửu vạn đã tất bật rồi. Đàn ông, đàn bà, người già, trẻ nhỏ đủ cả. Cái nghề mà ông Tâm gọi là “thân trâu ngựa”, “dưới đáy xã hội” hóa ra cũng tập hợp được đủ thành phần, nhưng nòng cốt vẫn là dân lao động tỉnh lẻ. Đông nhất ở Hưng Yên, Vĩnh Phúc rồi đến Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa...

Nhóm của ông Tâm, 100% là nông dân hoặc là mất ruộng, hoặc không sống được bằng nghề ruộng nên phải bỏ làng lên Hà Nội kiếm việc. Họ làm đủ thứ nghề nhưng nghề chính vẫn là bốc vác. Cứ hai người góp tiền mua một cái xe kéo. Mỗi tháng đóng cho BQL chợ Long Biên 230 ngàn đồng chi phí hoạt động rồi tự tìm đầu mối “ăn hàng”.

Một buổi làm việc của cửu vạn bắt đầu từ xẩm tối cho đến sáng hôm sau. Công xá tùy vào khối lượng bốc vác, kéo đẩy nhiều hay ít. Tính bình quân mỗi một đêm kéo xe hàng chục cây số được khoảng 100 ngàn đồng.


14-43-28_ncnh1
Một buổi làm việc của cửu vạn bắt đầu từ xẩm tối cho đến sáng hôm sau
Tôi là lính mới nên được ông Tâm ưu tiên chung xe với Nguyễn Đình Thanh, một thanh niên sức vóc, để cùng vợ chồng ông nhận hàng hoa quả của chủ xe người Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc). Nếu nhận giá trọn gói là 300 ngàn, còn tính theo thùng thì mỗi thùng chủ trả 2 ngàn đồng.

Nhìn chiếc xe tải hoa quả chất cao ngất ngưởng tôi bắt đầu thấy ngợp, nhưng Thanh bảo, kéo được bao nhiêu thì kéo, mệt nghỉ. Từ chỗ xe tải trả hàng ra bãi tập kết chỉ chừng 500 m nhưng đường sá ngoằn ngoèo, lởm chởm, nhiều chỗ sình lầy, bẩn thỉu vô cùng.

Thanh trước tôi sau, nhưng đâu chỉ chuyến thứ 3 thứ 4 gì đấy tôi đã cảm thấy mệt đứt hơi, ngồi thở dốc. Đó là một ngoại lệ, bởi những người làm nghề cửu vạn ở chợ này thường không bao giờ được phép nghỉ.

Ông Tâm nói, chỉ nghỉ dăm ba phút thôi là đã mất mối làm ăn rồi. Đói ngay. Có lẽ vì thế mà nhìn bà Lưu Thị Muôn, vợ ông, xem chừng bước đi không nổi sau hàng chục chuyến hàng nặng trịch nhưng vẫn cứ phải cắm đầu kéo xe loạng choạng. Nhìn quanh ai cũng vậy.

Phụ nữ làm nghề cửu vạn ở chợ Long Biên không ít. Thậm chí là người già, trẻ con cũng bốc vác, kéo xe như ai. Nhiều trong số họ là những gia đình. Như gia đình bà cụ Xuyến. Bà gánh. Con trai với con dâu đứa kéo, đứa đẩy. Thằng cháu bốc hàng. Họ không có thời gian nghỉ tay để mà hỏi chuyện. Ông Tâm nói, gia đình bà Xuyến cũng ở Hưng Yên, ruộng bị KCN lấy mất nên cả nhà kéo nhau lên làm cửu vạn ở chợ này.

“Làm cái nghề này tưởng chỉ có người khỏe, nhưng cửu vạn ở đây nhiều người ngoài 50, 60 kể cả trẻ con đang tuổi đi học. Dân quê bỏ làng lên đây, gặp việc gì phải làm việc nấy thôi chứ làm gì được lựa chọn. Việc càng nặng thì người ta mới cần đến mình. Làm thân trâu, thân ngựa thôi chú. Bị chửi bới cũng phải cố mà làm. Bị tai nạn, đau ốm cũng phải cố mà làm”, bà Muôn nói thế.

Nhóm cửu vạn đang quần quật bốc hàng chỉ gián đoạn đôi chút khi có người hô báo một thanh niên bị điện giật ngã giữa chợ. Anh ta cũng là phu kéo xe. Dây điện chạy ngang lối đi bị xe tải chèn nên rò rỉ, nước mưa dẫn đến xe người thanh niên. Anh ta nằm bất động chừng 20 phút, mọi người tưởng chết, nhưng cuối cùng lại tỉnh. “Thằng Thái, 30 tuổi, cũng ở Hưng Yên. Vợ chồng nó làm cửu vạn, thuê trọ cùng xóm chúng tôi”, ông Tâm rỉ tai tôi.

Cái chuyện tai nạn của nghề cửu vạn, ông Tâm bảo là cơm bữa. Đầu năm nay, em rể ông Tâm đang hì hục kéo xe lên dốc, không may gặp xe tải bị mất lái chèn ngang mất một bàn chân. Nhưng “mình là dân quê lên đây kiếm sống, gặp tai nạn, rủi ro thì tự chịu lấy chứ chẳng kêu ai được chú à”.

Đội quân bốc vác, vận chuyển lại tiếp tục. Tảng sáng, tôi cùng nhóm ông Tâm nhận tiền công, chia đều mỗi người 70 ngàn rồi quay trở lại chỗ ở.

Xóm ngụ cư không có ban ngày

"Làm nghề cửu vạn ở chợ đêm này nhiều khi thấy tủi nhục vô cùng. Công việc thì nặng nhọc. Những lúc tắc đường, gánh gần cả tạ trên vai phải đứng cả tiếng đồng hồ để chờ, lại còn bị chủ hàng chửi rủa. Nhưng cứ phải cắn răng mà chịu chứ không thì mất việc, chết đói. Giờ còn đỡ chứ những năm trước, mình gánh hàng, kéo xe đằng trước thì phía sau đám nghiện hút bu bám ăn cắp, cướp giật hàng. Nhiều người sợ chủ hàng bắt đền, không có tiền đóng bỏ xứ đi đâu không biết”, ông Đào Văn Ca, một cửu vạn ở chợ Long Biên chia sẻ.

Xóm ngụ cư dưới gầm cầu Long Biên bất kể mưa hay nắng cũng lầy nhầy nước. Đó là do nước thải từ các đường ống trên phố đổ về, nước từ các điểm rửa hoa quả, hải sản đổ ra.

Một thế giới “khu ổ chuột” tồi tàn, bẩn thỉu. Thế giới của những người làm nghề vất vả, nặng nhọc như chính họ tự nhận là bần cùng.

Chỗ ở của vợ chồng ông Tâm là một trong những gian nhà trọ được dựng lên bằng đủ thứ vật liệu, ván ép, bìa các - tông, bạt, bao tải… nửa nhà nửa lều, rách rưới như tổ đỉa.

Mỗi căn rộng tầm 6 m2. Chỗ ngủ, chỗ vệ sinh, ăn uống, để đồ đạc đều nằm tất trong đấy. Nơi mà vợ chồng ông nói là “không có ban ngày”.

Sau bữa ăn tạm kết thúc đêm làm cửu vạn vào buổi sáng, hầu hết các gian trọ đều đóng kín cửa đi ngủ.

Ông Tâm dẫn tôi vào “nhà”. Ngoài vợ chồng ông còn có hai người cùng quê nữa ở “căn nhà” này. Mỗi tháng chủ nhà thu 1 triệu đồng tiền ở. Điện 4 nghìn một số, nước 30 nghìn một người, vệ sinh 20 nghìn...

Vợ chồng ông Tâm chuẩn bị cơm. Nhưng quả thật, nhìn cảnh ngồi ăn ngay một bên nhà vệ sinh tôi không nuốt nổi.

14-43-28_ncnh4
Cuộc sống nhếch nhác ở xóm ngụ cư “không có ban ngày”
Đoán ý, bà Muôn phân trần: Biết ăn uống, sinh hoạt thế này cũng khổ thật, nhưng những người lao động rời quê như chúng tôi không còn cách nào khác. Đành phải chấp nhận thôi.

Chúng tôi đang trò chuyện thì thấy ông chủ của khu nhà trọ tồi tàn này cầm cuốn sổ đi vào. Chẳng biết ai thông tin mà ông hộc tốc đến tìm tôi hỏi tiền trọ. Ở đây nếu ở theo ngày thì mỗi người phải đóng 13 ngàn đồng đổi lấy một chỗ nằm co quắp. Nhiều người bảo, khu trọ này dựng lên bất hợp pháp. Cũng chẳng sao. Dân ngụ cư chỉ cần chỗ ngả lưng. Tối tăm, không hợp pháp có khi lại tốt. Đỡ phải lo chuyện tạm trú tạm vắng.

Già nhất xóm ngụ cư này là bà Thìn (70 tuổi), quê ở Vĩnh Phúc. Ngày xưa, khi mới xuống Hà Nội, bà cũng là cửu vạn kéo xe. Mấy năm lấy đêm làm ngày ở chợ Long Biên tuồn vào người đàn bà này đủ thứ bệnh. Tiền dành dụm được cuối cùng cũng đổ hết vào việc chạy chữa bệnh khớp, cột sống. Giờ bà Thìn đã chuyển sang nghề gánh hàng thuê. Mỗi một đêm bà gánh được khoảng 10 chuyến, mỗi chuyến 3 ngàn đồng, chỉ đủ ăn với mua dầu gió về thoa. “Giờ có đau ốm gì cũng chịu. Tiền đâu mà đi chữa trị”, bà Thìn nói thế.

Năm ngoái, bà Thìn còn người bạn già thuê trọ cùng. Quê ông ấy ở Thanh Hóa, đang kéo xe lên dốc thì đột quỵ, người nhà ra đưa thẳng về quê, nghe nói chết rồi.

 Hoàng Anh
( Nông Nghiệp )

Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Đã tới lúc để lật thế cờ, thay đổi cuộc đối thoại với Trung Quốc”

HOÀI HƯƠNG

BizLIVE - "Giờ đã tới lúc để lật thế cờ, thay đổi cuộc đối thoại với Trung Quốc. Đã tới lúc chúng ta nên nói rằng chúng ta có những đồng minh và nước bạn tốt có quan hệ với chúng ta từ lâu và là những thế lực trong khu vực, chúng ta có những bạn mới mà theo trông đợi sẽ thắt chặt quan hệ lâu dài, cả về thương mại lẫn quốc phòng”, Chủ tịch Ủy Ban Tình báo Hạ viện Hoa Kỳ Mike Rogers nói.

“Đã tới lúc để lật thế cờ, thay đổi cuộc đối thoại với Trung Quốc”
Tàu Hải giám Trung Quốc phun vòi rồng vào tàu thực thi pháp luật của Việt Nam. Ảnh AP
Hội thảo Biển Đông thường niên thứ tư do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) tổ chức vừa kết thúc hôm thứ Sáu 11 tháng 7 tại thủ đô Washington của Hoa Kỳ, theo tin từ VOA. 
Cuộc hội thảo quốc tế năm nay cũng quy tụ các học giả, chuyên gia hàng đầu và những nhà làm chính sách cấp cao của nhiều nước- kể cả nước chủ nhà, cùng với giới truyền thông và những người quan tâm tới tình hình Biển Đông. 
Hội thảo Biển Đông với chủ đề: “Những Xu hướng gần đây ở Biển Đông và Chính sách của Hoa Kỳ” diễn ra trong bối cảnh cuộc tranh chấp chủ quyền Biển Đông đang rẽ sang một bước ngoặt nguy hiểm, khi hơn 100 tàu Trung Quốc hàng ngày dàn hàng đối đầu với tàu kiểm ngư và cảnh sát biển Việt Nam, uy hiếp ngư dân Việt Nam đang tiếp tục bám biển, chống việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. 
Một số chuyên gia nói những hành động của Trung Quốc đã khơi dậy những lo ngại về nguy cơ xảy ra xung đột quân sự.
Mở đầu hội thảo hôm thứ Năm, diễn giả chính, Chủ tịch Ủy Ban Tình báo Hạ viện Hoa Kỳ Mike Rogers đề cập tới mối đe dọa từ Trung Quốc khi nước này lấp biển, xây dựng thêm trên các bãi cạn hay đảo không người ở để tìm cách thay đổi hiện trạng trên Biển Đông. 
Ông đơn cử những hành động gây hấn mà ông cho là“tham lam, trắng trợn” của Trung Quốc hồi gần đây, hiếp đáp các nước láng giềng – trong đó có Việt Nam, trong khi thế giới đang bận tâm về những cuộc khủng hoảng tại các điểm nóng khác. 
Ông nói đã tới lúc Hoa Kỳ và các nước trong khu vực phải có biện pháp để răn đe Trung Quốc chớ tiếp tục theo đuổi ý đồ một cách ích kỷ, lấn ép và xâm phạm chủ quyền của các nước láng giềng nhỏ hơn.
Ông nói tình hình đã trở nên hết sức cấp bách. Ông nói: “Chúng ta sẽ lừa dối chính mình nếu không nghĩ rằng mâm cơm đã được dọn sẵn, nồi canh đã bắt đầu sôi sục, khi nói tới những gì đang diễn ra ở Biển Đông. Các nước bạn đã nói với chúng ta từ nhiều tháng rồi, thậm chí nhiều năm rồi, về những thách thức sẽ đến từ Trung Quốc tại Biển Đông".
"Giờ đã tới lúc để lật thế cờ, thay đổi cuộc đối thoại với Trung Quốc. Đã tới lúc chúng ta nên nói rằng chúng ta có những đồng minh và nước bạn tốt có quan hệ với chúng ta từ lâu và là những thế lực trong khu vực, chúng ta có những bạn mới mà theo trông đợi sẽ thắt chặt quan hệ lâu dài, cả về thương mại lẫn quốc phòng”, ông nhấn mạnh.
Tương tự như tại các cuộc hội thảo về tình hình Biển Đông trước đây của CSIS, các diễn giả Trung Quốc hầu như hoàn toàn bị cô lập khi họ lặp lại những lập luận cũ, khăng khăng đòi chủ quyền mà họ nói là “không thể tranh cãi” trên hầu hết Biển Đông, viện những cái gọi là “chứng cứ lịch sử”, đã bị các diễn giả khác lần lượt bác bỏ.
Lập trường của các diễn giả Trung Quốc không những không đổi, mà năm nay dường như còn cứng rắn hơn. Thế liệu sau 2 ngày hội thảo, các diễn giả có cảm thấy bi quan hơn về một giải pháp cho cuộc tranh chấp ở Biển Đông?
Trả lời VOA, Tiến sĩ James Manicom, một nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Sáng kiến Cai trị Quốc tế -gọi tắt là CIGI- đến từ Canada nhận định: “Tôi vừa lạc quan lại vừa bi quan. Một điều đáng chú ý là phần lớn hai buổi hội thảo đều tập trung vào cách làm thế nào có thể hối thúc Trung Quốc hãy thay đổi cách xử sự và ngưng những hành vi có tính khiêu khích, nhưng chúng ta cũng nên duy trì thái độ cởi mở, để tìm hiểu về những cách nhận thức của người Trung Quốc về các vấn đề khác nhau". 
Ông nói thêm: Mặt khác, tôi cảm thấy lạc quan là vì chính phủ Mỹ, đặc biệt là chính quyền của Tổng Thống Obama, giờ đang coi vấn đề này một cách nghiêm túc, và đã đề nghị những phương án cụ thể để ứng phó. Tôi cũng thấy có một số dấu hiệu là chính phủ Mỹ giờ đây sẵn sàng bắt Trung Quốc phải trả những cái giá đắt hơn, ngoài chuyện Bắc Kinh bị mất uy tín trong khu vực và cả trên toàn cầu.”
Giáo sư Carl Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Australia nói: “Tôi thì không hẳn là lạc quan, nhưng tôi đã thấy sự xuất hiện của một chiến lược mới của Mỹ nghiêng nặng về các biện pháp pháp lý. Khuynh hướng đó đã trở nên rõ nét hơn, và điều đó đã trấn an mọi người bởi vì cho tới nay, người ta chỉ nghe những lời chỉ trích suông, chẳng hạn hành động của Trung Quốc có tính ”khiêu khích”, cách cư xử của Trung Quốc là “không thể chấp nhận được” nhưng ngoài ra, không thấy có bất cứ hành động cụ thể nào.”
Giáo sư Thayer nói lắng nghe vị diễn giả Trung Quốc, Giaó sư Chu Shulong của Đại học Thanh Hoa, trình bày bài tham luận của ông, ông cảm thấy như phải bắt đầu tất cả lại từ đầu.
“Chúng ta dã chẳng đi tới đâu cả. Đó là trường hợp người điếc nói chuyện với người điếc! Tôi chưa thấy có bước nào đột phá. Trung Quốc vẫn khăng khăng duy trì lập trường cứng rắn của họ, trong khi chiến thuật của Mỹ để buộc Trung Quốc phải trả giá cao hơn cho lập trường của họ cần có thời gian mới phát huy hiệu quả của nó.”
Được hỏi trong tình huống hiện nay, ông khuyên Việt Nam nên làm gì, Tiến sĩ James Manicom cho biết: “Tôi khuyên Việt Nam nên theo đuổi các biện pháp pháp lý, không những tại các tòa án quốc tế mà cả các tòa án ở trong nước. Một điều mà họ có thể làm bây giờ là truy tố Tổng Công ty Dầu khí Trung Quốc ra trước các tòa án Việt Nam hay tòa án Trung Quốc về việc hoạt động mà không có giấy phép trong các vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đó là một cách để bắt Trung Quốc phải trả giá cao hơn. Ngoài ra đó còn là một động thái có tính biểu tượng.”
Các diễn giả khác cũng bày tỏ sự thất vọng về thái độ không khoan nhượng của Bắc Kinh, khăng khăng muốn chiếm trọn Biển Đông bằng những bước tuần tự, chậm rãi nhưng chắc chắn, hoàn toàn bất chấp lợi ích quốc gia của các nước láng giềng. Trong tình hình không bên nào trong cuộc tranh chấp chủ quyền Biển Đông chịu lùi bước, nhiều diễn giả đã bày tỏ lo âu về nguy cơ một sự cố nhỏ có thể bị xé to thành xung đột quân sự. Họ nêu bật tầm quan trọng của việc thiết lập một cơ chế để tránh xung đột quân sự xảy ra.
Nỗi lo về nguy cơ xung đột quân sự xảy ra thể hiện rõ nét trong những bài tham luận cũng như trong những câu hỏi mà cử tọa đặt ra cho các diễn giả sau phần phát biểu. 
Giám đốc Ban Á Châu Học của Đại học Delaware, Giáo sư Alice Ba nói với VOA rằng hai ngày hội thảo về những diễn tiến mới nhất tại Biển Đông đã để lại nơi bà một cảm giác bất an.
“Sau hai ngày hội thảo, tôi cảm thấy lo ngại. Mối lo chủ yếu của tôi có liên quan tới tình trạng thiếu tin tưởng về mặt chiến lược giữa các bên chính trong cuộc tranh chấp, và đặc biệt giữa Hoa Kỳ với Trung Quốc.”
Đánh giá về nguy cơ xảy ra xung đột quân sự, và liệu bà có cảm thấy bi quan về những diễn tiến mới nhất ở Biển Đông, Giáo sư Alice Ba nhận định:
“Tôi nghĩ từ hồi nào tới giờ, mối quan tâm trong cuộc tranh chấp này vẫn là xung đột xảy ra vì một sự cố không có chủ ý. Không một nước nào sẽ được hưởng bất cứ lợi ích gì nếu xung đột xảy ra, kể cả Hoa Kỳ, Trung Quốc, hay các nước ASEAN. Vấn đề ở đây là một số quốc gia đang tìm cách đẩy lùi tối đa các giới hạn, và có nguy cơ xung đột xảy ra vì một tai nạn.”
Giáo sư Thayer kết luận rằng cuộc đối đầu giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện nay đã biến thành một cuộc “chiến tranh tiêu hao”, trong đó Trung Quốc sử dụng số tàu nhiều áp đảo, có trọng tải lớn hơn, để đâm vào các tàu Việt Nam hầu gây hư hại đủ để buộc các tàu này rút ra khỏi địa điểm quanh giàn khoan. 
Nếu Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam vào ngày hay trước ngày 15 tháng Tám như đã tuyên bố khi loan báo kéo giàn khoan vào Biển Đông, thì có phần chắc hai bên sẽ rút lực lượng hải quân ra khỏi địa điểm này trước mùa bão từ tháng 9 tới tháng 10, đây có thể là một cơ hội để hai bên đàm phán trực tiếp với nhau.
Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu việc Trung Quốc sử dụng giàn khoan 981 có phải là “một tình trạng bình thường mới” trong chính sách của Bắc Kinh đòi chủ quyền Biển Đông hay không, và liệu giàn khoan 981 hay các giàn khoan khác của Trung Quốc có sẽ xuất hiện hàng năm trong các vùng biển tranh chấp, kèm theo một đoàn tàu hộ tống, hay không.
Phần nhận xét hiển thị trên trang