Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 13 tháng 7, 2014

Trung Quốc ngang ngược “cấm” khai thác dầu ở Biển Đông

Trung Anh 


(Dân trí) - Tờ Inquirer của Philippines hôm nay 13/7 cho biết quan chức ngoại giao Bắc Kinh đã ngang ngược tuyên bố rằng, các hoạt động khai thác dầu khí của công ty nước ngoài ở vùng biển Trung Quốc tranh giành với các nước trên Biển Đông mà không có sự cho phép của Trung Quốc là “bất hợp pháp”.

Tờ Inquirer, tờ nhật báo hàng đầu của Philippines, cho biết, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi đã chỉ trích thông tin cho biết một công ty năng lượng ở London đã được chính phủ Philippines cho phép gia hạn thêm một năm kế hoạch khoan trong một dự án khí đốt tự nhiên ở Reed Bank (Bãi Cỏ Rong) trên Biển Đông.

“Không có sự cho phép của Trung Quốc, việc khai thác dầu khí của bất kỳ công ty nước ngoài nào trong vùng biển dưới quyền thực thi pháp lý của Trung Quốc là phi pháp và không có giá trị”, ông Hồng Lỗi cho biết trong cuộc họp báo hàng ngày ở Bắc Kinh.

Ông Hồng Lỗi nhắc lại biện minh của Trung Quốc rằng “có chủ quyền không thể tranh cãi đối với Nam Sa (tức Trường Sa) và các vùng biển lân cận” và bất kỳ hoạt động khai thác dầu nào cũng là phi pháp.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Philippines cho biết Philippines sẽ có tuyên bố chính thức về bình luận của ông Hồng Lỗi vào ngày mai, thứ hai.

Trong khi đó, một nghị sỹ Philippines cho rằng Trung Quốc thường đưa ra tuyên bố chủ quyền vô lý đối với một phần thềm lục địa không thể tranh cãi của Philippines. “Bắc Kinh hoàn toàn sai lầm nếu họ nghĩ rằng có thể hăm dọa được Philippines với chiến thuật bặt nạt của mình”, nghị sỹ cho biết.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với gần như toàn bộ Biển Đông, viện dẫn vào “đường lưỡi bò” phi lý của mình.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tình hình mới nhất của Biển Đông là Trung Quốc đã đưa vào giàn khoan thứ 3 mà vị trí của nó nằm chình ình ngay giữa vịnh Bắc Bộ – ngay trước mũi Việt Nam

Tình hình mới nhất của Biển Đông là Trung Quốc đã đưa vào giàn khoan thứ 3 mà vị trí của nó nằm chình ình ngay giữa vịnh Bắc Bộ – ngay trước mũi Việt Nam. Bài viết được đăng tải lại từ báo Người Đưa Tin.

Ngày càng leo thang
Trang mạng Sina dẫn tin tức từ Cục An toàn Hàng hải Trung Quốc cho biết Trung Quốc sẽ tiếp tục đưa một giàn khoan nữa ra hoạt động ở Biển Đông. Trang mạng này nói: “Theo tin tức website của Cục An toàn Hàng hải Trung Quốc, ngày 9/7/2014 đến 30/6/2015, giàn khoan Nam Hải 4 sẽ ra hoạt động ngoài khơi trong Biển Đông, yêu cầu điều hành tàu thuyền đi qua cần lưu ý”. Mạng Sina cũng cho biết Trung Quốc cấm các tàu bè không được qua lại trong bán kính 2km từ giàn khoan Nam Hải 4.
Vị trí của giàn khoan này ở tại tọa độ: 18°36’48’’ Bắc, 107°40’28’’ Đông. Căn cứ vào tọa độ này và so sánh với đường ranh giới theo Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ thì thấy rằng điểm đặt giàn khoan Nam Hải 4 thuộc phía bên kia đường ranh giới.
Trung Quốc đưa giàn khoan vào chặn giữa vịnh Bắc Bộ
Thông báo của Trung Quốc.
Trong vĩ độ 18, theo Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ có 4 điểm chạy từ đông bắc qua tây nam. Các điểm gồm: Điểm số (17: 18°42’52″ Bắc, 107°09’34″ Đông), điểm số 18 (18°13’49″ Bắc, 107°34’00″ Đông), điểm số 19 (18°07’08″ Bắc, 107°37’34″ Đông) điểm số 20 (18°04’13″ Bắc, 107°39’09″ Đông). So sánh với vị trí của Nam Hải 4 thì điểm gần nhất là điểm số 17 nhưng cũng còn cách khá xa (107°40’28’’ so với 107°09’34’’).
Tuy nhiên phải thấy rằng đây là một hành động leo thang của phía Trung Quốc. Bởi lẽ các giàn khoan ngày càng được kéo vào sát trước ‘mũi’ Việt Nam. Khởi đầu là giàn khoan Haiyang 981 đặt ở phía tây nam Hoàng Sa hôm 2/5.
Hơn 1 tháng sau, vào ngày 20/6, Trung Quốc kéo tiếp giàn khoan Nanhai 9 (Nam Hải số 9) vào tọa độ: 17°14,1’ Bắc, 109°31’ Đông. Vị trí của Nam Hải 9 nằm trong vùng chồng lấn chủ quyền chưa được phân định giữa Việt Nam và Trung Quốc ở phía ngoài cửa vịnh Bắc Bộ.
Đến nay, Trung Quốc lại kéo tiếp giàn khoan Nam Hải 4 vào trong vịnh Bắc Bộ. Mặc dù với tọa độ được thông báo, giàn khoan này vẫn nằm trong vùng biển Trung Quốc nhưng chưa thể nói trước rằng nó có ở yên đấy hay sẽ còn di chuyển đi đâu.
Trung Quốc đưa giàn khoan vào chặn giữa vịnh Bắc Bộ
Đường ranh giới theo Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Trung Quốc đưa giàn khoan vào chặn giữa vịnh Bắc Bộ
Vị trí giàn khoan Nam Hải 9.
Trung Quốc đưa giàn khoan vào chặn giữa vịnh Bắc Bộ
Với tọa độ được công bố, giàn khoan Nam Hải 4 nằm lệch về hướng đông bắc so với Nam Hải 9 và ở rất gần đường ranh giới màu đỏ trong bản đồ này.
Chiến thuật giàn khoan nguy hiểm
Có tin cho biết hiện Trung Quốc đang cấp tốc đóng thêm nhiều giàn khoan nữa. Một vấn đề đặt ra là phải chăng Trung Quốc muốn dùng các giàn khoan để ‘bao vây’ Việt Nam? Nhìn trên bản đồ vị trí các giàn khoan hiện tại thì đã có 3 giàn khoan Trung Quốc vây lấy vùng biển Việt Nam. Trong đó giàn khoan Haiyang 981 xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam, giàn khoan Nam Hải 9 nằm trong vùng biển chồng lấn chưa phân định mà theo Công ước quốc tế thì những vùng chồng lấn không được phép đơn phương tự ý thăm dò, khai thác và giàn khoan Nam Hải 4 nằm trong vịnh Bắc Bộ.
Mặc dù giàn khoan Nam Hải 4 theo tọa độ thì không xâm phạm chủ quyền Việt Nam nhưng lại có ý nghĩa biểu tượng. Trong vùng biển hẹp của vịnh Bắc Bộ, Trung Quốc đặt vào giữa một giàn khoan và cấm tàu bè qua lại trong bán kính 2 km, điều đó giống như người hàng xóm đem đổ một đống đá chặn trước cổng vào nhà của chúng ta.
Một số nhà quan sát quốc tế đã cảnh báo rằng Trung Quốc đang chơi một chiến thuật nguy hiểm. Họ đóng thật nhiều giàn khoan và dựa vào lực lượng tàu Hải giám, Hải cảnh hùng hậu để hộ tống. Họ sẽ đưa nó đến bất cứ đâu trong Biển Đông. Đến một lúc nào đó, Việt Nam sẽ hụt hơi vì không có đủ lực lượng và phương tiện để ngăn chặn hết các giàn khoan của họ.


Qua việc đặt tiếp giàn khoan Nam Hải 9 và Nam Hải 4 của Trung Quốc ta thấy có lẽ Trung Quốc đã bắt đầu thực hiện chiến thuật nham hiểm trên.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tấm gương đen, người ta không thể soi thấy gì trong ấy cả!

Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay 

Giang Thanh trước ngày lập 'Đảng Hoàng hậu'

Theo  - 
Ảnh: Mao Trạch Đông và người vợ thứ tư Giang Thanh thời trẻ (ảnh tư liệu Internet)
Ảnh: Mao Trạch Đông và người vợ thứ tư Giang Thanh thời trẻ (ảnh tư liệu Internet)

Lúc danh tiếng của nguyên soái Bành Đức Hoài đã vang dội ra khỏi biên giới Trung Quốc sau cuộc vạn lý trường chinh “hai vạn năm nghìn dặm” (1934 - 1936) thì Giang Thanh với “hai bàn tay trắng” mới lần đầu tiên tìm đến căn cứ Diên An ra mắt Mao Trạch Đông (vào mùa thu 1938)…
Giang Thanh với thế mạnh của phái đẹp có đôi mắt to lấp láy, mũi thanh tú và miệng hơi rộng nhưng “khi mím môi lại, thành đường kẻ chỉ, thì lại hóa ra một nét đẹp quý phái”hiếm có và rất quyến rũ, cùng thần thái lanh lợi khác người, đã sớm làm“thế giới nội tâm của Mao Trạch Đông phải rung lên đồng điệu” (sđd, tr.124). 
Giang Thanh tìm thấy ở Mao Trạch Đông người đàn ông mong đợi về cả hai phương diện:nghị lực và quyền lực. Phía Mao Trạch Đông, ở tuổi 45 cũng nhận ra ở cô thư ký 24 tuổi đang giữ hồ sơ của Quân ủy Trung ương có những nét nhu mì làm dịu nỗi trống trải của ông sau ngày người vợ thứ ba (Hạ Tử Trân) từ biệt ra đi.
Để chung sống chính thức với Giang Thanh, Mao Trạch Đông yêu cầu điều tra về quá khứ của “cô ấy”. Và Khang Sinh (đồng hương với Giang Thanh) từng ở vị trí lãnh đạo Ban tổ chức Trung ương Đảng, chuyên gia Phòng mật vụ, đứng đầu ngành tình báo, đã bảo đảm với Mao Trạch Đông bằng văn bản về “lý lịch hoàn toàn trong sạch” của Giang Thanh. 
Tiếp đó, Mao Trạch Đông thỉnh thị ý kiến của Đảng. Ban Bí thư Trung ương chấp thuận để Mao Trạch Đông kết hôn Giang Thanh cuối năm 1938 với điều kiện Giang Thanh chỉ “phụ trách việc chăm sóc đời sống, ăn ngủ, sức khỏe” của Mao Trạch Đông và không được phép “đảm nhiệm bất kỳ chức vụ gì trong Đảng, không được có ý kiến về nhân sự của Đảng, cũng như tham gia các hoạt động chính trị khác trong vòng 20 năm”. Dĩ nhiên, Giang Thanh không vui gì lắm, nếu không muốn nói là bực bội đối với “khung” quy định ấy.
Mãi 24 năm sau, vào tháng 9.1962, khi phu nhân tổng thống Indonesia: bà Sukarno sang thăm Trung Quốc, chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ cùng phu nhân Vương Quang Mỹ đón ngày 24.9 theo nghi  lễ ngoại giao là đủ rồi. Nhưng bất thần, Mao Trạch Đông quyết định tiếp bà Sukarno buổi khác nữa, có cả Giang Thanh cạnh ông. Ngay sau buổi tiếp, Nhân dân nhật báo ngày 30.9 đã in trang đầu bức ảnh cỡ lớn chụp Mao Trạch Đông và Giang Thanh xuất hiện bên nhau trong buổi tiếp phu nhân tổng thống Sukarno. Đó là tín hiệu đầu tiên cho thấy Mao Trạch Đông muốn chính thức giới thiệu Giang Thanh bước lên vũ đài chính trị mà “không cần một lời tuyên bố” nào.
Về sau, ban đầu Mao Trạch Đông đưa Giang Thanh vào vị trí “Tổ phó thứ nhất của Tổ cách mạng văn hóa” (1966), rồi dần dần nắm thực quyền “thay thế cả Ban Bí thư và Bộ Chính trị, trở thành cốt lõi Bộ Tư lệnh mới của Mao Trạch Đông” để thật sự “leo lên đỉnh cao quyền lực”, ra tay “sát phạt” nhiều danh thần, mà nguyên soái Bành Đức Hoài là “tội phạm đặc biệt” số một.  
Thật ra nguyên do (thường được các nhà nghiên cứu nhắc tới) có thể bắt nguồn từ năm 1959, khi Bành Đức Hoài mạnh miệng phê phán “bước tiến nhảy vọt” của Mao Trạch Đông đã “sai lầm từ gốc rễ”. Hơn 45 năm sau (tháng 9.2005), lời phê phán ấy mới chứng thực rõ ràng lần nữa qua số liệu chính thức được giải mật theo Quyết định của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc là: trong 4 năm thực hiện “bước tiến nhảy vọt” đã đưa đến thảm kịch: 37,55 triệu người chết đói (nhiều hơn số người chết trong chiến tranh thế giới thứ hai). 
Tài liệu của Tân Tử Lăng - nguyên cán bộ nghiên cứu và giảng dạy tại Học viện Quân sự cấp cao, Đại học Quân chính, Đại học Quốc phòng Trung Quốc - bản dịch của Thông tấn xã Việt Nam - ghi nhận về một trong những cảnh đau lòng nhất trong “nạn đói lịch sử” ấy, cho biết vì không còn gì ăn nên “nạn ăn thịt người đã diễn ra ở Tứ Xuyên và nhiều nơi khác - khi chôn người chết chỉ vùi nông, tối đến bới lên xẻo lấy thịt ăn, hoặc tang chủ đã lóc thịt thân nhân trước khi mai táng. Tàn nhẫn hơn là nạn ăn thịt trẻ con, điển hình là chuyện xảy ra ở Đội sản xuất số 1, Đại đội 5, Công xã Đông Dương, huyện Sùng Khánh, Khu Ôn Giang, tỉnh Tứ Xuyên.
Theo lời Trịnh Đại Quân, nguyên cán bộ Ban công tác nông thôn huyện Sùng Khánh. Đội sản xuất trên có 82 hộ, 491 nhân khẩu, chỉ trong một năm từ tháng 12.1959 đến tháng 11.1960, đã có 48 bé gái 7 tuổi trở xuống bị người lớn ăn thịt, chiếm 90% số bé gái cùng độ tuổi ở nơi này, 83% số gia đình ở đội này từng ăn thịt người. 
Chuyện đau lòng đó diễn ra trong bối cảnh lương thực hết sạch, mọi người từng nhiều ngày phải ăn giun dế, côn trùng, lá cây, vỏ cây, cỏ dại, và cả đất thô.  Kế toán Vương Giải Phóng là người đầu tiên phát hiện vụ ăn thịt trẻ con. Hồi đó, tuy nhà ăn tập thể thực tế đã ngừng hoạt động vì không còn lương thực nữa, nhưng lệnh cấm các gia đình nấu nướng vẫn còn hiệu lực, bếp nhà ai nổi lửa là phạm pháp.
Đêm ấy, đến lượt Vương cùng hai người khác đi tuần. Các mái nhà phủ trắng tuyết đầu mùa sáng hẳn lên khi vầng trăng nhô ra khỏi đám mây. Nhóm tuần tra phát hiện một dải khói mỏng tỏa ra từ mái nhà bần nông Mạc Nhị Oa. 
Họ chia tay nhau bao vây vu hồi, rồi đồng loạt bấm đèn pin nhảy vào nhà, nổ một phát súng cảnh cáo: tất cả ngồi im ! Đèn dầu được châm lên, nhà Nhị Oa có 8 nhân khẩu, đã chết đói 2, còn lại 6 người, nhưng lúc này chỉ thấy có 5. Thành viên thứ 6 là bé gái Thụ Tài 3 tuổi vừa bị giết hại, xẻ ra lấy thịt, đang luộc trong nồi” .

Mật lệnh sau “bức tường đỏ“

Thời hoàng kim: Bành Đức Hoài ký thỏa thuận đình chiến trong chiến tranh Triều Tiên 1953
Thời hoàng kim: Bành Đức Hoài ký thỏa thuận đình chiến trong chiến tranh Triều Tiên 1953

Một đêm cuối năm 1966, thủ tướng Chu Ân Lai nhận điện thoại cầu cứu khẩn cấp từ Thành Đô (tỉnh Tứ Xuyên) gọi về theo đường dây đặc biệt, báo tin nhóm Hồng vệ binh từ Bắc Kinh tới, đã trèo tường leo vào nơi nguyên soái Bành Đức Hoài đang ở bắt ông đi mất
Suốt đêm ấy, Chu Ân Lai không ngủ vì mới hôm nào “Bộ trưởng Bộ công nghiệp than Trương Lâm Chi bị phái tạo phản đấu đá bức cung đến nỗi phải bỏ mạng (…) Những sự việc vô thiên vô pháp cứ liên tiếp xảy đến: La Thụy Khanh (đại tướng), Trần Nghị, Hạ Long (nguyên soái) bị đấu”, giờ đây Hồng vệ binh ngang ngược đòi giải “tên tội phạm đặc biệt” Bành Đức Hoài về Bắc Kinh thẩm vấn. 
Chu Ân Lai lập tức chỉ thị Bộ tư lệnh Vệ Tuất đưa lực lượng đến ga Bắc Kinh chờ sẵn để“bố trí chỗ ở và học tập cho đồng chí Bành Đức Hoài thật chu đáo”. Và lệnh quân khu Thành Đô phái người cùng đi với Hồng vệ binh “hộ tống đồng chí Bành Đức Hoài trở về Bắc Kinh (…) đảm bảo tuyệt đối an toàn. Nhưng Hồng vệ binh chỉ “tuân theo thánh chỉ của Giang Thanh, không còn coi trọng các chỉ thị của thủ tướng Chu Ân Lai nữa” (sđd, tr.235). Điều ấy nêu rõ qua bài viết của Tạ Liễu Thanh đăng trong phần phụ lục cuốn “Bốn người vợ của Mao Trạch Đông” tóm lược dưới đây.
Từ mùa hè 1966, đằng sau “bức tường đỏ” của Trung Nam Hải (trung tâm quyền lực chính trị cao nhất của toàn Trung Quốc) cuộc “Đại cách mạng văn hóa vô sản long trời lở đất đã được vạch sẵn. Đến 13.12.1966, gió bấc thổi lạnh khắp đường phố Bắc Kinh nhưng không khí trong tòa nhà Quốc hội vẫn bừng nóng bởi những lời kích động của Giang Thanh trong buổi huấn thị các “tiểu tướng” Hồng vệ binh, rằng: Bành Đức Hoài hiện đang ở Thành Đô như “một ông vua chư hầu không ai dám đụng đến” và hạ chỉ:
“Các cậu phải bắt hắn trở về Bắc Kinh, quật ngã hắn xuống đất” (sđd, tr. 217-218)


Ảnh bên : Thân phận nguyên soái Bành Đức Hoài dưới tay  người vợ thứ 4 của Mao Trạch Đông 


Tuân lệnh, Vương Đại Tân cùng Hồng vệ binh có mặt ở Thành Đô đêm Giáng sinh 24.12.1966. Ngay đêm ấy những khẩu hiệu cỡ lớn đột ngột xuất hiện đầy rẫy trên các tường nhà viết chữ lớn: “Nã pháo vào Bành Đức Hoài!”. 
Sớm hôm sau 25.12, Hồng vệ binh “giải Bành Đức Hoài đến nhà ga, vừa kéo vừa đẩy, bắt ông phải lên con tàu đi Bắc Kinh”. Giữa khuya, Hồng vệ binh không để ông già 68 tuổi như Bành Đức Hoài ngủ yên mà thay nhau“thét vào tai ông”, bắt khai rõ những “tội trạng phản cách mạng” ngay trên tàu. Rạng sáng 26.12, ông quá khát nước, lảo đảo lần bước vào buồng vệ sinh “vặn vòi nước, vụm hai tay vốc lên mấy vốc, ghé miệng uống ừng ực” (sđd, tr.257).
Những người đi cùng chuyến tàu khó hình dung ông già phờ phạc đứng trước mặt họ từng có thời trẻ lẫy lừng đánh Đông dẹp Bắc, chiếm ải Lâu Sơn, đoạt thành Tuân Nghĩa, tiêu diệt 2 sư đoàn, 8 trung đoàn, bắt sống hơn 3000 binh sĩ của đối phương và đích thân chỉ huy đánh tan một vạn quân Mã hồi hung hãn tại thị trấn Ngô Khởi, giành “thắng lợi lớn nhất trên đường trường chinh vạn dặm của Hồng quân”... Nhưng giờ đây vị nguyên soái ấy từ toa lét bước ra với hình hài tiều tụy đang bị đám Hồng vệ binh vô danh quát mắng, có tên giơ tay đòi đánh, ông ngẩng mặt lên nói rõ từng tiếng một:
-   “Ta già rồi, năm nay đã gần 70 tuổi, hồi ta còn trẻ, một mình ta đánh gục 20 người, đánh đến mức kẻ nào bỏ chạy thì bỏ chạy, kẻ xin tha mạng thì tha cho, nhưng không bao giờ ta đánh một ông già”.
Chẳng cần nghĩ tới đạo lý của câu nói ấy, đến Bắc Kinh, hơn 60 Hồng vệ binh theo khẩu lệnh của Giang Thanh đã lôi “ông già” ra trước Học viện Hàng không đấu tố lần thứ nhất vào 19.7.1967. 
Lúc “cao trào”, một Hồng vệ binh khỏe mạnh đã nhảy luôn lên bàn mắng nhiếc, gọi ông bằng mầy: “Mầy chống Mao chủ tịch phải không?”, rồi đấm mạnh vào mặt. Ông già loạng choạng ngã xuống. Đám còn lại túa đến lôi ông dậy đánh tiếp đến ngất xỉu, đưa vào bệnh viện 267. Kiểm tra X-quang thấy sườn bên phải gãy xương số 5, nứt xương số 10, máu tụ ngực trái, tổn thương nặng ngực phải. 
Từ đó đến năm 1971, Tổ chuyên án tiếp tục thẩm vấn ông lạnh lùng và dã man với hơn 150 lần, dẫn đến phải nằm liệt giường, tàn phế. Bác sĩ Trại giám sát biết không chữa chạy nổi mới chuyển ông vào bệnh viện Quân giải phóng. Tỉnh dậy, ông thấy tờ bệnh án treo ở đầu giường không viết tên mình (để bảo mật), thay vào đó bằng con số: “Họ tên: 145” (lấy tên giường số 5, buồng 14). Ông uất ức la to:
Ta không phải con số 145! Ta là nguyên soái Bành Đức Hoài !.
Nhưng không ai nghe cả, họ chỉ theo mật lệnh sau “bức tường đỏ” Trung Nam Hải để lấy giấy báo dán kín tất cả cửa sổ, không cho một chút ánh sáng nào lọt qua, làm căn phòng ông nằm trở nên tối om suốt ngày, nhằm giam ông vào thế giới của “địa phủ” ngay giữa trần gian… (còn nữa)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

José Mujica Vị tổng thống nghèo nhất Thế Giới

Những ngày này mọi người đang bận tâm đến việc ngang nhiên TQ đặt giàn khoan trong vùng biển chủ quyền của VN, đe dọa nền ĐL và CQ của nước ta lại thêm tệ nạn tham nhũng, giặc nội xâm ngày càng trầm trong tiếp tay cho kẻ xâm lược ...Mối bận tâm đã đến mức căng thẳng. Trong tình hình đó xin mời mọi người đọc bài này ngõ hầu thư dãn đầu óc được ít nhiều và nhen nhóm một tia hi vọng dù nhỏ nhoi vào những điều tốt đẹp đang tồn tại đâu đó trên thế gian này.



Pepemujica2.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ1 tháng 3 năm 2010[1] – 
Tiền nhiệmTabaré Vázquez
Thông tin chung
ĐảngBroad Front
Sinh20 tháng 51935 (79 tuổi)
MontevideoUruguay
Vợ hoặc chồngLucía Topolansky
Binh nghiệp
José Alberto Mujica Cordano (phát âm tiếng Tây Ban Nha[xoˈse alˈβeɾto muˈxika koɾˈðano ], cũng biết tới với tên El Pepe, (sinh ngày 20 tháng 5 năm 1935) là một chính khách Uruguay, một cựu du kích, thành viên củaBroad Front hiện là tổng thống mới được bầu của quốc gia này. Trước đó ông đã là Bộ trưởng nông nghiệp, gia súc và ngư ngiệp từ năm 2005-2008, hiện đang là thượng nghị sỹ. Ông đã được bầu làm tổng thống trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2009 và nhậm chức ngày 1 tháng 3 năm 2010. Năm 2005, Mujica kết hôn với Lucía Topolansky sau nhiều năm chung sống với nhau, bà hiện đang là một thượng nghị sỹ. Họ không có con.

Cuộc sống

Tổng thống Mujica đã từ chối ngôi nhà sang trọng mà nhà nước Uruguay cấp cho các nhà lãnh đạo của mình và chọn sống ở trong ngôi nhà nông trang của vợ ông, nằm trên con đường đất bẩn bên ngoài thủ đô Montevideo.
Tổng thống và vợ còn tự tay làm ruộng, trồng hoa.
Cuộc sống khắc khổ này và việc Tổng thống Mujica cống hiến khoảng 90% tiền lương hàng tháng của mình, tương đương 12.000USD cho từ thiện, đã khiến ông được mệnh danh là tổng thống nghèo nhất thế giới. “Tôi có thể là một ông già kỳ cục… Nhưng đây là lựa chọn của riêng tôi”.
“Tôi đã sống như thế này hầu hết cuộc đời mình”, ông cho biết khi ngồi trên chiếc ghế cũ trong vườn, dùng chiếc gối đệm được chú chó Manuela ưa thích. “Tôi có thể sống tốt với những gì tôi có”.
Trừ các khoản từ thiện đã đóng góp, nhằm làm lợi cho người nghèo và các doanh nghiệp nhỏ, lương tháng của ông giờ chỉ xấp xỉ ngang bằng với thu nhập trung bình của người Uruguay, 775USD/tháng.
Năm 2010, kê khai tài sản cá nhân hàng năm của ông, một yêu cầu bắt buộc đối với giới chức ở Uruguay, là 1.800USD – giá trị của chiếc Volkswagen Beetle cũ kỹ đời 1987 của ông.
Năm nay, ông đã kê thêm một nửa tài sản của vợ, gồm đất, máy cày và một ngôi nhà, nên tổng tài sản lên tới 215.000USD. Song con số này vẫn chỉ bằng khoảng 2/3 tài sản kê khai của Phó tổng thống Danilo Astori và bằng 1/3 con số của người tiền nhiệm, Tổng thống Tabare Vasquez.
Được đắc cử tổng thống vào năm 2009, trong những năm 1960, 1970, ông Mujica từng là thành viên của lực lượng du kích Uruguay Tupamaros, nhóm vũ trang cánh tả đi theo đường lối cách mạng Cuba.
Ông đã bị bắn 6 lần và bị tù giam 14 năm. Hầu hết những năm tháng ngồi tù, ông sống trong điều kiện khắc khổ và bị cách ly. Cho đến năm 1985, khi Uruguay quay trở lại nền dân chủ, ông mới được tự do.
Theo Tổng thống Mujica, chính những năm tháng ở trong tù đã giúp ông định hình cách nhìn về cuộc sống. “Tôi được gọi là tổng thống nghèo nhất, nhưng tôi không cảm thấy nghèo. Người nghèo là những người chỉ làm việc để cố duy trì một cuộc sống giàu có và luôn muốn nữa, muốn nữa”, ông nói.
“Đây là vấn đề tự do. Nếu bạn không có nhiều tài sản thì bạn không cần phải làm việc suốt cả cuộc đời như một kẻ nô lệ để duy trì chúng và vì vậy bạn có nhiều thời gian cho chính bạn hơn”, ông nói.
Tổng thống Uruquay đã đưa ra quan điểm tương tự khi ông phát biểu tại Hội nghị thượng đỉnh Rio+20 hồi tháng sáu 2012 “Chúng ta đã nói suốt cả chiều về phát triển bền vững. Để đưa dân chúng thoát khỏi đói nghèo.”
“Nhưng chúng ta đang nghĩ gì vậy? Chúng ta có muốn mô hình phát triển và tiêu thụ của các nước giàu? Giờ tôi hỏi các bạn: Điều gì sẽ xảy ra đối với hành tinh này nếu người Ấn Độ sẽ có số lượng xe hơi/hộ gia đình nhiều hơn người Đức? Chúng ta sẽ còn lại bao nhiêu oxy?”
“Liệu hành tinh này có đủ nguyên liệu để 7 hay 8 tỷ người có thể có cùng mức tiêu thụ và chất thải như ở các xã hội giàu có hiện nay? Chính mức tiêu thụ hoang phí này đang gây hại cho hành tinh của chúng ta”.
Tuy nhiên dù có khác biệt lớn giữa Tổng thống ăn kiêng Mujica và các nhà lãnh đạo khác, ông vẫn không “miễn dịch” được với sự thăng trầm của đời sống chính trị.
“Nhiều người thông cảm với Tổng thống Mujica trước cách sống của ông. Nhưng điều đó không khiến ông không khỏi bị chỉ trích vì cách làm của chính phủ hiện nay”, Ignacio Zuasnabar, một nhà thăm dò ý kiến Uruguay cho hay.
Phe đối lập Uruguay cho rằng sự thịnh vượng kinh tế gần đây của Uruguay đã không mang lại các dịch vụ công cộng trong giáo dục, y tế tốt hơn. Và lần đầu tiên kể từ khi ông Mujica đắc cử vào năm 2009, tỉ lệ ủng hộ ông giảm xuống dưới 50%.
Năm nay Tổng thống Mujica cũng bị chỉ trích vì hai động thái gây tranh cãi. Thứ nhất, quốc hội Uruguay gần đây đã thông qua dự luật cho phép nạo phá thai khi thai nhi ở trong vòng tới 12 tuần tuổi. Không giống người tiền nhiệm, ông Mujica không phủ quyết nó.
Thứ hai, ông cũng đang ủng hộ cho tranh luận về việc hợp pháp hóa tiêu thụ cây dầu gai, trong một dự luật sẽ cho phép nhà nước độc quyền buôn bán cây này.
“Tiêu thụ cây dầu gai không phải là vấn đề đáng lo ngại nhất, đối phó với ma túy mới là vấn đề thực sự”, ông cho hay.
Tuy nhiên, Tổng thống Mujica không phải lo lắng nhiều về tỉ lệ ủng hộ dành cho mình. Theo luật Uruguay, ông không được phép tái tranh cử vào năm 2014. Và ở tuổi 77, ông chắc chắn sẽ từ giã chính trường.
Và khi thời điểm đó đến, ông sẽ nhận được trợ cấp của nhà nước. Nhưng không giống như các cựu tổng thống khác, ông sẽ không thấy thu nhập bị thụt giảm nhiều, vì vậy mà không phải chật vật để làm quen với nó

Phần nhận xét hiển thị trên trang

15 bí quyết để trở thành người giàu có


Thế giới đàn ông online | DanOng.com 
Dành nhiều thời gian để đọc sách: Theo một thống kê cho thấy có đến 86% những người giàu có đều thích đọc sách, một con số ấn tượng so với 26% ở người nghèo.
Không ngừng nâng cao kiến thức: Những người được thăng tiến trong xã hội có một niềm đam mê học tập suốt đời. Họ không ngừng học tập để nâng cao hiểu biết, luôn dám đối đầu với khó khăn thử thách. 


Nói không với cờ bạc: Cứ tưởng như những người giàu có thì sẽ dễ dàng phung phí tiền bạc của mình cho trò đỏ đen. Nhưng không, chỉ có 23% trong số họ làm vậy mà thôi, họ hiểu rằng cờ bạc chỉ đem lại phiền toái và lãng phí.


Thức dạy trước 3 tiếng trước khi đến nơi làm việc: Khái niệm ngủ nướng có lẽ là xa xỉ đối với những người giàu có thành đạt, họ thường không ngủ quá 4 giờ một ngày.
Họ chỉ dành không quá 1 giờ để xem ti vi: Điều này cũng dễ lý giải, vì họ quá bận rộn, quỹ thời gian hạn hẹp nên xem ti vi không phải là ưu tiên hàng đầu đối với họ.
Dành rất nhiều thời gian cho Internet: Trong xã hôi bùng nổ công nghệ thông tin, những người giàu luôn là những có mối quan tâm hàng đầu với Internet. Mọi công việc của họ hàng ngày phần lớn được giải quyết bằng Internet.


Dành 30 phút mỗi ngày để đọc: Có đến 88% người giàu dành 30 phút mỗi ngày để đọc, con số này ở người nghèo là 2%. Có đến 75% những người thất nghiệp là mù chữ, trước khi muốn giàu có chúng ta đều phải được giáo dục tốt.


Đề ra mục tiêu để phấn đấu: Có một người giàu đã nói thế này: Bạn phải quyết định chính xác những gì bạn muốn. Bạn thiết lập các mục tiêu và ghi lại , sau đó hãy thực hiện tốt những gì bạn đã ghi lại.
Dạy cho con cách tự lập giống mình: Nhiều những gia đình giàu có, họ luôn giáo dục con cái phải tự lập ngay từ nhỏ. Không ỷ lại vào cha mẹ, họ muốn con cái họ sau này sẽ thành công trên chính đôi chân của mình.
Tập trung vào một mục tiêu: 80% những người giàu có xu hướng tập trung vào việc hoàn thành một mục tiêu duy nhất, trong khi chỉ có 12% người nghèo làm điều này. Dành toàn bộ sức lực vào 1 mục tiêu sẽ cho kết quả tốt hơn nhiều mục tiêu cùng lúc.
Có danh sách công việc cụ thể: 81% những người giàu thường sẽ có một danh sách công việc phải làm, so với 19 % người nghèo. Họ có xu hướng hình thành bản danh sách có nhiều tham vọng ngay từ đầu.
Giáo dục tốt cho con cái: Những người giàu luôn ý thức được việc giáo dục cho con mình kỹ năng xã hội ngay từ nhỏ. Sau này các kỹ này góp phần vào sự thành công.


Những thói quen xấu: 76% người giàu đều tin rằng những tật xấu có thể dẫn tới sự kém may mắn trong đời ngược với 9% những người nghèo. Nhà tuyển dụng có ấn tượng xấu ngay lần đầu với người có nhiều tật xấu nên họ mất đi cơ hội tiến thân.
Tránh xa truyền hình thực tế: Chỉ 6% người giàu bỏ thời gian theo dõi các chương trình thực tế trên TV so với 78% người nghèo. Hầu hết chúng đều có định dạng khiến người chơi trở nên nổi tiếng theo kiểu trúng số khiến họ trở nên mơ mộng hão huyền.
Để tâm trí nói thay miệng: 6% người giàu có xu hướng bày tỏ ý kiến với đối tác so với 69% người nghèo thì thích thể hiện mình bằng lời nói hơn. Người thành công hiểu được mọi tình huống, quan sát, phân tích và nhận thức sự việc sẽ tạo ra hiệu quả.
Theo VTC News

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bài rất cần đọc và suy nghĩ trong bối cảnh hiện nay:

Giá trị pháp lý công hàm Phạm Văn Đồng theo luật pháp quốc tế và cơ hội ngàn vàng để Việt Nam xác quyết chủ quyền trên hai nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa



Luật sư NGUYEN LE-HA

Từ nhiều tuần nay, các học giả, nhà nghiên cứu, chính trị gia, luật gia nói viết nhiều về công điện Phạm Văn Đồng ký và gửi ngày 14/9/1958 cho Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai liên quan tới lời tuyên bố của Trung Quốc ngày 4/9/1958 về bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc nới rộng là 12 hải lý bao gồm lãnh thổ trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Xisha tức Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Nansha tức Trường Sa).

Điều tuyên bố trên của Trung Quốc về việc nới rộng biển đảo ra 12 hải lý hoàn toàn phù hợp với đề nghị của Hội Nghị Quốc Tế về luật biển họp tại Genève từ ngày 24-2 đến 29-4-1958.

Bức công điện Thủ tướng Phạm Văn Đồng có nội dung như sau:

“Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc trên mặt bể.”

Chính công điện hay công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng này đã gây nên những tranh cãi bất tận và đối nghịch nhau đưa đến những giải thích và kết luận có nhiều điểm hoàn toàn trái với luật thông lệ quốc tế, công pháp quốc tế và luật quốc tế về hiệp ước.

Chúng tôi nhận thấy có sự nhầm lẫn căn bản là: sự lẫn lộn Luật quốc nội(droit interne) và Luật công pháp quốc tế (droit publique international), vàLuật quốc tế về hiệp ước (droit international des traités), đặt biệt Công Ước Vienne về Hiệp Ước (Convention de Vienne sur le droit des traités).

Chúng tôi sẽ giải thích sự lầm lẫn trên có thể đưa đến các kết luận tai hại qua việc đánh giá không chính xác công điện Phạm Văn Đồng đồng thời với những lời giải thích này hy vọng sẽ soi sáng các quyết định của các nhà lãnh đạo Chính quyền Việt Nam can đảm nắm bắt cơ may bằng cách sử dụng cơ quan tài phán quốc tế thích hợp để Việt Nam chiến thắng trên trường quốc tế liên quan tới Hoàng Sa và Trường Sa (1).

I- TÌM HIỂU NỘI DUNG CÔNG ĐIỆN VÀ Ý ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG

1)- Đọc lại từng câu, từng chữ Công điện, chúng tôi nhận thấy mạch lạc rõ ràng (sans équivoque): “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố…, quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Đoạn tiếp: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định… hải phận 12 hải lý” và còn nhấn mạnh ba chữ cuối câu “trên mặt bể.”

2)- Công điện Phạm Văn Đồng không hề nhắc đến, hay ám chỉ các đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền và quản lý của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà (Việt Nam Cộng Hòa), một quốc gia độc lập (indépendance) có chủ quyền (souveraineté) và được quốc tế thừa nhận tương tự như Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (VNDCCH) với thủ đô là Hà Nội.

Sự giải thích trên đúng với qui định căn cứ theo điều 29 Công Ước Vienne về Hiệp Ứơc: thoả ước chỉ áp dụng trên toàn lãnh thổ của bên kết ước (2).

3)- Nhìn kỹ lại lời tuyên bố của Trung Quốc 4/9/1958, trong thời điểm Hội Nghị Quốc Tế về luật biển họp tại Genève, chỉ cốt yếu về việc nới rộng biển đảo ra 12 hải lý, không phải là lời tuyên bố vể chủ quyền các đảo mặc dù lời tuyên bố có chồng chéo lên chủ quyền các đảo thuộc các nước khác như Việt Nam Cộng Hoà (Hoàng Sa và Trường Sa) và các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Đài Loan (Trường Sa).

Đằng khác, Công Pháp Quốc tế cũng chỉ cho phép tuyên bố đơn phương một đối tượng duy nhất chỉ định rõ ràng như như việc việc nới rộng biển đảo ra 12 hải lý của Trung Quốc.

Chính vì lý do đó, các quốc gia này đã không thấy cần thiết phải lên tiếng về lời tuyên bố của Trung Quốc ngoại trừ Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Chính Phủ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà là một quốc gia độc lập với Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà (theo Hiệp Định Genève 1954 phân định) lên tiếng ủng hộ thông qua Công điện nói trên.

Điều 31 Công Ước Vienne về hiệp ước cho biết việc giải thích thỏa ước phải thiện ý theo ý nghĩa bình thường trong bối cảnh thoả ước phát sinh và theo đối tượng và mục đích rõ ràng trong thỏa ước.

Như vậy Công điện Phạm Văn Đồng được phát sinh gửi đi trong bối cảnh Trung Quốc tuyên bố nới rộng biển đảo ra 12 hải lý vào thời điểm Hội Nghị Quốc Tế về luật biển họp tại Genève từ ngày 24-2 đến 29-4-1958.

Đàng khác, đối tượng và mục đích rõ ràng ghi trong Công điện chỉ rõ việc thừa nhận 12 hải lý mở rộng, không có một chữ, một câu nào trực tiếp hay gián tiếp thừa nhận chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.

Điều 32 Công Ước Vienne cũng qui định, trong trường hợp văn kiện mù mờ, không rõ ràng, có nguy cơ đưa tới kết luận kỳ quái (absurde) vô lý thì phải xem xét những công việc sửa soạn trước đó và những tình huống đưa tới việc ký kết văn kiện.

Thực vậy cho đến nay, trước thời điểm ký văn kiện, cũng như từ ngày Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký gửi công điện 14/9/1958 tán thành việc nới rộnghải phận 12 hải lý của Trung Quốc, cho đến khi mất đã không hề tìm thấy một tài liệu nào công nhận hay mặc nhiên công nhận các đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.

Đàng khác, chúng tôi cũng không thấy có một sự kiện nào, bằng các cuộc thảo luận thương thuyết hay văn bản trao đổi giữa Trong Quốc và Việt Nam liên quan tới Hoàng Sa và Trường Sa trước và sau công điện do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958.

Trái lại, thực tế cho thấy:

- Ngay khi Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ ngày 30/4/1975, quân đội của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản đảo Trường Sa rối giao lại cho Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà khi thống nhất đất nước 1976.

- Trận hải chiến ngày 19/1/1974 do Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa thuộc chủ quyền và quản lý của Việt Nam Cộng Hoà đã làm thiệt mạng 75 quân nhân Việt Nam Cộng Hòa anh dũng chiến đấu. Ngay tức thì, ngày 19/1/1974, Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa ra tuyên cáo phản đối hành vi xâm lược của Trung Quốc. Tương tự, Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam cũng đã phản đối hành động của Trung Quốc, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.

- Ngày 14/3/1988, Trung Quốc đem quân xâm chiếm các bãi đá Gạc Ma, Colin và Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam và giết hại 64 hải quân Việt Nam ra bảo vệ.

Các sự kiện nêu trên, sau khi Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa không tồn tại, các Chính quyền kế tiếp từ Chính quyền Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam đến Chính quyền Dân Chủ Cộng Hoà và nay là Chính quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không có một sự nhượng bộ hay thỏa ước nào được biết đến cho tới nay liên quan tới các đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tất cả các giải thích trên cho thấy, Công điện hay Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký gửi ngày 14/9/1958 cho Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyến bố về lãnh hải 12 hải lý, chỉ là một sự tuyên bố ngoại giao không giá trị pháp lý, không có tác dụng công nhận chủ quyền liên quan tới đảo Hoàng Sa (Xisha) và Trường Sa (Nansha) của Việt Nam.

Theo chúng tôi, Công điện này chỉ có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu một thời kỳ thắm thiết “môi hở răng lạnh giữ hai nước anh em đồng chí cùng chung một giường” và dưới ảnh hưởng nặng nề của Trung Quốc đồng thời chứng tỏ người lãnh đạo đất nước thiếu cảnh giác và không có tầm nhìn xa.

II- NHỮNG LẦM LẪN TAI HẠI

Sai lầm: lẫn lộn về tư cách pháp lý trong hiệp ước quốc tế và cách giải thích Công điện Phạm Văn Đồng tùy tiện theo cảm tính hay theo lăng kính chính trị không căn cứ vào căn bản pháp luật.

Chúng ta đều biết Hiến Pháp quốc gia là luật quốc nội thường ghi nhận và bảo đảm những quyền căn bản của công dân đồng thời qui định cách tổ chức và điều hành quốc gia làm sao phát triển bền vững và mang phúc lợi tối đa cho mỗi người dân.

Trong Hiến Pháp, có những điều khoản qui định về về tư cách pháp lý (qualité juridique) của người dân, của viên chức chính quyền hay của các tổ chức dân sự hay thương mại, được gọi là pháp nhân (personne juridique).

Trong Công Pháp Quốc Tế, cũng có những điều khoản qui định về người đại diện quốc gia hay người có thẩm quyền, không nói người có tư cách pháp lý bởi vì nó thuộc luật quốc nội qui định các điều kiện khác nhau tùy theo mỗi quốc gia.

Bởi vậy không thể áp dụng tư cách pháp lý (luật quốc nội) vào các hiệp ước quốc tế để yêu cầu hủy bỏ thỏa ước đã ký do ngươi ký không có tư cách pháp lý hay vựợt quyền (ultra vires) theo luật quốc nội như trường hợp nêu ra bởi một số học giả và luật gia liên quan tới câu hỏi làm sao giải thoát hoặc vô hiệu hóa Công Hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký.

Có người lại còn yêu cầu Quốc Hội Việt Nam ra nghị quyết hủy bỏ Công Hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký cách đây 56 năm, hoăc xa hơn đòi xoá bỏ chính thể hiện nay và lập lại Việt Nam Cộng Hòa. Thật là ngộ nghĩnh tức cười.

Luận cứ của họ cho rằng công hàm Thủ tướng Phạm Văn Đồng thực sự công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam tương tự lập luận của Trung Quốc nhưng, theo họ, là vô giá trị vì những lý do sau đây:

- Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có tư cách pháp lý để ký công hàm; hoặc

- Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã vượt quyền hạn (ultra vires); hoặc

- Công hàm ký bởi Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã không đưa ra Quốc Hội Việt Nam phê chuẩn, nên thiếu sự đồng thuận (vice de consentement), hoặc vi hiến.

Các lập luận trên hoàn toàn trái với Thông Tục Quốc Tế, đặc biệt các qui định của Luật Quốc tế về hiệp ước.

Thật vậy, nếu đã coi Công hàm ký bởi Thủ tướng Phạm Văn Đồng là một văn bản (hiệp ước) công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam thì giải pháp vô hiệu hóa Công Hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký của các học giả và luật gia trên hoàn toàn lầm lạc bởi các lý do sau đây:

- Điều 27 và 46 Công Ước Vienne về hiệp ước không cho phép viện dẫn luật quốc nội như là tì vết (vice) của sự thỏa thuận (consentement) để hủy hiệp ước đã ký, hay không muốn thi hành viện dẫn lý do Công Hàm Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã không được đưa ra Quốc Hội Việt Nam phê chuẩn.

- Điều 7 Công Ước trên ghi rất rõ những ai là đại diện của quốc gia kết ước có đầy đủ quyền lực (pleins pouvoirs) ký, chuẩn nhận, đồng ý một hiệp ước và quốc gia đó bị trói buộc vào hiệp ước.

- Điều 7.2.a): chỉ rõ người đứng đầu quốc gia, người đứng đầu chính phủ, bộ trưởng ngoại giao là những người đại diện quốc gia.

- Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký Công Hàm là người đứng đầu chính phủ Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà có đầy đủ quyền lực ký và nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà phải bị ràng buộc.

- Nói khác đi, Nhà Nước Việt Nam phải tôn trọng và thi hành hiệp ước được ký bởi người đại diện là Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Giả sử nội vụ được đưa ra Tòa Án Công Lý Quốc Tế với những dữ kiện và lập luận sai lầm trên, kết quả sẽ hết sức tai hại mà độc giả đã thấy trước.

III- CƠ HỘI NGÀN VÀNG ĐỂ VIỆT NAM XÁC QUYẾT CHỦ QUYỀN TRÊN HAI NHÓM ĐẢO HOÀNG SA và TRƯỜNG SA

1- Cơ hội ngàn vàng

Từ ngày Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký Công Hàm đã 56 năm, môt số không nhỏ các nhà lãnh đạo đất nước vẫn còn mê mẩn với các khẩu hiệu loè bịp như “các nước xã hội chủ nghiã đều là anh em”, rồi “16 chữ vàng và 4 tốt” do Trung Quốc ban tặng, mặc dù chính họ đã kinh qua nhiều trận chiến tàn phá khủng khiếp 6 tỉnh biên giới Việt-Trung năm 1979, xâm chiếm biển đảo Hoàng Sa năm 1974 và đảo đá Gạc Ma thuộc Trường Sa năm 1988.

Sự việc giàn khoan Hải Dương 981 Trung Quốc đặt trái phép vào thềm lục địa Việt Nam từ hai tháng nay cùng kéo theo hơn 100 các tàu đủ loại, đủ cỡ để bảo vệ các hoạt động của họ cộng với thái độ ngang ngược bất nhân đối với các tàu kiểm ngư và tàu cá của Việt Nam đã là một giọt nước làm tràn ly.

Sự kiện này có lẽ đang thức tỉnh một số quan chức còn mơ màng chỉ nhìn thấy Tàu lạ mà không thấy TÀU thiệt đã và đang giết hại ngư dân Việt từ nhiều năm nay.

Trong khi đó nhân dân cả nước đã tỉnh ngộ từ lâu, họ biết tàu lạ là ai. Đức Giám Mục Nguyễn Thái Hợp, Chủ tịch Ủy Ban Công Lý Hoà Bình thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, đã quả quyết rằng: “Tàu lớn, tàu nhỏ, tàu lạ, tất cả đều là TÀU cả”.

Ngày nay phải bổ túc câu nói trên: “… tàu lặn, tàu ngầm, tàu bay, tất cả đều là TÀU cả”.

Ý dân là Ý Trời: các cuộc xuống đường hàng chục ngàn người, các cuộc hội thảo công khai về biển đảo, các kiến nghị của trí thức, các hội đoàn đủ mọi tầng lớp trong xã hội tố cáo Trung Quốc chiếm đoạt và vi phạm biển đảo Việt Nam dâng cao chưa từng có phải chăng là dấu chỉ báo trước cơn đại địa chấn Tsumani?

Trên bình diện quốc tế, Trung Quốc đang bị kết án không tuân theo luật lệ quốc tế và muốn dùng vũ lực thay đổi đơn phương nguyên trạng tại biển Hoa Đông và Biển Đông.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và vài vị lãnh đạo cao cấp mới đây, đã tố cáo đích danh Trung Quốc vi phạm lãnh hải Việt Nam và đe doạ đưa vụ việc ra Toà Án Quốc Tế giải quyết.

Đó là tín hiệu đáng mừng! Nhưng quan trọng là phải hành động ngay! Không phải truyền lại trách nghiệm cho các thế hệ con cháu 1000 năm sau mới đòi lại như tuyên bố của một quan chức quyền thế.

Theo thiển ý, chúng tôi nghĩ rằng Chính quyền Việt Nam không còn chọn lựa nào khác hơn là khiếu kiện Trung Quốc ra Toà Án Công Lý Quốc Tế La Haye thay vì Toà Án Trọng Tài Quốc Tế như Philippines đang tiến hành.

Việc đưa các tranh chấp ra Tòa Án Quốc Tế là một phương cách giải quyết hòa bình, bình đẳng và khách quan. Các quốc gia văn minh dân chủ coi đó là cách giải quyết rất bình thường giữa các quốc gia khi có bất đồng tranh chấp và không hề làm suy giảm tình hữu nghị.

Hiến Chương Liên Hiệp Quốc tại Điều 73 khuyến nghị các thành viên Liên Hiệp Quốc sử dụng Tòa Án Công Lý Quốc Tế giải quyết các tranh phương chấp như là biện pháp hoà bình.

2- Tòa Án Công Lý QuốcTế La Haye

Chúng tôi đề nghị vụ khiếu kiện Trung Quốc ra Tòa Án Công Lý QuốcTế La Haye và nội dung khiếu kiện phải bao gồm các tranh chấp liên quan tới các nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa bởi các lý do sau đây:

a)- Toà Án Trọng Tài Quốc Tế đang thụ lý vụ Chính quyền Philippines khiếu nại đường lưỡi bò 9 đoạn do Trung Quốc tự nhận chủ quyền chiếm đến 90% toàn bộ Biển Đông, vi phạm quyền, chủ quyền và quyền tài phán các biển đảo của họ đang chiếm giữ.

- Mục đích và đối tượng khiếu tố của họ đơn giản và dễ dàng giải quyết: Trung Quốc chỉ cần có chút thiện chí công nhận các quyền đó bằng một thỏa ước riêng rẽ giữa hai nước và được phê chuẩn bởi Toà Án Trọng Tài Quốc Tế đang thụ lý mà không tổn hại nhiều tới đường lưỡi bò 9 đoạn của họ.

Chúng tôi cũng cần lưu ý quý độc giả rằng, nếu thỏa ước đó thành hình thì nó chỉ có giá trị giữa hai nước ký kết mà không ảnh hưởng gì tới các nước khác về đường lưỡi bò 9 đoạn của Trung Quốc.

- Toà Án Trọng Tài Quốc Tế, như tên gọi, cốt yếu nhằm giảng hoà, tìm đồng thuận giữa các bên để đạt tới một thỏa hiệp (compromis) mà không bắt buộc phải căn cứ vào các luật lệ quốc tế. Án lệ quốc tế đã nhiều lần minh tỏ điều đó.

Giải pháp đó gọi là ex aequo et bono (công bình và hữu ích).

Bởi vậy, Chính quyền Việt Nam, nếu muốn giải quyết toàn bộ và dứt khoát các tranh chấp liên quan tới các nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nên khiếu tố trước Tòa Án Công Lý QuốcTế La Haye, theo chúng tôi là chọn lựa thích hợp và tốt nhất bởi các lý do trình bày dưới đây.

b)- Tòa Án Công Lý QuốcTế La Haye

- Vụ việc tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc liên quan tới Hoàng Sa và Trường Sa phức tạp hơn nhiều vì theo chúng tôi hiểu, thứ nhất là cả hai nước đều đòi chủ quyền trên toàn thể hai nhóm đảo này và thứ hai là cácchủ quyền đòi hỏi chồng chéo nhau liên quan tới nhiều quốc gia như: Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Đài Loan, Malaysia, Brunei đối quần đảo Trường Sa và Việt Nam, Trung Quốc đối với nhóm đảo Hoàng Sa.

- Tòa Án Công Lý Quốc Tế (3) là cơ quan cơ quan tài phán chính yếu của Liên Hiệp Quốc có thẩm quyền bao quát các tranh chấp quốc tế tương tự như các Toà Án Trên (Cour Supérieure), còn được gọi là Toà Án Luật Chung (tribunal de droit comun) tại các nước có truyền thống pháp quyền.

- Tòa Án Công Lý Quốc Tế, qua thủ tục có thể giúp Việt Nam thông đạt tới tất cả các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc, các luận cứ và chứng cứ liên quan tới Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Đây là một phương cách hữu hiệu nhất để các nước trên toàn thế giới biết quyền lợi chính đáng về biển đảo của Việt Nam.

- Tòa Án Công Lý Quốc Tế, cũng có thể cho mở điều tra hay lấy ý kiến chuyên môn của các cá nhân, tổ chức, cơ quan khi thấy cần thiết do Tòa chỉ định.

- Tòa Án cũng có thể ra án lệnh yêu cầu các bên cung cấp tài liệu cần thiết (pertinents) nhằm giải quyết vụ việc.

Đó là tính cách đặc thù về thẩm quyền bao quát (globale, universelle) của Tòa Án Công Lý Quốc Tế La Haye.

- Hơn nữa, trong vụ khiếu kiện trước Tòa Án Công Lý Quốc Tế các nước có chủ quyền chồng chéo có thể tham dự với tư cách quốc gia đệ tam (intervenant) một khi phán quyết của Toà Án có thể tổn hại tới chủ quyển của họ, như trường hợp quần đảo Trường Sa nói ở trên giữa Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Đài Loan, Malaysia, Brunei.

Một khi đã tham dự thì phán quyết có giá trị cho tất cả.

Hy vọng những trình bày các sự kiện và giải thích (4) trên giúp độc giả có cái nhìn đứng đắn về một vấn đề cực kỳ quan trọng có nguy cơ tổn hại đến sự toàn vẹn lãnh thổ biển đảo và chủ quyền độc lập Việt Nam.

N. L. H.
GHI CHÚ
(1): Theo đánh giá các chứng cứ hiện có của Trung Quốc và Việt Nam, theo chúng tôi, khả năng thắng kiện gần như chắc chắn. Tuy nhiên vấn đề còn tuỳ thuộc cách trình bày vấn đề, chọn lựa các chứng cứ (pertinents), toà án thụ lý, chiến thuật trình bày vấn đề, để làm sao bắt buộc Trung Quốc có nhiệm vụ phải chứng minh các chứng cứ về chủ quyền (charges de preuves) không phải phía Việt Nam vì các hành vi xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc đối với Việt Nam, v.v. Các chứng cứ về lịch sử, chiếm hữu thực sự hòa bình, liên tục của Việt Nam rất rõ ràng, điều mà Trung Quốc không có, nên luận cứ chính của họ là Công Hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày 14/9/1958 mặc nhiên công nhận chủ quyền của họ trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Chiến thuật hiện nay của họ là thương thảo đơn phương, không chấp nhận phân xử của Toà Án Quốc Tế, và từ từ tạo ra các chứng cứ mới qui định bởi Công Ứơc Quốc Tế về luật biển 1982, bằng cách ru ngủ các nhà lãnh đạo Việt Nam bất động trong một thời gian dài với mỹ từ “chuyện trong gia đình, đời sau sẽ đòi, ngàn năm sau sẽ đòi…”.

(2): Công Ước Vienne về Hiệp Ước (Convention de Vienne sur le droit des traités) thông qua ngày 23/5/1969 và có hiệu lực ngày 27/01/1980.

(3): Tòa Án Công Lý Quốc Tế được thông qua ngày 26/6/1945 và có hiệu lực ngày 24/10/1946.

(4): Chúng tôi chỉ đưa ra vài sự kiện với lời giải thích ngắn gọn nhằm giúp độc giả dễ hiểu một điểm pháp lý quan trọng về Công điện hay Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958. Đàng khác, ý thức được tầm quan trọng này, chúng tôi để đồng bào, các cơ quan truyền thông (medias) trong và ngoài nước Việt Nam tùy ý sử dụng, chỉ với một điều kiện duy nhất là không được thay đổi, cắt xén thêm bớt nội dung.

Là một luật sư chuyên nghiệp, có ba con luật sư, hai trong ba hiện với hơn 12 năm kinh nghiệm các hồ sơ quốc tế và các toà án quốc tế, hiện một con làm việc với tư cách luật sư cố vấn, luật sư biện hộ (co-counsel, defense lawyer) tại Tòa Án Quốc Tế tại La Haye, mong đóng góp phần chuyên môn liên quan tới Hoàng Sa và Trường Sa. Trân trọng.

Phần nhận xét hiển thị trên trang